We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 17 February 2015

NĂM MÙI nói chuyện Dê


           
Bích
Ngọc
(Ất Mùi từ 19-02-2015 đến 07-02-2016)
Sau năm Giáp Ngọ chấm đứt, thì đến năm Ất Mùi được bàn giao từ giờ giao thừa bắt đầu giữa đêm thứ tư, 18-02-2015 để cầm tinh đến 24 giờ đêm 07-02-2016. Năm Ất Mùi này thuộc hành Kim và mạng Sa Trung Kim, năm này thuộc Âm, có can Ất thuộc mạng Mộc và có chi Mùi thuộc mạng Thổ. Căn cứ theo luật thuận hạp hay khắc kỵ của Ngũ Hành, thì năm này “Can khắc Chi ” tức Trời khắc Đất. Bởi vì : Mạng Mộc = Ất khắc mạng Thổ = Mùi (mạng Mộc tức Trờì được khắc xuất, mạng Thổ tức Đất bị khắc nhập). Do vậy, năm này xem như là năm xấu nhứt tổng quát, không thể thực hiện gì kết quả như ý. Trường hợp này, giống như những người có : mạng Mộc gặp năm mạng Kim – mạng Kim gặp năm mạng Hỏa – mạng Hỏa gặp năm mạng Thủy và mạng Thủy gặp năm mạng Thổ. Được biết năm Mùi vừa qua là năm Quý Mùi thuộc hành Mộc, nhằm ngày thứ bảy, 01-02-2003 đến 21-01-2004.

Căn cứ theo Niên Lịch Cổ Truyền Á Đông xuất hiện được minh định quảng bá từ năm 61 của đời Hoàng Đế bên Tàu, bắt đầu năm 2637 trước Công Nguyên, cho nên chúng ta lấy 2637 + 2015 = 4652, rồi đem chia cho 60 năm, thì có kết quả Vận Niên Lục Giáp thứ 77 và số dư 32 năm bắt buộc rơi vào Vận Niên Lục Giáp thứ 78 bắt đầu từ năm 1984 đến năm 2043. Do vậy, năm Ất Mùi 2015 này là năm thứ 32 của Vận Niên Lục Giáp 78 và năm Mùi kế tiếp sẽ là năm Đinh Mùi thuộc hành Thủy, nhằm ngày thứ bảy tính từ 06-02-2027 đến 25-01-2028.

Năm Mùi tức Dê cũng là Dương, cho nên trong bàn dân thiên hạ cũng thường nhắc nhở luôn trong sinh hoạt xả hội hằng ngày, từ đó mới có những từ ngữ liên quan, xin trích dẫn như sau :
-Mùi là con Dê đứng hạng thứ 8 của 12 con vật trong Thập Nhị Địa Chi, nó đứng sau con tuấn mã oai hùng đã từng xong pha ra trận mạc đánh đuổi ngoại bang phương Bắc xâm chiếm đất nước chúng ta. Trong ngôn ngữ Pháp thường dùng Le Bouc n.m = Con Dê đực – Le Chevreau n.m = Dê đực con và La Chèvre n.f = Con Dê cái (Chữ La chèvre n.f để chỉ con Dê rất đúng vì Dê thuộc âm).
– Giờ Mùi : là giờ bắt đầu từ 13 giờ đến đúng 15 giờ xế trưa.
–     Tháng Mùi = là tháng sáu của năm âm lịch. (Bởi vì, tháng Giêng là tháng Dần, tháng hai là tháng Mão(Mẹo), tháng ba là tháng Thìn, tháng tư là tháng Tỵ, tháng năm là tháng Ngọ và tháng sáu là tháng Mùi).

