We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 23 December 2014

GIẤC MƠ ĐÊM GIÁNG SINH


Xếp cuốn truyện lại trước ngực, Danny lim rim đôi mắt đen tròn dưới hàng mi cong, lòng nó lâng lâng với câu truyện của cô bé bán diêm trong đêm Giáng Sinh. Thằng nhỏ thì thầm nói một mình:
“Cuối cùng thì Thượng đế cũng làm phép lạ”.
Danny tưởng tượng buổi sáng một ngày giáng sinh nào đó, cô bé bán diêm nằm bất động bên hang đá Chúa Hài nhi, với những cành trạng nguyên ngọn lá màu đỏ thắm, như những hình ngôi sao đêm sinh nhật. Linh hồn cô bé đã được các thiên thần mặc áo trắng nâng niu đưa về Trời, còn món quà Giáng sinh của cô dâng cho Chúa Hài nhi giữa một trời đông giá, đã nẩy ra những ngọn lá đỏ tuyệt đẹp.
Cứ yên lặng như thế, thằng bé tưởng tượng thêm. Một đoàn người ăn mặc đẹp đẽ, buổi sáng lễ Giáng Sinh kéo nhau đến nhà thờ, đã chứng kiến cái chết thật an bình của cô bé bán diêm nghèo khổ bên cạnh hang đá. Chúa làm phép lạ để nẩy lên những chiếc lá đỏ trên ngọn cành cây cô bé còn cầm trên tay, mặc dù những chiếc que diêm còn lả tả trên nền đất khô lạnh. Những ánh lửa nhỏ nhoi đem đến cho cô bé niềm hy vọng, phép lạ đến quá trễ cho một cô bé nghèo khổ, hay bao giờ lòng nhân ái cũng thật muộn màng cho những cảnh cùng khốn. Với cái đầu ngây thơ của Danny, câu truyện ấy đã nẩy lên trong lòng chú một ao ước. Chú nghĩ:
“Giá Thượng đế ban cho mình một phép lạ, thì mình sẽ dâng cho Thượng đế tất cả những gì mình có”.
Đêm Giáng sinh năm nào, có một cô bé bán diêm nghèo khổ co ro bên lề đường. Trời lạnh lắm, trong chiếc áo mỏng bẩn thỉu cô bé đã cóng cả người, và cô đã dùng những que diêm để sưởi ấm, cũng như để thắp riêng cho mình những ước mơ. Danny chỉ mới chín tuổi, nó không nghĩ đấy là một truyện được viết ra bởi một đầu óc tưởng tượng của nhà văn, cậu nghĩ đấy là một truyện thật, lần đầu tiên tâm hồn bé thơ của cậu đã hình dung ra cái khổ của đồng loại.
Danny là đứa con cưng trong một gia đình giàu có, lại rất xinh đẹp cho nên từ lúc sinh ra cho đến bây giờ, cậu chưa hề bị thất vọng một điều gì, khi xung quanh cậu đầy những dư thừa và yêu thương. Không ai dám làm khổ một đứa bé như cậu, vì Thượng đế dường như đã an bài cho cậu một cuộc sống như thế, không biết có bất công khi đối với những đứa bé nghèo khổ, sống trong cảnh bữa đói bữa no, áo quần không lành lặn.
Tuy vậy, cuộc sống của Danny buồn chán lắm, vì hầu như những thứ no đủ ấy đã giết chết niềm ước mơ trong lòng cậu, như người lúc nào cũng no nê, không cảm được mùi vị thơm tho và ngọt ngào của những món ăn. Trời vẫn phú cho Danny một tâm hồn khá nhạy cảm, để khi đọc xong truyện "Cô bé bán diêm", thì nó có ngay cái ước ao sẽ trở nên nghèo khổ như thế, để ít ra cũng thấy được cái thi vị của niềm mơ ước, và sự lạ lùng của phép lạ.
Nhìn những món quà được chất đầy dưới gốc cây Giáng sinh trong góc phòng, cậu không cảm thấy rộn rã như ngày còn bé tí, vì biết rằng không phải chỉ cần đến ngày lễ Giáng sinh, cậu mới được những thứ ấy. Những ánh đèn đủ màu chớp tắt trên cây Giáng Sinh, những sợi kim tuyến óng ánh rủ xuống làm tăng thêm cảnh huyền ảo nơi hang đá Bê Lem, Danny chưa hề nhìn thấy sự nghèo nàn của gia đình Nazareth, như những bài trong Kinh thánh tả lại năm xưa.
Danny nhắm mắt lại, cậu mơ màng nghĩ đến phép lạ. Để rồi trong giấc ngủ đêm Giáng sinh, trong căn phòng ấm cúng, Danny đã thiếp đi với một giấc mơ tuyệt vời, khi cậu được một lần đối diện với chân dung, con người của Đấng Cứu Thế.
*   *   *
Danny mơ thấy mình mặc quần áo đẹp, từ trên xe bước xuống với một giỏ quà nặng trĩu trên tay, cậu đi tìm Chúa để xin một phép lạ. Sau Thánh lễ nửa đêm, mọi người đã về hết, họ đang hân hoan bên nhau trong những bữa tiệc đêm Giáng sinh đầy thịt béo, rượu ngon. Dưới chiếc cột tối trước nhà thờ chỉ còn hai ba người hành khất, họ co ro trong mảnh chăn rách và bẩn, chờ buổi lễ sáng để ăn xin lòng nhân đạo của những người tử tế.
