We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 29 March 2015

CHỦ ĐỀ 40 NĂM-KÝ ỨC: Cảm tạ Miền Nam "Giải Phóng " bắc Việt phá màn u tối

Ai giải phóng ai sau 40 năm nhìn lại

Ngày 30-04-1975 được Cộng Sản Bắc Việt rêu rao là ngày họ  “giải phóng” dân chúng miền Nam khỏi sự “kìm kẹp” của Mỹ-Ngụy.  Tới nay đã 40 năm trôi qua, ta thử nhìn lại và suy ngẫm xem ngày này có phải là ngày miền Bắc đã giải phóng miền Nam không? Hay ngược lại, miền Nam đã giải phóng miền Bắc?
Trước khi đi vào nội dung của vấn đề, thiết tưởng ta cần phải đi tìm định nghĩa của động từ “giải phóng”.
Theo một vài cuốn tự điển Việt-Việt, động từ “giải phóng” có thể được định nghĩa như sau:  Bằng cách này hay cách khác làm cho hay giúp cho một số người nào đó thoát ra khỏi một tình trạng xấu xa tồi tệ. Nói khác đi, nếu đẩy đưa một đối tượng nào đó từ một tình trạng tốt đẹp sang một tình trạng tồi tệ, thì không thể gọi là “giải phóng” được.
Dựa vào định nghĩa này và lấy ngày 30-04-1975 làm mốc thời gian để tìm hiểu xem đời sống thật sự của nhân dân hai miền Nam và Bắc vào thập niên 1970 như thế nào, để từ đó có thể rút ra một kết luận khách quan rằng: Ai đã giải phóng ai?                                                                                                                                                                                    
Để có một câu trả lời đúng đắn và chính xác cho câu hỏi này, có lẽ ta nên điểm qua cảm nghĩ và nhận thức về cuộc sống vật chất và tinh thần của dân chúng hai miền Nam và Bắc vào thập niên 1970 của một số nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà giáo, cán binh, cán bộ v.v… là những người đã được đào tạo và hun đúc bởi chính đảng Cộng Sản Việt Nam tại miền Bắc, khi họ có dịp vào miền Nam thăm viếng, công tác, hay sinh sống sau ngày 30-04-1975.
1.   Thư của một cựu “giải phóng quân” cộng sản Việt Nam gửi cho một cựu “ngụy quân” Việt Nam Cộng Hòa (Nguyễn Bá Chổi)
Trong phần đầu thư, anh “cựu giải phóng quân” đã trân trọng thông báo cho anh “cựu ngụy quân” biết là hiện tại anh ta đang tự giác và tự nguyện “tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc” trên con đường “Ngụy Quân Hóa và Mỹ Cút Hóa”. Anh CGPQ cũng đã dí dỏm giải thích về lý do tại sao anh ta đã và đang làm một việc ngược đời như thế:
“Ngụy-quân hóa vì cái gì của Ngụy tôi cũng thích, như nhạc Ngụy, sách Ngụy, nói chung là thượng vàng hạ cám gì của Ngụy đều... hiện đại. Mỹ-cút hóa là con cháu tôi bây giờ học tiếng Mỹ thay vì tiếng Nga, như đảng đã bái bai Kinh Tế Tập Trung đói meo chạy theo Kinh Tế Thị Trường béo bở, bỏ đồng Rúp ông Liên Xô để úp mặt vào đồng Đô “đế quốc” Mỹ…

“Mỹ-cút hóa vì con gái rượu của Thủ tướng Dũng thiếu gì con trai của các nhà lão thành Cách Mạng gạ gẫm cưa kéo mà cứ một hai “em chả, em chả”, cứ nằng nặc đòi lấy bằng được thằng con Ngụy đã cút theo Mỹ ngày Mỹ cút; Mỹ-cút hóa đến nỗi mấy đứa cháu tôi bây giờ mừng sinh nhật cũng hát bài Hép-Pi-Bớt-Đê (Happy Birth Day), hễ mở miệng là Ô Kê Ô Gà! Ra phố thì cứ đòi uống Cô Ca, ăn thì Mạc-Đá-Nồ (McDonald), Bơ-Gơ-Kinh (Burger King), Ken-Tơ-Ky-Phờ-Rai-Trích-Cần (Kentucky Fried Chicken)... con quan CS chỉ toàn muốn du học Mỹ Tư Bản....” 
Sau đó anh CGPQ còn tỏ ra khâm phục và hết lời ca tụng quân dân miền Nam:
“Chả dấu gì Anh, sau khi thống nhất đất nước, tôi khoái Miền Nam của anh quá xá rồi xin chọn nơi này làm quê hương luôn đó anh.
“…. nhờ ở lại Miền Nam, sống giữa đồng bào Miền Nam mà tôi đã chuyển biến từ sai lầm đáng tiếc căm thù khinh bỉ Ngụy thành khoái cụ tỷ Ngụy, bái phục văn hóa “đồi trụy” Ngụy, và nhất là Quân đội Miền Nam các anh có anh hùng Ngụy... Văn Thà, trong khi Thủ tướng Miền Bắc của chúng tôi tự cho mình là chân chính lại ký công hàm bán nước, dâng Hoàng Sa và Trường Sa cho Tàu cộng…” 
Phần cuối thư anh CGPQ viết:
“Thưa anh Chổi, điều tôi muốn đề cập với anh hôm nay là cám ơn các anh đã... thua cuộc chiến tranh mà trước kia chúng tôi hăm hở gọi là “giải phóng Miền Nam”. Thực tế cho thấy đó là “giải phóng Miền Bắc”. Nói thế nghe ra là “phản động”, nhưng thực chất là vậy. Nếu bác Hồ từng nói “Nước Việt nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý ấy không bao giờ thay đổi” - cứ cho bác Hồ nói đúng đi, mặc dầu theo sách giáo khoa Cách mạng dạy thì Việt Nam ta không chỉ có một mà có tới 53 dân tộc (trong Nam các anh gọi là 53 sắc tộc, xem ra đúng hơn), thì ta cũng có thể nói, nhờ chiếm được Miền Nam mà Miền Bắc được giải phóng, sông có thể cạn núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy nay đã hiển nhiên không thể chối cãi.
Cuối thư anh CGPQ cho biết thêm là anh cùng quê với ông Hồ, có lẽ trước 30-04-1975 anh rất hãnh diện về điều nay, song sau ngày này anh lại thấy đó là một điều làm anh hổ thẹn:

“Cảm ơn anh đã đọc hết thư này của một người cựu thù cùng máu đỏ da vàng, cùng quê hương “ông bác” mà ngày nay mỗi lần nghe nhắc đến là tôi muốn độn thổ vì xấu hổ.
2.   Nhà báo Huy Đức, tác giả cuốn “Bên Thắng Cuộc”:

Trong phần “Mấy lời của Tác Giả” của cuốn “Bên Thắng Cuộc” Huy Đức cho biết sau ngày 30-04-1975 nhìn những chiếc xe đò Phi Long chạy từ miền Nam ra Bắc và qua hình ảnh ngươi lơ xe và những đồ đạc và sách báo của hành khách mang từ miền Nam ra, tuy đơn giản song cũng làm ngươi miền Bắc nhận ra được rằng dường như ở miền Nam có mức sống văn minh, phong phú và đa dạng, và không giống như những điều mà Huy Đức đã được dậy bảo trong sách giáo khoa của miền Bắc:
“Những gì được đưa ra từ những chiếc xe đò Phi Long thoạt đầu thật giản đơn: mấy chiếc xe đạp bóng lộn xếp trên nóc xe, cặp nhẫn vàng chóe trên ngón tay một người làng tập kết vừa về Nam thăm quê ra, con búp bê nhựa biết nhắm mắt khi nằm ngửa và có thể khóc oe oe buộc trên ba lô của một anh bộ đội phục viên may mắn.
Những cuốn sách của Mai Thảo, Duyên Anh được các anh bộ đội giấu dưới đáy ba lô đã giúp bọn trẻ chúng tôi biết một thế giời văn chương gần gũi hơn Rừng Thẳm Tuyết Dầy, Thép Đã Tôi Thế Đấy. Những chiếc máy Akai, radio cassette, được những người hàng xóm tập kết mang ra, giúp chúng tôi biết những người lính xa nhà, đêm tiền đồn còn nhớ mẹ, nhớ em, chứ không chỉ có “đêm Trường Sơn nhớ Bác”. Có một miền Nam không giống như miền Nam trong sách giáo khoa của chúng tôi.”  
3.   Phan Huy, một thi nhân nổi tiếng ở miền Bắc:
Phan Huy đã viết môt bài thơ có tựa đề là “Cảm Tạ Miền Nam” rất cảm động. Ngay trong phầm mở đầu ông viết:
“Đã từ lâu, tôi có điều muốn nói
Với Miền Nam, miền đất mới thân quen
Một lời cảm ơn tha thiết chân tình
Của Miền Bắc, xứ ngàn năm văn vật.”
         
Sau cái gọi giải phóng và thống nhất, ông Huy đã có dịp vào miền Nam và ông đã nhận ra miền Nam không tồi tệ như bác và đảng đã tuyên truyền và nhồi nhét vào đầu ông. Và khi đã nhận ra một sự thật phũ phàng, ông Huy đã bật khóc:
“Tôi đã vào một xứ sở thần tiên
Nếp sống văn minh, dân khí dịu hiền
Cơm áo no lành, con người hạnh phúc.

Tôi đã ngạc nhiên với lòng thán phục
Mở mắt to nhìn nửa nước anh em
Mà đảng bảo là bị lũ nguỵ quyền
Áp bức, đoạ đày, đói ăn, khát uống.

Trước mắt tôi, một Miền Nam sinh động
Đất nước con người dân chủ tự do
Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô
Giận đảng giận đoàn bao năm phỉnh gạt.”
Phan Huy cũng không quên mô tả cuộc sống ở miền Bắc cộng sản, nơi ông đã sinh ra và lớn lên, vô cùng tồi tệ. Đời sống của nhân dân miền Bắc nghèo khó đến nỗi phải kéo cầy thay trâu và nhân phẩm của nhân dân miền Bắc bị xô đẩy xuống tới mức ngang hàng với bèo dâu:
  
“Sinh ra lớn lên sau bức màn sắt
Tôi chẳng biết gì ngoài bác, đảng "kính yêu"
Xã hội sơ khai, tẩy não, một chiều
Con người nói năng như là chim vẹt.

Mở miệng ra là: "Nhờ ơn bác đảng
Chế độ ta ưu việt nhất hành tinh
Đuốc soi đường chủ nghĩa Mac Lenin
Tiến nhanh tiến mạnh lên thiên đường vô sản.

Hai mươi mốt năm trên đường cách mạng
Xã hội thụt lùi người kéo thay trâu
Cuộc sống xuống thang tính bằng tem phiếu
Nhân phẩm con người chẳng khác bèo dâu.”
Trong phần cuối bài thơ, ông Huy kết luận rằng, ngày 30-04-1975 thật sự không phải là ngày cộng sản miền Bắc “giải phóng” miền Nam thoát khỏi sự kìm kẹp của Mỹ Ngụy, mà ngược lại là ngày miền Nam đã phá màn u tối, đã khai đướng chỉ lối, đã khai sáng cho nhân dân miền Bắc thấy được bộ mặt gian trá và độc ác của bè lũ cộng sản, thật sự chúng chỉ là một bầy ác quỷ, và ông đã không tiếc lời cảm tạ nhân dân miền Nam:
“Cảm tạ Miền Nam phá màn u tối
Để tôi được nhìn ánh sáng văn minh
Biết được nhân quyền, tự do dân chủ
Mà đảng từ lâu bưng bít dân mình.