Ngoài ra, còn có tên như sau :
–        Dương = Con Dê.
–        Sơn dương = Con Dê rừng.
–        Linh dương giác = Con Dê này, có cặp sừng có ngấn như khu ốc, thường dùng để trị bịnh bang trái.
–      Dâm dương hoác = Loại cây rau cỏ, thường dùng trị bồi bổ và tăng cường cơ thể .v.v.
Trong dân gian cũng có câu: “Treo đầu Dê bán thịt Chó” ngụ ý nói không thành thật.
Viết đến đây, tôi nhớ lại sự tích Dương Xa, được truyền khẩu như sau : Thời xa xưa vào đời nhà Tấn bên Tàu, có vua Vũ Đế là một trong những vua có nhiều cung phi mỹ nữ nhứt, không biết mỗi đêm chọn ai để chung vui, nên bèn sắm một chiếc xe khảm vàng ngọc rất sang trọng do một đoàn Dê kéo cho vua đi một vòng trong cung thành, xe này được đặt tên Dương Xa, hễ xe Dê này ngừng nơi nào, thì vua sẽ nghỉ đêm nơi đó. Các cung phi mỹ nữ biết ý nhà vua, nên trước cửa phòng thường treo lá Dâu, để cho Dê đến ăn, bởi vì loài Dê bên Tàu thích ăn lá Dâu, còn ở Việt – Nam loài Dê lại thích ăn lá Sua Đủa hơn. Có phải chăng, từ đó hễ nói đến con Dê thường gọi ông thầy?
Nhân đây, xin trích đoạn liên quan trong tác phẫm Cung Oán Ngâm Khúc ” của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều như sau :
…Trên chín bệ mặt trời gang tấc
Chữ xuân riêng sớm trực trưa chiều
Phải duyên hương lửa cùng nhau
Xe Dê lọ rắc lá dâu mới vào.
Ngoài ra, khi nói chuyện Dê có rất nhiều, đặc biệt chuyện :”Vợ chồng Bá Lý Hề và năm bộ da Dê” đã được truyền khẩu trong dân gian, xin trích dẫn sơ lược như sau : Ông Bá Lý Hề tự là Tỉnh Bá, quê quán nước Ngu, trên 30 tuổi mới cưới vợ là Bà Đổ Thị và sanh được một đứa con trai, Ông vốn có học cao, nhưng vận bất phùng thời, lại có chí lớn, vì thế sống rất đạm bạc. Đỗ Thị biết ý chồng, nhưng chưa có cơ hội tiến thân, nên khuyên chồng nên tạm thời dẹp tình riêng mà ra đi để tìm đường tiến thân. Trước khi đi, Bà còn bắt con gà độc nhứt để nấu cháo thiết đãi Ông, nhưng khổ thay nhà quá nghèo, không có củi để nấu, Bà bèn gỡ tấm vách nhà làm củi. Khi ăn xong, Ông ra đi để lại nhà nghèo, vợ con bơ vơ, qua thời gian ít lâu mẹ con Bà cũng bỏ quê hương tìm đường tha phương cầu thực. Trong khi đó, Ông cũng long đong lận đận đi khắp nơi, cuối cùng gặp Tần Mục Công cho người sang nước Sở mang theo năm bộ da Dê tức ngũ dương bì làm lễ mọn để chuộc Ông và cuối cùng còn phong bá chức thượng khanh nắm giữ quyền bính trong nước. Riêng vợ con của Ông cũng trôi giật sang Tần làm nghề giặt thuê. Cứ mỗi lần xe Ông Bá Lý Hề đi ngang, Bà Đỗ Thị thường tránh né không dám nhìn. Một hôm trong dinh Ông thiếu người giặt thuê, cho nên Bà xin vào làm, rồi từ đó Bà lân la với phường ca nhạc và cuối cùng Bà được khảy đàn, ca hát rất bi ai, kể lại cuộc đời nghèo khó đau khổ của gia đình cho Ông nghe. Ông nghe xong, rất sửng sốt vì đúng gia cảnh Ông thuở hàn vi, Ông bèn cho gọi Bà lại gần thì nhận ra Bà chính là người vợ của Ông, vợ chồng Ông ôm nhau khóc than thật bi ai, khiến mọi người đều xúc động. Từ đó, gia đình Ông được sum hợp sống trong hạnh phúc giàu sang phú quý.
