We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 13 May 2015

Cộng Sản Hà Nội : Mưu đồ diệt chủng người dân miền Nam ,Việt Nam Cộng hòa . 30/4/1975


Đánh tư sản ở Miền Nam VN 
ĐÁNH TƯ SẢN cũng là một sự kiện chấn động lịch sử Việt Nam, ngang hàng sự kiện THUYỀN NHÂN VIỆT NAM, và chỉ xảy ra sau ngày 30 tháng Tư năm 1975. Sự kiện ĐÁNH TƯ SẢN của Dân Nam thể hiện quyết tâm cướp bóc thẳng tay của Cộng Sản Hà Nội trực tiếp lên đầu lên cổ người dân Miền Nam Việt Nam.            

<


                                     Sài Gòn xưa, trước năm 1975.
I. ĐÁNH TƯ SẢN ở Miền Nam

ĐÁNH TƯ SẢN cũng là một sự kiện chấn động lịch sử Việt Nam, ngang hàng sự kiện THUYỀN NHÂN VIỆT NAM, và chỉ xảy ra sau ngày 30 tháng Tư năm 1975. Sự kiện ĐÁNH TƯ SẢN  của Dân Nam thể hiện quyết tâm cướp bóc thẳng tay của Cộng Sản Hà Nội trực tiếp lên đầu lên cổ người dân Miền Nam Việt Nam.
Đặc biệt, Cộng Sản Hà Nội ban hành Quyết Định mang số 111/CP vào ngày tháng 4 năm 1977 do Phạm Hùng ký, chỉ đặc biệt nhằm vào việc tịch thu nhà cửa đất đai của nhân dân miền Nam một cách công khai trắng trợn như Phát Xít Đức đã từng thi hành đối với các công dân Đức gốc Do Thái vào năm 1939.

Các đợt ĐÁNH TƯ SẢN cướp bóc người dân miền Nam được Cộng Sản Hà Nội cho ký số X1, X2 và X3.
Đợt cướp X1 được bắt đầu vào sáng ngày 11 tháng Chín năm 1975 xảy ra khắp 17 tỉnh thành miền Nam và thành phố Sài Gòn. 
Đợt cướp này chủ yếu nhắm vào nhà của các cư dân thành thị, tịch thu nhà và cưỡng bức toàn bộ những nạn nhân phải đi về vùng Kinh Tế Mới sống đói khổ như Phát Xít Đức đã từng làm khi tống cổ người Đức góc Do Thái vào trại tập trung.
Đợt cướp X1 này, những người dân Việt gốc Hoa vốn đã di dân vào Miền Nam Việt Nam từ cuối triều Minh, đầu triều nhà Thanh bên Tầu, sanh sống thành công tại miền Nam ngót nghét hơn 200 năm. Máu và nước mắt, oán hờn ngút trời cho một vùng đất hiền lành này phải chịu oan thiên tan nát.

Đợt cướp X2 được Cộng Sản Hà Nội tiến hành từ Tháng Ba năm 1978 và được kéo dài cho đến sau Đổi Mới, tức là khoảng năm 1990 thì mới chấm dứt. 
Đợt cướp này chủ yếu nhắm vào tư thuơng, tiểu tư sản, các thành phần sản xuất nhỏ, vốn rất đa dạng và phồn thịnh trong nền kinh tế tự do, do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa khuyến khích hậu thuẫn cho quốc dân từ bấy lâu.
Nền công nghiệp nhẹ, sản xuất đồ xài gia dụng trong nhà của Việt Nam đã hoàn toàn chính thức bị phá hủy. Người dân Việt Nam sẽ không còn thấy các sản phẩm tự hào của dân tộc như nồi nhôm hiệu Ba Cây Dừa , xà-bông (savon) hiệu cô Ba, xe hơi hiệu La Đalat, hiệu đèn trang trí Nguyễn Văn Mạnh, …etc…. Không những thế, các nhà máy nhỏ sản xuất nhu yếu phẩm như đường, bột giặt, giấy, …etc cũng bị tê liệt, vì chủ nhân bị Đảng CSVN quốc hữu hóa và bị đẩy đi vào tù.

Riêng tại Sài Gòn, thì báo Tuổi Trẻ đã phải thừa nhận vuốt đuôi là đã có trên 10.000 tiệm bán, bị đóng chỉ qua một đêm, khiến một viên thuốc trụ sinh cũng không có mà mua, mà dùng. Nhà sách Khai Trí lừng lẫy, biểu tượng của cả Sài Gòn, cũng bị báo đài tại Sài Gòn lúc bấy giờ rêu rao là tư bản chó đẻ và cần phải tịch thu. Nhà sách Khai Trí đã từ tâm giúp đỡ biết bao văn nghệ sĩ của miền Nam, âm thầm thực hiện đường lối khai dân trí của cụ Phan Chu Trinh cho dân tộc, mà nay cũng bị cướp không từ bởi Cộng Sản.

Riêng về chỉ thị 43 của Bộ Chính Trị Cộng Sản Hà Nội vào Tháng Năm, năm 1978 đã quốc hữu hóa toàn bộ đất đai của nông dân miền Nam vào tay nhà nước CS, thông qua hình thức “Tập Đoàn Sản Xuất”, dẫn đến nạn đói năm 1979 ngay liền sau đó, vì lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp bị sút giảm toàn diện tại miền Nam.

Tình trạng cướp bóc của Đảng Cộng Sản Hà Nội ở nông thôn miền Nam càng kinh khiếp và dữ dội hơn ở Sài Gòn, dù không ồn ào bằng.
Tổng số lúa mà nông dân Miền Nam bị Đảng Cộng Sản Hà Nội cướp đoạt để chở ra ngoài Bắc không thông qua quy chế thu mua, được loan truyền là khoảng 4 triệu tấn gạo vào đầu năm 1978, trên đài phát thanh Hà Nội khi ca ngợi thành tích ĐÁNH TƯ SẢN của các đảng bộ địa phương miền Nam. Đương nhiên, con số chính thức được các nông dân kêu ca là lớn hơn nhiều.

Sang đến năm 1979, Võ Văn Kiệt đã phải phỉnh lừa, làm bộ giả nhân giả nghĩa, loan báo thu mua lúa từ nông dân với giá cao gấp cả ngàn lần giá quy định của Nhà Nước (!) để cứu vãn tình thế bất mãn không còn dằn được nữa từ nông dân Miền Nam trước những đợt cướp lúa từ năm 1977 trở đi.

