We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 3 March 2015

CHỦ ĐỀ 40 NĂM-KÝ ỨC: DĨ AN-Sát Cộng


ÔNG QUẬN DĨ AN

    
Viết theo lời kể của một cư dân của Quận Dĩ An,
Viết cho ngày 30 tháng Tư đen,
Viết cho những người Lính Địa Phương Quân, Nghĩa Quân, Cảnh Sát, Xây Dựng Nông Thôn và những người dân của Quận Dĩ An xưa.

Kính tặng Ông Quận Dĩ An – Ông Quận Thủy Quân Lục Chiến Sát Cộng – Trung Tá Nguyễn Minh Châu.
Để tưởng nhớ hương hồn Chú Ba, Trưởng Cuộc Cảnh Sát Dĩ An.

Nói về địa dư, thì quận Dĩ An thuộc về vùng III. Từ Sài Gòn đi Biên Hòa, nếu đi đường trong (đường ngoài là đường xa lộ Saigòn Biên Hòa), chúng ta sẽ tới Thủ Đức rồi tới Dĩ An và cuối cùng là Biên Hòa.
Mặc dù ở khoảng giữa Saigòn – Biên Hòa, nhưng người ta biết đến Thủ Đức và Biên Hòa nhiều hơn là biết tới Dĩ An, vì hai nơi kể trên có quá nhiều cảnh đẹp, thức ăn và trái cây ngon, như Suối Tiên, nem Thủ Đức, buởi Biên Hòa . . . .
Dĩ An chỉ là một quận thuộc về . . . miền quê, không có bất cứ một thứ gì đặc sắc, ngoài cái việc ở kế cận Sàigòn.
Đúng vậy, nếu đứng ngay ở quận lỵ Dĩ An, chúng ta sẽ thấy ngôi chợ, bót cảnh sát, ga xe lửa . . . Nhưng qua khỏi ga xe lửa một chút, chừng vài cây số thôi, là chúng ta đã tới miền quê rồi đó, với những cánh đồng lúa và vườn trái cây xanh mướt thấp thoáng những mái tranh đơn sơ.
Và trong một vài mái tranh đơn sơ đó, có . . . Việt Cộng.

Sau hiệp định Geneve 1954, phân chia đất nước làm hai miền:
Miền Bắc theo Cộng Sản,
Còn miền Nam theo Tự Do, thuộc Pháp. Khi Pháp rút về nước, trao chính quyền lại cho Quốc Trưởng Bảo Đại. Sau một cuộc “Trưng Cầu Dân Ý” Bảo Đại bị truất phế, nhường cho Ngô Đình Diệm lên làm Tổng Thống.
Bọn Việt Cộng ở miền Nam, một số tập kết về miền Bắc , số còn lại rút gân rút cốt thay hình đổi dạng, nằm vùng chờ cơ hội.
Tổng Thống Ngô lập chính phủ Cộng Hòa, lo vãn hồi an ninh trật tự cho miền Nam Tự Do, ông cho bắt hết đám Việt Cộng nằm vùng, xây dựng nền kinh tế vững mạnh. Cuộc sống người dân trở lại bình thường, dân Dĩ An nhờ đó, cũng sống rất yên lành.

Tôi sinh ra và lớn lên ở Dĩ An, chứng kiến những sự việc xẩy ra ở đó qua hai đợt di cư của người miền Bắc vào Nam: Năm 1954 và năm 1975.
Dân Di cư miền Bắc năm 1954, được tập trung sinh sống ở những khu vực như Thủ Đức, Hố Nai, Tam Hiệp . . . gần Biên Hòa, và đương nhiên là gần Dĩ An.
Thời đó, tôi còn rất nhỏ, mới bắt đầu đi học Tiểu Học.
Tới trường, hễ nghe đứa nào nói cái giọng khó nghe, thì hiểu liền, đó là dân “Bắc Kỳ”. Đang đi ngoài đường, hễ nghe ai đó nói:
“Rê Su Ma, nạy chúa tôi”
Là tụi tôi biết liền, đó là dân “Bắc Kỳ”
Ra chợ, hễ thấy bà nào có hàm răng đen bóng, là bọn chúng tôi biết ngay, đó là dân “Bắc Kỳ”
Một vài điều tôi còn nhớ như in vào đầu là, thời đó còn xài tiền giấy xé làm hai: Một đồng xé làm hai thành hai tờ Năm cắc. Những đứa nhỏ Bắc Kỳ cùng học với chúng tôi, tụi nó hiền lành, chỉ nhìn tụi tôi chơi dỡn chứ không bao giờ dám chọc ghẹo hoặc xin chơi chung với tụi tôi cả. Má tôi và những người chòm xóm bán hàng ngoài chợ thì nói những người Bắc Kỳ chịu khó làm việc và rất nhẫn nhịn, cái gì cũng cười.
Tôi được má kể lại là, lâu lâu , chính phủ tổ chức chiếu phim thời sự vào buổi tối, ở đầu chợ Dĩ An, để dân chúng đi xem, đông lắm, vui vẻ lắm, thái bình thịnh trị lắm.
Vào thời gian xẩy ra đảo chánh Ngô Đình Diệm và những cuộc đảo chánh kế tiếp, tôi không biết và không nhớ nhỉều cho lắm, vì lúc đó tôi chỉ là một đứa nhỏ chín mười tuổi mà thôi. Chỉ có một điều làm tôi còn nhớ cho tới ngày hôm nay:
Một lần xã tổ chức chiếu bóng sau chợ cho mọi người coi. Đang coi thì Việt cộng thẩy lựu đạn làm đám con nít tụi tôi chết nhiều lắm. Tôi không nhớ năm đó là năm nào, chỉ nhớ rằng, trong lúc đang mải mê coi phim chống bệnh tật: Máu đỏ và Máu xanh trong cơ thể chống lại Vi trùng xâm nhập vào người, thì nghe một tiếng nổ lớn:
“Đùng”
Nhìn chung quanh, tôi thấy người ta ngã xuống đất, máu chẩy thật nhiều, bọn tôi sợ quá, xúm nhau chạy về nhà. Kể từ đó, ba má tôi cấm đám anh em tụi tôi không được đi coi hát nữa.
Qua một thời gian vài năm không dám đi coi hát ở chợ, có một bữa, mấy đứa bạn tôi rủ đi coi hát ở đầu chợ nữa. Tụi nó nói với tôi:
“Có ông Quận mới về, ổng . . . sát cộng lắm, nên tụi nó không dám về thẩy lựu đạn nữa đâu. Đi coi hát được rồi.”
Nói thì nói vậy, chứ má tôi đâu có dám cho tụi tôi đi coi nữa. Anh em tụi tôi ham coi hát, lén lén đi từ đứa, mỗi đứa coi một khúc rồi về thế cho đứa khác đi coi. May là không có ai thẩy lựu đạn nữa, nên má tôi không biết chuyện này.
Mấy bữa sau, tụi tôi có chuyện đi ra quận đường. Đang đi, tôi chợt thấy có một chiếc “Xe Ríp – Jeep” chạy trờ tới, có một ông mặc đồ rằn ri nhà binh ngồi trên xe bước xuống, chống cây gậy đi chậm chậm. Dưới cặp mắt con nít của tôi, thì ông rất là oai phong. Tôi đâu có biết ông đó là ai? Cứ mở bự con mắt ra mà dòm ông. Những người lớn tuổi đi kế bên tôi lao xao nói chuyện với nhau. Một bác đi kế bên tôi nói lớn ra vẻ thích thú:

