We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 24 November 2015

Chuyện Việt minh CS khuyến dụ dân miền Nam ‘Tập Kết’

Một Câu Chuyện ‘Tập Kết’
 
 
Chữ ‘Tập kết’ dường như đã được Hồ chí Minh cùng đảng VMCS xử dụng trùng hợp với diễn tiến của Hiệp định Genève năm 1954.
 
Nhóm thủ lãnh đảng (cướp) VM, lúc đó đang trấn giữ ở thị xã Tân trào (Thái Nguyên, miền thượng du Bắc việt); đặc biệt năm 54, trong cuộc thương thuyết bị chi phối bởi các quan thầy cộng sản Xô viết và Trung cộng, nên buộc phải chấp nhận phần đất phia bắc của Vĩ tuyến 17. Trong khi HCM (phe Việt minh) đòi cắt đất từ Vĩ tuyến 13, khoảng giữa hai tỉnh Phan Rang và Phan Thiết; tức đã có sẵn manh tâm muốn chiếm trọn gần 2 phần 3 lãnh thổ!
 
Sự kiện họ Hồ ký kết với Pháp Hiệp định Đình chiến năm 1954, như mọi người VN đều biết, con sông Bến Hải, lúc đó đã bị đem ra làm mốc ranh giới chia cắt giữa hai miền Nam, Bắc.
 
Dư luận được nhiều dịp nghe và đọc hai chữ ‘Tập kết’ trên báo chí và đài phát thanh, truyền hình tại Sàigòn trước năm 75, nhưng cho tới nay hầu như chưa có một tài liệu nào đề cập đến sự kiện này một cách rõ ràng.
 
·       Trong tự điển của soạn giả Nguyễn văn Khôn (1966) chữ “tập kết” được dơn giản diễn tả cho một hành động, hay một sự kiện “tái tập họp, kết hợp lại” (regroup) của một nhóm nguời được dùng cho một mục đích, một kế hoạch đặc biệt đã được soạn thảo. Một trong những thí dụ về chữ “tập kết” được trích ra trong quyển tự điển này như sau: “Anh X tập kết ra Bắc hồi tháng 11 năm 1954…”
·       Theo tài liệu của XHCN VC, có phần giải thích cặn kẽ hơn, tất nhiên theo kiểu VC:
“Tập kết: đgt. (động từ ?)
1)- Tập trung, tụ họp từ nhiều chỗ, nhiều nơi đến nơi quy định để cùng làm một nhiệm vụ: tập kết xung quanh đồn địch kéo pháo đến địa điểm tập kết.
 
2)- (kết hợp hạn chế) (Nói về cán bộ cách mạng hoạt động ở phía nam vĩ tuyến 17, sau Hiệp định Giơ ne vơ 1954) chuyển ra miền Bắc sống và tiếp tục hoạt động: cán bộ miền Nam tập kết.”
 
Căn cứ cách định nghĩa của nhà nước CS Hà Nội, cho thấy trước khi và trong lúc ký kết “Hiệp định Đình chiến” ngày 20-7-54 tại Genève; Hồ chí Minh và đảng VMCS Bắc việt đã có sẵn âm mưu thực hiện một cuôc chiến tranh mới, kế tiếp. Họ Hồ chủ đích không muốn ngưng chiến, như toàn dân trông đợi vào một nền hòa bình thực sự và vĩnh cửu cho đất nước.
 
Trong một đoạn trích dẫn:
“….Tại Băc Bộ phủ Hà N khi Hồ chí Minh quyết định thành lập Mặt Trận Giải Phóng miền Nam’ (MTGPMN) ngày 20-12-1960; đã tuyển dụng hầu hết các nhóm tập kết vào tổ chức mới này.
Chi tiết được ghi nhận:
 
“… cộng thêm với con số 4,500 du kích, cán bộ miền Nam được tập kết (phần đông là thường dân) vào thời gian trước khi Hiệp định Genève ký kết năm 1954; đã được Hồ chí Minh điều động‘tập kết’ ra Bắc để huấn luyện. Số cán bộ tập kết này sau đó sẽ được gửi trở vào trong Nam nắm giữ nhiệm vụ bao gồm: thực hiện các cuộc khủng bố, phá hoại; cộng thêm vai trò đặc công nằm vùng, hỗ trợ cho những cuộc tấn công, pháo kích dự trù trong tuơng lai.”
 
