We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 27 October 2015

Toàn dân ghi nhớ công ơn nền đệ I Cộng Hòa : 26 Tháng 10 Ngày Độc Lập của Việt Nam

26 Tháng 10 Ngày Độc Lập của Việt Nam

image

Hàng năm, vào ngày 2 tháng 9, Hà Nội long trọng tổ chức Ngày Độc Lập cho Việt Nam. Ý muốn của chírih quyền Việt Nam hiện nay là cho dân chúng biết rằng chính họ là người đánh đuối thực dân Pháp dành Độc Lập cho Việt Nam.
Nhưng ngày nay những tài liệu lịch sử khả tín đã chứng minh ngược lại. Thật vậy, Hồ Chí Minh chưa bao giờ đánh đuổi được người Pháp khỏi Việt Nam, mà còn ký hiệp ước Sơ Bộ ngày 6. 3. 1946 cho phép Thực Dân Pháp chính thức trở lại miên Băc tái lập chế độ thuộc địa, sau khi chính quyền Pháp tại Đông Dương bị quân đội Nhật đảo chánh ngày 9. 3. 1945. Mục đích của Hồ Chí Minh khi ký Hiệp Định này là mượn tay Thực Dân Pháp tiêu diệt cảc Đảng Phái Quốc Gia, nhằm thiết lập chế độ độc tài toàn trị trên cả nước. Họ đã đạt được mục tiêu này, nhưng sau đó, vì quyền lợi mâu thuẩn giữa Đảng Cộng Sản Việt Nam và Thục Dân Pháp, Hồ Chí Minh phát khởi cuộc chiến tranh Việt-Pháp vào ngày 19. 12. 1946, áp dụng chính sách tiêu thô kháng chiên hủy hoại toàn bộ đât nước và tài sản quốc gia một cách vô ích, cho mục tiêu duy trì quyền thống trị độc tài của Đảng Cộng Sản trên lãnh thả Việt Nam.
Đến năm 1954, mặc dù thắng được Thực Dân Pháp ở Điện Biên Phủ, nhưng vì lúc đó, vì quyển lợi của Trung Cộng và Liên Sô, hai cường quốc Cộng Sản này sợ rằng nếu để cuộc chiến tranh Việt-Pháp lan rộng, chinh phủ Hoa Kỳ sẽ liều lĩnh, lợi dụng cơ hội để can thiệp vào chiến trường Đông Dương, có thế dưa đến cuộc đối đầu trực tiếp với giữa hai cường quốc này với Hoa Kỳ, nên họ ép buộc Hồ Chi Minh ký kết hiệp đinh Geneva, chia đôi đất nước Việt Nam đề nhường miền Nam Việt Nam cho Pháp thống trị. Có lè lúc đó không một thành viên nào tham dự hội nghị Geneva nghĩ đến việc Thực Dân Pháp rút khỏi Việt Nam, chì trừ cỏ phái đoàn của chính phủ Quôc Gia Việt Nam.
Thật vậy, Chu Ân Lai và Molotov, muốn Pháp ở lại Việt Nam, để ngăn cản ý đồ của Hoa Kỳ muốn thiết lập căn cứ quân sự tại đây, để thực hiện chính sách bao vây Trung Cộng tại Á Châu. Còn Hồ Chí Minh cũng mong muốn duy trì Lực Lượng Viễn Chinh Pháp tại miền Nam, để cùng với Pháp tổ chức cuộc Tổng Tuyển Cử vào năm 1956 để thôn tính toàn bộ miền đất phía Nam vĩ tuyến 17. Từ những toan tính này, các phe phái liên hệ đã không soạn thảo bất cứ một điều khoản trong hiệp định Geneva, qui định việc Thực Dân Pháp phải rút khỏi Việt Nam
Trong ý đồ này, chính quyền Hà Nội, luôn luôn nhờ Pháp đòi buộc chính phủ Ngô Đình Diệm phải thi hành Hiệp Định Geneva. Thực vậy, vào ngày 1.1.1955, khi thấy Pháp chuyển giao các cơ sở hành chánh và kinh tế lại cho chính quyền miền Nam, Thủ Tướng Phạm Văn Đồng của Bắc Việt đã gởi văn thư cho Pháp, trong đó viết rằng: Chúng ta đã ký Hiệp Định Geneva, và tùy thuộc vào quí Ngài để đòi buộc họ [chính quyền Miền Nam] tôn trọng Hiệp Định này. (xem p. Devillers. The Struggle for the Unification of Vietnam, in North Vietnam Today, 1962, tr. 31)
Vào thời điểm đó, không một quan sát viên quốc tế nào nghĩ răng Quốc Gia Việt Nam do Cựu Hoàng Bảo Đại lãnh đạo có thê tòn tại đến ngày Tổng Tuyển Cử, vì họ nghĩ rằng các đảng phái quôc gia và đặc biệt hơn nữa là các lực lượng quân sự của các giáo phái nhận tiền tài trợ của Pháp và các the lực tài phiệt của Pháp tại miền Nam vì mâu thuẩn quyền hành sẽ dẫn đến những tranh chấp quyết liệt khiến miền Nam tự sụp đỗ và tan rã. Cùng lắm, giả thuyết miền Nam may mắn lắm tồn tại đến tháng 7 năm 1956, thì chính quyền Bảo Đại cũng không đủ ý chí thống nhất và hậu thuẩn cùa quần chúng để thủ thắng với Cộng Sản trong cuộc tổng tuyển cử được dự trù tổ chức vào giữa năm đó. Từ những suy luận duy lý đó, các quốc gia Cộng Sản thư thái ngồi chờ sự sụp đỗ tất yếu của Miền Nam.