Không biết sao cổng nhà thờ vẫn mở, và Danny cứ thế bước nhanh vào khung cảnh huyền ảo giữa những chiếc đèn ngôi sao bằng giấy, treo lủng lẳng dọc theo các bức tường xung quanh nhà thờ. Trước khi bước vào đây, Danny đã phải vượt qua cái bóng của hai người ăn xin ngồi trước giáo đường, nó cảm thấy lợm giọng khi gió khuya phả vào khứu giác một mùi hôi bốc ra từ những chiếc chăn bẩn, và tiếng van nài xin xỏ giữa đêm khuya thanh vắng. Họ đã đánh hơi thấy mùi thơm của những chiếc bánh nướng thơm lừng trong tay Danny, chú gọi đó là " Món quà cho Thượng đế". Một món đồ chơi tuyệt hảo rất đắt tiền, một bó hoa hồng còn ngậm sương đêm, những chiếc bánh thơm mùi bơ sữa và nhân táo, Danny định đem đến dâng cho Chúa và đánh đổi lấy một phép lạ.
Người đàn bà nghèo khổ và đứa con trai lết đến, miệng không ngớt van vỉ:
“Xin cậu bố thí cho người nghèo khổ. Ôi! Sao thơm thế, một chiếc bánh cho thằng con trai tôi, nó vừa đói vừa lạnh, giữa đêm Chúa sinh ra đời”.
Danny vội vàng đi nhanh lên khoảng sân trước cửa nhà thờ, cậu tỏ vẻ bất bình khi có người dám phiền đến mục đích của mình. Cậu gắt lên:
“Ô hay bà già lẩm cẩm, đây đâu phải những món dành cho mẹ con bà. Đây là quà dành cho Thượng đế, bà hiểu chưa?”
Người đàn bà như đã hiểu, buồn rầu nhìn giỏ quà của Thượng đế, rồi lui vào một hốc tối. Bà im lặng. Đúng, không có gì dành cho mẹ con bà, người ta có thể dâng cho Chúa nhiều thứ, như người ta để dành những thứ quí giá đem tặng cho những người quyền quí. Trong lúc ấy, Danny tiến thẳng vào hang đá Bê Lem được trưng bày trong góc phải của cung thánh, nơi gia đình Chúa Hài nhi được ngự trị ở đó. Mắt Danny như biến ảo lạ lùng, những bức tượng gia đình Thánh gia xinh đẹp như sống động cả lên, rõ ràng thì thằng bé đã nhìn thấy Giêsu bé nhỏ đang cựa quậy dưới lớp chăn đơn trong máng cỏ. Cậu sững sờ, quỳ thụp xuống trước hang đá và đưa tay sờ vào bàn chân mũm mĩm của Giêsu. Từ đôi môi rất xinh đẹp của Hài nhi trong máng cỏ, Giêsu bật lên tiếng cười trẻ thơ. Danny nghe tiếng chào thật êm ái:
“Chào bạn, bạn tên gì?”
Danny lắp bắp, nó cảm thấy một niềm hân hoan tràn ngập trong lòng:
“Ôi lạy Chúa, ngài cũng biết nói ư?”
Nó thì thào tiếp:
“Danny mang đến cho Chúa nhiều quà lắm, những món quà mừng ngày sinh nhật, những đồ chơi, những chiếc bánh ngon, những bông hoa đẹp nhất.”
Giêsu cười thật ngây thơ:
“Để làm gì nhỉ? Nằm trong một hang đá với bao nhiêu ánh đèn giăng mắc xung quanh, ta nóng đến không chịu nổi. Cả những sợi giây kim tuyến vắt ngang vắt dọc, những thứ ấy trông vui mắt nhưng cũng chóa mắt lắm. Ôi! Hang Bê Lem của loài người hôm nay, khác hẳn hang Bê Lem của hai ngàn năm trước. Mẹ của ta không má phấn môi son, cha của ta chỉ là người thợ mộc nghèo khổ, khi ta sinh ra trong một túp lều, làm gì có những thứ này. Bây giờ bạn cho ta nhiều đồ chơi, ta biết làm gì với những thứ đó?”
Danny thì thầm mặc cả, như thói quen của loài người vẫn hay thì thầm xin xỏ:
“Ôi! Lạy Chúa, Danny chỉ muốn Ngài cho Danny một phép lạ, như phép lạ những chiếc lá đỏ trên cành cây của cô bé bán diêm nghèo khổ. Đây là những món quà của Danny trong dịp Sinh nhật Ngài, Danny sẵn sàng dâng hết cho Ngài để xin một phép lạ”.
Chúa Giêsu mỉm cười, hỏi Danny:
“Trước khi vào đây, bạn có gặp ai không?”
Danny gật đầu:
“Thưa Ngài có, một đứa bé rách rưới, một người đàn bà đói ăn.”
Giêsu nhìn vào mắt Danny:
“Vậy bạn đã làm gì cho họ?”
Danny tỏ vẻ bối rối:
“Nhưng... lạy Chúa! Danny không thể cho thằng bé chiếc áo đẹp của mình, và những chiếc bánh ngon là để dành cho Chúa, không phải để dành cho mẹ con bà kia.”
Chúa Giêsu lắc đầu một cách tuyệt vọng:
“Chao ơi! Những gì bạn dành cho những người bất hạnh ấy, chính là những gì bạn dành cho ta, vì ta yêu thương những kẻ đó.”
Danny định quày quả đi ra cửa nhà thờ tìm hai người ăn xin như lời của Giêsu, nhưng Chúa đã lên tiếng:
“Muộn rồi Danny, hai người ăn xin ấy là hai thiên thần giả dạng ăn xin để thử lòng bạn, họ đang đứng hai bên hang đá và đang mỉm cười với bạn đấy. Chần chờ, tính toán trước một việc thiện, tất cả đều không có ý nghĩa gì trước mặt Thiên Chúa. Không thể đánh đổi bất cứ điều gì để lấy một phép lạ, vì hai ngàn năm trước, ta đã làm một số phép lạ, rồi từ đấy loài người chỉ trông cậy nơi ta bằng phép lạ, tin ta bằng phép lạ.”
Danny thảng thốt kêu lên tuyệt vọng:
“Ôi ! Lạy Chúa, sao lại như thế? Một con bé bán diêm nghèo khổ, đã đem đến dâng Ngài những nhánh cây bẻ dọc ven đường, đáng gì đâu mà Ngài cũng làm một phép lạ cho nó. Tại sao Chúa không cho Danny một phép lạ, khi Danny đã dâng cho Ngài tất cả những thứ đẹp nhất, ngon nhất đêm nay...”
Giêsu buồn rầu nhìn cậu:
“Chính vì thế mà phép lạ chỉ có nơi những người có niềm tin vào Thượng đế, chính niềm tin là phép lạ, cho từng con người, cho từng hoàn cảnh, tự họ đã cảm nhận được phép lạ khi họ kết hợp được với thượng đế đang hiện diện trong đời sống của họ. Ta chỉ cần một tấm lòng, một tấm lòng phát xuất từ trái tim nhân ái, như Cha ta trên trời đã ủy thác cho ta đem yêu thương gieo rắc sự bình an cho nhân loại. Bạn có biết khi bắt ta làm phép lạ, là bạn đã vô tình hạ ta xuống, bởi vì Satan cũng làm được những điều đó cho con người nông nổi, chỉ xin xỏ những điều vật chất, như công danh, sự nghiệp, như sức khỏe và nhiều thứ khác. Hằng ngày, Cha ta đã phải nghe biết bao điều xin xỏ, tất cả chỉ là sự mặc cả, sao con người lại nhìn Thiên Chúa của mình với một cái nhìn tầm thường như thế?”
Danny ngạc nhiên kêu lên:
“Ô hay, sao lại là một sự mặc cả?!?. Thưa Ngài, Danny không làm sao hiểu nổi...”
Giêsu cười khúc khích, Chúa đùa như một đứa trẻ thơ:
“Đúng vậy, khi người ta bảo ai làm việc thiện, bao giờ cũng tự hứa hẹn cho mình một sự trả công từ Thượng Đế. Sao lại thế nhỉ? Cứ cho đi là nhận lại, sao lại o ép, mặc cả với Thiên Chúa khi làm điều gì cho anh em. Như bạn, nếu lúc nãy cho người ăn xin nghèo khổ một chiếc bánh, để đòi hỏi ta làm một phép lạ cho bạn, thì đúng là bạn đang đặt điều kiện với ta đấy chứ!”
Danny cúi mặt xấu hổ, cậu đã hiểu phần nào ý của Chúa. Nó rên rỉ kêu lên:
“Ôi lạy Chúa! Danny đã hiểu rồi, vì hằng ngày Danny vẫn nghe ba mẹ nói, con làm thế này thì sẽ được thế nọ, và Danny chỉ nghĩ tất cả là một sự đổi chác.”
Tiếng Giêsu thì thầm, Ngài kể lể:
“Còn nhiều điều mà vì bạn còn quá nhỏ để không hiểu hết. Hằng ngàn năm nay xảy ra bao nhiêu chuyện chinh phục, chém giết, căm thù nhau, người ta cũng bảo vì ta. Ôi! tội nghiệp cho ta quá, ta không hề tham dự vào những việc kinh khủng như thế. Bất cứ ai biết ta, hoặc không biết về ta, nếu ở họ có một trái tim nhân ái là ở đấy có ta, khi ta hiện diện trên thế gian để bảo cho mọi người biết về lòng yêu thương, thì không lý gì lại can dự vào những việc xấu xa như thế. Điều ấy đã làm ta đau khổ mãi...”
Danny trố mắt ngạc nhiên, cậu chưa làm sao hiểu nổi những gì Chúa nói, như không hiểu hết được con người của trần gian. Giêsu vẫn tâm tình với cậu như một đôi bạn nhỏ:
“Ta rất cần tâm sự với bạn, vì ta cô đơn quá. Hai ngàn năm nay loài người không hiểu hết những lời ta nói, những việc ta làm, cho nên bản chất của Thiên Chúa đã được suy diễn đi theo nhiều lối khác nhau. Phép lạ vẫn xảy ra hằng ngày mà Danny không để ý, như hạt lúa được ủ xuống đất, phải thối đi để mọc lên cây mạ non, rồi sinh sôi nảy nở ra bao hạt lúa khác, nuôi sống mọi người.”
Danny nhướng mắt nhìn Giêsu, cậu thật khó khăn để hiểu những gì Chúa nói, Giêsu lại nói với cậu một cách giản dị hơn:
“Dễ hiểu thôi bạn. Hằng ngày, bạn đi học, bạn có thấy những cây hoa mọc trên lối đi của mình không? Mới vài hôm trước, bạn còn thấy nó vừa đơm mấy cái nụ nhỏ, hôm nay đã nở những đóa hoa xinh. Phép lạ đấy, xảy ra hằng ngày, trong mọi vật, trong lòng mỗi người khi ta nhìn nó với cái nhìn đẹp, vì khi sự bình an đi kèm theo niềm tin, thì ở đâu quanh ta cũng là những mầu nhiệm.”
Danny hiểu, cậu gật đầu, có lẽ những lời Chúa nói đã trở thành những đóa hoa tư tưởng trong lòng cậu, vì Danny đang thực sự tiếp xúc với một Giêsu rất đơn sơ và đầy lòng nhân ái. Chúa Giêsu cũng cười, lâu lắm Ngài không tìm được một tâm hồn trong sáng như thế, có lẽ cả hàng ngàn năm, trăm năm sau cái chết của Ngài:
“Để ta kể bạn nghe vài câu chuyện vui. Trong một nhà thờ kia, một đứa nhỏ trong buổi kinh chiều vào mùa chay, buổi lễ thì kéo dài cho nên vì thế mà nó đã ngủ gật, thằng bé được đánh thức dậy và người ta cho nó biết nó vừa phạm tội ngủ gật trong nhà thờ. Đứa nhỏ tức khắc mang mặc cảm một kẻ tội lỗi, rồi nhìn Thiên Chúa qua hình ảnh một ông già nghiêm khắc, ác độc. Ngày hôm sau, cậu phải đi xin vị linh mục tha thứ cho cậu cái tội ngủ gật trong giờ cầu nguyện. Ta không bao giờ muốn gieo rắc cái ý nghĩ quái đản ấy vào đầu một đứa trẻ thơ, khi nó chưa ý thức tội là gì. Cậu bé ngủ trong nhà thờ vì cơ thể bé nhỏ đó mệt mỏi, vì những kinh nguyện trầm trầm, êm êm như tiếng mẹ ru, chứ đâu có thể nghĩ nổi đấy là tội.”
Trong lúc Danny yên lặng lắng nghe những lời tâm tình của Giêsu, Chúa Hài Nhi lại tiếp tục kể cho cậu bé nghe những mẩu chuyện nhỏ khác:
“Này bạn ạ, có những tâm hồn dễ thương, những việc làm dễ thương, như câu chuyện của cô bé trong “Cánh Buồm Đỏ Thắm” cứ làm ta ngẫm nghĩ mãi. Ở một làng quê xa xăm kia, có một gia đình thật là đáng thương, có một cô bé chỉ bằng trạc tuổi bạn bây giờ. Cha của cô là một thủy thủ phải xa nhà luôn luôn, mẹ cô yếu đuối nên hay bị người ta ức hiếp, và cuối cùng người đàn bà xinh đẹp ấy đã chết vì dầm mình trong tuyết lạnh, để đi vay tiền mua thuốc cho cô con gái đang bị sưng phổi. Cuối cùng bà ta đã chết, và người chồng trở về ôm đứa con thơ bé bỏng của mình, trong nỗi cô độc vì bị dân làng khinh rẻ. Danny có biết rằng hai cha con người kia không hề đi đến nhà thờ, vì họ không thể hòa nhập được với đám dân làng đầy những thành kiến với họ. Mỗi ngày cô bé vẫn cầu nguyện với Thượng Đế như những gì mẹ cô đã dạy. Cô chỉ nhìn thấy Chúa là một người rất bận rộn, vì hình như cô biết thế gian này họ chỉ chạy đến để xin xỏ, và vì thế cô không dám làm phiền đến thì giờ của Chúa. Mỗi buổi sáng khi thức dậy, cô chỉ mỉm cười nói đơn giản “Chào Chúa, con đã dậy!”. Và mỗi buổi tối trước khi đi ngủ, cô bé cũng chỉ nói “Chào Chúa, con đi ngủ!”
Chúa Giêsu lại mỉm cười nhìn Danny, trong khi cậu lim rim đôi mắt lắng nghe:
“Chỉ vậy thôi, Danny. Có bao giờ cô bé bắt Ta làm phép lạ như Danny đang đổi chác với Ta bằng những món quà thế gian tầm thường kia đâu. Hãy đến với ta những tâm hồn bé thơ, hãy ngủ đi một giấc thật bình yên hơn là bắt ta phải nghe những lời van nài, xin xỏ đủ thứ trên cuộc đời. Tất cả những gì Thượng Đế ban cho mọi người, sẽ không bao giờ có sự đổi chác trong đó, vì lòng thương xót của Thượng Đế dành cho con người, hay giữa con người với nhau không có giá. Ôi! Ta kinh khiếp những đồng tiền của thế gian, kể từ khi Giuda bán ta lấy ba mươi đồng bạc, và cả lúc ta xua đuổi bọn mua bán, trục lợi ra khỏi đền thờ, vì đã biến nhà cha ta thành ô uế. Cái gì đã làm cho ta một mình chống chỏi với một đám đông như thế, đã chết một cách nhục nhã như thế...”
Danny rươm rướm nước mắt, và bỗng nhiên cậu bật lên khóc thảm thiết. Không biết trong giấc mơ Danny đã khóc như thế nào, khi mẹ cậu đánh thức con dậy thì vẫn nghe tiếng khóc thút thít của con, và nước mắt đã ướt đầm một bên gối.
Mẹ Danny ôm con vào lòng, có lẽ bà tưởng cậu vừa trải qua một cơn ác mộng. Cho đến khi Danny tỉnh hẳn giấc chiêm bao, mẹ cậu âu yếm hỏi con:
“Con sợ lắm phải không? Sao con lại khóc?”
Danny lắc đầu, cậu im lặng, như vẫn chìm đắm với hình ảnh Giêsu bé nhỏ trong giấc mơ, cậu thổn thức:
“Không, con nằm mơ gặp Chúa, và con khóc vì những điều Chúa kể lể.”
Mẹ cậu an ủi:
“Đấy là điều hạnh phúc Chúa cho con, nhưng Chúa kể gì mà con lại khóc.”
Danny ngập ngừng, rồi cậu nói với mẹ bằng một giọng chân thành nhất:
“Chúa nói rằng không có phép lạ, đừng tìm Chúa bằng phép lạï. Chỉ có tình yêu thôi.”
Rồi cậu nhắm mắt lại, trong khi mẹ cậu không làm sao hiểu nổi sự mầu nhiệm của giấc mơ, trong lòng đứa con trai yêu dấu của mình.
* * *
Sau giấc mơ đêm Noel, một phép lạ đã xảy ra với Danny, cậu bé mười tuổi sinh trưởng trong một gia đình giàu có: đó là tấm lòng biết yêu thương mọi người.
Danny không bao giờ còn tơ tưởng chuyện phép lạ từ Thượng Đế, nhưng từ đấy, mỗi khi làm được điều gì tốt lành cho chính bản thân, hay cho mọi người, Danny thấy tình yêu nở hoa trong lòng cậu, điều ấy làm cậu vui sướng hơn cả.
Những ngọn lá đỏ trong huyền thoại đêm Giáng Sinh năm xưa, hay những đóa hoa tươi thắm cứ mỗi ngày một nhiều trong tâm hồn cậu bé. Phép lạ vẫn xảy ra hằng ngày, khi trái tim yêu thương biết chia xẻ hạnh phúc chan hòa cho nhân thế.
 Nguyên Nhung