Song song với chiến dịch X2 là chiến dịch X3, đặc biệt tập trung tại Sài Gòn,  với một âm mưu kín đáo từ Bộ Chính Trị là trục xuất toàn bộ người Sài Gòn cũ ra khỏi nơi ở, để “Bắc Kỳ hóa” thành phố Sài Gòn. Sau chiến dịch X3, hàng ngàn gia đình cán bộ CS miền Bắc đã vào Sài gòn sanh sống trong những ngôi nhà ở Miền Nam bị tịch thu. Theo thừa nhận ngắn ngủi từ báo SGGP và báo Công An VC khi bàn đến vấn đề trả lại nhà cho những “đối tượng” bị đánh tư sản oan ức vào tháng 9 năm 1989, ước tính lên đến khoảng 150 ngàn người thuộc gia đình cán bộ gốc miền Bắc vào Sài Gòn sanh sống trong những ngôi nhà của dân Miền Nam bị tịch thu.

Đỗ Mười, sau này là Tổng Bí Thư Đảng, lúc bấy giờ thay thế ông Nguyễn Văn Linh làm trưởng ban cải tạo Trung Ương vào Ngày 16 Tháng Hai năm 1976 là người chỉ huy trực tiếp cuộc cướp bóc này lên đầu lên cổ người dân Sài Gòn.
Trong chiến dịch này, số lượng người Sài Gòn phải bị mất hết tài sản và bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI là khoảng SÁU TRĂM NGÀN NGƯỜI, tạo ra một sự hoảng sợ hoang man chưa từng có trong lịch sử phát triển Sài Gòn qua các triều đại. 

Cuối đợt X3 , ghi nhận của Cộng Sản Hà Nội là có khoảng 950 ngàn người Sài Gòn bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI, không hoàn thành chỉ tiêu đề ra là một triệu hai người!

Sức mạnh kinh tế Sài Gòn tự nhiên bị phá hoại đi đến kiết quệ hoàn toàn sau chiến dịch X3 do Đỗ Mười trực tiếp chỉ huy. Hơn 14 NGÀN cơ sở tiểu thủ công nghiệp tại Sài Gòn rất cần cho nền kinh tế quốc dân, với khoảng 270 ngàn nhân công hoàn toàn bị cướp trắng, đóng cửa với tổng số thiệt hại tài sản trước mắt lên đế gần chín đến hai mươi mốt tỷ Mỹ kim và tiến trình phát triển công nghệ của đất nước trong tự cường hoàn toàn KHÔNG CÒN HY VỌNG để phục hồi.

Riêng về tổng số vàng, nữ trang mà Cộng Sản Hà Nội thẳng tay cướp bóc người dân miền Nam, được các báo đài của Đảng thừa nhận lên đến 4000 lượng vàng - nhưng đây chỉ là con số tượng trựng tính riêng ở Sài Gòn từ tháng Năm, năm 1977 qua tháng Hai, năm 1978 mà thôi. Cộng Sản Hà Nội đã cướp cả thảy trên dưới gần 35 ngàn lượng vàng, tính luôn cả nữ trang và kim cương, trong những đợt ĐÁNH TƯ SẢN cướp bóc thẳng tay lên lên đầu lên cổ nhân dân miền Nam.
Xin được ghi chú thêm là chỉ nội vụ lừa đảo mà Đảng Cộng Sản Hà Nội tiến hành cho phép người Việt gốc Hoa ra đi bán chính thức, nếu đóng khoảng 120 lượng vàng,  đã góp vào gần 10 ngàn lượng vàng tổng cộng.

Trung bình, mỗi người dân miền Nam nằm trong đối tượng bị ĐÁNH TƯ SẢN mất trắng khoảng 9 lượng vàng, không tính đất đai, nhà cửa, phụ tùng thiết bị, đồ cổ, và các tài sản khác. Trữ lượng vàng của toàn bộ người dân miền Nam có thể lên đến 250 ngàn lượng vàng tính đến năm 1975, nhưng Cộng Sản đã không thể cướp sạch nổi, do đồng bào khôn khéo giấu đi và phản kháng cũng như đem theo khi di tản.

II. KINH TẾ MỚI:
Tất cả những ai tại Sài Gòn bị đảng Cộng Sản Hà Nội cướp nhà, tịch thu tài sản, đều phải đi về vùng KINH TẾ MỚI, là những nơi mà cơ sở hạ tầng cho sanh hoạt chưa được xây dựng, nơi đó chưa có điện nước, trường học, và bệnh Xá. HƠN SÁU TRĂM NGÀN nạn nhân bị cưỡng bức qua đêm phải rời Sài Gòn để về những vùng KINH TẾ MỚI và bỏ lại hết toàn bộ tài sản của mình từ nhà ở, của cải, đồ đạc cho Đảng Cộng Sản quản lý và cướp hết.

Những người bị cướp bóc, tịch thu nhà và sau đó dồn lên vùng kinh tế mới
Những người bị cướp bóc, tịch thu nhà và sau đó bị dồn lên vùng kinh tế mới
Chỉ tiêu VC đề ra là phải đưa cưỡng bức khoảng gần một triệu người Sài Gòn ra các Vùng KINH TẾ MỚI và buộc họ phải bỏ hết tài sản nhà cửa lại, cho Đảng Cộng Sản Hà Nội quản lý. 

Tổng kết từ các báo cáo thành tích cải tạo XHCN của Đảng, số người bị cưỡng bức đi Kinh Tế Mới từ Sài Gòn qua mười năm Quá Độ - ĐÁNH TƯ SẢN như sau:
THỜI KỲ
CHỈ TIÊU
KẾT QUẢ THỰC HIỆN
 GHI CHÚ

1976- 1979
4 triệu người
1,5 triệu người
95% là từ Sài Gòn
1979-1984
1 triệu người
1,3 triệu người
50% là từ Sài Gòn
Khi đến vùng KINH TẾ MỚI để sống tham gia các tập đoàn sản xuất hay còn gọi tắt là Hợp Tác Xã, “thành quả lao động” của các nạn nhân này được phân phối chia ra như sau:
30% trả thuế
25% góp cho chính phủ theo giá thu mua của nhà nước;
15% trả lương cho cán bộ quản lý ;
30% còn lại chia cho các thành viên tính theo số điểm thuế lao động
Như vậy là sản phẩm nông nghiệp từ các nông trường vùng Kinh tế Mới đã bị Đảng CSVN tịch thu hết 70 % và chỉ còn 30% là chia lại cho các thành viên, vốn là các nạn nhân bị tịch thu nhà cửa, các nạn nhân sống trong vùng Kinh Tế Mới.