Còn về phía chính phủ Hoa Kỳ đã từ chối không ký vào Hiệp Định này, để dành quyền tự do hành động về sau này. Và trước viễn ảnh đen tối, chẳng còn bao lâu nữa bộ đội Cộng Sản sẽ lan tràn khắp cả lãnh thổ Đông Dương. Ngoại Trưởng Foster Dulles đã gấp rút triệu tập Hội Nghị Manila ngày 8. 9. 1954, đê thành lập Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á, nhằm ngăn cản sự bành trướng của Cộng Sản xuống miền Nam cũng như Ai Lao và Cao Miên.
Trong tình thể hầu như hoàn toàn tuyệt vọng đó, Ông Ngô Đình Diệm đã chấp nhận mọi thử thách để về nước chấp chánh. Không chỉ những phóng viên báo chí, các nhà bình luận chính trị có ác cảm với ông Diệm, mà ngay những người ủng hộ ông, cũng đều bi quan cho rằng, chính quyền Diệm khó có thể kéo dài hơn 6 tháng.
Nhưng như một phép lạ, với một tinh thần quả cảm, một ý chí sắt đá, một nghị lực phi thường, một cuộc sổng đạo đức cá nhân thánh thiện, một quá khứ chống Cộng và chổng Thực Dân Pháp không tì vết và đặc biệt hơn cả là với tài lãnh đạo sáng suổt và một viễn kiến chính trị sâu sắc và đứng đắn. Đó là việc phải đáp ứng được khát vọng sâu xa nhất và gần như thiêng liêng về việc khôi phục toàn vẹn chủ quyền và nền độc lập thực sự cho toàn dân sau nhiêu năm lệ thuộc ngoại bang. Nhờ đó, chỉ không đầy 18 tháng cầm quyền, ông đã hoàn toàn xoay chuyển được tinh thế. Thât vậy, thành tích trước tiên của chính phủ Diệm là biên một vùng đất hồn loạn triền miên vì chiến tranh thành một quốc gia ổn định, có kỷ cương và luật pháp. Tiếp đến, ông đã xảy dựng được một quân đội quốc gia có kỷ luật, có khá nảng và tinh thần chiến đấu và sau hét là ông Diệm đã kiên tạo thể chế dân chủ, tự do, tiến bộ và đầy hiệu năng với sự hậu thuần nhiệt tình cùa tuyệt đại đa sô dàn chúng thời đó. Chính nhờ những tác nhân tích cực này, ông Diệm đà cỏ đù sức mạnh tinh thần và uy tín chinh trị để đựa vào Công Pháp Quốc Tế đòi Lực Lượng Viền Chinh Pháp phái triệt thoái khỏi Việt Nam, giao trả toàn bộ chủ quyền và độc lập thực sự cho Việt Nam. Thật vậy, những ngừoi lính cuối cùng trong Lực Lượng Viễn Chinh Pháp phải triệt thoái khôi Việt Nam vào ngày 25. 4.1956. Sau đó, một ngày. Phù Cao Uy Pháp tại Đông Dương bị hủy bỏ, cũng mang theo ỷ nghía chính thức chấm dứt 72 năm chế độ Pháp Bào Hộ Việt Nam (1884-1956).
Từ những sự kiện lịch sử này, chúng ta có thể đi đến kết luận là chính Ngô Đình Diệm chứ không phải Hồ Chí Minh đã đánh đuổi Thực Dân Pháp để dành lại chủ quyền và độc lập thực sự cho Việt Nam.
Và ngày 26. 10 hôm nay, mới chính là ngày Quốc Khánh, kỷ niệm ngày thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hòa, một chính thể đã thực sự thu hồi toàn vẹn chủ quyền và Độc Lập thực sự cho dân tộc Việt Nam
Và cũng từ đó, chúng ta có thể đi đến một nhận định khác, chính quyền Hồ Chí Minh luôn lợi dụng sinh mạng và tài sản của toàn dân để củng cố quyền thống trị và kiếm tìm đặc quyền, đặc lợi cho Đảng Cộng Sản Việt Nam và phục vụ cho mưu đồ của Cộng Sản quốc tế, chứ không bao giờ nghỉ đến đôc lập, chủ quyền của quốc gia và phúc lợi cho dân tộc.
Để có một nhận định khách quan và vô tư về công cuộc tranh đấu dành độc lập của ông Diệm, chúng ta thử tìm hiểu về thái độ của các cường quôc liên hệ vơí Việt Nam như Hoa Kỳ, Pháp và kiêm điểm lại nội tình chính trị Việt Nam vào những năm tháng đó.
