We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 18 January 2015

Sếp Nhật... đúng là thằng dở hơi!



KHI NÀO NGƯỜI VIỆT BIẾT TỰ TRỌNG VÀ KỶ LUẬT NHƯ NGƯỜI NHẬT thì đất nước mới khá?!

--------------

Sếp Nhật... đúng là thằng dở hơi!


Đang vội nên tôi vượt đèn đỏ và bị công an tuýt còi. Theo bản năng, tôi nhấn ga vọt lên. Công an thấy tôi chạy thì cũng không đuổi theo nữa. Tưởng là xuôi, ai ngờ thằng Nhật ấy chửi tôi, nó nói rằng vượt đèn đỏ và bỏ chạy là phạm luật. Rồi nó bắt tôi quay xe lại chỗ công an nộp phạt đàng hoàng xong mới đi tiếp. Đúng là thằng dở hơi!
Công ty tôi vừa có một tên người Nhật sang làm dự án trong khoảng 3 tháng, và tôi được giao nhiệm vụ lái xe cho hắn. Lâu nay toàn lái xe cho các sếp Việt Nam, giờ lần đầu tiên được lái cho sếp Nhật nên tôi thấy hứng thú lắm! Tôi tức tốc ra vỉa hè mua quyển sách “Tự học tiếng Nhật cấp tốc” về để nghiên cứu. “Mình lái xe cho sếp Nhật thì cũng phải biết vài ba câu giao tiếp tiếng Nhật chứ!”. 

Từ khi mua sách về, tôi nghiên cứu và tự học rất miệt mài, gần như không lúc nào tôi rời quyển sách (chỉ trừ lúc ăn cơm, lúc tắm, lúc ngủ, lúc xem tivi, lúc đi chơi và đi làm). Bởi thế, hôm gặp sếp Nhật tôi tự tin lắm, chủ động bắt tay rất thân thiện và chào hỏi "cực kỳ" trôi chảy bằng tiếng Nhật:

– Mi đua ku ra, ta xoa ku mi!

Có vẻ như tên Nhật đó không hiểu tôi nói gì thì phải, hắn lắc đầu ngơ ngác rồi hỏi lại:

– Xoa ku ta chi? Ngu chi cho xoa, xa ku ta ra, xoa ku mi đi!

Tất nhiên là tôi cũng không hiểu hắn nói gì, vậy nên cuối cùng cả hai quyết định sử dụng tiếng Anh, dù rằng trình độ tiếng Anh của tôi và hắn cũng bập bẹ ngang nhau, nhưng may là vẫn đủ để đoán được ý mà đối phương đang muốn diễn đạt.

Một điều khá thú vị đó là tên sếp Nhật này lại nói được vài câu tiếng Việt, không phải “xin chào”, “cảm ơn” – như mấy ông ngoại quốc, mấy chị đại sứ nước ngoài nào đó hay nói bọ bẹ trên tivi đâu, mà là những câu dài hẳn hoi, kiểu như: “Cấm ăn cắp vặt, ăn cắp vặt là phạm tội!”, hoặc “Vui lòng ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêu, ăn không hết sẽ bị phạt tiền”, rồi cả “Không được dắt chó vào công viên này, nếu chó ị ra phải tự mang phân chó về”… Tôi nghe tên sếp Nhật ấy nói mấy câu đó thì ngạc nhiên và khen hắn giỏi quá! Nhưng hắn chỉ cười mỉm rồi cất giọng đầy khiêm tốn:

– Giỏi gì đâu! Ở bên Nhật, mấy câu đó viết đầy trong siêu thị, nhà hàng, công viên, nhìn nhiều nên quen, nên nhớ thôi!

Một cảm giác tự hào chợt dâng trào trong lòng tôi nghẹn ngào. Tự hào là phải, bởi lâu nay người ta luôn coi tiếng Anh, tiếng Trung là hai ngôn ngữ phổ biến và được sử dụng nhiều nhất trên thế giới, nhưng bây giờ, tiếng Việt đang trỗi dậy và nhăm nhe lật đổ sự thống trị của hai thứ tiếng ấy. Giờ, đi ra nước ngoài, không chỉ ở Đông Nam Á, Châu Á, mà cả Phi, Mĩ, Úc, Âu, đâu đâu ta cũng có thể bắt gặp những dòng chữ tiếng Việt thân thương, dù rằng chúng được viết nguệch ngoạc, sai chính tả, thiếu dấu, thiếu vần, trên những tấm ván, tấm bìa nham nhở, lấm lem, nhưng chỉ vậy thôi cũng đủ để chúng ta cảm thấy nao lòng.

Ban đầu hào hứng bao nhiêu thì sau đó tôi chán nản bấy nhiêu. Người đời dạy rằng: “Thà có một kẻ thù giỏi còn hơn có một ông chủ dở hơi”, quả là không sai. Trước đây, khi lái cho các sếp cũ thì phải 8 rưỡi, 9 giờ sáng tôi mới phải đánh xe đến đón các sếp, rồi chở sếp qua quán phở ăn sáng, xong uống café, đến công ty cũng đã là gần 10 giờ. Sếp làm việc đến 11 giờ thì lại chở sếp đi ăn trưa, uống bia, 3 giờ chiều đưa sếp quay lại công ty rồi 4 rưỡi đón sếp về, thế là xong. Những lúc sếp ăn uống, nhậu nhẹt thì thường là sếp gọi tôi vào ngồi cùng. Nếu hôm nào sếp tiếp khách sang, không được gọi vào, thì tôi lại ra xe ngả ghế xuống ngủ rất thảnh thơi.

Thế nhưng chỉ sau hai tuần làm lái xe cho thằng sếp Nhật dở hơi, tôi trở nên phờ phạc, rã rời. Đúng 6 rưỡi sáng tôi phải dậy chuẩn bị xe qua đón nó. Theo quy định của công ty thì 7 rưỡi mới là giờ làm việc nhưng chỉ khoảng 7 giờ 15 là nó đã có mặt và chui vào phòng làm việc luôn. Ngày trước đi với các sếp cũ tôi thường xuyên được các sếp cho ăn sáng, ăn trưa, uống bia, gái gú, hát hò, chứ từ ngày lái cho thằng Nhật này tôi toàn phải nhịn đói, vì sáng tôi đến đón nó thì nó đã ăn sáng xong rồi, trưa nó ăn qua quýt ngay tại phòng bằng đồ ăn nhanh rồi lại cắm đầu vào làm việc, tối nào nó cũng ngồi lại công ty đến 7, 8 giờ, vậy nên tôi cũng phải ngồi chờ nó với cái bụng đói meo và khuôn mặt bơ phờ.

Chưa hết, nhiều lần đang đi, nó bắt tôi dừng xe lại, rồi nó mở cửa xe chạy vụt ra. Tôi tưởng nó đi tè nhưng không phải, hóa ra nó nhặt cái vỏ bao cám con cò về để may túi xách.

Đặc biệt có lần tôi chở nó đi công chuyện, vừa đánh lái ra cổng thì tôi quệt ngay vào cái xe đạp cũ nát của ai đó dựng ở mé đường làm chiếc xe đạp đổ kềnh, cái yên xe gẫy gập và văng ra. Tôi đang định phóng đi thì thằng sếp Nhật bắt tôi dừng lại, rồi nó mở cửa phi ra. Nó dựng cái xe đạp lên ngay ngắn, móc ra tờ 500 nghìn rồi kẹp vào tờ giấy, để vào giỏ cái xe đạp, trên tờ giấy nó nhờ tôi viết hộ rằng: “Tôi vô tình làm gãy yên xe của bạn. Hãy cầm tiền này để sửa xe, và hãy tha lỗi cho tôi”.

Hôm sau, cũng đúng lúc đánh lái ra cổng, tôi lại quệt vào cái xe đạp cũ nát đó. Lần này thì cái yên không văng ra nữa mà là cái bàn đạp. Thằng Nhật lại nhảy xuống, dựng xe lên, bỏ 500 nghìn vào giỏ xe rồi để lại mảnh giấy: “Tôi vô tình làm gãy bàn đạp của bạn. Hãy cầm tiền này để sửa xe, và hãy tha lỗi cho tôi”.

Hôm sau nữa, cũng đúng lúc đánh lái ra cổng, tôi lại quệt vào cái xe đạp đó. Lần này thì cái yên và cái bàn đạp không văng ra nữa mà là cái chắn xích. Tuy nhiên, hôm đó không có thằng Nhật đi cùng mà chỉ có mình tôi trên xe, vậy nên tôi phóng thẳng. Đang định nhấn ga lao đi thì từ bên đường, một mụ già lao ra chặn ngay đầu xe tôi, mụ vừa dang hai tay, vừa gào thét:

– Thằng chó! Dừng lại đền tiền sửa xe cho bà đi chứ! Tại sao hôm nay mày lại bỏ chạy?!

Tôi nghe vậy thì mở cửa, thò đầu ra bảo:

– Thôi đi bà ơi! Cái xe của bà bán cho đồng nát chắc được hai chục! Hôm nay có mình tôi thôi, thằng Nhật không đi cùng đâu! Nghỉ sớm đi!