Có người còn cho biết thịt Dê ăn rất bổ và tráng dương, nhứt là lấy Dòn Bín hầm với thuốc Bắc ăn sẽ bổ thận, mấy bà vợ sẽ hài lòng, từ đó nhứt là mấy Ông nghe có lý, nên đua nhau tìm mua thịt quý này để ăn, bởi vì : “Ông ăn Bà khen “. Do vậy, những con Dê từ từ trong tương lai sẽ bị diệt chủng và sau cùng được thay thế Ngầu Bín Bò hayDòn Bín Trừu, nhưng nghe đâu không hiệu nghiệm bằng? Không biết có đúng vậy hay không?
Nhân đây, nói về Tết năm con Dê cầm tinh, xin trích dẫn một trong những món ăn liên quan đến con Dê, trong dịp Bà Từ Hi Thái Hậu, đời nhà Thanh Trung Hoa, khoản đãi phái đoàn sứ thần thuộc các quốc gia Tây Phương, nhân dịp mừng Xuân Canh Tý 1874. Tiệc được chuẩn bị 11 tháng 6 ngày trước, có 1750 người phục vụ, tốn kém 98 triệu hoa viên thời bấy giờ tương đương 374 ngàn lượng vàng ròng, gồm 400 thực khách và kéo dài suốt 7 ngày đêm bắt đầu giờ giao thừa Tết nguyên đán năm Canh Tý.
Đó là món Sơn Dương Trùng như sau :
Sơn dương là Dê núi, trùng là con dòi.
Tương truyền rằng: Bà Tây Dương Thái Hậu xuống chiếu đòi các thợ săn chuyện nghiệp tỉnh Hồ Bắc vào rừng phải tìm cho được một cặp Sơn Dương thật lớn. Sau thời gian băng rừng trèo núi cả tháng ở Thiểm Tây, đoàn thợ săn mới bắt được ba cặp Sơn Dương, trong số có ba con cái đều mang thai, nên được Bà Từ Hi Thái Hậu, trọng thưởng 50 lượng vàng mỗi con. Dê núi (Sơn Dương) sau đó được thả trong một khu vườn rộng đầy cỏ non xanh tốt. Cỏ lạ nuôi dê có được chất bổ dưỡng gan thận được vận tải đến mỗi ngày từ Vân Nam và Quảng Tây, cỏ này tên là “Đông Trùng Hạ Thảo” bởi mùa Hạ cỏ mịn như nhung còn sang mùa Đông thì trong cỏ quí có dược tính cùng với cỏ non, lá cây thuốc …nên sinh con khỏe mạnh và to lớn khác thường.
Đầu bếp làm thịt 14 con Dê Núi tuổi chưa quá hai tháng, cạo lông, bỏ hết tim gan phèo phổi rồi cho mỗi con vào thùng gỗ để ngâm rượu quí và nước gừng trong một ngày. Ngày thứ hai mang ra, rồi bỏ ngâm chúng nó vào thùng sữa tươi và nước sâm nhung khác. Ngày thứ ba dùng dùi vàng để đâm xuyên lủng qua gương sen và cuống hoa quỳ trắng (Phan Bạch Quỳ = Hoa Sen trắng của Đại Hàn thường nở vào mùa Đông) để cắm hoa vào mình Sơn Dương rồi tiếp tục ngâm như vậy đến ngày thứ mười thì tự nhiên xuất hiện lúc nhúc những con dòi trắng nõn. Đầu bếp lấy dòi ấy chế biến thành món ăn sơn dương trùng, món này trị các bịnh bán thân bất toại, tê liệt và lao phổi đại tài. (tài liệu này do Mọt Sách sưu tầm và tường thuật).

