We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 11 March 2015

Tâm thức người chiến sĩ VNCH và trận chiến cuối cùng ở hải ngoại


Đầu năm Ất Mùi 2015 được đọc bài Tâm Thức Người Lính Nhảy Dù của Mũ Đỏ Trương Văn Út, tôi rất thích thú. Đó cũng là tâm niệm của tôi, một người lính Bộ Binh, nên có đôi lời chia sẻ ngay với anh. Vì thế có sự thiếu sót, không đề cập trọn vẹn tâm thức của tác giá. Xin thành thật cáo lỗi với Mũ Đỏ TVU. Nhân dịp nầy, tôi có đôi lời với các chiến hữu QLVNCH về trận chiến cuối cùng giữa Quốc gia và Cộng sản ở hải ngoại. Tôi muốn nói đến vụ kiện giữa báo Người Việt và báo Sàigòn Nhỏ ở Hoa Kỳ.
Chia sẻ với chiến hữu Mũ Đỏ TVU: Bài của Anh tưởng nhớ một chiến hữu đàn em đã vị quốc vong thân khiến tôi vô cùng cảm động. Cuộc chiến tự vệ của người lính VNCH hết sức hiểm nguy. Nhiều anh em phải dựa vào sự độ trì của thần linh để trợ lực cho cuộc chiến đấu bảo vệ cho lý tưởng Tự Do như em Nguyễn Văn Minh -Hạ sĩ quan truyền tin của Đại đội 2 Trinh sát Nhảy Dù. Không may cho Minh, em có số mệnh đoản nhưng hồn thiêng, thể hiện qua bài Người lính Nhảy Dù với chiều kích tâm linh: “Minh ơi, thân thể của em chỉ còn là cái xác vô tri đang theo tiến trình hủy hoại…nhưng sau khi chết, “Hồn” em linh hiển vẫn còn huynh đệ chi binh quyến luyến, thường theo bên đời phù độ giúp cho anh may mắn thoát bao hiểm nguy giăng mắc trên đoạn đường chiến binh”.

Theo thi hào Nguyễn Du “Thác là thể phách, hồn là tinh anh”. Khi chết xác thân trở về với cát bụi, nhưng anh linh của Minh, của hơn 25 vạn tử sĩ VNCH, của những bậc tiền hiền đã chết vì quốc gia, vì dân tộc, sẽ quanh quẩn bên những đối tượng mà họ đã tận hiến cả cuộc đời, đó là non sông đất nước, là đồng đội, đồng bào chũng tộc. Ở bên kia thế giới họ vẫn tiếp tục phù hộ đồng đội, đồng bào và đất nước như hoài bão lúc còn tại thế. Những anh linh đó trở thành một biểu tượng thiêng liêng rất khó định nghĩa mà người đời thường gọi là hồn thiêng sông núi, là tiền nhân.

Đầu năm mới 2015, đối với Mũ Đỏ họ Trương “Chuyện chinh chiến máu lữa không còn nữa, nước mắt đã khô cạn, nhưng trong tôi vẫn có linh cảm Minh vẫn còn ‘hiện hữu” bên cạnh tôi với những thăng trầm trong cuộc sống hoài cố hương nơi xứ lạ, em luôn phù hộ nâng tôi đứng dậy khi tôi ngã quỵ, an ủi tôi khi rơi vào nghịch cảnh…và có đôi khi thu thúc lục căn, thân tâm khinh an lạc bước dạo chơi vào thế giới quan “Âm cảnh” lý sự mang mang với Minh”. Nơi cỏi “Vô Sắc Giới”, tác giả chúc em Minh “được an lạc, hạnh phúc, tái sanh nhàn cảnh”, nhưng em khẳng định “Em không muốn tái sinh khi bọn Việt Cộng còn đang ngự trị trên dân tộc đất nước Việt Nam”. Đó là Tâm Thức Của Người Lính Nhảy Dù Trong Cỏi “Vô Âm Sắc”.