Đêm Thánh Vô Cùng:Ta đã khóc dù hồn đâu có muốn, nhìn dòng đời hờ hững nhớ quê hương ..

Đêm Thánh Vô Cùng Khắp Thế Giới

      
Theo sử liệu, cách đây hơn 2000 năm vào một đêm đông lạnh lẽo, Chúa Jésus đã được sinh trong một máng cỏ nơi cánh đồng cô quạnh. Nguyên do là bà Maria dù sắp tới ngày sinh nhưng vì có lệnh kiểm tra dân số của chính quyền La Mã, nên phải rời thành phố đang ở là Nazareth về quê hương tận Bethlehem, vì vậy đã sinh Chúa giữa đồng. Tuy nhiên mãi tới năm 350 sau TL, nhân loại mới thống nhất được 25-12 là ngày lễ giáng sinh chung, tuy rằng mỗi nước mỗi địa phương đều có những tục lệ khác biệt, theo tập quán phong tục riêng của họ.

Xưa nay, nhiều người hay lẫn lộn về nguồn gốc của các danh từ liên quan tới ngày lễ Giáng sinh như Noel hay Christmas. Trước hết “Noel” là Pháp ngữ, thoát thai từ tiếng La Tinh “Natalis“ chứ không phải là tiếng Do Thái cổ. Sự lầm lẫn trên, phần lớn là do bản gốc của Kinh Thánh trong phần Cựu Ước, hoàn toàn được viết bằng chữ Do Thái Cổ. Về sau mới được dịch ra tiếng Hy Lạp và La Tinh. Theo gốc chữ “Natalis dies” của latin, có nghĩa là ngày sinh nhật hay sự ra đời. Về sau để tiện gọn, các nhà ngôn ngữ học đã bỏ bớt chữ “Dies”, mà nói tắt là “Natalis“, để chỉ ngày sinh. Hình thức nói tắt này, chính là nguồn gốc (Étymon) của danh từ “Noel” mà ta dùng tới ngày nay. Đây là luật biến đổi ngữ âm của văn phạm La Tinh, dùng hoán chuyển các tiếng gốc sang Pháp ngữ ngày xưa, chẳng hạn như Natalis - Nael - Noel...

Từ tiếng gốc có nghĩa chung là “Sinh Nhật“, dần dần người ta viết hoa chữ Noel, đồng thời bỏ thêm hai chấm trên đầu chữ E, một hình thức phủ nhận chữ e này không thể kết hợp với chữ O đứng trước, để trở thành một Nhị Trùng Âm (Diphtongne), như các chữ thông thường khác. Dụng ý của người xưa là vậy. Từ đó chữ Noel trên đầu có hai chấm viết hoa, chỉ dùng để chỉ ngày sinh của Chúa Jesus mà thôi.



Riêng chữ Christmas cũng là một tiếng Anh cổ, được kết hợp bởi hai thành tố: Christ chỉ Chúa Jesus, còn “Mas“, qua biến thể của chữ Mass cổ, có nghĩa là Lễ của Nhà Thờ hay Lễ Hội. Hình thức của Mas (mass), một thứ tiếng Anh cổ, cũng có gốc từ chữ Latin là Missa với nghĩa “Lễ nhà thờ”. Trong tiếng Pháp cũng có chữ “Messe”, được Việt hoá thành “Misa”, cũng có nghĩa là Lễ Nhà Thờ. Cuối cùng là vấn đề biến dạng từ chữ “Christmas“ sang “Xmas“. Như ta biết, danh từ Christ tuy là tiếng Anh nhưng có từ nguyên là tiếng La Tinh “Christus“ mà ra. Nhưng chữ La Tinh này lại được mượn từ tiếng Hy Lạp “Khrislos“ , có nghĩa là Người được xức dầu thành, chỉ Chúa Jesus. Do các quy luật phức tạp chuyển ngữ các chữ cái, giữa hai ngôn ngữ trên, nên mới có biến thể từ Christmas sang Xmas, nhưng khi đọc, vẫn là Christmas chứ không bao giờ là Xmas.

Nói chung dù các chữ Noel, Christmas, Xmas xuất phát từ đâu chăng nữa, thì tựu trung đều có nghĩa chỉ ngày giáng sinh của Chúa Jésus, mà theo truyền thuyết nhằm ngày 25-12 năm 1 tại Bethleem, cách thành phố Jerusalem của Do Thái độ 9 km. Riêng chữ Advento của La Tinh, mà các tín đồ Thiên Chúa giáo quen gọi là mùa Ắt hay mùa Vọng, một nghi thức truyền thống, cũng được cử hành riêng biệt tuỳ theo tập quán của các nhà thờ. Theo đó qua thánh lễ lâu đời trước một tháng lễ sinh nhật, có tục đặt bốn cây nến tượng trưng cho sự trong lành của Thiên Chúa soi sáng nhân loại. Cũng trong mùa Vọng, giáo đồ không hát kinh GLORIA cũng như khi cử hành thánh lễ, các linh mục và bốn cây nến mùa vọng đều mang màu tím, là một biểu tượng của sự sám hối đối với người theo đạo Ky Tô.

Về danh từ “Bibble” của Hy Lạp, thì kinh thánh có nghĩa là những cuốn sách nhỏ. Theo truyền thuyết, thì kinh thánh được liên tục viết trong 1600 năm, khởi đầu từ năm 1513 trước TL cho tới năm 98 sau TL. Hiện nay còn truyền được 66 cuốn, mà quyển đầu tiên là kinh “Sáng Thế Kỷ”. Kinh này thuật lại câu chuyện mất vườn địa đàng, do sự phản nghịch của ông Adam và bà Eva. Còn cuốn cuối cùng là kinh “Khải Huyền“, trình bày địa cầu sẽ trở lại cảnh địa đàng, qua sự chăm sóc của Chúa. Thật ra câu chuyện vườn địa đàng là ám ảnh và nổi bưc xúc của nhân loại hơn 2000 năm qua, và họ cứ mãi miết đi tìm, từ những ốc đảo, rừng rậm cho tới miền núi đồi băng giá. Cuối cùng khắp các nơi chốn đi qua, con người lại mang thêm niềm nhớ muôn thu, khi cảm nhận được sự lầm lẫn đã đánh mất cõi thiên đàng.

