We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 10 February 2015

Cộng Đồng Hải Ngoại : Ủng hộ “ Chính Nghĩa Quốc Gia.” đấu tranh chống thân cộng, làm lợi cho cộng



Danh sách những người đứng về phía báo SGN
(được cập nhật và lưu trữ tại blog Chúng Tôi Muốn Tự Do)
Link lưu trữ ở blog Chúng Tôi Muốn Tự Do:
Thưa quý vị
Chúng tôi gửi kèm dưới đây một số ý kiến từ những người Thật về vụ kiện báo SGN. Xin nhín thì giờ đọc để hiểu chuyện xảy ra quanh mình hầu có thái độ thích đáng. Sự thờ ơ với thời cuộc, trước kia, là một trong nhiều nguyên do khiến chúng ta mất nước. Chúng tôi tiếp tục nhận ý kiến của đồng bào khắp nơi, để chứng tỏ cho người Mỹ và cả báo Người Việt thấy rằng, chúng tôi biết bỏ dị biệt cá nhân trong những vấn đề nhỏ, để đoàn kết bên nhau trong các vấn đề lớn. Báo NV đã 4 lần có những hành động vi phạm lằn ranh quốc cộng, gây thương tổn cho chúng ta là những người đã mất nước, chỉ còn vùng đất tạm dung này để giương cao lá cờ chính nghĩa. Báo Người Việt, sống trong lòng cộng đồng tị nạn vùng Nam CA nhưng luôn có những hành vi xúc phạm cờ vàng, lá cờ  của một quốc gia bị bức tử vì nền hòa bình thế giới nhưng hiện nay tượng trưng cho Tự Do- Dân Chủ và đang tung bay trên nhiều thành phố lớn của Hoa Kỳ, và cả các quốc gia khác (Úc, Pháp, Canada..). Báo Người Việt đã dùng một sơ hở của báo Sài Gòn Nhỏ khi SGN đứng về phía cộng đồng tị nạn, đăng tải một bài báo, để thưa SGN ra tòa. Xin hãy bày tỏ tấm lòng của quý vị đối với lý tưởng quốc gia, với lá cờ vàng qua thư hỗ trợ. Hoặc nếu có thể, xin đóng góp, dù chút đỉnh cho Quỹ Pháp Lý, để giúp SGN trong vụ kháng cáo.
Trân trọng cảm ơn quý vị. Thư cho chúng tôi: hoanglanchi@...
Hoàng Ngọc An
(bút hiệu viết thời sự của Hoàng Lan Chi)
****************************
Danh sách những vị đứng về phía báo Sài Gòn Nhỏ
GIỚI CỘNG ĐỒNG, TRUYỀN THÔNG, TỔ CHỨC
KHG Dương Nguyệt Ánh
Cám ơn chị Lan Chi và Anh Thư đã hăng hái đứng ra xốc vác chuyện lập quỹ trợ giúp pháp lý cho báo SGN.  Xin cho DNA góp $200, sẽ gửi về địa chỉ trong thư kêu gọi.  Chúng ta không thể để mặc cho các quan toà thiên vị lộng hành mà không phản ứng. Chúng ta lại càng không thể bỏ mặc cho các cá nhân phải tranh đấu đơn độc một mình. DNA rất quan tâm đến chính nghĩa của người Việt quốc gia đang bị đánh phá, và mong mỏi cộng đồng Việt Nam hải ngoại cùng sát cánh để đối phó.Xin chúc chị Lan Chi, Anh Thư và tất cả chúng ta thành công.
Nguyễn Kinh Luân
Cựu Chủ Tịch CĐNVQG Hạt Tarrant và Vùng Phụ Cận
Lúc trước chúng tôi đại diện CĐNVQG Hạt Tarrant ký tên vào Bản Tuyên Bố Số 3 vì không chấp nhận những hành động xúc phạm đến lá Cờ Vàng, những bài viết ngụ ý ca ngợi mấy tên lãnh đạo đảng CSVN và nhục mạ QLVNCH.
Ngày hôm nay chúng tôi ủng hộ báo Sài Gòn Nhỏ vì đã dám mạnh mẽ vạch trần những hành động đi ngược lại tập thể người Việt tỵ nạn CS của báo Người Việt.
Ngày hôm trước chúng tôi phản đối Báo Người Việt bằng cách ghi danh vào Bản Tuyên Bố.
Ngày hôm nay chúng tôi phản đối bằng cách đóng góp vào Quỹ Pháp Lý do cô Lữ Anh Thư thực hiện.   
LS Lê Duy San
Báo Saigon Nhỏ của bà Hoàng Dược Thảo không phải là không có khuyết điểm, nhưng nhìn chung thì Báo Saigon Nhỏ là một tờ báo có lập trường chống Cộng dứt khoát và rõ ràng. Tôi ủng hộ báo Saigon Nhỏ và mong rằng những người Việt Quốc Gia cũng sẽ ủng hộ báo Saigon Nhỏ không những về tinh thần mà cả về tài chánh dù nhiều hay ít để khích lệ những người làm báo chống Cộng và nâng cao chính nghĩa quốc gia.
Hoàng Lan Chi
Tôi không quen biết bà Hoàng Dược Thảo. Thỉnh thoảng có đọc và thấy bà viết hay, lý luận vững. Qua bài của bà năm 2012, tôi tiếp tay vì không thể chịu được báo NV vi phạm có chu kỳ. Họ, có vẻ ỷ mình là đã có thế mạnh, chỗ đứng vững trong cộng đồng nên “trêu ngươi”. Bản Lên Tiếng của gần 200 tổ chức, hội đoàn, đảng phái, nhân sĩ khắp thế giới đồng ý lên án, tẩy chay và khai trừ báo NV ra khỏi sinh hoạt của cộng đồng: là một hành động đúng lúc, đem lại niềm tin, là một cú đấm cho báo NV và những kẻ “chàng hãng”. Lợi dụng sơ suất của bà HDT trong một bài viết, báo NV kiện. Giai đoạn 1, Tòa xử thắng vì có vẻ Chánh Án và bồi thẩm đoàn đã bị LS bên báo NV nhồi nhét tư tưởng: báo Sài Gòn Nhỏ cạnh tranh, bà HDT là thủ phạm của Bản Lên Tiếng, cuộc biểu tình v.v. Tôi chúc báo Sài Gòn Nhỏ may mắn hơn ở kỳ kháng án. Ngoài ra, môt số kẻ đã chụp mũ, vu khống bà HDT là “ai cũng chửi, chửi hạ cấp, thô tục” thì hãy bỏ thì giờ sưu tầm lại những bài báo đó, gửi lại cho tôi. Sự kiện nói suông: với tôi là hồ đồ.
Châu Chương Thành ( phát biểu với tư cách cá nhân, không phải Chủ Tịch Tổ Chức Cộng Đồng vùng Central VA)
Vâng – cá nhân em ủng hộ bà Hoàng Dược Thảo mặc dù không biết bà ta là ai. Em có theo dõi và biết về chuyện báo NV và bài viết về cái chậu rửa chân của họ mấy năm về trước … và cũng từ ngày ấy đã bắt đầu “dị ứng” với bọn người này.
Đinh Lâm Thanh
Cá nhân tôi và Hội Văn Hóa Người Việt Tự Do ủng hộ việc gây quỹ Pháp Lý cho Bà Hoàng Dược Thảo. Tôi cũng đề nghị Quý Ông Nguyễn Xuân Nghĩa và Lê Duy San đứng ra tổ chức việc nầy. Tôi hoàn toàn ủng hộ cộng đồng người Việt không cộng sản trong bất cứ hoàn cảnh và hành động nào.
Trương Sĩ Lương, Chủ báo Thế Giới Mới (Texas)
Nếu phải chọn thái độ chính trị tích cựcgiữa người Quốc Gia và người thân cộng hoặc làm lợi cho cộng,  thì mình phải dứt khoát chọn người QG mà không cần suy nghĩ.
Ô Hồng Phúc, Chủ nhiệm Thế Giới Ngày Nay, Giám Đốc Chương Trình Đài Phát Thanh Việt  Nam:
 Trong tương lai, nếu có một tờ báo xúc phạm đến Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản hoặc những Hội Đoàn, Đoàn Thể hay những cá nhân chống cộng, thì chúng ta, - những người còn trân qúy tấm căn cước tỵ nạn cộng sản -, sẽ phải xử trí ra sao? Trước đây, tôi là người đã ký tên trong bản danh sách 151 người phản đối Báo Người Việt. Hôm nay, tôi tiếp tục ủng hộ Bà Hoàng Dược Thảo và Hệ Thống Báo Sàigòn Nhỏ trong việc kháng cáo vụ kiện này.
Bà Tôn Nữ Hoàng Hoa:
Trên công cuộc tiếp tục đấu tranh cộng sản tại hải ngoại TTNVTNCS đã có những giãi pháp sinh hoạt trong tập thể về phương pháp và tôn chỉ chống Cộng của họ Vì lẽ đó sự ĐỒNG THUẬN TRÊN NGUYÊN TẮC CHỐNG CỘNG NÀY đã trở thành "LỆ CỦA TẬP THỂ". Để thể hiện sự ĐỒNG THUẬN trên xin quí vị hưởng ứng QUỸ PHÁP LÝ của cô Lữ Anh Thư  đã gởi ra để YỄM TRỢ QUỸ PHÁP LÝ CHO TỜ BÁO SAIGON NHỎ trong công việc KHANG ÁN.Chúng ta những ngừơi TỴ NẠN CS TẠI HẢI NGOẠI SẼ KHÔNG BỊ KHUẤT PHỤC TRƯỚC NHỮNG HÀNH VI LỢI DỤNG KẼ HỞ CỦA LUẬT PHÁP HOA KỲ LÀM KHIẾP NHƯỢC LẬP TRƯỜNG ĐẤU TRANH CHỐNG CS CỦA CHÚNG TA
Lê Thành Quang
Cuộc đấu tranh hiện tại của người Việt Quốc Gia, về mặt truyền thông, bà Hoàng Dược Thảo rất sâu sắc, có trình độ, phương tiện và bản lĩnh, quả thật rất cần cho tập thể người Việt tị nạn Cộng sản. Xin đóng góp một phần nhỏ cho Quỹ Pháp Lý $100.00."
CÁC GIỚI KHÁC
Son Tran baovnns@...

