We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 1 February 2015

Canada những tấm lòng vĩ đại: Câu chuyện bé gái song sinh Bình và Phước

Câu chuyện của Bình và Phước hai bé gái may mắn


9
Đáng lẽ cộng đồng người Việt chúng ta phải biết được chuyện này sớm hơn.
Hôm thứ Sáu tuần trước, Thời Báo nhận được điện thoại của một phụ nữ nói tiếng Anh, từ Kingston, Ontario.
Bà tên là Johanne. Bà kể cho chúng tôi chuyện về bé gái, hai đứa con gái của bà. Và dưới đây là câu chuyện mà chúng tôi phải vội vã kể ngay cho bạn. Câu chuyện về hai bé gái sinh đôi may mắn. Xin bạn đọc tiếp để biết tại sao chúng tôi gọi các cháu là hai bé gái may mắn.
Chúng là hai bé gái sinh đôi lên bốn tuổi. Tên của hai cháu là Bình và Phước. Rõ ràng chỉ có người Việt Nam mới có cái tên như thế. Nhưng các cháu hiện đang ở Kingston, Ontario, và đang nằm trong danh sách của những người chờ được thay gan. Nằm đó đã hơn ba tháng, chính xác là từ tháng 9 năm 2014 đến nay. Theo thống kê, bốn mươi phần trăm những người chờ thay gan chết trong thời gian chờ đợi.
Nói cho chính xác, tên đầy đủ của hai cháu bây giờ là Iris Bình Wagner và Sage Phước Wagner. Các cháu là công dân Canada từ ngày 7 tháng 12 năm 2012 sau khi được ông bà Michael và Johanne Wagner nhận làm con nuôi.
Bạn cũng cần biết thêm Johanne và Michael đã biết trước rằng cặp sinh đôi này, được đưa vào viện mồ côi sau khi bị người mẹ mà người ta cho là sinh sống ở Bình Phước bỏ rơi, không phải là hai trẻ bình thường.
Bà Johanne Wagner kể, “Chúng tôi được biết về hai bé gái sanh đôi này hồi tháng Giêng năm 2012 qua bản tin của cơ quan con nuôi của chúng tôi. Hai bé gái rất cần sự chăm sóc y tế. Chẩn đoán có thể: bệnh hoàng đảm (vàng da) có thể do nguyên nhân biliary atresia (tắc ống mật) hoặc Hội chứng Alagille, cả hai đều có khả năng cần cấy gan cho hai cháu. Một lời mời gọi chúng tôi. Chúng tôi nghe trong tim dội lên tiếng gọi: Này Jo và Mike, chúng con cần sự giúp đỡ, tình yêu, hãy đến đón chúng con! Bọn trẻ nhà chúng tôi cũng nhao nhao: HÃY ĐI đón các em đi Bố Mẹ, bọn con muốn các em trở thành người trong gia đình chúng ta!”

Binh phuoc 18 thang

Luật lệ không cho phép nhận thêm con nuôi trước khi lần xin trước chưa đủ 18 tháng – nhà Wagner vừa mới nhận cháu Aidan Toàn, cũng từ Việt Nam, cách đó không lâu, ông bà Wagner đã phải mất rất nhiều công sức, gõ biết bao nhiêu cửa, để được phép đến Việt Nam đón Bình và Phước hồi tháng 11 năm 2012.
Họ đến Trung tâm bảo trợ ở Sài Gòn đón hai bé gái sinh đôi, để thấy các cháu, dù đã 18 tháng, chỉ nặng mỗi đứa đúng 9 pounds. Johanne Wagner nói trông hai đứa bé “như hai bộ xương”, suy dinh dưỡng và những dấu hiệu của chứng rối loạn gene di truyền đã bắt đầu xuất hiện.
Hội chứng Alagille là một bệnh di truyền ảnh hưởng đến gan, tim, thận và các hệ thống khác của cơ thể.
Trong trường hợp của Bình và Phước, nay đã hơn ba tuổi, bệnh đã tấn công vào gan của các cháu và gây ra những bất thường trong các ống dẫn mật từ gan đến túi mật và ruột non. Kết quả là mật tích tụ lại trong gan khiến gan không còn làm việc đúng cách để loại bỏ các chất thải ra khỏi máu.
Bà Johanne chia sẻ, “Khi ra khỏi cô nhi viện hôm đó chúng tôi đi mua ngay hai cái hũ đựng tro, bởi vì chúng tôi nghĩ rằng sẽ phải đến lúc chăm sóc cuối đời cho các cháu, chúng sẽ không sống nổi.”
Việc làm và suy nghĩ đó không phải là bi quan mà chỉ là thực tế. Họ vẫn lạc quan tin tưởng rằng với sự chăm sóc của hệ thống y tế hàng đầu thế giới ở Canada mà họ sẽ giúp cho hai đứa bé, hai đứa con gái của họ, có cơ hội để lớn lên, hay ít ra là sống thêm, nhiều hơn gấp bội, so với ở Việt Nam.