Cảm tạ Miền  Nam  khai đường chỉ lối
Đưa tôi trở về tổ quốc thiêng liêng
Của Hùng Vương, quốc tổ giống Rồng Tiên
Chớ không là Cac Mac và Le nin ngoại tộc.
Cảm tạ Miền nam mở lòng khai sáng
Đưa tôi hội nhập cùng thế giới năm châu
Mà trước đây tôi có biết gì đâu
Ngoài Trung quốc và Liên xô đại vĩ
Cảm tạ Miền Nam đã một thời làm chiến sĩ
Chống lại Cộng nô cuồng vọng xâm lăng
Hầu giúp cả nước thoát bầy ác quỷ
Dù không thành công cũng đã thành danh.”
Trong một bài thơ khác có nhan đề là “Tâm sự một đảng viên” ông Phan Huy đắng cay bộc lộ rằng, sở dĩ ông theo đảng cộng sản là vì ông quá tin nghe theo lời bác Hồ dạy bảo:
“Rằng đảng ta ưu việt nhất hành tinh
Đường ta đi, chủ nghĩa Mac Lê nin
Là nhân phẩm, là lương tri thời đại.”
Và sở dĩ ông đã xung phong đi cứu Miền Nam ruột thịt  là vì ông tin vào lời tuyên truyền của bác Hồ và đảng Cộng Sản:
“Rằng tại Miền Nam, ngụy quyền bách hại
Dìm nhân dân dưới áp bức bạo tàn
Khắp nơi nơi cảnh đói rách cơ hàn
Đang rên siết kêu than cần giải phóng.”
Khi dự tính vào miền Nam thăm viếng một người bà con họ hàng, vì tin vào lời tuyên truyền của bác và đảng là người dân miền Nam đói khổ, nên ông đã chẳng quản đường xa diệu vợi mang theo một mớ gạo mà ông đã phải , dành dụm trong nhiều ngày mới có được, để biếu người bà con đói khó:
“Chẳng quên mang theo ký gạo để dành
Biếu người bà con trong nầy túng thiếu”
Song khi vào tới miền Nam, ông nhận ra rằng, đời sống của ngươi miền Nam hoàn toàn khác hẳn so với lời tuyên truyền láo khoét của bác và đảng:
“Đến Sài Gòn, tưởng say men chiến thắng
Nào ngờ đâu sụp đổ cả niềm tin
Khi điêu ngoa dối trá hiện nguyên hình
Trước thành phố tự do và nhân bản.”
Khi đến và đứng trước nhà người bà con, ông Phan Huy mới nhận ra rằng, mớ gạo mà ông nâng niu mang từ miền Bắc thiên đường cộng sản, với hảo ý để biếu người bà con miền Nam bị Mỹ Ngụy kìm kẹp đói khó là một điều điều  “lăng mạ” người bà con này:
“Tôi tìm đến người bà con trong xóm
Nhà xinh xinh, đời sung túc tiện nghi
Kí gạo đem theo nay đã mốc xì
Tôi vội vã dấu vào trong túi xách.
Anh bà con tôi- một ngươi công chức
Nét u buồn nhưng cũng cố làm vui
Đem tặng cho tôi một cái đồng hồ
Không người lái, Sei-ko, hai cửa sổ.
Rồi anh nói: "Ngày mai đi cải tạo
Cái đồng hồ tôi cũng chẳng cần chi
Xin tặng anh, mong nhận lấy đem về
Một chút tình người bà con Nam bộ."
Sau khi đã nhận ra đời sống thật sự của nhân dân miền Nam và sự gian trá, phỉnh gạt của bác Hồ và đảng Cộng, ông Huy cảm thấy hổ thẹn với lương tâm nên đã than khóc:
“Trên đường về, đất trời như sụp đổ
Tôi thấy mình tội lỗi với Miền Nam
Tôi thấy mình hổ thẹn với lương tâm
Tôi đã khóc, cho mình và đất nước.”
4.   Tiến sĩ Lê Hiển Dương, nguyên hiệu trường Đại Học Đồng Tháp:
Vào ngày 30-04-1975, ông Dương còn là sinh viên của trường đại học sư phạm Vinh. Khi nhận được tìn miền Nam đã được “giải phóng”, ông và các sinh viên của trường này đã hồ hỡi, phấn khởi, hò reo, ca hát và tổ chức hội họp liên miên để mừng miền Nam được giả phóng, vì tin rằng:
 “từ đây đồng bào Miền Nam ruột thịt của chúng tôi không còn sống trong cảnh”Ngụy kềm Mỹ kẹp nữa…. Họ đã được đảng và Bác cùng nhân dân Miền Bắc chúng tôi giải phóng.”
Sau khi tốt nghiệp, ông Lê Hiển Dương may mắn lại được Đảng và Nhà Nước Cộng Sản bố trí vào miền Nam với một nhiệm vụ cao cả là:
“mang ‘ánh sáng’ văn hóa vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tồi lầm than vì cứ liên miên bị Ngụy kềm Mỹ kẹp chứ đâu có học hành gì?”
Khi xe chạy qua cầu Hiền Lương, ông Dương đã bắt đầu nhận ra rằng, cuộc sống của nhân dân miền Nam không như ông tưởng và hòan toàn không giống như lời tuyên truyền láo khoét của bác và đảng đã nhồi nhét vào đầu óc ông:
“Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Đà Nẵng.. rồi Nha Trang, Sài Gòn rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu!”
Khi tới Thị trấn Cao Lãnh để nhận nhiệm sở, ông được nhà cầm quyên địa phương “bố trí” cho ở tại khách sạn Thiên Lợi và đây là cảm nhận của ông khi sống trong khách sạn này và nhân dịp này ông cũng cho biết xã hội miền Bắc quá lạc hậu và nghèo khó thê thảm:
“Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”, biết được thế nào là lavabo là hố xí tự hoại, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm cấp nhà nước của đại tướng Nguyễn Chí Thanh mà được bác Hồ khen thưởng và có thơ ca ngợi rằng:
‘Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh
Anh về phân Bắc, phân xanh đầy nhà’…
Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên can tội trộm cắp phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã… Tôi thấm thía hơn với những câu thơ ca ngợi miền Bắc đi lên XHCN của Tố Hữu mà ngoài sinh viên học sinh chúng tôi ra thì hầu như cả nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ ai cũng thuộc nằm lòng:
Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá
Mỗi hòn than mẩu thóc cân ngô
Hai tay ta gom góp dựng cơ đồ…”
Từ nhận thức về mức sống cách biệt giửa hai miền Nam quốc gia và miền Bắc cộng sản, cùng những sự việc đã liên tiếp xẩy ra ở miền Nam sau ngày 30-04-1975 đã buộc một người trí thức như ông Dương phải suy nghĩ: 
“Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền nam” … Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó… tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng miền Nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân… mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội…
Dần dần tôi hiểu sâu hơn cái sự mỉa mai chua chát của hai từ “GIẢI PHÓNG” đang được dùng trong kho tàng Tiếng Việt của nước nhà… “Giải phóng miền nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng… những tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi… Còn lại thì “giải phóng” đồng nghĩa với cảnh côi cút vì “sinh bắc tử nam” mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em bởi họ đã vào chiến trường và không bao giờ trở về nữa… Giải phóng cũng có nghĩa là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ.. mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền và mất luôn cả tổ quốc!”
5.   Châu Hiển Lý (bộ đội tập kết 1954)
Trong một bài có nhan đề là “Cả Nước Đã Bị Lừa” được viết vào dip kỷ niệm 35 năm ngày gỉải phóng miền Nam, ông Châu Hiển Lý đã nhận định vế “chiến thắng 30 tháng 04” của đảng cộng sản Việt Nam như sau:
“Sự bẽ bàng còn lớn hơn vinh quang chiến thắng. Hòa bình và thống nhất đã chỉ phơi bày một miền Bắc xã hội chủ nghĩa thua kém miền Nam, xô bồ và thối nát, về mọi mặt. "Tính hơn hẳn" của chủ nghĩa Mác-Lênin trở thành một trò cười. Sự tồi dở của nó được phơi bày rõ rệt cùng với sự nghèo khổ cùng cực của đồng bào miền Bắc.”
Tiếp theo đó ông Lý đã nêu ra một loạt câu hỏi để người đọc nhìn lại và suy ngẫm, rồi tự trả lời xem sau hơn nửa thế kỷ chủ nghĩa cộng sản được thực thi ở Việt Nam có phải là một chủ nghĩa tốt đẹp không? Nếu chủ nghĩa cộng sản thật sự tốt đẹp thì tại sao:
“ Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao hơn 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam ?
-  Sau năm 1975, tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của CNXH mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp?
- Tại sao sau khi được "giải phóng" khỏi gông cùm của Mỹ-Ngụy, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết gần kề, ngoài biển cả mênh mông?
- Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CS đi công tác thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị?
- Tất cả những thành phần nêu trên, họ muốn trốn chạy cái gì?
- Tại sao đàn ông của các nước tư bản Châu á có thể đến VN để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng?
- Tại sao Liên Xô và các nước Đông âu bị sụp đổ?
- Tại sao lại có sự cách biệt một trời một vực giữa Đông Đức và Tây Đức, giữa Nam Hàn và Bắc Hàn?
- Tại sao nước ta ngày nay phải quay trở lại với kinh tế thị trường , phải đi làm công cho các nước tư bản?
- Tại sao các lãnh tụ CS lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch?”
Hỏi tức là trả lời, người VN đã bỏ phiếu bằng chân từ bỏ một xả hội phi nhân tính . Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghĩa.”
Gần cuối bài “Cả nước đã bị lừa” ông Lý viết:
“Người dân chẳng còn một tí ti lòng tin vào bất cứ trò ma giáo nào mà chính phủ bé, chính phủ lớn, chính phủ gần, chính phủ xa đưa ra nữa. Họ nhìn vào ngôi nhà to tướng của ông chủ tịch xã, chú công an khu vực, bà thẩm phán, ông chánh án, bác hải quan, chị quản lý thị trường, kể cả các vị “đại biểu của dân” ở các cơ quan lập pháp “vừa đá bóng vừa thổi còi" mà kết luận: "Tất cả đều là lừa bịp!”
Do đó XHCN sẽ được đánh giá như một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử VN. Con, cháu, chút, chít chúng ta nhắc lại nó như một thời kỳ ... đồ đểu ! vết nhơ muôn đời của nhân loại.”
Cuối bài “Cả nước đã bị lừa” ông Lý đã dung hai câu thơ của nhà thơ Bùi Minh Quốc để kết luận về cái xã hội thiên đường cộng sản:
"Quay mặt phía nào cũng phải ghìm cơn mửa !
Cả một thời đểu cáng đã lên ngôi!"
6.   Nhà báo Trần Quang Thành
Mới đây Á Châu Tự Do có đăng bài “Hồi Ức 30/4 của người Việt tại Đông Âu.” Trong bài này nhà báo Trần Quang Thành, cựu phóng viên đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam và đài Truyền hình Việt Nam, hiện định cư tại Bratisslava, thủ đô của Slovakia, đã phát biểu như sau:
 “Khi tôi nghe đài phát thanh Tiếng Nói Việt Nam đưa tin ông Dương văn Minh đầu hàng, lúc đó tôi đang ở trên cầu Phan Thanh Giản  Sài Gòn và chỉ ít phút sau là tôi có mặt ở dinh Độc Lập. Lúc đây mình nghĩ là mình đã hoàn thành một việc là tới được cái nơi mà người ta gọi là «hang ổ của Mỹ Nguỵ » lúc đó mình cứ tưởng là một cuộc chiến thắng giải phóng miền Nam dâng cho tổ quốc nhưng mà bây giờ nghĩ lại là mình bị lừa…
Nhìn lại 40 năm cuộc chiến gọi là chống Mỹ cứu nước nhưng thực tế nó lại là một cuộc chiến về ý thức hệ của những người Cộng sản lừa dối nhân dân ta, thực tế nó là một cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Những người chóp bu của Cộng sản đã lừa dối nhân dân Việt Nam và lừa dối cả nhân dân toàn thế giới. Họ kích động tinh thần dân tộc của người dân miền Bắc là: miền Bắc là tiền đồn phía Đông Nam Á của phe Xã hội Chủ nghĩa. Nhưng thực chất bây giờ chúng ta mới hiểu đây là một cuộc chiến của những người Cộng sản Việt Nam tay sai cho 2 nước Cộng sản là Nga sô và Trung Cộng để mà thực hiện ý thức hệ Cộng sản bành trướng trên toàn thế giới  chứ không phải là một cuộc chiến tranh Vệ quốc như họ từng tuyền truyền là chống Mỹ xâm lược. Tôi thấy đó là một sự lừa dối và phản bội.»
7.   Nhà văn Dương Thu Hương
Mới đây phóng viên Tường An, đài Á Châu Tự Do, đã có một cuộc trao đổi với  nhà văn Dương Thu Hương về hồi ức của bà về ngày 30-04-1975. Câu hỏi đầu tiên mà phóng viên Tường An hỏi bà DTH là:
Thưa bà, cách đây đã lâu, trong một bài viết, bà có nói ngày 30/4, vào đến miền Nam bà đã ngồi trên vỉa hè và khóc. Nhân đây bà có thể giải thích về những giọt nước mắt ngày 30/4, 40 năm về trước không ạ ?
Nhà văn Dương Thu Hương:
Vào miền Nam tôi khóc vì sao? Là bởi vì tôi hiểu đạo quân chiến thắng ở miền Bắc phụ thuộc vào một chế độ man rợ. Rất nhiều dân tộc văn minh bị tiêu diệt bởi một chế độ man rợ hơn, bởi vì họ hung hăng hơn. Họ (phía bên thua cuộc) có thể văn minh hơn về văn hoá nhưng họ kém về phương diện tổ chức quân sự.
Sau này tôi mới hiểu tôi cũng ngây thơ tôi khóc thế thôi. 30/4 tôi còn khóc vì một lý do khác nữa là vì chúng tôi bị lừa. Chúng tôi đi không nghĩ ngày về, nhưng mà  chúng tôi tưởng chiến thắng quân ngoại xâm nhưng thực sự hoàn toàn là không phải. Và tất cả tuổi trẻ của chúng tôi đã bị tiêu huỷ đi. Và vì vậy mà tôi khóc, trong những giọt nước mắt của tôi có cái phần chung cho dân tộc và có phần riêng của chúng tôi, của những người bạn tôi đã chết và của bản thân tôi đã hy sinh tuổi xuân một cách vô ích.»
Tóm lại qua cảm nghĩ và nhận thức của các nhà văn, nhà thơ, cán binh, cán bộ v.v… trên đây người ta có thể rút ra được những kết luận sau đây:
-      Nhân dân miền Nam thật sự có tự do, dân chủ và no ấm.
-      Nhân dân miền Bắc nghèo khó đến nỗi phải kéo cày thay trâu và nhân phẩm xuống thấp ngang hàng với bèo dâu.
-      Nhờ giải phóng miền Nam, nhân dân miền Bắc thấy được ánh sáng văn minh và được dắt dẫn trở về quốc gia dân tộc.
-      Nhà cửa và phố xá ở miền Nam khang trang chứ không lụp xụp như ở miền Bắc.
-      Nhờ “giải phóng miền Nam” mà người miền Bắc biết thế nào là thế giới văn minh và hội nhập vào thế giới này.
-      Đời sống của người dân miền Bắc vào thập niên 1970 thê thảm và lạc hậu đến nỗi người dân phải tranh giành nhau từng cục “phân bắc” để nộp cho hợp tác xã.
-      Xã hội chủ nghĩa là một xã hội tồi tệ và nó được phơi bày rõ rệt qua sự nghèo khổ của nhân dân miền Bắc.
-      Xã hội chủ nghĩa là một thời đen tối nhất trong lịch xử Việt Nam.
-      Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thực chất chỉ là cuộc chiến của những người cộng sản Việt Nam làm tay sai cho Nga Sô và Trung Quốc.
-      Chế độ miền Bắc là một chế độ man rợ.
-      Chế độ miền Nam là một chế độ văn minh.
Tóm lại, qua những kết luận trên đây thiết tưởng cũng tạm đủ cho người ta thấy rõ là, ngày 30-04-1975 không thể gọi là ngày miền Bắc cộng sản giải phóng miền Nam tự do được, mà phải gọi ngược lại là ngày miền Nam đã giải phóng miền Bắc ra khỏi sự kìm kẹp, giam hãm và đô hộ của đảng Cộng Sản Việt Nam. Đồng thời cũng đã giúp nhân dân miền Bắc nhận ra được rằng, chế độ cộng sản là chế độ man rợ, chẳng những đã chọc thủng con ngươi của họ, mà còn đâm thủng luôn cả màng nhĩ của họ nữa, khiến họ không nghe được và không thấy được những xã hội văn minh và tiến bộ ở thế giới bên ngoài. Do đó, họ đang bị đảng Cộng Sản Việt Nam giam hãm, kìm kẹp và đọa đày trong một “nhà tù khổng lồ” song vẫn cứ tưởng là đang sống hạnh phúc tuyệt vời trong một “thiên đường văn minh nhất hành tinh”.  