Còn Tâm thức của người lính Nhảy Dù còn tại thế ra sao?  Ý nguyện sắt son của người chiến hữu đàn em tên Nguyễn Văn Minh ở bên kia thế giới “khiến anh đã bao lần cũng mong ước sẽ được về lại quê nhà, thăm bao người thân, quyến thuộc, viếng mộ Ông Bà, Cha Mẹ và tìm lại mộ phần của em. Nay “đành” phải dứt khoát thái độ sẽ không về Việt Nam khi còn loài Việt cộng kẻ thừa sai của Hán thất trên đất nước thân yêu”. Người lính Nhảy Dù đã thể hiện tinh thần Huynh Đệ Chi Binh, dù Sinh ly Tử biệt, họ vẫn bên nhau, tâm đầu ý hợp, một lòng với đất nước.  Cá nhân tôi, 30 năm sống xa quê hương, tôi cũng có mong ước như chiến hữu Trương Văn Út, nhưng dứt khoát không về.
Mũ Đỏ/TVU còn đi xa hơn là Giác ngộ, được tác giả trình bày qua triết lý nhà Phật: “Phân biệt là Thức. Vô phân biệt là Trí. Dựa vào Thức là Nhiễm. Dựa vào Trí là Tịnh. Từ đó MĐ/TVU cảm thấy “phải cởi bỏ kiến thức, tháo mở nút thắt thói tục đã huân tập, tiêm nhiễm biết bao định kiến, thành kiến, thường kiến, đoạn kiến…đó là si mê, đóng chặt nẽo về giác ngộ”. Tôi tán đồng Tâm thức nầy của tác giả. Chính vì định kiến, thành kiến…mà bấy lâu nay đã tạo sự thù hận, đố kỵ, chia rẽ, làm mất tình đoàn kết huynh đệ chi binh. Người cựu chiến binh VNCH cần Tịnh Tâm để có cuộc sống an bình trong tuổi xế chiều, sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ trong thời chiến.  Xử dụng Trí Tuê, đó chính là cái Trí không phân biệt của nhà Phật. Sẽ giúp chúng ta thấy được chân lý Nhân Quả. Người lính VNCH gieo nhân gì, đồng bào tất sẽ nhận quả ấy. Còn đối với CS, “ nhìn nhân sẽ biết quả”, nó đang sụp đổ. Xin có vài suy nghĩ đóng góp với Mũ Đỏ Trương Văn Út.

Lê Quế Lâm (05/3/2015)
----------
Thế trận của các cường quốc trong đấu trường VN (1975-2015)

Sau ngày 30/4/1975, tôi đã sống trong cảnh tù đày, cùng chia sẻ nổi đau khổ với đồng đội gần 8 năm, phần lớn ở các vùng thượng du, trung du miền Bắc. Tôi cũng có những hoài bão, ước mơ cùng những cay đắng, uất hận của người lính VNCH. Trong suốt thời gian trong quân ngũ, tôi làm công tác khai thác và nghiên cứu tài liệu về cuộc chiến của chúng ta. Tôi ghi nhận có nhiều sự việc xảy ra không đúng như ý muốn của mình. Đó là điều dễ hiểu, vì cuộc chiến đấu tự vệ, bảo vệ miền Nam tự do của chúng ta nằm trong thế trận lâu dài của ba cường lực Liên Sô, Trung Cộng và Mỹ.

Chiến tranh VN kết thúc bằng một hiệp định hòa bình ký kết ngày 27/1/1973. Hiệp định được một hội nghị Quốc tế về VN, trong đó bao gồm đầy đủ 5 thành viên Thường trực Bảo An, ông TTK/LHQ và 4 nước kiểm soát và giám sát việc ngưng bắn. Họ đồng ký một bản Định ước long trọng tuyên bố tán thành và ủng hộ việc thi hành nghiêm chỉnh hiệp định. Những mục tiêu của quân dân MNVN về Tự do và quyền Tự quyết đã được ghi ghi đầy đủ, rõ ràng trong bản hiệp định chấm dứt chiến tranh. Như vậy, QLVNCH đã hoàn thành nhiệm vụ và thắng trận. Còn những diễn biến tiếp theo đó, chúng ta đành phải chịu sự chi phối, sắp xếp của các cường lực. Vì thế tôi không trách ai, chỉ đau buồn cho thế nước và tiếp tục nghiệp vụ nghiên cứu “thử xem con tạo xoay vần đến đâu” (Kiều/Nguyễn Du) với niềm tin con tạo không phải xoay vần không có quy tắc mà theo qui luật nhân quả “gieo nhân gì tất phải gặt quả nấy”. Và cuối cùng chính nghĩa vẫn thắng: đồng bào sẽ được hưởng mọi quyền tự do, tự quyết định vận mạng đất nước qua các cuộc bầu cử dân chủ tự do.   