Mẹ và y tá
Gia đình Wagner không biết rằng họ đã nhận nuôi một cặp sinh ba chứ không phải một cặp sinh đôi. Đứa thứ ba tên là “Hội chứng Alagille”! Ai đã từng sinh đôi, hay nuôi trẻ sinh đôi, đều biết công việc này bận bịu đến thế nào. Với trường hợp của hai cháu Bình, Phước và …Alagille, mỗi tháng, nhà Wagner phải đưa hai cháu đến bệnh viện hay bác sĩ 5, 6 lần: chuyên gia tiêu hóa, nhi khoa, huyết học, nhãn khoa, tim mạch, phẫu thuật. Mỗi tuần, họ lại phải đón một y tá và một chuyên viên dinh dưỡng. Họ cũng cần đến một dược phòng có đủ những thứ thuốc cần thiết cho cả hai đứa trẻ. Hằng ngày, bà Wagner phải sửa soạn từ 15 đến 20 ống tiêm vào buổi sáng, và 19 ống nữa vào buổi chiều. Rồi lại còn chuyện cho ăn bằng ống – lúc đầu là đường qua mũi, sau là đường ở bụng…. Mội đứa cần được cho ăn ba bữa một ngày.
Về đến Canada, gia đình Wagner đã phải thường trú ở Bệnh viện Kingston trong 5 tuần lễ để làm các xét nghiệm và điều trị cho hai đứa bé.
Bệnh viện Kingston General Hospital và các bác sĩ ở Canada đã tạo ra được phép mầu. Hai cái bình đựng tro cho đến giờ vẫn chưa cần đến.
cap song sinh

Cặp song sinh lúc được cho ăn qua đường mũi. Hai cháu lớn lên thấy rõ!  Tháng 2, 2013
Tuy nhiên, có thể chúng sẽ được sử dụng trong một ngày rất gần đây. Cuộc chiến đấu của Bình và Phước chống Hội chứng Alagille không cân sức. Bệnh này không cho cơ thể các cháu hấp thụ chất dinh dưỡng từ thực phẩm.

5
Lên 2 tuổi, hè 2013, sau khi được đặt ống cho ăn bằng đường bụng
Hiện nay hai cháu đã được gắn ống dẫn chất dinh dưỡng vào hệ thống tiêu hóa, và hằng đêm, khi đi ngủ, chúng được nối vào một cái máy đưa dưỡng chất đến nuôi cơ thể các cháu.

6
 

Tháng 9, 2014

Biện pháp này không thể tiếp tục mãi mãi. Tuổi càng lớn, bệnh của các cháu càng nặng thêm. Hy vọng duy nhất của hai cháu là được cấy ghép gan. Chúng cần nhận gan từ hai người tương hợp.
Giải pháp nhanh nhất là có hai người vừa qua đời tặng lại gan của họ. Chuyện này hầu như không tưởng.
Và người ta nghĩ đến việc tìm người tự nguyện hiến một phần gan của mình để cứu các cháu.
Gia đình Wagner đã lên tiếng kêu gọi người hảo tâm hiến tặng một phần gan của họ. Họ đã lập ra trang facebook “Liver Transplants for our Vietnamese Twin Girls” để cung cấp thông tin và thiết tha kêu gọi người có lòng đi khám sàng lọc xem có đủ điều kiện để cho gan hay không.
Địa chỉ trang Facebook đó là: https://www.facebook.com/pages/Liver-Transplants-for-our-Vietnamese-Twin-Girls/1401239010168456?ref=hl

Thêm một củ khoai trong nồi
Đây là điều mà người viết đã cố ý để đến sau cùng mới kể với bạn. Nhà Wagner không phải là một gia đình điển hình ở Canada. Họ đã có 7 người con trước khi họ quyết định xin hai cháu Bình bà Phước về nuôi. Năm đứa con ruột và hai đứa con nuôi, tất cả là 4 gái, 3 trai.
Ông Michael Wagner là một quân nhân thuộc Quân lực Canada, đã từng 6 lần được điều động sang phục vụ ở Afghanistan. Bà Johanne từng là một cô giáo. Bà quyết định ở nhà nuôi con sau khi số trẻ trong nhà tăng lên 5 đứa.
Hãy nghe Johanne kể về gia đình của bà, “Nhà tôi và tôi có 9 đứa con xinh đẹp. Chín kỳ quan, chín món quà của Cuộc Đời. Một sự pha trộn tuyệt diệu của các đứa bé ra đời từ thân thể, từ linh hồn và từ trái tim. Chúng tôi được ơn phúc qua năm lần sinh nở, và rồi đến phép lạ của việc nhận con nuôi quốc tế từ Việt Nam. Trong chúng ta có một số người chọn những con đường khác với số đông. Chín đứa trẻ có nhiều lắm không? Chúng tôi có coi gia đình mình là một gia đình lớn hay không? Không. Thêm một đứa con chỉ là thêm một củ khoai trong nồi.”