CHỦ ĐỀ 40 NĂM-KÝ ỨC: Giờ phút cuối cùng của thành phố Đà Nẵng – 29 tháng 3/1975

Giờ phút cuối cùng của thành phố Đà Nẵng
29 tháng 3/1975

 
 
 
Những chuyện trong hơn 12 năm trong các trại tù cải tạo Tăng người thân và bạn bè đã sống và làm việc cùng tôi tại thành phố Đà Nẵng Trong giai đoạn này )
– Cảnh dân chạy loạn -

Đà Nẵng vào những ngày cuối tháng 3 năm 1975 thật là hỗn độn, rối lọan. Quân đội và dân chúng từ các Tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên, thành phố Huế đổ xô về, làm cho cái thành phố đã đông dân này càng thêm đông đảo. 


Cái Radio 4 băng tần tối tân nhất cuả Nhật lúc bấy giờ, lúc nào cũng ở bên cạnh tôi. Theo tin từ các Đài Phát Thanh trong và ngòai nước thật là lộn xộn, không giống nhau… Theo đài phát thanh Quân Đội, Sài Gòn, VOA, BBC cũng như một vài đài khác cuả nước ngòai, tôi vô cùng kinh ngạc là Huế có lệnh rút bỏ mặc dầu chưa đánh nhau chi cả. Sao lạ quá như vậy ? Tôi gọi điện thọai, hỏi mấy Ông bạn thân là Đơn Vị Trưởng trong vùng thì họ cũng trong tình trạng như tôi, không rõ đầu đuôi, tình hình ra sao hết.

Thành phố Đà Nẵng đông chật những người là người. Vấn đề an ninh, lộn xộn mỗi lúc một thêm gay gắt. Nhiều binh sĩ tức giận, bắn súng lên trời như những kẻ điên khùng vì không hiểu tại sao lại có lệnh rút lui, bỏ hết các trận tuyến gây nên tình trạng hỗn loạn thê thảm này trong khi chưa chạm địch., chưa đánh đấm chi cả. Xưa nay có bao giờ thế đâu ! Tự nhiên không đánh nhau, mà chỉ biết bỏ chạy là làm sao ? Tướng Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Đòan I kiêm Vùng I Chiến Thuật, có lẽ là người duy nhất ở đây biết được chuyện này, do ông được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiêu gọi vô Sài Gòn gấp, họp các Tướng Lãnh, nhưng vào tới nơi thì chỉ có một mình ông gặp Tổng Thống Thiệu và nhận lệnh cuả vị Tổng Tư Lệnh quân đội : “ Rút bỏ Quân Khu I ! “ Tướng Trưởng, một danh Tướng cuả Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, thế giới biết tiếng, biết tên, chết điếng cả người nhưng … chẳng muốn hỏi tại sao vì ông cũng đoán biết: hỏi cũng vô ích, để rồi bỗng dưng khai tử luôn cả một Quân Đoàn ( Army Corps ) hùng mạnh cho nó tan hàng , xập tiệm, và cả Vùng I Chiến thuật bao gồm 5 Tỉnh : Quảng Trị, Thưà Thiên, Quảng Nam, Quảng Tín, Quảng Ngãi và 2 thành phố Huế, Đà Nẵng . Bộ Chỉ Huy Quân Trấn Đà Nẵng được lệnh rõ ràng cuả Tướng Trưởng :

Bất cứ kẻ nào dùng súng đạn cướp bóc, xâm phạm tính mạng, tài sản của dân chúng trong tỉnh trạng rối lọan hiện nay sẽ bị các lực lượng an ninh, quân cảnh bắn hạ tại chỗ ! Tuy có cấp chức được quyền ở cư xá do quân đội cung cấp, nhưng tôi có giấy phép dậy học ngoài giờ làm việc ( chuyên dậy kèm Pháp và Anh ngữ cho rất đông học sinh Trung Học ) để đời sống vật chất tốt hơn, đối với gia đình đông con , tránh được chuyện dính dáng đến tham nhũng, hối lộ, rồi làm “ dê tế thần ” cho tình trạng chính quyền và xã hội “ lem nhem “ thời đó. Vài em học sinh chăm chỉ vẫn còn lui tới : “ Thưa Thầy ! các lớp học ra sao, có học tiếp không hả Thầy? “ Tội nghiệp ! Giờ này mà các em vẫn có thể nghĩ đến chuyện học hành. Tôi nói “ Thôi, chúng ta tạm nghỉ, khi nào yên tĩnh hãy hay.

Các em nên tránh bớt việc đi lại ngòai đường phố trong lúc này, rất nguy hiểm.” Các em ra về, vẻ mặt buồn thiu…Gia đình tôi ở trong một ngôi nhà nhỏ trong khu xóm đồng bào nghèo, nhưng có 2 cái sân đủ cho học sinh 3 lớp học tối mỗi đêm, thay phiên nhau đậu xe gắn máy và xe đạp. Lúc này, tôi dã đưa gia đình và di chuyển những gì cần thiết lên văn phòng Toà Án cho được an ninh vì có anh em Nghĩa Quân canh gác các cơ quan chính quyền. 

Những người trốn chạy CS 
được “cẩu ”lên tàu Mỹ 


Các ngân hàng đã đóng cửa, rất nhiều người cũng như tôi, khi nghĩ tới chuyện cần có số tiền phòng thân, đành chịu chết. Thôi, giữ sổ sách rồi vào Sài Gòn hãy hay. Có chi sài nấy vậy. Ai cũng nghĩ như thế để an tâm đối phó với tình hình trước mặt, ngày càng gay go, hỗn độn. Tôi điện thọai vào phi trường quân sự, định hỏi Thiếu Tá Trưởng Phòng An Ninh, không có, xin gặp Đại Úy Quang, cũng không có, chỉ có Trung Úy Bẩy trả lời, “ Thiếu Tá ơi ! Tụi nó pháo kích hỏa tiễn 122 ly của Trung Cộng cầy nát phi đạo rồi, máy bay của mình không đáp xuống được nữa, chỉ sài được trực thăng thôi. người đông nghẹt mà trực thăng không thấy đến chi cả ! “ Tôi điện thọai sang Bộ Tư Lệnh Hải Quân Vùng I, hỏi thăm mấy Sĩ Quan thân thiết thì được hay : 

Tại Cảng Tiên Sa, tầu không đủ chuyên chở quân đội di tản cùng với gia đình cũng như đồng bào trốn chạy quân cộng sản đang tiến vào thành phố bằng nhiều ngả, bao vây chung quanh Đà Nẵng. Lệnh trên: rút bỏ Quân Khu I không đánh đấm chi cả thì tình trạng làm sao khác được ! Địch pháo kích chung quanh Đà Nẵng ầm ầm… Tôi gọi sang Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Quân Khu. Đại Tá Chỉ Huy Trưởng vẫn còn ở đó. Là bạn thân với nhau từ hồi còn nhỏ, lưu lạc giang hồ, mãi sau này mới gặp lại nhau và lần sau cùng là ở Đà Nẵng.
Tôi chở tất cả gia đình trên chiếc xe jeep, gồm nhà tôi và 7 đứa con, đứa con gái lớn, đứa con trai kế 16 tuổi, đứa con gái út mới được 6 tháng, vợ tôi phải bồng ẵm trên tay, đến Bộ Chỉ Huy Pháo Binh Quân Đòan. Lúc đó là chiều ngày 28 tháng 3, tôi gọi cậu tài xế trung thành và can đảm, Binh nhất Túc, mà tôi đã đích thân đến đơn vị hành chánh quản trị địa phương, lựa chọn rồi hỏi han về tình trạng khó khăn khiến hắn can tội đào ngũ. Tôi liên lạc với đơn vị gốc của Túc, nhận cho hắn làm tài xế vì Tòa Án có xe nhưng không đủ quân nhân tài xế. Sau này, tôi thấy Túc tận tâm, chu đáo và trung thành, nên tôi nói với đơn vị đề nghị cho Túc lên Hạ Sĩ, mong ngày nào nào đó không xa, cho hắn lên hạ sĩ nhất thì đồng lương cũng đỡ khổ cho gia đình. 