 
Kính mong quý vị hãy tập trung năng lực để đánh một địch thủ mà thôi, đó là đánh tập đoàn báo Người Việt. Tất cả các mục tiêu khác, xin tạm thời để đó.  Nỗi đau  của hàng trăm ngàn Người Việt tỵ nạn cộng sản do báo Người Việt gây ra,,...phải cho tòa án biết  để trừng phạt báo Người Việt. Kính mong quý vị lưu tâm, và quyết tâm đưa báo Người Việt ra tòa, càng sớm càng tốt.
Lê Ngọc Túy Hương-Đức
Tôi ở xa tít nơi này. Luật lệ Mỹ và sinh hoạt cộng đồng VN tại Mỹ tôi không am tường thấu đáo như các bạn sống nơi đây. Tôi chỉ theo dõi trên Net qua các nguồn tin do bạn hữu chuyển. Cho nên không dám có binh luận sâu rộng vào vấn đề mà chỉ có thể nói cảm nhận cá nhân của minh mà thôi. Đề tài này đang sôi nổi trên vài DĐ và người viết bài tên Hoàng Ngọc An là một sư tỷ Gia Long của tôi. Vừa nhận được bài từ chị thì tôi chuyển ngay cho các bạn. Tác giả Đào Nương thật sự có tạo một cảm tình đẹp trong tôi vì bà viết rất hay, tôi còn nhớ, tôi đọc say mê bài "VNCH, mất mới tiếc" của Bà . Dựa trên văn phong và theo sự xác nhận của nhiều người, Bà là một người có lập trường chống Cộng. Nhiều cây viết tên tuổi và lão thành mà tôi biết rõ là cùng chiến tuyến với tôi, cũng có cộng tác với tờ SG nhỏ, vì lý do đó, cảm tình của tôi với bà càng tăng trưởng. Nay biết bà là dân trường Pháp, có baccalauréat,  tôi càng phục bà viết tiếng Việt quá hay. Thật là vì một bài báo phải lôi thôi cửa quan, đúng là thất thời gặp nạn. Tờ báo NV thì nhiều tai tiếng, dù rằng đối với người gầy dựng là ông VA ( đã qua đời) có người thuận, có người chống. Tôi là hậu sinh, không dám có ý kiến về ông, chỉ riêng là đối với tờ báo NV thì tôi không có cảm tình qua những việc làm "rất nổi tiếng" của họ. Cá nhân tôi chỉ nhận thấy rất buồn trước sự thất bại của tờ SGN tại lần xử này ( cũng giống như tôi đã từng buồn khi ông Lý Tống phải ra toà về chuyện ĐVH) Vì sao? Vì như vậy cho thấy tại USA, mình vẫn còn sơ hở để bảo vệ lý tưởng chống Cộng của mình trước tư pháp. Hy vọng sẽ có nhiều  người cùng lý tưởng lên tiếng ủng hộ, giúp tờ SGN thêm tinh thần và ý chí, không tủi thân "cô đơn" gồng gánh một mình, "gặp nạn cả tàu im re thin thít". Cầu mong gió đổi chiều, thổi cơn gió mát cho tờ SGN.
Đinh Thế Dzũng-Úc
Báo Người Việt đã thành công khi để chánh án và bồi thẩm đoàn cho đây là một "cạnh tranh nghề nghiệp", và phạt bà HDT đền bù một số tiền quá đáng. Nếu cộng đồng người Việt tự do trên toàn thế giới suy nghĩ về tác dụng "chính trị" và tâm lý đến sinh hoạt tâm lý, xã hội, và văn hóa đến với nhiều triệu người, và nếu không lên tiếng để chứng tỏ rằng:
- Rõ ràng vụ án này đã vượt qua khỏi các tranh chấp cá nhân cũng như nghề nghiệp giữa bà HDT và tờ báo Người Việt.
- Tính cách chính trị và tâm lý ảnh hưởng đến khối lượng lớn người Việt, ngay cả sống ngoài nước Mỹ, có nghĩa không thuộc vào tầm tranh chấp thuần thươug mãi, hay phỉ báng cá nhân (đại đa số không là độc giả của tờ SàiGòn Nhỏ hay báo Người Việt, và không can dự vào sự thành công thương mãi của cả hai tờ, nhưng cảm thấy thực sự bị thương tổn khi hình ảnh lá cờ vàng bị bôi lọ bởi một tờ báo nay được thắng kiện vì "bị phỉ báng").
- Báo Người Việt đã không ngừng làm "mistakes" để xâm phạm vào biểu tượng của tập thể và làm thương tổn nhiều cá nhân. Trong khi tập thể đó không có một hành động khiêu khích nào.
Thì rõ rệt là những hành động trong quá khứ của báo Người Việt được coi như chính đáng. Và luật pháp Hoa Kỳ đã bỏ qua những thương tổn tâm lý mà các nạn nhân của bạo lực ngôn từ đã phải chịu trong chuỗi những sự kiện liên hệ chặt chẽ tới vụ án. Trong trường hợp này, quyền tự do ngôn luận và sinh sống trong yên lành của nhiều cá nhân đã bị xâm phạm. Dù muốn dù không, sự bẻ cong vấn đề một cách khéo léo đã làm sự tôn trọng pháp luật trở thành điểm yếu, nếu không muốn nói là bị lố bịch hóa. Sự coi là "phỉ báng" báo Người Việt mà tòa kết án có đưa đến những tổn hại tâm lý, xã hội, hay thậm chí nghề nghiệp so với những điều "mistakes" (sai lầm) mà tờ Người Việt đã vô tình hay cố ý gây ra cho nhiều cá nhân trong cộng đồng hay không? nên cần được toàn thể các hội đoàn người Việt tự do trên toàn thế giới sưu tập, nghiên cứu, phân tích và đệ trình cho các cơ quan luật pháp nước Mỹ. Cá nhân tôi cảm thấy rất buồn, và đau khổ khi thấy rằng biểu tượng của lá cờ vàng ba sọc đỏ đã bị coi thường khi cho vào chậu rửa chân. Lá cờ này một thời đã là lá cờ của VNCH, đồng minh của nước Mỹ. Ngoài ra bài báo của nhân vật ký tên Sơn Hào đã công khai làm nhục người dân Miền Nam và nước Mỹ. Bài báo này mạ lị sự tranh đấu và đổ máu của nhiều trăm ngàn nguời lính Việt Nam và cả đồng minh của Mỹ như Đại Hàn, Úc, Phi...
(Như một nhắn gọi đến người dân nước Mỹ:Chúng tôi, quân dân VNCH, đã tranh đấu cho tự do, dân chủ và công bằng, với nước Mỹ như một đồng minh. Chúng tôi chưa từng ủng hộ một hành động nào, nếu có, được coi là xâm lăng hay phạm vào chủ quyền dân tộc của nước tôi. Chúng tôi cảm thấy bị nhục nhã khi bị cho rằng là tay sai của "xâm lược Mỹ". Miền Nam VN đã bị thua trận, nhưng cuộc tranh đấu bất bạo động của chúng tôi vẫn tiếp tục.  Bài báo ký tên Sơn Hào cần được dịch ra để người dân Mỹ thẩm định sự công bằng cho chúng tôi.)
Cá nhân tôi, Đinh Thế Dũng, không hề quen biết bà HDT hay một nhân vật nào trong báo Người Việt. Mong rằng lần này nước Mỹ sẽ lại thành công trong việc bảo v�  
------------------------------


TẦM QUAN TRỌNG ĐÀNG SAU CỦA MỘT VỤ ÁN


Khối người Việt tự do hải ngoại đang đứng trước một thử thách lớn vì kết quả thật quan trọng của một vụ án vừa xảy ra giữa hai cơ quan truyền thông. Đây không chỉ đơn giản là cạnh tranh nội bộ giữa hai tờ báo, mà chính là một cuộc đấu trí mà phía người Việt Quốc Gia hải ngoại đã thua. Có thể nói rằng, bản án đối với báo Sài Gòn Nhỏ được xem như chung cuộc của một trận đấu về ý thức hệ giữa khối cộng đồng tự do và thành phần làm lợi cho Việt gian cộng sản. Tôi không gọi báo Người Việt (NV) là cộng sản mà cho rằng họ là một trong những thành phần làm lợi cho Hà Nội, dùng tờ NV tung lên những hình ảnh bài viết chống lại cộng đồng người Việt Tự Do không ngoài mục đích câu thêm độc giả. Nhưng đây cũng là một ngón đòn độc, vì qua kết quả nầy, Hà Nội đã thắng một trận lớn trong mưu đồ nhuộm đỏ cộng đồng người Việt hải ngoại.

A. Là một người lính cầm viết chống chế độ cộng sản Hà Nội cũng như những ai làm lợi cho cộng sản, tôi xin đóng góp ý kiến riêng gởi đến tất cả quý vị có lòng với Quê Hương Đất Nước cũng như với các Cộng Đồng Người Việt Tự Do Hải Ngoại. Tuyệt đối không bàn chuyện với thành phần có thành tích ‘đánh phá chuyên nghiệp’.

Mở đầu bài viết trong phần nầy, tôi xin đề cập đến hai điểm :

1. Ông Trieu Nguyen (Mũ Đỏ) (tidenguyen37@...) có thể lớn hơn tôi 2 tuổi và chắc chắn cấp bậc cũ thì cao hơn tôi nhiều, do đó tôi phải trình thưa theo hệ thống quân giai của Quân Đội ngày trước. Thưa huynh trưởng, qua email ngày 10 tháng 01 năm 2015, huynh trưởng đã lên án bà HDT tham dự trong buổi tiệc kỷ niệm 10 năm thành lập TTCSVNCH tại nhà hàng Paracel (Nam Cali) đêm 29.9.2013 là "thiếu tư cách" và "thiếu văn hoá" trước một số đông quan khách tham dự, bao gồm các Tướng Tá, trên dưới năm trăm người. Xin thưa với huynh trưởng rằng, ban tổ chức đã xác nhận không mời và phái đoàn báo NV, dưới tên một người nào đó tự mua vé để đến dự. BTC công nhận phần thiếu sót của họ và đã xin lỗi tất cả mọi người ngay trước khi bắt đầu bữa tiệc. Như vậy, xin phép huynh trưởng cho tôi có ý kiến : không phải bà HDT thiếu tư cách và thiếu văn hóa mà bà HDT đã làm một việc cam đảm giữa phòng tiệc của nhà hàng Paracel với trên năm trăm quân nhân các cấp, trong lúc đó không một ai lên tiếng về sự có mặt của phái đoàn NV. Hơn nữa, chính bà HDT đã đem lại không khí thật vui vẽ và thoải mái của một buổi tiệc kỷ niệm của lính, đồng thời giúp tất cả tránh được những cái ngượng ngùng khó ăn khó nói và mất tự nhiên của trên năm trăm người khi phải ngồi trực diện với một phái đoàn, mà trước đó, đã ký tên chung lên án và tẩy chay họ. Nếu không có bàn tay của bà HDT nhúng vào, phái đoàn báo NV ở lại tham dự thì chắc chắn sau đó đã có nhiều bức ảnh đưa lên các hệ thống truyền thông cho cả thế giới thấy hai ‘đối thủ’ trước đây đã ngồi lại ‘hòa hợp hòa giải’ với nhau qua một bữa ăn nhậu ! Vậy ai đẹp mặt, và ai xấu mặt ở đây ? Nếu không có hành động của bà HDT, những vị Tướng-Tá-Úy bất ngờ bị đặt trước hoàn cảnh khó chịu và bực mình mà không nói được thì phải cám ơn bà ta mới phải chứ ? Thưa huynh trưởng, có đúng vậy không ?

