We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 10 April 2015

Nguyễn Ngọc Ngạn: Cơn gió nào đưa ông nhớ về Quốc Hận lần thứ 40?

Bên thắng cuộc

Trong đợt lưu diễn văn nghệ đầu năm nay ở vài thành phố bên Mỹ, trùng hợp có một tờ tạp chí và một đài phát thanh hỏi tôi cùng một câu: Nhìn lại 4 thập niên vừa qua, 1975-2015, sự kiện gì đối với chú là quan trọng nhất?
Câu này dễ trả lời! Thế giới biến đổi từng ngày, biết bao nhiêu chuyện xảy ra. Nhưng riêng đối với tôi thì biến cố lớn nhất trong 40 năm qua là sự tan rã của Liên Xô và hệ thống cộng sản toàn cầu. Nó mở ra một kỷ nguyên hòa bình mới, kết thúc chiến tranh lạnh, giảm thiểu tối đa các vũ khí chiến lược, tiết kiệm bao nhiêu tiền của và xương máu mà nhân loại đã đổ ra từ ngày có phong trào cộng sản. Cần hình dung lại hàng triệu người đã chết thảm ở Siberia thời Stalin, trong cải cách ruộng đất và cách mạng văn hóa thời Mao Trạch Đông, rồi cải cách ruộng đất và sửa sai thời Hồ Chí Minh trên đất Bắc, cũng như đánh tư sản và tù cải tạo tại miền Nam sau 1975. Chưa kể chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Việt Nam và nhiều quốc gia khác trên thế giới. Kiểm điểm lại những đau thương ngút trời gần một thế kỷ vừa qua, người ta mới thấy hết được niềm hạnh phúc khi đế quốc cộng sản sụp đổ, mà sự sụp đổ ấy không do tác động trực tiếp của thế giới tự do, mà do chính nội bộ của đảng viên và của quần chúng các nước xã hội chủ nghĩa dấy lên. Theo tôi, đó là sự kiện vĩ đại nhất của nhân loại trong 4 thập niên vừa qua!
Hà Nội 1973
Từ ngày ra hải ngoại, tôi vẫn mang trong đầu một điều tiếc nuối: Việt Nam Cộng Hòa là quốc gia cuối cùng trên thế giới bị lọt vào tay Cộng Sản. Giả như đồng minh Hoa Kỳ không bỏ cuộc giữa đường, Miền Nam Việt Nam chỉ cần cầm cự thêm vài năm nữa, chắc chắn tình hình đã đổi khác.
Đến khi cộng sản toàn cầu sụp đổ, tôi lại cho rằng, sự sụp đổ ấy bắt nguồn sâu xa từ chiến tranh Việt Nam. Tôi tin như thế, nhưng dè dặt không dám viết ra vì sợ có người sẽ bảo là tôi chủ quan. Mãi đến khoảng năm 2005, tôi tình cờ đọc được cuốn sách của một tác giả người Mỹ, tôi mới cảm thấy an lòng và hết sức vui mừng vì có người đồng ý với suy nghĩ của tôi.
Tiếc là giờ này tôi không có cuốn sách ấy trong tay, vì hôm đó trong khi chờ chuyến bay ở phi trường, tôi tạt vào tiệm bách hóa Hudson News tính mua đại một tờ tạp chí nào đó để lên máy bay xem cho qua thì giờ, thì thấy có cuốn sách viết về Vietnam War nên vội lấy xuống. Tôi mới chỉ đọc được 2 trang của phần mở đầu thì chuyến bay thông báo boarding mà người xếp hạng ở quầy tính tiền đông quá, tôi đành bỏ lại cuốn sách trên kệ.
Ngồi trên phi cơ, tôi nhớ lại lập luận của tác giả cho rằng: Chiến tranh Việt Nam là cuộc chạy đua võ trang, hay đúng hơn là cuộc chạy đua tiêu tiền, giữa hai khối tư bản và cộng sản. Cuộc chạy đua ấy tuy kết thúc dở dang vì Hoa Kỳ bỏ cuộc, nhưng cũng đủ để làm khối cộng sản kiệt quệ về tài chánh, không vực dậy nổi, dẫn đến sự sụp đổ 15 năm sau!
Điều này tôi tin là đúng. Hồi mới sang Canada, năm 1979, tôi đọc một bài viết trong tờ Financial, nói rằng: Chiến tranh Việt Nam đã làm đồng dollar Mỹ mất giá và gây nên tình trạng lạm phát nặng nề. Lúc ấy tôi nghĩ: Mỹ giàu như thế mà còn điêu đứng vì chiến tranh Việt Nam, thì huống chi các nước cộng sản vốn quanh năm èo uột về kinh tế!