Cho tới thế kỷ thứ 16 sau TL, vẫn chưa có ai thắc mắc về việc liên quan tới vườn Eden trong kinh Sáng Thế Kỷ, trái lại người ta càng ra sức tô bồi thêm thắt câu chuyên cho phong phú diễm tình. Nhà tiên tri Ezechiep đã viết “trong vườn địa đàng ở hai bên bờ dòng thác, mọc lên mọi thứ cây ăn quả không bao giờ héo úa vì năm tháng đều có thu hoạch mới”. Chính những lời tiên tri đó, thúc đẩy con người thực hiện những giấc mộng đi tìm thiên đàng, trong nỗi mơ hồ lãng mạn cho tới hôm nay chưa hề nao núng, dù thực tại vẫn là ảo vọng.

Trong 66 cuốn kinh thánh, 39 cuốn đầu tiên viết bằng tiếng Hebrew, một phần nhỏ khác dùng chữ Aram. Còn 27 cuốn cuối cùng mới dùng chữ Hy Lạp. Năm 280 trước TL, kinh thánh được dịch toàn bộ ra chữ Hy Lạp gọi là bản Septuagint. Sau cùng lại được dịch ra chữ LaTinh. Ngày nay kinh thánh được dịch ra 1700 thứ tiếng, với số ấn bản hằng tỷ cuốn, lưu hành khắp thế giới. Tóm lại kinh thánh co 31.102 câu, 1189 chương, chia thành 66 tập, chương ngắn nhất là chương thanh thi 117 và chương 119 dài nhất.

Riêng chữ thập được coi như một biểu tượng phong phú nhất của con người. Chính truyền thống Thiên Chúa Giáo đã làm giàu ý nghĩa của chữ thập. Trong các tranh ảnh nói về đạo Ky Tô, chữ thập diễn tả nhục hình cũng như nỗi thống khổ của đấng cứu thế. Hiện nay trên thế giới có 4 loại thánh giá và mỗi thứ mang riêng một ý nghĩa. Thánh giá có hình chữ T, tượng trưng cho con rắn bị đóng trên một cây cọc, nói về sự tử vong. Thánh giá có một thanh ngang, hiện được lưu dùng khắp thế giới, đó là thánh giá của phúc âm, tượng trưng cho 4 yếu tố căn bản của con người và sự bành trướng của đạo Thiên Chúa khắp 4 hướng. Chân thánh giá chôn dưới đất là nền tảng của đạo, nhánh trên là hy vọng hướng về thiên chúa, thanh ngang là tình yêu vươn lên với kẻ thù, còn bề dài nói về sự bền chí. Loại thánh giá có hai thanh ngang, thanh trên có ghi dòng chữ của Ponce Pilate “Jésus thành Nazareth, vua Do Thái“, còn thanh dưới là chỗ tựa tay của Chúa trước khi chết. Thánh giá này còn được gọi là Anjou hay Lorraine, một biểu tượng của nước Pháp từ năm 1473. Trong thế chiến 2, lực lượng liên minh tự do kháng chiến của De Gaulle cũng dùng quân hiệu với màu đỏ, đối nghịch với quân Pháp đã đầu hàng Hitler, dùng phù hiệu chữ vạn ngược màu đen. Cuối cùng là thánh giá có ba thanh ngang, tượng trưng cho kỷ cương của đạo, tương xứng với ba vòng mũ của Giáo Hòang, Hồng Y và Giám mục. Từ thế kỷ thứ XV về sau, theo luật của Tòa Thánh La Mã, chỉ có Giáo Hoàng được đeo thánh giá ba thanh ngang, Hồng Y đeo thánh giá hai thanh ngang và Giám Mục trở xuống đeo thánh giá một thanh ngang. Tuy nhiên cũng tùy theo địa phương, với giáo hội La Mã thì thánh giá gồm một dài một ngắn. Giáo hội Phương Đông có hai thanh bằng nhau. Đặc biệt tín đồ thiên chúa giáo vùng Saint André, mang thánh giá hình chữ X.

Từ thời trung cổ về sau nhất là tại Âu Châu, lễ giáng sinh được tổ chức rất long trọng và vĩ đại. Trong mùa lễ, khắp nơi đều có lập những sân khấu lộ thiên, để các đoàn văn nghệ của giáo hội trình diễn các tiết mục của thánh kinh. Nhờ vậy, nghệ thuật diễn tuồng, kịch của Âu Châu được phát huy và quảng bá rộng rãi. Tinh thần Noel trên kéo dài tới cuối thế kỷ XVIII mới bị bãi bỏ. Dù vậy tới nay vẫn còn nhiều phong tục xa xưa được chấp nhận, như niềm tin rằng trong đêm giáng sinh, ma quỷ và các phù thuỷ không thể nào hãm hại được ai, vì đó là đêm bình an, hoan lạc của thế nhân. Ngoài ra nếu đêm giáng sinh nhằm vào mùa trăng non, thì năm tới dân chúng làm ăn phát đạt trúng mùa. Ngày giáng sinh gặp nắng ráo thì cả năm tới mưa thuận gíó hòa. Trong đêm giáng sinh, nam nữ rủ nhau đi hái lộc non của các cây nguyệt quế, trường xuân, đào kim chướng, chùm gởi... qua niềm tin lộc sẽ mang tới hạnh phúc cho họ.

Trong lúc mọi nhà kể cả kẻ ngoại đạo, đều có tiệc tùng rất vui vẻ. Từ sau đệ nhị thế chiến, bánh Buche de Noel đã trở thành một thực đơn quen thuộc, không thể thiếu trong bữa tiệc của đêm giáng sinh. Về bánh có hình khúc củi, cũng từ tập tục có từ thời trung cổ truyền lại, để con cháu nhớ lại thuở xưa khắp Âu Châu, mọi người đều phải dùng củi để đốt lò sưởi trong dịp sinh nhật Chúa. Đây cũng là thời kỳ lạnh nhất trong năm, nên mọi ngưòi vừa đốt củi để sưởi, vừa ngồi quanh bếp lửa hồng để cầu xin ơn trên ban phước lành. Ngoài ra còn phải kể tới món Gà lôi hay Gà tây, được mang từ Tân Thế Giới về Tây Ban Nha từ thế kỷ thứ XVI và theo thời gian đã trở thành món ăn quen thuôc hằng ngày nhưng cũng là đặc sản trong đêm sinh nhật Chúa.