9
Jo và Mike với hai cháu gái sinh đôi Bình và Phước (Photo: Elliot Ferguson- The Whig-Standard)
Hãy trở lại với chuyện của hai bé gái sinh đôi may mắn. Hai cháu đến với gia đình Wagner khi họ đã có hai trẻ trai, con nuôi nhận từ Việt Nam.
Chúng cũng không phài là hai trẻ bệnh hoạn đầu tiên mà Johanne và Michaele Wagnet đã nhận.
Trước hai cháu, họ đã nhận Toàn, một cậu bé – cũng từ Việt Nam, được xác định là mắc hội chứng Noonan.



7
Chín củ khoai trong nồi: Rose, Fiona, Grace, Noah, Liam, Logan Hoàng, Toàn, Bình and Phước.(Photo: Lisa McAvoy, Kingston, Ontario)
Người viết đã hỏi bà Johanne, câu hỏi mà chúng tôi tin chắc là chính các bạn cũng đang muốn hỏi, “Tại sao ông bà lại muốn nhận con nuôi khi đã có đến 5 đứa con do mình đẻ ra?”
Dưới đây là câu trả lời của người phụ nữ đặc biệt này:
“Đây là câu chúng tôi thường xuyên bị hỏi… Và thường thì chúng tôi trả lời “Tại sao lại không?” Trước nay, chúng tôi đã luôn luôn tin rằng chúng tôi sẽ biết đến lúc nào thì ngưng không có thêm con nữa. Sau 5 đứa con ruột, chúng tôi vẫn chưa cảm thấy gia đình mình đã đầy đủ. Quanh cái bàn lớn của chúng tôi vẫn còn thừa ghế. Tại sao lại nhận con nuôi? Đó chỉ là sự liên tục tự nhiên đối với chúng tôi, một điều mà Cuộc Đời đã sắp sẵn cho chúng tôi.
Tại sao lại là các trẻ có nhu cầu đặc biệt? Một lần nữa, đây là những gì Cuộc Đời đã sắp đặt cho chúng tôi. Khi tôi mang thai 5 đứa con đầu, chúng tôi không bao giờ đi làm thử nghiệm để xem em bé có khỏe mạnh hay không, chúng tôi chỉ sẵn sàng để chào đón một em bé, thế thôi. Đôi khi cuộc sống thử thách chúng ta bằng một cách kỳ lạ, nhưng luôn luôn chúng ta có cách để đối phó với những thử thách đó. Cháu Toàn bị hội chứng Noonan, và nhiều người từ chối không nhận cháu trước chúng tôi. CHÍNH CHÁU đã chọn chúng tôi, và chúng tôi đã thực sự may mắn có được chú bé đặc biệt này cho mình. Với cặp bé gái song sinh, chuyện cũng như thế: chúng tôi có mặt trên cõi đời này để trở thành cha mẹ của các cháu, và các cháu đã chờ đợi để được chúng tôi đến đón. Chúng tôi đã mất đến 10 tháng trời để rồi mới có thể ôm các cháu trong vòng tay của chúng tôi. Trong thời gian đó, mỗi buổi sáng khi thức dậy tôi đều băn khoăn lo lắng sức khỏe của chúng sẽ tồi tệ hơn. Từ đó đến nay là cả một hành trình dài và khó khăn, nhưng chúng tôi chưa hề có bất kỳ hối tiếc nào về việc đón nhận các cháu. Các cháu đã dạy chúng tôi biết mở rộng lòng và biết yêu thương. Các cháu khác trong gia đình chúng tôi đã chào đón hai cháu với trái tim và vòng tay rộng mở, và chưa bao giờ chúng tôi nghe thấy chúng nó phân bì rằng cặp song sinh được chúng tôi chăm lo cho nhiều hơn. Các cháu chỉ yêu thương hai đứa em gái mới. Chúng tôi may mắn có 9 đứa con tuyệt vời, với một gia đình cầu vồng tuyệt vời.”