-“Đó, ông Quận Dĩ An mới dề đó!”
-“Ông Quận đó . . . sát cộng lắm đó! Ổng cho lính đi phá hầm Việt Cộng hoài à, kỳ nào cũng giết được mấy đứa, làm tụi nó sợ lắm, trốn hết trơn rồi.”
-“Ổng là lính “Thủy Quân Lục Chiến” đó, đánh trận ngầu lắm đó!”
-“Ổng tên gì vậy?”
-“Ai biết ổng tên gì! Nghe người ta kêu ổng là “Ông Quận Thủy Quân Lục Chiến”, vậy thôi, chứ ai mà biết tên ổng!”
Mấy ngày sau, nhân dịp tết Trung Thu, bọn con nít tụi tôi được đi theo thầy giáo tới quận đường để lãnh lồng đèn và bánh trung thu. Đây là lần đầu tiên trong đời, tôi đuợc tới quận đường và được lãnh quà trung thu. Tôi không còn nhớ đã được lãnh lồng đèn kiểu gì? Nhưng còn nhớ rất rõ là được phát một cái bánh dẻo nhỏ bằng ngón tay, ăn có mùi lá dứa.
Nhà tôi ở ngay chợ Dĩ An, mỗi ngày, ngoài giờ học và những giờ chạy chơi với bạn bè, tôi phải phụ má bán hàng, nên được nghe nói rất nhiều về “Ông Quận Dĩ An Thủy Quân Lục Chiến.
Có người kể:
“Tối qua, ông Quận cho lính đi phá hầm, giết nhiều du kích lắm, thằng con của Năm Rê (không phải tên thật) hổng dám dề kêu đi đắp mô nữa”
Cũng có người nói:
“Tối bữa trước, thằng Năm con ông Chín Lùa kéo đám trong bưng về chặn đường ông Tám Hó (không phải là tên thật) Hội Đồng Xã, đặng giết ổng. May phước, ông Tám có mang theo súng và có thằng nghĩa quân cũng xách súng đi theo hộ vệ. Hai người này bắn trả lại, rồi rược đám nằm vùng đó chạy thục mạng ra tới bìa rừng. Mấy bữa rồi, hổng thấy cái đám thằng Năm léo hánh về nữa.”
Một ông già bán xạp đã thật là vui vẻ nói lớn:
“Hổm rày quận mình yên lắm rồi! Tụi tui và bà con chòm xóm hết bị mấy cái đám ác ôn tối trời về bắt đi đắp mô nữa. Nhớ lại hồi đó, tối bị lùa đi đắp mô, sáng lại phải đi phá mô, hổng còn sức đâu mà làm ăn!”
Như tôi đã nói ở trên, từ ga xe lửa Dĩ An đi theo đường cái vô sâu chừng vài cây số, tới vùng Nhị Tỳ, qua khỏi Nhà Đèn Dĩ An là tới khu ruộng lúa và những đám rừng âm u (chưa tới Ngã Ba Cây Lơn). Những người đi theo Việt Cộng ban ngày vẫn làm ruộng trồng rau, ban đêm nhập với đám Việt Cộng trong rừng ra, tới từng nhà đòi đóng thuế, hoặc giết những người trong Hội Đồng Xã. Nhà này nhà kia, chòm xóm sống khít bên nhau, ai theo Việt Cộng, ai theo Quốc Gia, người dân biết nhau hết, nhưng không dám nói ra.
Có một bữa, dân chúng kéo nhau đi coi xác Việt Cộng chết, được ông Quận kéo về để dọc đường rầy xe lửa. Tôi tò mò lén đi coi. Tới nơi, tôi thấy có chừng sáu bẩy cái xác Việt Cộng, đứa thì mặc quần xà lỏn, đứa thì mặc đồ bà ba đen, quấn khăn rằn bị bắn chết, máu chẩy đầy mình. Lính nghĩa quân cầm súng đứng gác kế bên. Người ta đi coi đông lắm, tới tận nơi mà dòm. Tôi thấy xác chết thì sợ quá, không dám tới gần, chỉ đứng lớ xớ phía xa.
Có người léo xéo nói với nhau:
“Xác đó là thằng . . . Tám (không phải là tên thật), con của Sáu Lô đó”
Có người làm gan, tới hỏi anh nghĩa quân đứng gác:
“Việt Cộng bị bắn chết rồi, sao không đem đi chôn, mà lại đem trưng ra đây? Coi dễ sợ quá, hôi hám quá đi”
Anh nghĩa quân trả lời:

“Tụi tôi mới đi phá hầm bí mật của Việt Cộng tối qua đó. Ông Quận cho kéo về, chờ làm giấy tờ xong mới đem chôn, cũng để đó đặng cho bà con coi cho biết, đừng có đi theo Việt Cộng mà có ngày bị chết thảm như cái đám này đó!”
Tôi lớn lên theo tình hình an ninh của quận Dĩ An. Ông quận Dĩ An vẫn còn làm việc ở quận, tôi không có dịp gặp ông nữa, nhưng nghe dân chúng nói rất nhiều về những điều ông làm. Ông chịu lo lắng cho vấn đề an ninh của dân chúng, chịu hành quân, chịu đi phá hầm, truy lùng Việt Cộng lắm.
Vì thế, dân chúng mới đặt cho ông cái tên:
“Ông Quận Sát Cộng”
Bây giờ thì tôi đã lớn đủ để hiểu Việt Cộng là ai? Và Sát Cộng là gỉ? rồi.
Tôi chỉ là một đứa con gái, nhưng tôi cảm thấy phục ông, và lâu lâu vẫn suy nghĩ:
Ông đi đứng chống gậy rất khó khăn, vậy làm sao mà ông có thể đi hành quân phá hầm việt cộng hoài hoài như vậy được?
Có một bữa bán hàng, tôi thấy có một đám người lạ mặt mặc quần áo đen, đội nón rộng vành, vai mang ba lô, tới ăn ở quán của nhà tôi. Tôi thấy họ mặc đồ bà ba đen và quấn khăn rằn thì sợ lắm, nhất là nhìn thấy cái nón của họ, hơi giống cái nón tai bèo của đám du kích. Nhưng khi thấy họ mang ba lô thì tôi đỡ sợ, vì tuy không đi lính, nhưng tôi cũng biết chỉ có lính Cộng Hòa mới mang ba lô kiểu này mà thôi.
Khi một chú ăn xong, kêu tính tiền, tôi làm gan, hỏi chú là lính gì mà lại mặt đồ đen?
Chú này cỏn trẻ lắm, nhìn tôi cười, rồi từ tốn trả lời:
“Tụi tui là lính “Xây Dựng Nông Thôn” mới từ Vũng Tàu về đây”
Nghe chú trả lời thì tôi biết vậy thôi, và tôi cũng chỉ gặp họ một lần đó thôi, nên cũng quên đi, còn lo bán hàng, lo đi học.
Chừng vài tháng sau, tôi nghe dân chợ nói chuyện với nhau:

“Lính Xây Dựng Nông Thôn” được lắm! Họ hổng giống như lính Cộng Hòa, đánh trận xong là đi, họ ở luôn trong ấp của mình đó. Mấy ảnh giúp mình đủ chuyện hết, có bữa còn phụ bà Tám Cái (không phải là tên thật) cấy lúa nữa đó!”
“Bàn ngày, anh em “Xây Dựng Nông Thôn” đi vòng vòng giúp bà con, bàn đêm họ xách súng đi tìm Việt Cộng mà đánh đó. Tội nghiệp quá, họ làm việc sáng đêm. Tối qua đám này ghé nhà tôi, tía thằng Tâm nói tôi nấu cháo cho mấy chú đó ăn cho no đặng làm việc!”
Từ đó tôi mới biết lý do tại sao họ không có mặt ở chợ nữa, vì họ ở luôn ở trong làng, trong xã chung với dân.
Theo suy nghĩ nông cạn của tôi, tôi cho rằng:
Việt Cộng nằm vùng sống cùng với dân. Muốn diệt trừ bọn này, chỉ có cách là cũng sống cùng với dân như những người lính Xây Dựng Nông Thôn này thì mới thắng được bọn Việt cộng.
Từ đó, tôi lại có thêm cảm tình với lính Xây Dựng Nông Thôn và thêm cảm tình với ông Quận Dĩ An.
Tói tuổi thi tú tài, tôi lo học, nhưng cũng thích thơ của TTK, Hữu Loan, Hồ Zếnh . . . Và cũng thích đọc The Exodus, Chiến Tranh và Hòa Bình. . .
Một bữa, tôi đang đọc cuốn “Trại Đầm Đùn” thì một ông khách lạ mặc quần áo Cảnh Sát buớc vào quán kêu đồ ăn, ông trạc tuổi 45 gì đó. Khi tới quầy trả tiền, liếc mắt thấy tên cuốn sách, ông nhìn tôi ngạc nhiên:
“Con gái mà đọc mấy loại sách này làm chi!”
Tôi trả lời ông:
“Cháu đọc cho biết Việt Cộng là như thế nào?”

Lâu lâu ông lại ghé quán của má tôi mà ăn trưa, ăn tối. Tới khi quen rồi, tôi mới biết ông là Cuộc Trưởng Cuộc Cảnh Sát Dĩ An.
Có bữa, tôi đã cắc cớ hỏi ông:
“Chú Ba, có khi nào chú bắt được Việt Cộng, rồi cũng tra tấn người ta giống như bọn Việt cộng tra tấn dân ở trong cuốn truyện . . . Trại Đầm Đùn, hay không?”
Ông đã cười lớn một lúc rồi mới trả lời tôi:
“Bạo tàn không phải là nghề của Cảnh Sát Quốc Gia! Mình làm gì cũng phải có tình người ở trong đó. Hơn nữa, hỏi cung đám Việt Cộng là do Cảnh Sát Đặc Biệt hoặc là An Ninh Quân Đội phụ trách, chứ không phải là nhiệm vụ của chú.”
Từ đó, tôi có cảm tình nhiều hơn đối với ông. Ông kêu tôi là “Con gái” và xưng “Chú” với tôi. Nhà ông ở Sàigòn, ông đi làm bằng xe Vespa (hay Lambretta gì đó, tôi không nhớ rõ), chứ không lái xe Jeep Cảnh Sát. Người ta kêu ông là Chú Ba, thì tôi cũng theo đó mà kêu, chứ không hỏi và cũng không dám hỏi tên thật của ông.

Tháng Tư 1975, ngày đen tối của Việt Nam Cộng Hòa đã đến!
Mấy ngày trước đó, thấy tình hình nguy ngập, má tôi lo cho tính mạng của anh Hai tôi đang đóng quân ở Bạc Liêu và anh rể tôi làm Cảnh Sát ở Xa Cảng, nhưng đâu có làm gì được hơn. Má chỉ còn cách bảo tôi đi mua gạo trữ phòng khi có biến.
Gần cuối tháng, tôi nghe súng nổ thật gần, nhưng cũng chẳng biết làm gì.