Rồi một lần khác, đang vội nên tôi vượt đèn đỏ và bị công an tuýt còi. Theo bản năng, tôi nhấn ga vọt lên. Công an thấy tôi chạy thì cũng không đuổi theo nữa. Tưởng là xuôi, ai ngờ thằng Nhật ấy chửi tôi, nó nói rằng vượt đèn đỏ và bỏ chạy là phạm luật. Rồi nó bắt tôi quay xe lại chỗ công an nộp phạt đàng hoàng xong mới đi tiếp. Đúng là thằng dở hơi!

Lái xe cho thằng Nhật hâm ấy một thời gian thì tôi đã hiểu được tính cách của nó. Đi đường thấy cái vỏ bao cám con cò nào vứt bên đường thì tôi tự giác dừng lại cho nó xuống nhặt; chẳng may có quệt vào xe cộ hay đồ đạc của ai gây hư hỏng thì tôi cũng tự giác dừng lại để nó xuống trả tiền bồi thường; có lỡ quen chân vượt đèn đỏ hay đi ngược chiều thì cũng tự giác vòng xe ra chỗ mấy anh công an để nộp phạt.

Hôm ấy, thằng sếp Nhật bảo tôi ra sân bay đón một thằng Nhật khác. Cái thằng Nhật này mặt cứ lầm lì, từ lúc lên xe nó không nói với tôi câu nào. Tôi cũng chả quan tâm mà chỉ tập trung vào lái xe. Tập trung là thế, ấy vậy mà qua ngã tư tôi lại quen chân vượt đèn đỏ, và lại bị công an tuýt còi. Tôi đang giảm tốc độc và cho xe chầm chậm táp vào lề bên phải theo hiệu lệnh của anh công an giao thông thì bất chợt thằng Nhật đó hét lên, và nó hét bằng tiếng Việt:

– Mày dừng lại làm cái gì! Chạy luôn đi! Đường đông thế này công an không đuổi theo đâu!

– Em tưởng anh là người Nhật? – Tôi hỏi hắn bằng giọng thảng thốt!

– Tao là người Nhật, nhưng tao sống ở Việt Nam mấy chục năm rồi! Chạy nhanh lên!

khuân về từ otofun, không rõ tác giả.
(Theo Blog Phọt Phẹt)

CHỦ ĐỀ 40 NĂM-KÝ ỨC: Khủng bố Việt Cộng.



Khủng bố !


Vụ khủng bố tấn công vào tòa soạn của tờ báo trào phúng tại thủ đô Paris nước Pháp khiến 12 người chết và 5 người phải vào bệnh viện làm rúng động dư luận thế giới. Các cơ quan thông tấn, các tờ báo lớn đều tràn ngập tin và bài vở về sự kiện đầy bi thương này. Rõ ràng bọn khủng bố này đã trực diện tấn công vào sự tự do ngôn luận của những người dân tại các quốc gia dân chủ, tự do trên thế giới.

Cả thế giới vào năm 2001 đã kinh hoàng khi lũ khủng bố tấn công bằng thủ đoạn tàn bạo nhất đã làm cho hai tòa tháp đôi tại New York của Hoa Kỳ phải sụp đổ và kéo theo cái chết của cả nghìn người đang làm việc tại đây. Cả thế giới đểu hết sức bàng hoàng và căm phẫn trước hành động man rợ này.
 
Thế nhưng, cả dân tộc Việt Nam trong cả mấy thập kỷ nay triền miên bị lũ khủng bố Việt Cộng chà đạp bằng những hành vi tàn bạo, dơ bẩn, bất nhân, khốn nạn nhất mà những tên khủng bố của thế giới đều ngả mũ chào thua trước hành động của bè lũ khủng bố Việt Cộng. Cứ quay lại quá khứ cũng như hiện tại để điểm lại sự khủng bố đốn mạt của bè lũ khủng bố Việt Cộng.
 
Trước năm 1975, người dân miền Nam đang họp chợ, lũ khủng bố Việt Cộng chạy xe gắn máy ngang qua tung lựu đạn vào người dân khiến những người thường dân đang mua bán phải bị chết và bị thương. Đây là hành động thường xuyên của lũ khủng bố Việt Cộng.
 
Ban đêm, người dân miền Nam tại các thành phố lớn đang ngủ ngon giấc, lũ khủng bố Việt Cộng pháo kích bừa bãi vào thành phố gây nên cảnh nhà sập, người chết máu đổ thịt rơi. Những việc này là việc làm thường xuyên của bè lũ khủng bố Việt Cộng.
 
Vào ban đêm, bè lũ khủng bố Việt Cộng ra đào đường đặt mìn. Những chiếc xe đò chở khách buổi sáng chạy ngang qua trúng mìn nổ lật tung, người chết và bị thương vô số kể. Những việc làm này là việc làm thường xuyên của bè lũ khủng bố Việt Cộng.
 
Đến thời điểm bây giờ, bè lũ khủng bố Việt Cộng còn tàn độc và ác ôn hơn nhiều trong thời chiến tranh. Người dân mà bị bắt vào đồn công an là bị bè lũ khủng bố Việt Cộng đánh không chết thì bị thương. Có người khi vào mạnh khỏe, chỉ sau mấy tiếng đồng hồ đã trở thành xác chết. Việc làm này là việc làm thường xuyên của bè lũ khủng bố Việt Cộng.
 
Những vụ cưỡng chiếm ăn cướp của bè lũ khủng bố Việt Cộng đã làm cho biết bao nhiêu người bị trắng tay trở thành dân oan, có người còn bị tù tội oan uổng vào tay của bè lũ khủng bố ăn cướp Việt Cộng này.
 
Tóm lại, những tay khủng bố hiện nay của Hồi Giáo dù có tàn độc bao nhiêu cũng không thể nào bằng bè lũ khủng bố Việt Cộng.

16/01/2015
 Phi Vũ

----------------- 

Đôi lời kính gởi quý bạn đọc và quý diễn đàn trước khi vào Bản Tin :
Cuộc tấn công dã man nhằm sát hại toàn ban biên tập viết và vẽ Charlie Hebdo, luôn cả quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm ở giữa Paris, thủ đô nước Pháp, càng làm chúng tôi nhớ đến Hà Nội, Huế, Sài Gòn bị tạm chiếm, nhớ đến Việt Nam bị đày đọa khổ nhục, mất hết nhân phẩm và nhân quyền. Chúng tôi nói ‘’Chúng ta đều là Charlie’’ vì Anh Chị Em, thay vì cầm bút, lại đang đeo còng số 88 nổi tiếng thế giới của đảng xã hội đen mang cờ đỏ sao vàng và búa liềm. Anh Chị Em bị đánh đập tàn nhẫn giữa ban ngày, bị bắt cóc, bị biệt giam hầm tối, bị bịt miệng, bị tước đoạt tiếng nói ngay trên quê hương thân yêu của mình. (LTS LHNQVN-TS)
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
                                             Bản Tin Liên Hội Nhân Quyền Việt Nam ở Thụy Sĩ
 
                                                    Chúng ta đều là Charlie

alt
                                  Hãy đem tiếng nói của các bạn góp vào tiếng nói của chúng tôi *
 
Chúng ta đều là Charlie, những người bạn và đồng nghiệp của chúng ta đã bị ám sát. Các nhà văn và nhà báo của chúng ta đang bị bắt làm con tin khắp nơi trên thế giới. Đừng quên mà hãy nhớ đến Anh Chị Em đó. Họ là những người chuyên chở ước mơ và phiêu lưu của chúng ta, họ còn là nhân chứng cho những thực trạng nhân loại. Họ bị gây hấn, tra tấn, cầm tù, bị bắt cóc, ám sát hoặc bị đày ải, bắt buộc lưu vong chỉ vì họ đã viết thành văn hoặc nói nên lời. Họ bị bịt miệng, tước đoạt tiếng nói. Và một loại kiểm duyệt tối hậu : giết chết tác giả nào mà ngôn ngữ, bài ca tiếng hát và các tranh vẽ đã gây tỉnh thức xã hội. Theo Văn Bút Quốc Tế, trong vòng một năm, có hơn ba mươi vụ ám sát nhà văn và nhà báo. Chúng ta vẫn nhớ rằng ngày 2 tháng Mười Một năm 2013, tại nước Mali, lòng dạ thiếu khoan dung và đầu óc cuồng tín mù quáng đã gây ra cái chết bi thảm và đau đớn cho hai bạn đồng nghiệp của chúng ta, bà Ghislaine Dupont và ông Claude Verlon, phóng viên cộng tác với đài phát thanh Pháp quốc tế (RFI). Từ ngày hai nhà báo bị sát hại, máu không ngừng đổ, cái chết vẫn xảy đến cho các đồng nghiệp khác. Và các cây viết, đủ loại và bút chì tiếp tục bị tịch thu, bị bẻ gãy và bị đày ải. Nhà văn và nhà báo, nhứt là phóng viên, bị giết chết nhưng thủ phạm sát nhân không bị trừng phạt trong rất nhiều trường hợp.
Vì vậy chúng ta hãy phẫn nộ, hãy biểu tỏ sự đoàn kết với tuần báo Charlie, với các nhà văn và nhà báo – những người mang ánh sáng thông tin chống lại bóng tối của bạo lực đe dọa, của bọn đồng lõa và kẻ đớn hèn. Chúng ta hãy cùng nhau cất cao tiếng nói, dù có thể uất nghẹn, thắp lên một ngọn nến, dù mong manh, để xua đi màn đêm băng giá của tính thờ ơ vô cảm, nỗi im lặng sợ hãi và thói đời quên lãng.
Chúng ta hãy góp lời cầu nguyện cho tất cả nạn nhân của cuộc tấn công dã man và tội ác nhằm sát hại tuần báo Charlie, luôn cả quyền tự do phát biểu và thể hiện quan điểm. Chúng ta hãy bày tỏ niềm thương cảm và thành thật chia buồn với thân nhân tang quyến, cùng bạn hữu và những đồng nghiệp sống sót trong cuộc thảm sát này.
Genève ngày 8 tháng Giêng năm 2015
Nguyên Hoàng Bảo Việt
Phó chủ tịch Trung tâm Văn Bút Thụy Sĩ Pháp thoại (Ủy Ban Nhà Văn bị cầm tù).

