We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 29 December 2014

Kẻ Thù Giấu Mặt: Khoảng Cách Nhận Thức Giữa Hai Thế Hệ


Có những tình huống từng tái diễn trong lịch sử một cách một cách thú vị mà nếu chúng ta chịu khó nghiên cứu thì cũng giúp rút ra những bài học quý báu để tránh những sai lầm của người đi trước.
Năm 1954, ngay sau khi Hiệp Định Geneve được ký kết chia nước Việt Nam ra làm hai miền với hai chế độ chính trị đối nghịch, Hồ Chí Minh và phe đảng ở miền Bắc đã âm thầm chuẩn bị nhân sự, cơ sở cho một cuộc chiến tranh mà chờ đến tháng 9 năm 1960 họ mới loan báo trong Đại Hội lần thứ ba của Đảng Lao Động Việt Nam (là Đảng Cộng Sản Đông Dương được đổi tên vào Đại Hội 2 năm 1951 để che đậy, đánh lừa công luận. Sau kỳ Đại Hội 4 năm 1976, lấy lại tên là Đảng Cộng Sản Việt Nam).
Đúng 60 năm trước đây, người Mỹ đã đến Việt Nam trong vai trò đồng minh để viện trợ cho nước Việt Nam Cộng Hoà sơ sinh về tất cả mọi mặt, trong đó quân sự là trọng tâm nhằm xây dựng một Quân Đội Quốc Gia - thành lập năm 1950 từ những đơn vị manh mún do Pháp huấn luyện và trang bị một cách nghèo nàn, lạc hậu.

Đại Tướng John O’Daniel cầm đầu cơ quan MAAG (Military Assistance and Advisory Group) và người kế nhiệm là Đại Tướng Samuel William cũng đã ngửi thấy mùi chiến tranh sẽ xảy ra không xa, nên đã cật lực tái trang bị và huấn luyện cho một đạo quân chính quy theo mô hình Quân Đội Hoa Kỳ. Họ muốn đó là một đạo quân với nhiều sư đoàn mạnh về hoả lực và tiếp liệu để dùng trong chiến tranh quy ước. Trong khi đó, các giới chức cao cấp ở Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Việt Nam bất đồng phương thức này, vì biết trước rằng miền Nam sẽ phải đối phó với cuộc chiến mang hình thái một chiến tranh bạo loạn (insurgent war) hơn là cuộc tấn công chủ lực (conventional war). Phía Việt Nam chủ trương xây dựng một quân đội nhẹ, có tính cơ động, uyển chuyển để thay đổi theo từng tình huống. Chính cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã phản đối khảo hướng của Hoa Kỳ khi ông nói với Tướng William vào đầu cuộc chiến năm 1955: ”Chúng ta nên khởi sự chiến tranh du kích về phía chúng ta…” và sau này lại được Trung Tướng Ngô Quang Trưởng đồng tình: “Trong hoàn cảnh chiến tranh khuynh đảo, Quân Lực VNCH đã không thích ứng được với lối đánh mà chúng ta đã không được huấn luyện.”
Đảng Cộng Sản Việt Nam học hỏi từ cuộc chiến Trung Hoa và cuộc kháng chiến chống Pháp, đã triệt để áp dụng các sách lược về Chiến Tranh Nhân Dân (People’s War) do Mao Trạch Đông đề ra. Thực chất đó là cuộc chiến tranh du kích, lấy nông thôn làm chỗ tựa để bao vây thành thị; dùng những đơn vị nhỏ quấy rối làm tiêu hao sinh lực đối phương; dùng khủng bố để áp đảo tinh thần dân chúng. Khi cần thì bôn tập những lực lượng đông gấp 5, 10 lần để công đồn và đả viện. Họ đánh lén rồi đi, phân tán trong những căn cứ địa hoặc để lại cán bộ nằm vùng, ẩn náu trong quần chúng. Muốn đối đầu trong loại chiến tranh này, miền Nam cần chú trọng vào việc ổn định ở nông thôn là chính; mà trong đó vai trò của các đơn vị quân nhỏ, lấy tài nguyên nhân lực ngay từ địa phương và cũng bám trụ tại địa phương. Ngoài ra phải song hành với các chương trình để cải thiện đời sống nông thôn để cho người dân có một chỗ dựa đáng tin cậy về an ninh và tin tưởng vào chính nghĩa quốc gia. Chương trình Ấp Chiến Lược đã thực sự có hiệu quả, nhưng sớm bị xoá bỏ khi Tổng Thống Diệm bị lật đổ và không được Hoa Kỳ quan tâm yểm trợ.

Một quân đội chính quy như Quân Lực VNCH hùng mạnh, thành công về mặt chiến thuật, có thể chiến thắng, giết nhiều địch quân trong một trận chiến. Nhưng sau đó lại rút đi hành quân nơi khác để lại nông thôn cho du kích Cộng Sản quay trở lại thì rõ ràng bao nhiêu công lao, máu xương chiến sĩ đổ ra đã không đạt được mục tiêu bình định. Cần nhớ rằng trong giai đoạn đầu cuộc chiến Việt Nam, lực lượng diện địa (Bảo an, Dân Vệ) bị coi rẻ và rất yếu kém vừa về phương diện tổ chức, huấn luyện và trang bị. Đến khi sáp nhập vào Quân Lực VNCH để có được sự cải thiện thì đã quá muộn.
Nước Mỹ, vừa chiến thắng Nhật Đức trong Đệ Nhị Thế Chiến, ngoi lên hàng cường quốc vô địch, đã tự đứng ra lãnh đạo khối Thế Giới Tự Do. Dựa vào khả năng kinh tế tài chánh khổng lồ, Hoa Kỳ đã ban bố viện trợ cho hàng chục quốc gia từ Âu sang Á; do đó, không tránh khỏi tính tự phụ, tự mãn, coi thường ý kiến của các lãnh tụ đồng minh khi xem xét đến những vấn đề chính trị địa phương.
Đó là sự cách biệt trong cách nhìn về cuộc chiến, mà hoá ra phía Việt Nam Cộng Hoà đã đúng; nhưng do thế yếu mà đã không xoay chuyển được nhận thức của người bạn Hoa Kỳ khổng lồ vừa là người ban ơn.
Hậu quả của lối đánh giá khác biệt giữa Hoa Kỳ và VNCH đã dẫn đến thất bại trong chiến tranh Việt Nam khi Hoa Kỳ cắt viện trợ quân sự và đội quân thiện chiến VNCH - từng lệ thuộc nặng nề về không yểm, pháo yểm, tiếp vận kiểu nhà giàu - đã không có khả năng thích ứng với hoàn cảnh chiến đấu trước những làn sóng tấn công vũ bão của quân chính quy miền Bắc ở giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến.
Dĩ nhiên, có hàng loạt những nguyên nhân khác cũng quan trọng không kém đã dẫn đến sự mất miền Nam. Nhưng trong đó, sự thất bại về chiến lược quân sự phải kể là hàng đầu.