2. Trong vài email khác, nhiều người tiếp tay nhau ‘ném đá’ một chiều bà HDT qua ba đề tài mà báo SGN đã viết về Trần Trường, Cha Nguyễn Văn Lý và Nguyễn Chí Thiện. Vậy xin hỏi những chứng cớ rành rành về các hành động quan trọng không thể quên của báo NV như vẽ cờ vàng ba sọc đỏ trên chậu rửa chân, đăng bài thơ chúc Tết những tên trong bộ chính trị cầm đầu nhà nước, chúc mừng Hồ Chí Minh và những bài viết cũng như hình ảnh nhục mạ QLVNCH, thì sao không thấy mấy vị nầy đưa ra cùng một lượt ? Thử so sánh hành động của báo NV và SGN, bài nào nặng ký, hình ảnh nào có ảnh hưởng chiều sâu hơn trong việc làm lợi cho cộng sản. Tôi bỏ ngoài hành động của thành phần phá đám chuyên nghiệp, cò mồi, ganh và ghét bà HDT, mà chỉ nhắc chừng các đấng mang danh là trượng phu nhưng lại đua nhau ném đá một người đàn bà ngã ngựa… thì nên có một thái độ công bằng để được người đọc tôn trọng khi họ đọc các bài viết của quý ông !

3. Báo NV đang chờ chiếc bánh trị giá 4,5 triệu Mỹ kim từ trời rơi xuống và hội đồng quản trị sẽ chia đều số tiền khổng lồ nầy như là một phần thưởng cho toàn bộ nhân viên báo NV. Không biết NV có đi đêm hứa hẹn chia chác cho người nào khác không hoặc đã treo bảng tuyển mộ nhân viên viên mới chưa ? Mùi thơm của cái bánh quá quyến rũ đã làm cho một số đông gồm thành phần đánh phá chuyên nghiệp cũng như những ông bà đón gió trở cờ xuất hiện, tay nầy xách bị chạy theo ủng hộ tòa soạn NV, tay kia thì liên tiếp ném đá vào báo SGN !

B. Với vị trí là thành viên ban chủ biên của nguyệt san KBC, đồng thời là đại diện chính thức của hai tờ báo Chiến Sĩ Cộng Hòa (CSCH) và KBC tại Châu Âu. Tôi tự nghĩ có bổn phân của một người lính cầm bút viết văn và làm báo, thì tôi phải lên tiếng bảo vệ hai tờ nguyệt san quân đội còn sót lại đến ngày hôm nay. Người lính chúng ta còn gì tại hải ngoại sau ngày phải buông súng giữa chừng và ra nước ngoại tỵ nạn ? QLVNCH chúng ta chỉ còn hai cơ quan ngôn luận chính thức để duy trì những hình ảnh và bài viết hào hùng của tập thể quân đội chúng ta ngày trước. Tôi lấy làm lạ, có người nhân danh là lính, là sĩ quan của QLVNCH trước kia, hàng năm mặc quân phục mang cấp bậc đeo huy chương để giữ mãi những kỷ niệm hào hùng của mình đồng thời nói lên tâm trạng của những người cầm súng mất nước, nhưng tại sao họ chống lại một trong hai tờ báo độc nhất đại diện cho tập thể cựu quân nhân QLVNCH tại hải ngoại ? Hoặc còn tệ hơn nữa, họ còn núp dưới trướng của những nhóm làm lợi cho Việt cộng để góp sức bứng tận gốc tờ báo quân đội của mình ? Đây là một hành động cần phải đặt ra với vài thành phần cựu quân nhân như đã nói trên. Tôi xin nhắc nhở tất cả những ai đã một thời mặc áo trận và ngày nay vẫn còn tự hào với tinh thần Danh Dự và Trách Nhiệm của mình. Đã nhiều lần chính bà HDT (CSCH) cũng như anh Tô Phạm Thái (KBC) đã nói với tôi ngay trước ban trị sự rằng, mục đính của họ không đặt nặng vấn đề tiền bạc mà cố gắng làm thế nào để quản lý và phát hành tờ CSCH cũng như KBC tại Châu-Âu nhằm duy trì tiếng nói của những người chiến sĩ cũ tại lục địa to lớn nầy. Tôi đã nhận vai trò đại diện chính thức không lương và viết bài không nhuận bút cho cả KBC lẫn CSCH. Từ trên sáu năm qua, hàng tháng tôi đã gởi hai tờ báo nầy qua các nhà sách cũng như đến tận địa chỉ của gần 100 độc giả thường trực và dài hạn ở rải rác tại nhiều quốc gia Âu-Châu. Tiền bạc thu được bao nhiêu tôi đều thanh toán sòng phẳng hàng năm đối với cả hai tờ nguyệt san nầy. Với tư cách của một người lính, tôi cảm động trước lời nói của bà HDT, (không phải là cựu quân nhân), cũng như anh Tô Phạm Thái (một cựu quân nhân hết lòng với tờ báo KBC) và tôi hợp tác không cần một điều kiện lợi lộc nào. Vậy những cựu quân nhân và độc giả của CSCH nghĩ sao về những người thường vỗ ngực xưng mình là lính lại bắt tay với thành phần làm lợi cho cộng sản để bóp chết tờ báo CSCH, là bộ mặt và tiếng nói còn lại của những người lính QLVNCH tại hải ngoại nầy.

C. Những gì bí ẩn đàng sau vụ án ? Tôi ở Pháp không rành về luật của Hoa Kỳ và nhất là không đọc được những chi tiết đối đáp của luật sư hai bên cũng như những tài liệu dẫn chứng trước tòa. Nhưng qua những bài viết trên các diễn đàn, nhiều người cho rằng phiên tòa hôm đó có cái gì không được ổn cho lắm, nghĩa là không rõ ràng giữa các giữa lập luận của hai bên cũng như những văn bản hữu thệ. Tôi tuyệt đối không nghĩ rằng phiên tòa đã vi phạm sai lầm một chi tiết nào đó trong bản án kết tội cũng như các vị phụ thẩm bị một áp lực nào từ phía sau. Nhưng cũng có nhiều vấn đề bí ẩn của Mỹ đã được bạch hóa và qua kinh nghiệm với Việt Nam trước đây, người ta thấy việc làm từ cơ quan nầy đến tổ chức khác đã có một sự sắp xếp nào đó của bàn tay hành pháp và thế lực tài phiệt. Nhất là thành phần Do Thái đang nắm đa số trong các cơ quan quyền lực và kinh tế của Mỹ. Theo tôi, Mỹ hay bất cứ quốc gia nào cũng vậy, họ không chấp nhận cho một tập thể gốc tiểu số nào lớn mạnh thật sự trong đất nước của họ. Nhất là đối với cộng đồng người Việt đang đối đầu với nhà nước cộng sản. Chúng ta cám ơn người Mỹ đã đùm bọc và giúp đở cho chúng ta, những người Mỹ gốc Việt được hưởng mọi quyền lợi, nhưng cũng thật đau lòng, vì thực tế chính quyền Mỹ vẫn âm thầm áp dụng nhiều biện pháp ở một vài lãnh vực nào đó để cầm chân cộng đồng chúng ta trước đà phát triển mạnh về phương diện chính trị. Tôi đã trình bày nhiều lần, chính quyền Mỹ, thời tổng thống nào cũng vậy, họ kềm và hạn chế sinh hoạt chính trị cộng đồng chúng ta trong một vị trí nào đó để chúng ta phải ngoan ngoãn và trở thành một con bài trong việc trả giá với cộng sản Hà Nội cũng như với Tàu cộng. Xin ghi nhận một thực tế rằng, vì quyền lợi của họ, Mỹ chẳng những không diệt mà còn nuôi sống và vỗ béo các chế độ cộng sản. Bài học mới đây cho thấy Mỹ hủy bỏ cấm vận và tiếp tục nuôi dưỡng chế độ cộng sản Cuba vì mục đích chính trị và quân sự. Đối với Việt Nam cũng vậy, trong thế giằng co với Tàu cộng và đối đầu với Nga, Mỹ tìm cách hứa hẹn với Hà Nội một chương trình hòa giải hòa hợp, nghĩa là giải pháp ép cộng đồng người Việt tự do hải ngoại chúng ta phải ngồi vào bàn tròn bắt tay với Hà Nội không ngoài mục đích duy trì chế độ cộng sản. Các sự việc được chứng minh, Mỹ đã đón hai người, một trí thức TS Cù Huy Hà Vũ và một anh chàng bộ đội Điếu Cày qua họp với Mỹ nhằm tiến đến bước thứ hai của chương trình hòa giải. Qua hai lá bài xuất phát từ trong nước, Mỹ sẽ ngôn chính danh thuận nói chuyện với Hà Nội. Như vậy quý vị đã thấy, vai trò ba triệu người hải ngoại dù thông minh, tài giỏi đến đâu cũng không bằng 2 người do Mỹ chọn lựa, trong đó có một người gốc là lính bộ đội đã có một thời bị tù bởi những bài viết chống Hà Nội vì quyền lợi kinh tế cá nhân ông ta. Sự kiện trên đây chứng minh cho chúng ta thấy rằng, cộng đồng người Việt hải ngoại, dưới mắt chính quyền Mỹ chẳng đáng giá để đem lại niềm tin cho họ bằng một anh dép râu ít học ! Điều nầy cho phép người viết nghi ngờ giới hành pháp Mỹ đã nhúng tay vào bất cứ phạm vi nào của cộng đồng người Việt tại Mỹ, miễn là làm cho tập thể chúng ta xâu xé, lôi nhau ra tòa để xóa bớt một phe nhóm, một khuynh hướng hay một tổ chức nào đó.
Tiếp theo, tôi đưa ra vài dẫn chứng để xin phép nhắc nhở những ai đã một thời mặc áo trận cầm súng chống cộng sản cũng như bất cứ người nào đã bỏ nước ra đi rằng : trước tình thế nào, chúng ta, cộng đồng người Việt tại Mỹ cần phải có một thái độ gián tiếp và hợp pháp đối với vụ án giữa báo NV và SGN. Cách tốt nhất là lên tiếng ủng hộ người bị thua kiện. Đây là một phương pháp không mang tính cách chống đối bản án của tòa đã công bố mà hành xử đúng quyền tự do ngôn luận của tập thể công dân nước Mỹ nhằm bày tỏ tình đoàn kết với một bị cáo ngã ngựa trong cộng đồng. Tóm lại, điều gì sẽ xảy ra sau vụ án ? Xin nói ngay, nếu chúng ta vô cảm khoanh tay ngồi ‘chờ và xem’ thì sau khi hết thời hạn mà bà HDT không nạp đơn kháng cáo, phần thắng chung cuộc sẽ có hiệu lực ngay trong tay những người làm lợi cho cộng sản. Trường hợp tất cả chúng ta vẫn giữa thái độ vô cảm và bất động, SGN kháng án bị thua thêm một lần nữa thì xem như cộng đồng người Việt tư do hải ngoại đã hoàn toàn trắng tay trong trận chiến với đại diện thành phần làm lợi cho cộng sản tại hải ngoại. Lúc đó chuyện gì sẽ xảy ra, chắc quý vị cũng hình dung ra được.