NGƯỜI Ở LẠI HOÀNG-SA : Một nén hương lòng dâng lên những anh hùng tử sỹ !.

NGƯỜI Ở LẠI HOÀNG-SA


Người Việt Nam không bao giờ quên những Người ở lại Hoàng Sa


Kẻ tiểu nhân gọi anh là “ngụy”
Nhưng sự thật có phải thế không ?
Đúng là lời của kẻ bất công
Đem vu vạ cho người quân tử
Ngụy thì phải bán nước hành dân
Ấy vậy mà anh nào làm thế ?
Có những kẻ giả vờ tử tế
Đem tấc biển dâng cả ngoại xâm …
Có những kẻ luôn sẵn dã tâm
Mồm hòa giải mà tay làm bạc đãi
Đừng có tin Cộng nô hối cải
Chỉ còn đường quét sạch mà thôi !
Trên đời này nhiều kẻ khoe mẽ
Ta anh tài nón cối rép râu
Ấy vậy mà chạy dài Trung cộng
Lấy nghĩa hèn tô đậm hư danh,
Sao không nhướng đôi mày mở rộng
Xem Văn Thà vị quốc vong thân
Có như thế mới hay chân giả
Mới biết đời gian trá làm sao
Xin ông trời mãi tận trên cao
Chứng cho lòng những người làm lính
Chứng cho những vong linh uất hận
Trả cho người tên gọi mến yêu …
Hãy trả lại tên cho anh – Những người lính Quốc gia anh dũng !
(Vô đề Buồn 5 – Sài Gòn 16/09/2011)
Từ nhỏ, khi còn học trong ngôi trường chủ nghĩa xã hội, tôi cũng giống như bao đứa trẻ khác đã phải học thuộc lòng những từ ngữ mà chúng tôi chẳng hiểu mô tê gì cả. Nào là “ngụy quân, ngụy quyền”, nào là “Mỹ, Diệm, Thiệu kìm kẹp người dân” vv và vv…Lớn lên, tôi đã có thời gian và tri thức cho một cuộc tìm hiểu thật sự. Từ chỗ yêu thích một nền âm nhạc đầy nhân văn và cảm xúc với những bản nhạc mà người ta quen gọi là “nhạc vàng”, tôi đã cất công đi tìm hiểu về cái gọi là “ngụy” mà cộng sản đã gọi. Kết quả đã cho thấy, tôi đã không phải tiếc công tìm hiểu để thấy rằng đảng cộng sản Việt Nam đã vu cáo hoàn toàn cho chế độ dân chủ tại Miền Nam. Chính vì vậy tôi đã viết bài viết “Những sự thật cần phải biết “ – phần 2 – Việt Nam Cộng Hòa , nạn nhân của chính sách ngậm máu phun người. Và bài thơ Vô đề Buồn 5 ở trên cũng là những tâm sự chân tình của tôi, một người sinh ra trong chế độ cộng sản, sống từ nhỏ với cộng sản tri ân tới những người lính Việt Nam Cộng Hòa(VNCH) đã hi sinh cả cuộc đời mình cho tự do dân chủ, cho chính nghĩa Dân tộc và cho Quốc gia Việt Nam. Vì vậy tôi đã gọi những người lính VNCH là những Anh Hùng. Họ đã vị quốc và vong thân trong oanh liệt. Cuộc chiến năm 1975 không phải là cuộc chiến mà họ đã thua mà là họ đã thắng trong lòng người dân Việt dù cho một trận chiến cuối cùng họ đã không thể chiến thắng vì không còn súng đạn để chiến đấu.
Trong vô vàn những trận đánh để lại những vết son của những người lính VNCH thì trận Hải Chiến Hoàng Sa đã để lại những dấu ấn chẳng thể nào phai trong lòng người dân Miền Nam nói riêng và cả Dân Tộc Việt Nam nói chung. Và cho đến ngày hôm nay, những người dân đang sống trong chế độ cộng sản độc tài cũng đã nhớ tới những người lính đã anh dũng hi sinh vì biển đảo quê hương bất chấp sự cấm đoán của bè lũ độc tài bán nước. Những người dân Việt Nam nhớ tới những Ngụy Văn Thà và đồng đội, đơn giản bởi vì họ là những Người ở lại Hoàng Sa !
Nhạc sỹ Trần Thiện Thanh đã từng viết về Trung Tá Nguyễn Đình Bảo với tác phẩm nổi tiếng “Người ở lại Charlie”. Nhưng có một Charlie khác, không phải là Cao Nguyên nắng gió mà là Charlie tại Hoàng Sa. Và những người lính VNCH đã hi sinh trong ngày đầu năm 1974 để cố gắng gìn giữ biển đảo quê hương đó cũng xứng đáng được ca ngợi. được tri ân và được ghi ơn vì họ đã nằm lại muôn đời với biển khơi. Nơi đó, họ đã trở thành những anh hùng bất tử. Họ đã ở lại Hoàng Sa !
1.Tóm lược Hải chiến Hoàng Sa, 19/01/1974.
Có lẽ chúng ta không ai không biết đến diễn tiến của cuộc hải chiến Hoàng Sa năm 1974. Đã có nhiều tài liệu và sách vở nói về sự kiện này. Nhưng trong bài viết này, tác giả vẫn phải tóm lược lại những điều mà mình được nghe, được đọc để người đọc có thể thấy được những điều quan trọng của trận đánh. Đồng thời thấy được sự anh hùng của những người lính hải quân VNCH đã “vị quốc, vong thân” và không bao giờ quên “Tổ Quốc – Danh Dự – Trách Nhiệm”.
Từ cuối năm 1973, lợi dụng việc VNCH đang phải đối đầu với cộng sản Việt Nam trên bộ thì Trung Cộng đã có nhiều động thái muốn xâm lược Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mặc cho VNCH đã nhiều năm xác lập chủ quyền chính đáng trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.
Hải Quân Đại Tá Hồ Văn Ngạc đang viết trên Bia Chủ Quyền Việt Nam tại đảo Trường Sa năm 1973
Hải Quân Đại Tá Hồ Văn Ngạc đang viết trên Bia Chủ Quyền Việt Nam tại đảo Trường Sa năm 1973
Trước thái độ Hải quân Trung cộng hung hăng lấn sát biển Hoàng Sa khiêu khích Hải Quân VNCH, Chính phủ VNCH đã đánh ngay giặc Tàu trên biển Hoàng Sa theo tinh thần của tiền nhân Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo vv…
Sơ đồ trận hải chiến theo Tài liệu Hải chiến Hoàng Sa.
Sơ đồ trận hải chiến theo Tài liệu Hải chiến Hoàng Sa.
Dựa trên Hồi ký của các cựu Hạm trưởng Vũ Hữu San và Lê Văn Thự đều cho biết tàu Việt Nam Cộng Hòa khai hoả bắn vào tàu Trung cộng xâm lược.
Ông Lê Văn Thự, cựu Hạm trưởng HQ16, nhớ lại: “Chiều ngày 18/1/1974, khoảng 6 giờ, đại tá Ngạc gọi máy cho tôi và ra lệnh cho tôi chỉ huy HQ10, bằng mọi giá phải đổ bộ cho được toán người nhái lên đảo Quang Hòa… Đến tối ngày 18/1/1974, máy truyền tin bị Trung Cộng phá rối tần số, không liên lạc được. Tôi không thể gọi đại tá Ngạc, HQ 4 hay Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng I Duyên Hải. Tôi chỉ liên lạc được với HQ 10 bằng máy PRC 45 là loại máy truyền tin mang sau lưng, chỉ liên lạc được trong vòng 10 hải lý. Sau khi nhận lệnh, tôi nghĩ chỉ còn cách đổ bộ toán người nhái vào ban đêm may ra mới lên được đảo; nhưng chưa chắc toán người nhái đã vào trót lọt được vì có thể tàu Trung Cộng theo dõi và liên lạc chỉ điểm cho người của họ chốt trên đảo canh chừng để bắn khi người nhái của ta vào bờ… Vì thế, muốn thi hành lệnh của đại tá Ngạc, tôi nghĩ chỉ còn cách là phải tiêu diệt tàu Trung Cộng trước rồi mới tính chuyện đổ bộ người nhái lên đảo sau”.
Ông Thự kể rằng lúc này phía Trung cộng điều thêm hai tàu nữa. Ông liền gọi cho thiếu tá Ngụy Văn Thà, Hạm trưởng HQ10, để bàn kế hoạch. Theo đó, HQ10 và HQ16 sẽ rời xa các đảo trong đêm, tắt hết đèn thắp sáng trên tàu để địch không nhìn thấy mục tiêu; vào sáng sớm sẽ tiến vào vùng lòng chảo bên trong cụm đảo Lưỡi Liềm để tấn công chiến hạm Trung cộng.
Sáng sớm 19/1/1974, các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa tiến vào vùng lòng chảo giữa cụm đảo. Theo hồi ức của Hạm trưởng San, lúc bấy giờ bốn tàu chiến của Trung cộng mang các số hiệu 389, 396, 271 và 274 xông ra nghênh chiến. Lúc 6 giờ 48 phút, lực lượng đổ bộ bắt đầu được khai triển: toán Biệt hải trên HQ 4 đổ bộ mặt nam đảo Quang Hòa, toán Hải kích trên HQ 5 đổ bộ mặt tây nam đảo. Khi tiến vào đảo, họ đã bị quân Tàu núp trong công sự bắn ra. Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đáp trả bằng súng phóng lựu M.79 và tiểu liên M.16. Cuộc cận chiến trên đảo khiến trung úy Lê Văn Đơn và một thành viên tên là Long của toán Hải kích tử trận, 2 thành viên khác bị thương. Toán Biệt hải cũng bị lực lượng Trung cộng khá đông uy hiếp. Đến khoảng 9 giờ 30, trước tình hình bất lợi, các lực lượng đổ bộ rút về tàu, mang theo những người bị thương và thi thể người tử trận. Như vậy, nỗ lực đổ bộ giành lại quyền kiểm soát tại đảo Quang Hòa của Việt Nam Cộng Hòa đã không hoàn thành.
Cũng theo tường thuật trong sách của cựu Hạm trưởng Vũ Hữu San và tác giả Trần Đỗ Cẩm, từ 10 giờ 17 cho tới 10 giờ 24, các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa di chuyển chiến thuật để lập một vòng cung phía tây đảo Quang Hòa. Phân đội bắc gồm HQ16 và HQ10 di chuyển tới hướng tây bắc đảo Quang Hoà, phân đội nam gồm HQ 5 và HQ 4 di chuyển tới phía tây đảo. Bốn tàu Trung cộng liền bám theo sau.
Sơ đồ trận hải chiến theo Tài liệu Hải chiến Hoàng Sa.
Sơ đồ trận hải chiến theo Tài liệu Hải chiến Hoàng Sa.
Trận hải chiến chính thức khởi sự vào lúc 10 giờ 22 phút sáng 19/1/ Theo Hạm trưởng Vũ Hữu San, sau khi mệnh lệnh tác xạ của đại tá Hà Văn Ngạc được truyền đi từ trung tâm chỉ huy đặt trên HQ 5, tất cả các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa đồng loạt nổ súng vào tàu hải quân Trung cộng.
“Lúc bấy giờ, tôi đứng trên đài chỉ huy với Hạm trưởng San, nghe có lệnh bắn truyền xuống, ông hạm trưởng hét: ‘bắn!’ Đồng thời ổng điều chiếc tàu chạy quanh quanh để tránh đạn. Ngay thời khắc đầu tiên, do bị bất ngờ nên quân Trung cộng thiệt hại nặng”, 40 năm sau cuộc chiến, ông Lữ Công Bảy, hạ sĩ quan giám lộ tàu HQ 4, kể lại.