Diệm tranh đấu dành độc lập
Thật vậy, giờ này, hơn nữa thế kỷ đã trôi qua, kể từ ngày ông Diệm về nước chấp chánh và trong khi chế độ Cộng Sản đang sụp đổ khắp nơi trên thế giới, thỉ cá nhân ông Diệm và đường lối lãnh đạo chính quyền của con người chống Cộng đầy quả cảm này vẫn còn là đề tài nhiều tranh cãi. Người viết không có tham vọng giải quyết những vấn nạn này trong bài viết ngắn dành cho tập kỷ yếu về vị lãnh đạo có nhiều đức độ và tài năng này. Ở đây chúng tôi chỉ căn cứ trên một số tài liệu khả tín đà được giải mật và những cuộc phỏng vân với những người đã thực sự tham dự vào các biến cố lịch sử thời đó, để hiểu rõ hơn về những tháng ngày đầy thử thách khi ông Diệm về nước thành lập chính quyền để khôi phục độc lập cho Việt Nam
Được Mời Làm Thủ Tướng
Đến nay một số tác giả vẫn cho rằng, ông Diệm từ chức Thượng Thư Bộ Lại vào năm 1933, đã sống một cuộc đời ẩn dật, tách rời khỏi sân khấu chính trị Việt Nam. Rồi đến năm 1950, khi du hành qua Hoa Kỳ với ý định đi tu đã sống khép kín trong các tu viện Công Giáo, không biết gì đến những biến chuyển của tình hình thế giới. Nhưng nhờ có ông anh, Giám Mục Ngô Đình Thục, nên được Giáo Hội Công Giáo La Mã hậu thuẩn và từ đó có được sự ủng hộ và can thiệp mạnh mẽ của Đức Hồng Y Spellman và ngoại trưởng Foster Dulles, cuối cùng chính quyên Pháp đã phải yêu cầu Quốc Trưởng Bảo Đại mời Ông Diệm về nước chấp chánh. Rồi nhờ chính quyền Hoa Kỳ hết lòng giùp đở, nên ông Diệm mới cỏ thể đứng vững trước tình thế ngã nghiêng của đất nước. Chứ ông Diệm chẳng có tài cán gì đặc biệt cả. Cho nên, đến năm 1963, khi Hoa Kỳ bỏ rơi, ông mới bị các tướng lãnh sát hại.
Nhưng ngày nay, những sử liệu đáng tin cậy cho thấy rằng những lập luận này là hoàn toàn thiếu cơ sở, nếu không muốn bảo là sai lầm. Thật vậy, những công trình nghiên cứu nghiêm túc của sử gia Edward Miller đăng trên Journal of South East Asian Studies số 35 do Đaị Học Quốc Gia Singapore ấn hành vào tháng 10. 2004 đă cho thấy rằng, vào thập niên 1930, dù không còn giữ chức vụ nào và đang bị cảnh sảt Pháp theo dõi, ông đà đóng một vai trò tích cực trong những biến chuyển chính trị của Triều Đình Huế. Ròi đến thập niên 1940, khi quân đội Nhật chiếm đóng Đông Dương, ông đã dựa vào thế lực của người Nhật để hồ trợ cho những nồ lực chổng Pháp nhằm tranh thủ độc lập cho Việt Nam và cũng trong giai đoạn này, ông cũng liên lạc với Kỳ Ngoại Hầu Cường Đễ đang sống lưu vong ở Nhật Bàn và thành lập một chính đảng bí mật nhằm chuẩn bị cho sự nghiệp chính trị sau này. Chính vì những hoạt động này, mà ông đã phải lẫn tránh vào Toà Tổng Lãnh Sự Nhật ở Huế để tránh sự truy lùng của Mật Thám Pháp.
Rồi đến thập niên 1950, khi đến Hoa Kỳ sống tại Institute of Chinese Culture và các tu viện của các Cha Maryknoll ở Lakewood, New Jersey rồi đến Ossining, thuộc Nữu Ước, kế đến, là Tu Viện Biển Đức (Benedictine) ở vùng Saint-Andre Les Bruges thuôc Bi Quốc, ông Diệm đã không bị cô lập như nhiều người lầm tường, mà việc làm đó còn mang tính cách chiến lược nhiều hơn. Thật vậy, những tu viện này đã cung cấp cho ông mạng lưới Công Giáo quốc tế, giúp cho ông có thế chuyển những tin tức một cách an toàn cho các đồng minh của ông tại Đông Dương, tránh sự theo dõi của mật vụ Pháp. Cũng như trong thời điểm này, các cộng sự viên của ông và các bào đệ của ông đã thành lập được các chính đảng tại cả 3 miền Trung, Nam và Bắc để chuẩn bị cho ngày trở về của ông. Trong thời gian gần 3 năm sống tại Hoa Kỳ từ 1951- 1953, ông Diệm đã tạo được một tích sản quan trọng trong chính trường Hoa Kỳ. Thật vậy, một số chính trị gia có uy tín như John Kennedy, Mike Mansfield, Dân Biêu J. Zablocki, Dân biêu Edna F. Kelly, Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện William O. Douglas, Hồng Y Spellman cùng vô số những nhà báo và một số học giả quan trọng đã bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với đường lối chính trị của ông Diệm.(xem Joseph Morgan, The Vietnam Lobby, The American Friend of Vietnam, 1955-1975, Chapel Hill, NC, Uni. of North Carolina Press, 1997, tr. 1-14)
Độc già có thể tìm thấy đầy đủ chi tiết quan trọng về những hoạt động chính trị của ông Diệm trong bài của Edward Miller, được trích đăng lại trong đặc san này.
Về việc bổ nhiệm ông Diệm vào chức vụ Thủ Tướng, chính những người trong cuộc như Quốc Trưởng Bảo Đại đã tiết lộ trong hồi ký của ngài, vì tin tưởng và quí trọng đức độ, tài năng và sự quả cảm của ông Diệm nên mỗi lần đất nước ở vào tình thế nghiêm trọng, ngài đà mời Ông Diệm ra thành lập chính phủ, nhưng Ông Diệm đêu từ chôi. Vào đâu năm 1954, giữa lúc tình hình Việt Nam biến chuyển nhanh chóng, quân Pháp đang bị bao vây nguy khốn ở Điện Biên Phủ và Hội Nghị Geneva sắp khai diễn để giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương. Bảo Đại lại nghĩ đến ông Diệm, nhưng sợ bị ông Diệm từ chối như những lần trước. Ngài đã nhờ ông Ngô Đình Luyện, một bạn học cũ của ngài trong thập niên 20 tại Pháp và cũng là bào đệ của ông Diệm làm trung gian, mời ông Diệm đến gặp ngài để bàn về việc thành lập chính phủ nhầm đối phó với tình hình vô cùng bi đát của Việt Nam lúc đó. Việc chỉ định ông Diệm làm thủ tướng là hoàn toàn do chủ ý của Quốc Trưởng, chứ không phải do sự vận động của người Mỹ hay áp lực gì của người Pháp cả. (Bảo Đại, 1990, tr 514 -516).