Quả thực đúng như vậy! Trong chiến tranh, người dân các nước Cộng Sản tạm quên cái đói khổ. Nhưng hết chiến tranh rồi, cái sai của chế độ và cái yếu của lãnh đạo tất nhiên phải lộ ra, không thể nào che đậy được. Lấy lý do gì để giải thích với nhân dân, sau bao nhiêu năm nhịn ăn cung ứng cho chiến trường, rồi bây giờ lại càng đói khổ hơn khi hòa bình trở lại!
Từ những “bức xúc” thực tế ấy, lãnh đạo Cộng Sản bất đắc dĩ phải đưa ra khẩu hiệu “đổi mới”, khởi đầu ngay tại Liên Xô từ năm 1985. Nói “bất đắc dĩ” là bởi vì trong thế giới Cộng Sản, bất cứ ai đề xuất một ý tưởng khác với những giáo điều cứng rắn của Đảng thì lập tức bị gán cho cái tội “xét lại” hoặc “phản Đảng” và thường đưa đến hậu quả thân tàn ma dại. Điều này chắc chắn ai cũng đã biết qua kinh nghiệm mấy chục năm cai trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Đọc Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, Đèn Cù của Trần Đĩnh, Bên Thắng Cuộc của Huy Đức v.v… chúng ta đã thấy được phần nào những thanh trừng nội bộ rất cay đắng của Đảng Cộng Sản qua những vụ án mà họ gọi là “xét lại”, chẳng hạn như vụ Hoàng Minh Chính. Hoàng Minh Chính là một đảng viên kỳ cựu, hoạt động cùng thời với anh em Lê Đức Thọ. Năm 1945 ở Hà Nội, nhạc sĩ Văn Cao tham gia Việt Minh, công tác trong đội ám sát. Chính Hoàng Minh Chính đã đưa súng cho Văn Cao đi giết những đảng viên Quốc Dân Đảng bị Việt Minh vu cho tội thân Nhật. Hơn 30 năm sau, Hoàng Minh Chính mới tỉnh ngộ, nhìn thấy nhu cầu phải cải tổ để cứu đất nước. Nhưng ý kiến của ông đụng vào những bức tường bảo thủ kiên cố nên ông bị truy bức, kéo theo bao nhiêu người khác mà phe bảo thủ muốn nhân dịp này tiêu diệt.
Kim Ngọc, Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú, thấy nông dân làm hợp tác xã không có hiệu quả vì cha chung không ai khóc, cơm nhà chúa múa tối ngày, cứ rềnh rang vác cuốc ra đồng đủ 8 tiếng rồi về, thu hoạch không năm nào đủ chỉ tiêu. Ông mới nghĩ ra sáng kiến là cho nông dân làm khoán. Làm nhiều ngày hay ít, chăm hay lười, không cần biết, miễn là nộp đủ số thóc quy định! Sáng kiến này tuy thực tế và có lợi cho Nhà Nước nhưng bị coi là đi lạc đường nên bí thư tỉnh ủy bị kỷ luật và cách chức! Bí thư tỉnh ủy tất nhiên phải là một ủy viên trung ương Đảng, thế mà còn bị trừng phạt vì một sáng kiến cá nhân, huống chi người dân thường, ai dám phát biểu ý kiến!
Vậy mà sau 10 năm kết thúc chiến tranh, giữa lúc phe bảo thủ còn đang thống trị toàn Đảng, thì Trường Chinh đã phải công khai hô hào đổi mới. Ai cũng biết Trường Chinh là lãnh tụ cộng sản kỳ cựu bên cạnh Hồ Chí Minh, một lý thuyết gia tiền phong của Đảng và là người chỉ đạo cuộc cải cách ruộng đất đẫm máu tại Miền Bắc, giết hại biết bao nhiêu nông dân cũng như đảng viên. Nói cách khác, Trường Chinh vẫn được coi là một thành trì kiên cố nhất của Đảng. Thế mà chính Trường Chinh phải thay đổi lập trường thì đủ biết hoàn cảnh Việt Nam sau chiến tranh thê lương như thế nào! Trần Bạch Đằng viết trong bài “Dám Rẽ Ngoặt Trong Tư Duy” như sau:
“Mùa Thu năm 1985, thành quả của bao nhiêu năm chắt chiu của nước ta bỗng chốc sụp đổ qua sai lầm trong điều chỉnh giá cả và đổi tiền. Thế là toàn Đảng toàn dân “khởi đầu bằng sự khởi đầu”! Bác Trường Chinh tìm lối thoát trong cảnh cực kỳ rối ren… Bác kiên trì sự nghiệp đổi mới, đổi mới triệt để và toàn diện… Bác dũng cảm điều chỉnh lại tư tưởng của mình…”!
Nói “dũng cảm” bởi vì khi đề xuất ý kiến đổi mới tức là đụng chạm mạnh đến những vùng đất cấm kinh niên của Đảng, những nhân sự suốt đời cố chấp mà chỉ có người tầm cỡ như Trường Chinh, lúc ấy ngoài 70, mới dám lên tiếng!