Do mục tiêu nằm trong tầm bắn nên các loại súng pháo 20 ly và 40 ly bắn rất hiệu quả, theo sách Tài liệu Hải chiến Hoàng Sa của Vũ Hữu San và Trần Đỗ Cẩm. Về hải pháo, các khẩu 76 ly của HQ 4 và 127 ly của HQ 5, HQ 16 có tốc độ bắn chậm hơn trong khi tàu Trung cộng nhỏ bé và di chuyển rất linh động thành ra rất khó ngắm trúng mục tiêu. Trong các chiến hạm của Việt Nam Cộng Hòa, chỉ có hải pháo của HQ 4 là điều khiển bằng điện; còn lại đều là hệ thống quay tay khá cổ điển nên việc “bắt chết mục tiêu” gặp nhiều trở ngại. HQ 10 là chiến hạm nhỏ nhất và chỉ còn một máy chính hoạt động nên xoay trở rất khó, giàn ra đa lại bị hỏng nên bị rơi vào nguy khốn.
“Lúc đó chính mắt tôi thấy rõ ràng chiếc tàu bên trái của Trung cộng bị dính đạn. Một cụm lửa bùng lên rất to. Chiếc tàu mất hẳn trên màn hình ra đa. Có lẽ nó chìm tại đó luôn. Chiếc còn lại thì đâm đầu vô đảo chứ không dám rượt theo mình”, ông Bảy kể. Nhưng phía Việt Nam Cộng Hòa cũng chịu tổn thất không ít. Chỉ khoảng sau 10 phút tham chiến, HQ 10 đã bị loại khỏi vòng chiến. “Qua bộ đàm, bạn tôi là Vương Thương báo cáo HQ 10 trúng hai phát đạn pháo của Trung cộng, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà tử trận và hạm phó bị thương. Anh em trên đài chỉ huy HQ 10 toàn bộ đều bị thương hoặc chết. Sau đó thì không thể liên lạc được nữa, chắc bên đó không còn ai giữ truyền tin liên lạc”.
Ba chiếc tàu còn lại của Việt Nam Cộng Hòa cũng bị dính đạn Trung cộng, trong đó nghiêm trọng nhất là HQ16 bị trúng một quả đại bác vào hầm máy phải, nước tràn vào khiến tàu nghiêng hẳn. Lúc bấy giờ, do Trung cộng phá sóng truyền tin tầm xa, nên việc liên lạc giữa tàu và Đà Nẵng là bất khả thi. Các tàu chỉ có thể liên lạc với nhau bằng PRC25 khi ở khoảng cách ngắn hơn.
Sau hơn 30 phút kể từ khi tàu Hải quân Việt Nam Cộng Hòa khai hỏa đánh Hải quân Trung cộng, tình trạng lúc này là phía Việt Nam Cộng Hòa có một tàu bị bắn cháy, nhiều chiến sĩ tử trận hoặc bị thương. Chiến hạm HQ16 và HQ5 hư hại khá nặng, HQ4 cũng dính đạn nhưng còn hoạt động được. Phía Trung cộng có một tàu bị bắn cháy, phần lớn các tàu còn lại hư hại nặng nề, tổn thất về quân lính thì phía hải quân Trung cộng không thể kể cho hết.
Theo tài liệu Hoàng Sa, Lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa của chính phủ VNCH cũng như hồi ký của cựu Hạm trưởng HQ 4 Vũ Hữu San, đại tá Hà Văn Ngạc, chỉ huy trưởng chiến dịch trên biển, và một số chiến sĩ tham dự trận hải chiến cho hay trận hải chiến kết thúc vào lúc khoảng 11 giờ trưa 19/1/1974. Khi đó thì hải quân Trung cộng đang gửi thêm tàu tiếp viện, gồm tàu chiến cao tốc Komar trang bị hỏa tiễn mua của Liên Xô trước đó. Trước tình huống vũ khí VNCH yếu thế hơn và phía Hoa Kỳ với hạm đội 7 đang trú đóng gần đó không hề có bất cứ động thái yểm trợ nào, bất lợi về phía Việt Nam Cộng Hòa. Chính phủ VNCH đã ra lệnh triệt thoái các tàu còn lại về Đà Nẵng. Toàn bộ quần đảo Hoàng Sa rơi vào tay giặc Tàu cộng, trưa ngày 19/1/1974.
Mặc dù kết thúc cuộc hải chiến , quân lực VNCH nói chung và hải quân VNCH nói riêng đã mất đi một số người lính anh hùng. Sự chênh lệch về lực lượng và phương tiện đã không cho phép những người lính VNCH có thể chiến thắng trước đối thủ hung hãn, hơn hẳn về phương tiện vũ khí và được yểm trợ tối đa. Nhưng đổi lại, tinh thần chiến đấu của họ đã còn lưu lại mãi mãi trong lòng người dân Việt Nam cho đến muôn đời. Họ đã làm cho phía Trung Cộng thiệt hại nặng nề cả về vũ khí lẫn quân lính. Những người anh hùng đã chiến đấu trong trận hải chiến ngày 19/01/1974 xứng đáng được vinh thăng và trân trọng. Một trong số Họ đã anh dũng ở lại Hoàng Sa !
2. Việt Nam Cộng Hòa phản đối Trung Cộng, Cộng sản Việt Nam hân hoan chúc mừng giặc
Sau sự hi sinh anh dũng của hạm trưởng Ngụy Văn Thà và đồng đội thì chính quyền VNCH đã lên tiếng một cách mạnh mẽ những hành động ăn cướp của Trung Cộng. Điều này cũng minh chứng rằng một khi để nói là VNCH là tay sai của Mỹ, là bán nước, là Ngụy quân, ngụy quyền thì phải có bằng chứng rõ ràng. Một điều chúng ta có thể thấy rõ ràng tại sao một chế độ bị vu cáo là “ngụy” lại anh dũng chống trả quân thù Trung cộng cướp nước còn CHXHCNVN lại “tri ân” giặc Tầu như cách mà Phùng Quang Thanh, Nguyễn Tấn Dũng hay Nguyễn Phú Trọng và cả bè lũ cộng sản đang ngày đêm ca ngợi, để mặc ngư dân bị đánh đập ngay trên biển đảo quê hương mình? Ai là “Ngụy” thì có lẽ thực chất bạn đọc cũng tự tìm cho mình câu trả lời rồi. Những bức ảnh này là minh chứng hùng hồn nhất thay cho cả vạn lời nói ai mới thật sự là “ngụy” bán nước cho giặc Tầu:
hs005hs006hs007hs008
Người dân VNCH và Hoàng Sa
Người dân VNCH và Hoàng Sa
Trái ngược lại với chính phủ VNCH và những người lính VNCH đã anh dũng bảo vệ biển đảo quê hương thì những kẻ tự nhận mình là “thống nhất, giải phóng” đất nước lại ngang nhiên bán biển đảo cho giặc.
Cần phải nhớ lại một chuỗi lịch sử bán HS-TS của CSVN như sau. Ngay sau khi tuyên bố của Trung cộng về việc HS- TS là của Trung Cộng thì Phạm Văn Đồng lúc đó là thủ tướng Việt Nam Dân Chủ cộng hòa (VNDCCH) thừa lệnh Hồ Chí Minh (Xem: “Những sự thật không thể chối bỏ” – Phần 2) đã tiến hành việc đưa ra công hàm ký ngày 14/9/1958. Công hàm này có nội dung như sau:hs010
Công hàm này ngoài ra thời điểm đó còn được các tờ báo Nhân dân thời điểm đó đưa tin (Báo nhân dân là cơ quan ngôn luận của Đảng cộng sản Việt Nam). Đây là hình ảnh của Báo nhân dân đã đưa tin về sự kiện này:hs011
và ngay sau đó thì sáng ngày 21.9.1958, Nguyễn Khang, Đại sứ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại Trung Quốc, đã gặp Cơ Bàng-phi, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và đã chuyển bức công hàm của Phạm Văn Đồng đến Chu Ân Lai.hs012
Trước đó, năm 1956, Ung Văn Khiêm, nhân tiếp phái đoàn ngoại giao Trung Cộng, Thứ Trưởng bộ Ngoại Giao CSVN đã tuyên bố với Lý Chí Dân, tham tán sứ quán Trung Cộng tại Việt Nam: Chiếu theo tài liệu Việt Nam thì HS và TS thuộc về Trung Cộng.
Lê Lộc, Chủ Tịch Châu Á Sự Vụ, nhân có mặt cũng nói vào: Theo sử liệu VN thì HS và TS thuộc Trung Cộngh từ thời nhà Tống. Sự việc này tạp chí Beijing Review ngày 18 tháng Hai năm 1980 đã có đăng lại trong bài “Chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc trên các đảo Tây Sa và Nam Sa”.
Năm 1977 cựu Thủ tướng Phạm Văn Đồng giải thích quan điểm của ông ta về công hàm này như sau: “đó là thời chiến nên phải nói như vậy thôi”.
Sau đó Nguyễn Mạnh Cầm, nguyên Bộ Trưởng bộ Ngoại Giao, trong một cuộc họp báo tại Hà Nội ngày 2 tháng 12 năm 1992 nói như sau: “Các nhà lãnh đạo của ta lúc trước xác nhận về Hoàng Sa và Trường Sa như vậy là do theo hiệp định Genève năm 1954 về vấn đề Đông Dương thì tất cả lãnh thổ từ vĩ tuyến thứ 17 trở vào Nam là thuộc chính quyền miền Nam, kể cả hai quần đảo này.”.
Cũng chính vì bán nước cho giặc theo tinh thần và Hồ Chí Minh nên các đảng viện cộng sản Việt Nam đã hoàn toàn im lặng trước cuộc xâm lăng của giặc Tầu năm 1974. Thay vì lên tiếng phản đối giặc tấn công Hoàng Sa thì đảng cộng sản lại đồng thuận với giặc Tàu, coi những người lính VNCH là những kẻ thù địch, nhận giặc Tàu làm cha mẹ. Điều đó được minh chứng bằng lời phát biểu của GS Hà Văn Thịnh khi ông này trả lời phỏng vấn đài RFA: “Hồi đó tôi học năm thứ nhất Trường Đại Học Tổng Hợp Hà Nội. Nói thực là ông Hoàng Tùng khi đó, tôi không nhớ rõ thầy giới thiệu như thế nào, nhưng mà thầy giới thiệu là các em hôm nay – 180 sinh viên Khoa Sử – Đại Học Tổng Hợp Hà Nội nghe ông Hoàng Tùng – Ủy viên Trung Ương Đảng, Tổng biên tập báo Nhân Dân, hay là Ban tư tưởng Trung ương gì đó, chức vụ tôi không nhớ, nhưng mà ông Hoàng Tùng nói chuyện về lịch sử thì ông có nói chuyện Hoàng Sa”.
Ông Hoàng Tùng nói nguyên văn thế này: “Vì ta bận đánh Mỹ, không có thời gian và chưa đủ khả năng để giải phóng Hoàng Sa nên nhờ bạn Trung Quốc giải phóng. Sau này mình thống nhất đất nước rồi phía bạn sẽ trả cho mình.”.
Thế hệ cộng sản trước đã vậy, thế hệ cộng sản ngày nay cũng không có gì khá hơn. Họ đã vô ơn trước những anh hùng tử sỹ Hoàng Sa để “tri ân” giặc Tầu. Trong bản tuyên bố chung 8 điểm “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Trung Quốc – Việt Nam” ký kết ngày 21/06/2013 giữa Tập Cận Bình tổng bí thư đảng cộng sản Trung Quốc và Trương Tấn Sang chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, ban lãnh đạo Trung Quốc chắc hẳn biết rằng giấc mộng xâm chiếm Việt Nam của Mao Trạnh Đông không còn bao lâu nữa sẽ thành sự thật.tts_khomlung