Về phía Bộ Ngoại Giao Mỹ, những tài liệu còn lưu trữ tại thư viện Dwight D. Eisenhower, đã cho thây rằng, chính giới Mỹ không hay biêt gì việc Quôc Trưởng Bảo Đại mời ông Diêm vê nước chấp chánh, cho đến khi Ông Ngô Đình Luyện được cà Quốc Trường Bảo Đại lẫn ông Diệm ủy nhiệm tiếp xúc để thăm dò lập trường của chính quyền Hoa Thịnh Đốn. Thật vậy, ngày 18. 5. 1954, theo lời yêu cầu của ông Ngô Đình Luyện, Smith, Thứ Trưởng Ngoại Giao Mỹ, lúc đó đang dự Hội Nghị Geneva và Philip Bonsal, Giám Đốc Đông Nam Á Sự Vụ tại Bộ Ngoại Giao, đã đến gặp ông Ngô Đình Luyện tại Ba Lê để bàn về ý định của Quốc Trưởng Bảo Đại chỉ định ông Diệm làm thủ tướng. Sau này, Smith tiết lộ rằng: ông Ngô Đình Luyện đã nói với ông, Pháp có thể sẽ chống đổi, nhưng nếu có sự hậu thuần cùa Mỹ, Ọuổc Trường Bào Đại sẽ chi định ông Diệm. (Department of State, Foreign Relations of the United States 1952-1954, 1955-1956, quyển XVI, tr. 843-849). Tuy nhiên, theo ông Ngô Đình Luyện xác nhận: Vào thời đó, ông và Quốc Trưởng không tin rằng Pháp sẽ ngăn cản việc ông Diệm thành lập chính phủ. (ông Ngô Đình Luyện đàm luận với tác giả tại Ba Lê vào tháng 9. 1986 và tại Melbourne tháng 4. 1987).
Sau cuộc hội kiến này, Thứ Trưởng Smith đã khuyến cáo Bộ Ngoại Giao Mỹ nên chi thị cho Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Ba Lê tìm cách liên lạc với ông Diệm để thảo luận vấn đề này. Đồng thời, theo lời yêu cầu cùa Smith, Philip Bonsal cũng thông báo cho chính phủ Pháp biết nội dung cuộc gặp gỡ giữa người Mỹ và ông Ngô Đình Luyện.
Đến ngày 24 và 25. 5. 1954, theo chỉ thị của Hoa Thịnh Đốn, Đại Sứ Mỹ tại Ba Lê là Dillon và một số viên chức khác đã đên găp ông Diệm để bàn về việc ông nhận chức vụ thủ tướng. Nhưng sự việc đã xảy ra ngoài dự đoán của Hoa Thinh Đôn và các viên chức Mỹ tại Ba Lê, ông Diệm đã nhận lời mời của Quốc Trường Bảo Đại về làm thủ tướng, mặc dù chưa biết lập trường của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, sau đó, các giới chức Mỹ cũng tán trợ quyết định cùa Quốc Trưởng Bảo Đại và ông Diệm, vì nghĩ rằng không có nhân vật nào khá hơn ông Diệm lúc đó. (Department of State, Foreign Relations of the United States 1952-1954, 1955-1956, quyển XIII, tr. 1608-1609).
Trong khi đó, cơ quan CIA của Mỹ đang dành sự ủng hộ cho Bác sĩ Phan Quang Đán, một người tôt nghiệp tại Đại Học Harvard của Mỹ. Thật vậy, Robert Axnory, Phó Giám Đốc CIA lúc bấy giờ, đã cung cấp một vài dữ kiện khá ngộ nghĩnh về sự liên lạc giữa CIA và ông Diệm, mà ông ta phát âm là Ziem, Theo Amory, khi ông đang dự một dạ tiệc ở nhà Martin Agronsky, Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện William O’ Douglas kéo ông ra một góc phòng và nói với ông: Ông có biết ai là người sẽ giúp ông ở Việt Nam không? Người ấy đang sống ở quốc gia này. Đó là Ngô Đình Diệm. Ông lấy sổ tay và ghi vào là Zim Zim. Sáng hôm sau đến văn phòng, ông Amory yêu cầu các nhân viên phụ trách tiểu sự cung cấp bất cứ những chi tiết nào liên quan đên người có tên là Ngo Zim Zim. Nhưng họ đã không tim được gì cả. Tuy vậy, trong buổi họp sáng hôm sau, ông đã đưa vấn đề ông Diệm ra để thảo luận với Allen Dulles, Giám Đốc của CIA, và Frank Wisner, Phó Giám Đốc đặc trách Kế Hoạch. Sau đó, Wisner đã cứu xét đề nghị này.(xem Oral History Interview with Robert Amory Ở Kennedy Library, tr 59 -60 và William c. Gibbons, 1986, tr. 262).
Các sử liệu trên đây chứng tỏ CIA hoàn toàn không hay biết gì về cá nhân ông Diệm, cho đến khi ông được Quốc Trưởng chỉ định. Như thế, làm sao có thể bảo rằng Hoa Kỳ đã áp lực với Chính Phủ Pháp để đưa Ông Diệm về nước?
Chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam sau Hiệp Định Geneva
Quan điểm của Hoa Kỳ về việc tổ chức chính quyền cho một nước Việt Nam Tự do thời đó gồm 3 tiêu chuân sau đây:
Viêc Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam phải là điều kiện trưóc tiên và quan trọng hơn cả. Hoa Kỳ muốn Pháp phải đôi xử với Việt Nam như một quốc gia độc lập và có đây đủ chủ quyền và Hoa Kỳ cũng sẽ thiết lập các quan hệ ngoại giao với Việt Nam cũng trên những căn bản đó. Chỉ khi nào Việt nam khôi phục được một nền độc lập hoàn toàn, thì những người lãnh đạo của các phe quốc gia mới tranh thủ được ủng hộ của quần chúng với Cộng Sản được. Và chính sự ủng hộ nàỵ sẽ là yêu tô chính yếu tạo nên sự thành công cho các chính quyên của Nam Việt Nam.
Hoa Kỳ ủng hộ ông Diệm trong việc thiết lập một chính quyền đoàn kết quốc gia bao gồm những đại diện của các lực lượng chủ yếu trong sân khấu chính trị của Nam Việt Nam. Sau khi vãn hồi được sự ổn định trên bình diện quốc gia, Diệm triệu tập một Quốc Hội Lập Hiến để soạn thảo một Hiến Pháp nhăm chinh thúc thiết lập một chế độ dân chù và truất quyền của Quốc Trưởng Bảo Đại.
Hoa Kỳ và Pháp sẻ ủng hộ ông Diệm một cách mạnh mẽ.  Người Mỹ cũng ý thức rằng ông Diệm có một số khiếm khuyết về phương diện cá tính, như quá cứng rắn và không có khả năng thông đạt hay tạo nên những sự hấp dần sâu xa trong dân chúng, nhưng dù sao ông Diệm là một người quốc gia không bị tì vết trong quá khứ do sự hợp tác với Cộng Sản hay thực dân Pháp. Theo quan niệm của Mỹ, chính những đặc điểm này của ông Diêm, cộng với việc khôi phục hoàn toàn nền Độc Lập cùng với sự hậu thuần tích cực của Hoa Kỵ và Pháp, cuối cùng Nam Việt Nam sẽ có được một chính quyền chống Cộng hữu hiệu.(Ibid, quyển I, phần VI, tr.6).
Để hổ trợ cho chính sách chính trị này, Hoa Kỳ đã hoạch định một chương trình kinh tế nhằm mục đích lôi cuốn sự ủng hộ của dân chúng cho chính quyền Miền Nam và đồng thời giảm dần ảnh hường của Pháp trong phạm vi kinh tế. Các nhà hoạch định chính sách kinh tế của Hoa Kỳ tin rằng những đồng bào di cư Miền Bấc sẽ tạo nên những ảnh hưởng tốt đẹp trên nhiều bình diện khác nhau. Thật vậy, việc phân phối các vùng đất hoang chưa khai thác cho người di cư lập nghiệp sẽ lôi cuốn được sự hậu thuẩn chính trị của họ dành cho chính quyền. Đồng thời, nó cũng đẩy manh tiến trình đồng hóa giữa dân Miền Bắc và dân Miền Nam. Và sau hết nó dẫn đến sự toàn dụng đất đai, góp phát triển nền kinh tế yếu kém của Miền Nam.
Ngoài ra, chính phủ Hoa Kỳ còn quyết định trực tiếp viện trợ kinh tế cho Việt Nam, thay vì qua trung gian của người Pháp như trước đây, nhằm mục đích làm nổi bật ý nghĩa Độc Lập của chính quyền non trẻ của Miền Nam. Đồng thời giải kết nền kinh tế của Việt Nam khỏi sự khống chế của người Pháp. Theo quan điểm của người Mỹ,  nếu tiếp tục duy trì sự thống trị của người Pháp trên bình diện này, không những sẽ kiềm hảm những nỗ lực phát triển kinh tế của Việt Nam mà còn chống lại nền độc lập mà đất nước này mới thu hồi được. Và xa hơn nữa, nó cũng tạo nên những bất lợi cho những quyền lợi kinh tế của Hoa Kỳ (Ibid)
Về phương diện quân sự, chính quyền Hoa Kỳ cũng muốn đẩy mạnh tiến trình xây dựng một quân đội quốc gia để tiến dần đến việc đàm nhận vai trò bảo vệ an ninh bên trong lãnh thổ. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Hoa Kỳ vẫn phải duy trì viện trợ quân sự cho Lực Lượng Viễn Chinh của Pháp, để Pháp tiếp tục giữ gìn trật tự bảo vệ miền Nam chống lại các cuộc tấn công, nếu có từ phía Hà Nội. Tuy nhiên, mãi cho đến tháng 12.1954, chương trình Mỹ thay thế Pháp trong việc huấn luyện quân sự cho quân đội quốc gia Việt Nam mới thực sự tiến hành được, khi sự mâu thuẫn trong lập trường giữa Bộ Ngoại Giao và Bộ Tham Mưu Liên Quân được giải quyết. (Xem bản tóm lược của Bộ Tham Mưu Liên Quân trình cho Bộ Trường Ọuốc Phòng để ngày 12.8.1954 và điện văn của Bộ Ngoại Giao gời Bộ Trưởng Quốc Phòng ngày 13.8.1954 tại Thư Viện Dwight Eisenhower).