Từ những suy nghĩ trên, tôi coi Biến cố 30/4/1975 chỉ là màn đầu của đấu trường giữa ba cường lực của thế giới. Hoa Kỳ đi đêm với Trung Cộng để chấm dứt chiến tranh VN vừa mở đầu màn hai của thế trận mới: HK liên minh với TC để hạ Liên Sô, kết thúc chiến tranh lạnh năm 1991. LS sụp đổ, HK trở thành siêu cường duy nhất của thế giới.
Chiến tranh lạnh vừa kết thúc, chiến tranh lại xảy ra ở Trung Đông khi Iraq thôn tính Kuwait đưa đến chiến tranh vùng Vịnh. HK lại trực tiếp can dự để bảo vệ Kuwait và kết thúc cuộc chiến này trong vòng một tháng, nhưng không trừng phạt Sadam Hussein. Năm 2001, Bin Laden lãnh đạo nhóm Taliban ở Aghanistan phối hợp với Sadam Hussein gây sự với Mỹ qua vụ khủng bố 11/9. HK lại trực tiếp can dự vào Iraq và Afghanistan để lật đổ các chế độ độc tài ở đây. Về phần Trung Cộng, sau khi thiết lập bang giao với Mỹ, Nhật…và đề ra liên minh chống bá quyền Liên Sô, các nước Mỹ, Nhật và Tây Âu tích cực giúp Đặng Tiểu Bình thực hiện “Bốn hiện đại hóa Trung Quốc”. Nhờ đó, TQ vươn lên thành một cường quốc kinh tế, vượt qua Nhật, chỉ đứng sau Mỹ. Bắc Kinh lợi dụng việc Mỹ vướng bận các cuộc chiến ở Trung Đông, nên tung hoành ở Đông Á, đòi chia hai ảnh hưởng với Mỹ ở khu vực Châu Á/Thái Bình Dương. Mỹ là cường quốc Thái Bình Dương, còn biển Đông thuộc TQ.

Để phá vỡ mưu đồ trên, năm 2011 sau khi diệt xong Bin Laden, HK chấm dứt dần sự can dự ở Trung Đông để chuyển trục về Châu Á. Năm 1954, Mao Trạch Đông đã cho vẽ bản đồ TQ bao trùm lục địa và biển đảo ở Đông Nam Á. Năm 1954, HK đã thành lập Liên Phòng Đông Nam Á (SEATO) và nhờ chiến tranh VN (1960-1975), HK đã làm phá sản mưu đồ thôn tính lục địa ĐNÁ. Nay HK chuyển trục về Châu Á là nhằm làm phá sản nốt mưu đồ bành trướng của TQ về biển đảo ở ĐNÁ. Đó là bản đồ hình lưỡi bò 9, 10 đoạn gì đó.

Bắc Kinh tuyên bố biển Đông thuộc chủ quyền của TQ và là quyền lợi cốt lõi của họ. HK phản bác lập luận của TQ không có cơ sở pháp lý, họ cũng coi biển Đông là quyền lợi chiến lược của Mỹ và của các cường quốc khác như Nhật, Ấn, Úc…Nơi đây phải được hòa bình, ổn định, tự do lưu thông hàng hải để các cường quốc và các nước ASEAN xây dựng khu vực Á Châu/Thái Bình Dương hòa bình, thịnh vượng và phát triển trong thế kỷ 21.

Việc TQ đưa giàn khoan HD 981 vào hải phận VN hồi tháng 5/2014, hai tháng sau họ tự động rút đi. Đây không phải là những sự kiện ngẫu nhiên. Trên đời nầy không có điều gì gọi là ngẫu nhiên, mà là trình tự của luật nhân quả. TQ đưa giàn khoan vào VN là tạo cái nhân để bắt tay với Mỹ giải quyết hòa bình ở biển Đông. Vì thế chỉ mấy ngày sau khi Thượng viện Mỹ ra Nghị quyết yêu cầu TQ phải rút giàn khoan và Ngoại trưởng John Kerry đến Bắc Kinh gặp Tập Cận Bình thì TQ đáp ứng ngay đòi hỏi của Mỹ. Sở dĩ TQ công khai bày tỏ thiện chí với Mỹ là vì họ mong muốn được Mỹ hợp tác để đối phó với nguy cơ Hồi giáo khủng bố.