Bạn thân mến;
Cái mà gia đình Wagner đang cầu xin cho hai bé gái của họ quá lớn, lớn đến mức vô giá. Nhưng họ chỉ đang làm điều mà những người cha, người mẹ nào cũng sẽ làm cho con của mình, điều mà tự họ không thể làm được.
Hai bé gái là trẻ gốc Việt, ông bà Wagner đã làm phần của họ, còn phần của chúng ta? Nếu bạn không đủ điều kiện để giúp họ, xin giúp bằng cách dễ nhất, đó là xin loan truyền thông tin này thật rộng rãi.

Đỗ Quân

CHỦ ĐỀ 40 NĂM-KÝ ỨC: QUÊ HƯƠNG VÀ LƯU ĐÀY

(Tên của các nhân vật đều là hư cấu. Nếu có sự trùng hợp xin đừng ngộ nhận)



Cuối năm 2004 tôi về thăm nhà. Lúc ấy anh tôi 73 tuổi. Anh trông yếu hẳn đi. Tóc anh bạc trắng. Xót cho anh, tôi nói:

- Mấy năm đi tù cải tạo bị ngược đãi, tóc anh bạc phơ.

- Đi tù cải tạo là tai-trời-ách-nước mà! Người miền Nam, bên này vĩ tuyến 17, sau 1975, ai mà không đi ‘tù cải tạo’, kẻ đó không phải là người Miền Nam. Không phải tại ngược đãi gì đâu. Tóc anh bạc, người anh gầy, vì anh giống má. Nói xong anh cười. Thấy tôi đang nhìn có vẻ quan sát nhà cửa của anh, vừa chỉ tay chung quanh, anh vừa nói:

- Tất cả là do tiền của mấy đứa con ở Florida gửi về, tụi nó yêu cầu tân trang lại nhà cửa và xây cất thêm phòng ốc để có chỗ cho tụi nó ở mỗi khi dẫn vợ con về thăm nhà. Vừa ngắm nghía bức tranh “Bến Hồng Quảng”của Nguyễn Gia Trí đang treo trên tường, anh vừa nói:

- Đó chỉ là phiên bản,immitation. Kỹ thuật ấn loát của họ bây giờ khéo đấy chứ? Chú còn nhớ cụ Trí? Cụ Trí thuộc Quốc Dân Đảng, có một thời sống lưu vong bên Trung quốc với NguyễnTường Tam, Nguyễn Tường Long, Nguyễn hải Thần...Sau 54, chạy nạn Cộng sản, cụ Trí di cư vào Nam, có cả người em trai của cụ nữa, sinh sống tại Saigòn. Ấy thế, mà mấy ông Cách mạng ‘gan’ thật, dám kéo cụ Trí về phía họ. Dám bảo cụ Trí là người của cách mạng, và họ ‘quốc hữu hóa’ các bức tranh của cụ Trí. Hay thật. Họ đâu có tước đoạt gì cụ Trí. Tài-sản-của-quốc-gia mà lại…

- Em chưa hề gặp cụ Trí ở Sàigòn, tôi nói, nhưng em biết cụ Trí sau khi di cư vào Nam, cụ có vẽ cho nhà thờ Mai Khôi, trong khung viên của Cercle Renaissance của em ở, một bức tranh rất đặc biệt: Chân Dung Đức Mẹ. Cụ Trí vẽ Đức Mẹ mặc áo tứ thân, đứng trên tòa sen. Bức tranh thật ấn tượng.



Những lúc ấy anh em chúng tôi nói chuyện với nhau rất nhiều, nhưng anh tôi tuyệt nhiên không nói gì đến thân phận bèo bọt của anh trong suốt những năm tháng sau ngày Thống nhất. Chị dâu của tôi có vẻ ấm ức, muốn anh nói cho tôi nghe những chịu đựng gian khổ của anh. Anh tôi chỉ mỉm cười:

- Không ai có thể chia sẻ trọn vẹn sự đau đớn của người khác được cả. Và cũng không có ai có thể nói hết được sư đau đớn của riêng mình. Họa chăng chỉ có thuyền mới hiểu được biển. Thuyền và biển đều câm nín cả. Đạo khả đạo phi thường đạo…Nói xong, anh cười phá lên.