Hoa Kỳ Yêu cầu Pháp Họp Tác
Trong phiên họp của Hội Đồng Anh Ninh Quốc Gia trong tháng 8 cũng yêu cầu chính phủ Ba Lê phải vượt qua những mối liên lạc tình cảm và kinh tế lâu đời của Pháp tại Việt Nam để hoàn thành chính sách mới tại Đông Dương. Có lẽ đây là một đòi hỏi quá nhiều và đầy khó khăn mà Hoa Kỳ đã đặt ra cho người Pháp lúc đó. Thật vậy, các nhà lãnh đạo tại Hoa Thịnh Đốn đòi buộc chính phủ của Tổng Thống Mendès-France phải thực hiện một sự thay đổi mạnh mẽ trong chính sách của Pháp tại Việt Nam. Vì Hoa Kỳ tin rằng chi có biện pháp đó mới thu phục được nhân tâm và sự ủng hộ tích cực của quảng đại quân chúng Việt Nam dành cho chính quyền quốc gia.
Một cách chi tiết hơn, một mặt Hoa Kỳ yêu cầu chính quyền Ba Lê duy trì lực lượng Viễn Chinh Pháp tại Việt Nam. Mặt khác, đòi buộc Pháp rút dần ảnh hường của họ khỏi đời sổng chính trị và kinh tế tại Việt Nam. Đồng thời, các nhà lãnh đạo Toà Bạch Ốc còn đề nghị chính quyền Pháp hợp tác với Hoa Kỳ trong việc thực hiện chương trình của người Mỹ tại Việt Nam. Trong khi đó, trên thực tế giởì hữu trách Pháp tại Ba Lê cùng như  tại Sài Gòn không thực tình ùng hộ cho chính quyền quốc gia do Thủ Tướng Ngô Đình Diệm lành đạo như họ đã cam kết với Hoa Kỳ. Thực vậy, chinh Bộ Trường Các Quốc Gia Liên Kết trong chính phủ Pháp, Guy La Chambre, bày tỏ quan điểm rằng ông Diệm mác phải ba lồi lầm chỉnh yếu sau đày:
Ông Diệm sè chông đối một chính quyền đại diện cho các khuynh hướng chinh trị tại miền Nam. Ngăn càn chương trình cải cách điền địa. Ong Diệm cùng sẽ từ chối việc truất phế Quốc Trưởng Bão Đại để thành lập một chế độ Cộng Hoà.
Do đó, Guy La Chambre kỳ vọng rằng Mỹ và Pháp nên tìm cách thay thế chính phủ Ngô Đình Diệm bằng một chính quyền mới để có thể dành thắng lợi trong cuộc Tổng tuyển cử dự định tô chức vào năm 1956.
Chính vì thái độ bất thân thiện, đôi khi thù nghịch của Pháp đối với chính quỵên Ngô Đình Diệm, đã khiến Hoa Thịnh Đốn phải quyết định dấn thân nhiều hơn trong tiến trình viện trợ kinh tế vậ Quân sự cũng như ủng hộ tích cực về mặt chính trị, để có thể đối đầu với thử thách nghiêm trọng của tình thế lúc đó. (Department Of Defence, United States-Vietnam Relations 1945-1967, quyển 10, phần iv, tr 7).
Lập trường của Pháp
Mặc dù trên nguyên tắc, Pháp chấp nhận giúp Hoa Kỳ trong việc thi hành chính sách của Mỹ tại Việt Nam, nhưng trên thực tế những phương thức mà Hoa Thịnh Đốn hoạch định về kinh tế, quân sự và đặc biệt về phương diện chính trị của Việt Nam được đề ra từ tháng 8.1954 lại đối nghịch với quyền lợi và mục tiêu của Pháp.
Rất tiếc đến nay, vì một số trờ ngại kỹ thuật, người viết chưa thể tham khảo những tài liệu đầu tay của Pháp như các văn kiện và tài liệu liên quan đến chính sách về Việt Nam thuộc về Bộ ngoại Giao, Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại hay Bộ Đặc Trách về Các Quốc Gia Liên Kết của Pháp, đang lưu trữ tại Thư Viện Quốc Gia Pháp tại Aix-En-Province. Do đó, phần nghiên cưú sau đây, người viết phải dựa vào tin tức và tài liệu từ phía Hoa Kỳ.
Theo quan niệm của giới tình báo Hoa Kỳ thời đó, nếu Pháp nhanh chóng trao trả được độc lập cho Việt Nam và khuyến khích một chính phủ do những người có ý thức quốc gia nhiệt thành lãnh đạo thì lòng căm thù và hoạt động chông Pháp trong quần chúng sẽ giảm bớt. Và với sự giúp đỡ kinh tế và quân sự của Pháp, được hổ trợ bởi sự viện trợ của Hoa Kỳ, Việt Nam sẽ dần dần tổ chức được một lực lượng an ninh hữu hiệu, một tổ chức chính quyền vững mạnh và một chương trình dài hạn để cải tổ kinh tế và xã hội.
Nhưng trong thực tế cũng có thể có ba đường hướng khác hoặc là tổng hợp của những phương hướng này sẽ mở ra những căn bản mới cho chính sách của Pháp trong thời hậu Hiệp Định Geneva.
Đó là: Pháp cố gắng duy trì cơ chế Liên Hiệp Pháp, qua đó, mời Pháp gián tiếp kiểm soát guồng máy chính trị Việt Nam, duy trì sự thống trị về phương diện kinh tế hơn là giao trả hoàn toàn Độc Lập cho Việt Nam.
Pháp sẽ cố gắng đạt đến một thỏa hiệp với Hồ Chí Minh, tiến tới việc tổng tuyển cử năm 1956 để đi đến một nước Việt Nam thống nhất trong đó quyền lợi về văn hóa, kinh tể và chính trị của Pháp vẫn được tiếp tục duy trì.