Kể từ năm 1954 và ngay cả dưới thời kỳ hai nền Cộng Hòa tại miền nam, những gia đình, đặc biệt ở các vùng thôn quê hẻo lánh, có con em bị VMCS khuyến dụ, thậm chí bắt cóc, cưỡng ép ngầm đưa ra Bắc để huấn luyện. Thành phần được đưa “đi tập kết”, phần đông trong tuổi thanh thiếu niên. Theo chủ trương của họ Hồ, tức đảng trưởng CSVN, việc ưu tiên vẫn là học tập chính trị; kế hoạch đào tạo cán bộ chú trọng vào “hồng hơn chuyên”. Những cá nhân bị đưa ra Bắc, trước hết được trải qua những lớp giáo huấn để tẩy não; rồi sau đó được học tập, được nhồi nhét lý thuyết CS Mác Lê cùng những tuyên truyền lừa bịp của Hồ chí Minh và đồng bọn. Sau khi được “tập huấn” thuần thục, những phần tử này sẽ được chuyển gừi trở về lại quê cũ ở phía nam Vĩ tuyến 17. Vì vốn sẵn quen biết địa thế nên khi được đưa về địa phương, thành phần “tập kết”, sẽ tích cực giúp cán bộ VC nằm vùng tăng cường hoạt động, hỗ trợ các phần tử thuộc hạ tầng cơ sở; mục đích khai triển các thành tích phá hoại như: giật mìn, pháo kích và tấn công; nhắm vào đồng bào vô tội lẫn lực lượng của chính phủ VNCH tại địa phương.
 
·       HẬU QUẢ SAU KHI VC THẤT BẠI CUỘC TỔNG TẤN CÔNG TẾT MẬU THÂN NĂM 1968:
 
Trước hết xin được trích đăng (3) mấy giòng sau đây, xuất xứ từ một bài thơ của Chế Lan Viên, có tựa đề “Ai? Tôi?”
 
- Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm, còn sống có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó ?
Tôi!……
 
“Với một chất giọng đượm vẻ ‘than thở’, bớt cường điệu như trong mấy câu thơ của thi sĩ họ Chế; là lời thú nhận khá trung thực cho sự thảm bại. Sự kiện này được CS Hà Nội đã cố tình bưng bít, che dấu dư luận sự thất bại của cuộc ‘Tổng tiến công, Tổng khởi nghĩa’ Tết Mậu thân năm 1968. Tài liệu quân sử của cả hai bên đã ghi nhận trận chiến này được đánh giá là một kế hoạch rất quy mô; về phía “Quân đội Nhân dân” được tuyên truyền là “vĩ đại” vì do đích thân Hồ chí Minh “bầy binh bố trận” cùng Đảng CS Bắc việt, Đặc công VC nằm vùng tại miền Nam; thẩy đều cùng “đồng khởi” dốc lòng thực hiện cho kỳ được.
 
Kết cuộc biến cố Tết Mậu Thân, 1968, gây thêm cảnh tang tóc cho hàng vài chục ngàn gia đình đồng bào vô tội tại miền nam dưới Vĩ tuyến 17. Cộng thêm vô số những tội ác VMCS đã từng thực hiện trước kia ở miền Bắc, khởi đầu từ năm 1945. Với chủ trương “đấu tranh giai cấp”, đã đưa đến các cuộc tàn sát trên tổng số hàng vài trăm ngàn sinh mạng. Chủ tịch đảng, Hồ chí Minh, đã ra lệnh cho Võ nguyên Giáp cùng tập đoàn đám cướp cạn VMCS giết người bằng cách ám sát bí mật; tận dụng mọi kỹ thuật hành quyết ám muội vào ban đêm, cho bỏ xác người vào những chiếc rọ hay bó chiếu, rồi đem trôi sông. Điển hình là kế hoạch “đào tận gốc, trốc tận rễ” như cuộc Cải Cách Ruộng Đất (tiếp theo đến chính sách Cải tạo Tư sản, Cải tạo Công thương nghiệp, Nhóm Nhân văn Giai phẩm, Chỉnh đảng chỉnh quân...v..v). Hồ chí Minh nhất quyết nhắm mắt đem áp dụng những kế hoạch “đấu tranh dã man” trên đất nước VN; lúc đó đang được Mao trạch Đông thực hiện tại Hoa lục.”
 