Thế là cả triệu người dân Sài Gòn đột nhiên lâm vào cảnh đói kém trầm trọng như là đòn trả thù hữu hiệu của chế độ Cộng Sản Hà Nội đối với những người dân bị liệt vào thành phần không phải “Cách Mạng”, "ngụy quân, ngụy quyền" và tiểu tư sản.

Ước tính có khoảng 300 ngàn trẻ em bị thất học vì sống ở các vùng Kinh Tế Mới này. Nhân dân miền Nam - cả triệu người đang sống sung túc bỗng lao vào chịu đói kém khổ sở chưa từng có. Nạn đói kém lan tràn khắp mọi nơi, mọi nhà, trước thảm cảnh cướp bóc này của Cộng Sản Hà Nội.
Hàng vạn người dân Sài Gòn đã phải bỏ trốn khỏi các vùng Kinh Tế Mới, đi ăn xin trên đường Về Sài Gòn, đói rách khổ sở. Đây là thời kỳ khốn khổ bi đát nhất trong lịch sử phát triển Sài Gòn.
III. Nguyên văn toàn bộ Quyết Định 111/CP của Cộng Sản Hà Nội trong quyết tâm cướp bóc tài sản người dân miền Nam Việt Nam
Quyết định 111/CP của Cộng Sản Hà Nội là một tài liệu chứng cớ quan trọng đối với sử học cho tội ác cướp bóc của Cộng Sản đối với nhân dân Miền Nam Việt Nam.
Quyết định này là nguồn gốc của mọi khổ đau, nghèo khó của người dân Miền Nam Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, và là lý do Việt Nam bị tụt hậu về mọi mặt, đứng hàng thứ ba nghèo nhất thế giới theo tuyên bố của Liên Hiệp Quốc vào năm 1985.

Sau đây là nguyên bản của quyết định:
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
Số: 111/CP
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Hà Nội, ngày 14 tháng 04 năm 1977

QUYẾT ĐỊNH
CỦA HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ SỐ 111/CP NGÀY 14 THÁNG 4 NĂM 1977
VỀ VIỆC BAN HÀNH CHÍNH SÁCH QUẢN LÝ VÀ CẢI TẠO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT CHO THUÊ Ở CÁC ĐÔ THỊ CỦA CÁC TỈNH PHÍA NAM
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ

Tiếp theo bản tuyên bố của Chính phủ về chính sách đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh ở miền Nam hiện nay;
Để tăng cường quản lý nhà đất và đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư nhân ở các tỉnh phía Nam;
Theo đề nghị của đồng chí Bộ trưởng Bộ Xây dựng và của đồng chí Trưởng Ban Cải tạo Công thương nghiệp tư doanh Trung ương trong phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 25/2/1977;

QUYẾT ĐỊNH
Điều 1.- Nay ban hành kèm theo quyết định này bản chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà đất cho thuê ở các đô thị các tỉnh phía Nam.
Điều 2.- Các đồng chí Thủ trưởng các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ và các đồng chí chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở phía Nam có trách nhiệm thi hành quyết định này, các đồng chí Bộ trưởng các Bộ Xây dựng, Nội vụ, Ngoại giao và các đồng chí Trưởng ban Cải tạo Công thương nghiệp tư doanh Trung ương có trách nhiệm hướng dẫn các ngành, các cấp thi hành quyết định này, tuỳ theo chức năng quản lý và những vấn đề có liên quan đến ngành mình.
CHÍNH SÁCH
QUẢN LÝ VÀ CẢI TẠO XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT
CHO THUÊ Ở CÁC ĐÔ THỊ CÁC TỈNH PHÍA NAM
MỤC ĐÍCH YÊU CẦU

Việc quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị, các tỉnh phía Nam cần đạt được mục đích, yêu cầu sau đây:
- Xoá bỏ kinh doanh bóc lột về nhà đất; thực hiện thống nhất quản lý của Nhà nước về nhà đất ở đô thị.
- Cải tạo đến đâu, quản lý tốt đến đó, đồng thời tiến hành quy hoạch, bố trí, sắp xếp điều chỉnh lại những khu vực sản xuất, khu vực hành chính, sự nghiệp, khu vực ở và các cơ sở phúc lợi công cộng… sao cho công bằng; hợp lý và có lợi nhất, trên tinh thần tận dụng cơ sở sẵn có, kết hợp với xây dựng mới; từng bước giải quyết chỗ làm việc cho cơ quan Nhà nước và chỗ ở cho công nhân, nhân viên và nhân dân lao động chưa có chỗ ở hoặc ở quá chật, cải thiện từng bước điều kiện nhà ở của nhân dân góp phần ổn định và phát triển sản xuất.
- Tăng cường việc bảo quản, sửa chữa nhà cửa và từng bước cải tạo và xây dựng thành thị theo hướng xã hội chủ nghĩa.
I. CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NHÀ ĐẤT,
CHO THUÊ:
1. Nhà nước quốc hữu hoá toàn bộ nhà cho thuê, không kể diện tích cho thuê nhiều hay ít của tư sản mại bản, của địa chủ, của tư sản gian thương lớn, của những người phạm tội nặng về chính trị và kinh tế của các tổ chức phản động.
2. Nhà nước trực tiếp quản lý toàn bộ nhà cho thuê của các chủ là cá nhân, công ty, đoàn hội, tôn giáo v.v… trừ trường hợp nhân dân lao động có ít diện tích cho nhau thuê để ở hoặc cho ở nhờ.
Tuỳ theo chất lượng, công dụng của từng ngôi nhà, tuỳ theo diện tích cho thuê nhiều hay ít, tuỳ theo thu nhập của chủ nhà cao hay thấp, Nhà nước để cho những chủ nhà là cá nhân được hưởng một phần tiền thuê nhà. Phần chủ nhà được hưởng sẽ do Bộ Xây dựng quy định cụ thể, nhiều nhất không quá 25% tiền thuê nhà.
Riêng đối với những chủ nhà là cá nhân có ít nhà cho thuê để ở, diện tích cho thuê dưới 150 m2 ở các tỉnh, dưới 200 m2 ở thành phố Hồ Chí Minh, hoặc thu tiền cho thuê nhà (không kể tiền đặt cọc) hàng năm dưới 600 đồng ở các tỉnh và 800 đồng ở thành phố Hồ Chí Minh thì trước mắt chủ nhà vẫn được tạm thời cho thuê nhưng phải chấp hành đầy đủ những quy định thống nhất về đăng ký, hợp đồng giá cho thuê, điều lệ bảo quản sửa chữa, quyền lưu trú của người thuê.