Để đền đáp “công ơn” hiểm độc trên của Trung Cộng, Phùng Quang Thanh đại tướng ủy viên BCT / TW đảng, bộ trưởng bộ quốc phòng thay mặt đảng, quân đội Nhân Dân Việt Nam khẳng định tại buổi họp mặt kỷ niệm ngày thành lập Giải Phóng Quân Trung Quốc tại Bộ Quốc Phòng Việt Nam ngày 28/7/2012 như sau:
“… Chúng tôi luôn trân trọng, ghi nhớ và mãi biết ơn sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa, to lớn có hiệu quả mà đảng, Chính phủ, nhân dân và Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã dành cho Việt Nam…”
Thay mặt cho nhà nước Cộng Hòa Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Nguyễn Thiện Nhân phó Thủ Tướng chính phủ, trong lần chủ trì “Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc – Hội Hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc” tại Hà Nội ngày 10/07/2012 đã chỉ thị: “Hội hữu nghị Việt Nam -Trung Quốc sẽ tổ chức các hoạt động tri ân các cá nhân, tổ chức và địa phương Trung Quốc, xuyên suốt trong 5 năm, sau đại hội này…”
Tiêu biểu cho tư tưởng chiến lược của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, Trần Đăng Thanh đại tá phó giáo sư – tiến sĩ, nhà giáo ưu tú, thuộc học viện Chính trị Quốc Gia Bộ Quốc Phòng trong một buổi giảng bài tại Trường Cao đẳng Cộng đồng Hà Tây ngày 19/12/2012 đã phân tích: “… Trong 4 năm kháng chiến chống Pháp, 21 năm chống Mỹ, nhân dân Trung Quốc, nhà nước Trung Quốc đã từng nhường cơm xẻ áo dành cho chúng ta từ hạt gạo, từ khẩu súng, từ đôi dép để chúng ta giành thắng lợi trong kháng chiến chống Pháp và thắng Mỹ. Như vậy ta không quên họ đã từng xâm lược chúng ta nhưng ta cũng không được quên họ đã từng nhường cơm xẻ áo cho chúng ta. Ta không thể là người vong ơn bội nghĩa, đấy là đối với Trung Quốc hai điều không được quên…”.
Chưa hết, Nguyễn Phú Trọng mới đây đã hùng hồn tuyên bố :“Tôi đã nhiều lần nói ta với TQ là láng giềng, phải ăn đời ở kiếp với nhau, xúc đất đổ đi được không? Ta giữ được độc lập chủ quyền, nhưng cũng phải giữ cho được chế độ, bảo đảm cho được Đảng lãnh đạo, môi trường hòa bình ổn định để xây dựng, phát triển đất nước, giữ cho được quan hệ hòa hiếu với các nước, trong đó có TQ”.
Trơ trẽn hơn nữa, trong buổi triều kiến đối với Du Chính Thanh thì thủ tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng còn nói cho rằng: “Mối quan hệ truyền thống hữu nghị, vừa là đồng chí vừa là anh em do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông cùng các thế hệ lãnh đạo cách mạng hai nước dày công xây dựng và vun đắp là tài sản quý báu của hai dân tộc, đòi hỏi hai Đảng, hai nước đều phải trân trọng và gìn giữ “…
Rõ ràng, trong khi những người lính VNCH đã anh dũng chiến đấu với giặc Tầu thì đảng cộng sản Việt nam lại bán nước cho Tầu. Đảng cộng sản cũng đẩy những người lính của chính họ vào cõi chết khi đảng khóa tay họ không cho nổ súng vào giặc Tầu mà chính tướng cộng sản Quách Hải Lượng và Lê Đức Anh đã phải thừa nhận. Đến đây, một lần nữa ai là “Ngụy” và ai là “Quân Tử” thì người đọc chắc chắn đã sáng tỏ hoàn toàn !
3. Người ở lại Hoàng Sa và trách nhiệm của chúng ta hôm nay
Những cái tên như : Ngụy Văn Thà, Vương Thương, Phan Ngọc Đa, Võ Văn Nam, Trần Văn Thọ, Nguyễn Văn Tuấn, Vũ Văn Bang vv.. đã nằm lại trong lòng biển sâu. Họ đã sống ngay thẳng, chết anh dũng vì đất mẹ. Và họ đã được biển quê hương ôm ấp, che chở cho linh hồn của những người con sống chết vì dân tộc. Thân xác Họ đã ở lại Hoàng Sa, nhưng tinh thần của những người lính VNCH thì còn sống mãi cùng hành trình đi đòi công lý cho cả một dân tộc bị bàn tay độc tài của CSVN và bàn tay Bành Trướng của Hán tặc đè nén.
Sự hi sinh của những người lính VNCH trong trận hải chiến năm 1974 đã không hề vô nghĩa. Mặc cho đảng cộng sản Việt Nam phủ nhận công lao của những người lính VNCH dưới chiêu trò “ngậm máu phun người” thì có một thực tế không thể chối bỏ là trong thời điểm Trung Cộng đưa giàn khoan HD 981 vào vùng biển Việt Nam. Đồng loạt các báo chí cộng sản đã phải cho đăng tải những bài viết về những anh hùng VNCH đã ngã xuống trong trận hải chiến oai hùng đó. Lần lượt những tờ báo Thanh Niên, Dân Trí, Giáo Dục vv… của cộng sản Việt Nam đã phải lên tiếng về cái gọi là “tính chất khốc liệt” của trận hải chiến. Báo Dân Trí trong bài viết của mình ngày 29/05/2014 đã có đoạn:” Mẹ già, con thơ, kinh tế gia đình đang khó khăn… nhưng anh Nguyễn Hoàng Sa vẫn sẵn sàng gạt hết mọi lo toan, hăng hái đăng ký ra Hoàng Sa, cùng các chiến sĩ, ngư dân bảo vệ mảnh đất nơi cha anh đã ngã xuống trong trận hải chiến 1974”.
Vâng ! Cho đến ngày hôm nay thì chính những báo chí của cộng sản bạo quyền đã phải thừa nhận những người lính VNCH đã hăng hái chiến đấu như thế nào. Đó chính là những cái tát vào những bộ mặt của cộng sản Việt Nam khi họ vẫn ngày đêm tuyên truyền ra rả về cái gọi là “ngụy quân, ngụy quyền”
Bốn chiến hạm của quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã tham dự trận hải chiến Hoàng Sa bảo vệ lãnh thổ vào năm 1974. Chiến hạm HQ-10 trúng đạn vào pháo tháp bị chìm tại trận, chiến hạm HQ-16 bị hư hại nặng nghiêng 15 độ, chiến hạm HQ-5 và HQ-4 bị hư nhẹ. Gần 50 thủy thủ và hạm trưởng Ngụy Văn Thà của HQ-10 tử vong. Ngoài ra HQ-5 có 3 quân nhân tử vong và 16 bị thương.
Bốn chiến hạm của quân lực Việt Nam Cộng Hòa đã tham dự trận hải chiến Hoàng Sa bảo vệ lãnh thổ vào năm 1974. Chiến hạm HQ-10 trúng đạn vào pháo tháp bị chìm tại trận, chiến hạm HQ-16 bị hư hại nặng nghiêng 15 độ, chiến hạm HQ-5 và HQ-4 bị hư nhẹ. Gần 50 thủy thủ và hạm trưởng Ngụy Văn Thà của HQ-10 tử vong. Ngoài ra HQ-5 có 3 quân nhân tử vong và 16 bị thương.
Tờ báo Dân Trí còn trích dẫn bà Nguyễn Thị Lựa – một góa phụ 40 năm thờ chồng là tử sĩ Nguyễn Thành Trọng (một trong 74 tử sĩ Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974) sống tại ấp Thới Khánh, xã Tân Thạnh, huyện Thới Lai TP Cần Thơ : “Cách nay đúng 40 năm, chồng tôi và các chiến sĩ khác không thể chấp nhận hành động xâm chiếm Hoàng Sa của Trung Quốc nên đã chiến đấu quyết giành lại mảnh đất giữa trùng khơi của Tổ quốc. Dù trận chiến ấy thất bại nhưng cho thấy rằng, từ đời nào chúng ta đã không nhân nhượng, quyết chiến đấu đến cùng để bảo vệ lãnh thổ của đất nước”…
Vâng! Những người như tử sỹ Nguyễn Thành Trọng đã ngã xuống, đã dùng máu mình tô thắm màu cờ Vàng của dân tộc. Họ đã hi sinh không hề vô nghĩa vì chính sự hi sinh ấy đã là động lực cho thế hệ chúng ta và con cháu chúng ta phải chiến đấu hết mình vì quê hương Việt Nam. Chúng ta sẽ phải sống sao cho xứng đáng với những sự hi sinh của những người lính VNCH nói chung, của những anh hùng Hải chiến Hoàng Sa nói riêng và cả những người vợ, người em, người con, người anh … của họ.
Và chúng ta xin hãy đừng vô cảm, nhạc sỹ Việt Khang và Trần Vũ Anh Bình đã kêu gọi chúng ta “Giờ đây Việt Nam còn hay đã mất. Mà giặc tàu ngang tàng trên quê hương ta. Hoàng Trường Sa, đã bao người dân vô tội. Chết ngậm ngùi vì tay súng giặc tàu…”. Chúng ta phải đứng lên dù bất cứ giá nào vì Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam. Nơi đó có những linh hồn của tử sỹ trong trận Hải chiến năm 1974, của cả những người bộ đội cộng sản đã đặt niềm tin nhầm địa chỉ, của những người ngư dân bị giặc Tầu giết hại. Nơi đó, có trái tim của Mẹ Việt Nam đang mong chờ đàn con thu non sông về với Mẹ.
Và một điều quan trọng, rất quan trọng, muốn hóa giải công hàm Phạm Văn Đồng, muốn đất nước Việt Nam không còn là một sân sau của giặc Tầu thì chẳng còn cách nào khác là chúng ta phải đứng dậy để dẹp bỏ chế độ cộng sản Việt Nam vẫn đang ngày đêm đem từng tấc đất của Cha ông để dâng cho giặc. Chúng ta không được phép quên rằng chúng ta đã có những Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt trong quá khứ thì ngày nay chúng ta cũng có những Nguyễn Thành Trọng, Ngụy Văn Thà vv…Chính vì vậy, chúng ta không thể nào cho phép giặc Tầu tiếp tục đàn áp người dân Việt Nam thông qua bàn tay của CSVN. Chúng ta phải đứng lên noi gương những người tử sỹ Hoàng Sa năm 1974. Vì họ là những anh hùng ! Họ đã anh dũng ở lại Hoàng Sa !
Một nén hương lòng dâng lên những anh hùng tử sỹ Hoàng Sa !.
Đặng Chí Hùng
 08/01/2015
Nguồn: Thời Mới Canada.