Trong mấy mươi năm gần đây xuất hiện bịnh thường gọi chung là Bò Điên, nhưng thật ra bịnh này có thể truyền nhiễm từ giống vật như : Bò, Trừu, Dê … và cuối cùng sang người ăn các giống vật bị điên. Bịnh này có tên khoa học là ESB = Encéphalopathies Spongiformes Bovines, là một bịnh truyền nhiễm do một vi thể không phải là vi trùng (microbe, bactérie) hay siêu khuẩn (virus), mà do một phân tử là Protéin Prion = PrP tạo thành để phá hủy trong não bộ.
Bịnh này do các nhà thực phẩm gia súc biến chế từ xác các gia súc đem nghiền nát làm bột thực phẩm, để đem trở lại nuôi các gia súc. Nhưng vì muốn lợi lộc nhiều, nên giảm bớt độ nung nóng và khử trùng từ 130 độ C xuống còn 80 độ C, làm cho không thể tiêu diệt được vi thể Prion truyền nhiễm. Từ đó, tạo nên chứng bịnh Bò, Trừu, Dê … điên và đưa đến tác hại sanh mạng con người, cho nên việc tìm Dòn Bín càng ngày càng khó khăn hơn.

Khi bàn đến tuổi Dê, chúng ta nên nhớ rằng Dê nằm trong nhóm tứ mộ là : Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, chúng nó khắc kỵ nhau, cho nên gọi là nhóm tứ xung. Tuy nhiên, nếu chúng ta xét cho kỷ thì chúng nó khắc kỵ trực tiếp từng cặp: Thìn & Tuất và Sửu & Mùi. Trái lại, còn nhóm nhị hạp là: Ngọ Mùi và tam hạp là: Hợi, Mão, Mùi (xin xem trở lại ở trước đã dẫn).
Bởi vì, trong Thập Thiên Can có 5 can dương là : Giáp, Bính, Mậu, Canh và Nhâm phải lần lượt kết hợp với 6 chi dương là : Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân và Tuất.
Ngoài ra, 5 can âm là : Ất, Đinh, Kỷ, Tân và Quý phải lần lượt kết hợp với 6 chi âm là : Sửu, Mão(Mẹo), Tỵ, Mùi, Dậu và Hợi.
Năm Quý Mùi có can âm.Vậy, chúng ta thử tìm hiểu trong 5 can âm kết hợp với chi âm để được tương sanh?
Trước hết, chúng ta tìm xem trong 5 can âm thuộc hành gì? Xin trích dẫn bảng kê như sau :

5 CAN ÂM         Thuộc Hành Gì ?
Can Ất     thuộc Hành Mộc
Can Đinh thuộc Hành Hỏa
Can Kỷ   thuộc Hành Thổ
Can Tân  thuộc Hành  Kim
Can Quý thuộc Hành Thủy

Và 6 chi âm thuộc hành gì? Xin trích dẫn bảng kê như sau đây :

6 CHI ÂM Thuộc Hành Gì ?
Chi Sửu           thuộc Hành Thổ (*)
Chi Mão(Mẹo) thuộc Hành   Mộc
Chi Tỵ                thuộc Hành Hỏa
Chi Mùi           thuộc Hành Thổ (*)
Chi Dậu           thuộc Hành Kim
Chi Hợi           thuộc Hành Thủy

(*) thuộc nhóm Tứ Mộ, nên có cùng hành là Thổ.
Chúng ta đã biết 5 can âm và 6 chi âm thuộc hành gì rồi. Từ đó, chúng ta áp dụng luật Ngũ Hành để có được tương sanh hay bị tương khắc, thì thấy các can âm kết hợp với các chi âm được tương sanh như sau :

Can Ất (Mộc) + Chi Tỵ (Hỏa) = Ất Tỵ (1)
Can Đinh (Hỏa) + Chi Sửu hay Mùi (Thổ) = Đinh Sửu(2)
Can Kỷ (Thổ) + Chi Dậu (Kim) = Kỷ Dậu(3)
Can Tân ( Kim) + Chi Hợi (Thủy) = Tân Hợi(4)
Can Quý (Thủy) + Chi Mão (Mộc) = Quý Mão(5)

Bởi vì,

(1) Mạng Mộc sanh mạng Hỏa
(2) Mạng Hỏa sanh mạng Thổ
(3) Mạng Thổ sanh mạng Kim
(4) Mạng Kim sanh mạng Thủy
(5) Mạng Thủy sanh mạng Mộc

Riêng năm hay tuổi Quý Mùi hay Ất Mùi không nằm trong 5 cặp tương sanh, thì nó rớt vào 5 cặp tương khắc, đúng như đã dẫn khởi đầu bài ” NĂM MÙI NÓI CHUYÊN DÊ ” cho nên trong dân gian thường nói :

“Người ta tuổi Tí tuổi Mùi,
Sao em lận đận một đời tuổi Thân ”

thì không đúng lắm, bởi vì mỗi tuổi đều có 5 tuổi tốt và 5 tuổi xấu, ví như năm hay tuổi Quý Mùi hay Ất Mùi đã dẫn. Ngoài ra, có người cho rằng người tuổi Mùi ưa mùi mẫn, nên rất thảnh thơi, còn người tuổi Thân có đồng âm với tủi thân, nên phần số phải vất vả, cơ cực lầm than cho cuộc đời, giải thích ngang xương như vậy có tánh cách trào lộng cho vui chớ không có chứng minh khoa học chánh xác của nó.

Trước khi tạm kết thúc bài này, tôi xin trích dẫn thời gian 10 năm những năm con Dê vừa qua và sắp tới có Hành như thế nào? để cống hiến quý bà con đồng hương nhàn lãm hoặc xem mình có phải sanh đúng năm Mùi hay không như dưới đây :

Tên Năm    Thời Gian            Hành Gì?
Đinh Mùi 13-02-1907 đến 01-02-1908         Thủy
Kỷ Mùi       01-02-1919 đến 19-02-1920       Hỏa
Tân Mùi      17-02-1931 đến 05-02-1932       Thổ
Quý Mùi     05-02-1943 đến 24-01-1944       Mộc
Ất Mùi       24-01-1955 đến 11-02-1956       Kim
Đinh Mùi09-02-1967 đến 29-01-1968          Thủy
Kỷ Mùi       28-01-1979 đến 15-02-1980       Hỏa
Tân Mùi      15-02-1991 đến 03-02-1992       Thổ
Quý Mùi     01-02-2003 đến 21-01-2004       Mộc
Ất Mùi       19-02-2015 đến 07-02-2016       Kim

Nhân dịp bước sang năm Ất Mùi kính chúc tất cả quý bà con đồng hương được An Lạc và mọi nhà được Thịnh Đạt Như Ý.