D. Vai trò của những người đã cầm súng cũng như người tỵ nạn cộng sản :

Kỷ niệm đời binh nghiệp của những những người lính ngày nay chỉ còn bộ áo trận, binh phục quân trường và chiếc nón trên đầu. Xin tất cả quý vị trân trọng giữ gìn những bảo vật của một thời cầm súng, đừng để chúng phai màu bởi các hành động thiếu suy nghĩ. Hơn nữa, đừng để sau nầy phải hối tiếc khi màu sắc oai hùng và trang trọng của những chiếc mũ các quân binh chủng phải phai nhạt và biến thành những chiếc nón cối màu cứt ngựa của bọn dép râu thì con gì hào hùng của một người lính nữa ! Việc trước mắt, tôi chân thành cầu xin các cựu quân nhân hãy góp một tay cứu lấy tờ báo của lính CSCH của chúng ta. Những người có gốc tỵ nạn cộng sản hãy tiếp tay giúp báo SGN, vì cuộc tranh chấp nầy không còn mang tính cách phạm vi cá nhân của hai tờ báo mà chính là một cuộc đọ sức giữa các thành phần làm lợi cho cộng sản và khối người Việt Tự Do.

Tôi cũng xin phép kêu gọi tất cả mọi người góp ý ủng hộ báo SGN. Không lẽ quý vị vẫn giữ thái độ vô cảm và im lặng để cho thành phần phá thối chuyên nghiệp, cò mồi và những người trở cờ có cơ hội độc quyền lèo lái các hệ thống truyền thông (các diễn đàn ảo) và trấn áp cộng đồng chúng ta đi vào con đường đầu hàng Việt gian cộng sản vô điêu kiện. Đừng nghĩ đến những việc cao xa vượt ngoài tầm tay, xin hãy có những hành động theo khả năng đuợc chừng nào hay chừng đó. Hay nhất, những gì cần làm theo lương tâm trong lúc nầy, xin quý vị hãy bắt tay vào.
Xin đính kèm theo bản lên tiếng số 3 của 151 tổ chức, hội đoàn, chính đảng, cộng đồng và nhân sĩ Người Việt hải ngoại ký tên phản đối nhật báo Người Việt đã nhục mạ Chính thể và Quân, Cán, Chính VNCH. Mời quý vị vào xem lại danh sách gồm những ai và có tên mình hay không ? Luật sự của phía nguyên cáo đã trình bày trước tòa rằng đây là danh sách không đúng sự thật (danh sách ma) !

Đinh Lâm Thanh

Paris, ngày 18 tháng 01 năm 2015

---------------------------
                            
Phỏng vấn KHG DƯƠNG NGUYỆT ÁNH về vụ báo Sài Gòn Nhỏ vs Báo Người Việt

NĂM MÙI NÓI CHUYỆN DÊ

   
Dê là con vật được thuần dưỡng rất sớm, có thể trước thời kỳ đồ đá, cách nay khoảng 6, 7 nghìn năm. Trên những mảnh đất nung ở Trung Hoa, người ta thấy có hình chạm con dê. Chữ “dương” trong Hán tự ra đời cách nay 3 nghìn năm vẽ hình con dê có 2 sừng và chòm râu. Dê hay cừu đều là “dương” dù ở núi hay đồng bằng. Chữ miên dương là con dê mặc áo bông... là con cừu. Linh dương là con dê có sừng cong về phía sau. Căn cứ vào chữ “dương” là “dê” ta có thể “dịch” như sau: Dê to lớn, có quốc tịch Pháp gọi là “Đại Tây Dương”. Dê không thích đánh nhau gọi là “Thái Bình Dương”. Dê đi nước ngoài gọi là “xuất dương”. Dê bị cạo sạch lông (no hair) gọi là “dương trần”. Dê không ngay thẳng gọi là “dương gian”. Dê có học, sống đời văn minh tiến bộ gọi là “Dương văn Minh”... 
Không chỉ người Việt nói dê là “dê gái” mà người Anh, Pháp cũng vậy. Chữ goat trong tiếng Anh cũng dùng để chỉ người có máu dê (a lecherous man), old goat là ông già dê. Tiếng Pháp, chữ bouc cũng chỉ mấy ông có máu dê. Cà tím giống dái con dê (đực!) nên gọi là cà dái dê. Đánh số đề, nếu thấy con dê trong giấc mơ hay ngoài đời thì đánh số 35 thường “rất” trật lất. Con số 35 phát nguồn từ các sòng bài Kim Chung và Đại Thế Giới ở Sài Gòn (sau nầy là “khu dân sinh”) của tướng cướp Bảy Viễn thời Pháp thuộc.  Giới nhà nghèo thường vô đó đánh bạc với hi vọng đổi đời. Họ không biết chữ nên dưới mỗi con số có hình vẽ một con vật tượng trưng để tiện đặt tiền. Ví dụ số 1 mang hình con cọp, số 2 hình con trâu, số 3 hình con chuột... và số 35 mang hình con dê. Người chơi cứ theo hình đó mà mua một con số. Nhà cái xổ ra con (số) gì mà mình có thì cứ việc lượm tiền.             

Dê nhà thả đi rong ít lâu sau sẽ thành dê núi, dê rừng. (Các ông cũng vậy, thả ra khỏi nhà là đi hoang, thấy gái là thả dê, hết tiền mới mò về!) Giống dê được thuần hóa đầu tiên là giống Pasang, phát xuất từ trung Á. Ấn Độ nuôi dê sớm nhất. Vì Ấn Độ có hai tôn giáo chính, Ấn giáo và Hồi giáo. Ấn giáo không ăn thịt bò, Hồi giáo không ăn thịt heo. Thịt dê được cả hai tôn giáo chiếu cố. Việc nuôi dê phát triển ở Ai Cập, sang châu Âu, châu Á rồi mới đến châu Phi. Dê rất dễ nuôi, ăn bất cứ loại lá nào, ăn cả giấy báo, nhưng lại sợ ăn trên các cánh đồng có phân bón. Tại các đảo ngoài khơi miền nam California, như đảo Santa Rosa, Santa Cruz, San Clemente... là những nơi nghiên cứu các loại vũ khí bí mật, dê thường được thả chung quanh các căn cứ để chúng ăn cây cỏ cho quang đãng. Các thành phố Upland, Fontana, khi cỏ và cây dại mọc nhiều quá, người ta chở dê đến quanh các hồ nước, thả ra để dê ăn bớt. Nuôi dê để lấy thịt và lấy sữa. Nuôi để lấy lông, dệt len thì có giống Angora và Cashmere (nuôi ở Cashmere, Ấn Độ). Ở châu Phi, người ta vắt sữa hai lần trong ngày, nếu vắt trễ, căng sữa, dê về nhà chủ, gõ chân vào cửa nhắc nhở. Cho ăn no, dê có thể cho một lít sữa mỗi ngày. Ở Ai Cập, phụ nữ dắt dê đi bán sữa. Ai mua. Vắt sữa ngay vào bình. Trước 1975, quanh chợ Bến Thành, trên các đường phố chính như Nguyễn Huệ, Tự Do... các tiệm vải đều do các anh Bảy Chà gốc Bombay hay Calcutta làm chủ. Ngoài mấy tiệm vải họ còn hành nghề cho vay cắt cổ (chà Sét ty), và nuôi dê lấy sữa. Các anh Bảy Chà nầy thường giao sữa dê vào buổi sáng. Họ dùng xe mobylette chở từng bao bố lớn, có túi chứa các chai thủy tinh đựng sữa dê. Họ đến giao sữa từng nhà, dĩ nhiên nhà của mấy chú Bảy Chà giàu có, sang trọng, không thích uống sữa bò. Mấy con dê già, chú Bảy làm thịt, chế biến thành cà ry dê, ngon nhưng cay toát mồ hôi. Người ta nuôi dê ở các vùng đất cằn cỗi, gần núi. Dê leo núi rất giỏi. Ở châu Âu, vùng núi, người ta thả dê suốt mùa ấm, thỉnh thoảng có người đến cho ăn muối. Đến mùa đông, lùa vào chuồng. Dê thích đánh nhau (húc sừng. Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa) có khi đến nửa giờ. Dê rất mau lớn, 6 tháng tuổi có thể cho 30 Lbs thịt ròng. Thịt dê chiếm 5,7% sản lượng thịt trên toàn thế giới. Tiểu bang Texas nuôi khoảng nửa triệu dê để lấy thịt. Luật ở đó cho phép thịt dê được ghi là thịt cừu (lamb hay mutton) ngoài bao bì. Người Việt mình thường nói “Treo đầu dê bán thịt chó” là trường hợp nầy (Nhưng hiện nay ở Việt Nam, thịt chó mắc hơn thịt heo, thịt bò. Mấy tên cẩu tặc chỉ xách xe chạy một vòng, bắt trộm mấy chú cẩu về bán cho các quán nhậu thịt chó là có trong túi cả triệu bạc VN).     
Thời Xuân Thu, Chiến Quôc bên Tàu, vua chúa đãi nhau bằng tiệc “Thất lao” gồm bảy món thịt, trong đó có thịt dê. Ở Việt Nam xưa, người ta cầu thần linh bằng lễ “Tam sanh” gồm thịt trâu (hay bò) heo và dê. Mấy quan chức đảng và nhà nước ta, tham nhũng các dự án, giàu nứt trứng, đem tiền của ra nước ngoài cất giấu, sắm nhà, xe, chơi gái, cá độ... đến khi đổ bể thì cho vài thằng đàn em ra lãnh đủ, và gọi chúng là “dê tế thần”. Dê có mùi hôi, nghe nói trước khi làm thịt, người ta cho dê uống rượu cho say rồi đánh dê cho nó kêu la, đến khi nào nó toát hết mồ hôi mới làm thịt. Thật tàn nhẫn. Người ta thường bảo “dê kêu!” ý nói, có kêu bao nhiêu cũng chẳng ai quan tâm, như con dê kêu la thảm thiết trước khi bị làm thịt. Có người bảo, làm thịt dê xong, ngâm thịt trong nước mía thì bớt hôi. Người Âu Mỹ thường đốt cái hạch chứa mùi hôi chỗ sừng dê, ít lâu sau mới làm thịt thì không bị hôi nữa.
   