Mỹ đã hòa hoãn với các nhóm Hồi giáo ở Trung Đông và chuyển trục sang Châu Á. Rồi đây các thế lực Hồi giáo nguy hiểm nầy cũng sẽ chuyển địa bàn hoạt động đến một môi trường mới vô cùng thuận lợi dồi dào dầu mõ. Đó là Tân Cương và khu vực biên giới Nga và TQ rộng 1,5 triệu cây số vuông mà TQ đang tạo dựng lại con đường tơ lụa của mấy thế kỷ trước. Nguy cơ Hồi giáo đe dọa nặng nề sự phát triển và sống còn của TQ. Do đó hợp tác với Mỹ là mục tiêu chiến lược của TQ hiện nay.

Ngày trước, để triệt hạ đối thủ trong chiến tranh lạnh, HK đã bắt tay với TQ và bỏ rơi VNCH. Năm nay, kỷ niệm 40 năm biến cố đau thương 30/4, sẽ đến lượt TQ bỏ rơi CSVN để hợp tác với Mỹ đối phó với hiểm họa Hồi giáo cực đoan. Nhắc đến ngày 30/4 khiến tôi nhớ đến nhận định của tướng độc nhãn Moshe Dayan (1915-1981) một chính khách nổi tiếng của Do Thái, từng làm bộ trưởng Quốc phòng và Ngoại giao. Ông nhiều lần đến VN trong thời chiến tranh và gợi ý “Muốn thắng cộng sản, phải biết thua cộng sản trước đã. Lùi một bước để tiến ba bước” và khẳng định “Bắc Việt sẽ thất trận khi họ chiếm được Sàigòn”.

Biến cố 30/4/1975 là bước lùi. Sau đó là bước tiến thứ nhứt: HK đi đêm với TQ, hình thành liên minh chống bá quyền và hạ thủ LS năm 1991. Đó cũng là màn hai của thế trận Mỹ-Trung đã kết thúc, HK thực hiện bước tiến thứ hai, bình thường hóa bang giao với CSVN năm 1995. Bước tiến thứ ba, TT Obama đã chấp nhận lời mời của TT Nguyễn Tấn Dũng đến thăm VN năm 2015, để hoàn thiện mối bang giao Việt Mỹ kéo dài 20 năm.   

Những diển biến trên tạo ra một thời thế rất thuận lợi cho VN. Và TT Nguyễn Tấn Dũng là người của thời thế. Ông sẽ hành xử khôn ngoan theo phương châm của tiền nhân “gặp thời thế, thế thời phải thế” giúp đất nước tiến lên, mở ra một trang sử mới mà đồng bào mong đợi từ lâu là thay đổi thể chế đất nước. Ông có lợi thế, được lòng của HK lẫn TQ, vì ông là Việt Cộng xuất thân từ MTGPMN, mà trước 1975, Mỹ thừa nhận là một trong hai bên của MNVN sẽ quyết định công việc nội bộ của MNVN. Lúc bấy giờ, TQ tự nhận là lãnh tụ các nước Thế giới thứ ba, bảo vệ các nước dân tộc chủ nghĩa thoát khỏi sự khống chế của hai siêu cường Nga Mỹ, nên họ ủng hộ MTGPMN.