Sáng 30, tôi nghe trên đài phát thanh, Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng Việt Cộng và kêu gọi binh sĩ các cấp gác súng súng chờ bàn giao.
Má tôi lo cho số mạng của người con trai và con rể. Còn tôi, tôi lo cho số mạng của những bạn bè tôi đã đi lính. Dĩ An ở gần phi trường Biên Hòa, gần cả căn cứ Sóng Thần, nên có rất nhiều thanh niên gia nhập Không Quân và Thủy Quân Lục Chiến, bạn bè tôi ở trong đám này đông lắm.
Rồi còn những người lính Xây Dựng Nông Thôn nữa, họ còn đang ở chung với bà con trong Xã, Ấp. Còn chú Ba Cảnh Sát, còn ông Quận ThủyQuân Lục Chiến Sát Cộng nữa, họ sẽ ra sao?
Mẹ tôi lính quýnh đi tới đi lui trong nhà. Tôi cũng lo sợ, lo sợ cho mẹ tôi, cho chính tôi nữa, cuộc đời mình sẽ ra sao?
Ngay lúc đó, chú Ba bước vào, mặt mày đăm chiêu. Điều ngạc nhiên hết sức là chú không mặc bộ quần áo cảnh sát thường ngày, mà chú mặc bộ đồ mầu trắng tươi, đeo lon và huy chương sáng ngời.
Chú nói với mẹ tôi:
“Tôi chào chị lần cuối, rồi về nhà. Đầu hàng rồi, nhưng tôi đâu có thua trận đâu mà đầu hàng! Sáng nay, khi nghe tin Tổng Thống Minh đầu hàng, tôi đã tập họp tất cả cảnh sát trong Cuộc lại dể làm lễ chào quốc kỳ lần cuối cùng, rồi giải tán, ai về nhà nấy. Tôi cũng về đây, thôi, chào chị và cháu gái, hai người ở lại mạnh giỏi.”
Mẹ tôi và tôi chưng hửng nhìn chú. Một lúc sau, mẹ tôi mới nói:
“Đầu hàng rồi, tôi thấy người ta mặc thường phục đi về, sao chú không thay quần áo thường mà lại mặc đại lễ như vầy, lỡ . . . có chuyện gì thì sao? Con trai tôi còn để mấy bộ quần áo ở nhà, tôi nói con Nhung lấy cho chú bận nhe!”
Chú Ba cười chua chát, trả lời:
“Lần cuối cùng của cuộc đời binh nghiệp của tôi mà chị! Tôi phải mặc đại lễ chứ!”
Tôi ái ngại nhìn chú, hỏi thêm:
-“Chú Ba đi về cùng với anh em cảnh sát hay về chung với ông Quận? Về chung chắc là an toàn hơn đó”
-“Anh em cảnh sát đa số là dân địa phương, họ tự đi về. Còn chú, chú đi bằng xe riêng từ đó tới giờ, nên hôm nay chú cũng về bằng xe riêng.
Ông Quận vừa nói chuyện với chú xong, ổng sẽ về sau cùng với những người lính nào ở Sàigòn.”
-“Chú Ba . . . Còn cây cờ của mình, sao chú không gỡ xuống?
Để . . . người ta xé đi thì tội nghiệp cho lá cờ lắm!”
-“Quân lực Việt Nam Cộng Hòa chỉ dạy chú thượng kỳ Việt Nam Cộng Hòa, chứ không dậy chú cuốn cờ bỏ đi.
Và chú cũng không thể làm chuyện đó được.
Trước khi về, chú đã đứng nghiêm chào lá cờ lần chót rồi.
Cứ để lá cờ ở đó, trong đầu óc của chú sẽ nhớ mãi hình ảnh lá cờ Việt Nam Cộng Hòa tung bay trong gió.
Sau này, lá cờ sẽ ra sao? Để tương lai trả lời.”
Rồi chú quay ra, đạp máy xe rồ ga đi thẳng.

Ngoài đường, tôi thoáng thấy những thanh niên mang băng tay đỏ, cầm súng chạy lăng xăng.
Chiều đến, má tôi hốt hoảng nhớ tới bầy cháu ngoại ở Sàigòn, má nói tôi ráng mang gạo cho chị tôi, để mấy đứa nhỏ đói tội nghiệp.
Tôi cảm thấy sợ hãi khi phải đi ra ngoài trong giờ phút này, nhưng cũng chất gạo lên xe Honda chạy ra xa lộ đi về Sàigòn.
Dọc đường, vẫn còn súng nổ, vẫn còn lính ta chạy tới chạy lui, quần áo lính vứt rải rác khắp nơi, và rất nhiều đàn ông mặc thường phục đi bộ về phía Sàigòn. Những chiếc xe tăng cắm cở Xanh dương và đỏ chạy rầm rộ trên đường, chạy qua mặt tôi một cách hung tợn, cũng huớng về Sàigòn. Tôi sợ lắm, bậm gan rồ ga chạy thục mạng.
Bất chợt, tôi nhìn thấy ở vệ đường, xác một người lính mặc đại lễ mầu trắng với những huy chương đeo đầy trên ngực áo, nắm bất động, mặt đầy máu, quay về phía đường lộ, bên cạnh chiếc xe Vespa lật nghiêng.
Tôi thảng thốt kêu lên:
“Chú Ba Cảnh Sát!”
Tôi thắng xe dừng lại, muốn xem có phải thật sự đó có phải là chú Ba hay không? Chú còn sống hay đã bị bắn chết?
Nhưng giòng người xô đẩy, tiếng súng hai bên nổ vang, rồi xe chở lính Việt Cộng chạy tới, xe tăng, thiết giáp bắn nhau qua lại, tôi không thể nào ngừng lại lâu được.
Tôi bật khóc, nhìn chú Ba một lần chót rồi rung rẩy chạy xe đi.

“Hồn Tử Sĩ, gió ù ù thổi, mặt Chinh phu trăng dõi dõi xoi.
Chinh Phu, Tử Sĩ mấy người, Nào ai vuốt mặt? Nào ai gọi hồn?”

Tôi nhớ lại hồi sáng, sau khi chú Ba đi được khoảng một tiếng đồng hồ thì một đám những tên đeo băng tay đỏ, những tên đội nón tai bèo, đã kéo lá cờ Việt Nam Cộng Hòa xuống, xé tan nát đi. Tôi vụt chạy ra muốn giựt lại lá cờ, nhưng vừa mới ra tới cửa, đụng phải một đám đá cá lăn dưa cầm súng chĩa tứ phía, làm tôi sợ quá, dội trở lại. Lúc đó, tôi đã giận chú Ba hết sức, tại sao không kéo lá cờ xuống mà cất đi, để nay bị cái đám người này xé nát.

