We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 17 February 2015

Ca Dao Mừng Xuân: Con ơi! ham học chớ đùa

Hôm nay là cận Tết... Cả nước vui mừng chờ năm mới. Truyền thông ông bà là tránh nói chuyện buồn ngày xuân, và nên nói chuyện lành chờ Tết.

Do vậy, xin chấp bút cho người xưa, ghi lại mấy dòng ca dao về Tết.

Mồng một chơi cửa, chơi nhà
Mồng hai chơi xóm, mồng ba chơi đình.
Mông bốn chơi chợ Quả linh
Mồng năm chợ Trình, mùng sáu non Côi.
Qua ngày mồng bảy nghỉ ngơi
Bước sang mồng tám đi chơi chợ Viềng.
*
Dù ai buôn bán nơi đâu
Nhớ đến ngày Tết rủ nhau mà về.
*
Anh Hai anh tính đi mô
Tôi đi chợ Tết mua khô cá thiều.
*
Con ơi! ham học chớ đùa
Bữa mô ngày Tết thỉnh bùa thầy đeo.
*
Cú kêu ba tiếng cứ kêu
Kêu mau đến Tết, dựng nêu ăn chè
Dựng nêu thì dựng đầu hè
Để sân gieo cải, vãi mè ăn chung.
*
Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà.
Tháng ba thì đậu đã già,
Ta đi, ta hái về nhà phơi khô.
Tháng tư đi tậu trâu bò,
Để ta sắp sửa làm mùa tháng năm.
Sớm ngày đem lúa ra ngâm,
Bao giờ mọc mầm ta sẽ vớt ra.
Gánh đi, ta ném ruộng ta,
Đến khi nên mạ, thì ta nhổ về.
Lấy tiền mượn kẻ cấy thuê,
Cấy xong rồi mới trở về nghỉ ngơi.
Cỏ lúa dọn đã sạch rồi,
Nước ruộng vơi mười, còn độ một hai.
Ruộng thấp đóng một gàu dai,
Ruộng cao thì phải đóng hai gàu sòng.
Chờ cho lúa có đòng đòng,
Bây giờ ta sẽ trả công cho người.
Bao giờ cho đến tháng mười,
Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta.
Gặt hái ta đem về nhà,
Phơi khô quạt sạch ấy là xong công.
*
Nhớ xưa trả nợ ba đời
Chiều ba mươi Tết mẹ ngồi nhìn con
Gánh cực mà đổ lên non
Còng lưng mà chạy cực còn chạy theo
Chừ đây hết cực hết nghèo
Vui theo ra ruộng nhàn theo về nhà.
*
Dầu bông bưởi dầu bông lài
Xức vô tới Tết còn hoài mùi thơm.
*
Mưa xuân lác đác ngoài trời
Trông ra đường, thấy một người thơ ngây
Gặp nhau ở quãng đường nầy
Như cá gặp nước như mây gặp rồng!
*
Mưa xuân lác đác vườn đào
Công anh đắp đất ngăn rào vườn hoa.
Ai làm gió táp mưa sa
Cho cây anh đổ, cho hoa anh tàn....
*
Tới đây viếng cảnh, thăm hoa
Trước mừng các cố, sau là mừng dân.
Sau nữa mừng cả làng tuần
Mừng cho nam nữ chơi Xuân hội nầy
Một mai đàn có bén dây
Ơn dân vạn bội biết ngày nào quên!
*
Mỗi năm vào dịp xuân sang
Em về Triều Khúc xem làng hội xuân
Múa cờ, múa trống, múa lân
Nhớ ai trong hội có lần gọi em…
*
Xuân sang thắm sắc đào hồng
Tuế hàn tam hữu nhủ lòng trúc mai.
Sử kinh anh ráng dùi mài,
Lòng em chí quyết đợi hoài duyên anh
 Cô Tư Sài Gòn
---
 