Hàn Lâm NGUYỄN-PHÚ-THỨ
Mừng Xuân Ất Mùi 2015

Ca Dao Mừng Xuân: Con ơi! ham học chớ đùa

Hôm nay là cận Tết... Cả nước vui mừng chờ năm mới. Truyền thông ông bà là tránh nói chuyện buồn ngày xuân, và nên nói chuyện lành chờ Tết.

Do vậy, xin chấp bút cho người xưa, ghi lại mấy dòng ca dao về Tết.

Mồng một chơi cửa, chơi nhà
Mồng hai chơi xóm, mồng ba chơi đình.
Mông bốn chơi chợ Quả linh
Mồng năm chợ Trình, mùng sáu non Côi.
Qua ngày mồng bảy nghỉ ngơi
Bước sang mồng tám đi chơi chợ Viềng.
*
Dù ai buôn bán nơi đâu
Nhớ đến ngày Tết rủ nhau mà về.
*
Anh Hai anh tính đi mô
Tôi đi chợ Tết mua khô cá thiều.
*
Con ơi! ham học chớ đùa
Bữa mô ngày Tết thỉnh bùa thầy đeo.
*
Cú kêu ba tiếng cứ kêu
Kêu mau đến Tết, dựng nêu ăn chè
Dựng nêu thì dựng đầu hè
Để sân gieo cải, vãi mè ăn chung.
*
Tháng giêng là tháng ăn chơi,
Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà.
Tháng ba thì đậu đã già,
Ta đi, ta hái về nhà phơi khô.
Tháng tư đi tậu trâu bò,
Để ta sắp sửa làm mùa tháng năm.
Sớm ngày đem lúa ra ngâm,
Bao giờ mọc mầm ta sẽ vớt ra.
Gánh đi, ta ném ruộng ta,
Đến khi nên mạ, thì ta nhổ về.
Lấy tiền mượn kẻ cấy thuê,
Cấy xong rồi mới trở về nghỉ ngơi.
Cỏ lúa dọn đã sạch rồi,
Nước ruộng vơi mười, còn độ một hai.
Ruộng thấp đóng một gàu dai,
Ruộng cao thì phải đóng hai gàu sòng.
Chờ cho lúa có đòng đòng,
Bây giờ ta sẽ trả công cho người.
Bao giờ cho đến tháng mười,
Ta đem liềm hái ra ngoài ruộng ta.
Gặt hái ta đem về nhà,
Phơi khô quạt sạch ấy là xong công.
*
Nhớ xưa trả nợ ba đời
Chiều ba mươi Tết mẹ ngồi nhìn con
Gánh cực mà đổ lên non
Còng lưng mà chạy cực còn chạy theo
Chừ đây hết cực hết nghèo
Vui theo ra ruộng nhàn theo về nhà.
*
Dầu bông bưởi dầu bông lài
Xức vô tới Tết còn hoài mùi thơm.
*
Mưa xuân lác đác ngoài trời
Trông ra đường, thấy một người thơ ngây
Gặp nhau ở quãng đường nầy
Như cá gặp nước như mây gặp rồng!
*
Mưa xuân lác đác vườn đào
Công anh đắp đất ngăn rào vườn hoa.
Ai làm gió táp mưa sa
Cho cây anh đổ, cho hoa anh tàn....
*
Tới đây viếng cảnh, thăm hoa
Trước mừng các cố, sau là mừng dân.
Sau nữa mừng cả làng tuần
Mừng cho nam nữ chơi Xuân hội nầy
Một mai đàn có bén dây
Ơn dân vạn bội biết ngày nào quên!
*
Mỗi năm vào dịp xuân sang
Em về Triều Khúc xem làng hội xuân
Múa cờ, múa trống, múa lân
Nhớ ai trong hội có lần gọi em…
*
Xuân sang thắm sắc đào hồng
Tuế hàn tam hữu nhủ lòng trúc mai.
Sử kinh anh ráng dùi mài,
Lòng em chí quyết đợi hoài duyên anh
 Cô Tư Sài Gòn
---
 