 “Nghiên cứu” con dê theo sách vở, đọc chán lắm! Nên tôi linh tinh chuyện “dê gái”, đọc vui hơn. Dê đực, khi “bức xúc” thường cúi đầu về phía sau và đái lên đầu. Nước đái dê hôi kinh khủng cộng với mùi của hai cái hạch nằm sau cặp sừng khiến mùi hôi càng nồng nàn (giống mấy ông xức nước hoa) Thế là các nàng dê, từ nơi xa, ngửi thấy mùi đó, thèm đến phát điên, chạy tìm cho ra chàng để nạp mạng. Tôi xem TV. băng tần “Đời sống hoang dã” thấy mấy chị sư tử, báo (beo), hổ (cọp) hễ động cỡn thì cứ việc đến nằm trước chàng (con đực) và chờ. Nếu con đực không thích chuyện đó, bỏ đi thì chị ta đi theo, lại nằm trước mũi và chờ. (Gái không chồng chạy ngược chạy xuôi!) Để “khỏi phụ lòng em” con đực miễn cưỡng trả bài! (Giống mấy ông làm home work) Nhưng vừa xong việc là nàng quay lại táp chàng một phát khiến chàng nhảy đựng lên, bỏ chạy.                                
Mấy ông “dân chơi cầu Bến Nọc” ra đường, thấy con dê đực thì vòng tay cúi đầu, kêu lên “Xi phu!” (sư phụ!)”. Các bợm nhậu thường thích ăn món, ngầu bín (cu con dê), “ngọc dương” (dái dê) để lên gân, khỏi bị mụ vợ già và các “bò nhí” (bồ trẻ) chê “Làm như gà!” (chưa nóng bụng đã tụt xuống!). Trong lúc chờ món thịt dê đem lên, các ông kháo nhau “Con dê đực đầu đàn là sư tổ chuyện đó. Mỗi buổi sáng, mở chuồng dê ra, làm gì con dê đực đầu đàn cũng ra trước, đứng ở cửa chuồng. Chị dê cái nào đi ngang qua cũng phải đứng lại cho “chàng” xơi một phát. Trong chuồng có trăm chị cái thì chàng xơi đủ trăm chị” Làm liên tục như vậy chỉ trong một buổi sáng! Thật đáng tôn vinh làm tổ sư. Nếu ai hỏi “Ông có thấy chuyện đó chưa?” thì làm gì ông ta cũng vỗ ngực “Chính mắt tôi thấy rõ ràng”. Nhiều ông tự xưng là “học giả” cũng khẳng định như thế. Sự thực như thế nào? Xin nghe ông “Tô Vũ đời nay” kể. Năm 1975, ông Nguyễn Mạnh, đảng viên Quốc Dân đảng, quận bộ Phú Vang, tỉnh Thừa thiên, bị Việt Cộng bắt đi tù cải tạo tại trại tù Bình Điền, Thừa Thiên. Ông ta được giao quản lý 84 con dê gồm 6 con dê đực, 40 con dê cái và 38 con dê con. Ông ta kể rằng. Buổi sáng, mở cổng chuồng, con dê đực đầu đàn ra đứng trước cửa chuồng đón chào bầy dê đi ra, miệng kêu “Bê hê!’ (dịch sang tiếng Anh là “Good morning!”). Bầy dê đi ra, con dê đầu đàn chỉ chận những con cái lại và “ngửi” dưới đuôi con dê cái (xin nhắc lại. Chỉ ngửi thôi) rồi cho đi. Chỉ con dê cái cuối cùng mới được chàng “lâm hạnh” trong 8 phút. Xong xuôi chàng lại kêu “Hê hê!”, (dịch sang tiếng Anh là “Good bye!”). Tưởng gì!? Tôi. “Đại văn hào” chuyên viết chuyện “tầm bậy tầm bạ”, cũng dư sức làm chuyện đó (nhưng không phải với những con dê cái).                                                 
Chuyện Tô Vũ chăn dê thì ai cũng biết nên xin tóm tắt như sau. Đời Hán Vũ Đế bên Tàu có rợ Hồ phương bắc thường xâm nhập trung nguyên (nội địa) đánh phá, cướp bóc, vua Hán bèn cho nàng Chiêu Quân làm cống vật cho vua Hồ làm thiếp. Tháp tùng có “đại sứ đặc mệnh toàn quyền” Tô Vũ. Không hiểu ông ta phát ngôn bừa bãi sao đó mà bị Hồ vương cho đi cải tạo ở ngoài quan ngoại (sa mạc Gô Bi) với đàn dê hàng mấy trăm con. Một lần, vào mùa đông, Tô Vũ trốn trại. Đi lang thang mãi mà không biết mình đang ở đâu, lại đói lạnh nên ngất xỉu. Tỉnh dậy, thấy một con khỉ cái đang đốt lửa sưởi cho mình còn nấu cháo cho ăn. Tô Vũ “bèn kết duyên cùng nàng”, sinh được hai con. Sau hơn ba “lịnh” (mỗi lịnh ba năm tù), Tô Vũ học tập tốt, lao động tốt, yên tâm cải tạo, trở thành công dân chân chính... nên được tha về trung nguyên (nội địa nước Tàu). Chuyện chỉ có thế mà sử sách Tàu truyền tụng đến bây giờ. Ở Việt Nam ta, trước 1975, tờ báo Sài Gòn Mới có phóng sự “người lấy khỉ” ở trong rừng Cà Mau. Báo bán chạy như tôm tươi, bà chủ báo (BT) hốt bạc. Bị các báo khác (bán ế) ganh ghét xúm nhau đả kích, rêu rao rằng “Bà chủ báo lấy khỉ” chứ người làm sao lấy khỉ, sinh con, ai mà tin được? Chuyện Tô Vũ thì tin?! Hóa ra, người Tàu là sư tổ phịa chuyện, mà chuyện nào cũng khiến người ta say mê, tin là thật!                                    
Viết nhiều tốn giấy, chủ báo lầu bầu, nên tôi xin kết thúc bằng những chuyện vui vừa xảy ra cách nay khoảng... chục năm. Xin tóm tắt như sau.                        
Dê Khiêu Dâm.                                         
Dưới chân dãy Hi Mã Lạp Sơn, có mấy bà vác đơn kiện mấy con dê trong làng về tội khiêu dâm. Nguyên nhân là mấy cô gái vị thành niên đi chăn dê, thấy mấy con dê làm chuyện người lớn, thèm quá bèn cho mấy thằng cà chớn “muốn làm gì thì ... cứ thoải mái”. Kết quả các cô sình bụng (có chửa). Các bà yêu cầu không được nuôi dê, nếu nuôi phải thiến các con dê đực. Nhưng nuôi dê là nguồn sống của dân làng. Họ cần sữa dê, thịt dê. Quan tòa không biết giải quyết ra sao đành khuyên các gia đình nuôi dê đừng cho mấy đứa con gái đi chăn dê nữa.                                                    
Ghen Vợ Giết Dê.                                         
Ở Bangladesh, một bà già vác đơn kiện ông chồng già, đòi ly dị và bồi thường vì đã giết “thân nhân” của bà ta là một con dê đực. Bà ta rất yêu quí con dê đó, suốt ngày tắm rửa cho nó, ăn chung với nó, tối nó ngủ chung phòng với vợ chồng bà. Ông chồng bực mình, giết con dê của vợ. Sau khi làm một đám tang long trọng và đẫm nước mắt, bà ta đưa ông chồng ra tòa. Ông chồng thưa với tòa rằng, bà vợ chỉ chăm sóc cho con dê mà không thèm để mắt tới chồng dù chồng bịnh hoạn, ốm yếu. Bà ta còn âu yếm gọi con dê là “Chàng trai yêu quí của em”. Tòa bèn bác đơn của bà ta, chỉ phạt ông chồng một ngày quét dọn nhà thờ và phải rửa tội.        
Giết Dê Để Hưởng Quyền Thừa Kế.                             
Một ông giàu có viết di chúc, để toàn bộ tài sản cho một con dê vì con trai của ông ta lười nhác và nghiện rượu. Sau khi cha chết, người con giết con dê để lấy tài sản. Nhà chức trách đưa anh ta ra tòa vì tội giết dê. Tòa bỏ tù anh ta nhưng không nghe nói gì về tài sản của bố anh ta?                                                    
Treo Đầu Dê Bán Ma Túy.                                        
Một ông cảnh sát Mỹ, nhà gần biên giới với Mêxicô, đưa vợ đi ăn thịt dê ở một tiệm ăn của người Mỹ gốc Mêxicô. Ông ta biết tiếng Tây Ban Nha nên nghe lóm chuyện của hai anh bồi bàn nói tiếng Mễ. Hai cậu nói rằng. Chủ tiệm ăn bắt những người làm thịt dê phải để cái bao tử lại cho chủ. Thông thường, lục phủ ngũ tạng của dê đều vất bỏ. Ông ta sinh nghi. Thế là cảnh sát theo dõi. Hóa ra những con dê chở từ Mêxicô qua Mỹ đều bị mổ bụng, độn ma túy vào bao tử trước khi đưa qua biên giới. Chủ tiệm ăn là tay buôn lậu ma túy. Hết!
 

Những phụ nữ còng lưng kiếm Tết

(Dân Việt) - Giữa thành phố nhộn nhịp không khí đón xuân, vẫn có hàng nghìn phụ nữ nông thôn tha hương nén lòng nỗi nhớ nhà, cắn răng chịu đựng giá lạnh, hy vọng sẽ tìm thêm mùa xuân cho con.

“Mẹ về đi...”

Chị Đinh Thị Đào (30 tuổi, quê ở Quảng Lưu, Quảng Xương, Thanh Hóa) ngẩn người, ứa nước mắt ngắm đứa trẻ chừng 3 tuổi đang bi bô trong vòng tay mẹ. Chị bảo, con út của chị cũng bằng đó.

“Hôm qua em điện thoại về, con út lem lém bảo: Mẹ ơi, về nhà đi, con không cần quần áo mới đâu, chỉ cần mẹ ở nhà với con. Bé tí mà khôn thế chứ” - chị nghẹn giọng.

Chị Đào đau đáu nỗi nhớ con.
Vợ chồng chị sinh được 3 đứa con gái, đứa đầu đã 10 tuổi. Nhà chẳng có ruộng nên chị lên Hà Nội buôn bán lặt vặt, chồng làm phụ hồ. Hai đứa lớn gửi ông bà nội, đứa út gửi bà ngoại.