Dê trong văn chương Việt Nam

Bích
Ngọc
Tại VN, dê được nuôi rất sớm: Sách "Lĩnh Nam Chích Quái" ở chương đầu nói về họ Hồng Bàng có cho biết từ thời xa xưa, người Việt trong hôn nhân đã biết “giết trâu, dê làm đồ lễ”
Dê có ảnh hưởng đến đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam, trong đó có văn chương khá phong phú.
Trong “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Hưng Đạo có câu: 
Hide message history
Uốn lưỡi cú, diều, mà sỉ mắng triều đình
Đem thân dê, chó, mà ngạo mạn tể tướng.
Vào giữa thế kỷ 16, trong bài “Đào Nguyên Hành” Trạng Bùng - Phùng Khắc Khoan đã viết:
Trâu bò, gà lợn, dê, ngan
Đầy lũ đầy đàn, rong thả khắp nơi.
Vua Lê Thánh Tông (1442-1497) làm 2 bài Vịnh Tô Vũ trong “Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập” có nhắc đến con dê:
Biển bắc xuân chầy dê chẳng nghén
Trời nam thu thẳm nhạn không thông.
Nhà vua mượn điển tích Tô Vũ chăn dê tại Hung Nô thời Hán Vũ Đế bên Tàu.  
Truyện nôm “Tô Công phụng sứ”, khuyết danh, gồm có 24 bài Đường luật (tương truyền có từ thời Mạc, thế kỷ 16), Lê Quang Bí đi sứ sang Tàu bị Vua nhà Minh giữ lại 18 năm ở Nam Ninh, trong truyện có các câu:
Hơi dê hãy ngấu manh tơi lá
Tuyết nhạn còn in cái tóc lông.
(tả cảnh người chăn dê sống chung với dê, quần áo đượm mùi dê).
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) có câu:
Lận thế treo dê mang bán chó
Lập danh cỡi hạc lại đeo ti
ền.
“Hồng Đức Quốc Âm thi tập” chép bài thơ Tương Phùng có 2 câu sau:
Ông già buông nọc châm hoa rữa
Dê yếu văng sừng húc dậu thưa.
Hồ xuân Hương (1772–1822) có bài “Mắng học trò dốt”:
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
Lại đây cho chị dạy làm thơ
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa.
Nguyễn Gia Thiều (1741-1791) trong “Cung Oán Ngâm Khúc” có câu:
Phải duyên hương lửa cùng nhau
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào
Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ
Dấu dương xa đám cỏ quanh co.
Lấy từ điển tích Dương xa (xe dê): Vua Tấn Võ Đế bên Tàu thường dùng xe dê đi trong cung cấm, hễ dê dừng ở cửa phòng cung phi nào thì đêm ấy vua sẽ ngủ với cung phi đó. Nên các cung phi mỗi đêm đều có treo lá dâu non (là món dê hảo) trước cửa để dụ dê dừng lại.
Thời Nhà Nguyễn, dê được sử dụng trong việc tế lễ: 
Dê vốn thật thuộc loài tế lễ...
Để hòng khi tế thánh tế thần...
Hễ có việc lấy dê làm trước
Dê dâng vào người mới lạy sau.
Truyện Nôm “Lục Súc Tranh Công” có câu:
Dê vốn thật thuộc loài tế lễ
Để hòng khi tế thánh tế thần, 
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu có câu:
Hai vầng nhật nguyệt chói loà
Đâu dung lũ treo dê, bán chó
Trong "Lục Vân Tiên"  có nhắc đến chữ máu dê, đường dê:
- Con người Bùi Kiệm máu dê
Ngồi chai bộ mặt như giề thịt trâu.
- Thôi thôi em hỡi Kim Liên,
Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê.
Trải qua dấu thỏ đường dê
Chim kêu vượn hú tứ bề nước non.
Vái trời cho đặng vuông tròn,
Trăm năm cho trọn lòng son với chàng.
Nhà thơ Bùi Giáng (1926-1998) chăn dê ở Quế Sơn, Quảng Nam từ 1945 đến 1952, có bài thơ “Nỗi lòng Tô Vũ” (Mưa Nguồn – 1962) xin trích 4 câu: 
Nhìn anh đây các em Vàng Đen Trắng
Tía Hoa Cà lổ đổ thấu lòng chưa?
Từ từ đưa chiếc vòng lên thủng thẳng
Anh từ từ đưa xuống cổ đong đưa.
Nhà thơ Lê Đạt bị cải tạo lao động sau vụ án Nhân văn Giai Phẩm tại vùng đồi núi Chí Linh, từ 1958 đến 1959 có làm bài “Ông cụ chăn Dê” in trong tập thơ Bóng Chữ (1994), xin trích 5 câu:
Rừng động xanh
Ai đừng được xuân
Mấy dê non buồn sừng húc gió
Cẫng lên cỡn lên
Be he xuân.
Trong Ngạn ngữ, tục ngữ, thành ngữ, ca dao VN có nhiều câu độc đáo như sau: 
-Cà kê dê ngỗng
-Giàu nuôi chó,
Khó nuôi dê  
Không nghề nuôi ngỗng  
-Treo đầu dê, bán thịt chó (ám chỉ nói một nơi, làm một nẻo).
Trò chơi dung dăng dung dẻ của trẻ em trong bài đồng dao vui nhộn:
“Dung dăng dung dẻ
Dắt trẻ đi chơi
Đến cửa nhà trời
Lạy câu lạy mợ
Cho cháu về quê
Cho dê đi học
Cho cóc ở nhà
Cho gà bới bếp
Ngồi xệp xuống đây”.
-Người ta tuổi Ngọ, tuổi Mùi
Em đây luống những ngậm ngùi tuổi Thân.
Ở Ninh Hòa quê tôi hát ru em như sau:
- Em tôi buồn ngủ buồn nghê
Con tằm đã chín, con dê đã mùi (muồi)
Con tằm để lại mà nuôi, 