Tôi bảo: “ Thôi, cậu lo cái xe cho tốt, đầy đủ săng nhớt rồi cho cậu về lo chuyện gia đình, Tôi lái lấy cũng được. Đây, chìa khóa văn phòng và tất cả những gì của gia đình tôi trong đó, nếu tôi đi khỏi thì tất cả là của cậu. Cậu ở lại lo cho gia đình. Vợ con cậu cũng cần đến cậu trong lúc hỗn lọan này. Đem những thùng, hộp thực phẩm khô, sữa hộp chia cho anh em Nghĩa Quân. Tôi sẽ cho lệnh họ : khỏi canh gác nữa ! Tòa chỉ còn tôi là Sĩ Quan cuối cùng ở đây, anh em Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ thì ở trại gia binh rồi. Cho họ về lo thu xếp , bảo vệ gia đình.” Tôi bắt tay cậu tài xế, Hạ Sĩ Túc. Cậu tài xế cứ nắm chặt lấy tay tôi, nói trong nghẹn ngào “ Em không nỡ để Thiếu Tá và Cô đi một mình với các em như thế này. Cứ để em đi theo, thầy trò mình sống chết có nhau, gia đình em đông người, nhiều bà con, dân địa phương, em là binh sĩ nên không có gì khó khăn nhiều như Thiếu Tá. Thiếu Tá đi được rồi, em trở lại với gia đình cũng được, không sao cả ! “ 

Tự nhiên tôi thấy mắt mình nhòa đi trước tấm lòng của cậu tài xế trung thành và can đảm, luôn luôn nghĩ đến tôi, và gia đình vì chúng tôi : một Sĩ Quan cấp Tá , Phó Ủy Viên Chính Phủ Toà Án Quân Sự Mặt Trận Quân khu I và một binh sĩ luôn sống với nhau như người trong một gia đình ruột thịt đã nhiều năm, nhiều tháng. Tôi bảo : “ Túc ! Cậu phải nghe tôi, về trông coi, bảo vệ lấy gia đình trong lúc này ! Tôi tới Bộ Chỉ Hy Pháo Binh bây giờ. Ông Đại Tá Chỉ Huy Trưởng còn ở đó ! “ Hạ Sĩ Túc, cậu tài xế rời nắm tay tôi rồi đứng nghiêm, giơ tay chào nghiêm chỉnh: Kính chúc Thiếu Tá, Cô, cùng các em ra đi bình an ! Tôi thấy rõ cậu tài xế can đảm và trung thành bật khóc. Chắc chắn là hắn khóc cho gia đình tôi trong cơn nguy biến, mà tôi bắt hắn phải ở lại… 

Trên đường, một chiếc xe Jeep chạy ngược chiều với tôi, trên có 4 Sĩ Quan Thủy Quân Lục Chiến, tuổi còn trẻ nhưng đều đeo lon Cấp Tá, rất quen thuộc, tôi chạy chậm lại, giơ tay vẫy chào, và hỏi to, “ Có chi lạ không ? “ Mấy Ông bạn cũng giơ tay vẫy. Một anh bạn người Nam la lớn : “ Đù má nó ! Anh coi : chiến tranh kiểu chi lạ ! Tụi này có bao giờ bỏ chạy như thế này đâu! Lại mấy thằng mất dậy…đem con bỏ chợ, âm mưu buôn bán xương máu tụi mình đây thôi !…” 

Tầu Hoa Kỳ chở người di tản ra khơi 


Gia đình Đại Tá Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh đã vào Sài Gòn ít hôm trước, Ông còn ở lại vì Tướng Trưởng và Bộ Tư Lệnh Quân Đòan vẫn còn ở Đà Nẵng. Đang ăn cơm tối với nhau thì điện thọai reo . Sĩ Quan trực chạy vào báo cáo : Thưa Đại Tá ! Có lệnh của Trung Tướng mời Đại Tá sang ngay Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn ! Ông Đại Tá bắt tay tôi và mấy Sĩ Quan thuộc quyền của Ông đã tụ tập về đó : “ Chúc Anh Chị, quý vị các cháu và tất cả bình an. “ Ông còn dặn tôi trong lúc vội vã quay đi “ Anh cho Chị và các cháu ngủ tạm trong hầm của tôi, rất tốt ! Nếu thiếu chỗ thì giường của tôi trong phòng kia… “ Sau này, toi biết là Ông cùng Bộ̣ Tư Lệ̣nh Quân Đoàn sang sân bay trực thăng Non Nước để̉ ra tàu Hải Quân cuả Mỹ chờ ngoài biển. 

Tôi mặc nguyên quân phục tác chiến, với khẩu súng Colt – 12 bên mình, chỉ bỏ cái mũ sắt 2 lớp ra, rồi ngả lưng xuống giường thiu thiu ngủ chập chờn… Điện thọai reo, Sĩ Quan trực chạy sang: Thưa Thiếu Tá, Bộ Tổng Tham Mưu tại Sài Gòn cho hay: 5 chiếc Tầu Hải Quân đã được lệnh lên đường, ra Biển Mỹ Khê, Đà Nẵng chuyên chở quân đội, gia đình và dân chúng. Tầu sẽ tới nơi vào khuya đêm nay hay sáng sớm mai… 

Xe tăng cộng sản vào thành phố Đà Nẵng 


Tôi đang mơ mơ màng màng trong giấc ngủ nặng nề thì có người đánh thức tôi dậy và nói trong sự vội vàng , ” Thiếu Tá ! Thiếu Tá ! Mình phải đi ngay, rời khỏi nơi này vì tin tức cho hay quân cộng sản Bắc Việt đã tới rất gần thành phố, không gặp sự kháng cự nào cả… “ Tôi đánh thức gia đình, vợ con rồi tất cả lại lên chiếc xe Jeep với ít đồ đạc gọn nhẹ tùy thân, nhắm hướng Bãi Biển Mỹ Khê phóng đi, sau khi bắt tay vội vàng vài Ông bạn Sĩ Quan Pháo Binh. Xe chạy được một quãng khá xa, chừng dăm cây số, bỗng đưá con gái lớn cuả chúng tôi kêu thất thanh : “ Cái va-li da cuả Mợ đâu rồi ? “
Trong số đồ đạc mang theo thì cái va-li da đó có chút ít tài sản còn lại đáng giá hơn mấy cái va-li đã nằm trong xe Jeep để sống, do bà nhà tôi và đưá con gái lớn ,vốn tính cẩn thận, trông coi cho chắc ăn. Mọi người trên xe nhận ra là trong lúc vội vàng di chuyển, chính cái va-li đó đã bị gia đình tôi bỏ lại ở trại Pháo Binh vưà rồi. Chết thật ! Tôi lái xe quay lại ngay lập tức, nhưng khó khăn vì người di chuyển quá đông. Chạy trở về trại Pháo binh, vẫn còn 2 cậu lính gác, tôi đậu xe ngay cưả phòng vưà rời ban nẫy, chạy như bay vào trong. May quá ! ( cái may đầu tiên ) 

Chiếc va-li đã được lôi từ trong căn hầm gia đình tôi ṭam trú lúc trước, nhưng chưa đem lên xe, vẫn còn nằm trơ một mình sau cánh cưả lối lên phòng tôi nằm. May mà còn lính gác, nếu không thì dân chúng quanh đó và bọn cướp phá cơ quan, công sở đã tràn vào vơ vét tất cả những gì còn ḷại, và cái va-li “quan trọng nhất cuả gia đình tôi “ cũng mất tiêu rồi. Nếu nó bị mất thì không biết sau này gia đình tôi cầm cự ra sao với cuộc sống đổi đời với trăm ngàn khổ cực. Trời Đất đã cứu gia đình tôi.. Đưá con gái lớn lần này tay lúc nào cũng để lên cái va-li vưà tìm lại được.Tôi lái xe ra cổng, anh em binh sĩ vẫn còn canh gác. Tôi nói : “ Anh em về đi, lo chuyện gia đình, doanh trại không còn ai nữa ! “ 

Trời đất ! Đường xá ban đêm mà lúc này đông nghẹt những người là người, di chuyển bằng đủ mọi cách. Tất cả đều hướng về phía Cảng Tiên Sa và bãi biển Mỹ Khê. Tôi lái xe, khẩu Colt-12 đeo trước ngực, ̣ kiẻu Sĩ Quan Đức, đã lên đạn, khoá chốt an toàn, khẩu M-16 đã lên đạn sẵn, cũng khóa chốt, để ngay bên cạnh. Đứa con trai lớn nhất 16 tuổi, có mặt trong xe cũng đã được tôi chỉ dẫn để sử dụng khẩu tiểu liên hạng nhẹ Carbin M-2 để đề phòng trường hợp bị bọn bất lương, tấn công, cướp bóc trong khi hỗn lọan. Trông cảnh người xe xuôi ngược thật là kinh hoàng, trong khi đó quân cộng sản vẫn pháo kích vào thành phố Đà Nẵng nổ ùynh ! ùynh ! … rải rác đó đây. 

Cái xe Jeep của tôi đang chạy bỗng dưng chết máy, nằm ỳ ngay cạnh đường. Thế là làm sao ! Còn đang lúng túng thì hai binh sĩ cầm M-16 từ cống trại lính bên kia đường tiến đến xe tôi dòm ngó, xem có chuyện chi mà lại dừng xe ngang xương trong dòng người đang chẩy xuôi ra hướng bãi biển. Một binh sĩ chào tôi : Thưa Thiếu Tá ! Sao Thiếu Tá lại ở đây vào lúc này ? – Xe tôi chết máy rồi ! Cậu binh sĩ kia cũng chạy lại rồi la to : Đại Úy Sinh ! Ra mau ! Thiếu Tá Phó Ủy Viên Chính Phủ Tòa Án Mặt Trận đây nè ! Đại Úy Từ Khánh Sinh, Đại Đội Trưởng nhẩy dù, bị thương tại mặt trận, sau được đưa về đây làm Quản Đốc Quân Lao Đà Nẵng, dưới quyền cuả tôi. Đại Úy Sinh, quân phục tác chiến chỉnh tề, mũ sắt 2 lớp, giơ tay chào tôi nghiêm chỉnh như thường lệ.
Chúng tôi bắt tay nhau trong khi tôi nói : “ Hay nhỉ ! Sao cái xe của tôi lại chết máy ngay ở chỗ này ? Nếu nó chết máy ở chỗ khác thì làm sao đây ? “ Tôi nghĩ thầm trong bụng : Đây là điều may mắn thứ hai cho chúng tôi trong cơn hỗn lọạn kinh hoàng. Anh Sinh kêu mấy binh sĩ ra đẩy cái xe của tôi vào trong sân trại.rồi ra lệnh cho một Thượng Sĩ : “ Lấy cái xe dự trữ cuả mình, lo săng nhớt đầy đủ rồi giúp gia đình Thiếu Tá chuyển đồ đạc sang, chớ lúc này mà xe cộ lộn xộn là nguy hiểm lắm. “ Tôi cảm ơn Đại Úy Sinh, bắt tay viên Thượng Sĩ già rồi vào văn phòng, có vài Sĩ Quan trong đó. Sau vài phút hỏi han tình hình, tôi hỏi Đại Úy Sinh ”Anh em bị giam giữ còn bao nhiêu người ? “ – Thưa Thiếu Tá: gần 7 trăm ! – Việc ăn uống của họ tới ngày hôm nay ra sao ? –
Hôm nay thì vẫn còn, nhưng ngày mai thì chưa biết, gạo mình còn, nhưng liệu nhà thầu cung cấp thức ăn có còn liên lạc nữa không. Suy nghĩ thật nhanh vài giây rồi tôi quyết định : “ Quân cộng sản đang tiến vào Đà Nẵng mà không đánh nhau chi cả. Nhân danh Sĩ Quan cấp chức cao nhất của 2 Tòa : Mặt Trận Vùng I và Tòa Thường Trực Đà Nẵng, tôi ra lệnh thả hết tất cả quân phạm không phân biệt Đại hay Tiểu Hình… En temps de guerre ! En cas de force majeure ! ( trong trường hợp chiến tranh ! Trong trường hợp bất khả kháng ) chúng ta có quyền làm bất cứ cách nào để bảo vệ sinh mạng của ngần đó con người, đã từng là quân nhân như chúng ta. 

Họ cũng có thân nhân gia đình đang đợi chờ họ. Anh Sinh cho thư ký đánh máy biên bản theo lời tôi đọc “ Lệnh thả hết quân phạm “… Tôi sẽ ký tên với tính cách người ra lệnh, và tất cả Sĩ Quan có mặt cùng ký tên với tính cách nhân chứng, hiểu biết quyết định này. Sau này vào Sài Gòn, chúng ta có giấy tờ trình Nha Quân Pháp và Bộ Quốc Phòng là những cơ quan mà hai Toà Án chúng tôi trực thuộc. Sáng sớm mai, chúng ta sẽ thả hết …

Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ của Quân Lao hầu như vẫn còn có mặt đông đủ.tới giờ phút này. Đại Úy Sinh vốn gốc Sĩ Quan nhẩy dù cho nên làm việc rất đàng hoàng, nghiêm chỉnh. Bộ phận cấp dưỡng, dọn cơm tối lên cho mấy anh em Sĩ Quan chúng tôi, vừa ăn, vừa bàn bạc công việc phải làm sáng mai. Một Hạ Sĩ Quan đi xe gắn máy từ Cảng Tiên Sa trở về, báo cáo : Cảng Tiên Sa rất đông người, tầu bè di chuyển không đủ, rất khó khăn, địch thỉnh thỏang lại nã vài trái hỏa tiễn gây chết chóc và thương tích cho bà con… Đại Úy Sinh bảo anh em lo cơm tối cho gia đình tôi và chỗ nghỉ ngơi qua đêm. Tình “ Huynh đệ chi binh “ những lúc như thế này mới thấy nó cao quý làm sao ! 