-----
 Những bài thơ cho Hoàng Sa!


Hoàng Sa Hải Chiến 19/1/1974!

Hỡi bao chiến sĩ Việt Nam ơi

Tổ quốc linh thiêng vẫn gọi mời

Hoàng Sa tĩnh lặng, nay dậy sóng

Hận buổi non sông đỏ bóng thù!

Đảo thiêng tổ quốc đã ngàn năm

Cớ sao lũ giặc lại xâm lăng?

Từng đoàn kình ngư tràn sóng nước

Tiến về đất mẹ, đảo xa xăm!

Hải quân anh dũng, hỡi các anh

Biển khơi hải chiến, biết khó thành

Cán cân tàu chiến chênh vênh quá

Vị quốc vong thân, cũng vẫn đành!

Khai pháo hiên ngang trước quân thù

Lửa từ đại pháo khạc liên tu

Soái hạm Tàu Ô chìm sâu đắm

Biển mẹ bình minh nhận xác thù!

Xác anh chìm xuống giữa biển xanh

Lẫn xác quân thù, nhuốm máu tanh

Giấc mộng đồ vương, ôi Đại Hán!

Bạch Đằng ghi dấu, lại quên nhanh!

Mãnh hổ gian nan trước quần hồ

Áo anh màu trắng, loang đầy máu

Đổ xuống hôm nay để điểm tô

Giang sơn gấm vóc, mảnh cơ đồ!

Hoàng Sa hải chiến vọng thiên thu

Hộ tống hạm ta, khiếp quân thù

Nhật Tảo xung trận, không lùi bước

Chìm sâu đáy nước, còn vang danh!

Nguỵ Văn Thà ơi, hỡi các Anh

Thù nhà, nợ nước, chí hùng anh

Bảy tư chiến sĩ mang hồn nước

Rạng danh muôn thưở với sử xanh!

Hoàng Hạc

Máu lệ Hoàng Sa! :HẢI QUÂN/VNCH ANH DŨNG CHỐNG QUÂN XÂM LĂNG TRUNG CỘNG





Tưởng Niệm 40 năm Hoàng Sa!