Bốn mươi năm sau khi chiến tranh quân sự chấm dứt, vẫn còn tiếp diễn cuộc chiến âm thầm giữa người Việt Quốc Gia và bạo quyền Cộng Sản. Dù Cộng Sản không thay đổi trong bản chất, nhưng những hình thái chiến tranh đã mang những màu sắc khác. Ngày trước thì ba mũi giáp công (quân sự, chính trị, binh vận); ngày nay thì hàm chứa trong Nghị Quyết 36 là văn hoá vận, quần chúng vận, xâm nhập lũng đoạn để tiến tới nắm lấy sự kiểm soát cộng đồng Việt Nam hải ngoại. Ngày trước thì nón cối, dép râu; ngày nay là những nhà ngoại giao lịch lãm ngồi trên những limousine láng bóng. Ngày trước là hàng loạt đạn hoả tiễn, trọng pháo; ngày nay là những cuốn video, những bản nhạc, những bài viết ve vuốt tình tự dân tộc để dần dần chiếm những tình cảm, sự quen thuộc để có thể bắt đầu gài vào những tuyên truyền chính trị về sau.
Việt Cộng ngu dốt, yếu kém trong kinh bang tế thế; nhưng rất thành thạo và kinh nghiệm về các hoạt động khuynh đảo. Ngày trước Cộng Sản đã thành công trong việc gài người trong làn sóng di cư vào Nam, điển hình qua Cụm Tình Báo Chiến Lược A-22 làm xôn xao dư luận trong và ngoài nước năm 1969. Ngày nay, Cộng Sản tổ chức một mạng lưới tình báo gián điệp từ trong các toà Đại Sứ, Lãnh Sự ra đến những cơ sở kinh tài với kinh phí khổng lồ để xâm nhập vào cộng đồng hải ngoại. Họ nhắm vào sử dụng các thành phần chính:
1. Những người gài vào trong những chuyến vượt biên.
2. Những người gài trong các chương trình đoàn tụ, ngay cả chương trình HO cũng không ngoại lệ.
3. Những người có quyền lợi gắn bó tại nội địa, như những thương nhân từng đem tiền về nước đầu tư, những người còn nặng nợ gia đình còn lại ở VN. Việt Cộng chắc phải dùng những tình trạng này như giữ con tin để áp lực, mua chuộc.
4. Những kẻ ham tiền, háo danh sẵn sàng phản bội lý tưởng. Những kẻ háo sắc lại càng dễ bị gài bẫy tạo scandal để sai khiến.
5. Những người vô tư không quan tâm hay thiếu ý thức chính trị dù họ mang lý lịch tị nạn. Đây là đối tượng mà Việt Cộng nhắm vào trong các hoạt động văn hoá vận.
Có những người đã tự công khai lộ diện. Có những người đã bị phanh phui qua các trang sách, tài liệu khả tín. Nhưng còn vô số người đang hoà lẫn trong tổ chức chúng ta mà sự nhận diện kể ra không khó qua hành tung nhưng đòi hỏi bằng cớ cụ thể là điều bất khả trong điều kiện của chúng ta. Chúng ta đang ở ngoài ánh sáng, và kẻ thù thì vẫn núp trong bóng tối. Vì thế, người Quốc Gia phải thật tỉnh táo, tự chế để không nói, viết ra những điều suy diễn tuy hợp tình hợp lý, nhưng có tính cách mơ hồ dễ gây phản ứng bất lợi, bị giới trẻ mất lòng tin vì họ coi đó là chụp mũ, vu khống.
Trong cuốn sách Mặt Trận Đại Học Thời Việt Nam Cộng Hoà mới xuất bản, tác giả Bạch Diện Thư Sinh cũng đề cập đến việc Toà Án VNCH đã phải thả các đảng viên Cộng Sản nòng cốt lãnh đạo những phong trào sinh viên đấu tranh vào thời điểm gay cấn nhất của miền Nam chỉ vì tôn trọng căn bản luật pháp dân chủ và bị áp lực của những thành phần thiên tả. Đó cũng là nỗi khổ tâm hiện nay của những người Quốc Gia chính trực khi nhận biết kẻ thù, nhưng không thể nói ra công luận trong xã hội thượng tôn pháp luật. Bọn này sau 1975 đã nắm giữ những vai trò quan trọng trong Đảng Cộng Sản và hệ thống nhà nước như Dương Văn Đầy, Lê Công Vịnh, Hùynh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi…

Và so với sự khác biệt về nhận thức giữa Hoa Kỳ và VNCH ngày xưa; hiện nay, giũa hai thế hệ già trẻ ở hải ngoại cũng nổi bật lên sự cách biệt về nhận thức trước một kẻ thù chung vô cùng nham hiểm, đầy thủ đoạn lừa bịp. Sự xung đột này đã và đang diễn ra trong các sinh hoạt hội đoàn, tổ chức cộng đồng mà chưa có một nhịp cầu thông cảm đúng mức để hoá giải.
Khi bàn về cách nhìn, đánh giá cộng đồng Việt Nam hải ngoại sự việc, chúng ta thường gặp vô vàn ý kiến khác nhau, có khi chỉ nhẹ nhàng, nhưng cũng có khi gay gắt dẫn đến mâu thuẫn và chia rẽ.
Người trẻ ở Mỹ, được giáo dục từ nhỏ tính chân thật, ngay thẳng. Do kinh nghiệm sống trong một xã hội văn minh, dân chủ, họ nhìn và đánh giá mọi vật như nó đang hiển hiện mà không xét đến những yếu tố phức tạp bên trong. Nếu có hiểu biết chút nào về Cộng Sản, thì cũng chỉ là những kiến thức đơn giản qua những trang sách vở mà chưa từng được trải nghiệm như lớp cha chú của họ. Họ chỉ khẳng định điều gì đúng sai đòi hỏi những dữ kiện chứng minh cụ thể mà không đi theo lối suy luận diễn dịch từ quan sát, tổng hợp thường được áp dụng trong các môn khoa học xã hội. Cũng có trường hợp vài người trẻ quá tự phụ về bằng cấp khoa bảng mà coi thường thế hệ cha chú mình. Họ quên rằng cha chú có thể thua kém về kiến thức khoa học chuyên môn, nhưng chắc không thua về kiến thức khoa học xã hội và kinh nghiệm chính trị. Và cả hai phía đều có những điều cần học hỏi nhau.
Inline image
Chỉ nói về một tỉnh vật đơn giản, chúng ta mỗi người cũng đã có cách nhìn khác nhau từ những góc độ hay tâm lý khác nhau. Đến con người thì rõ ràng rất phức tạp. Vì ngoài hình thể còn có trí tuệ và tâm lý. Ngay cái vẻ bên ngoài cũng có thể được che đậy khéo léo bằng hoá trang, giải phẩu để lừa gạt con mắt người. Nói chi đến bên trong thiên biến vạn hoá. Con người là sản phẩm của xã hội. Một sự nhận xét về con người phải được nhìn từ nhiều yếu tố: hành tung, quá trình giáo dục, xuất thân, ảnh hưởng xã hội, điều kiện sống… Mỗi một giây, một phút, những yếu tố trên đều tác động để biến chuyển tâm lý con người một cách sâu sắc. Chúng ta không thể hời hợt chỉ nghe qua lời phát biểu hay một hành vi nhất thời để kết luận về một người. Trong luật học thì một người phải coi vô tội trước khi toà xét có tội; trong chính trị thì người ta có thể đánh giá con người hay sự việc một cách gần đúng sau khi xét qua những yếu tố như đã nói ở trên. Ví dụ, khi nhận xét về những nhân vật “phản tỉnh” từ chế độ Cộng Sản, chúng tôi phải truy tìm từ những bài văn, lời phát biểu. Đọc từng câu, từng chữ để tìm thấy trong sơ hở của họ cái lập trường quan điểm thật thay vì nghe đọc những lời mị dân vừa phát biểu hôm nay. Có điều là chúng ta không vồn vập, tâng bốc; cũng như không mạt sát đả kích nặng lời đối với những người mà chúng ta chưa thật sự hiểu rõ sự biến chuyển trong quan điểm lập trường của họ. Dù sao, thêm một người bạn vẫn tốt hơn thêm một kẻ thù.