3. Nhà nước trực tiếp quản lý tất cả các biệt thự cho thuê (không kể diện tích nhiều hay ít) và toàn bộ diện tích nhà cho thuê không phải để ở mà để làm cửa hàng, bệnh viện, trường học (không kể diện tích cho thuê nhiều hay ít). Nhà nước trực tiếp quản lý tất cả các cư xá công và tư, không kể là cư xá cho thuê hay ở không mất tiền. Đối với những căn hộ mà người ở đã mua đứt và có giấy tờ hợp lệ thì coi như của riêng, nếu không phải là đối tượng bị tịch thu trưng thu thì người đã mua nhà được Nhà nước thừa nhận quyền sở hữu.

4. Đối với thần sĩ trí thức, gia đình có công với cách mạng có nhà cho thuê thì vận động họ hiến. Công nhân, viên chức Nhà nước và Đảng viên có nhà cho thuê hoặc đang quản lý nhà cho thuê thì giao những nhà đó cho Nhà nước quản lý.

5. Những chủ có nhà cho thuê mà không có chỗ ở được giữ lại một diện tích để ở tương đương với bình quân diện tích chung ngoài xã hội hoặc có thể rộng hơn một ít tuỳ theo cấu trúc của ngôi nhà.

6. Nhà nước trực tiếp quản lý toàn bộ đất cho thuê không phân biệt diện tích nhiều hay ít và nói chung không bồi hoàn, trừ trường hợp đặc biệt.

7. Người đang thuê đất được phép sử dụng mà không được mua bán, chuyển dịch và phải tuân theo những quy định về quản lý nhà đất ở đô thị.

II. ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT VẮNG CHỦ
1. Tất cả những nhà, đất và tài sản vắng chủ của người Việt nam và ngoại kiều đều do Nhà nước trực tiếp quản lý. Khi người chủ về, Nhà nước sẽ giải quyết với họ. Không ai được chiếm dụng, tự ý chuyển nhượng, mua bán nhà cửa, tài sản vắng chủ khi không được phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
2. Nhà nước quản lý xử dụng những nhà, đất và tài sản vắng chủ cho thuê theo chính sách cải tạo nhà cho thuê.
3. Nhà nước quản lý sử dụng những nhà, đất và tài sản vắng chủ của những người đã ra nước ngoài làm ăn buôn bán, hành nghề từ trước ngày giải phóng, khi họ trở về sẽ tuỳ từng trường hợp mà nghiên cứu giải quyết sau.
Riêng đối với những người sau đây, khi họ trở về, Nhà nước sẽ xét từng trường hợp cụ thể mà trả lại nhà cửa, tài sản cho họ:
a. Những người làm ăn lương thiện đi chữa bệnh, đi thăm viếng bà con, đi học ở nước ngoài.
b. Những người đi tham gia cách mạng, tham gia kháng chiến.
c. Những người là nhân dân lao động vì hoang mang sợ hãi bỏ chạy đi các nơi trước và trong những ngày giải phóng.
4. Những nhà, đất và tài sản mà trước khi vắng, chủ nhà đã uỷ quyền hợp pháp cho những người là con đẻ, vợ hoặc chồng hợp pháp của mình quản lý thì những người ấy được tiếp tục quản lý và phải chấp hành những chính sách quản lý nhà, đất của Nhà nước; trường hợp chưa kịp uỷ quyền hợp pháp thì Nhà nước cho phép những người là cha mẹ, con đẻ, vợ hoặc chồng hợp pháp của họ trước đây đã ở trong những nhà ấy, nay được tiếp tục ở nhưng không được bán, chuyển dịch bất động sản.
Đối với thân nhân không phải là cha mẹ, vợ chống, con của các chủ vắng mặt mà trước đây cùng ở chung với chủ nhà, nếu nay còn ở lại thì sẽ được thu xếp cho ở một chỗ trong nhà hoặc xếp ở nơi khác.
5. Những trường hợp xin thừa kế, xin hiến nhà, đất và tài sản vắng chủ sẽ được nghiên cứu giải quyết từng trường hợp cụ thể theo chính sách.
6. Uỷ ban nhân dân thành phố, tỉnh thống nhất quản lý những nhà đất và tài sản vắng chủ tại địa phương.
Cơ quan quản lý nhà đất và cơ quan tài chính chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng, kiểm kê định giá, xử lý và thanh toán với chủ nhà khi họ trở về theo đúng các chính sách chế độ và thống nhất quản lý nhà đất và tài sản vắng chủ của Nhà nước.

III. ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT CỦA CÁC ĐOÀN HỘI TÔN GIÁO
Để bảo đảm thống nhất quản lý nhà cửa, bảo đảm tôn trọng tự do tín ngưỡng và căn cứ vào các chế độ, chính sách khác của Nhà nước, việc quản lý của các đoàn, hội tôn giáo ở các tỉnh phía Nam được quy định như sau:
1. Nhà nước bảo hộ mọi nhà thờ, chùa chiền, miếu mạc, thánh thất được thực sự và thuần tuý dùng vào việc thờ cúng hành đạo.
2. Nhà nước tịch thu toàn bộ nhà đất của các Đoàn Hội các tổ chức không được Nhà nước thừa nhận và cho phép hoạt động.
3. Nhà, đất của các đoàn, hội, các tổ chức khác và của các tôn giáo hiện đang cho thuê được giải quyết theo chính sách chung về nhà, đất cho thuê. Riêng đối với các nhà tập trung của các tổ chức, các tôn giáo đã cho hội viên, giáo dân của mình nhờ, hoặc ở thuê với giá rất rẻ mà không nằm trong phạm vi nơi thờ cúng, hành đạo thì Nhà nước có thể xét cấp hẳn cho người đang sử dụng.
4. Những nhà cửa đất đai khác còn bỏ trống hoặc dùng vào mục đích không phải thờ cúng, hành đạo, thì Nhà nước vận động thuyết phục giáo dân giao cho Nhà nước dùng vào việc phục vụ lợi ích chung.