Tất cả đều coi nhau như ruột thịt một nhà. Thật là phúc đức cho gia đình tôi: trong suốt những ngày rối loạn, di tản, chúng tôi may mắn vẫn có chỗ ăn, chỗ ngủ đàng hoàng, không thì khổ cho đám con trẻ biết mấy, nhất là đưá con gái út mới được ̉6 tháng, nhà tôi còn phải bồng ẵm trên tay và lo những bình sưã và biết bao nhiêu thứ cho một đưá bé như thế. 

Hôm sau, trời còn sớm lắm, nhưng tất cả chúng tôi đã thức dậy. Tất cả Sĩ Quan chúng tôi cùng binh sĩ trong trại kéo nhau xuống phía khu vực nhà giam. Tôi ra lệnh : tất cả Hạ sĩ quan và binh sĩ súng M-16 lên đạn, khóa chốt an toàn, đứng thành 2 hàng. Các Sĩ Quan đứng sau lưng, tôi cho mở cửa nhà giam, rồi dùng loa phóng thanh cầm tay nói lớn : Nhân danh Sĩ Quan có cấp chức cao nhất của Tòa án quân sự Mặt Trận Vùng I và Tòa án quân sự Thường Trực Đà Nẵng hiện có mặt tại đây, tôi ra lệnh thả tất cả anh em ngay lúc này để trở về lo cho thân nhân gia đình trong tình hình khẩn cấp hiện nay… Nhiều anh em quân phạm còn nhìn nhau có vẻ ngơ ngác vì họ không biết rõ tình hình bên ngòai. Tôi nói tiếp : Anh em trật tự ra ngòai theo hướng dẫn của 1 Sĩ Quan, xếp hàng 10 người một, cứ đủ 6 hàng thì ngưng lại, ngồi xuống Khi có lệnh hô của 1 Sĩ Quan thì 2 hàng đứng dậy, theo tiếng hô thứ hai là cả 20 người chạy ra khỏi cổng trại, về nhà. Bất cứ ai gây lộn xộn, làm mất trật tự, hay đang chạy mà quay đầu lại hoặc dừng lại bất cứ vì lý do gì, sẽ bị bắn gục ngay tại chỗ ! Nghe rõ chưa ? Tất cả anh em đều reo mừng và thi hành lệnh một cách nghiêm chỉnh… 

Công việc “ thả tù “ đã xong, tôi thở phào nhẹ nhõm, họ cũng là người, từng là quân nhân dù có phạm tội, họ cũng có thân nhân gia đình đang trông đợi trong hoàn cảnh khó khăn, nguy hiểm này, chỉ sợ có sự rối lọan xẩy ra khi anh em nóng lòng, sốt ruột rồi làm càn, ai cũng muốn thóat ra khỏi nhà tù càng sớm càng tốt. May mắn là việc đó đã không xẩy ra.
Ăn sáng qua loa xong, tôi cho lệnh tập họp tất cả Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ cuả Quiân Lao. Quân số gần như đông đủ hoàn toàn. Với giọng nói trộn lẫn sự sót sa trong lòng, dù rằng cuộc đời cuả tôi đã quen với sót sa, đau khổ, chia lià từ khi 15 tuổi, phải bỏ trường trung học ở Hải Phòng để lăn mình vào cuộc kháng chiến chống Pháp, địch bắt hai lần, rồi 23 năm lính chống cộng sản, từ Binh Nhì, không theo học trường Sĩ Quan nào cả mà lên Thiếu Tá, với chức vụ Phó Ủy Viên Chính Phủ toà án quân sự mặt trận Quân khu I ( lãnh thổ trách nhiệm : các tỉnh Quảng Trị, Thưà Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Tín và 2 thành phố Huế, Đà Nẵng ), tôi nói “ Vận nước bắt chúng ta phải bỏ cuộc một cách đau lòng. Chúng ta đã làm hết bổn phận cuả những quân nhân. Bây giờ, không còn cách nào khác hơm nưã, tôi khuyên anh em nên trở về ngay, lo cho gia đình trong cơn hỗn loạn. Súng đạn cá nhân, anh em tùy nghi tìm cách thủ tiêu, ai không làm được thì để vào trong kho súng chắc chắn kia, Sĩ Quan tiếp liệu khoá kỹ lại, không để lọt vào tay những kẻ xấu, dùng nó làm hại người dân vô tội trong lúc hỗn loạn này..Còn các Sĩ Quan, anh em mình tạm chia tay ở đây và mong có ngày gặp lại. Xin chúc tất cả anh em bình an ! “ 

Tôi bắt tay thật chặt từng Sĩ Quan, Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ…Vài binh sĩ bịn rịn không nỡ rời chúng tôi trong khung cảnh đau đớn như thế này. Họ vẫn còn đứng nghiêm, giơ tay chào theo quân cách rồi mới tan hàng, theo nhau từng nhóm một. Mấy đưá con đã lớn cuả tôi đứng đằng xa, cạnh chiếc xe Jeep, trông thấy cảnh đó̀ cũng hiểu được nỗi đau lòng cuả lớp người cha, anh , những quân nhân chúng tôi, cho nên chúng nó cũng nước mắt sụt sùi. Khi ṃoi người đã tan hàng, ai lo việc nấy, Đại Úy Sinh, chỉ có một mình ở trại, lên xe cùng gia đình tôi. Anh lái ra phiá bãi biển Mỹ Khê. Có mấy chiếc tầu Haỉ Quân từ trong Nam kéo ra thật, nhưng đậu hơi xa, nước cạn không vào gần được. Trên tầu đông đặc những người là người và khắp ṃoi chỗ nơi bãi biển, người từ khắp nơi dồn về sao mà đông thế. Cả lính lẫn dân, kẻ lội nước, kẻ đi đủ loại ghe thuyền, cố gắng bơi ra ra tới chỗ tâù đậu.. Cầu thang lên tầu không đủ để đưa số người đông đặc như kiến leo lên. Người ta phải dùng đến những cái thang dây dùng trong trường hợp khẩn cấp, nhưng người vẫn chen chúc leo lên, hành lý mang theo rơi rớt xuống biển mỗi lúc một nhiều, rồi đến lúc có những người vì chen chúc, xô đẩy, đuối sức cũng rớt xuống biển đều đều. Những tiếng kêu gào thất thanh càng làm cho cảnh tượng thêm rùng rợn. Nhiều người trên bờ biển khóc thét lên làm cho những đưá con nhỏ cuả tôi cũng oà lên khóc theo . Tôi bảo Đại Úy Sinh “ Mình không thể để cho những đưá trẻ thơ như thế này cũng phải cḥiu cảnh thê thảm đó ! “ Anh Sinh bảo tôi “ Bọn mình tránh ra phiá này, tôi có thằng đàn em ở trong xóm đằng kia. Nó có chiếc ghe dìm dưới nước. Nó và bọn mình đi ghe ra phiá ngoài xa, lên chiếc tầu ở tít ngoài kia mới được. 

“ Chiếc xe Jeep cài số nhỏ, ì ạch lăn bánh trên cát, chở đông người chúng tôi tới phiá cách xa đó một khoảng, gần một xóm nhỏ lơ thơ mấy nóc nhà tranh, nhà lá. Anh Sinh chạy vut vào trong xóm rồi ra ngay cùng với một cậu nghiã quân.. Chiếc ghe được lôi ở dưới nước lên, đủ chở ngần đó con người, tuy có chút nguy hiểm về an toàn. Đành liều vậy, chớ biết làm sao ! Bà nhà tôi lên tiếng : “ Sống cùng sống, chết cùng chết với nhau ! “ Cậu nghiã quân nói : Thiếu Tá và Đại Úy thay quần áo dân sự đi vì em biết tụi du kích và đặc công nằm vùng đang ra công khai hoạt động để kiểm soát tình hình,phiá sau quân đội đánh chiếm thành phố Đà nẵng và vùng chung quanh, ngăn chặn đồng bào di tản, tụi nó hung hăng lắm ! Tôi đã từng có kinh nghiệm khi đi kháng chiến, đứng trong hàng ngũ cuả cộng sản gần 7 năm, công tác trong các văn phòng cơ quan lãnh đạo vì có chút chữ nghiã và có người anh ruột đỡ đầu, che chở, cho nên tôi biết rõ Sách – Lược ( Policy & Strategy ) cuả cộng sản là đánh chiếm một vùng hay một xứ sở, quốc gia nào thì bắt buộc : quân tác chiến làm xong nhiệm vụ, lập tức lực lượng bình định ( Pacificatory forces ) phải kiểm soát an ninh, trật tự, đè bẹp, diệt tan mọi sức kháng cự hay nổi lên làm loạn sau này… 

Chúng tôi chuyển đồ đạc trên xe xuống bãi cát rồi tôi đưa chùm chìa khóa xe cho một người đàn ông ngòai 50 tuổi dáng hiền lành, đứng cạnh đó, không rõ ông ta thuộc lọai người gì. Tôi bảo : Nếu chúng tôi xuống ghe đi được thì Bác lấy chiếc xe này, đem về biến cải đi mà sài ! Chúng tôi chuẩn bị bước xuống chiếc ghe của cậu nghĩa quân, đã được tát sạch nước, nhưng lúng túng vì đông người, có đám con nít, với đồ đạc… Từ phiá làng xóm gần đó, bọn du kích và quân chủ lực miền ( regional forces ) cuả Tỉnh Đội Quảng Nam – Đà Nẵng đã chia nhau từng toán nhỏ đi lùng soát, ngăn chặn tại các điạ điểm trọng yếu, mà bãi biển Mỹ Khê, Sơn Trà, núi Non Nước vv… là những điểm chúng đã chú ý. Mấy tên du kích chiã súng tiểu liên AK- 47 cuả Liên Sô và cả M-16 cuả quân Việt Nam Cộng Hoà bỏ lại, quát om xòm : “ Không có đi đâu hết cả ! Quay về ngay, không thì…bắn hết ! “ Chúng nổ vài loạt súng vào chiếc thuyền nhỏ và bắt chúng tôi quay lại. Thật là buồn lẫn tức giận vì Đại Uý Sinh từng là Đại Đội Trưởng Nhẩy Dù, còn tôi thì đã từng lăn lộn trong cuộc kháng chiến chống Pháp, Tây bắt 2 lần, rồi 23 năm trong Quân Đội Cộng Hoà từ Lính hạng bét leo lên cấp Tá, từng coi bọn du kích này như bọn … chó chết, nhưng lúc này chúng nó là kẻ thắng trận và đang cầm tiểu liên xung kích trong tay. Tôi nói nhỏ với Sinh : thôi quay lại ! 

Tôi nhìn lũ trẻ mặt mũi lo sợ, kinh hoàng mà lòng đau sót không cách nào nói hết được…. Khi trở lại chiếc xe thì Bác “ nhà quê “ đang ngồi ở ghế tài xề và cho xe nổ máy. Loay loay mà chẳng biết làm sao cho chiếc xe nổ máy. Tôi nói với Bác ta : “ Thôi, cảm ơn Bác, chúng tôi không đi được, cần xe chở nhà tôi và các cháu về thành phố kẻo trời chiều đã muộn, ở giưã bãi biển mênh mông thế này, đằng kia người đen như kiến vẫn đang lên tầu và vẫn… đang rơi rụng xuống biển như sung, như lá bay thế kia, coi bộ không được rồi, nhất là các cháu nhỏ như thế này « . Bác ta vui vẻ đưa lại chùm chià khoá cho tôi và bước xuống nhường chỗ cho Đại Uý Sinh và tôi chuyển đồ đạc trở lại trong xe. Đây lại thêm điều may mắn thứ ba cho chúng tôi. Xong việc, tôi bảo anh Sinh lên lái xe, tôi ngồi bên cạnh còn nhà tôi và các cháu ngồi hết ở phiá sau. Đại Uý Sinh ngồi lên cầm tay lái, tôi quay lại nói với người đàn ông hiền lành, gần như không thấy nói năng gì cả : Cảm ơn Bác nghe ! Cầu chúc Bác bình an ! 