Tuy cũng thuộc Âu Châu nhưng nước Nga với lãnh thổ rộng nhất hoàn cầu, chạy dài từ Âu sang Á nên khí hậu có tính cách đại lục. Mùa đông ở đây cũng đặc biệt với những lớp tuyết trắng phủ đầy từ mặt đất lên cả mái nhà, còn mặt trời thì như ngái ngủ, làm cho cảnh vật khắp nơi buồn hiu quạnh quẽ. Trước đây người Nga theo Chính thống giáo và lịch riêng của mình, nên hằng năm đón giáng sinh vào ngày 6-7/1. Hiện nay Nga đã xài lịch Gregorian, nên đón giáng sinh cũng như các nước khác.. Theo truyền thống, người Nga có tục kiêng cữ ăn uống trước đêm giáng sinh, trong đó có rượu Vodka và đường bị cấm tuyệt. Thời gian này, mọi người chỉ ăn bánh Sochniki làm bằng đậu, được chiên bằng dầu thảo mộc và uống nước lạnh. Tới 7 giờ tối đêm giáng sinh, khi mà khắp nước Nga mọi người nhìn thấy một ngôi sao nhỏ xuất hiện trên bầu trời xám đục, lập tức mọi người cầu nguyện. Sau đó quây quần bên bữa tiệc giáng sinh sau kỳ ăn kiêng, mà người Nga coi như một biểu tượng của 40 năm, Moses đã dẫn dân Do Thái đi trong sa mạc mịt mù. Thời kỳ này, người Nga nào cũng đều làm việc từ thiện.

Tại Canada thời tiết cũng lạnh lẽo như bên Nga nhưng tuyết có rơi cũng chỉ là lất phất vừa đủ rắc một vài lớp đá mỏng lên trên vạn vật, rồi dần tan ngay khi có ánh nắng mặt trời. Bởi vậy khách du phương khi tới đây gặp mùa giáng sinh, bỗng thấy mình vô tình lạc vào cõi thần tiên, giữa rừng cây hằng xanh của các pho truyện cổ tích, mà các nghệ sĩ Âu Mỹ thường ca tụng là Pine, holly, mitlatoe. Ở đây đâu đâu cũng tràn ngập hàng hóa dành cho ngày giáng sinh, tất cả đều rạng rỡ dưới màu sắc của mọi màu. Đêm giáng sinh tại đây thật an bình, mọi người sau khi dự lễ nhà thờ về, đều quây quần bên bàn tiệc với gia đình, bè bạn, trong ánh lửa bập bùng của lò sưởi và các đèn màu mờ ảo từ các cánh thông nơi góc nhà. Ai cũng vui vẻ hạnh phúc, nâng ly chúc tụng lẫn nhau, mặc cho ngoài trời giá lạnh căm căm và tuyết rơi như mưa bụi, nhưng vẫn có những kẻ không nhà hay lỡ bước lang thang.


Thánh địa của Thiên Chúa giáo là vương quốc Vatican, tuy lãnh thổ nằm trong kinh đô Rome của Ý Đại Lợi nhưng từ năm 1929, đã đã được Musolini ký lênh công nhận là một quốc gia độc lập, bất khả xâm phạm. Tại đây, từ đầu thế kỷ thứ IV sau TL, tòa thánh La Mã đã xây Đại giáo dường ST.Peter giữa kinh thành Rome và quảng trường Thánh Phêrô, có sức chứa hằng trăm ngàn người.Tất cả đều uy nghi tráng lệ và vĩ đại, không nơi nào có thể sánh kịp từ trước tới nay. Trong đêm giáng sinh, người Ý cũng như các tín đồ hành hương ngoại quốc, đều tụ tập về đây. Lễ hội kéo dài suốt đêm, mọi người vừa hành lễ, vừa vui mừng chúc tụng, ăn uống, nhảy múa ca hát. Đồng thời với nhiều chương trình ca nhạc được diễn ra khắp nơi tại Via, đồi Aventine, nhà nguyện Sixtine, quảng trường Campitelli.. với các ban nhạc trứ danh bất hủ của Villa Lobos, Beethoven, Brahms, Ravel, Janacer và Stravinsky.

Tại Hoa Kỳ, những người di dân Anh đầu tiên đã mang lễ hội giáng sinh vào đây và được tổ chức lần đầu vào năm 1686 tại Boston nhưng tới năm 1856 mới được quốc hội công nhận là quốc lễ. Tuy nhiên tất cả các kỷ lục liên quan tới lễ giáng sinh đều phát hiện tại Mỹ, cũng là nước đứng đầu thế giới sử dụng cành thông trong mùa lễ. Nữu Ước chẳng những là trung tâm kinh tế số 1 của Mỹ, mà còn là kho hàng bách hóa khổng lồ, đường phố cửa tiệm buôn bán suót ngày đêm, với sản phẩm mới, hàng thời trang và đồ chơi trẻ con tràn ngập thị trường. Trong lúc đó các chương trình hòa tấu, văn nghệ dành cho mùa Noel được trình diễn liên tục , khắp các trung tâm buôn bán Rockefeller, Radio Music Hall, Carnegie Hall.. Ở đây đêm giáng sinh cũng như giao thừa, mọi người tụ tập tại các nơi công cộng như đại lộ Madison, đường số 5 , các đại vũ trường trong khách sạn Plaza, Rockerfeller, Waldorf, Astoria, Time Square... để ăn uống, nhậu nhẹt, khiêu vũ ca hát suốt đêm.

Ở Anh hầu hết các chuyến tàu điện, tàu điện ngầm, các loại xe chuyên chở công cộng đều luôn đầy nghẹt người suốt ngày đêm 24/12, vì ai cũng hối hả về đoàn tụ với gia đình trong đêm giáng sinh, một lễ hội quan trọng nhất trong năm hơn cả ngày tết dương lịch. Theo tập quán lâu đời tại Anh thì ngày chủ nhật trước lễ giáng sinh, mọi người tụ tập tại các nhà thờ để hát thánh ca. Trong lúc đó có nhiều người đi hát dạo trên đường phố cũng như ở nhà quê, để quyên tiền giúp cho các cơ quan từ thiện. Trong nhà, ngoài phố nơi nào cũng trang hoàng cây giáng sinh với những gói quà tặng.