Ngày nay, thế hệ một đã qua tuổi thất thập cổ lai hy, không còn năng lực để tiếp tục gánh vác trọng trách lãnh đạo cộng đồng nên đã có khuynh hướng chuyển giao cho giới trẻ. Nhưng những cách biệt, bất đồng về cách nhìn, đánh giá vấn đề và cung cách sinh hoạt vẫn là trở ngại chính. Nếu không hoá giải được, sẽ tạo một khoảng trống lâu dài trong sinh hoạt chung; là khe hở để kẻ địch nhảy vào lợi dụng.
Học hỏi kinh nghiệm đối phó với Cộng Sản trong thời chiến tranh, chúng tôi mong muốn thế hệ cha chú mềm dẻo tinh tế hơn trong cư xử với thế hệ 2, 3. Đó là biết phục thiện và chấp nhận bất đồng, không tự coi mình là trưởng thượng để áp đảo. Ngược lại, cũng mong thế hệ con cháu tạm đứng thoát ra khỏi khung cảnh xã hội dân chủ văn minh để thừa nhận rằng trong chính trị không đơn giản là cách nhìn trực diện, và con người không phản ảnh trung thực qua hình dáng, lời nói bên ngoài mà còn nhiều yếu tố nội tại dược khéo léo che đậy để lừa gạt những người thiếu kinh nghiệm và dễ tin. Lối suy nghĩ, đánh giá cách văn minh chỉ đúng để đối phó với địch thủ ngang tầm văn hoá; nhưng sẽ là con cừu non trước kẻ thù Cộng Sản có một lịch sử gần thế kỷ đầy thủ đoạn man trá, dối bịp.
Chúng ta cùng đặt mục tiêu chính lên hàng đầu mà cởi mở, cảm thông những dị biệt nhỏ mới mong có cơ hội cùng hợp tác chân thành để sớm thành công.

Đỗ Văn Phúc
Giáng Sinh năm 2014

Tài Liệu Tham Khảo

Bạch Diện Thư Sinh. Mặt Trận Đại Học Thời Việt Nam Cộng Hoà. Hoàng Sa, 2014.
Catton, Phillip E., Diem’s Vietnam Failure: Prelude to American’s War in Vietnam (Lawrence: University Press of Kansas, 2002) 87.
Do, Michael P., Polwar in the Republic of Vietnam Armed Forces. Vietnam Archive, Lubbock, TX. http://www.vietnam.ttu.edu/events/2002_Symposium/2002Papers_files/do.php
Lansdale, Edward G., In the Midst of the War: An American's Mission to Southeast Asia, NY: Harper & Row, 1972.
Page, Tim and John Pimlott, eds. The Vietnam Experience 1965-1975, NY: Barnes & Noble Inc., 1995.
Shaplen, Robert. The Lost Revolution: The U.S. in Vietnam, 1946-1966. NY: Harper and Row, 1966
Spector, Ronald H. Advice and Support: The Early Years, The U.S. Army in Vietnam. Washington, DC: U.S. Army Center of Military History, 1983.
Truong, Lt. Gen. Ngo Quang, Indochina Monographs. Territorial Forces (Washington, DC; Center of Military History, 1980) 25.
Wiest, Andrew. The Vietnam’s Forgotten Army. NY: New York University Press, 2009

Việt Nam : Bị khống chế hay hiến tặng những vị trí chiến lược cho Bắc Kinh ..?


BÁO ĐỘNG ĐỎ: NHỮNG VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC CỦA VIỆT NAM ĐÃ BỊ TRUNG CỘNG KHỐNG CHẾ



[1] ĐẢO GẠC MA:

Bắc Kinh xây dựng nhiều cơ sở quân sự, đường băng trên đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam sẽ đẩy sự ổn định của các nước Đông Nam Á rơi vào tình thế nguy hiểm, đặc biệt cho Việt Nam. Những căn cứ dự trù xây dựng bao gồm cả bến tàu để có thể tiếp tế và hổ trợ cho tàu hải quân khu trục. Ngoài ra, chúng ta còn thấy đường băng với chiều dài 1,6 km làm căn cứ cho phi cơ chiến đấu J-11 của TC.

Rõ ràng, Bắc Kinh muốn thay đổi thế cân bằng quyền lực địa chính trị tại Đông Nam Á qua kế hoạch xây dựng các cơ sở quân sự bất hợp pháp nầy. Bắc Kinh muốn củng cố quyền lực trên Biển Đông và biến nơi nầy thành ao nhà và khẳng định chủ quyền trong đường “LƯỠI BÒ” do họ tự vẽ ra. Bắc Kinh đang thách thức vị trí nầy với thế giới.

Theo ông Richard Heydarian – Đại học Ateneo, Philippines – cho rằng, TC muốn tạo sự đã rồi bằng cách khai hoang, cải tạo và chiếm các vùng biển tranh chấp. Bắc Kinh tận dụng biện pháp nầy để chứng minh khi phải đối mặt với phán quyết quốc tế về tranh chấp lãnh thổ và hàng hải với VN và các nước láng giềng trong khu vực. Nếu TC có thể xây dựng các cơ sở tại đây, biến nó thành các hòn đảo nhân tạo và nằm trong vùng kinh tế 200 hải lý thì Bắc Kinh có thể dựa vào đó để biện hộ khi phải đối mặt với phán quyết quốc tế.

Tờ South China Morning Post số ra ngày 8/6 dẫn lời của Li Jie – Viện Nghiên cứu Hải quân TC – cho rằng, Bắc Kinh đang tìm cách biến các căn cứ tại bãi đá ngầm Chữ Thập thuộc quần đảo Trường Sa thành một đảo nhân tạo toàn diện, bao gồm đường băng và cảng biển với ý đồ triển khai hiệu quả hơn sức mạnh quân sự ở Biển Đông. Đảo nhân tạo này có diện tích gắp đôi căn cứ quân sự Mỹ ở Diego Garcia ở giữa Ấn Độ Dương.