Và sau hết, nếu tình thế trở nên quá tồi tệ đến mức không còn hy vọng gì nưã, Pháp sẽ quyêt định rút hết tất cả những sự ủng hộ về quân sự, kinh tế và hành chánh dành cho Đông Dương (Department Of Defence, United States-Vietnam Relations 1945-1967, quyển 10, phần iv, tr 4)
Ngoài ra, các giới chức ngoại giao Mỹ tại Hoa Thịnh Đốn cũng như ờ Ba Lê cũng tỏ vè nghi ngại về viễn tượng của một sự hợp tác được hình thành giừa Ba Lê và Hà Nội. Sự thiếu thân thiện và thiêu ủng hộ nhiệt tình cho chính phủ Ngô Đình Diệm cua Pháp đà củng cố thêm mối lo lắng này của Tòa Bạch Ổc.
Đại Sứ Mỳ tại Ba Lê, Dillon nghĩ ràng Mendes-Frances cùng tìm thấy tình hình chính trị lúc bay giờ qủa là một môi trường lý tưởng để trắc nghiệm phần căn bản trong triết lý chính trị sống Chung Hòa Bình do Pháp chủ trương. Và chính phù Pháp ngày càng cố gắng khai thác tình thế và cứu xét một chính sách mang hai miền Nam Bắc xích lại gần nhau. Pháp luôn nhấn mạnh đến viêc thi hành nghiêm chình Hiệp Định Geneva, một bằng chứng cho chính sách hòa giải này cùa chính quyền Ba Lê. Đại Sứ Dillon còn tiên đoán rằng Pháp sẽ chấp nhận kết quả chung cuộc của cuộc Tổng Tuyển Cử tổ chức vào năm 1956, dù kết qủa đó không công bằng đi nưã. Chính phủ Pháp gởi Jean Sainteny đến Hà Nội, để thương thỏa với Hà Nội nhằm bảo vệ các quyền lợi kinh tế và thương mại của Pháp tại Bắc Việt. Cũng nên nhắc lại rằng Sainteny là người có mối liên lạc thân hữu với Hồ Chí Minh và cũng là người đã ký với họ Hồ Hiệp Định sơ bộ 6.3.1946 cho phép Pháp đuợc đổ bộ ra Bắc sau Thế Chiến Thứ Hai. Những sự kiện này càng làm cho các giới chức Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm đến diễn biến trong lập trường chính trị của Pháp.
Chính Jacque Raphael-Peygues, một cố vấn trong Hội Đồng Liên Hiệp Pháp và là một thành viên trong Bộ Tham Mưu của Mendès-Frances về Đông Dương đã tiết lộ với Đại Sứ Mỹ Dillon rằng, Sainteny đã thuyết phục chính phủ Pháp rằng Miền Nam Việt Nam sẽ sụp đổ và chỉ còn một phương thế duy nhất khả dĩ thực hiện được để cứu vãn quyền lợi Pháp tại Việt Nam là “chọn con bài Hồ Chí Minh” và ve vãn để lôi kéo Bắc Việt tách ra khỏi quỹ đạo của Cộng Sản Quốc Te. Pháp hy vọng rằng có thể biến Hồ Chí Minh thành một Tito của Việt Nam, một thứ Cộng Sản coi trọng quyền lợi quốc gia hơn là nghĩa vụ Quốc Tê, sẽ hợp tác với Pháp và ngay cả việc liên kêt Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp. Raphael-Leygues còn thêm rằng Pháp muốn trì hoãn việc thi hành các quyết dịnh của Hoa Kỳ nhằm củng cố chế độ Sài Gòn vừng mạnh, đê nhận tiền của Hoa Kỳ tài trợ cho lực lượng Viễn Chinh Pháp bảo vệ Đông Dương, đồng thời quy trách nhiệm cho Hoa Kỳ trong trường hợp mien Nam rơi vào tay Cộng Sản.
Đường lối này của chính phủ Pháp tạo nên nhiều áp lực nặng nề cho tướng Ely, Cao Ưy Pháp tại Sài Gòn, ông phải bay về Ba Lê đòi thủ tướng Mendes-Frances minh xác rõ ràng lập trường của Pháp. Tướng Ely dọa sẽ từ chức, nếu chính phủ Pháp theo đuổi chính sách nước đôi (double game) chơi với cả miền Nam lẫn miền Bắc, mục đích ngồi chờ xem và chi để ùng hộ cho phe nào dành được thắng lợi cuối cùng. Mendès Frances đã phải trân an tướng Ely rằng chính sách của Pháp là hỗ trợ tối đa cho Việt Nam để giúp cho họ chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cừ 1956. Sau những cam kết của chính phủ Pháp, tướng Ely cảm thấy an tâm phần nào và sau đó ông trở về Sài Gòn. Tuy nhiên, sự hậu thuẫn tối đa của Pháp hứa dành cho ông Diệm chẳng bao giờ thành hiện thực.
        Trong bốn giải pháp mở ra cho Pháp như đã nêu trên, chính quyền Ngô Đình Diệm và Eisenhower chỉ có thể chấp nhận giải pháp thứ nhất. Đó là việc trao trả toàn bộ Độc Lập cho Việt Nam. Vì đây là yếu tố nòng cốt và căn bản nhất để thu phục nhân tâm nhàm tạo nên sự phấn khởi trong quảng đại quần chúng để ủng hộ chính quyền quốc gia thành công. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã xem Độc Lập như một nhân tố của sự thành công và là một khởi điểm cho những nổ lực tương lai. Do đó, chính quyền Ngô Đình Diệm và Hoa Kỳ không thể nào chấp nhận để Pháp duy trì sự kiểm soát gián tiếp trong các lãnh vực chính trị, kinh tế và quân sự.