Trời Hà Nội vừa mưa, vừa lạnh, co ro trong hai manh áo mỏng nhưng lòng chị Đào lại nóng như lửa đốt. “Nhưng em vẫn phải cố thêm 3-4 ngày nữa, giáp Tết mới về. Nói vậy chứ vẫn phải cố đủ tiền mua manh áo, cân thịt để con ăn tết” – chị Đào bùi ngùi.

Mẹt hàng lỉnh kỉnh vài cái khẩu trang, gói tăm bông, cái ví, cái lược, mớ bùi nhùi rửa bát, cọ soong nồi… trĩu nặng bên hông chị. Ngày đắt hàng thì kiếm được 100.000 đồng, trừ tiền ăn ở, cũng được dăm ba chục. Nhìn người bán kẻ mua tấp nập ngoài đường, chị lại đứng dậy, xốc mẹt hàng lên hông, khẽ nhăn mặt vì đau. Hông và vai chị đều tím bầm vì đeo nặng, lại đi bộ mỗi ngày hàng chục cây.

Tên chị là Vui (Lục Nam, Bắc Giang) nhưng cuộc đời chị chẳng mấy khi được vui. Chị có hai con trai đang đi học, tiền ăn, tiền học như núi lở. Chồng chị lại bị bệnh. Nhà không còn tiền nên giáp Tết chị vẫn chưa dám về. Chị làm cái xe đạp, mua ít hoa chở đằng sau, lúc đạp, lúc dắt bộ, rong ruổi qua những con phố, mỗi ngày kiếm 30.000-50.000 đồng.

“Hôm nay trời mưa lạnh, chỉ dám lấy có hơn chục bó. Hàng quà bánh còn giữ lại hôm sau, còn ăn, chứ hàng hoa ế thì chỉ đổ đi. Các con cũng đang giục về, nhưng cứ nghĩ đến bệnh tật của chồng, lại phải cố” – chị Vui phân trần.

Xoay xỏa tứ bề

Trong số rất nhiều chị em ở lại Hà Nội kiếm tết có không ít chị là công nhân tranh thủ được nghỉ sớm nhận việc dọn dẹp. Chị Lê Thị Như đang làm dọn dẹp cho công trình xây dựng trên phố Cầu Giấy (Hà Nội) được nghỉ từ 23 tháng Chạp. Trước đó vài ngày, chị đã thăm dò ở đâu có người cần dọn dẹp để đi làm. “Từ 23 tới 29 Tết mà đều việc thì cũng kiếm được 800.000 - 1 triệu đồng, cố cho con manh áo với nồi bánh”- chị bày tỏ.

Còn chị Trần Thị Trang (Kiện Khê, Thanh Liêm, Hà Nam) tòng teng trên vai đôi quang gánh đựng vài cái bao tải cũ, đôi găng tay, cái chổi xể, chổi lúa, vài miếng giẻ lau... đi rong xem có ai gọi dọn dẹp thì làm. Chị lấy chồng được 5 năm, có hai con. Nhưng người chồng vừa cờ bạc, vừa say xỉn, trong nhà có cái nồi nhôm cũng mang đi bán lấy 20 nghìn để chơi đề. Hai đứa con ốm o, nheo nhóc.

“Người ta mua cành đào hàng chục triệu, còn nhà em cố sửa cái nhà hết 20 triệu mà mấy năm vẫn chưa trả hết nợ”.
Con chị mới 5 tuổi, con em 2 tuổi mà chị vẫn phải nhao đi kiếm tiền.. Số tiền hơn 4 triệu đồng chị dành dụm được trong nửa năm, chị cũng sẽ gửi tiết kiệm, không dám mang về nhà vì sợ chồng lấy mất nướng vào cờ bạc: “Em sẽ cố gắng mua cho con ít bánh kẹo, hộp mứt để con thấy Tết trong nhà thôi. Đời mình coi như bỏ, cố gắng đổi đời cho con”.

Vợ chồng chị Thu Hằng (Xuân Trường, Nam Định) cố gắng co kéo tấm bạt dựng vội. Hai năm nay, gia đình chị đã lên cả Hà Nội sinh sống. Hai con trai chị, một đứa học Đại học Sư phạm, đứa kia học Bưu điện. Ở quê làm chẳng đủ tiền cho con ăn học, lại lo con trai hư hỏng, sa ngã, chị lên Hà Nội sống cùng các con.

Ngoại trừ vài giờ ngủ đêm, cuộc sống hàng ngày của chị là ở góc đường Trần Đăng Ninh. Dăm chục bắp ngô, cân hạt dẻ, cái bếp than, chị luộc - nướng ngô, rang hạt dẻ bán kiếm sống. Cứ từ 6 giờ sáng đến 23-24 giờ mới đủ chi tiêu, chưa có tiền lo Tết...

Chuyện Tết ngày Xuân

“Anh cho em mùa Xuân, nụ hoa vàng mới nở, chiều Đông nào nhung nhớ. Đường lao xao lá đầy, chân bước mòn hè phố, mắt buồn vin ngọn cây. Anh cho em mùa Xuân, mùa Xuân này tất cả, lộc non vừa trẩy lá. Lời thơ ru cõi đời, bầy chim lùa vạt nắng, trong khói chiều chơi vơi…” (Anh Cho Em Mùa Xuân – nhạc: Nguyễn Hiền, thơ: Kim Tuấn).
Tiết tấu nhẹ nhàng mà vẫn rộn ràng đưa hơi thở mùa Xuân vào cuộc sống. Đây là một ca khúc Xuân rất quen thuộc và dễ thương, ca từ đẹp và giai điệu cũng đẹp. Trong ca khúc này có động từ “cho” được lặp đi lặp lại, nói lên lòng quảng đại chứ không ích kỷ chỉ muốn “nhận”, vì “cho” (tặng, biếu) là một động từ quan trọng trong cuộc sống thường nhật.

Khi có chuyện gì phấn khởi, người ta thường nói “vui như Tết” hoặc “Tết nhất”. Điều đó chứng tỏ là Tết rất vui, luôn được mong chờ, luôn là ngày “nhất” trong năm. Ngày Tết, với trẻ em là niềm khao khát và vui mừng, với người lớn là trách nhiệm và bổn phận – và đôi khi có người không mong Tết, vì Tết đối với họ có thể buồn hơn ngày thường.

Đông lạnh qua, Xuân ấm đến, đó là quy luật tự nhiên của đất trời. Mùa Xuân là mùa của sự sống, cây cối nảy lộc, đơm bông, thể hiện tính trẻ trung và đổi mới. Mùa Xuân còn là dịp đoàn tụ, yêu thương, tha thứ, cùng tận hưởng và chia sẻ niềm hạnh phúc. Gặp nhau, ai cũng tay bắt mặt mừng, có gì sai sót trong năm cũ cũng bỏ qua hết, và trao nhau những lời chúc tốt đẹp nhất. Đó là “tống cựu, nghinh tân”, đặc biệt trong giây phút thiêng liêng nhất: Giao thừa. Ngày xưa, đêm giao thừa còn được gọi là đêm trừ tịch – khoảng thời gian thiêng liêng nhất trong năm, khi các gia đình sum họp, chuẩn bị đón năm mới với những điều tốt lành sẽ đến và tiễn trừ năm cũ với những muộn phiền đã qua.

Trong giây phút giao thừa, các gia đình lập bàn thờ cúng tổ tiên, khói nhang nghi ngút, bánh trái đầy bàn. Người ta thường đặt trên bàn các loại trái cây như: Mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài; theo phát âm tiếng Nam bộ là “cầu vừa đủ xài”. Như vậy, kể ra người ta cũng không tham lam, còn giữ được “nhân chi sơ tính bổn thiện”. Người có máu khôi hài thì nói là bày trên bàn 4 thứ: Chôm chôm, xoài, cái líp, cái gác baga; nghĩa là “chôm chỉa để xài líp baga” (xài líp baga là xài thoải mái). Dù chỉ đùa vui, nhưng chứng tỏ con người đã… biến chất “thiện”. Người ta còn bói Kiều và làm những nghi lễ trừ ma quỷ, người Công giáo cũng có thói quen đạo đức là rẩy nước phép quanh nhà để trừ ma quỷ. Người Việt có tục lệ tốt đẹp:
Xuân về, mồng Một tết Cha
Mồng Hai tết Chú, mồng Ba tết Thầy


Mồng Một tết Cha – Người Á Đông nói chung và người Việt nói riêng, truyền thống “uống nước nhớ nguồn” được tôn trọng, đó một truyền thống tốt đẹp đầy tính nhân bản. Tổ tiên, ông bà, cha mẹ là những người thân có công lao lớn đối với chúng ta, thế nên chúng ta phải dành “ưu tiên số một”. Thật vậy, đó không chỉ là nghĩa vụ của mọi người theo phần đời, vì “chim có tổ, người có tông, sông có nguồn”, mà còn là nghĩa vụ theo Công giáo, vì Thiên Chúa đã dạy: “Hãy thảo kính cha mẹ” (x. Hc 3:1-16). Nghĩa vụ thì phải làm, nhưng đồng thời có lợi cho chính mình: “Ai thờ cha thì bù đắp lỗi lầm, ai kính mẹ thì tích trữ kho báu. Ai thờ cha sẽ được vui mừng vì con cái, khi cầu nguyện, họ sẽ được lắng nghe. Ai tôn vinh cha sẽ được trường thọ, ai vâng lệnh Đức Chúa sẽ làm cho mẹ an lòng” (Hc 3:3-6). Và Thiên Chúa cũng cảnh báo: “Ai bỏ rơi cha mình thì khác nào kẻ lộng ngôn, ai chọc giận mẹ mình, sẽ bị Đức Chúa nguyền rủa” (Hc 3:16).

Mồng Hai tết Chú – Đó là các thân bằng quyến thuộc, là họ hàng Nội Ngoại, là xóm giềng, là bạn bè, là ân nhân,… Sống trên đời không ai có thể là một ốc đảo, vì cuộc sống là một xã hội, không trực tiếp liên hệ thì cũng gián tiếp liên hệ bằng nhiều cách. Người này có liên đới với người kia, dù có thể chỉ là một ánh mắt hoặc thái độ, thậm chí có thể chỉ qua ý nghĩ. Người này có trách nhiệm và bổn phận với người kia, dù là người dưng nước lã, dù là người chưa biết mặt quen tên. Hãy tết nhau bằng cách luôn triệt để tôn trọng nhân vị, nhân phẩm và nhân quyền của nhau.

Mồng Ba tết Thầy – Thời phong kiến áp dụng trật tự xã hội: Quân – Sư – Phụ. Ở đây chúng ta không nói chuyện “thứ tự trước sau” mà chú trọng tầm quan trọng của 3 cấp bậc. Trong đó người thầy được đề cao theo tinh thần “tôn sư trọng đạo”, và người Việt cũng khuyên: “Muốn con hay chữ hãy yêu lấy thầy”. Hán Việt dùng từ Sư Phụ, người thầy không chỉ là người dạy mà còn được coi như “phụ mẫu”. Thế nhưng ngày nay người ta không còn coi trọng lòng “tôn sư trọng đạo”, đó là dấu hiệu sa sút đạo đức!