[2] HOÀNG SA:

Tờ Tân Hoa Xã (TC) đưa tin ngày 7/10/2014, Bắc Kinh đã hoàn tất việc xây dựng sân bay băng qua đảo Phú Lâm, thuộc quần đảo Hoàng Sa của VN. Chính quyền Bắc Kinh đang đẩy mạnh việc khẳng định “chủ quyền” bất hợp pháp của mình trên Biển Đông, khẳng định quyền kiểm soát mới nhất của Bắc Kinh đối với một vùng lãnh hải rộng lớn ở Biển Đông, sau hai năm tuyên bố thành lập cái gọi là thành phố Tam Sa trên đảo Phú Lâm của VN, còn TC gọi là đảo Vĩnh Hưng bất chấp sự phản ứng của VN và cộng đồng quốc tế.

Quần đảo Hoàng Sa có ảnh hưởng rất to lớn đến tuyến đường vận chuyển quan trọng chạy xuyên Biển Đông, những mỏ dầu, khí đốt lớn của khu vực. Tân Hoa Xã cho biết sân bay dài 2 km sẽ phục vụ cho mục đích quân sự. Sân bay trên đảo Phú Lâm được hoàn chỉnh không ngừng, chiến đấu cơ TC có thể hạ cánh ở khu vực Hoàng Sa để tăng cường khả năng phòng thủ ở Hoàng Sa (Tây Sa) và Trường Sa (Nam Sa) của Việt Nam. Bắc Kinh còn đơn phương và đặt trái phép giàn khoan ở khu vực tranh chấp thuộc quần đảo Hoàng Sa vào tháng 5 làm gia tăng căng thẳng giữa Việt – Trung. Tân Hoa Xã, cái gọi là thành phố Tam Sa còn có một đồn quân sự để góp phần “bảo vệ chủ quyền quốc gia” và đẩy mạnh việc đầu tư hạ tầng cơ sở để mở rộng cơ sở du lịch. Việt Nam đã nhiều lần khẳng định bằng mồm chủ quyền không tranh cãi đối với quần đảo Hoàng Sa. Nhưng VN chỉ phản đối bằng mồm đối với Bắc Kinh vô hiệu.

Nếu chiến tranh Việt – Trung nổ ra, chắc chắn Bắc Kinh sẽ dùng quần đảo Hoàng Sa làm bàn đạp tấn công Việt Nam ở vị trí hẹp nhất của đất nước là Hà Tĩnh – Quảng Trị – Đà Nẵng để chia cắt Việt Nam ra làm đôi.

Đa số cho rằng, TC công khai lấn chiếm Biển Đông do tham vọng tài nguyên dầu khí mà Bắc Kinh so sánh Biển Đông là một vịnh Ba Tư, Ả Rập Trung Đông! Các bản nghiên cứu phúc trình của Đại học Harvard 1994 cho biết, dầu khí và hơi đốt thềm lục địa Việt Nam tập trung ở vùng biển đảo Côn Sơn, nhiều nhất từ Nam Côn Sơn đến biển Rạc Giá với khối lượng vĩ đại. Nếu Việt Nam không phản kháng quyết liệt như Philippines, thì chắc chắn một ngày không xa, Bắc Kinh sẽ nhắm tới vùng biển đảo nầy của Việt Nam. Bản nghiên cứu của Harvard còn cho biết: “Tại VN có những vỉa than anthracid lớn nhất thế giới, nằm ngay sát bờ biển.” (chương X, trang 25).

Trong một động thái sẽ làm Bắc Kinh phẫn nộ khi VN đưa ra ngày 1/12/2014 cho biết là đã chính thức lên tiếng về vụ kiện TC về Biển Đông do Philippines khởi xướng trước Tòa Án Trọng Tài LHQ về Luật Biển (UNCLOS), phản bác tất cả luận điểm phi lý và phi pháp của Bắc Kinh về vụ kiện nầy và phản bác toàn bộ “Đường 9 đoạn”, cơ sở yêu sách chủ quyền của Bắc Kinh tại Biển Đông, cho đấy là một điều không có cơ sở pháp lý. Nhưng, GS Thayer đánh giá: “Việt Nam đã lách vụ kiện TC bằng “cửa sau”.

MỸ BÁC YÊU SÁCH “ĐƯỜNG 9 ĐOẠN” CỦA TC:

Bộ Ngoại Giao của Mỹ công bố báo cáo khẳng định yêu sách “Đường 9 đoạn” mà Bắc Kinh đơn phương đưa ra tại Biển Đông là không phù hợp với luật pháp quốc tế về biển, theo tài liệu chính thức từ trang web BNG Mỹ. Báo cáo dài 26 trang được công bố ngày 5/12/2014 do Cục Đại Dương và các vấn đề môi trường và khoa học quốc tế thuộc BNG Mỹ tiến hành đã ra chỉ ra sự phi lý trong yêu sách “Đường 9 đoạn” của Bắc Kinh. Báo cáo này được đưa ra ngay trước thời hạn 15/12/2014 mà Tòa trọng tài Quốc Tế yêu cầu Bắc Kinh đau ra tài liệu pháp lý về vụ kiện của Philippines đối với những tuyên bố chủ quyền phi lý và phi pháp của Bắc Kinh tại Biển Đông.

Báo cáo của BNG Mỹ cho thấy “Đường 9 đoạn” mà Bắc Kinh đưa ra nằm gần với đường bờ biển của các quốc gia tiếp giáp Biển Đông, trong đó đoạn số 1, chỉ cách bờ biển Việt Nam 50 hải lý và cách đảo Lý Sơn của VN chỉ có 36 hải lý. Các đoạn 3,4,5 lần lượt cách Indonesia, Malaysia, Philippines 75,24 và 35 hải lý. Cũng theo báo cáo nầy, nếu “Đường 9 đoạn” thể hiện khu vực mà TC đòi hỏi cái gọi là “Vùng nước lịch sử” hay “Quyền lịch sử” thì những yêu sách này cũng không nằm trong mục đích “Đòi hỏi lịch sử” được quy định trong điều 10 và 15 của UNCLOS. BNG Mỹ kết luận rằng yêu sách hiện nay của TC về đường 9 đoạn là phi pháp không phù hợp với Luật Quốc Tế về biển. Nhưng, những gì sẽ xảy ra vì Bắc Kinh nói rằng, vụ kiện mà Phippines khởi xướng lên tòa Trọng tài LHQ và được VN ủng hộ là “KHÔNG CÓ TÍNH PHÁP LÝ”? Hãy chờ xem…

II.TRÊN ĐẤT LIỀN:

[1] TÂY NGUYÊN:

Khi nghiên cứu về Việt Nam, các chiến lược gia Pháp, Mỹ và VNCH trước đây thường đánh giá Tây Nguyên là địa bàn chiến lược tối quan trọng, có giá trị rất lớn về mặt quân sự, kinh tế, chiến lược. Vùng Tây Nguyên quan trọng tới mức độ, nếu nước nào chiếm được Tây Nguyên thì coi như đã làm chủ được VN & ĐÔNG DƯƠNG. Trước đó, người Pháp và Hoa Kỳ và thế giới cũng đánh giá được vị trí chiến lược yết hầu của khu vực nầy: “Đây là nóc nhà của Đông Dương” nằm liền kề ngã 3 Đông Dương, vì vậy, khi chiếm lĩnh được Tây Nguyên thì cũng sẽ dễ dàng chiếm lĩnh được toàn bộ Đông Dương.