Bốn mươi năm trước, ngày này
Biển Đông dậy sóng, Hoàng Sa kiêu hùng
Giặc Tàu nhung nhúc trong vùng
Việt Nam chiến đấu, chiến công vang lừng
Nhìn bao chiến sĩ anh hùng
Bỏ thây trên biển, uất hờn tràn dâng
Việt Nam trong thế không cân
Thù trong, giặc biển, muôn phần hiểm nguy
Dẫu sao chiến đấu đến cùng
Bỏ thây trên biển, đền nghì nước non
Các anh Anh Dũng tiếng còn
Còn quân bán biển Công Hàm cộng nô
Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ:
Việt Gian bán biển tiếng nhơ
Bán luôn đất nước, lưu danh Lũ Hèn!!!

Hoàng Hạc
(19/1/2014)

HẢI QUÂN VIỆT NAM ANH DŨNG CHỐNG QUÂN XÂM LĂNG TRUNG CỘNG TẠI QUẦN ĐẢO HOÀNG SA
Trích từ tài liệu “Thế Giới Lên Án Trung Cộng Xâm Lăng Hoàng Sa Của Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa” do Cục Tâm Lý Chiến – Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị – Quân Lực VNCH ấn hành năm 1974.
Chiều ngày 15-1-1974, một ghe đánh cá Trung Cộng chở người đến cắm cờ và dựng lều trên Đảo Cam Tuyền (Robert) thuộc Quần Đảo Hoàng Sa. Tuần-dương-hạm Việt Nam Cộng Hòa dùng quang hiệu đuổi họ rời khỏi đảo nhưng vô hiệu.
Sáng ngày 16-1-1974, lực lượng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa (HQ/VNCH) hoạt động trong vùng Quần Đảo Hoàng Sa ghi nhận 2 chiến đĩnh Trung Cộng chạy chung quanh Đảo Duy Mộng (Drummond).
Sáng ngày 17-1-1974, chiến sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa được lệnh đổ bộ lên Đảo Vĩnh Lạc (Money), tìm thấy trên đảo này có 4 ngôi mộ người Trung Hoa. Ngoài ra, HQ/VNCH ghi nhận thêm một chiến hạm của Trung Cộng di chuyển quanh Đảo Cam Tuyền. Chiều ngày 17-1-1974, 31 đoàn viên HQ/VNCH có võ trang đổ bộ lên đảo Cam Tuyền nhưng chỉ tìm thấy một lá cờ Trung Cộng và một bản đồ ghi bằng chữ Trung Hoa. Trong khi đó, HQ/VNCH ghi nhận có 2 chiến hạm của Trung Cộng neo tại phía Nam Đảo Cam Tuyền nhưng sau đó 2 chiếc tàu này đã nhổ neo di chuyển đi nơi khác. Vào chiều tối cùng ngày, 2 chiến hạm Trung Cộng xuất hiện từ hướng Đảo Quang Hòa (Duncan) di chuyển đến Đảo Cam Tuyền (Robert) và dùng quang hiệu yêu cầu các tàu của ta rời khỏi hải phận của họ (?). Lúc 19 giờ 40 phút cùng ngày, một phi cơ lạ bay ngang qua chiến hạm HQ 4 của HQ/VNCH rồi bay về hướng Đông Nam mất dạng. Qua hôm sau tình hình không có gì đột biến ngoài việc các chiến hạm Trung Cộng không ngừng khiêu khích.
Đến ngày 19-1-1974, Trung Cộng có 14 chiến hạm đủ loại trong khu vực Quần Đảo Hoàng Sa, kể cả 4 phi-tiễn-hạm loại Komar. Phi cơ lạ cũng được ghi nhận xuất hiện trong vùng vào lúc hừng đông và bay mất dạng về hướng Bắc.
Vào lúc 8 giờ 30 phút ngày 19-1, hai toán Biệt Hải thuộc QLVNCH gồm 74 người, đổ bộ lên đảo Quang Hòa (Duncan) và bị hơn một đại đội Trung Cộng võ trang vũ khí đủ loại tấn công. Cuộc tấn công này đã gây cho 2 binh sĩ ta bị thiệt mạng cùng 2 người khác bị thương. Sau đó, các toán Biệt Hải được lệnh triệt thoái khỏi đảo. Đến 10 giờ 22 phút cùng ngày, một hộ-tống-hạm Trung Cộng loại Kronstadt đâm ngang hông đồng thời nổ súng vào khu-trục-hạm Trần Khánh Dư của ta. Khu-trục-hạm Trần Khánh Dư phản pháo tự vệ và bắn chìm hộ-tống-hạm Trung Cộng này, khu-trục-hạm của ta bị hư hại nhẹ.
Vào xế trưa, lực lượng hai bên đoạn chiến. Các chiến hạm của ta tập trung về khu vực các hải đảo phía Tây của Quần Đảo Hoàng Sa, 30 đoàn viên hải quân VN đổ bộ lên 2 đảo Cam Tuyền (Robert), Vĩnh Lạc (Money). Trong khi đó tại hải đảo Hoàng Sa (Pattle) đã có một trung đội Địa Phương Quân thuộc Tiểu Khu Quảng Nam và 4 nhân viên đài khí tượng trú đóng từ trước.
Trong đêm cùng ngày, 3 chiến hạm của ta bị hư hại, được lệnh trở về Căn Cứ Hải Quân Đà Nẵng.
Trong cuộc hải chiến, hộ-tống-hạm HQ 10 của HQ/VNCH bị trúng hỏa tiễn Styx của Trung Cộng và bị thiệt hại nặng trong ngày 19-1. Chiến hạm cùng thủy-thủ-đoàn gồm 82 người đã bị mất liên lạc.
Lúc 10 giờ 20 phút ngày 20-1-74, 4 phi cơ Mig 21 và Mig 23 của Trung Cộng đã oanh tạc các hải đảo Hoàng Sa (Pattle), Cam Tuyền (Robert) và Vĩnh Lạc (Money) đồng thời quân Trung Cộng đổ bộ tấn công các đơn vị ta đồn trú trên các hải đảo này. Sau 20 phút giao tranh, vô tuyến bị hư, các toán quân tuần đảo dã mất liên lạc. Bốn chiến hạm của ta còn lại trong vùng biển gồm 1 hộ-tống-hạm và 3 tuần đỉnh bị trúng đạn và hư hại nhẹ.
Sau trận hải chiến oai hùng của Hải Quân VNCH với lực lượng Trung Cộng, tổn thất đôi bên được ghi nhận như sau:
Việt Nam Cộng Hòa: 19 tử thương, 43 bị thương, 101 mất tích
Trung Cộng: Không được ghi nhận.
Ngày 22-1-74, thương thuyền Kopionella, Hòa Lan, vớt được 23 thủy thủ của Hộ-tống-hạm HQ 10 bị tàu Trung Cộng bắn chìm ngày 19-1-74 tại vùng 287 cây số Đông Đà Nẵng. Sáng hôm sau, chiến ham HQ 6 của HQ/VNCH tiếp nhận số thủy thủ trên. Trong số này, có 2 quân nhân bị tử thương, gồm có 1 Đại Úy Hạm Phó và 2 người khác bị thương.
Hồi 12 giờ ngày 29-1-74, ngư phủ ta vớt được 15 quân nhân Hải Quân gồm 1 sĩ quan, 2 hạ-sĩ-quan và 12 đoàn viên tại 55 cây số phía Đông Mũi Yên (Qui Nhơn). Tất cả 15 chiến sĩ HQ này thuộc toán đổ bộ lên Đảo Vĩnh Lạc. Trong số 48 chiến sĩ ta bị Trung Cộng bắt giữ, 5 người gồm 2 Địa Phương Quân, 1 Công Binh, 1 Hải Quân và 1 nhân viên đài khí tượng được Trung Cộng trao trả tại Hương Cảng ngày 31-1-74. Do một chuyến phi cơ đặc biệt, họ trở về tới Sài Gòn hồi 15 giờ 30 phút và được đón tiếp vô cùng nồng hậu. 43 người còn lại cũng đã trở về tới Sài Gòn chiều ngày 17-2-74 trong sự tiếp đón tưng bừng của các đoàn thể và nhân dân thủ đô.
Đây là những trang sử liệu trích trong tác phẩm CHIẾN TRANH VIỆT NAM của tác giả Nguyễn Đức Phương:
Quần đảo Hoàng Sa được ghi vào bản đồ hàng hải của Tây phương với tên là Paracel do Van Langren, người Hòa Lan, ấn hành năm 1598.
Theo Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư do Đỗ Bá soạn năm 1630 thì mỗi năm triều đình nhà Nguyễn cho 18 chiếc thuyền ra đảo Bãi Cát Vàng để lấy hàng hóa ở những tầu buôn bị đắm dạt vào quần đảo và bị bỏ lại, nhiều tầu có vàng. Đây là tài liệu xưa nhất minh chứng chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa. Đến khi Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam, quần đảo Hoàng Sa được mang tên là xã Định Hải, thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam.
* * *
Cuối năm 1973 nhiều tầu lạ xuất hiện ở phía Bắc đảo Hoàng Sa, tuy nhiên người Việt trên đảo vẫn tưởng đó là những tầu đánh cá. Đầu Tháng Giêng năm 1974, hai tầu của Hải Quân Trung Cộng chạy vòng quanh đảo, khi binh sĩ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa trấn đóng trên đảo kéo cờ VNCH lên, các tầu Trung Cộng bỏ đi.