Tết nhau không hẳn là món quà cáp bằng vật chất, có “khả năng” tết nhau một chút lễ vật thì cũng tốt, nhưng đừng câu nệ “quà cáp” mà “biến chất”, quan trọng nhất là cởi mở gặp gỡ nhau với cả tấm lòng, tết nhau bằng những ước muốn tốt đẹp, những lời cầu chúc chân thành, những lời cầu nguyện thành tín. Tiếng Việt thật thú vị khi dùng từ “gặp gỡ”: Gặp nhau thì phải “gỡ bỏ” mọi vướng mắc, không “gỡ” thì không thể nào “gặp” được. Đó là cách sống tích cực theo đạo làm người và theo tôn giáo của mỗi người.

Người Công giáo có “quy ước” riêng của Giáo hội đối với 3 ngày Tết:
Mồng Một cầu xin Thiên Chúa
Ban cho thế giới bình an
Thể lý cũng như tâm hồn
Kiên vững niềm Tin, Cậy, Mến


Bình an là điều luôn cần thiết đối với mọi người trong mọi thời và mọi nơi. Muốn sống bình an thì bạn phải tạo hòa bình xã hội, bạn không thể bình an khi xã hội rối loạn hoặc tinh thần chán nản. Bình an trước tiên là sức khỏe – tinh thần và thể lý. Đúng như tục ngữ nói: “Sức khỏe là vàng”. Đó là hệ lụy tất yếu vậy!
Mồng Hai thành tâm khấn nguyện
Xin cho mùa màng bội thu
Công ăn việc làm thuận hòa
An tâm không phải thao thức


Sống không thể chỉ hít thở khí trời và uống nước lã, vì thế con người cần mưu sinh. Muốn mưu sinh thì phải có nghề nghiệp, có công ăn việc làm. Công việc lại có liên quan và tùy thuộc thời tiết. Mùa màng bội thu thì con người hạnh phúc phấn khởi, mùa màng thất bát thì con người đói khổ. Nói vậy không có nghĩa là thời tiết chỉ quan trọng đối với nông dân, không có nông dân thì “kẻ sĩ” cũng không sống nổi. Mọi người đều liên đới với nhau về nhiều phương diện, không thể nói “nhất sĩ, nhì nông” hoặc “nhất nông, nhì sĩ”. Giới nào cũng có cái “nhất” và cái “nhì”, không ai “ưu thế” hơn ai.
Mồng Ba xin Chúa chúc phúc
Ban cho cha mẹ, ông bà
Luôn sống thánh thiện, an hòa
Vui cùng đàn con, lũ cháu


Cầu nguyện cho người còn sống được an khang hạnh phúc là chuyện dĩ nhiên, chúng ta còn có bổn phận cầu nguyện cho những người đã “ra đi” trước chúng ta. Xuân về Tết đến, mọi người sum họp hữu hình, còn tổ tiên không thể sum họp hữu hình với đàn con, lũ cháu, nhưng họ vẫn khả dĩ sum họp vô hình với chúng ta.

Mùa Xuân là dịp nghỉ ngơi, vui chơi, cho phép người ta có thể tiêu xài “rộng tay” một chút. Tuy nhiên, đôi khi có thể người ta muốn chứng tỏ “đẳng cấp” của mình mà “chơi nổi” kiểu công tử Bạc Liêu, chưa tới mức “lấy tiền nấu trứng” nhưng cũng có vẻ muốn tỏ ra “đại gia”. Năm ngoái, có những người không ngần ngại chứng tỏ “bản lĩnh” đó: Có người mua cặp dưa hấu với giá 900.000 VNĐ, có người mua bộ phản gỗ (bộ ngựa) 100.000 USD, có người “khoe” là bỏ ra 20 triệu VNĐ để sắm tết,… Và còn nhiều “cách chơi” khác nữa.

Trong khi có những người “vung tay quá trán” như vậy thì vẫn có những con người chưa hưởng trọn vẹn mấy ngày Tết hoặc không hề có mùa Xuân. Một cậu bé 10 tuổi ở Đồng Tháp, ở với bà ngoại ngoài 80 tuổi, em chỉ mong Tết đến để được ăn món “khổ qua xào với trứng”. Được hỏi sao em ước mơ như vậy, em cười hồn nhiên và cho biết: “Vì chỉ có ngày Tết ngoại mới để dành đủ tiền để làm món đó”. Câu nói của em thật hồn nhiên nhưng sao nghe lòng nhói đau quá! Một ước mơ quá bình dị như vậy mà sao khó với em bé này đến vậy? Quả thật, cuộc đời còn biết bao con người khốn khổ, họ không mong Tết, mà có mơ cũng không thấy!

Xã hội khó có thể trở thành thế giới đại đồng, nhưng cũng có thể tương đối, nếu người giàu biết bớt phần lãng phí để chia sẻ với người nghèo. Thực ra, đó là trách nhiệm và bổn phận của đạo làm người.


Chuyện giàu – nghèo là lẽ tất nhiên ở đời, nhưng vẫn là một ẩn số vô cực. Mùa Xuân là mùa của ngàn hoa tươi sắc, lòng người cảm thấy rạo rực khó tả, có những khuôn mặt rạng rỡ nụ cười và cười “hết cỡ thợ mộc”, nhưng cũng có những khuôn mặt còn ủ rũ, đôi môi khô héo, lòng luôn trĩu nặng…

Chúa Giêsu luôn hết lòng quan tâm và chăm sóc người nghèo, Ngài đã “chắc nịch” xác định: “Mỗi lần anh chị em làm điều gì cho một trong những người bé nhỏ nhất của Tôi, đó là anh chị em đã làm cho chính Tôi vậy” (Mt 25:40).

Ngài muốn chúng ta NÓI và LÀM, không nói suông, không hứa lèo, không chỉ mở lòng mà còn phải mở đôi tay và mở hầu bao. Mỗi ngày chúng ta nhiều lần cầu nguyện bằng Kinh Lạy Cha (Lc 11:1-4), chúng ta thấy Ngài nói thực tế, không hề bóng gió: “Không lẽ người ta xin cá thì lại lấy rắn mà cho nó? Hoặc người ta xin trứng lại cho họ bò cạp?” (x. Lc 11:9-12).

Xuân về, Tết đến, đó là mùa yêu thương, mà yêu thương thì phải chia sẻ, chia sẻ cả vật chất lẫn tinh thần, vì “đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2:17 & 26). Hãy chân thành tặng nhau một mùa Xuân tươi đẹp nhất, rộn rã nhất và trọn vẹn nhất!
Mùa Xuân thắm sắc mai vàng
Bình minh tỏa ánh nắng vàng lung linh
Giáo đường vang vọng lời kinh
Hồi chuông đổ nhịp ân tình ngàn năm
Tin yêu nở giữa mùa Xuân
Hồng ân Cứu độ tuôn tràn bao la…


Cầu mong cho xã hội luôn biết tôn trọng công lý để xã hội có nền hòa bình đích thực. Cầu mong cho mọi người biết yêu thương nhau bằng tình đồng loại trọn vẹn để ai cũng được tôn trọng nhân quyền đúng nghĩa và có thể tận hưởng mùa Xuân viên mãn nhất. Nhờ vậy mà “Ý Cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời”!
Trầm Thiên Thu 

Ở Việt Nam Không Có Mùa Xuân

Ở Việt Nam cuối năm con Mèo có nhiều chuyện buồn hơn vui nên mùa Xuân không đến với nhiều người để đón Tết năm con Rồng