Bây giờ, nhìn chú Ba nằm đó, tôi lại nhớ câu nói cuối cùng của chú:
“Cứ để lá cờ ở đó, trong đầu óc của chú sẽ nhớ mãi hình ảnh lá cờ Việt Nam Cộng Hòa tung bay trong gió. Sau này, lá cờ sẽ ra sao? Để tương lai trả lời.”
Tôi không giận chú Ba nữa, và nghĩ rằng, chú Ba đã làm đúng!
Chú Ba ơi, trong đầu óc chú bây giờ, lá cờ Việt Nam Cộng Hòa vẫn còn tồn tại, vẫn còn tung bay trong gió, trong vĩnh cửu, phải không chú?

Những ngày sau đó, rất nhiều khuôn mặt xuất hiện. Những khuôn mặt này rất quen thuộc với người dân Dĩ An trước đây, nhưng bây giờ họ đã trở thành khác hẳn:
Họ quấn khăn rằn, đội nón tai bèo, hiện nguyên hình Việt Cộng.
Bà con đi chợ nói với nhau:
“Cái đám này, hồi đó đã bị Cảnh Sát chìm, bị lính của Ông Quận mình bắt nhốt hết trơn rồi đó đa. Nhưng bị báo chí nói lung tung là bắt dân vô tôi, nên mới phải thả tụi nó ra. Nay thì rõ ràng quá rồi, phải chỉ hồi đó xử tử hết tụi nó đi, đỡ khổ . . .”
Một thời gian ngắn sau đó, những người Bắc Kỳ mới đã xuất hiện, chúng tôi kêu họ là “Bắc Kỳ 75”.
Những Bắc Kỳ 75 này láu cá và hỗn láo vô cùng, khác xa với “Bắc Kỳ 54” xưa.
Bắc Kỳ 54 ăn nói nhỏ nhẹ, cái gì cũng cười, thì đám Bắc Kỳ 75 đội nón cối, đi chân đất, luôn miệng chửi thề. Khi nói chuyện, họ xưng ông xưng cha với chúng tôi và sẵn sàng đe dọa:
“Ông báo công an, bắt bỏ cha chúng mày đi bây giờ đấy!”

Mỗi lần ngày 30 tháng Tư trở lại, tôi lại nhớ tới quận Dĩ An, nhớ tới ông Quận Thủy Quân Lục Chiến Sát Cộng, nhớ tới Chú Ba Cảnh Sát.
Tôi đã kể cho chồng con tôi nghe về những người này, không biết họ còn sống hay đã chết?
Chồng tôi hỏi, tôi còn nhớ tên những người hùng này hay không?
Lâu quá rồi. Hơn nữa, hồi đó, tôi còn quá nhỏ để mà nhớ.
Mỗi lần đi ngang những đài tưởng niệm chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa, tôi đều cầu nguyện cho họ.

“Gươm anh linh đã bao lần vấy máu
Còn xác xây thành, thời gian luống vô tình.
Rừng trầm phai sắc, thấp thoáng tàn canh
Hỡi người chiến sĩ vô danh…”.

Bất chợt, một hôm đọc Việt Luận, đọc bài “Cuộc Đời Đổi Thay” tôi mới biết ông Quận Trưởng Dĩ An , ông Quận Thủy Quân Lục Chiến Sát Cộng, Trung Tá Nguyễn Minh Châu, ông còn sống, đang ở bên Mỹ.
Tôi mừng qua, kêu chồng tôi:
“Anh ơi, ông “Guậng . . . Ông Guậng Dĩ Ang nè! Ổng còn sống, ổng diếc báo nè!
Anh coi hình ổng nè, ổng bận đồ rằng ri, oai hùng lắm nè! Thấy hông, em nói mà!”

Chúc mừng ông Quận được bình yên sau những đổi thay của cuộc đời.
Cám ơn ông Quận, đã gìn giữ an ninh trong quận, đã sát cộng, để những người dân Dĩ An như tôi có một cuộc sống yên ổn, cho tới ngày 30 tháng Tư.
NGƯỜI VIỆT CỦA TÔI, LÀ THẾ ĐẤY!
NGUYỄN KHẮP NƠI.

www.nguyenkhapnoi.com

------
TIN VUI:
Ông Quận Dĩ An – Trung Tá Thủy Quân Lục Chiến – đã nhận được bài viết “Quận Dĩ An”, đây là email trả lời của ông:
Xin cháu cứ gọi bằng Chú, Thiếm hoặc là Bác nếu nhỏ tuổi hay lớn hơn Ba Má mấy con, và đừng gọi bằng ông Quận.
Sáng hôm nay đọc bài viết, mới biết con là nữ học sinh tại quận Dĩ An nay đã thành tài và thành gia thất. Chú Thiếm xin chúc mừng. Thỉnh thoảng chú có đọc email mà không biết chính xác con là ai?
Bài của cháu viết với ý đậm tình quê hương Dĩ An với những câu văn thật thà và lòng thành thật của người Dĩ An mình. Chú được may mắn làm việc nơi đây khá lâu và 2 nhiệm kỳ nên có nhiếu tình cảm với đồng bào Dĩ An.
Cháu nhắc lại ngày 30-4-74 buồn lăm!
Ông Trung uý Trưởng Cuộc CSQG là Trung uý Đậm. Trên đường di tản về Saigon Thiếm có khuyên Trung uý Đâm cùng đi theo Chú thiếm nhưng vì QL 1 kẹt xe quá Tr/uý Đậm đi đường Xa lộ BH nên bị chết. Cũng do kiếp số.

Thầy giáo Quản dạy toán tại Trung học Dĩ An mà Chú đã nhờ Mỹ xây cất có gọi thăm từ bên Pháp và nói rắng ông ấy có chứng kiến sự ra đi của chú thật đau lòng.
Bài viết nầy hay lắm ! Xin phép con cho Chú gởi cho các Toà soạn đăng báo nghe. Chú sẽ gởi bài viết về những ngày cuối cùng cho vợ chồng con đọc.
Nhìn thấy email address biết là con đang sống sông bên ÚC. Ba Mẹ hiện nay ở đâu?
Chú thiếm kính lời thăm Ba Mẹ.
Mến thăm vợ chồng con và các cháu luôn được sự bình an.
Chú sẽ đọc email thứ 2 của cháu cùng gởi sáng nay.

Minh Châu & Tuyết Nga.

Nối nghiệp cha (g): Hoàng đế con, muốn mà không được!