Đến buổi ăn trưa, tôi có cảm tưởng anh chị thiết đải vợ chồng tôi, vì bữa ăn tại gia đình nhưng thịnh soạn. Chị dâu tôi nấu cơm gà Phanrang thơm lừng. Có mắm gừng. Có bia Heineken. Hình như đọc được ý nghĩ của tôi, anh tôi bảo:

- Dù sao, có chú thím về anh chị cũng phải…Nhưng sư thật thì bữa ăn hằng ngày của vợ chồng tôi được cải thiện rất nhiều trong 6 năm qua, kể từ ngày các con ở Mỹ ăn nên làm ra, tụi nó gửi tiền về… Anh nhìn vợ tôi, anh hỏi:

- Sau hơn 20 năm ở Mỹ, hôm nay lần đầu tiên thím ăn cơm trưa, chắc thím có cảm giác lạ lắm phải không? Thú thật với thím, tôi cũng vậy, hồi năm 62, trở về nhà, sau hơn một năm ở Mỹ, tôi ngạc nhiên hết sức khi thấy mình ngồi lại ăn cơm trưa với vợ con, với gia đình như người Mỹ ăn dinner vậy.

Câu chuyện anh vừa nói làm tôi nhớ lại anh là một sĩ quan Không Quân, đã có hai năm sống ở Mỹ: 1961, và 1970. Ấy thế mà năm 1975, anh nhất định không đi. Anh yêu nước biết dường nào.

Chị dâu tôi bảo:

- Cầm đũa mời hai em ăn đi ông, quá 12 giờ rồi…

- À, mời chú thím… mời bà, anh tôi bảo.

Vì thương anh tôi, chị dâu tôi muốn vợ chồng tôi, nhất là tôi, (vì anh chị tôi nuôi tôi từ hồi tôi còn nhỏ) phải chia sẻ những gian khổ của anh tôi trong hơn 20 năm qua sống dưới Chuyên Chính Vô Sản, chị nói trong ngậm ngùi và cả nước mắt nữa:

- Khi ông ấy được ‘lệnh tha’, ở trong trại tù, ăn đói, ông ốm nhôm, gió xô cũng ngã. Bữa cơm đầu tiên mẹ con tôi cũng nấu cơm gà cho ông ấy. Tay ông cầm đũa gắp miếng thịt gà mà cứ run run, ông đưa vào miệng ngậm một hồi lâu mà nước mắt ông ràng rụa ông ậm ực:“Ùm! Gần 10 năm!..”

Anh tôi đưa tay vuốt lưng chị dâu tôi, vỗ về:

- Thôi bà, đó là quá khứ. Quá khứ của nhầm lẫn…Chú thím, cũng như nhà tôi, nên quên cái thời đó để vui sống. Bây giờ là thời mở cửa, thời cởi trói, đổi mới rồi. Thời nào chúng ta sống theo thời đó cho nó ổn. Đâu có phải chỉ có những người tù cải tạo như chúng tôi là sống khổ, đói khát. Việt Minh họ cũng vậy. Tháng 10/1955 bộ đội Việt Minh về tiếp thu thủ đô Hà nội, trong một bữa tiệc khỏan đải, cụ Phan Khôi cầm đũa chỉ vào đĩa thịt gà nói một câu cay đắng:“ Chín năm nay, tao mới thấy mặt mày”! Thời nào cũng vậy, người trí thức sống dưới Chuyên Chính Vô Sản…cũng như chúng ta hôm nay thôi. Anh tôi bắt qua chuyện khác, anh hỏi tôi:

- Chú còn nhớ Trung tá Hạnh, phi công F105? Anh chàng hồi còn Trung úy, có một thời mê Nguyệt ‘Mắt Quạ’, tiệm ‘Phát Quang’, trên phố Độc lập, Nhatrang.

Thật sự tôi không nhớ được anh ấy, nhưng tôi cũng phài ẩm ờ. Chị dâu tôi bảo:

- Lâu quá, chắc chú quên rồi, chị nói tiếp:

- Vợ chồng tôi mới ra Hà nội tháng vừa rồi, để đi đám ma anh Hạnh. Trung tá Hạnh và gia đình thoát đi Mỹ vào ngày cuối cùng 29/4/75. Đến Mỹ anh làm việc cho hãng máy bay Lockheed tại Cali. Chị, vợ anh Hạnh, làm programmer cho American Express. Hai người con ăn học thành danh, tất cả theo nghề Business. Ai cũng có nhà cửa cơ ngơi sống thoải mái. Anh ấy cũng thường xuyên thư từ với vợ chồng tôi. Năm 2000, anh ấy đúng 68 tuổi, hãng Lockheed cho anh ấy về hưu. Chắc chú còn nhớ, anh ấy là người Bắc, di cư vào Nhatrang, nhà anh ấy bên cạnh nhà anh chị, hồi còn ở đường Prince Cảnh. Anh Hạnh có người em trai, đại tá ở phía bên kia, đã từng tham chiến trận Điện Biên. Sau bao nhiêu khó khăn, rào cản, mãi đến năm 1996, hai anh em mới bắt được liên lạc với nhau, và anh Hạnh mới hay bà cụ mẹ anh còn sống. Năm 1997, anh chị Hạnh về thăm bà cụ, và gia đình người em tại Hà nội. Anh Chi Hạnh giúp đỡ người em một số tiền để xây một cái nhà khá lớn và dành cho bà cụ một phòng, và anh chị cấp dưỡng cho bà cụ đều đặn hàng năm. Năm 2001, bất ngờ chị Hạnh qua đời vì tai biến đột quị. Từ khi người bạn đời vĩnh viễn ra đi, anh Hạnh cảm thấy hụt hẳn. Con cái thì ở xa, ai cũng thành gia thất. Anh ấy cũng