Thứ nhất là chuyện đói-nghèo. Đảng khoe đến hết tháng 11/2011 số gạo xuất cảng năm 2011 có thể trên 7 triệu tấn, thu về 3.7 tỷ Mỹ Kim. Năm 2012, có thể sẽ gỉam vì phải cạnh tranh giảm giá của các nước xuất cảng gạo, đặc biệt là Ấn Độ và Thái Lan, nhưng vẫn dự kiến bán được từ 5.5 đến 6 triệu tấn gạo.
Như vậy, tại sao dân ở nhiều vùng trong nước, đặc biệt ở vùng cao, hải đảo và biên giới lại bị đói ăn từ giữa mùa ?
Tác gỉa Phương Nam của Báo Tuần Việt Nam viết ngày 08/06/2011: ”Tháng 4-5/2011, một thông tin tưởng như đùa của đất nước có sản lượng gạo xuất khẩu đứng thứ nhì thế giới làm cho nhiều người giật mình, lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa xin Chính phủ cứu đói khẩn cấp dân qua mùa giáp hạt. Theo một thống kê mới nhất, tình hình thiếu đói đã tăng cao trong tháng 1, tháng 2/2011. Số lượt nhân khẩu nông nghiệp thiếu đói đã tăng gần gấp 2 lần so với cùng kỳ năm 2010 với 838,6 nghìn lượt. Đây cũng là số lượng nhân khẩu thiếu đói nhiều nhất kể từ năm 2007 đến nay.”
Bài báo viết rằng: “Nhóm hộ nghèo ở VN đa số là những người dân tộc thiểu số ở các vùng sâu, vùng xa thuộc biên giới hải đảo, vùng miền núi. Nông dân ở vùng nông thôn, nhất là những vùng đất canh tác ít, hay gặp thiên tai. Người làm công ăn lương, người hưu trí, hoặc kinh doanh nhỏ lẻ....Ngoài ra ở thành thị, là lớp thị dân nghèo, sống trong các ngôi nhà "ổ chuột", hay ngoại ô thành phố. Nguồn thu nhập chính của người nghèo chủ yếu là từ canh tác nuôi trồng nông, lâm, thủy sản, chiếm 55,5% tổng thu nhập, tiền lương tiền công chiếm 23,8% tổng thu nhập.”
Bà Pratibha Mehta, tân Điều phối viên Liên hợp quốc tại Việt Nam cho báo VietNamNet biết vào ngày 22/12 rằng có 20% có nguy cơ đói nghèo đa chiều ở Việt Nam.
Bà nói: “Tỷ lệ đói nghèo đa chiều ở các tỉnh nghèo nhất Việt Nam rất cao như 82,3% ở Lai Châu, 75% ở Điện Biên và 73% ở Hà Giang. Và 12 tỉnh có hơn 50% dân số đói nghèo phi tiền tệ. Trong khi ở các tỉnh nghèo, tỷ lệ đói nghèo đa chiều cao hơn nhiều so với tỷ lệ đói nghèo tiền tệ, thì ở các tỉnh giàu, tỷ lệ đói nghèo phi tiền tệ tương đương, thậm chí thấp hơn tỷ lệ đói nghèo tiền tệ, nghĩa là tỷ lệ thiếu thốn về y tế, mức sống và giáo dục thấp.”
Bà Fiona Lappin, Trưởng Bộ Phát triển quốc tế Anh (DFID) đã cảnh giácvới Báo chí trong nước rằng : “Việt Nam không được quên nghèo đói vẫn là vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt đối với người dân miền núi, vùng sâu vùng xa, dân tộc ít người. Vẫn còn nhiều việc phải làm để đối phó với nghèo đói ở những khu vực này.”
Bà nói: “Một chiều khác của đói nghèo đang gia tăng ở Việt Nam, liên quan trực tiếp đến những người lao động từ nông thôn lên thành thị tìm việc làm. Họ chủ yếu làm những việc dịch vụ giản đơn, có thể kiếm được nhiều tiền hơn so với ở nông thôn, nhưng thường chỉ trong thời gian ngắn. Khi mất việc hoặc phải trở về quê, họ phải đối mặt với nguy cơ tái nghèo.”
KINH TẾ TẦU LAI
Thứ hai là tình hình kinh tế. Tình trạng gia tăng lạm phát tiếp tục lên cao vào cuối năm ở mức 20%, thay vì hơn 18% như nhà nước nhìn nhận.
Sư xuống giá mỗi ngày của đồng bạc Việt Nam, cộng với mức gia tăng giá hàng tiêu dùng đã làm cho công chức, công nhân gặp nhiều khó khăn trong đời sống.
Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng, đưa ra kế họach kéo lạm phát xuống 9% trong năm 2012 là một giấc mơ hão huyền, theo các nhà kinh tế rành chuyện Việt Nam.
Chính Dũng cũng đã nhìn nhận trong bài viết phổ biến trên khắp các báo trong nước nhân dịp đầu năm 2012 rằng: “Thể chế kinh tế thị trường vẫn chưa đồng bộ, các yếu tố của kinh tế thị trường chưa hình thành đầy đủ. Thị trường đất đai còn nhiều vướng mắc. Thị trường tài chính phát triển không cân đối, thị trường trái phiếu còn sơ khai, thị trường chứng khoán thiếu chiều sâu, chưa trở thành một kênh huy động vốn quan trọng của nền kinh tế, đang dồn gánh nặng lên thị trường tín dụng, làm cho thị trường này rất dễ bị tổn thương. Thị trường khoa học công nghệ chậm phát triển. Thị trường lao động tuy đã khá hoàn chỉnh nhưng chất lượng nguồn nhân lực thấp cùng với sự bất hợp lý về tiền lương giữa các khu vực đang là rào cản lớn cho việc chuyển dịch lao động đến những lĩnh vực thiết yếu trong quản lý nhà nước và cung cấp dịch vụ công. Giá cả một số hàng hóa và dịch vụ chưa bù đắp được chi phí, chưa theo cơ chế thị trường, làm cản trở việc thu hút nguồn lực và công nghệ cao cho phát triển.”
Như vậy là hỏng tòan diện.
Nhà nước Việt Nam cũng không sao giải quyết được nạn công nhân nước ngòai, phần lớn từ Trung Cộng, đang cướp công ăn, việc làm của người dân Việt Nam ngay trên quê hương mình.
Chính phủ chỉ biết có khỏang 31 ngàn người nước ngòai đang làm lậu ở Việt Nam, nhưng đã có lần báo trong nước đề cập đến con số 75 ngàn công nhân Tầu không có nghề chuyên môn đã được các Công ty Tầu đem lậu vào làm tại các công trường, nhà máy do Trung Cộng “trúng thầu có lệ” của Chính phủ Việt Nam.
Song song với tình trạng này là con số hàng hóa nhập siêu từ Trung Cộng vào Việt Nam năm sau tăng hơn năm trước.
Bằng chứng như Tác gỉa Anh Quân viết trên Kinh tế Thời Báo ngày 24/05/2010 : “Kể từ khi quan hệ hợp tác thương mại nội khối ASEAN+3 bắt đầu được triển khai từ năm 2000, kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc vào Việt Nam đã tăng gấp 24,4 lần trong 10 năm, từ 673 triệu USD năm 1999 lên 16,44 tỷ USD năm 2009. Trong khi đó, nhập khẩu hàng Việt Nam của Trung Quốc chỉ tăng tương ứng khoảng 6,6 lần, từ 746 triệu USD lên 4,91 tỷ USD.
Từ xuất siêu 73 triệu USD năm 1999, đến năm vừa qua (2010), Việt Nam đã nhập siêu khoảng 11,53 tỷ USD, chiếm gần 90% tổng nhập siêu của Việt Nam.”
Theo tin các báo trong nước, trị giá hàng nhập siêu từ Trung Cộng vào Việt Nam năm 2011 được tính từ 4.5 cho đến 4.9 tỷ Mỹ kim mỗi 3 tháng.
Ngòai cán cân mậu dịch chênh lệch nghiệm trọng này, Tầu còn đổ hàng lậu vào Việt Nam bằng mọi ngõ ngách đường bộ, đường sông và đường biển khiến cho hàng ngàn xí nghiệp Việt Nam phải đóng cửa vì hàng làm ra không cạnh tranh nổi với hàng giá rẻ của Trung Cộng.
Như vậy là “sinh mạng kinh tế” của Việt Nam đã nằm gọn trong tay người Tầu Bắc Kinh.
Lệ thuộc và bị bóc lột như thế chưa hết. Hồi tháng 10 năm 2011, Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư đảng đã ký thỏa hiệp ở Bắc Kinh với Hồ Cẩm Đào, Chụ tịch Nhà nước Tầu để cho Trung Cộng “hợp tác cùng phát triển” trên vùng biển của Việt Nam ở Biển Đông.
Việc làm này chỉ có lợi cho Trung Cộng và sẽ di hại cho nhiều thế hệ người Việt Nam sau này.
CHUYỆN NỘI BỘ
Chuyện thứ ba là tình hình chính trị nội bộ. Đảng Cộng sản Việt Nam đang “tự diễn biến” và “tự chuyển hoá”.
Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư đảng đã cảnh giác tình trạng sa sút tư tưởng, đạo đức và lối sống của “con số không nhỏ” cán bộ đảng viên đang đe dọa “sự sống còn của chế độ.”
Vì lyú do này, Nghị quyết "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" của Hội nghị Trung ương đảng kỳ 4 mới họp xong ở Hà Nội đã ra đời ngày 31/12/2011.
Thông báo cuối kỳ họp viết: “Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác xây dựng Đảng còn bộc lộ không ít hạn chế, yếu kém, có mặt còn phức tạp thêm. Những hạn chế, yếu kém đó làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước.”
Trọng phản ảnh tình trạng xuống cấp này trong Diễn văn bế mạc Hội nghị 4 : “Bên cạnh mặt tích cực, thành tựu, công tác xây dựng Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên cũng còn những tiêu cực, yếu kém đáng lo ngại, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận đội ngũ cán bộ, đảng viên; tình trạng quan liêu, xa dân, tổ chức không chặt chẽ, nhiều nguyên tắc của Đảng bị vi phạm.”
11 ngày sau tại Hà Nội, Trọng lập lại mối nguy đang đến với đảng tại lễ bế mạc Hội nghị tòan quốc Xây dựng đảng ngày 11/01/2012.
Báo Điện tử của Trung ương đảng viết : “Tổng Bí thư chỉ rõ, nhiệm vụ đặt ra đối với công tác tổ chức xây dựng Đảng rất nặng nề. Để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, Hội nghị T.Ư 4 đã quyết định ban hành Nghị quyết về một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay. Theo Tổng Bí thư, đây là vấn đề đang được quan tâm sâu sắc, bởi bối cảnh quốc tế và tình hình trong nước vừa có thuận lợi, thời cơ, vừa có khó khăn thách thức. Đảng ta đang đứng trước nhiều vấn đề mới, phức tạp phải lãnh đạo, giải quyết.”
Trọng nói với các cấp lãnh đạo ngành Tổ chức và Xây dựng đảng rằng : “ Bên cạnh những mặt tích cực, một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống làm xói mòn lòng tin của nhân dân đang là vấn đề đáng lo ngại. Mặt khác, các thế lực thù địch đang tìm mọi cách phá hoại sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân ta.
Trong tình hình ấy, nếu Đảng ta không thật sự vững vàng về chính trị, tư tưởng, không thống nhất cao về ý chí, hành động, không trong sạch về đạo đức lối sống, không được nhân dân ủng hộ, thì không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo đất nước đi lên. Một lần nữa, Tổng Bí thư khẳng định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, là vấn đề sống còn của Đảng, là sự tồn vong của chế độ ta.”
Đây là chuyện không nhỏ. Bởi vì lần thứ nhất đảng đưa ra Nghị quyết “xây dựng đảng” vào tháng 2/1999, đến nay đã 12 năm mà tình rạng suy thoái tư tưởng, đạo đức cách mạng và tham nhũng ngập đầu của cán bộ, đảng viên, nhất là trong hang ngũ lãnh đạo đã xuống cấp nghiêm trọng thì liệu đảng có còn nước để tát không ?
Nhưng khi nói đến xây dựng và tổ chức là nói đến con người, mỗi cá nhân đảng viên. Lê Khả Phiêu,nguyên Tổng Bí thư khóa đảng VIII là người đã đứng đầu cuộc vận động này với Nghị quyết 6 (lần 2) năm 1999 nhìn nhận sau 12 năm thi hành chuyện đâu không những vẫn còn đó mà tình hình nhân sự còn rệu rã, rách nát nghiêm trọng hơn.
Nhân dịp Hội nghị 4 đưa ra Nghị quyết giống như thời đảng khóa VIII, cả Phiêu và Trọng đều nói đến tính nguy hiểm của “chủ nghĩa cá nhân” vẫn còn tồn tại trong đảng là mối nguy nhất đang làm cho đảng lung lay tận gốc rễ.
Do đó, Trọng đã nói thêm với Hội nghị Xây dựng đảng rằng : “ Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, thì công tác tổ chức cán bộ là then chốt của then chốt, cho nên nếu "chốt" mọt là rất đáng lo ngại.”
Trọng nói thế là để tự an ủi nhau thế thôi chứ “chốt” đã ruỗng từ khuya rồi. Không tin thì ông ta cứ đi “thăm dân cho biết sự tình” xem có bao nhiêu trong số 87 triệu người còn muốn giang tay ra ôm đảng vào lòng ?
Ngay cả cái khẩu hiệu “cán bộ đi trước làng nước theo sau” ngày nào cũng đã hóa ra tro bụi hết rồi.
Như vậy thì đi tìm mùa Xuân ở đâu ? -/-
Phạm Trần
(Cuối năm con Mèo)

Bài Xem Nhiều