Dê trong văn chương Việt Nam

Bích
Ngọc
Tại VN, dê được nuôi rất sớm: Sách "Lĩnh Nam Chích Quái" ở chương đầu nói về họ Hồng Bàng có cho biết từ thời xa xưa, người Việt trong hôn nhân đã biết “giết trâu, dê làm đồ lễ”
Dê có ảnh hưởng đến đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam, trong đó có văn chương khá phong phú.
Trong “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Hưng Đạo có câu: 
Hide message history
Uốn lưỡi cú, diều, mà sỉ mắng triều đình
Đem thân dê, chó, mà ngạo mạn tể tướng.
Vào giữa thế kỷ 16, trong bài “Đào Nguyên Hành” Trạng Bùng - Phùng Khắc Khoan đã viết:
Trâu bò, gà lợn, dê, ngan
Đầy lũ đầy đàn, rong thả khắp nơi.
Vua Lê Thánh Tông (1442-1497) làm 2 bài Vịnh Tô Vũ trong “Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập” có nhắc đến con dê:
Biển bắc xuân chầy dê chẳng nghén
Trời nam thu thẳm nhạn không thông.
Nhà vua mượn điển tích Tô Vũ chăn dê tại Hung Nô thời Hán Vũ Đế bên Tàu.  
Truyện nôm “Tô Công phụng sứ”, khuyết danh, gồm có 24 bài Đường luật (tương truyền có từ thời Mạc, thế kỷ 16), Lê Quang Bí đi sứ sang Tàu bị Vua nhà Minh giữ lại 18 năm ở Nam Ninh, trong truyện có các câu:
Hơi dê hãy ngấu manh tơi lá
Tuyết nhạn còn in cái tóc lông.
(tả cảnh người chăn dê sống chung với dê, quần áo đượm mùi dê).
Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) có câu:
Lận thế treo dê mang bán chó
Lập danh cỡi hạc lại đeo ti
ền.
“Hồng Đức Quốc Âm thi tập” chép bài thơ Tương Phùng có 2 câu sau:
Ông già buông nọc châm hoa rữa
Dê yếu văng sừng húc dậu thưa.
Hồ xuân Hương (1772–1822) có bài “Mắng học trò dốt”:
Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ
Lại đây cho chị dạy làm thơ
Ong non ngứa nọc châm hoa rữa
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa.
Nguyễn Gia Thiều (1741-1791) trong “Cung Oán Ngâm Khúc” có câu:
Phải duyên hương lửa cùng nhau
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào
Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ
Dấu dương xa đám cỏ quanh co.
Lấy từ điển tích Dương xa (xe dê): Vua Tấn Võ Đế bên Tàu thường dùng xe dê đi trong cung cấm, hễ dê dừng ở cửa phòng cung phi nào thì đêm ấy vua sẽ ngủ với cung phi đó. Nên các cung phi mỗi đêm đều có treo lá dâu non (là món dê hảo) trước cửa để dụ dê dừng lại.
Thời Nhà Nguyễn, dê được sử dụng trong việc tế lễ: 
Dê vốn thật thuộc loài tế lễ...
Để hòng khi tế thánh tế thần...
Hễ có việc lấy dê làm trước
Dê dâng vào người mới lạy sau.
Truyện Nôm “Lục Súc Tranh Công” có câu:
Dê vốn thật thuộc loài tế lễ
Để hòng khi tế thánh tế thần, 
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu có câu:
Hai vầng nhật nguyệt chói loà
Đâu dung lũ treo dê, bán chó
Trong "Lục Vân Tiên"  có nhắc đến chữ máu dê, đường dê:
- Con người Bùi Kiệm máu dê
Ngồi chai bộ mặt như giề thịt trâu.
- Thôi thôi em hỡi Kim Liên,
Đẩy xe cho chị qua miền Hà Khê.
Trải qua dấu thỏ đường dê
Chim kêu vượn hú tứ bề nước non.
Vái trời cho đặng vuông tròn,
Trăm năm cho trọn lòng son với chàng.
Nhà thơ Bùi Giáng (1926-1998) chăn dê ở Quế Sơn, Quảng Nam từ 1945 đến 1952, có bài thơ “Nỗi lòng Tô Vũ” (Mưa Nguồn – 1962) xin trích 4 câu: 
Nhìn anh đây các em Vàng Đen Trắng
Tía Hoa Cà lổ đổ thấu lòng chưa?
Từ từ đưa chiếc vòng lên thủng thẳng
Anh từ từ đưa xuống cổ đong đưa.
Nhà thơ Lê Đạt bị cải tạo lao động sau vụ án Nhân văn Giai Phẩm tại vùng đồi núi Chí Linh, từ 1958 đến 1959 có làm bài “Ông cụ chăn Dê” in trong tập thơ Bóng Chữ (1994), xin trích 5 câu:
Rừng động xanh
Ai đừng được xuân
Mấy dê non buồn sừng húc gió
Cẫng lên cỡn lên
Be he xuân.
Trong Ngạn ngữ, tục ngữ, thành ngữ, ca dao VN có nhiều câu độc đáo như sau: 
-Cà kê dê ngỗng
-Giàu nuôi chó,
Khó nuôi dê  
Không nghề nuôi ngỗng  
-Treo đầu dê, bán thịt chó (ám chỉ nói một nơi, làm một nẻo).
Trò chơi dung dăng dung dẻ của trẻ em trong bài đồng dao vui nhộn:
“Dung dăng dung dẻ
Dắt trẻ đi chơi
Đến cửa nhà trời
Lạy câu lạy mợ
Cho cháu về quê
Cho dê đi học
Cho cóc ở nhà
Cho gà bới bếp
Ngồi xệp xuống đây”.
-Người ta tuổi Ngọ, tuổi Mùi
Em đây luống những ngậm ngùi tuổi Thân.
Ở Ninh Hòa quê tôi hát ru em như sau:
- Em tôi buồn ngủ buồn nghê
Con tằm đã chín, con dê đã mùi (muồi)
Con tằm để lại mà nuôi, 