Đấy là ‘sách lược’ của tập đoàn CS quốc tế Nga Hoa, trong mưu toan bành trướng chủ nghĩa CS trên toàn thế giới. Hậu quả đưa đến việc Nguyễn ái Quốc (Hồ chí Minh) đã được “tập huấn” trên bước đường lưu vong để “cứu nước” (!). Kết cuộc sau đó, chủ tịch đảng họ Hồ đã mù quáng, tự tay vác Búa và Liềm về “cứu đồng bào”; qua mưu lược áp đặt cái gông Bắc thuộc Đại hán lần thứ ba (?) lên cổ người dân VN.
 
“Trong đoạn thơ kể trên của Chế Lan Viên, con số ‘2,000 người’ được thi sĩ tác giả đơn cử để làm thí dụ, ước chừng khoảng một Trung đoàn, bao gồm Bộ đội chính quy CS Bắc việt và đặc công VC; Rút cục sau khi chấm dứt kế hoạch, chỉ còn lại được 30 mạng, tức thành phần bộ đội may mắn còn sống sót, chưa đạt tới cấp số một Trung đội!”
 
Sự thảm bại trái ngược hẳn với cái viễn tượng thắng trận “vĩ đại” (Thành công! Thành công! Đại Thành công!) được chủ tịch đảng CSVN miền Bắc, ngóng trông từng giờ, để ‘mừng đón Xuân sang’!
 
Kết cuộc Tết Mậu thân năm 68, là một mùa Xuân bất hạnh, khiến những người dân vô tội ở miền nam bị chêt thảm dưới sự khủng bố và tàn sát dã man của Hồ chí Minh và tập đoàn CS Bắc việt!
 
(Trích đăng)
 
Bác Hồ với Tết Mậu Thân 1968
 
(Tác giả Vũ Kỳ - thư ký riêng của HcM - Ngày cập nhật: 29-02-2008):
 
“Giữa năm 1967, cuộc kháng chiến ‘chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta’ xuất hiện tình thế mới, có lợi cho ta. Tháng 12-1967, Bác Hồ chủ tọa cuộc họp Bộ Chính trị, phân tích tình hình, quyết định mở đợt tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968 để giành thắng lợi quyết định. Sau đó, tháng 1-1968, hội nghị Trung ương lần thứ 14 (khóa III) thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12-1967, khẳng định quyết tâm, mục tiêu và hướng chiến công chiến lược.
 
Từ sau cuộc họp Bộ Chính trị, Bác (HC Minh) chỉ thị cho các cán bộ chỉ huy các chiến trường:
 ”Kế hoạch phải thật tỉ mỉ
Hợp đồng phải thật ăn khớp
Bí mật phải thật tuyệt đối
Hành động phải thật kiên quyết
Cán bộ phải thật gương mẫu”.
 
“Đồng chí Vũ Kỳ - thư ký riêng của Bác - kể lại rằng, Bác đã chuẩn bị thư chúc Tết Mậu Thân 1968 từ độ ba tháng trước. Sáng chủ nhật 31-12-1967, Bác ra Phủ Chủ tịch để đọc ghi âm thư chúc Tết. Chị Trần Thị Tuyết ngâm bài thơ chúc Tết, vừa để Bác nghe, vừa để ghi âm phát lúc giao thừa. Sáng ngày 1-1-1968, Bác gửi Thư chúc mừng năm mới tới toàn thể cán bộ và đảng viên cả nước. Trong thư, Bác “gửi lời chúc mừng đến các nước XHCN anh em, các nước bầu bạn và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đã nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta”; “chúc kiều bào ta ở nước ngoài, năm mới cố gắng mới, tiến bộ mới!”. Đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước, Bác chúc:
“Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”
 
HCM
(Ngưng trích)
 
Những chi tiết do Vũ Kỳ (thư ký riêng của bác!) tiết lộ, đã xác nhận sự láo khoét của một số cán bộ văn nô, bồi bút; lâu nay vẫn cố công chạy tội, đánh bóng cho chủ tướng Hồ chí Minh của họ:
- (i) Mặc dầu ngồi trên ngai vàng “15 năm” mà họ Hồ vẫn “không tham quyền cố vị!!”
- (ii) Bị thủ hạ (Lê đức Thọ và Lê Duẩn…) tước đoạt quyền hành vào mấy năm cuối đời (?) mà trước khi chết một năm (1969) Hc Minh vẫn còn giữ toàn quyền “triển khai” lẫn theo dõi kế hoạch thảm sát Tết Mậu thân 68 tại miền nam, đặc biệt là các vụ chôn sống được kiểm kê tổng cộng gần 6000 xác chết những người dân Huế vô tội!!
 