IV. ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN THUỘC BỘ MÁY CAI TRỊ CỦA NGUỴ QUÂN NGUỴ QUYỀN VÀ ĐẢNG PHÁI PHẢN ĐỘNG
1. Mọi loại nhà cửa, đất đai trước ngày Giải phóng do chính quyền Mỹ nguỵ quản lý hoặc dành cho những tổ chức hay cá nhân, thuộc nguỵ quân nguỵ quyền và các tổ chức đảng phái phản động sử dụng, nay đều là tài sản công cộng, do Nhà nước trực tiếp quản lý.
2. Nhà cửa, đất đai của những người sau đây đều do Nhà nước trực tiếp quản lý:
- Sĩ quan nguỵ quân cấp từ thiếu tá trở lên.
- Sĩ quan cảnh sát từ cấp trung uý trở lên.
- Cán bộ thuộc bộ máy cai trị của nguỵ quyền đã giữ chức vụ, từ Chủ sự phòng cơ quan Trung ương, Ty phó, Quận phó trở lên.
- Các phần tử ác ôn, mật vụ, tình báo, chiêu hồi cố tình phản cách mạng.
3. Những người có nhà cho thuê và nhà thuộc diện Nhà nước trực tiếp quản lý, tuỳ theo chức vụ cấp bậc, quá trình hoạt động dưới thời Mỹ nguỵ và thái độ chính trị hiện nay của đương sự mà có thể chiếu cố dành cho một diện tích ở thích đáng, nếu chưa có chỗ ở.

V. ĐỐI VỚI NHÀ ĐẤT CỦA NGOẠI KIỀU
Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam không thừa nhận mọi cam kết của chính quyền Mỹ nguỵ với các nước và các tổ chức quốc tế có cơ quan ở miền Nam Việt Nam.
Nhà nước không thừa nhận quyền sở hữu về bất động sản đã có của các nước và của ngoại kiều trên lãnh thổ Việt Nam từ trước ngày Giải phóng. Chính phủ sẽ giải quyết các vấn đề tồn tại về các loại nhà, đất này theo hướng sau đây:
1. Quốc hữu hoá không bồi hoàn toàn bộ đất đai, nhà cho thuê của chính phủ nước ngoài và ngoại kiều. Xét trường hợp cụ thể có hình thức xử lý đích đáng; không bồi hoàn, bồi hoàn tượng trưng, bồi hoàn một phần tuỳ theo quan hệ ngoại giao giữa nước ta với nước hữu quan nếu là nhà thuộc quyền sở hữu của Nhà nước hữu quan, và tuỳ theo tính chất kinh doanh bóc lột của ngoại kiều nếu là nhà thuộc quyền sở hữu của ngoại kiều.
2. Tịch thu toàn bộ tài sản:
a. Của nước trực tiếp tham gia chiến tranh xâm lược Việt Nam.
b. Của ngoại kiều trực tiếp phục vụ cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.
c. Của nước ngoài đã được sử dụng vào mục đích của cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.
3. Đối với nhà làm việc và nhà ở của các Chính phủ nước ngoài khác và của các tổ chức quốc tế thì giải quyết như sau:
Nếu là nhà mua hoặc tự xây cất hợp pháp, căn cứ vào quy hoạch của đô thị mà có thể cho họ giữ lại một số nhà cần thiết để làm cơ quan lãnh sự hoặc cơ quan nghiệp vụ được Nhà nước ta chấp nhận. Những nhà không dùng vào công việc trên thì phải nhượng lại.
Đối với những nhà không mua hoặc xây cất không hợp pháp thì Nhà nước quản lý không bồi hoàn.
4. Nhà của ngoại kiều:
- Đối với những ngoại kiều được ở lại nước ta làm ăn sinh sống, có nhà tự xây dựng hợp pháp thì được thừa nhận quyền sử dụng để ở.
- Đối với ngoại kiều được phép xuất cảnh:
Nếu là người lao động, thì Nhà nước cho phép bán nhà mà họ đang ở hoặc tự xây cất hợp pháp.
Nếu có cha mẹ, vợ chồng hợp pháp, con đẻ được ở lại và đã cùng ở chung một hộ thì có thể được xét cho nhận uỷ quyền quản lý.
Đối với nhà của ngoại kiều không phải là nhân dân lao động thì trước khi xuất cảnh đều phải giao lại cho Nhà nước quản lý, và tuỳ từng trường hợp, Nhà nước sẽ không bồi hoàn, bồi hoàn tượng trưng, hoặc bồi hoàn một phần.
HỘI ĐỒNG CHÍNH PHỦ
PHÓ THỦ TƯỚNG
(Đã ký)
Phạm Hùng
Điều IV của QĐ 111/CP đã cho thấy rõ gia đình thân nhân của các anh em quân lực Việt Nam Cộng Hòa phải chịu mất nhà mất cửa rất thê thảm. Mọi quy chụp là phản động hay Ngụy quyền thì coi như là bị tịch thu nhà cửa.
Dòng chữ cuối cùng của khoản 2 điều IV của QĐ 111/CP có ghi rõ là nhà cửa đất đai của các thành phần sau đây bị tịch thu: 
“Các phần tử ác ôn, mật vụ, tình báo, chiêu hồi cố tình phản cách mạng.” 
Bởi không có định nghĩa rõ ràng thế nào là thành phần ác ôn nên các viên chức cán bộ Cộng Sản tha hồ kết tội thuờng dân vô tôi vạ là thành phần ác ôn của “Ngụy quyền” để tư lợi cướp bóc nhà cửa cho riêng mình, không cần tòa án nào xét xử cả. Ai ai cũng có thể là điệp viên CIA, hay là có lý lịch ba đời liên quan đến Ngụy quân, và đều có tư tưởng "phản động"  và cần phải tịch thu nhà cửa dựa trên điều khoản này của Q Đ 111/CP.
Không khí hoảng sợ , đau thương oán hận lan tràn khắp cả miền Nam.

IV. Hậu quả ĐÁNH TƯ SẢN của Cộng Sản Hà Nội:
Theo các chuyên gia của Liên Hiệp Quốc về kinh tế, Việt Nam tụt hậu hơn 50 năm về kinh tế vì các chính sách đánh tư sản này của Cộng Sản Hà Nội lên đầu người dân miền Nam. Việt Nam là quốc gia nghèo đứng hàng thứ ba trên thế giới vào năm 1985.

Cho đến giờ phút này, người dân Việt Nam vẫn chưa thực sự có quyền TƯ HỮU, mà chỉ có quyền xỬ DỤNG, nghĩa là thảm họa bị ĐÁNH TƯ SẢN trong quá khứ vẫn treo lơ lửng trên đầu người dân Việt Nam bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra chiếu theo luật pháp hiện hành của Cộng Sản Hà Nội.