Con dê chín mùi làm thịt em ăn.
 Có nơi lại hát như thế này: :
Ru em buồn ngủ buồn nghê
Con tằm chín đỏ, con dê chín mùi.
Con tằm chín đỏ để lại mà nuôi
Con dê chín mùi làm thịt em ăn.
-Giả vờ bịt mắt bắt dê
Để cho cô cậu dễ bề với nhau.
Bit_mat_bat_de
Tranh dân gian “bịt mắt bắt dê” của làng Đông Hồ (Bắc Ninh).
bg1
 Tranh dân gian “bịt mắt bắt dê” của Hàng Trống, Hà Nội.
Vì khả năng sinh lý rất mạnh, nên dê được nhiều nền văn hóa gán cho hình tượng dâm đãng (dê) trong đó có VN với những từ: dê, dê gáithói dê, dê cụdê già, dê xồm, máu dê, dê chúa, máu ba lăm…
Râu dê rậm, dài, cong, với tiếng kêu be he, gợi lên hình ảnh dâm dật:
-Tuổi Mùi là con dê chà
Có sừng, có gạc, râu ra um sùm
-Bươm bướm mà đậu cành bông
Ðã dê con chị, lại bồng con em.
-Phượng hoàng đậu nhánh sa kê
Ông thần không vật mấy thằng dê cho rồi.
Dê sồm ăn lá khổ qua
Ăn nhiều sâu rọm, chết cha dê xồm
 -Năm Ngọ mã đáo thành công
Năm Mùi dê béo, rượu nồng phủ phê.
-Bươm bướm mà đậu cành bông
Ðã dê con chị, lại bồng con em.
-Con dê con ngựa khác dòng
Ai cho con ngựa lộn cùng con dê.
Con dê trong văn chương VN thật đáng yêu đã cho chúng ta nhiều nụ cười sảng khoái. Đặc biệt trong thơ Bùi Giáng, tác giả đã đối xử, đã dành cho dê tình yêu thương và sự chăm sóc đặc biệt như đối với con người vậy:
Này em Đen chiếc vòng vàng tươi lắm
Này em Vàng chiếc trắng há mờ đâu
Này em Trắng chiếc hồng càng lóng lánh
Này đây em Hoa Cà hỡi ! chiếc nâu.
Vinh Hồ
21/1/15
*Sưu tầm trên NET