Riêng đối với chiến trường VN thì Tây Nguyên có tầm quan trọng chiến lược, bởi vì từ Tây Nguyên tiến quân xuống Nha Trang sẽ chia cắt lãnh thổ Việt Nam ra “LÀM HAI”, miền Bắc và miền Nam không tiếp ứng được nhau. Nếu như Vịnh Hạ Long và sông Bạch Đằng là tuyến phòng thủ chiến lược đường biển của nước ta thì Tây Nguyên chính là tuyến phòng thủ chiến lược trên bộ.

Ngay từ thời xưa, tổ tiên chúng ta mỗi lần đánh đuổi kẻ thù truyền kiếp từ phương Bắc đều nhờ voi trận và ngựa trận cung cấp cho quân kháng chiến chống quân Tàu. Tới thời vua Quang Trung thì Tây Nguyên lại càng có vị trí quan trọng hơn, ông đã lấy đây làm hậu cứ chống quân nhà Thanh và tấn công đè bẹp quân Chiêm Thành bẻ gãy thế gọng kềm giúp quân Thanh tấn công nước ta. Có thể nói, Tây Nguyên là xương sống của Việt Nam và là cái thế phòng ngự vững chắc để tái xây dựng lực lượng và dưỡng quân. Nếu để Tây Nguyên lọt vào tay quân thù thì “VN SẼ MẤT NƯỚC”, nếu giữ vững được Tây Nguyên thì không kẻ thù nào có thể đánh bại chúng ta.

Nói theo phong thủy, thì Trường Sơn là con rồng chạy dài từ Bắc vào Nam, miệng của nó là Hàm Rồng, Thanh Hóa còn cái đuôi của nó duỗi thẳng tới vùng Bình Thuận, còn cái lưng rồng là vùng đất Tây Nguyên. Cho nên việc đào bới Tây Nguyên thì giống như dùng dao cắt lưng rồng là điều tối kỵ của thuật phong thủy. Xưa tổ tiên chúng ta đã phải xây chùa Trấn Quốc ở Hà Nội để bảo vệ thế Rồng chầu ở Thăng Long mà nhiều nhà địa lý Tàu sang VN đã không được phép đến viếng nơi nầy. Việc bảo vệ Tây Nguyên có ý nghĩa sống còn cho thế hệ hôm nay và những thế hệ con cháu mai sau của chúng ta…

NGUYỄN TẤN DŨNG DÂNG TÂY NGUYÊN LÀM QUÀ CHO BẮC KINH:

Sau hàng loạt bài trên các báo chí quốc tế về vụ khai thác bauxite ở Tây Nguyên gây nhiều tai tiếng ở Việt Nam. Tờ Financial Times của Anh nói huỵch tẹt rằng, đây chính là “MÓN QUÀ CỦA THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG TẶNG CHO BẮC KINH”. Bài báo của David Pilling ngày 06/5/2009, tác giả nói vụ khai thác bauxite là vấn đề nổi bật, cho thấy thực chất mối quan hệ với Trung Cộng. Lần đầu tiên, một báo lớn ở phương Tây dùng chữ “QUỐC GIA PHỤ THUỘC” (client states) để nói về cách mối quan hệ của VN với TC. Nhưng, điểm quan trọng là theo bài báo thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã mang theo các món quà bauxite của Việt Nam, thứ tài nguyên tạo ra nhôm (He brought with him gifts of Vietnamese bauxite, the main raw material for alumium). Tác giả David Pilling gọi đây là cách “Triều kiến Trung Cộng” (pay tribute to China). Chính Y tá Nguyễn Tấn Dũng rước voi Tàu về giày xéo mả tổ ở Tây Nguyên, cao nguyên Trung Phần Việt Nam.

Lợi dụng sự ươn và khiếp nhược của Thủ tướng y tá Nguyễn Tấn Dũng và bọn lãnh đạo ĐảngCSVN, Bắc Kinh đưa ra những yêu sách thật phi lý như:

• Được quyền đưa công nhân vào Tây Nguyên bao nhiêu cũng được và tự quản lý người của họ theo quy chế ngoại giao. Có nghĩa là họ có thể đưa hàng vạn binh lính PLA, ngụy trang thành công nhân để xây dựng thành hình một chuỗi “CĂN CỨ QUÂN SỰ” được trang bị đủ loại vũ khí, đạn dược chờ cơ hội sẵn sàng đánh chiếm Việt Nam mà chánh quyền CSVN không được quyền kiểm soát.

• Công trường bauxite được khai thác theo cách làm của họ, được tự do phá hoại môi trường sinh thái, tàn phá rừng nguyên sinh vô tội vạ, thải các hóa chất xuống các dòng sông chảy qua Tây Nguyên diệt chủng các sắc dân Thượng tại Tây Nguyên và tận diệt môi trường sống của người dân Nam Bộ sống hai bên dòng sông Đồng Nai và hủy hoại các công trình thủy điện phía Nam…

• Ước tính quân số QĐNDTQ (PLA) đội lốt công nhân có tới từ 3 tới 4 Sư đoàn được trang bị với đầy đủ vũ khí.

[2 ] NGOẠI NHÂN THUÊ VÀ TÀN PHÁ RỪNG ĐẦU NGUỒN:

Mặc dù Trung tướng Đồng Sĩ Nguyên và Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh cảnh báo hiểm họa của việc lãnh đạo ĐCSVN cho người nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn trồng rừng nguyên liệu dài hạn. Nhưng, theo chỉ thị của Thủ tướng Y tá Nguyễn Tấn Dũng, Bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp & Phát triển nông thôn Cao Đức Phát đã cử đoàn cán bộ liên ngành trực tiếp kiểm tra hai tỉnh Lạng Sơn và Quảng Ninh, đồng thời tổng hợp báo cáo 7 tỉnh Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tỉnh, Quảng Nam, Bình Định, Kon Tum và Bình Dương. Kết quả cho thấy 10 tỉnh đã cho 10 doanh nghiệp nước ngoài thuê đất rừng đầu nguồn dài hạn 50 năm trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 305.353 ha, trong đó Hồng Kông, Đài Loan và Trung Cộng chiếm với 87% ở các tỉnh xung yếu biên giới.