Truyện thần thoại ngày nay ở Hà nội :

Tiều phu trở thành Hoàng đế


 

Ngày Tết ở Việt nam có tập tục đẹp đi tới nhà những người trong họ mừng tuổi ông bà còn mạnh giỏi, lạy ông bà quá cố trước bàn thờ, thắm viếng, chức Tết quan chức và bạn bè, ... Ở trong Nam, còn có tập tục đi lạy ông bà chung vì trên bước đường Nam tiến theo Chúa Nguyễn, biết đâu có họ hàng cùng đi khẩn hoang lập ấp mà không biết nhau .

Đó là những tập tục thật sự đẹp trong nếp văn hóa dân tộc . Ngày nay, nhiều nước Tây phương cũng giử nhiều tập tục đẹp về Ngày Tết . Ngày đầu năm, các vị lãnh đạo quốc gia chúc Tết dân chúng . Chánh phủ tới chúc Tết Tổng thống, Quốc trưởng,... Nhưng đồng thời, cũng ngày Tết đi chúc Tết, mừng tuổi quan lớn, lại mang một ý nghĩa khác hoàn toàn phản văn hóa dân tộc . Cụ thể thường xảy ra ở những nước độc tài tham nhũng như Việt nam .

Tư gia  cán bộ hay Cung điện nhà vua


Trong mấy ngày nay, báo chí ở Hà nội đăng tin, và báo chí việt ngữ hải ngoại thuật lại, ngày 19/2/2015, tức nhằm ngày mùng 1 Tết ta, " Ban Bí Thư Trung ương Đoàn thăm, chúc Tết các cựu lãnh đạo đảng và nhà nước " . Theo tập tục cổ truyền việt nam, đó là việc làm biểu lộ ý nghĩa “ uống nước nhớ nguồn ”. Phái đoàn do Bí thư Thứ nhứt Trung ương Đoàn Nguyễn Đắc Vinh dẩn đầu tới thăm, chúc Tết các ông Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh và tới thắp nhang cho Tướng Võ Nguyên Giáp tại tư gia . Bài báo của Trung ương Đoàn có kèm theo hình ảnh chụp buổi thăm viếng ông cựu Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tại tư gia của ông phơi bày nội thất sơn son thếp vàng rực rở không khác cung đìện vua chúa âu châu thời đế quốc phong kiến .


Trong những bức ảnh này, có một bức ảnh chụp ông Nguyễn Đắc Vinh ngồi ngang ông Nông Đức Mạnh, trước tượng Hồ Chí Minh trên bàn thờ, trước mặt trống đồng, tất cả đều thếp vàng óng ánh .

Hai ông ngồi trên ghế bành, chổ gác tay trạm đầu rồng thếp vàng, lưng ghế nhô lên cao thếp vàng, son đỏ như ngai vàng của hoàng đế ngày xưa .


Cảnh nội thất như cung đình của ông Nông Đức Mạnh đã gây sôi nổi dư luận trong ngoài nước . Chỉ ít lâu sau đó, báo Tiền Phong gở ba bức ảnh này xuống, thay vào đó bức ảnh chụp phái đoàn với các thiếu nhi . Ảnh chỉ còn người chớ không còn hình ảnh hoành tráng của cung đình nữa .
Nhưng ngoại cảnh thật sự không quan trọng bằng cái ý nghĩa toát lên từ đó : phong cách vua chúa của một đảng viên của cái đảng tự đề cao là “ cách mạng và nhân dân ” .


Phong cách của vua chúa


Bài báo tường thuật cuộc viếng thăm ông Nông Đức Mạnh tại nhà riêng, với hình ảnh, đã trở thành câu chuyện làm vở tung dư luận lan tràn mau rộng không còn có thể kiểm soát được nữa . Việc quản lý nghiêm ngặt báo chí của chế độc tài  cộng sản cũng phải đành bất lực .
Cảnh nội thất và ông Nông Đức Mạnh, cựu Tổng Bí thư đảng cộng sản hà nội suốt 2 nhiệm kỳ, 2001 – 2011, đã nhanh chống trở thành mục tiêu cho không biết bao nhiêu phản ứng, tập trung vào 2 điểm : phong cách sống xa hoa phung phí, kệch cỡm của một Tổng Bí thư về hưu đã làm người dân mọi tầng lớp nổi giận vì chẳng khác nào ông đã dày xéo trên những tấm lưng đầy mồ hôi của nông dân và công nhân để có những bàn ghế và nội thất vàng son như vua chúa . Thứ hai, nó phản ánh sự thật người cộng sản, cầm quyền nói chung, từ Hồ Chí Minh, liều mạng đi làm kháng chiến là để cướp chánh quyền, làm quan và làm giàu . Hoàn toàn không có gì phảng phất tới lòng ái quốc hết cả .
Nhà báo Võ Văn Tạo nhận xét :

“ Nếu như anh là người có học, anh phô trương như thế nó có đúng không ? Tôi tin những người có ý thức, có lương tri không ai làm chuyện đó . Không lấy gì làm oai trong một bộ salon bằng gỗ quý cầu kỳ rồng phượng như thế . Thứ hai là một đất nước nghèo đói như thế tôi là người Việt Nam tôi cảm thấy xấu hỗ lắm tại sao lại để cho một người vô học, kệch cỡm phô trương như thế mà lại đứng đấu đất nước ? Tôi cảm thấy nhục !
Tôi thấy bàn ghế của Tổng thống Obama cũng bình thuờng làm bằng gỗ tạp, bọc simily, rất đơn giản như một gia đình bình thường ở Việt Nam thôi trong khi Hoa kỳ là cường quốc hàng đầu thế giới còn nước mình hiện nay thì đội sổ ”(VOA)

Bức ảnh ông Nông Đức Mạnh tiếp đón bí thư Trung ương Đoàn Nguyễn Đắc Vinh trong phòng khách của ngôi nhà rộng 850 m2 nằm ven Hồ Tây, trang hoàng như cung điện vua chúa . Trên bệ thờ phía trong là tượng Hồ Chí Minh cũng mạ vàng ói . Tất cả không thể nói khác hơn là sự biểu hiện lòng mơ ước giàu sang phú quý hơn người và cả phô trương quyền lực vua chúa của đảng viên cộng sản . Tâm lý ấy ngày nay công khai phơi bày trước dân chúng nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh lý của người cộng sản thiếu học, bản chất bần cố nông mà đầy tham vọng . Kém hơn thổ phí vì thổ phỉ biết tự trọng, sống đời sống thổ phỉ, không chạy theo cách mạng cộng sản cướp chánh quyền, cướp của dân để làm vua chúa giàu có.