Trong nội bộ Đảng CSVN, qua Hội nghị TƯ 10 để chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng XII năm tới, TT Nguyễn Tấn Dũng được phiếu tín nhiệm cao cao nhất. Điều đó cho thấy hiện nay NTD là người có uy tín lớn nhất của Đảng CSVN và sẽ là tổng bí thư Đảng năm 2016. Giờ đây ông Dũng có hai sự lựa chọn. Một là tổng bí thư một đảng trong giai đoạn thoái trào, không còn được lòng dân và không thể thu hồi được biển đảo của tiền nhân để lại vì công hàm năm 1958 của TT Phạm Văn Đồng và sự thỏa thuận giữa HCM và Mao Trạch Đông và các lãnh tụ đảng kế tiếp. Hai là thay đổi thể chế mà ông đã phác họa trong bài viết đầu năm 2014, ông sẽ trở thành tổng thống được nhân dân tín nhiệm. Ông sẽ thương thảo với chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung hoa để giải quyết vấn đề chủ quyền ở biển Đông dựa theo Luật Biển 1982 của LHQ. Thể chế dân chủ tự do sẽ giúp VN dễ dàng hội nhập với thế giới văn minh để đất nước phát triển nhanh chóng.
Là người lính được quân đội giao nhiệm vụ nghiên cứu cuộc chiến VN, tôi đã đeo đuổi nghiệp vụ nầy trong suốt 50 năm qua, giúp tôi kết luận: Năm 2015 Chiến tranh Việt Nam mới thực sự chấm dứt. Năm 1995, vết thương chiến tranh giữa hai cựu thù đã được hàn gắn đưa đến việc thiết lập quan hệ bang giao. Năm nay 2015 là thời điểm hoàn thiện mối bang giao đó. Đánh dấu sự kiện này, TT Nguyễn Tấn Dũng đã mời TT Obama viếng thăm VN và ông Obama đã vui vẽ nhận lời mời.
Tại sao tôi nói Mỹ và CSVN là hai kẻ cựu thù? CS Bắc Việt tố cáo Mỹ thực hiện chế độ thực dân mới ở MNVN nên đưa quân vào MN chống Mỹ. Còn HK lên án CS Bắc Việt xâm lăng MN nên đưa quân vào giúp VNCH, đồng thời áp lực CS Miền Bắc ngồi vào bàn đàm phán. Tại bàn hội nghị, Mỹ đề nghị quân ngoại nhập phải rút khỏi MNVN, công việc MN sẽ do hai bên MN quyết định. Bắc Việt nói rằng họ không có quân ở MN và chấp nhận công việc MNVN do hai bên MN quyết định. Hai bên ký HĐ Paris 1973, chấm dứt chiến tranh, tái lập hòa bình ở VN.
Trong cuộc chiến nầy, HK đã góp phần mang lại hòa bình, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam, và theo chính sách truyền thống của mình, HK sẽ đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh và công cuộc xây dựng VN sau chiến tranh. Những điểm này được ghi trong bản HĐ Paris 27/1/1973. Đúng 42 năm sau, ngày 26/1/2015 tại Hà Nội, ông Ted Osius -đại sứ HK tại VN đã tuyên bố: “Hiện nay Mỹ là nhà đầu tư số 1 ở ĐNÁ, sẽ trở thành nhà đầu tư số 1 ở VN. Mục tiêu của HK rất rõ ràng: chúng tôi muốn giúp VN trở thành một quốc gia hùng mạnh, tự do trên vùng ĐNÁ, dựa trên phát luật và nhân quyền”.
Kế tiếp là MTGPMN đã góp phần thống nhất đất nước. Cương lĩnh của MTGPMN (1960) đã nêu rõ chủ trương của Mặt trận là đấu tranh xây dựng một MNVN hòa bình và trung lập để tiến tới thống nhất đất nước trong hòa bình. Ngày 30/4/1975 vị lãnh đạo cuối cùng của VNCH là ông Dương Văn Minh đã mời MTGPMN vào Sài Gòn để ông bàn giao chánh quyền, nhưng CSVN buộc ông đầu hàng. Quả thực CSVN đã tích cực ủng hộ cuộc đấu tranh của MTGPMN thống nhất đât nước, nhưng họ không vì dân tộc mà để bành trướng ảnh hưởng của phe xã hội chủ nghĩa như Nghị quyết của Đại hội III CSVN năm 1960 đã đề ra. Và ông Lê Duẩn cũng tuyên bố “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Sô, cho Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em”.
Và cuối cùng là sự đóng góp của VNCH cho một nước VN thống nhất sau chiến tranh là đồng bào được hưởng mọi quyền tự do. Và quyền tự quyết của nhân dân là thiêng liêng bất khả xâm phạm phải được tôn trọng triệt để. Nhân dân tự quyết định tương lai chính trị đất nước thông qua tuyển cử thật sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế.   
Trận chiến Quốc Cộng giữa báo Người Việt và Sàigòn Nhỏ ở Hoa Kỳ: Tôi định cư ở Úc, chỉ đến Mỹ một lần trong một thời gian ngắn, nên ít khi để ý đến sinh hoạt chính trị, báo chí ở đây…Nhưng vì  vụ kiện giữa báo Người Việt và báo Sàigòn Nhỏ khiến tôi phải quan tâm vì có liên quan đến một bài báo vu khống mạ lỵ Quân Dân Cán Chính VNCH, và lăng nhục lá cờ của người Quốc gia qua hình ảnh một chậu rửa chân màu vàng với ba viền màu đỏ xuất hiện trong đặc san Xuân 2008 của báo Người Việt.
Ngày 16/4/2012 nhật báo Người Việt có đăng bài “Vết thương ngày 30 tháng 4” của Nguyễn Gia Kiểng . Gần 3 tháng sau, ngày chủ nhật 7/7, nhật báo NV đăng nguyên văn bài phản biện của tác giả Sơn Hào “Lời lẽ bóp méo sự thật của Nguyễn Gia Kiểng” với những đoạn chính như sau: “Kỷ niệm ngày chiến thắng 30-4 liền kề với ngày quốc tế lao động 1-5 làm cho niềm vui của chúng ta được nhân lên gấp bội. Cả dân tộc vui mừng, tự hào, tất cả những người lao động vui mừng, tự hào. Nhưng lạ thay, ông Nguyễn Gia Kiểng đã viết bài “Vết thương ngày 30 tháng 4” đưa lên mạng Internet, theo đó đã sặc mùi chia rẻ Nam Bắc, làm như thể miền Nam, Sàigòn là một miền đất khác Việt Nam, một dân tộc khác Việt Nam, làm như thể từ ngày 30 tháng 4, 1975 thì miền Nam, Sài Gòn mất tất cả, bị xăm lăng tất cả! Không hiểu ông có thâm thù gì với cách mạng, thâm thù gì với dân tộc mà lại than thở như vậy. Ông quên mất điều đơn giản, tối thiểu là chỉ có đội quân xâm lược Mỹ và bè lũ Việt gian tay sai của Mỹ là thất thủ, là mất miền Nam, mất Sài Gòn, còn dân tộc Việt Nam, cả Nam lẫn Bắc là người thắng trận, thu giang sơn về một mối, chấm dứt ách thống trị của thực dân mới..”   
Cá nhân tôi cũng như hàng trăm ngàn quân dân cán chính VNCH đã bị tập trung cải tạo sau ngày 30/4/1975. Hai bài thuyết giảng đầu tiên của cộng sản là: “Ngụy quân là tay sai của ngụy quyền” và “Ngụy quyền là tay sai của đế quốc Mỹ”. Nay, bài của Sơn Hào phản ảnh lập luận của cộng sản, đề cập đến “bè lũ Việt gian tay sai của Mỹ” rõ ràng là đã vu khống, mạ lỵ Quân Dân Cán Chính VNCH. Tác giả Sơn Hào chỉ nhìn một chiều nên không thấy được cuộc chiến đấu của VNCH là cuộc chiến tự vệ của quân dân miền Nam tự do, chớ không phải là tay sai của Mỹ. Mỹ là đồng minh của VNCH trong cuộc chiến đấu chính nghĩa nầy. Đội quân “xâm lược” Mỹ đến MNVN là để chống lại đội quân xâm lược từ miền Bắc, để người dân MNVN tự quyết định vận mạng của họ mà không có sự can thiệp từ bên ngoài.
Ngoài ra, bài phản biện của Sơn Hào không phản ánh đúng sự thật lịch sử trong những ngày cuối tháng 4/1975. Sau HĐ Paris 1973, quân Mỹ đã rút hết khỏi MN. Trong 18 tháng sau đó hai bên MNVN không đạt được sự đồng thuận, do đó Mỹ vận động TT Nguyễn Văn Thiệu và TT Trần Văn Hương từ chức, để ông Dương Văn Minh lãnh tụ lực lượng thứ ba với chủ trương hoà giải hòa hợp dân tộc lên cầm quyền để giải quyết vấn đề nội bộ MN. Hà Nội không chấp nhận, ông Minh phải mời phía bên kia của MN là MTGPMN vào Sàigòn để ông bàn giao chính quyền, nhưng Hà Nội buộc ông phải đầu hàng. Sau đó MTGPMN cũng bị giải tán.