có cháu ngoại cháu nội. Người con gái thì ở Boston. Cậu con trai thì ở New York. Sau khi tham

khảo với các con và với người em trai ở Hà nội, năm 2002 anh quyết định hồi hương về sống gần với mẹ ngày nào mừng ngày ấy và hy vọng đến khi anh ấy qua đời cũng sẽ được an táng nơi quê nhà. Anh về Hà nội được 9 tháng thì bà cụ mất. Anh vẫn tiếp tục ở với người em trai. Hai người trông vẫn còn phong độ, đi du lịch đó đây. Mới đây, năm ngoái hai anh em có ghé thăm vợ chồng tôi, ăn ở đây gần 1 tuần, sau đó anh của chú và hai ông đó đi du lịch với nhau, vào Nam, ra Bắc cả tháng trời.. Nói tới đây chị nhìn anh như có vẻ trách móc. Anh tôi liền bảo:

- Đâu cả tháng, để xem nào, hình như có 25 hay 26 ngày…Nhưng đầu tháng vừa rồi anh Hạnh có gọi tôi, cho hay anh nghe trong người hơi khó ở. Nghe vậy tôi nghĩ chắc không đến nỗi nào. Không ngờ năm ngày sau, người em trai, đại tá Phúc gọi cho tôi hay là anh Hanh đang hấp hối, muốn gặp tôi gắp. Hai vợ chồng tôi bay ra liền, chỉ còn kịp để vuốt mắt anh ấy.

Nói đến đây, anh tôi gục đầu trên hai bàn tay. Tôi nghe anh tôi thều thào:Trung tá Hạnh chết cô đơn quá, không có vợ con bên cạnh, chỉ có quê hương…Tôi nghe chị tôi lập lại với giọng hờn dỗi hai tiếng “quê hương”, và chị nói:

- Tôi nghiệp anh Hạnh lắm chú thím. Chú thím có biết không? Mai táng anh Hạnh cũng gặp nhiều khó khăn với chế-độ lắm, mặc dù em anh Hạnh, nguyên Đại tá, đã từng tham chiến Điện Biên, đi B và cũng tham chiến cả chiến trường Kampuchia nữa. Họ cứ bảo anh Hạnh là ngoại kiều, họ đòi hỏi hạch sách đủ điều, đủ mọi thứ giấy tờ. Khó khăn lắm, tốn kém lắm, 4, 5 ngày sau, khi nắp quan tài gần bậc ra vì thi thể anh Hạnh bắt đầu sình rữa, mới lấy được giấy báo tử vì có giấy báo tử mới có thể chôn được ở nghĩa trang gia đình gần Hà Nội, bằng không thì họ không cho chôn. Ôi mấy ông cộng sản, hành hạ người dân, đến chết vẫn còn hành hạ.

- Nhưng bà biết, anh tôi nói, trước khi vĩnh viễn nhấm mắt, anh Hạnh có nói với anh Phúc là anh không bao giờ hối tiếc đã trở về Hà nội mặc dù có nhiều bạn bè ở Mỹ nghĩ là anh sai lầm, anh đã chọn quê hương làm chốn lưu đày. Anh đã thỏa mãn được giấc mơ của đời anh, là được chăm sóc kề cận mẹ anh trong tuổi bóng xế của bà và điều thứ hai nữa là anh được chết và chôn tại Hà nội.