Trong khi Đại Uý Sinh cài số nhỏ, lái xe ì ạch lăn trên bãi cát, tìm lối lên bờ, tôi nói với anh Sinh : May mà tay này hiền lành, thật thà, mở xe mấy lần máy không nổ, nếu nổ máy, liệu anh ta có biết lái nó đi đâu không, và chúng tôi cả bọn đang đứng ở giưã bãi biển mênh mông, với nhiều đe doạ, nguy hiểm, không biết sẽ ra thế nào khi trời đã dần dần ngả bóng về chiều, trong khi anh Sinh chỉ mở máy một cái là xe nổ máy tức khắc, xe tốt, để dự trữ cuả đơn vị anh Sinh kia mà, chớ gặp anh chàng kia là thứ dữ thì thật là khổ sở vất vả cho gia đình tôi với đám con phần nhiều còn nhỏ, đồ đạc lỉnh kỉnh… Xe đã tìm được lối lên đường, quay trở lại lối cũ phải qua Quân Lao Đà Nẵng. Trời đất ! Doanh Trại Quân Lao Đà Nẵng cuả Đại Uý Sinh lúc này đông nghẹt bà con, dân chúng ở đâu kéo đến tạm trú, chắc bà con cũng định nhắm hướng bãi biển Mỹ Khê, Tiên Sa, nhưng thấy trời đã sắp tối nên kéo nhau vào đây. Anh Sinh lái xe vào trong, đậu trước hai căn phòng cưả chắc chắn, khoá bằng những chiếc khoá đặc biệt cho nên không có ai vào đây. Mấy anh em binh sĩ cuả anh Sinh, nhà ở liền đó, biết được chúng tôi đã quay trở lại Quân Lao, liền chạy đến, xem có thể giúp đỡ được gì chăng. Đến lúc này mà anh em vẫn còn nghĩ đến chúng tôi, thật là tình “ Huynh Đệ Chi Binh “đúng là bất diệt… 

Lúc này theo tin tức thì quân cộng sản đã vào kiểm soát thành phố Đà Nẵng. Chúng tôi cũng như bao nhiêu Sĩ Quan, quân nhân từ Quảng Trị dồn về vùng đất này hầu hết đã bị dồn vào chỗ chết, nhưng biết làm sao, đành theo vận nước.. Qua một đêm khó khăn, khắc khoải ở Quân Lao Đà Nẵng, đơn vị cũ cuả Đại Uý Sinh, anh Sinh lo cho chúng tôi là một chuyện, lo cho gia đình, nhà tôi và lũ con còn nhỏ, cũng như cho chính anh với tương lai tối tăm trước mặt, thật là kinh khủng. Trời sáng lúc nào không hay. Tôi bảo Đại Úy Sinh chạy vào ngôi chùa của Quân Lao, ( trong khu vực Quân lao có một ngôi Nhà Thờ và một ngôi Chùa nhỏ dành cho quân phạm sinh hoạt tâm linh theo giờ giấc quy định ) kiếm một lá cờ Phật Giáo vì lúc này Thầy Thích Trí Quang “ Chuyên viên tôn giáo vận “ cuả Cộng Sản Việt Nam từ 1946, từ hồi tôi còn đang trong hàng ngũ kháng chiến với ông, là nhân vật quyền hành lớn lao, người dân miền Nam ai cũng phải biết lúc này vì ông lãnh đạo “ thành phần thứ ba “ ngoài hai lực lượng khác cao hơn : cộng sản Bắc Việt và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, đứng đầu là Chủ Tịch Nguyễn Hữu Thọ, rồi đến Thủ Tướng Huỳnh Tấn Phát, nhưng thực ra tất cả đều đặt dưới sự lãnh đạo cuả Bộ Chính Trị Trung Ương cộng sản Hà Nội. Nhân vật Thích Trí Quang kêu gọi : Các Bác Sĩ trở về bệnh viện cuả mình làm việc vì số thương vong quân đội, dân chúng quá nhiều, kêu gọi quân nhân cuả nam Việt Nam đem súng đạn đến nạp tại sân chuà trong thành phố, thị trấn, và ra trình diện Uỷ Ban Quân Quản khi có lệnh… 

Bà con nói : Sân Chuà Tỉnh Hội Đà Nẵng ở đường Ông Ích Khiêm là một cái núi chất đầy súng đạn, nhiều nhất là súng M-16 trang bị cho các lực lượng võ trang chính quy cuả Nam Việt Nam, còn vứt rải rác khắp hang cùng, ngõ hẻm thì không kễ. Tất cả chúng tôi lại chất đồ đạc lên xe trở vào thành phố Đà Nẵng, là vùng đất chết lúc này, nhưng biết làm khác được ! Xe ra khỏi cổng trại với chiếc lá cờ phật Giáo to tổ chảng bay phất phới. Xe chạy sắp tới ngã ba rẽ vào thành phố Đà Nẵng và đi Huế thì mấy chú bộ đội chủ lực cuả Tỉnh Đội Quảng Nam ( tôi đoán thế ) mũ tai bèo, súng AK-47 từ bên cạnh đường nhẩy ra chặn xe lại và yêu cầu Anh Sinh và tôi buớc xuống khỏi xe. Thấy mấy tên bộ đội non choẹt, nếu trước đó ít lâu thì cứ một chiến binh lính Dù cuả anh Sinh là dư sức “ sơi tái “ một lúc cả 3 tên bộ đội ‘ bé choắt “ này trong 30 giây đồng hồ, tôi chơi nước liếu hét to : “ các anh trông lá cờ trước mũi xe kia ! Lệnh cuả Ban Quân Quản Đà Nẵng và Thầy Thích Trí Quang sai chúng tôi liên lạc khẩn cấp với Chuà Tỉnh Hội Đà Nẵng xin xe cộ ra bãi biển Tiên Sa chở bà con, đồng bào bị thương nằm la liệt ngoài đó, chậm không đưa về bệnh viện là chết hết ! “ Mấy chú bộ đội ngơ ngáo nhìn nhau rồi khoát tay : “ Thôi đi mau lên ! “. Chạy vào phiá thành phố rồi, tôi mới bảo Đại Uý Sinh : Moa không hét toáng lên như vậy là chúng nó bắt hai anh em mình xuống ngồi tập trung với đám người ở bãi cỏ rồi, lúc đó nhà tôi và lũ trẻ này sẽ ra sao ! Kinh khủng quá ! 

Xe chạy vào trung tâm thành phố thì bọn tôi thấy cờ đỏ sao vàng và cờ Mặt Trận Giải Phóng miền Nam đã đầy ngập thành phố, khắp chốn hang cùng ngõ hẻm. Mà thật ! Một nhóm các em học sinh, trong đó có cả học sinh cuả tôi mấy hôm trước, đã bị luà ra đầy đường phố, mỗi nhóm có kèm hai, ba tay súng đặc công chỉ huy, làm công tác tuyên truyền, kêu gọi bà con trở về…thành phố đã được giải phóng ! Hai em học sinh chạy lại bên tôi nói : Thưa Thầy ! Thầy đưa Cô và các em về nhà, và có cần đi đâu trong thành phố nưã thì Thầy cứ việc đi thoải mái. Xong việc, xin Thầy giao xe lại cho chúng em vì lúc này Thầy cũng biết rồi, thành phố cần quản lý và sử dụng tất cả mọi thứ xe cộ, nhất là cuả quân đội cũ. Tôi bảo một em biết lái xe, nhẩy lên ngồi phiá sau, chật chội, anh Sinh lái đến một gia đình quen biết ở gần đó rồi giao tay lái lại cho tôi. 

Sau cái bắt tay từ giã sót sa, nhưng đầy tình “ chiến hữu “, chúng tôi vẫy tay chào nhau khi tôi lái xe thẳng đến Toà Án Quân Sự Mặt Trận Quân Khu I. Tôi rút chià khoá xe, nắm trong tay, rồi nhẩy xuống, chạy ào vào văn phòng cũ cuả tôi. Trời đất ! Một cảnh hoang tàn, hỗn độn diễn ra ngay trước mắt tôi : Bao nhiêu hồ sơ, giấy tờ cuả văn phòng, cộng thêm cái đống sách 501 cuốn cuả tôi sưu tầm, góp nhặt cả 2 chục năm nay nằm lung tung, bưà bãi, ngổn ngang như một đống rác. Đã xót sa cho vận nước, tôi càng thêm xót sa cho cái cảnh này. Chán quá, tôi quay ra xe quên cả lượm lại mấy cuốn Tự Điển Việt , Pháp, Mỹ, Anh dầy cộm…là những thứ cộng sản có thấy tôi giữ, tôi cũng chẳng ngại ngần chì…
Nhẩy lên xe, tôi đưa cả gia đình về nhà cậu tài xế cách đó không xa. Tôi vưà đậu xe trước cưả nhà cậu tài xế và bước xuống thì cả hai vợ chồng Hạ Sĩ Túc từ trong nhà chạy nhào ra ôm lấy tôi, khóc oà lên mà chẳng nói chi cả. Một lúc sau, vợ chồng hắn mới buông tôi ra mà hỏi : “ Làm sao bây giờ đây hả Thiếu Tá ? “ Tôi vỗ vai hai vợ chồng cậu tài xế trung thành, đầy tình nghiã mà nói : “ Rồi sẽ tính ! “, chúc anh chị và các cháu bình an, may mắn, tôi phải đi ngay, cho nhà tôi và các cháu nghỉ ngơi kẻo mệt mỏi quá rồi. Tôi lái xe đến nhà người cháu họ ở ngay mặt đường Phan Chu Trinh, Đà Nẵng ở tạm cho được an toàn trong lúc thành phố đang còn hỗn độn như thế này. 

Tôi chạy sang nhà ông anh họ ở gần đó, hỏi chià khoá vì tôi đoán thế nào đưá cháu cũng giao chià khoá nhà cho Chú nó là anh họ cuả tôi. trước khi kéo nhau chạy vào Sài Gòn từ sớm vì Mẹ và anh chị em cuả nó đều ở sài Gòn. Gặp anh chị tôi, mọi người nhìn nhau sao mà buồn thảm trong cái cảnh này, không nói ra nhưng ai cũng hiểu : Tôi là Sĩ Quan cấp chức khá cao, đi tù mút muà là cái chắc, còn gia đình anh chị tôi có tiếng là giầu có, buôn bán thành công cả thành phố này ai mà không biết, coi như “ Tư Sản “ hạng nặng rồi . Mở được khoá cưả vào nhà, đưa gia đình, đem đồ đạc vào trong xong, tôi trở ra trao chià khoá xe cho em học sinh đã lớn, hình như đã học lớp 12, chừng 18 tuổi, rành chuyện lái xe và nói : đây chià khoá xe, Thầy giao lại cho em đem về cho cơ quan có trách nhiệm ! Em nhìn tôi rồi hơi cúi đầu : chào Thầy, em đi ! Chúc Thầy Cô và các em mọi điều may mắn…
Tôi quay vào trong nhà, ngồi xuống cái Sô-pha nghỉ ngơi cho bớt căng thẳng đầu óc và cho lại sức, sẵn sàng chờ đón một tương lai đen tối mà tôi đã biết trước, trong khi ngoài đường phố, xe bắc loa thông tin, xe chở công an, bộ đội đi lại phô trương lực lượng chiến thắng, ngả ba, ngã tư đường phố chỗ nào cũng có vài chú bộ đội, ngơ ngáo, mũ tai bèo xách AK-47 đi lại, còn bọn cộng sản nặm vùng, đặc công, cùng bọn “ cách mạng giải phóng theo đuôi mới được 2 ngày “ buộc mảnh vải đỏ ở cánh tay chạy loăng quăng khắp chốn, cứ như ngày hội, trong khi các cưả nhà hai bên đường phố, bà con đóng kín mít, thỉnh thoảng có người hé mở nhìn ra ngoài coi xem “ cách mạng “ đang “ giải phóng “ làm ăn như thế nào…tương lai rồi đi về đâu. Có điều chắc chắn là sẽ tối tăm, mù mịt cũng như nhiều vụ bắt bớ, tịch thu tài sản, cướp bóc vơ vét trắng trợn và nhiều hình thức chết chóc sẽ xẩy ra…

San Diego- California
Phan Đức Minh

CHỦ ĐỀ 40 NĂM-KÝ ỨC: Ngày 30/4/1975 và Con Tầu Trường Xuân

Ngày 30/4/1975 và Con Tầu Trường Xuân
      
 
Đã nhiều lần Sơn giải thích cho Mỹ hiểu là qua nước Hoa Kỳ, có việc nào kiếm tiền là cứ làm. Ở nước Mỹ bằng cấp chỉ là một phương tiện để sinh nhai, chứ không phải dùng để đánh bóng, để nở mặt nở mày với thiên hạ như phong tục tập quán nhà mình, nhưng Mỹ vẫn cứ ngần ngại nói với Sơn:
“Dù sao em cũng là cô gíao bên Việt Nam, dù cô gíao daỵ tiểu học nhưng đi làm waitress em thấy nó kỳ kỳ”
 
Sơn thông cảm cho vợ, vì khi chân ướt chân ráo qua đây, anh cũng đi làm cỏ. Lúc đầu anh ái ngại lắm, dù sao ở Sài gòn anh cũng là Sĩ quan, bao nhiêu năm lính, lặn lội khắp chiến trường nam bắc, từ Pleime, Bình giả, Cam lộ, Đức Cơ anh đã góp phần cho cuôc chiến, máu và vài bộ phận thân thể Sơn cũng đã bỏ lại trên chiến trường, đã ba lần bị thương nặng, được đưa vào bệnh viện Măng cá, rồi Cộng hoà.