Như vậy rõ ràng cả MN thất thủ, BV là kẻ thắng trận nhờ dựa vào bạo lực buộc những người MN yêu chuộng hòa bình, hòa giải, hòa hợp dân tộc phải đầu hàng, để đưa cả nước VN thống nhất vào quỹ đạo xã hội chủ nghĩa Liên Sô. Nguyên thủ tướng Võ Văn Kiệt đã thừa nhận “biến cố 30/4/1975 có cả triệu người vui và cả triệu người buồn”. Người vui là dân miền Bắc, người buồn là dân miền Nam. Còn “ách thống trị của thực dân mới” đã được Trần Bạch Đằng một đồng chí của ông Kiệt giải thích “HK muốn biến MNVN thành một tủ kín trưng bày sự phồn vinh và dân chủ kiểu Mỹ ở Đông Nam Á”. Cộng sản Hà Nội tự hào chấm dứt ách thống trị nầy để xây dựng xã hội chủ nghĩa, bần cùng hóa nhân dân MN, áp đặt chế độ độc tài CS khiến người dân phải bỏ nước ra đi. MNVN từng là vựa lúa nhất nhì thế giới nay người dân ở đây lại thiếu gạo ăn và mọi nhu yếu phẩm, khiến ông Võ Văn Kiệt phải xé rào, không áp dụng kiểu cách làm ăn xã hội chủ nghĩa để cứu MN.