Kinh tế của Việt Nam mãi đến năm 1997 mới thực sự khắc phục được một phần hâu quả của 10 năm Quá Độ, ĐÁNH TƯ SẢN mang đầy cướp bóc ngu xuẩn do Cộng Sản Hà Nội tiến hành từ năm 1976 đến năm 1987.
Từ năm 1987 đến năm 1997, Hoa Kỳ đã nhắm mắt làm ngơ cho những người Việt di tản hay Vượt Biên định cư tại Mỹ gởi tiền hàng ồ ạt về cứu đói thân nhân mình và vực dậy sự sinh động về kinh tế vốn có ngày nào của miền Nam. Tổng số ngoại tệ gởi về lên đến 8 đến 15 tỷ Mỹ kim mỗi năm trong suốt 10 năm đó.

Sang đến năm 1989, báo SGGP từ hào Sài Gòn chịu 90 % ngân sách của cả nước và bắt đầu tiến hành trả lại nhà cho một số nạn nhân bao năm trời khổ ải đói rách, cũng như bắt đầu bàn tới vấn đề cho phép các sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa được bán nhà, vốn hầu hết đã bị tịch thu nếu ra đi theo chương trình HO-Special Release Reeducation Center Detainee Resettlement Program (Chương trình tái định cư phóng thích đặc biệt tù nhân trung tâm cải tạo)

Chỉ số nghèo đói của Việt Nam đứng hàng thứ ba trên thế giới và chỉ mới có những tiến bộ cải thiện mà thôi trong dạo gần đây khi World Bank và USAID tăng tốc trợ giúp.
Mọi tài liệu, hình ảnh ca ngợi ĐÁNH TƯ SẢN từ các báo chí đài phát thanh của Đảng cũng bị dẹp dần đi.
Đảng Cộng Sản Hà Nội tới ngày nay vẫn chưa chính thức xin lỗi hai mươi mốt triệu người dân miền Nam về hành động cướp bóc phi pháp này.

 @ Tú Hoa

-----------

Tự do sẽ chấm dứt hận thù dân tộc

Hàng năm cứ đến ngày 30 tháng 4 được chính quyền cộng sản hiện hành ở Việt Nam mệnh danh “Ngày Giải phóng miền Nam”, cộng đồng người Việt ở hải ngoại, đặc biệt ở Hoa Kỳ mà tuyệt đại đa số sống dưới chế độ cũ - chính thể Việt Nam Cộng Hòa, lại dấy lên quan điểm “cộng sản Việt Nam xâm lăng miền Nam” và vì thế coi đó là “Ngày Quốc hận”. Quan điểm này có nghĩa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa theo chủ nghĩa cộng sản và Việt Nam Cộng hòa theo chủ nghĩa chống cộng là hai “quốc gia”, là hai “nước” riêng biệt. Thực vậy, “xâm lược” là việc quốc gia này dùng vũ lực thôn tính lãnh thổ của quốc gia khác. Cũng như vậy, “Quốc hận” thể hiện tình cảm của người dân “mất nước” khi “nước” mình bị quốc gia khác đô hộ hoặc sáp nhập bằng vũ lực vào quốc gia đó. Tuy nhiên quan điểm này không đứng vững khi đối chiếu với chính lịch sử của Việt Nam Cộng hòa.
Trước hết cần nhắc lại rằng Việt Nam Cộng hòa thoát thai từ Quốc gia Việt Nam - một chính thể thuộc Liên bang Đông Dương trong Liên hiệp Pháp - tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ lãnh thổ Việt Nam, do cựu hoàng Bảo Đại làm Quốc trưởng.
Tại Hội nghị Genève 1954, trưởng phái đoàn Quốc gia Việt Nam Trần Văn Đỗ đã không ký vào Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam với lý do hiệp định này gây chia cắt Việt Nam. Phái đoàn Quốc gia Việt Nam ra một tuyên bố riêng nêu rõ: "Chính phủ Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng phản đối cách ký kết Hiệp định cùng những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt. Chính phủ Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận rằng Chính phủ tự dành cho mình quyền hoàn toàn tự do hành động để bảo vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện Thống nhất, Độc lập và Tự do cho xứ sở."
Một ngày sau khi Hiệp định đình chỉ chiến sự tại Việt Nam được ký kết giữa Pháp và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vào ngày 21/7/1954, Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm ra lệnh treo cờ rủ trên toàn Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở xuống để phản đối sự chia đôi đất nước. Tuy nhiên sau đó Thủ tướng Ngô Đình Diệm tuyên bố: "Chúng tôi (Quốc gia Việt Nam) không từ chối nguyên tắc tuyển cử tự do để thống nhất đất nước một cách hoà bình và dân chủ".
Như vậy với tư cách kế tục Quốc gia Việt Nam, Việt Nam Cộng hòa tuyên bố chủ quyền đối với cả miền Bắc Việt Nam chứ không chỉ đối với miền Nam Việt Nam đồng nghĩa thống nhất đất nước là mục tiêu của chính thể này. Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa, cả Đệ Nhất lẫn Đệ Nhị, cũng đã thể hiện rõ ràng quyết tâm chính trị trên.
Lời mở đầu Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1956 khẳng định “chánh thể Cộng hòa nhằm mục đích thống nhất lãnh thổ”. Tiếp đó Điều 1 Hiến pháp này quy định: “Việt Nam là một nước Cộng hòa, độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân”. Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967 đã tái khẳng định “mục đích thống nhất lãnh thổ” vẫn trên cơ sở nguyên tắc “Việt Nam là một nước Cộng hòa, độc lập, thống nhất, lãnh thổ bất khả phân”. Cũng cần nói thêm rằng không có câu nào của cả hai Hiến pháp trên quy định “quốc gia” chỉ gồm miền Nam Việt Nam.
Ngoài ra, sự tách bạch giữa “Quốc gia” và “Việt Nam Cộng hòa” vẫn tại Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa cho thấy “Việt Nam Cộng hòa” là một chính thể hay chế độ chính trị chứ không phải là quốc gia. Thực vậy, Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967 ghi: “Quốc gia công nhận và bảo đảm những quyền căn bản của mọi công dân…” và “Việt Nam Cộng Hòa chống lại chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức”. Sự tách bạch này được thể hiện không gì rõ hơn tại Điều 25 của Hiến pháp này: “Mọi công dân đều có nghĩa vụ bảo vệ Tổ Quốc và chánh thể Cộng Hòa”.