Đây là hiểm họa cực lớn liên quan đến an ninh quốc gia nhiều mặt. Vì hám lợi nhất thời, ĐCSVN đã di họa cho các thế hệ về sau. Nếu mất của cải còn làm lại được, còn mất đất là mất hẳn. Cho Hồng Kông, Đài Loan và Trung Cộng khai thác rừng đầu nguồn là tiềm ẩn một hiểm họa không lường. Họ đã thuê được thì họ có quyền chặt phá vô tội vạ. Rừng đầu nguồn bị chặt phá thì hồ thủy lợi sẽ không còn nguồn nước, các nhà máy thủy điện sẽ thiếu nước không còn tác dụng, lũ lụt, lũ quét sẽ rất khủng khiếp. Những năm qua, nhiều tỉnh miền Trung đã hứng chịu nhiều trận lũ lụt kinh hoàng, chẳng phải là lời cảnh báo nghiêm khắc hay sao?

Các tỉnh bán rừng cho người nước ngoài là “TỰ SÁT” và làm hại đất nước. Còn các tỉnh thuê rừng của nước ta là cố tình phá hoại nước ta và gieo họa cho nhân dân ta một cách thâm độc và tàn bạo. Họ có thể đưa thân nhân của họ vào khai phá, trồng trọt, xây cất nhà cửa rồi sinh con đẻ cái, sẽ thành lập từng làng như: “làng Đài Loan”, “làng Hồng Kông”, “làng Trung Cộng”. Thế là vô tình chúng ta mất đi một phần lãnh thổ và nguy hiểm cho quốc phòng.

Hậu quả rừng đầu nguồn ở Thái Nguyên bị tàn phá vô cùng nghiêm trọng, khu vực rừng Ngàn Me thuộc xã Tân Lợi, huyện Đồng Hỷ , tỉnh Thái Nguyên đã bị tàn phá nghiêm trọng, không những mất tài nguyên mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sinh thái, khả năng giữ nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, kéo theo nhiều bất ổn về an ninh trật tự tại địa phương. Theo nhiều người dân địa phương, việc chặt phá rừng Ngàn Me diễn ra từ nhiều năm nay. Từ khoảng tháng 2/2013 tới nay, nhiều người nước ngoài tiến hành chặt phá rừng ồ ạt, công khai và triệt để với mục đích tàn phá môi trường sống, diện tích rừng bị tàn phá đã lên tới hàng trăm hécta.

[3] FORMOSA HÀ TỈNH ĐÒI THÀNH LẬP ĐẶC KHU VŨNG ÁNG:

Đây là đề xuất thành lập đặc khu kinh tế gang thép Vũng Áng và trong đặc khu thành lập Ban Quản Lý, trực thuộc Văn phòng Chính phủ, theo tin từ báo Hải Quan. Trong công văn số 1406022/CV-FHS ngày 10/6/2014 gởi Phó thủ tướng Tàu Khựa Hoàng Trung Hải, Formosa đưa ra đề xuất thành lập “ĐẶC KHU KINH TẾ GANG THÉP VŨNG ÁNG” nhằm xây dựng cảng nước sâu Sơn Dương và đầu tư các ngành công nghiệp liên quan như gang thép, điện…một mình Phó TT Tàu Khựa Hoàng Trung Hải đã toàn quyền giải quyết từ chủ trương đầu tư cho đến những ưu đãi “vô tiền khoáng hậu” dành cho dự án đầy mờ ám nầy như chính nguồn gốc Tàu Khựa của hắn. Phó TT Hoàng Trung Hải là hiện thân của tên Trọng Thủy tân thời.

Do công văn số 323/TTg-QHQT ngày 4/3/2013: Đồng ý chủ trương cho Tập đoàn Công nghiệp nặng Formosa-Đài Loan lập Dự án đầu tư nhà máy liên hợp luyện thép và cảng nước sâu Sơn Dương tại khu kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tỉnh.

Công văn số 869/TTg-QHQT ngày 6/6/2008 đã đồng ý việc Tập đoàn công nghiệp nặng Formosa thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương tại khu Kinh tế Vũng Áng, tỉnh Hà Tỉnh đều do tên Phó TT Tàu Khựa nầy ký.

Sau khi Formosa đã tiến hành lễ khởi công xây dựng nhà máy gang thép Formosa Hà Tỉnh (tháng 12/2012) – một dự án thành phần quan trọng trong khu liên hợp có diện tích trên 3.300 ha, từ đó đến nay, khu vực nầy được cho là “NỘI BẤT XUẤT, NGOẠI BẤT NHẬP”. Người dân bình thường không thể vào trong khu vực dự án vì chủ đầu tư thuê bảo vệ canh gác tứ phía. Rõ ràng, Formosa Hà Tỉnh không chỉ là một đặc khu bất khả xâm phạm mà còn đang trên đường trở thành một “TIỂU QUỐC” của Đại Hán trên đất nước Việt Nam.

Cũng theo báo Hải Quan, một trong những đề xuất mang tính ưu đãi như thế là “Đề nghị được cắt đất để bán lâu dài cho nhân viên” mà Formosa dự kiến số lượng nhân viên cao nhất đạt 15.000 người, nếu tính cả thân nhân của họ là khoảng 60.000 người như một thị trấn gần như đặc khu. Formosa cũng đề nghị được xây căn hộ để cho thuê hoặc bán lại cho nhân viên và thành lập các cơ sở hậu cần như bệnh viện, trường học trong đặc khu với ý đồ bám trụ thời gian vô hạn định ở đây.

Giới chuyên gia cho rằng Việt Nam sẽ đối mặt với những nguy cơ tiềm ẩn nếu phê chuẩn dự thảo đặc khu kinh tế ở Vũng Áng của Tập đoàn Formosa vì nó liên quan đến an ninh quốc phòng quan trọng. Vì khu công nghiệp Vũng Aùng dù là nơi hoạt động của nhiều doanh nghiệp có vốn Đài Loan, nhưng lại sử dụng một số lượng lớn lao động Hoa Lục. Hiện nay, số công nhân làm việc là 19.000 người, nhưng các nhà thầu đang chờ cấp phép để đưa thêm 11.000 lao động Tàu Hoa Lục vào làm việc. Với đợt tăng cường này, số lượng công nhân Tàu ở Vũng Áng đủ để thành lập ít nhất 2 sư đoàn…

VŨNG ÁNG VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC “CẮT ĐÔI VIỆT NAM”:

Vũng Áng hay Quãng Trị là những vùng lãnh thổ hẹp nhất trên đất liền của Việt Nam. Từ Vũng Áng ngó qua đảo Hải Nam không bao xa. Nếu như Bắc Kinh điều động một hạm đội cùng với lực lương vũ trang PLA từ Hải Nam sang xâm lăng Việt Nam. Họ đã có sẵn bãi đáp lý tưởng cho việc đổ quân vì Bắc Kinh đã thuê được hàng chục cây số dọc bờ biển Hà Tỉnh và vùng cửa khẩu Vũng Áng.

Với 5 sư đoàn đã có sẵn làm thế “NỘI CÔNG NGOẠI KÍCH”: 2 sư đoàn tại Vũng Áng và 3 sư đoàn từ Tây Nguyên đánh tràn xuống, chiến đấu cơ của họ ở đảo Hoàng Sa và Gạc Ma bay trên bầu trời Quảng Trị để yểm trợ quân TC. Vạch một đường chim bay từ sân bay ở Hoàng Sa đến Quảng Trị, khoảng cách rất gần cho những phi vụ không yểm cho lính bộ binh Trung Cộng sẽ dễ dàng chia cắt nước Việt Nam ra làm đôi thì Vịnh Bắc Bộ sẽ không giao thông được với nước ngoài và không giao thông được với miền Nam Việt Nam cả đường biển và đường bộ.