Sau khi trở thành phế nhân, Sơn được phục vụ tại Sài Gòn trong những ngày cuối cùng năm tháng tư đen năm 75. Qua đến nước Mỹ, với Sơn, cũng là một sự ngẩu nhiên. Khi Cọng quân tiến chiếm Sài Gòn, mợ Tâm đã nói thẳng với Sơn:
“Lâu nay cậu mợ đối đãi với con ra sao, con cũng biết. Con đừng giận cậu mợ, và hiểu lầm cậu mợ không chịu chứa chấp con. Tuy nhiên trong hàng xóm mợ nghe có du kích Cộïng Sản rình rập, nhìn qua nhà mình chỉ chỏ, hay con hãy về quê trốn đi, khi nào quân đội quốc gia mình thắng lại được như kỳ Mậu Thân thì con hảy trở về”

Không muốn trở thành gánh nặng nguy hiểm cho người thân, sáng sớm hôm sau 30/4 mới 4 giờ, Sơn lái xe gắn máy lang thang khắp Sài gòn, trên mình vẫn còn bộ quân phục và chiếc áo lạnh không quân do Hoài, bạn học lớp đệ nhất tặng Sơn. Chỉ vài tháng sau khi gặp nhau và trao cho Sơn chiếc áo lạnh, Hoài đã tử nạn trong một phi vụ trực thăng tại Đà nẵng.
 
Sơn dừng lại tại bến Bạch Đằng, vì chỗ này ồn ào náo nhiệt bất thường. Sơn thấy lố nhố rất nhiều người tại cửa ra vào căn cứ Hải Quân. Sơn tò mò len tới đó, chợt một thanh niên mặc quân phục Hải quân chận xe Sơn lại:
“Đại úy, em chờ Đại úy lâu rồi. Sao giờ này ông mới tới. Đại tá biêủ em ra đón Đại úy, phi cơ chờ Đại úy.”

Sơn chẳng hiểu anh này muốn nói gì, chưa kịp phản ứng thì chàng thanh niên nhảy vọt lên ngôí sau xe, nắm tay Sơn bảo rồ gas cho xe chạy. Viên Quân cảnh bât thình lình không ngờ tới, đã đề cho hai người lọt vào khuôn viên Hải Quân.

Sơn tính dừng lại chàng thanh niên tiếp tục:
“Anh chay mau lên, họ tửơng anh là phi công của Hải quân, chạy mau lên, đừng để họ băt lại.”

Sau này Sơn mới biết là trong căn cứ Hải Quân lúc đó có mấy chiếc trưc thăng. Đại đa số Hải Quân đã di tản ra hạm đội ngày trước, vị Sĩ quan tình nguyện ở lại nay lại đổi ý muốn đi, nên liên lạc với viên phi công đề đưa gia đinh ra hạm đội Mỹ. Té ra cái áo lạnh Hoài tặng, có thêu hình cánh bay đã giúp Sơn vào tân căn cứ Bạch đằng. Chắc Hoài chỉ lối đưa đường cho bạn mình, nên đưa đẩy Sơn vào tận căn cứ, dù đang được canh gác cẩn mật, và dù Sơn không chủ tâm muốn vào .

Chàng thanh niên tên Tâm, Trung sĩ Hải quân, vì đi phép nên không kịp đi di tản cùng đơn vị. Trở về lại không được vào căn cứ vì đã có lệnh trên, “ngoại bất nhập, nộâi bất xuất”. Nhưng Tâm cũng nghe lén đựơc quân cảnh đang chờ vị phi công do lệnh của cấp trên. Do đó với bản tính láu cá Tâm đã lợi dụng Sơn để vào cổng căn cứ. Lúc đầu Tâm cũng lầm tưởng vì Sơn là phi công thật vì chiếc áo lạnh không quân, nhưng sau đó thấy bộ mặt ngơ ngác của Sơn nên Tâm biết đã lầm, nhưng đã lỡ rồi thì phải cho lở luôn.

Sơn và Tâm vào tận bến của căn cứ. Một vị thượng sĩ già đón Sơn, ông ta nói :
“Máy bay đã sẵn sàng, chỉ còn chờ vài người, còn gia đình Đai úy đâu? Nghe nói Đại Úy phu nhân cũng đi theo mà?”

Đến cớ sự này Sơn bắt đầu xanh mặt, Sơn muốn nói thật anh chẳng phải phi công, phi đội gì cả, lại chả biết lái máy bay bao giờ, mà cũng tại vì anh cũng đâu muốn đi di tản, chàng chỉ đi lang thang giết thì giờ trước khi đến nhà Hoa từ biệt người yêu, rồi mua vé xe về quê. Nhưng Tâm nhanh nhẫu kéo Sơn ra chổ riêng và nói cho Sơn biết “Họ sẽ nhốt cả hai nếu anh nói là không phải phi công, em van anh mà. Để coi, em sẽ tuỳ cơ ứng biến với anh.”

“Ầm , ầm, bùng, bùng” hai qủa đạn pháo kích của Cộng Sản pháo vào căn cứ vào sáng 30/4. Vị Thượng sĩ có nhiệm vụ tiếp đón đẩy Sơn và Tâm cùng với ông váo chiếc PCF, một chiếc tàu chiến đấu nhỏ của Hải Quân có súng, tàu này chỉ chạy trong sông. Để tránh pháo kích, vị thượng sĩ cho tàu ra sông. Tàu chạy tới chạy lui trên sông Sài gòn, chợt bản tin đầu hàng đã được đọc ra và trên khách sạn Majestic đã thấy lấp ló mờ mịt lá cờ 2 màu của giải phóng.
 
Vị Thượng Sĩ cho tàu vô đại trong bờ và nhảy lên, trước khi đi ông còn cho Sơn biết chiếc PCF này không thể nào ra đại dương đựơc. “Đại úy phải kiếm tàu lớn hơn mà đi”. Thế là ông biến mât. Cứ mỗi lần tàu ngừng là đồng bào hai bên bờ lại nhảy lên, có người nhảy xuống cho nên giờ này cũng đã có chừng vài chục người trên tàu.

Vị thượng sĩ đi rồi, Tâm đã trở thành thủy thủ bất đăc dĩ.

Và ông thầy Sơn trở thành vị chỉ huy tàu. Tàu lắc lư tròng trành vì Tâm rất ít khi được lái tàu.

Thời gian căng thẳng cũng đã lắng diụ bớt, Sơn nhìn số người trong tàu ai cũng hoang mang hoảng hốt, nhất là có vài cô gái, vài bà hơn bốn mưoi vái trời vái đất luôn miệng. Sơn chợt nhớ đén Hoa, cô học trò Trưng Vương mà Sơn đã quen biết bao năm trời. Anh muốn trở về ôm người yêu trong vòng tay, nổi nhớ nhung Hoa xâm chiếm Sơn kỳ lạ, anh nói như quát với Tâm :
“Anh cho tàu vô bờ, tôi muốn xuống”

Tâm khóat tay ra hiệu là anh không biết lái tàu, thì làm sao anh cho tàu vô bờ theo ý muốn được. Nghe thấy Sơn định lên bờ, một cô gái trẻ đã cầm tay anh nhắc nhở:
“Đại úy nguy hiểm lắm đó, Việt Cộng nó giết anh liền đó”. Có người nhắc đến Cộng Sản là Sơn tỉnh giấc mộng trở về thực tại ngay, tay Sơn đã từng quơ đại liên giết từng đám Cộng Sản tại U Minh, ném lựu đạn tiêu diệt hậu cần của chúng tai Ban mê Thuộc, Sơn chính là kẻ thù không chiến tuyến với Cộng Quân, anh có hèn nhát đầu hàng cũng chưa chác cứu được mạng sống mình, mà tại sao phải đầu hàng bọn chúng? Maú anh hùng đã nồi dậy.
 
Chợt tiếng cô gái vẫn văng vẳng bên tai:
“ Anh đừng lên bờ, đừng bỏ tụi em”

Thằng Tâm cũng khóc:
“Đừng bỏ em nghe Đại úy, đi theo tụi em, có gì mình nương tựa vào nhau, dì em đang ở Mỹ chờ em qua”.

Sơn vừa mới biết Tâm chưa qúa hai tiếng đồng hồ, còn cô gái kia chàng cũng chưa nhìn rõ dung nhan, nhưng giọng nói rất thành thật, van lơn. Chợt cô gái mở dây kéo chiếc áo lạnh không quân của Sơn: “Anh cởi bộ đồ lính đi, tụi Cọng Sản nhìn thấy anh, nó sẽ bắn sẻ đó.”

Sơn từ từ cởi bỏ bộ đồ lính, thằng Tâm chuẩn bị sẵn một bộ đồ civil, vứt đại qua Sơn. Anh thay vội vàng chiếc quần, đang chuẩn bị tròng thêm chiếc áo, thì cô gáí đã nhanh tay cài khuy cho Sơn, và nói rất nhanh “Coi chừng lạnh, em tên Mỹ, còn anh tên Sơn, em đã nhìn thấy bảng tên anh”.

Nhiều chiếc ghe nhỏ đã tấp vào chiếc PCF, mỗi lần như vậy là vài chục người lên thêm, may mắn thay có vài thủy thủ rành nghề lên tàu và thay tay lái cho Tâm. Chiếc tàu có người lái giỏi chạy như bay trên sông Sài Gòn. Chợt Sơn nhớ đến câu nóí vị thượng sĩ “tàu này không ra đại dương được”.

Tự nhiên bổn phận của một viên sĩ quan cao cấp nhất trên tàu, Sơn nhắc nhở đồng bào đang nhốn nháo:
“Chiếc này không thể ra hải phận quốc tế được, ai theo tôi thì lên chiếùc tàu lớn kia, chiếc màu xám đó, còn ai muốn ở lại chiếc này thì tùy ý các vị.”

Nói xong Sơn ra hiệu cho Tâm và các anh lái tàu cập sát chiếc tàu lớn đang đậu tại cảng, trên tàu đã lố nhố vài ngàn người. Các sợi dây thừng, thòng lọng là phưong tiện duy nhất để leo lên. Thật khó xử cho Sơn, vì vài thanh niên nghi ngờ Sơn, bảo Sơn phải lên trước tiên, họ không tin tưởng chiếc tàu lớn sẽ di tản, có lẽ chiếc tàu nhỏ này qúa đông, nên Sơn lừa họ lên tàu khác chăng.

Sơn ra hiệu cho Tâm lên sau cùng khi đẩy các bà các cô lên tàu lớn trước. Tâm có lẽ hơi bực bội nghĩ thầm, đến nứơc này mà còn tính galant, nhưng nghĩ sao Tâm gật đầu. Sau cả tiếng vất vả, đại đa số lên được chiếc Trường Xuân đang chết máy. Qủa thật giờ này Sơn mới hoảng hồn, mình đề nghị đồng bào lên chiếc tàu chết máy, có sao không? Chợt nghe giọng nói của một anh bạn trẻ nói với vợ:
“Ông thuyền trưởng đã kiếm được thợ máy và tài công, gìờ đang sửa chữa, đừng lo quá nhe em.