Trên thực tế, các chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã có những kế hoạch thống nhất đất nước. Tổng thống Đệ Nhất Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm đã ra lệnh cho Phủ Đặc Ủy Công Dân Vụ chuẩn bị kế hoạch “Bắc tiến” nhằm chiếm lại miền Bắc Việt Nam. Tem thư được in khẩu hiệu "Toàn dân đoàn kết, chuẩn bị Bắc tiến" với đích cắm cờ vàng ba sọc đỏ là Hà Nội, là Chùa Một Cột, biểu trưng của Hà Nội.

Mặc dù chính trị hỗn loạn sau vụ đảo chính Tổng thống Ngô Đình Diệm năm 1963, một số lãnh đạo Việt Nam Cộng hoà vẫn tuyên bố tiến công miền Bắc để thống nhất Việt Nam. Ngày 14/7/1964, Thủ tướng Nguyễn Khánh đã công khai tuyên bố “Bắc tiến”. Hai ngày sau, tướng Nguyễn Cao Kỳ cũng khẳng định Không lực Việt Nam Cộng hòa đã sẵn sàng dội bom miền Bắc. Trung tuần tháng 7/1965, vẫn tướng Nguyễn Cao Kỳ, lúc này là Chủ tịch Ủy ban hành pháp trung ương, tức Thủ tướng, đã tổ chức hội thảo “Ngày toàn dân đoàn kết chuẩn bị giải phóng miền Bắc”. Thời kỳ này người ta có thể thấy tại miền Nam các bảng cổ động “Toàn dân đoàn kết để bảo vệ miền Nam, giải phóng miền Bắc”.
Như vậy, không chỉ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và các lực lượng cộng sản ở miền Nam dưới vỏ bọc “Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam” quyết “giải phóng” miền Nam mà cả Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam cũng quyết “giải phóng” miền Bắc để thống nhất đất nước!
Tóm lại, theo quan điểm chính thống của Việt Nam Cộng hòa thì ở Việt Nam chỉ có một quốc gia, miền Nam và miền Bắc chỉ là hai phần lãnh thổ của quốc gia Viêt Nam, cuộc chiến giữa hai miền là cuộc chiến ý thức hệ, giữa miền Nam chống cộng và miền Bắc cộng sản. Nói cách khác, chiến tranh Nam - Bắc Việt Nam giai đoạn từ 1955 đến 30/4/1975 là một cuộc nội chiến và vì vậy không phải là chiến tranh giữa hai quốc gia, giữa hai “nước”, tương tự như những gì đã diễn ra giữa miền Nam và miền Bắc bán đảo Triều Tiên từ 1950 đến 1953. Do đó không thể dùng từ “xâm lăng” cho việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc đưa quân vào miền Nam để cùng các lực lượng cộng sản tại chỗ chống lại Việt Nam Cộng hòa. Cũng như vậy, không thể gọi ngày 30 tháng 4 là “Ngày Quốc hận” vì đã không có chuyện “mất nước” vào ngày đó. Thực vậy, cho đến nay Việt Nam vẫn có tên trên bản đồ thế giới, là thành viên Liên Hiệp Quốc, có quan hệ ngoại giao với nhiều nước trong đó có Hoa Kỳ, cho dù lãnh thổ đã bị Trung Quốc chiếm nhiều nơi, nhất là ở biển Đông.
Mặc dầu vậy, không thể phủ nhận oán hận của những người Việt từng phục vụ chính thể Việt Nam Cộng hòa và gia đình họ đối với chính quyền cộng sản Việt Nam là vô cùng lớn. Vậy đâu là nguyên nhân?
Chắc chắn việc bị các lực lượng cộng sản mà nòng cốt đến từ miền Bắc đánh bại khó có thể là nguyên nhân bởi thắng, thua trong chiến tranh là chuyện bình thường đồng nghĩa oán hận này chỉ có thể đến từ hành vi trả thù khủng khiếp của chính quyền cộng sản thời hậu chiến.
Có một thực tế là trong chiến tranh người bên đối phương dù đầu hàng vẫn có thể bị giam giữ và nếu trường hợp này xảy ra thì được gọi là tù binh hay tù nhân chiến tranh. Thế nhưng một khi chiến tranh chấm dứt thì vấn đề tù binh cũng chấm dứt, không ai có thể bị giam, bị cách ly khỏi gia đình và xã hội chỉ vì đã ở bên kia chiến tuyến, trừ những kẻ bị truy tố để rồi bị xét xử do phạm tội diệt chủng – tội ác chống loài người. Do đó việc nhà cầm quyền cộng sản sau 30/4/1975 đã giam không án trong gần trăm cái gọi là “trại cải tạo” từ vài năm đến hàng chục năm trời hàng trăm nghìn cựu quân nhân và viên chức của chính thể Việt Nam Cộng hòa mà nhà cầm quyền gọi một cách sỉ nhục là “ngụy quân”, “ngụy quyền” và hơn thế nữa, buộc họ lao động khổ sai dứt khoát là đòn thù. Tài liệu có bí số “TN/QP-14” của Bộ Quốc Phòng Việt Nam được phổ biến ngày 14/02/1977 không úp mở gọi những người này là “tù nhân”: "Tổng số tù nhân tham gia học tập cải tạo để trở thành con người mới sau khi chế độ Sài Gòn đầu hàng là 1.321.506 người. Trừ những số trốn trại, bị chết trong lúc cải tạo và già yếu trả về với gia đình, BQuốc phòng giao lại cho BNội vụ quản lý là 1.236.569 người"!
Ông Bùi Xuân Diệm, đại tá Việt Nam Cộng hòa từng là tù nhân tại “trại cải tạo” Suối Máu, Biên Hòa kể lại với tôi: “Quản giáo nói với tù nhân chúng tôi rằng: Sau này nếu các anh được thả về, các anh chỉ được đi dưới mương chứ không được đi trên đường! Nghĩa là dù có được ra khỏi nhà tù có lính gác, “ngụy quân”, “ngụy quyền” sẽ lại bị giam trong sự khinh miệt và kỳ thị đến tột cùng của nhà cầm quyền cộng sản và lần này là chung thân, là vĩnh viễn.