ÂM MƯU CỦA BẮC KINH TẠI HÀ TỈNH – QUẢNG TRỊ – ĐÀ NẴNG:

(1) Tháng 10/2013, đài RFA có đăng bài “MỘT HÀ TỈNH ĐẦY ẤP NGƯỜI TRUNG QUỐC” với quy mô lớn như vậy, lũ Tàu Khựa có thể bám trụ khu vực nầy từ 25 tới 30 năm vừa để đầu tư xây dựng công trình, vừa để khai thác vận hành nhà máy với mức tổng đầu tư 15 tỷ USD, nằm trên diện tích 3.300ha, trong đó diện tích trên đất liền hơn 2.000ha và diện tích trên biển là 1.200ha. Với chừng ấy thời gian đủ để lũ Tàu Khựa nầy lấy vợ, lập thành phố người Tàu tại khu vực Kỳ Anh, Hà Tỉnh và sâu xa hơn, có thể là lực lượng địa phương sau nầy trong mưu đồ chia cắt Việt Nam thành 2 miền…

(2) Rõ ràng, Bắc Kinh đang thực hiện cuộc di dân rất âm thầm, nhưng quyết liệt và hiệu quả vào đất nước Việt Nam một cách hợp pháp với sự tiếp tay của bọn lãnh đạo ĐCSVN và bọn cán bộ cộng sản bán nước, thông qua chính sách đầu tư xây dựng. Vũng Áng quả là một vị trí lý tưởng không chỉ để khống chế Việt Nam về mọi mặt. Đây là một nguy cơ nghiêm trọng không thể không được báo động cho cả nước biết.

(3) Từ căn cứ Du Lâm của TC là căn cứ tàu ngầm nằm ở thành phố Tam Á cực Nam trên dảo Hải Nam, từ Du Lâm đến Vũng Áng và Cửa Việt của Việt Nam có chiều dài đường chim bay khoảng 300 tới 400 km tạo thành một “TAM GIÁC CHIẾN LƯỢC” và với lực lượng hải quân hùng mạnh gồm tàu ngầm và tàu chiến trên mặt nước, Hải quân TC rất dễ dàng khống chế và chia cắt hai miền Nam – Bắc VN cả đường bộ và đường biển. Vì vậy, Bắc Kinh đã thành công trong việc xây dựng hai vị trí chiến lược Vũng Áng và Cửûa Việt thành những căn cứ quân sự bí mật để phục vụ cho ý đồ của Bắc Kinh.

(4) Đất Quảng Trị tràn ngập người Tàu đến từ Hoa Lục ẩn chứa một mối hiểm họa khó lường cho dân tộc. Họ đóng vai nhà đầu tư với hành tung bí ẩn, khó hiểu và cực kỳ ngạo mạn đối với dân địa phương. Nhân dân ta rất bức xúc vì người Hoa tràn ngập ở cả vùng miền núi trọng yếu, vùng chiến lược quân sự của VN như Tây Nguyên Trung Phần, các nông trường dọc dãy Trường Sơn, các cửa khẩu phía Bắc và những tỉnh lỵ ở phía Nam như Bình Dương, Tây Ninh, Long An, An Giang…cho đến tận cùng tỉnh Cà Mau cũng có sự hiện diện của chúng. Hiện tại, mức độ xâm nhập của người Hoa trên đất Việt Nam không thể nào kiểm soát được nữa, khiến nhân dân cả nước càng cảm thấy bất ổn về sự có mặt của người Hoa đi ngang dọc khắp mọi miền đất nước, ngay cả miền duyên hải, các cửa khẩu đều có mặt của bọn người Hoa khốn kiếp nầy…

(5) Các dự án của Bắc Kinh ở Đà Nẵng tạo thành thế liên hoàn tại miền Trung VN: có dự án trấn ở tầm cao như Tây Nguyên, tầm xa…mưu đồ của Bắc Kinh là chẹt lấy yết hầu đất nước, khống chế luôn cả khu vực Đà Nẵng, đã trở thành thành phố của Bắc Kinh bên bờ Biển Đông. Nó thu hút sự chú ý của dư luận bởi sự vô tâm của Đảng và Nhà nước mà cả chính quyền địa phương đã để họ có mặt khắp nơi, kể cả các vị trí chiến lược cũng cho bọn TC thuê vì mục đích…kinh tế??? Một người dân Đà Nẵng chua chát nói: “Tối tối ra đường, tụi Tàu Khựa đi đầy đường. Tất cả các quán dọc đường phố đều có treo bảng hiệu bằng tiếng Tàu, thực đơn cũng dùng chữ Tàu hết mà! Mọi hoạt đông ở đây đều mang dáng dấp của một thành phố Tàu thu nhỏ.”

Những điểm trọng yếu dọc bờ biển Đà Nẵng nhanh chóng trở thành khu xây dựng bí mật của họ, có hẳn tên mới “China Beach”. Không một người địa phương nào được đến gần khu vực xây dựng của họ. “Phóng tài khóa, thu nhân tâm” vẫn là thủ đoạn của bọn Chệt Bắc Kinh, họ đã khôn khéo bỏ tiền mua chuộc các giới chức địa phương để chiếm trọn một khu vực đẹp nhất. Trọng yếu nhất của Đà Nẵng để biến thành biệt khu của họ.

[4] BẮC KINH MUỐN TRẤN ĐÈO HẢI VÂN:

Dư luận quần chúng phản ứng gay gắt về việc chính quyền Thừa Thiên – Huế cấp giấy chứng nhận đầu tư khu nghỉ dưỡng rộng 200 ha cho công ty Trung Cộng Thế Diệu ở đèo Hải Vân, đây là vị trí chiến lược tối quan trọng vì từ đó khống chế cả vùng trời vùng núi và vùng biển Đà Nẵng và có thể chia cắt Việt Nam ở vĩ tuyến 16.

Trong quá khứ, Việt Nam trong quá trình mở rộng lãnh thổ về phương Nam thì Đèo Hải Vân là một trong những chướng ngại thiên nhiên, chia cắt đất nước Việt Nam. Ở đỉnh cao chiến lược hiểm trở như vậy mà để cho Trung Cộng thuê để làm dự án khu nghỉ dưỡng thì đó là điều hết sức ngu xuẩn không thể chấp nhận được, đã khiến cho quần chúng sửng sốt về chuyện nầy.