Ông Nguyễn Khắc Mai, nguyên Vụ trưởng Vụ Nghiên Cứu, Ban Dân vận Trung ương, hiện là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Văn hoá Minh Triết, nhận xét :

“ Tính cách vua quan của những người cộng sản Việt Nam hiện nay đã lộ rõ ngay từ năm 1945-46 kia chứ không phải đến bây giờ nhưng vì lúc ấy chưa cầm quyền, chưa giàu sang, dân cũng chưa có của ăn của để cho nên nó không bộc lộ. Người cộng sản Việt Nam xuất thân từ nông dân, nhà quê, kể cả những anh sau nầy có bằng giáo sư tiến sĩ, thì lốt nhà quê, lốt nông dân, nó vẫn còn nguyên, nó chưa thoát khỏi, cho nên khi cầm quyền, thì họ chưa thể trở thành con người văn minh đô thị, dân chủ được, mà phải trở thành thứ vua chúa, quan lại. Hình ảnh quan lại vua chúa nó ngập trong máu của họ bởi vì họ không có cái gì để thay thế hết cả . Đấy là cái cay đắng của văn hóa Việt Nam của xã hội Việt Nam ” (VOA).

Vài nét về Hoàng đế đốn củi Nông Đức Mạnh
Nông Đức Mạnh học chuyên môn Trung cấp Nông Lâm . Năm 1963 váo đảng cộng sản . Cứ từ 1 năm đến 2,5 năm là nhảy lên 1 cấp về chức vụ .
Năm 1989 vào Ban Chấp Hành Trung ương đảng, Dân biểu, Chủ tịch Quốc Hội . Năm 2001, làm Tổng Bí thư đảng luôn 2 nhiệm kỳ (2001-2011) . Trong thời gian nắm quyền lực trung ương này, Nông Đức Mạnh được nhắc tới qua dự án Bauxit, ký kết những văn bản về bìên giới lãnh thổ, hợp tác kinh tế thương mại với Bắc kinh như thành tích suốt cuộc đời làm cách mạng cộng sản của ông .
Ông Nguyễn Khắc Mai giải thích tại sao xảy ra hiện tượng kỳ lạ này như một tât yếu của chế độ cộng sản, nhứt là cộng sản hà nội :

“ Đó là mặt trái của cuộc gọi là khởi nghĩa, cách mạng . Thật ra nó đi tới điều này vì nó không có cơ sở văn hóa đến nơi đến chốn . Người dân thì không có quyền sở hữu, xã hội thì không có dân chủ và quan lại nắm lấy quyền làm chủ xã hội, làm chủ nền kinh tế . Tất cả mọi chuyện ấy nó dẫn đến hình thù, hình thái triểu đình phong kiến là tất yếu .
Theo ông Nguyễn Văn An, Bộ chính trị là một loại vua tập thể. Tình chất phong kiến lạc hậu càng ngày nó càng bộc lộ rõ ở Nông Đức Mạnh, Lê Khả Phiêu . Sự giàu có và cái kệch cỡm của họ không lấy làm lạ ”(VOA) .

Con rơi của Hồ Chí Minh ?


Tiểu sử chánh thức của Nông Đức Mạnh cho thấy cha mẹ của ông rất mơ hồ : “… xuất thân trong gia đình nông dân, dân tộc Tày ”. Đồng thời có lời đồn ông là con rơi của Hồ chí Minh với người phụ nữ Tày tên Nông thị Ngát, được Hồ Chí Minh nhận làm cháu dưới tên Nông thị Trưng, dạy đọc viết quốc ngữ, huấn chánh trị cộng sản, sau cho làm Chánh án Tòa án nhân dân .
Một số tác giả việt nam và ngoại quốc trong gần đây đưa ra lập luận theo hướng lời đồn đại này . Thép Mới, Hà Cẩn (Hà nội), Willim Duiker (Mỹ), Báo Time (phỏng vấn năm 2002), Mikhail Vasaep (Nga), Constantin Kostadinov (Ba-lan), …đều bày tỏ ý kiến cho rằng Nông Đức Mạnh là con rơi của Hồ Chí Minh với những dẩn chứng mang tính suy diển .
Rìêng Nông Đức Mạnh khi có ai hỏi ông có phải là con rơi của Hồ chí Minh hay không, lại trả lời một cách ổm ờ nên cũng dễ làm cho nhiều người tin đó là sự thật .
Căn cứ theo tài liệu chánh thức của cộng sản hà nội phổ biến, thì Nông Đức Mạnh sanh ngày 11/09/1940 tại xã Cường Lợi, Huyện Na-ri, tỉnh Bắc Cạn . Theo “ Hồ Chí Minh biên niên tiều sử ”, tập 2, nhà xb Chánh trị Quốc gia, Hà nội, 1993, tg 124, và “ Vừa đi đường vừa kể chuyện ”, T.Lan, xb Sự Thật, Hà nội, 1976, trg 73, thì Hồ Chí Minh trở về Cao Bằng lần đầu tiên ngày 28/01/1941 . Vậy những đứa con rơi của Hồ Chí Minh ở Việt nam sẽ phải sanh vào đầu tháng 11/1941 . Mà Nông Đức Mạnh sanh ngày 11/09/1940 thì không thể là con rơi của Hồ Chí Minh được .
Nhưng tại sao có lời đồn đải như vậy ? Chỉ là lời đồn hay là “ tuyên truyền nhân dân ” của đảng cộng sản ? Từ lớp đảng viên thời Lê Duẩn trở về trước, cấp lãnh đạo ở Hà nội đều có thành tích tù Bà-rá hoặc Côn-nôn . Ít lắm cũng Chí hòa dưới thời “ Mỹ Ngụy ” . Nông Đức Mạnh là tên dốt nhứt trong các đảng vìên dốt lãnh đạo ở Hà nội, không có thành tích học vấn, cả hoạt động cách mạng, ngoài nghề tiều phu ở rừng Bắc thái . Thỉnh thoảng, ông Nông Đức Mạnh lại trở về quê hương Bắc Cạn, nơi từng có một bà chủ quán, nay đã mất, nhưng ông không thể nào quên. Ở Bắc Cạn, ai ai cũng có thể tự kiếm củi lấy, nhưng bà chủ quán đó đã mua củi giúp ông, nhờ đó ông có thể học hành .
Nay muốn đưa Nông Đức Mạnh lên làm Tổng Bí thư đảng khóa IX để vô hiệu hóa sự tranh chấp của các phe cánh Lê Khả Phiêu, Đỗ Mười, Lê Đức Anh, …thì phải mặc cho anh ta chiếc áo thụng hoàng tử không ngai mà thôi .
Thần thơại là tâm hồn dân tộc . Nhưng thần thoại về Nông Đức Mạnh là thứ thần thoại xã hội chủ nghĩa !