Ngày 15.1.1974, Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt, HQ 16, rời bến Tiên Sa chở theo một phái đoàn của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 1 đi khảo sát để lập một phi trường trên đảo Hoàng Sa. Trong phái đoàn có một viên chức Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ là G. Kosh. Ngày 16.1 phái đoàn lên đảo Hoàng Sa. Sĩ quan trực trên chiến hạm HQ 16 phát giác một tầu của Trung Cộng gần đảo Hữu Nhật. Hạm trưởng HQ 16 báo cáo về Trung Tâm Hành Quân Hải Quân Đà Nẵng rồi sau đó dùng loa phóng thanh yêu cầu Tầu Trung Cộng ra khỏi hải phận Việt Nam. Tầu Trung Cộng cũng dùng loa yêu cầu ngược lại.
Sáng ngày 17.1. 1974 thêm một tầu Trung Cộng thứ nhì bị phát hiện cùng với nhiều cờ Trung Cộng cắm trên những đảo nhỏ. 2 giờ chiều Khu trục hạm Trần Khánh Dư, HQ 4, đến tăng cường với một trung đội Người Nhái. HQ 4 ủi vào một tầu TC khiến tầu TC phải bỏ chạy, trung đội Người Nhái lên đảo Quang Ảnh dẹp hết cờ TC, cắm cờ VNCH, HQ 16 cho một toán binh sĩ lên đảo Cam Tuyền. Cùng trong ngày Tuần dương hạm Trần Bình Trọng, HQ 5, và Hộ tống hạm Nhật Tảo, HQ 10, đến đảo.
Ngày 19.1.1974, đại đội Biệt Hải do HQ Đại úy Nguyễn Văn Tiến chỉ huy cùng với đại đội Hải Kích do HQ Đại úy Trần Cao Sa chỉ huy, đổ bộ lên đảo Vĩnh Lạc tấn công đơn vị quân TC chiếm đóng đảo này từ trước. Lính TC trên đảo kháng cư làm một số binh sĩ VN tử thương, 2 đại đội rút lui, trở về tầu.
Khoảng 10 giờ sáng ngày 20.1.1974, được lệnh tấn công, 4 chiến hạm VN đồng loạt nổ súng. Chỉ trong vòng vài phút 2 tầu TC bị bắn chìm, tầu HQ 10 của VN bốc cháy vì trúng hỏa tiễn của địch. Sau đó các tầu TC cho bộ binh đổ bộ lên các đảo, bắt giữ những nhân viên dân sự, quân sự VN đang ở trên các đảo.
Trung Tâm Chiến Báo ở Sài Gòn, qua Cơ Quan Tùy Viên Quốc Phòng Hoa Kỳ - DAO - yêu cầu Hải Quân Mỹ can thiệp ngăn chặn Hải Quân TC. Mỹ từ chối. Rồi Mỹ cho biết ra-đa của họ phát giác phi cơ MIG và khu trục hạm trang bị hỏa tiễn của TC từ Hải Nam đang tiến đến Hoàng Sa. Trước tình thế bất lợi, các tầu VN được lệnh rút lui.
Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt, HQ 16, bị Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng, HQ 5, bắn lầm. Tầu bị nghiêng nhưng về được cảng Đà Nẵng. Tầu Trần Bình Trọng bị trúng đạn TC, bốc cháy nhiều nơi, đài chỉ huy của Hộ Tống Hạm Nhật Tảo, HQ 10, bị trúng hỏa tiễn, Hạm Trưởng cùng môt số sĩ quan tử thương rồi tầu bị chìm.
Về phiá Trung Cộng, 2 chiến hạm Kronstadt bị bắn chìm, 2 chiếc tầu khác một bị bắn cháy, một phải ủi lên bãi khẩn cấp.
Đây là một số nguyên nhân làm cho Ngày 20 Tháng 1, 1974 Hải Quân Việt Nam không giữ được Quần đảo Hoàng Sa:
- Các tầu HQVN có vận tốc chậm hơn tầu TC.
- Hải Quân VN không có lực lượng trừ bị, không có tiếp viện.
- Không có sự yểm trợ của Không Quân VN.
- Không có sự hợp đồng quân chủng. Không Quân VN đưa ra hai lý do là các phản lực cơ có tầm hoạt động giới hạn, không có khả năng tiếp tế nhiên liệu trên không nên chỉ có thể yểm trợ gián tiếp hải quân là chỉ bay ra để yểm trợ tinh thần. Tuy nhiên, khi trận hải chiến xẩy ra, Không Quân không cho phi cơ ra Hoàng Sa như đã thỏa thuận.
- Dù 3 lần yêu cầu, Hải Quân Mỹ đã từ chối giúp Hải Quân VN.. Không những Hoa Kỳ không can thiệp mà còn cho biết Hoa Kỳ sẽ đứng ngoài cuộc tranh chấp, sẽ phong tỏa việc xử dụng các ngư lôi hạm của Mỹ, sẽ rút hạm đội Mỹ ra khỏi biển đông, Hoa Kỳ còn từ chối cả việc cứu những binh sĩ VN trôi giạt trên biển sau hải chiến. Trận hải chiến Hoàng Sa là bằng chứng rõ ràng về việc Mỹ bỏ rơi đồng minh VNCH. Nhớ lại năm 1958, khi Trung Cộng pháo kích hai đảo Kim Môn, Mã Tổ với ý định sẽ đánh chiếm Đài Loan, Tổng Thống Mỹ Eisenhower ra lệnh cho một hải đoàn gồm 6 hàng không mẫu hạm và một toán tiềm thủy đĩnh vào eo biển Đài Loan để bảo vệ Trung Hoa Dân Quốc và yểm trợ cuộc hải vận tiếp tế cho hai đảo nói trên. Thế mà bây giờ, Mỹ lại khước từ cả lời yêu cầu cứu vớt những binh sĩ, thủy thủ Việt Nam trôi giạt trên biển sau trận hải chiến Hoàng Sa. Đồng minh đã mất, cả đến lòng nhân đạo cũng không còn.
Lịch sử lập lại: khi đất nước rơi vào cảnh nội chiến, phân ly, để nhận được viện trợ của Trung Cộng hầu thôn tính miền Nam VN, Cộng Sản Bắc Việt đã dâng hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cho Tầu.
Ngày 4 Tháng 9, 1958, Trung Cộng tuyên bố văn kiện 4 điểm qui định hải phận. Một trong 4 điểm này là hải phận của TC là 12 hải lý, bao gồm các đảo trong biển Đông trong số có Đài Loan, các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa.
Ngày 21 Tháng 9, 1958, Thủ Tướng Cộng Sản Bắc Việt Phạm văn Đồng gửi công hàm đến chính phủ Trung Cộng.
Nguyên văn:
Thưa đồng chí Chu ân Lai,
Tổng Lý Quốc Vụ Viện nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin đề đồng chí Tổng lý rõ:
Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mối quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc trên mặt biển.
Chúng tôi xin kính gửi đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng.
Hà nội ngày 14 tháng 9, 1958.
Phạm văn Đồng
Thủ tướng chính phủ
Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Với công hàm này, chính quyền Cộng Sản Bắc Việt đã gián tiếp dâng đất cho ngoại bang. Đây là một trong những văn kiện ô nhục của lịch sử.
Năm 1988, hải quân Trung Cộng đánh chìm 3 tầu chiến của Cộng Sản BV ở Trường Sa, làm cho 77 thủy thủ Cộng Sản BV chết.
Quần đảo Trường Sa quan trọng hơn quần đảo Hoàng Sa về cả hai mặt kinh tế và chiến lược. Theo các số liệu Trung Cộng đưa ra vùng biển Trường Sa chứa đựng đến 20 tỷ thước khối khí đốt, một trữ lượng dầu thô khoảng 105 tỷ thùng, khoảng 370 ngàn tấn phốt-phát. Trường Sa kiểm xoát hải lộ đi qua eo biển Malacca, Tân-gia-ba, 90% nhu cầu dầu hỏa của Nhật bản được đưa qua hải lộ này.
Sử gia Hoàng Xuân Hãn viết:
Một gương sáng lịch sử là mỗi khi thế nước suy hèn vì chia rẽ và nội loạn thì mỗi khi lân bang lấn cõi: Hồ chịu mất đất Cổ Lâu ( thuộc Lạng Sơn, năm 1405), Mạc dâng đất La Phù ( Quảng Ninh năm 1540), Trịnh mất nhiều động ở biên giới Tây Bắc và triều Nguyễn khi bị quân Pháp đặt quyền bảo hộ, ta đã bị mất nhiều đất, nhất là mỏ đồng Tụ Long.
“Lân bang” của Việt Nam là “lân bang Tầu”, bọn Tầu Cộng mà bọn Cộng Bắc Việt gọi là “anh em.” Thằng Anh Tầu đời đời lấn đất của Thằng Em Việt. Nỗi không may lớn nhất của dân tộc Việt Nam là đất nước Việt Nam nằm cạnh nước Tầu.
Đọc những trang Sử ghi những sự kiện xẩy ra ngay trong đời tôi, tôi vừa cảm khái vừa bi thương.
Xin ngừng ở đây.
Hoàng Hải Thủy
-----------------------------------------------

Bài Xem Nhiều