- Ôi, sao ông còn lý tưởng quá, chị dâu tôi bảo. Ông bị mê hoặc bởi cụm từ: “Quê hương thần thoại”, vì thế ngày 24/4/75 cả gia đình vợ chồng con cái đã lên ngồi trên chiếc DC 10, tại căn cứ Phi Long, Nhatrang, sắp sửa cất cánh, ông nhất định kéo xuống hết và ông bảo với các con ở lại với đất nước, Việt Nam dù sao đi nữa vẫn là quê hương, vẫn là thiên đàn. Sau ngày 30/4/75 ông khăn gói trình diện đi tù cải tạo. Ông còn nhớ hay ông đã quên rồi ông? Sau câu nói, mặt chị dâu tôi sa sầm nước mắt. Anh tôi nhìn chị tôi yên lặng, không nói được một lời… Lặng thinh một hồi, anh tôi bảo:

- Có hai em về thăm…sau hơn 20 năm xa cách. Còn chuyện đó cũng đả gần 30 năm rồi. Tôi xin bà hiểu cho, ai cũng một lần vấp ngã. Rồi anh quay lại nói với hai vợ chồng tôi:

- Hôm nay là 21 tháng Chạp! Chỉ còn không đầy mười ngày nữa là đến Tết ta.

Chị dâu tôi bảo:

- Vậy Chú Thím ở lại đây ăn Tết với vợ chồng tôi, sau Tết rồi hãy về Mỹ.

Chúng tôi ở lại, chia sẻ với anh chị những ngày cuối năm. Có những buổi tối, anh em tôi mang mùng mền ngủ với nhau một phòng riêng. Những câu chuyện trao đổi những lúc tàn canh, tôi nghe giọng nói anh tôi hiu hắt buồn. Nhiều người bạn của anh đã về vĩnh cửu. Tinh thần anh có vẻ suy sụp sau khi chia tay với anh Hạnh, người bạn thân cuối đời anh. Bạn bè anh ở lại với đất nước, không còn mấy người sống sót. Sau khi được ‘lệnh tha’, một số qua Mỹ vào những năm 90 theo diện Từ Thiện (Humanitarian Operration: H.O.). Một số giống anh, từ chối diện ‘từ thiện’ (H.O). Họ ở lại, chết dần, chết mòn trong cảnh cơ hàn, bịnh tật, vì họ bị hành hạ quá nhiều lúc đi tù cải tạo. Anh cảm thấy cô đơn. Có những lúc anh nói như trong mơ “Anh không biết tính làm sao đây? À, hay là anh chị sẽ ‘move’ qua Mỹ ở, sống chết hôm sớm có bạn bè, có con cháu, có các em. Lặng thinh mộ hồi lâu, tôi nghe anh uốn mình trăn trở, anh tự trách mình, như vậy anh chị lại sẽ làm một hành trình ngược chiều với anh Hạnh sao?..

Lúc ấy ngoài hiên nhà trời đang hừng Đông. Tôi giật mình, lâu lắm tôi mới nghe lại tiếng gà gáy sáng…/.

Oct-2004

Oak park, Illinois USA

Đào Như

thetrongdao2000@yahoo.com












Những con lợn xổng chuồng


Kỳ án heo nái sổng chuồng  và ước mơ của cô sinh viên trường Luật Kỳ án heo nái sổng chuồng và ước mơ của cô sinh viên trường Luật
Thực ra những con lợn này không phải lúc nào cũng tệ lậu như thế. Chúng đã từng có một lịch sử cổ xưa, một nếp sống văn hóa, văn minh lâu dài, từng đi được những bước dài đầu tiên cho nhân loại.
Ðọc Nhân Sinh Ðích Nghệ Thuật (Một Quan Niệm Sống Ðẹp do Nguyễn Hiến Lê dịch) và Ngã Quốc Dữ Ngã Dân (Nước Tôi Dân Tôi) của Lâm Ngữ Ðường, người ta thấy ngay những điều ấy. Dân tộc Trung Hoa đã có lúc là đàn anh thiên hạ, coi các nước khác từ Âu sang Á là man di, mọi rợ, cỏ rác hết.
Nhưng từ khoảng một thế kỷ nay, Trung Hoa đã trải qua rất nhiều đổi thay, cả về đất nước lẫn con người khiến cho những nét đẹp của nó đã mất đi rất nhiều. Tác giả Bá Dương sinh ra tại Hoa lục, lớn lên ở Ðài Loan là người có đủ thẩm quyền để đưa ra nhận định đó. Ông từng sống ở cả trong lục địa lẫn Ðài Loan, những chuyến xuất ngoại càng làm cho ông thấy rõ hơn những nét tiêu cực để viết lại trong cuốn Xú Lậu Ðích Trung Quốc Nhân (Người Trung Quốc Xấu Xí do Nguyễn Hồi Thủ dịch sang Việt ngữ), cuốn sách bầy ra tất cả những điều xấu xa của người Hoa ngày nay mà chính Ðặng Tiểu Bình cũng đọc rồi không nói được gì để phản bác lại tác giả Bá Dương. Ông Bá Dương coi nước Trung Hoa của ông là một cái vại tương hôi thối xấu xa, người dân mang tất cả những điều xấu xa tệ lậu nhất ở trên đời này, tranh nhau để sống bằng những trò giành giật ác độc bất nhân nhất.
Dân giàu Hà Thành góp tiền nuôi lợn rừng ăn Tết