Dự án khu du lịch nghỉ dưỡng Quốc tế World Shine-Huế do doanh nghiệp Trung Cộng làm chủ đầu tư với tổng số vốn 250 triệu USD. Bọn Bắc Kinh được phép sử dụng diện tích 200 ha tại khu vực mũi “CỬA KHẺM”, nơi núi Hải Vân đâm ra biển. Tại đây nhà đầu tư Trung Quốc sẽ xây dụng khu nghĩ mát tiêu chuẩn 5 sao với 450 phòng, một trung tâm Hội nghị Quốc tế 2.000 chỗ ngồi, khu nhà nghỉ dưỡng 5 tầng với 220 căn hộ cao cấp, 350 biệt thự và khu du lịch, nhà hàng bãi tắm. Dự án nầy được triển khai theo 3 giai đoạn từ 2013 đến 2023 trên thực tế đã bắt đầu xây dựng một số hạng mục và cơ sở hạ tầng.

Tuy vậy, Ủy ban Nhân Dân Thành phố Đà Nẵng vừa kiến nghị Chính phủ rút giấy phép đầu tư mà Tỉnh Thừa Thiên-Huế đã cấp cho Công ty Thế Diệu của Trung Cộng. Lý do Chính quyền Đà Nẵng đưa ra là dự án nằm ở vị trí trọng yếu về an ninh quốc phòng. Hơn nữa, trên nguyên tắc dự án nầy có một vùng chồng lấn trong khu vực chưa thống nhất về địa giới hành chánh giữa Thừa Thiên – Huế và Đà Nẵng.

VỊ TRÍ CHIẾN LƯỢC ĐÈO HẢI VÂN:

Đèo Hải Vân trong đó có núi Bạch Mã với độ cao hơn 1.000 thước là khu vực mang tính chất quân sự, một vị trí chiến lược hiểm yếu trong hệ thống phòng thủ đất nước. Vì vậy, xây dựng khu du lịch nghỉ dưỡng Lăng Cô nằm trong khu vực Cửa Khẽm không chỉ đơn giản chỉ là dự án về kinh tế, nó che dấu mục tiêu xa hơn là vấn đề quân sự của Bắc Kinh muốn thực hiện từng bước kế hoạch thôn tính nước ta đang có những tranh chấp về biển đảo.

Nếu Bắc Kinh khống chế được vị trí chiến lược đèo Hải Vân là khống chế được cả vùng trời, vùng núi, vùng biển khu vực Đà Nẵng, nó có tầm ảnh hưởng đến vấn đề bảo vệ lãnh thổ cả nước nói chung và đối với thành phố Đà Nẵng nói riêng. Một khi xảy ra chiến tranh giữa Việt – Trung thì lực lượng vũ trang QĐNDTQ sẽ dễ dàng chia cắt đất nước VN làm đôi.

Hơn nữa, vị trí tỉnh Thừa Thiên – Huế cấp phép cho phía Trung Cộng xây du lịch lại nằm ngay mũi Cửa Khẻm (nơi núi Hải Vân đâm ra biển) và coi như bao trùm cả hòn Sơn Trà cách đó không xa. Toàn cảnh khu vực nầy chính là yết hầu của Vịnh Đà Nẵng với đèo Hải Vân và bán đảo Sơn Trà tạo thành hình cánh cung trấn giữ phía Bắc và phía Đông Bắc mà Vịnh Đà Nẵng là một trong những khu vực cực kỳ trọng yếu trên dọc tuyến biển Việt Nam. Nếu Hải quân TC khống chế được vị trí nầy thì tất cả tàu chiến của Hải quân VN muốn vào ra khu vực cảng Vùng 3 Hải quân họ sẽ hay biết hết trong bối cảnh Hải quân VN đang tăng cường năng lực bảo vệ vùng biển để sẵn sàng đối phó với diễn biến ngày càng phức tạp trên biển Đông, sau “sự cố” Bắc Kinh đưa giàn khoan HD-981 vào hoạt động trong vùng Đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Nếu tỉnh Thừa Thiên – Huế chấp tuận cho TC đầu tư xây dựng khu du lịch trên địa bàn đó là không thể, vì ảnh hưởng vô cùng to lớn đến nền an ninh quốc phòng của Việt Nam. Ở vị trí chiến lược nầy mà sau lưng là đỉnh đèo Hải Vân, trước mặt hướng ra Biển Đông, chỉ cần thiết lập một giàn radar dã chiến ở khu nghỉ dưỡng thì coi như kiểm soát được cả vùng trời, vùng biển rộng lớn của miền Trung Việt Nam.

Việt Nam phải đề cao cảnh giác nhiều doanh nghiệp của TC bề ngoài là làm kinh tế để che đậy âm mưu gián điệp, điều nghiên địa hình, địa vật và những khu vực trọng điểm để nắm vững tình hình mọi sinh hoạt tại địa phương, để phục vụ cho chiến tranh xâm lược nước ta khi cần thiết. Nếu không, bỗng dưng họ đi thả bè nuôi cá ngay trong khu vực cảng Cam Ranh và cả ở Đà Nẵng. Hiện có đông đảo người Tàu Hoa Lục nuôi cá bè ngoài bán đảo Sơn Trà và những nhóm người nầy đều là thành viên trực thuộc của tập đoàn công ty CP Thế Diệu chứ không phải ngoài ai khác.

Bán đảo Sơn Trà với khu du lịch trên đèo Hải Vân đều nằm ở vị trí “YẾT HẦU” của Vịnh Đà Nẵng. Nếu bọn chúng không có mưu đồ đen tối thì làm gì chúng bỏ ra hàng trăm triệu Mỹ kim để kinh doanh một khu vực hẻo lánh trên đèo Hải Vân? Có phải vì đèo Hải Vân là một vị trí chiến lược vô cùng quan trọng bao trùm cả vịnh Đà Nẵng, chiếm được vị trí nầy sẽ khống chế được bao trùm cả vịnh Đà Nẵng?

Một người công dân bình thường cũng nắm vững tình trạng nầy. Nhưng, trao đổi với VnExpress chiều ngày 18/11, ông Nguyễn Văn Cao, Chủ tịch tỉnh Thừa Thiên khẳng định tỉnh nầy không tranh chấp địa giới với Đà Nẵng ở khu vực đèo Hải Vân. Cửa Khẻm, nằm trong khu vực Hải Vân, đang được các đơn vị của tỉnh quản lý, bảo vệ và có đầy đủ CƠ SỞ PHÁP LÝ cho Công ty cổ phần THẾ DIỆU (thuộc Công ty TNHH World Shine Hong Kong) đầu tư.

Theo tên chủ tịch “ĐẦU TÔM” ngu dốt Nguyễn Văn Cao, hắn cũng giống như Thủ tướng Y tá Nguyễn Tấn Dũng có biết đếch vì vị trí chiến lược của đèo Hải Vân và Tây Nguyên đâu? Chỉ vì tiền thôi nên hắn mong muốn Công ty Thế Diệu xây dựng khu nghỉ dưỡng độc đáo nhìn xuống biển. Tên Cao nầy còn khẳng định rằng: “Khi làm họ đã xin ý kiến các ngành quân đội (gồm cả bộ đội biên phòng) và công an. Các ngành nầy đều khẳng định thực hiện được dự án”. Đúng là đồ bố láo!

NGUYỄN VĨNH LONG HỒ

Bài Xem Nhiều