Hồ chí Minh và đồng đảng CS Bắc Việt tự thú nhận là một bọn khủng bố (Terrorists), anh em đồng chí với băng đảng Khmer Đỏ; hiện nay cả thế giới đang truy xét tội ác trước Tòa án quốc tế, nhằm khai trừ hậu hoạn cho nhân loại!
 
Số tổn thất của “Quân đội Nhân dân” CSVN, được ghi nhận với tổng số trên 35, 774 (3a), ước lượng khoảng 4 Sư đoàn “lính bác hồ”; gồm tổng cộng 4, 5 đợt tổng tấn công, mưu toan chiếm cứ cho được một số thị trấn tại miền Nam VNCH dùng làm bàn đạp cho một số giải pháp chính trị.
 
Ngụy quyền VC Hà Nội không thể chối cãi sự kiện hầu hết hạ tầng cơ sở hoạt động tại miền nam của chúng bị tan vỡ sau âm mưu thử thách vào dịp Tết Mậu thân. Những mạng lưới tình báo, tức thành phần cốt cán VC nằm vùng; điển hình là các tổ đặc công cũng như cảm tình viên, được Trung Ương Cục (Cục R) và MTGP Miền Nam đã phải tốn rất nhiều thời gian và công sức gây dựng.
 
Riêng thành phần nhân sự, con số sống sót đã phải tự động phân tán mỏng, chạy trốn về những cứ điểm được chúng tạm coi là an toàn trong nội địa hoặc khu vực xa xôi ở vùng biên giới Miên Việt.
 
Để thích ứng với hoàn cảnh bị suy xụp. cộng quân đành phải lựa chọn hình thức tấn công lẻ tẻ bằng ‘chiến thuật du kích căn bản’ (hit and run) được xử dụng từ vài thập niên trước. Chú trọng vào các vụ phá hoại bằng mìn và lựu đạn nhắm vào các đơn vị quốc gia và thường dân vô tội; Hầu duy trì sự hiện diện và hoạt động của chúng, giúp tái lập tinh thần chiến đấu trong hàng ngũ cán binh bộ đội CS Bắc việt và VC.
 
 
Một trong những cuộc khủng bố được Việt cộng tổ chức sau biến cố Tết Mậu Thân, 1968, đáng kể nhất là vụ phá hoại, gài mìn tại Quân Trường Thủ Đức, khoảng 12 cây số phía Đông Bắc Sàigòn. Nội vụ gây tử thương cho 18 người, gồm: 16 SVSQ Khóa sinh và 2 SQ Huấn luyện viên cộng thêm con số 33 người bị thương tích (3b). Địa điểm do VC bí mật đặt mìn, xẩy ra tại Cổng số 9 (tức cổng sau của quân trường), là con đường chạy xuyên qua Trường Bộ Binh, nối tiếp từ Cổng Chính thuộc khu chợ Nhỏ. Cổng số 9 là hiện trường đẫm máu, do du kích VC nằm vùng (?) đặt mìn phá hoại. Sự kiện này đã xẩy ra vào ngày 18 Tháng Giêng năm 1970, tính đến nay đã được đúng nửa thế kỷ!
 
Vài tuần lễ sau vụ nổ mìn xẩy ra, một cuộc Hành quân Hỗn hợp được tổ chức quy mô. Thành phần tham dự bao gồm một số đơn vị cấp Đại Đội (ĐĐ) Địa phương quân của Tiểu khu Gia định và đơn vị trực thuộc Biệt khu Thủ đô (BKTĐ) Sàigòn; cùng một đơn vị của lực lượng Mỹ đồn trú tại BKTĐ (CMD = Capital Military District Of Saigon-Cholon).
 
Mục đích cuộc hành quân nhằm truy lùng số VC nằm vùng (các toán đặc công) còn xót lại, sống lẩn lút với dân cư địa phương, tại một số Xã, Ấp tiếp giáp ven Trường SQ Trừ bị Thủ Đức.
 
*  *  *
 
Do biến cố Tết Mậu Thân, tôi đươc gọi nhập ngũ khóa 2/68 Trường Bộ Binh Thủ Đức.
 