Dân giàu Hà Thành góp tiền nuôi lợn rừng ăn Tết Gần đây, một người viết phụ nữ ở tuổi rất trẻ, khoảng dưới 30, Echo Wang có viết một cuốn sách, về mặt văn chương không có bao nhiêu, nhưng những ghi chép qua kinh nghiệm của cô đã phản ảnh được rất nhiều về những người cùng gốc gác với cô. Echo Wang không ra đời hay lớn lên ở Hoa Lục. Cô là người gốc Hoa sinh trưởng tại một nước trong vùng Ðông Nam Á, làm việc cho một công ty ngoại quốc, đã từng thăm viếng hơn 40 nước vì việc làm của cô. Trong những chuyến đi đó, cô có dịp quan sát những toán du khách người Hoa từ Trung Quốc. Những điều cô chứng kiến đã làm cho cô kinh hoàng không ít. Những toán du khách này, qua các hành động của họ, đã trở thành những chuyện kinh hoàng cho dân chúng bản xứ vì sự thiếu văn minh và văn hóa của họ mà họ mang theo từ những vùng làng quê Trung Quốc nơi họ sống cả một đời làm lụng vất vả, kiếm được ít tiền rồi rủ nhau đi du lịch để xem thế giới bên ngoài như thế nào. Và nạn nhân của họ là những người sống kề cận với họ ở những nước “núi liền núi, sông liền sông” với họ. Ðó có thể là Thái Lan, Việt Nam... Xa hơn một chút là Malaysia, Singapore, Indonesia... Ðâu đâu người dân của những nước này cũng rất ghê sợ nhóm du khách từ Hoa lục này. Thị trấn Chiang Mai ở Bắc Thái Lan rất cần tiền của du khách nhưng lại rất ghét các du khách người Hoa. Tại một số nước Âu châu, du khách người Hoa cũng bị ghét không ít. Một số khách sạn không tiếp du khách Trung Quốc nêu lý do rất rõ là những trò khạc nhổ, ăn nói ồn ào, không chịu xếp hàng, đánh nhau ngoài đường, ăn cắp... khiến các khách sạn này không muốn tiếp họ.
Mới nhất là khách sạn rất sang trọng Zadig & Voltaire trên đại lộ Grenelle ở tả ngạn sông Seine thủ đô Paris, vừa khai trương năm 2014 đã nói rõ là không cho các du khách từ Hoa lục thuê phòng.
Một số ý kiến cho rằng những nét tốt đẹp của văn hóa Trung Quốc đã bị xóa sạch trong hơn một chục năm cách mạng văn hóa của Mao Trạch Ðông. Du khách từ Hoa lục, mà đa số, căn bản chỉ là những nông dân thất học có ít tiền bầy đặt ra nước ngoài du lịch. Echo Wang gọi những thứ ngợm này là một lũ lợn xổng chuồng thì không một cách mô tả nào chính xác hơn.
Trên một vài chuyến bay của hàng không Việt Nam mới đây phi hành đoàn nhiều lần đã bắt được mấy du khách Trung Quốc trộm tiền bạc của các hành khách Việt Nam ngay trên máy bay. Ðọc những bản tin như thế, nhiều người có thể nghĩ đó chỉ là những trường hợp đơn lẻ, quít Hoài Nam có quả chua, quả ngọt. Nhưng rồi những vụ đánh nhau, hành hung các nữ tiếp viên hàng không Thái trên máy bay, mở cửa máy bay cho... mát đã khiến người ta thấy quả thực những con lợn xổng chuồng này có vấn đề. Du khách Trung Quốc còn cho trẻ con phóng uế ngay trong điện Versailles, Paris, tiểu tiện hồn nhiên trên ghế máy bay, vẽ bậy trên một pho tượng cổ Ai Cập, ném ly nước nóng vào mặt tiếp viên hàng không trên phi cơ...
Và mới đây, chính nhà cầm quyền Bắc Kinh đã phải nhắc nhở các công dân khi ra nước ngoài phải cư xử cho lịch sự tử tế để gìn giữ những hình ảnh tốt đẹp của nước Trung Hoa.
Nhưng lời kêu gọi đó được đưa ra thì đã quá muộn. Bọn lợn đã xổng chuồng đang giở những trò khốn nạn nhất cho thế giới thưởng thức rồi còn gì nữa.

Bùi Bảo Trúc

CHỦ ĐỀ 40 NĂM-KÝ ỨC:Xã Tắc Tiêu Vong