Tản Mạn Ngày Xuân

Mai nở một nụ cười thật tươi, hàm răng đầy chắc bóng, nói: "ông phi công thiệt giỏi, đáp xuống đường băng êm ru. Em tưởng mình đang còn lòng vòng trên trời. Mùa này đi máy bay về hướng mình, mây nhiều không khí đặc quánh bay tròng trành chao đảo làm mình cảm thấy khó chịu.”
Chỉ cần nhìn cái núm đồng tiền lõm sâu trên má của Mai tôi cũng đoan chắc chuyến đi thành công, vì trước khi đi Mai rất lo âu cho hai thằng cháu. Có những điều không cần phải nói ra.
Mason nằm gọn trong chiếc túi vải mang trước lồng ngực chẳng biết bà ngoại nói gì, vô tư đưa mắt nhìn những người xung quanh đang lăng xăng lấy hành lý trên mấy ngăn chứa trên trần. Máy bay đã đáp xuống phi trường SeaTac. Bây giờ là 10 giờ đêm, cuối đông.
Gia đình chúng tôi vừa trở lại đất liền sau một tuần nghỉ tại đảo Oahu, Hawaii. Chuyến đi được vợ chồng Julie và Tú sắp xếp chu đáo hơn ba tháng trước. Phải nói chu đáo vì có mang thêm hai trự nhỏ: Cameron và Mason, đứa hơn ba và đứa chỉ gần hai tuổi. Thiệt ra lần đi chơi này chủ đích là cho hai thằng nhóc --và tôi, ông già ăn theo-- hưởng chút ánh nắng trước khi mùa đông nghiệt ngã đến. Nhất là cho cậu út. Mason mấy ngày nay bị lạnh, ho nhiều về đêm và có đàm. Dây dưa, không thuyên giảm.
Tiếng đinh đong báo hiệu cho phép hành khách rời tàu vừa dứt, tức thì đồng loạt tiếng lách cách của nịt dây an toàn vang lên giống âm thanh hối thúc của một loại nhạc khí trong một bài giao hưởng. Mọi người cùng đứng lên, hối hả, kẻ valise, người túi xách ngóng về phía cửa. Một, hai phút trôi qua. Hình như cửa vẫn đóng. Hai hàng người dài theo hai bên lối đi bắt đầu có phản ứng khó chịu. Một vài câu nói biểu lộ sự không hài lòng.
Sự tắc nghẽn rồi cũng thông. Mất mười phút. Không tệ. Lúc đi ngang qua cửa phi cơ tôi dạm hỏi và được cho biết là trên chuyến bay có một hành khách mang theo một cây mai vào đất liền không có giấy thông quan từ Sở Nông Nghiệp Hawaii. “Chắc có lẽ do sơ ý hay thiếu hiểu biết về luật lệ.” Tôi nghĩ như vậy vì đây không là hàng cấm.
Sau khi ngồi sáu tiếng đồng hồ bây giờ bước đi trong Phi Trường Seatac cảm giác rất là thoải mái. Tuy vậy, nếu hỏi đâu được gọi là “Thiên Đường Hạ Giới” trên nước Mỹ thì câu trảo lời, theo tôi chính xác vẫn là tiểu bang Hawaii.  Ở đây, mùa đông về đêm vẫn có thể lang thang ngoài trời trong trang phục ngắn nhẹ, sáng sớm vẫn có thể tắm biển, chạy đùa trên cát, và dưới lối đi vào khu nghỉ mát, hàng phượng vĩ vẫn xanh um lấp ló một chút đỏ hoa học trò lung lay. Khó quên. Mặc dù đây không phải lần đầu tôi đến đảo nhưng lúc nào cũng vậy khi trở lại đất liền dư âm của chuyến đi vẫn cứ đong đưa trong trí nhớ. Cũng mất mấy ngày mới nguôi ngoai hay ít ra cũng theo chân đến khi chạm thực tế lúc lấy hành lý.
Nơi lấy đồ của chúng tôi có cùng chỗ với một chuyến bay nhập nội từ Việt Nam. Tôi nghe được nhiều người nói tiếng Việt với nhau, ơi ới gọi tên nhau. Tôi cũng thấy những kiện hàng to tướng, những thùng giấy kiên cố nằm bề thế trên những xe mà người đẫy còng lưng xệ vai, vẫn còn mang địa chỉ "đến từ thành phố". Hai anh bạn trẻ “chửi thề?!” chúc mừng nhau vì cây mai họ dấu trong thùng vẫn còn nguyên vẹn!
“Lại mai!” Tôi bất ngờ nhận ra Tết sắp đến. Mai là hoa của Tết đây mà!
Bây giờ đang là mùa đông. Ở Tiểu Bang Washington đông đến mưa nhiều và lạnh. Tối sớm. Ngày ngắn và đêm dài ra, nói cho thơ, dài như sợi tóc. 

Đường Du Hào


Bài Xem Nhiều