Sau thời gian huấn luyện vỏn vẹn có 6 tháng, khi ra trường tôi được phân phối về phục vụ tại Đại Đội/330 Trinh sát. Đơn vị lúc đó đang đảm trách giữ an ninh cho Yếu điểm Lê văn Duyệt tức Biệt khu Thủ đô, Sàigòn (trước có tên là Quân Khu TĐ).
 
Kế hoạch hành quân ấn định, ĐĐ/330 Trinh sát, nhận lãnh trách nhiệm làm thành phần ngăn chặn. Với vai trò nút chặn, Đại đội lo dàn trải một tuyến ngang khúc lộ tráng nhựa; nơi phát xuất nhiều con đường mòn dẫn vào các làng xã trong vùng hành quân.
 
Phòng tuyến bao gồm phía trước mặt và bên cánh phải tiếp giáp những rặng dừa cao và giẫy tre xanh, là cánh đồng lúa khô. Sau vụ gặt, mặt ruộng khô, trơ ra những kẽ nứt nẻ chằng chịt trông giống như mạng nhện. Đây đó còn xót lại những gốc dạ chiều cao ngang đến khoảng đầu gối.
 
Một đêm trôi qua được ghi nhận là yên tĩnh, ngoại trừ vài tiếng súng thỉnh thoảng nghe vọng lại từ phương hướng đang có sự hiện diện của lực lượng bạn.
 
Trước 12 giờ trưa, đơn vị rút lui ra con lộ chính; sau đó nhận lệnh di chuyển về hướng đồi Tăng nhơn Phú, nơi tọa lạc quân trường Thủ đức. Trung đội do tôi phụ trách được chỉ thị ngừng lại ở bên đường, khoảng chừng hai cây số, gần đến cổng số 9; địa điểm bị đặc công VC đặt mìn phá hoại trước đó vài tháng.
 
Tôi đứng dưới bóng cây theo dõi một nhóm gồm vài thường dân, đàn ông lẫn đàn bà, được một toán lính của Chi khu hướng dẫn từ con đường làng đi ra.
Lúc đó đã vào khoảng giữa trưa.
 
Mặt trời vừa đứng bóng. Ánh nắng chói chang quét trên đỉnh đầu. Nhóm thường dân bấy giờ đã được đưa ra tới mé lộ; kẻ đứng, người ngồi thay nhau lấy khăn lau mồ hôi.
 
Sau một hồi quan sát, tôi khoát tay kêu người linh tà loọc lại gần, khẽ nói:
- “Này, cậu cầm bi-đông lại cho bà cụ kia uống miếng nước; rồi kêu bả lại đây ngồi cho đỡ nắng.
 
Không hiểu sao tôi không thích cách xưng “mày, tao” với những người lính dưới quyền. Trong số SQ thuộc Đại đội Trinh sát, đơn vị tôi đang phục vụ lúc đó, của Biệt Khu Thủ đô (10/68 – 7/70), chỉ có Đại đội trưởng, Trung úy Thuận và tôi, là dân Bắc kỳ; cả hai đều cùng có thói quen kêu lính bằng ‘cậu’, và họ cũng ít khi bị nghe tiếng “Đan Mạch” phát ra từ cửa miệng cấp chỉ huy trực tiếp….
 
Chợt có người tiến lại trước mặt tôi, chào và lên tiếng:
- “Thiếu úy cho kêu tui?
 
Nhận ra được Trung sĩ Ban 2 Chi khu, tôi đáp:
- “Không! Tôi kêu tên tà-loọc này đem lại cho ‘bà cụ’ ngồi kia miếng nước.
 
Viên Hạ sĩ quan mở to mắt, nhìn tôi cười lộ vẻ ngạc nhiên:
- “Không phải dzậy đâu Thiếu úy! Coi bộ dzậy chớ trong giấy tờ, tuổi của chị ta mới có ba mươi mấy à.
- “Uả! Tôi trông ... như cỡ 4 mươi hay 5 mươi gì đó! Tình nghi sao Trung sĩ ??
- “Dzà, cũng không hẳn dzậy. Hơi có chút trục trặc lý lịch, nên phải đưa về Chi khu để thẩm vấn. 
 Nguyễn Ngọc Tùng

0 comments:

Post a comment

Bài Xem Nhiều