         Còn chính sách hoà giải với Hồ Chí Minh lại càng bị chinh quyền miền Nam và Hoa Kỳ kịch liệt chỉ trích. Mặc dù, lúc đó Hoa Thịnh Đốn cũng chủ trương rằng cần phài xúc tiến những biện pháp ngăn chặn để Bắc Việt khỏi hoàn toàn lệ thuộc vào khối Liên Xô, nhưng Hoa Kỳ chẳng thi hành biện pháp nào khác là duy trì Toà Lãnh Sự Mỳ tại Hà Nội thời dó. Và đặe biệt ngoại trưởng Foster Dulles cũng không tin ràng Hồ Chí Minh trở thành Tito của Á Châu nên ông cương quyết từ chối viêc nói chuyện với họ Hồ. Vì thế Foster Dulles đã quyết định bóp chết mọi hy vọng của Mendès Frances nhằm đem Việt Nam làm một vật thí nghiệm cho chủ trương sống Chung Hoà Bình của Pháp. Và sau hết, Hoa Thịnh Đốn cũng cương quyết đòi buộc chính quyền Balê phải duy trì Lực Lượng Viễn Chinh Pháp để bảo vệ miền Nam cho đến khi quân đội Quốc Gia Việt Nam lớn mạnh.
Nội Tình Chính Trị Việt Nam
         Khi ông Diệm quyết định về nước để đảm nhận vai trò cứu quốc trong một tình thế vô cùng tuyệt vọng lúc đó, ngay cà những người cố vấn thân cận nhất của ông cũng can ngăn. Thật vậy, chính ông Ngô Đình Luyện đã mạnh mẽ khuyên ông Diệm đừng nhận lời mời của Quốc Trường Bảo Đại. Và khi ông Diệm đánh điện về nước yêu cầu ông Ngô Đình Nhu thành lập một ủy Ban Đón Tiếp, ông Nhu đã phúc đáp xin ông Diệm hoãn quyết định về nước trong một vài tháng, để xem xét tình thế lúc đó đang diễn biến hết sức mau lẹ và cho ủy Ban có thời gian chuẩn bị. Nhưng ông Diêm bác bò mọi can gián và cương quyết về nước. Ông tin rằng đây là cơ hội quyết định và cuối cùng, khả dĩ còn lại để ông cứu nước và bảo vệ phần đất miền Nam khỏi rơi vào tay Cộng Sản (ông Ngô Đình Luyện phỏng vấn với tác giả)
       Ngày 19. 6. 1954, ông Diệm chính thức chấp nhận sự ủy nhiệm của Quốc Trưởng Bảo Đại vào chức vụ Thủ Tướng Chính Phủ về nước thành lập nội các. Trong dịp này, Quốc Trường Bảo Đại cũng trao cho ông Diệm một đạo dụ ủy nhiệm cho toàn quyền hành động về hành chánh cũng như quân sự. (Bảo Đại, 1990, tr 515). Ngay sau đó, ủy Ban Đón Tiêp do ông Ngô Đình Nhu thành lập đã cử luật sư Trân Chánh Thành sang Ba Lê, trình bày tóm lược về tình hình Việt Nam lúc đó cho ông Diệm và họp bàn với Ban Tham Mưu của ông Diệm vê chương trình hành động ngay khi Thù Tướng Diệm bước chân xuống Phi Ngày 7. 7. 1954, Thù Tướng Ngô Đình Diệm chính thức trình diện nội các. Với đạo dụ của Quốc Truờng Bào Đai ủy nhiệm toàn quyền hành động về hành chánh và quận sự, trên nguyên tác, Thù Tướng Diệm là người cỏ nhiều quyền hành nhất tại Việt Nam. Nhưng trong thực tế, những quyền hành đó hoàn toàn nằm trên giấy tờ, vị tân Thủ Tướng này chẳng có một quyền hạn nào cà. Thực vậy, Quân Đội Quốc Gia nằm trong tay tướng Nguyễn Văn Hinh, một quân nhân Việt Nam, nhưng mang quốc tịch Pháp và cỏ vợ đầm, thích nói tiếng Pháp hơn là tiếng Việt. Lực Lượng Công An Cảnh Sát được Quốc Trường Bảo Đại đặc nhượng cho Lực Lượng Bình Xuyên điêu khiển. Đây là một băng đảng Mafia Việt Nam được phép khai thác sòng bạc Đại Thế Giới, Trung Tâm Hút Ma Tuý Kim Chung và các nhà mãi dâm tại Sàigòn và Chợ Lớn để lấy lợi tức. Riêng sòng bạc Casino Đại Thế Giới, mỗi ngày Bày Viễn đã giao nộp cho chính phủ của Quốc Trưởng Bảo Đại một triệu đông kê từ đầu năm 1949 (Bào Đại, 1990, tr. 416-417).
         Còn các tỉnh miền Tây, hoàn toàn nam trong sự chi phôi của các lực lượng võ trang của giáo phái Hòa Hào duới quyền của các tướng Trần Văn Soái (biệt hiệu Năm Lừa) và tướng Lê Quang Vinh (biệt hiệu Ba Cụt). Và sau hết, các tinh Miền Đông năm dưới quyền kiểm soát của các lực luợng vũ trang thuộc giáo phái Cao Đài do các tướng Nguyễn Thành Phương và Trịnh Minh Thế cầm đầu ( xem thêm George Me T. Kahin & ed. Governments and Politics in Southeast Asia, 1964, tr. 399- 400)
        Thực tế, lúc đó quyền hành của Thù Tướng Diệm không vượt quá khuôn viên cùa Dinh Gia Long vào những ngày đầu tháng 8. 1954. Ngay cả Lực Lượn

Ts. Phạm Văn Lưu

0 comments:

Post a comment

Bài Xem Nhiều