Chính tác giả Sơn Hào đã bóp méo sự thật của lịch sử, mà còn lên mặt kê kích ông Nguyễn Gia Kiểng đã bóp méo sự thật. Từ đó lên tiếng phỉ báng mạ lỵ, vu khống quân dân Miền Nam. Điều đáng buồn là báo Người Việt do những người từng sinh sống ở MN sáng lập, trở thành cơ sở truyền thông lớn tại thủ đô của người Việt tị nạn cộng sản ở Mỹ, lại cho đăng bài viết của Sơn Hào.
Những quân-dân-cán-chính VNCH nay đều ở tuổi xế chiều, đa số mang chứng bịnh trầm cảm Depressive Disorders vì những ám ảnh của thời chiến tranh ác liệt và tù đày cải tạo. Vì bị coi là “bè lũ Việt gian tay sai của Mỹ” mà anh em bị giam cầm trong ngục tù cộng sản một thời gian dài có nhiều người chịu 17 năm trong hoàn cảnh đói lạnh, lao động khổ sai. Ám ảnh đó tưởng đã qua đi, nhưng 37 năm sau Sơn Hào khêu gợi lại khiến đa số anh em hồi tưởng lại quá khứ hải hùng, càng làm cho chứng bịnh trầm cảm nặng thêm. Đó là tác hại nghiêm trọng đến tinh thần và thể chất do báo Người Việt tạo ra.

Chính vì vậy mà 140 tổ chức hội đoàn, đảng phái và nhân sĩ người Việt quốc gia hải ngoại đã ra bản Tuyên cáo cho rằng báo Người Việt làm lợi cho cộng sản. Và bà Hoàng Dược Thảo báo Sàigòn Nhỏ coi đây là bằng chứng để lên án báo Người Việt, nhưng báo Người Việt đã nói trước tòa là bản tuyên cáo nầy do bà HDT bịa đặt ra. Theo khoa học gia Dương Nguyệt Ánh thì “đây là một thách thức rất lớn đối với người Việt quốc gia chúng ta” và “chúng ta không thể chấp nhận và dung túng cho một diễn đàn như tờ Người Việt được”.

Cá nhân tôi, coi đây là trận chiến cuối cùng giữa quốc gia và cộng sản ở hải ngoại. Chúng ta hãy để những tị hiềm cá nhân qua một bên, ủng hộ lập trường Quốc gia của báo Sàigòn Nhỏ trong vụ khiếu kiện nầy để bảo vệ chính nghĩa quốc gia và danh dự người chiến sĩ VNCH. Đó là cách để tri ơn những chiến hữu của chúng ta và 60 vạn tử sĩ HK đã hy sinh trong cuộc chiến chống cộng sản bảo vệ lý tưởng tự do. Và cũng để đền ơn HK, đất nước đã cưu mang chúng ta trên bước đường tị nạn cộng sản.

Cuối cùng tôi xin gởi đến các chiến hữu và anh chị em Dân-Cán-Chính VNCH lời nói của Mục sư Murin Luther King: “Chúng ta không những xót xa vì lời nói của kẻ xấu mà còn xót xa vì sự im lặng của người tốt”.

Lê Quế Lâm (Sydney 10/3/2015)

Bài Xem Nhiều