Mà đâu đã hết, ngay cả gia đình những tù nhân này cũng không thoát khỏi đòn thù của nhà cầm quyền cộng sản. Thực vậy, quyết định ngày 19/5/1976 của Chính phủ buộc “dân cư ngụ trong những khu vực dành riêng cho công chức và quân nhân” đi “vùng kinh tế mới” lập tại các vùng rừng núi hẻo lánh không gì khác hơn là nhằm đầy ải họ và nhất là nhằm tước đoạt nhà cửa của họ. Bên cạnh đó, thành viên những gia đình này và những gia đình “ngụy quân”, “ngụy quyền” khác phải chịu một sự phân biệt đối xử gay gắt, hầu hết trong số họ bị cấm đoán vào đại học và cơ quan Nhà nước, ngay cả du lịch hay học tập ở nước ngoài họ cũng không được phép, nghĩa là cụt đường tiến thân trong xã hội. Tóm lại, các cựu quân nhân và viên chức Việt Nam Cộng hòa và gia đình họ bị chính quyền cộng sản tước đoạt những quyền cơ bản của con người, của công dân và vì vậy họ chỉ còn là “phó thường dân” theo đúng nghĩa đen của từ này.
Không dừng lại đó, chính quyền cộng sản còn đang tay đẩy rất nhiều người đã sống dưới chế độ cũ vào chỗ chết khi đứng ra tổ chức hoặc bật đèn xanh cho các cuộc vượt biên chủ yếu bằng đường biển như bán bãi, bán thuyền nhằm thu vàng và chiếm đoạt nhà cửa của họ, đúng cái kiểu “sống chết mặc bay, tiền thầy bỏ túi” mà dân gian thường nói. Thực vậy, những cuộc vượt biên đầy rủi ro này đã dẫn đến cái chết thê thảm của hàng trăm nghìn người hoặc do bị lật thuyền hoặc do bị cướp biển giết, đó là chưa kể hàng nghìn, hàng nghìn đàn bà, con gái bị cướp biển hãm hiếp ngay trước mặt người thân của họ trong tột cùng đau đớn.
Một chính quyền táng tận lương tâm như thế, hỏi sao mà không oán hận chất chồng để trở thành thù hận!
Tuy nhiên trong bất cứ hoàn cảnh nào tồn tại một hận thù như vậy là có hại không kể xiết cho quốc gia Việt Nam, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc lăm le chiếm nốt quần đảo Trường Sa sau khi đã chiếm một phần quần đảo này vào năm 1988 và nuốt trọn quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực vào năm 1974. Nói cách khác, hóa giải hận thù dân tộc là nghĩa vụ đối với Tổ quốc mà chính quyền cộng sản Việt Nam buộc phải thực hiện và hơn thế nữa, cấp bách.
Chính vì lợi ích tối cao đó của quốc gia Việt Nam mà ngày 30/8/2010 công dân Cù Huy Hà Vũ, một người không hề dính dáng tới Việt Nam Cộng hòa, đã gửi Quốc Hội Việt Nam “Kiến nghị trả tự do cho tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa, lấy “Việt Nam” làm Quốc hiệu để hòa giải dân tộc”. Thế nhưng thay vì làm theo lời nói phải này, chính quyền cộng sản lại lấy đó làm chứng cứ về “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” để bỏ tù công dân Cù Huy Hà Vũ. Cáo trạng ngày 17/12/ 2010 của Viện kiểm sát Hà Nội hậm hực: “Vũ bóp méo sự thật về cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc. Phê phán Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gây chia rẽ, thù hằn dân tộc bằng lời lẽ: “ ...Tiếc thay cho ban lãnh đạo nhà nước Việt nam thống nhất đã không làm được như thế mà ngược lại - phải nói thật - còn xát muối vào vết thương chiến tranh chưa kịp lên da bằng việc tập trung cải tạo trong hàng năm trời cả trăm nghìn quân nhân viên chức VNCH, ....đẩy không ít người Việt thuộc chính quyền cũ vào vòng xoáy thù hận, dẫn đến một số quay ra chống chính quyền mới để rồi bị kết tội xâm phạm an ninh quốc gia”! (*)
Vậy là rõ: Chính quyền cộng sản Việt Nam cam tâm bán nước cho Trung Quốc nên mới cự tuyệt đến cùng hòa giải dân tộc. Do đó với những ai giòng giống Lạc Hồng, mau chóng giải thể chính quyền độc tài này không chỉ là cách duy nhất để cứu nước mà còn là cách duy nhất để xóa bỏ hận thù dân tộc vì một Việt Nam hiển vinh trên trường quốc tế.
Tin rằng một ngày rất gần chế độ toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam sẽ bị xóa sổ, mong là một cách hòa bình. Và cái ngày bao mong chờ đó, không nghi ngờ gì nữa, sẽ đi vào lịch sử Việt Nam như “Ngày Tự do” (Freedom Day) đồng nhất với dấu chấm hết cho bức tường “30 tháng 4 - Giải phóng miền Nam” cứa lòng dân tộc.
 (*) Kiến nghị trả tự do cho tất cả tù nhân cựu quân nhân và viên chức chính quyền Việt Nam Cộng Hoà – Lấy “Việt Nam” làm quốc hiệu để hòa giải dân tộc, Bauxite Việt Nam 31/8/2010, http://www.boxitvn.net/bai/10233
Tác giả là một nhà bất đồng chính kiến và tù nhân chính trị Việt Nam, đã hai lần khởi kiện Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng về các quyết định trái Hiến pháp và pháp luật, hiện là học giả tại Đại học George Washington, Hoa Kỳ.
Trích dẫn:
“Việc nhà cầm quyền cộng sản sau 30/4/1975 đã giam không án trong gần trăm cái gọi là “trại cải tạo” hàng trăm nghìn cựu quân nhân và viên chức của chính thể Việt Nam Cộng hòa mà nhà cầm quyền gọi một cách sỉ nhục là “ngụy quân”, “ngụy quyền” và hơn thế nữa, buộc họ lao động khổ sai dứt khoát là đòn thù”
“Với những ai giòng giống Lạc Hồng, mau chóng giải thể chính quyền độc tài này không chỉ là cách duy nhất để cứu nước mà còn là cách duy nhất để xóa bỏ hận thù dân tộc vì một Việt Nam hiển vinh trên trường quốc tế”.
 “Tin rằng một ngày rất gần chế độ toàn trị của Đảng cộng sản Việt Nam sẽ bị xóa sổ, mong là một cách hòa bình. Và cái ngày bao mong chờ đó, không nghi ngờ gì nữa, sẽ đi vào lịch sử Việt Nam như “Ngày Tự do” (Freedom Day) đồng nhất với dấu chấm hết cho bức tường “30 tháng 4 - Giải phóng miền Nam” cứa lòng dân tộc”.

 TS Luật Cù Huy Hà Vũ

-----


0 comments:

Post a comment

Bài Xem Nhiều