Con dê chín mùi làm thịt em ăn.
 Có nơi lại hát như thế này: :
Ru em buồn ngủ buồn nghê
Con tằm chín đỏ, con dê chín mùi.
Con tằm chín đỏ để lại mà nuôi
Con dê chín mùi làm thịt em ăn.
-Giả vờ bịt mắt bắt dê
Để cho cô cậu dễ bề với nhau.
Bit_mat_bat_de
Tranh dân gian “bịt mắt bắt dê” của làng Đông Hồ (Bắc Ninh).
bg1
 Tranh dân gian “bịt mắt bắt dê” của Hàng Trống, Hà Nội.
Vì khả năng sinh lý rất mạnh, nên dê được nhiều nền văn hóa gán cho hình tượng dâm đãng (dê) trong đó có VN với những từ: dê, dê gáithói dê, dê cụdê già, dê xồm, máu dê, dê chúa, máu ba lăm…
Râu dê rậm, dài, cong, với tiếng kêu be he, gợi lên hình ảnh dâm dật:
-Tuổi Mùi là con dê chà
Có sừng, có gạc, râu ra um sùm
-Bươm bướm mà đậu cành bông
Ðã dê con chị, lại bồng con em.
-Phượng hoàng đậu nhánh sa kê
Ông thần không vật mấy thằng dê cho rồi.
Dê sồm ăn lá khổ qua
Ăn nhiều sâu rọm, chết cha dê xồm
 -Năm Ngọ mã đáo thành công
Năm Mùi dê béo, rượu nồng phủ phê.
-Bươm bướm mà đậu cành bông
Ðã dê con chị, lại bồng con em.
-Con dê con ngựa khác dòng
Ai cho con ngựa lộn cùng con dê.
Con dê trong văn chương VN thật đáng yêu đã cho chúng ta nhiều nụ cười sảng khoái. Đặc biệt trong thơ Bùi Giáng, tác giả đã đối xử, đã dành cho dê tình yêu thương và sự chăm sóc đặc biệt như đối với con người vậy:
Này em Đen chiếc vòng vàng tươi lắm
Này em Vàng chiếc trắng há mờ đâu
Này em Trắng chiếc hồng càng lóng lánh
Này đây em Hoa Cà hỡi ! chiếc nâu.
Vinh Hồ
21/1/15
*Sưu tầm trên NET

0 comments:

Post a comment

Bài Xem Nhiều