Tâm và Mỹ ngồi co ro một bên Sơn. Trời đã sáng tỏ, nhìn lên đấùt liền, Sơn thấy lố nhố dồng bào trên bờ, nhìn thấy chiếc cờ hai màu của giải phóng mà Sơn đau nhói ở lồng ngực, anh nghĩ biết bao nhiêu người lính bỏ mạng trên chiến trường, bao thanh niên ngả gục cho hai chữ Tự do, thế mà bị quốc tế lừa bịp, cấp lảnh đạo cứ xua binh lính rút lui, giặc chưa đến mà đã chạy. Nhục nhả thay khi chiếc cờ sọt rác giải phóng chểm chệ rủ rựợi trên cao ốc của khách sạn Sài gòn.”

“Em có chút mì gói, ăn đỡ đi Đại úy” thằng Tâm khều khều, tay đang nắm vài cọng mì khô. Sơn không hiểu sao lại bực mình: “Anh gọi tôi là Sơn, bây giờ chả có ai tướng ai úy nữa” Thằng Tâm rụt tay lại nói nhỏ “Dạ em biết.”

Thế rồi chiếc tàu Trường Xuân nổ máy, đồng bào reo hò, cũng khoảng mười phút sau tàu mới rục rịch di động, tàu rời xa Sài Gòn. Trên boong tàu cả ngàn người ngồi đứng la liệt, người nọ ngồi sát người kia như cá đóng hộp. Những bộ mặt ngơ ngác khó hiểu, không biết buồn hay vui, vui vì ít ra có cơ hội thoát ách cọng sản, được ra nước ngoài, buồn vì xa cách người thân, bỏ lại hết gia sản sau mấy chục năm dành dụm, lo vì không biết tương lai mình sẽ ra sao, tàu có bị Cọng Sản bắt lại?

Đã xế chiều mà chiếc tàu cà rịch cà tang vẫn còn trên sông, chưa ra đến Vũng Tàu, rồi đột nhiên trên tàu có người la lên “tàu gãy bánh lái rồi”. Chiếc tàu không bánh lái không quẹo được vào khúc quanh, đâm sầm vào đất liền, một phần tư tàu đã bị mắc cạn.

Lợi dụng cơ hội này vài chục đồng bào nhảy xuống đất liền, chạy trốn trước khi Cọng sản lùng bắt. Chiếc PCF đã chạy cặp theo từ cảng Sai gòn, ghé lại hỏi thăm, nó cố gắng kéo tàu lớn ra bờ nhưng vô hiệu, chiếc này nhỏ quá không đủ sức.

Trơờitối dần, mọi ngừời hiện ra vẻ thất vọng qua những lòi than vãn. Xa xa có ánh đèn, một chiếc tàu buôn trên đường về lại Sai Gòn đã bị chận lại bởi chiếc PCF. Dù nhỏ con nhưng chiếc này có trang bị súng ống, giống như chó sói vồ bắt con hươu.

Đã có sự dàn xếp gía cả để chiếc tàu này kéo chiếc Trường Xuân ra hải phận quốc tế. Có lẽ vì lòng nhân đạo, tàu này chỉ nhỏ bằng nửa chiếc Trường Xuân nhưng cũng đủ sức để kéo chiếc này ra khỏi vùng mắc cạn và di chuyển ra hải phận quốc tế.
 

Tầu Trường Xuân tự nó đã chạy chậm, nay lại được một chiếc khác kéo, lại chậm rì chậm rịt thêm, đôi khi mắc cả lưới đánh cá vì di chuyển trái phải như cua bò. Trên trời vài chiếc máy bay lượn qua lượn lại. Ngọn hải đăng của Vũng Tàu đã hiện ra. Nếu một qủa bom từ chiếc phi cơ nhả xuống thì hàng ngàn người sẽ là mối ngon cho cá. Nhưng hình như cả bọn Cộng đang hí hửng vui mừng cưỡng chiếm được miền Nam như chú mọi đen cưới được công chúa, nên chả ai thèm để ý hai chiếc tàu nhỏ đang đi lần về hải phận quốc tế.

Đến hải phận quốc tế rồi, sau khi trao hết nước uống cho người trên Trường Xuân, chiếc tàu nhỏ đã từ giã về lại Sài gòn. Chiếc Trường Xuân không bánh lái, ì ạch ra đại dương.

“Tin mới nhất, tin mới nhất, chúng tôi đã liên lạc với hạm đội Mỹ và họ trên đường tìm tọa độ đi đón chúng ta.” Tin này truyền ra từ loa phóng thanh làm cả ngàn người phấn chấn, thức tỉnh, họ vui mừng qúa độ, dùng nước để dội lên đầu cho mát, tha hồ, có người dùng để đánh răng. Riêng thằng Tâm cứ ôm chặt 5 gallon nước, đang múc một ly nhỏ cho Mỹ uống.

Nhưng rồi một ngày, rồi hai, ba ngày chả thấy hạm đội nào đến rước, máy tàu cũng đã ngưng chạy. Có người trộ thêm “cứ đà này thì tàu trôi dạt vào Nha Trang”. Vài người qúa thất vọng hay vì các lý do riêng tư đã tự sát bằng súng hay nhảy xuống biển trong đêm khuya, một tiếng tỏm khô khan nhỏ bé so với tiếng sóng biển là một mạng người ra đi.

“Thuyền đã ngập nước, thanh niên hãy giúp chúng tôi tát nước” loa lại vang dội trong đêm trường khi cả ngàn người đang kiệt sức vì thiếu ăn, thiếu uống, say sóng. Sơn vùng dậy bảo Tâm “đi theo tôi”. Tâm chỉ cái bình nước đang được ôm chặt, Sơn chỉ qua Mỹ nàng đang ngồi dã dượi như không còn chút sinh lực. Sơn lấy cái áo lạnh Hoài tặng đắp lên bình nước và bước qua đầu từng người để đi về phía hầm tàu tát nước, Tâm bải hoải theo sau.

Sở dĩ Sơn Tâm còn sức lực đi lui tới vì có vài miếng khô bò trong túi, thêm mì khô của Tâm và nhất là nước uống, dù chia sẻ với các bà con chung quanh nhưng cũng còn hơn một nửa. Vị thuyền trưởng khả kính, vỗ vai từng anh em đi tát nước, sau khi xong xuôi ban chỉ huy còn tặng Sơn và Tâm hai miếng cơm cháy nhỏ bằng ba đốt ngón tay. Có lẽ đó là hai miếng cơm cháy qúi gía nhất đời của Sơn và Tâm.

Thuyền trưởng yêu câù anh em đi theo các vị bác sĩ bơm nước cho từng người, nhất là con nít. Tất cả đều nằm chồng lên nhau chứ không ai còn sức để ngồi. Tất cả mọi người, một chút sinh khí cũng không còn.

Sợ đồng bào qúa tuyệt vọng, thuyền trưởng cho biết vẫn còn nước trong hầm tàu, đủ để giữ sinh mạng cho tất cả ít ra cho đến khi có tàu khác đến cứu.
 
Sau một vòng xịt nước vào miệng cho nhóm đồng bào phía phải cánh tàu, chừng trăm người, theo lời dặn của bác sĩ , Sơn cứ mở miệng nạn nhân ra và xịt nước vào cuống họng, nhất là các trẻ em. Lải rải chỉ cho nước chừng vài chục người mà vị bác sĩ và Sơn đã kiệt sức vì khom lên khom xuống, vài thanh niên khác lại tiếp tục công việc.

Sơn trở lại chỗ cũ, Mỹ ngồi bất động, bình nước đã biến mất. Sơn còn một ít nước dư trong chai xịt, mở miệng Mỹ, xịt cho nàng mấy hớp. Nàng tỉnh lại, Sơn cầm miếng cơm cháy sót lại bỏ vào thêm và xịt thêm ít nước. Thần diệu thay chỉ nửa tiếng sau, thần sắc Mỹ đã thấy khá hơn. Chiếc áo lạnh không quân dùng để che chở bình nước uống, nay được Mỹ ôm chặt vào lòng để che lạnh, mở măt nhìn thấy Sơn nàng vội đưa lại chiếc áo.

“Cô cứ mặc đi, tôi còn cái khác”.

Sơn lấy trong xách tay chiếc áo lính có ba bông mai vàng rực, chàng mặc vội vào như thể trong tương lai chàng sẽ không bao giờ có dịp để mặc nó nữa.

Thêm một ngày đêm trôi qua không thấy tàu bè nào qua lại tiếp cứu, mặc dù tấm vải trắng đã được treo lên, cạnh lá cờ vàng.

“Có tàu lớn đến, có tàu đến” cả mấy chục người reo hò.

Liên lạc giữa Trường Xuân và chiếc tàu Đan mạch lớn đó đã thông. Tàu Trường Xuân cử đại diện qua tàu lớn thượng lượng và cho biết tình hình đồng bào kiệt sức trên tàu nhất là trẻ em và phụ nữ. Thuyền trưởng Đan Mạch phải xin lệnh được cấp cứu từ chính phù họ. Có lẽ cả vài ngàn xác không hồn nằm bất động trên khoang tàu, đã làm thế giới xúc động, họ đồng ý tiếp cứu, không những cho lương thực mà còn cho đồng bào lên tàu vì con tàu Trường Xuân hư máy móc, không bánh lái thì không thể di chuyền đi đâu được.

Việc di chuyền đồng bào từ Trường Xuân sang Đan Mạch rất khó, vì tàu Đan mạch rất cao, như ta đúng dưới đất nhìn lên hai tầng lầu. Mà đa số đòng bào chả còn sức lực để leo lên tàu lớn bằng một cuộn dây lưới do thủy thủ Đan mạch treo lên. Sơn dìu Mỹ lên tàu không khó khăn vì nàng nhỏ con. Sơn lại xuống giúp các đồng báo khác. Có một cô gái nhỏ con nhưng không còn sức để leo lên, dù chỉ là một nấc Sơn khinh thường dùng một tay trái để đẩy nàng lên, rồi lại hai tay nhưng vẫn không nhúc nhích, có khi làm chàng té nhào ra sau. Tâm hóm hỉnh nói “người không lớn, nhưng chiếc áo gíap đặc biệt của cô nàng nặng lắm”. Sơn mệt qúa không còn cười nổi với câu khôi hài của Tâm.

Thằng Tâm đưa cho Sơn lon xúp do thủy thủ Đan Mạch cho, xúp đã nguội nhưng khi uống vào Sơn thấy khoan khoái và khoẻ hơn.
 
Vài tiềng đồng hồ trôi qua, tất cả đồng bào đã sang tàu Đan mạch, vài chục thanh niên còn lảng vảng đi nhặt đồ rơi, từ vài đô, vài chỉ vàng, áo quần. Chợt Tâm kêu Sơn xuống, chỉ một người đang nằm, một ông cụ. Vài thanh niên ngăn Sơn:
“Xác chết đó anh, thân nhân đã quyết định để ông cụ theo chiếc tàu”.

Thủy thủ Đan mạch dùng loa kêu lớp thanh niên lên tàu để họ cuốn lưới lại. Khi mọi người cùng leo lên một lần thì rất dễ lên xuống vì thăng bằng, khi còn lại vài người thì chòng chành khó leo. Mỹ đứng trên tàu lớn lo lắng cho Sơn và Tâm có lên kịp không.

Tâm đi lấy thức ăn, cứ mỗi lần là một chén xúp va một hộp sừa bằng giấy. Sau khi ăn thêm một chén xúp nữa và uống một bịch sữa, Sơn bị đau bụng dữ dội, hình như bao tử bị xót.

Chàng ra nơi chỗ vệ sinh bên hông tàu, cầu vệ sinh được làm như các nhà Việt Nam trên sông, ngồi nhìn thấy cả sao trời và sóng vỗ. Tâm đang ở trên hỏi vọng xuống “anh có đi được không?, em xuống mấy lần, đau bụng muốn chết mà không đi được”.

Tâm nói đúng, sau bốn năm ngày trời không đụng đến cầu tiêu, nay đại tiện hay tiểu tiện cũng không thực hiện được. Mất nước, mất gia đình nay mất đi nhiệm vụ thông thường của cơ thể....

Hồng Kông ánh đèn rực sáng chói, bán đảo đứng sừng sững như một thiên đường hạ giới, tự do là đây sao? hạnh phúc là đây sao? tương lai đang mở cửa đón chào cả ngàn con tim thổn thức, buồn vui lẫn lộn, vừa háo hức vừa ngại ngùng. Một chân trời mới đã hiện ra, rồi mình sẽ ra sao như con chim non tung cánh khắp mọi hướng trong vòm trời tự do này. Từ đây, Mỹ trở thành người bạn đời của chàng.

Cám ơn Thế giới Tự do, cho chúng tôi cơ hội làm người mà chúng tôi đã mất trên chính quê hương mình!
 

Trần Hoàn

Bài Xem Nhiều