Ở Á Châu, Nhật là quốc gia tuy 90 % theo Phật giáo nhưng lại hưởng ứng nồng nhiệt lễ giáng sinh. Với các gia đình theo đạo Thiên Chúa, bữa tiệc nửa đêm được tổ chức rất long trọng, ngoài món gà tây nhồi thịt, còn có sò và ngỗng, uống với rượu Ské hâm nóng.

Hiệp định Genève 1954 chia hai VN thành hai nước riêng biệt. Miền Bắc do Hồ Chí Minh cùng đảng Cộng sản đệ tam quốc tế cai trị. Tại Hà Nội buổi đó có nhiều sứ quán ngoại giao Tây phương lẫn Cộng sản. Để lừa bịp bọn da trắng, Hồ và đảng chơi trò hưu chiến cuội ngày Giáng Sinh, đồng thời tự sơn phết nhà thờ Chính Tòa Hà Nội hằng năm để lấy vải thưa che mắt thánh. Sau đó, Tòa Giám Mục phải è cổ ra trả tiền theo biên lai của đảng gửi tới.

Chuyện cũ làm nhớ tới Sài Gòn thời mở cửa. Mặc kệ cho dân chúng cả nước sống nghèo cực tới mức không còn ai nghèo hơn vì tai trời nạn nước, cùng sự bóc lột bất tận của cán bộ đảng, qua sự cấu kết của thiểu số Việt kiều làm việt gian toa rập, để khoe với thế giới bên ngoài, sự phồn vinh giả tạo tại các thành phố lớn, trong đó có Hà Nội và Sài Gòn; đối với VC xưa nay, tôn giáo của chúng là sự tin thờ Lê-Mác-Mao-Hồ, ngoài ra tất cả chỉ là dịch vụ trao đổi mua bán, cho nên sự kiện biến ngày lễ Giáng Sinh thiêng liêng của nhân loại ngàn đời, thành “Mùa Ăn Chơi“ tại các khách sạn quốc tế nơi Thành Hồ như Equatorial, cùng với nhiều nhà hàng khách sạn khác, thuộc công ty quốc doanh du lịch dã ngoại Lửa Việt, cũng là điều tất yếu của những con người không còn nhân tính.

Vật giá leo thang như mây trời gió cuốn, thời tiết thì nay lụt mai nóng, còn công việc làm ăn, từ nghề biển, làm ruộng cho tới bán buôn, đều do cán bộ đảng quyết định. Cho nên ăn chơi mức nào cũng có, kể cả “nhất dạ đế vương“ cũng chỉ là chuyện bình thường của tập đoàn tham nhũng VC giàu có nhất nhì trên thế giới hiện nay, đang sống trong biển bạc rừng vàng.. Bởi vậy đừng trách tại sao người Việt trong nước ngày nay, tâm tình biến đổi, đến độ nhiều phụ nữ phải bỏ quê hương cha mẹ, người thân để lấy chồng xứ lạ tận Đài Loan, Hoa Lục, Nam Hàn, Mã Lai... mà thực chất là bán thân để giúp cho gia đình tồn tại.

Lừa bịp cả nước trong mọi dịch vụ, từ chuyện lúa gạo, cao su, cà phê, nuôi cá, tôm, gà vịt nay lại tới sự may mặc. Tất cả chỉ mang lợi nhuận vĩ đại cho cán đảng, tư bản đỏ cùng một thiểu số Việu Kiều-Việt Gian môi giới bày vẽ mà thôi. Còn cả nước thì gần như sạt nghiệp sập tiệm, và theo các hãng tin trên thế giới, mùa giáng sinh đang nở rộ khắp nơi, bỗng xót xa nhớ tới những mùa giáng sinh năm xưa ở quê nhà trước ngày 30-4-1975. Buổi đó, mọi người vì tin đạo, yêu đời và tâm hồn vị tha phóng khoáng theo truyền thống muôn đời của dân tộc, nên ai cũng cố quên sự chết chóc đang rình rập, để đón mừng đêm Chúa ra đời. Vì vậy đã phó mặc cho pháo kích, lựu đạn của VC lúc nào cũng lợi dụng hưu chiến, gây nỗi tang tóc đau khổ cho mọi người.

Rồi những ngày mở cửa rước tư bản vào cứu đảng. Cứ mỗi lần giáng sinh tới, VC lại đóng kịch tự do tôn giáo, vừa che mắt thánh, lại có dịp tổ chức ăn chơi thu tiên đô của việt kiều và du khách. Nhưng dân chúng cả nước thì mặc kệ thiệt hay giả, đêm giáng sinh năm nào cũng đón mừng vui vẻ, theo tiêu chuẩn là vui được phút nào thì cứ vui, chứ sống trong thiên đường xã nghĩa, biết đâu mà nghĩ tới chuyện ngày mai cho mệt.

Xứ người mấy chục năm qua, đêm giáng sinh nào cũng nghe lại được những bài hát Đêm Đông, Đêm Thánh Vô Cùng, Mừng Chúa Giáng Sinh... khiến cho hồn thêm bâng khuâng cô quạnh, rồi tự hỏi:
“những người năm xưa ấy
giờ lưu lạc phương nào..?”

Đêm nay giáng sinh lại về, ta, kẻ ngoại đạo một mình lang thang trên phố vắng người. Trên lầu cao, nhà ai tràn ngập ánh đèn màu và chập chùng tiếng nhạc giáng sinh thánh thoát, quyện theo gió xa đưa mùi hương huệ trắng thơm ngát ngào ngạt. Ôi đêm thánh vô cùng khắp trần gian, ta đón mừng với giọt nước mắt ly hương, lầm lũi trong đêm lạnh:

“Ta đã khóc dù hồn đâu có muốn
nhìn dòng đời hờ hững nhớ quê hương ..”

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di

Tháng 12/ 2010
MƯỜNG GIANG

Bài Xem Nhiều