Nguyễn thị Cỏ May
----------


Bài thơ Trần Vàng : Chịu không nổi "TAU CHƯỞI" hỡi cô hồn các đảng

Đọc Thơ “Tau Chưởi”
 
tran-vang-sao-305.jpg

Hôm nay có cơ duyên đọc bài thơ “Tau Chưởi” hay lạ, hay lùng, hay dị, hay cực kỳ bất thường...

Xin nhắc rằng ngôn ngữ chưởi mắng, quở rầy khi đưa vào thơ là rất khó hay nổi. Vậy mà bài này rất mực là hay, khó có lời nào ngang bằng được.

Chưởi đây là chưởi nhà nước CSVN. Tại sao chưởi?

Hãy xem tiểu sử của nhà thơ thì rõ. Tác giả Nam Đan viết:

“Theo tiểu sử tôi tìm được trên mạng, nhà thơ Trần Vàng Sao tên thật là Nguyễn Đính, sinh năm Tân Tỵ 1941, quê quán làng Đông Xuyên, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên – Huế, sinh sống từ thuở ấu thời đến nay tại phường Vỹ Dạ, thành phố Huế. Năm 1962, ông đậu tú tài ở Huế và dạy học ở Truồi. Thời gian này ông bắt đầu tham gia phong trào chống Mỹ ở Huế. Năm 1965 ông thoát ly lên rừng theo VC. Năm 1970 ông bị thương, được đưa ra miền Bắc chữa bệnh an dưỡng.

Tháng 5 năm 1975, ông trở về Huế được phân công làm liên lạc (đưa thư) rồi công tác ở ban Văn Hóa Thông Tin xã và nghỉ hưu năm 1984. Vào thời điểm này, bài thơ “Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình” của ông được đăng trên Sông Hương, số kỷ niệm 5 năm ngày tạp chí ra đời. Bài thơ lập tức gặp phản ứng dữ dội của một số chức sắc địa phương...”(hết trích)

Từ quá khứ theo CSVN để nhảy núi ra Bắc nhằm gia nhập đạo binh chống Mỹ cứu nước, tới chỗ ngày ngày dứng ở bên bờ Sông Hương chỉ tay về hướng Hà Nội để chưởi chế độ đỉnh cao trí tuệ...

Xin mời đọc bài thơ của Trần Vàng Sao như sau.
TAU CHƯỞI
tau tức quá rồi
tau chịu không nổi
tau nghẹn cuống họng
tau lộn ruột lộn gan

tau đầu tắt mặt tối
đổ mồ hôi sôi nước mắt
vẫn đồng không trự nõ có
suốt cả đời ăn tro mò trú
suốt cả đời khố chuối Trần Minh
kêu trời không thấu
tau phải câm miệng hến
không được nói
không được la hét
nghĩ có tức không
tau chưởi
tau phải chưởi
tau chưởi bây
tau chưởi thẳng vào mặt bây
không bóng không gió
không chó không mèo
….
tau chưởi cho tiền đời dĩ lai bây mất nòi mất giống
hết nối dõi tông đường
tau chưởi cho mồ mả bây sập nắp
tau chưởi cho bây có chết chưa liệm ruồi bu kiến đậu
tam giáo đạo sư bây
cố tổ cao tằng cái con cái thằng nào móc miếng cho bây
hà hơi trún nước miếng cho bây

bây là rắn
rắn
toàn là rắn
như cú dòm nhà bệnh
đêm bây mò
ngày bây rình
dưới giường
trên bàn thờ
trong xó bếp
bỏ tên bỏ họ cha mẹ sinh ra
bây mang bí danh
anh hùng dũng cảm vĩ đại kiên cường
lúc bây thật lúc bây giả
khi bây ẩn khi bây hiện
lúc người lúc ma
……
hỡi cô hồn các đảng
hỡi âm binh bộ hạ
hỡi những kẻ khuất mặt đi mây về gió
trong am trong miếu giữa chợ giữa đường
đầu sông cuối bãi
móc họng bóp cổ móc mắt bọn chúng nó
cho bọn chúng nó chết tiệt hết cho rồi
bây giết người như thế
bây phải chết như thế
ác lai thì ác báo
tau chưởi ngày chưởi đêm
mới bét con mắt ra tau chưởi
chập choạng chạng vạng tau chưởi
nửa đêm gà gáy tau chưởi
giữa trưa đứng bóng tau chưởi
bây có là thiền thừ mười tám con mắt tau cũng chưởi
mười hai nhánh họ bây
cao tằng cố tổ bây
tiên sư cha bây
tau chưởi cho bây ăn nửa chừng mẻ chai mẻ chén
xương cá xương thịt mắc ngang cuống họng
tau chửi cho nửa đêm oan hồn yêu tinh ma quỷ
mình mẩy đầy máu hiện hình vây quanh bây đòi trả đầu trả chân trả tay trả hòm trả vải liệm
tau chưởi cho cha mẹ bây có chết cũng mồ xiêu mả lạc
đoạ xuống ba tầng địa ngục bị bỏ vào vạc dầu
tau chưởi cho cha mẹ bây có còn sống cũng điên tàn
đui què câm điếc làm cô hồn sống lang thang đầu đường xó chợ
bốc đất mà ăn xé áo quần mà nhai cho bây có nhìn ra
cũng phải tránh xa
tau chưởi cho con cái bây đứa mới đi đứa đã lớn
sa chân sẩy tay đui què sứt mẻ nửa đòi nửa đoạn
chết không được mà sống cũng không được
tau chưởi cho dứt nọc dòng giống của bây cho bây chết sạch hết
không bà không con
không phúng không điếu
không tưởng không niệm
không mồ không mả
tuyệt tự vô dư
tau chưởi cho bây chết hết
chết sạch hết
không còn một con
không còn một thằng
không còn một mống
chết tiệt hết
hết đời bây
Trần Vàng Sao
*Có ai đọc bài thơ này mà khóc chăng? Quê nhà tang thương là thế...

Bài Xem Nhiều