Sau khi Trường Chinh mất, Trần Bạch Đằng viết:
“Thưa anh Năm Trường Chinh! Tiễn anh, chúng tôi ân hận vô cùng: Không đổi mới nhanh như anh ao ước!… Tôi tin, nếu quả còn cuộc sống ở thế giới khác sau khi người ta chết, thì những nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất, cũng sẽ mở rộng vòng tay đón Bác Năm Trường Chinh…”.
Ý nói: Cuối đời Trường Chinh đã thấy cái sai của mình, xin các oan hồn bị đấu tố trước đây, nếu gặp lại Trường Chinh ở thế giới bên kia, hãy tha cho Trường Chinh, đừng xúm lại hỏi tội!
(Ghi chú: Trần Bạch Đằng nguyên là Bí thư Khu Ủy Sài Gòn – Gia Định. Trong chiến dịch Mậu Thân 1968, Trần Bạch Đằng và Võ Văn Kiệt là tư lệnh tiền phương, chỉ huy lực lượng Việt cộng đánh vào nội thành Sài Gòn).
“Đổi mới” thật ra là một bản tuyên ngôn đầu hàng tư bản! Bởi vì: Cốt lõi của Cộng Sản là kinh tế chỉ huy, là mậu dịch quốc doanh, là kiểm tra hộ khẩu, là hợp tác xã, là mỗi tháng xếp hàng lĩnh 16 ký gạo! Một khi đã chuyển sang cơ chế thị trường tức là đã chào thua thế giới tự do rồi!
Kiệt quệ về kinh tế đã đành, người Cộng Sản còn mất hết niềm tin vào những lý tưởng mà họ được dạy dỗ trước đây.
Lùi lại hồi đầu thế kỷ thứ 20, phong trào Cộng Sản là một cái gì mới mẻ, hấp dẫn rất nhiều người trí thức ở thành thị. Nó hấp dẫn bởi về mặt lý thuyết, nó đề cao lý tưởng công bằng xã hội, xóa bỏ bất công bằng đấu tranh giai cấp. Lúc ấy, quả thực tư bản còn quá nhiều khuyết điểm, chủ nhân bóc lột công nhân, công đoàn chưa thành hình, chế độ lao động hà khắc, không được luật lao động bảo vệ. Ở nông thôn thì phong kiến áp bức đến tận cùng. Do thực tế ấy, người ta dễ dàng bị lôi cuốn theo Cộng Sản dù chưa hiểu CS là gì. Đã thế, cộng sản lại ra đời đúng lúc phong trào giải phóng các dân tộc bị trị lên cao trên toàn cầu, nhất là sau Đệ nhị Thế chiến. Cộng Sản khôn khéo đem chiêu bài chống ngoại xâm để lôi kéo quần chúng, điển hình là biết bao nhiêu người đã theo Hồ Chí Minh, đâu phải vì thích Cộng Sản mà vì muốn đứng vào hàng ngũ đánh Pháp. Đến khi Cộng Sản thắng rồi thì đã quá muộn, họ không rút chân được nữa!
Thế giới tư bản thì càng ngày tự điều chỉnh để trở nên hoàn thiện, trong khi cộng sản dừng chân tại chỗ, hết chiến tranh là lộ ra hết khuyết điểm. Khi Liên Xô và Trung Cộng công khai thù nghịch nhau, khi Việt Cộng xâm lăng Miên Cộng (Khờ-Me Đỏ), khi Trung Cộng dạy cho Việt Cộng một bài học vào đầu năm 1979 – nghĩa là gà cùng một mẹ mà chém giết nhau không nương tay – thì cái lý tưởng “thế giới đại đồng” và “chung sống hòa bình” giữa các nước xã hội chủ nghĩa anh em còn ý nghĩa gì nữa! Cứ nhìn Trung Cộng, người ta thấy ngay cái tình hữu nghị môi hở răng lạnh của hai nước Cộng Sản nó cay đắng như thế nào! Lời dạy của Đảng trở thành trò hề, làm thất vọng tất cả những ai từng tin vào chủ nghĩa Mác-Lênin. Ý nghĩ giã từ chủ nghĩa xã hội vì vậy càng ngày càng lan rộng trong đầu nhiều đảng viên, chỉ chờ cơ hội là bùng phát!
Từ khi các nước Đông Âu và nhất là Liên Xô sụp đổ, thế giới không còn ai nhắc đến Cộng Sản nữa. (Chắc chỉ còn cộng đồng người Việt ở hải ngoại vẫn bám lấy ma Cộng Sản để hù dọa hoặc chụp mũ nhau mà thôi!). Hai chữ “Cộng Sản” chỉ còn là một tì vết của lịch sử, đã lùi hẳn vào trong dĩ vãng, không còn là mối bận tâm cho nhân loại. Nó đã trở thành chuyện cổ tích, người bỏ Đảng mỗi ngày một đông. Trước mắt thế giới, kẻ thù mới bây giờ là Terrorist, là ISIS, là những nhóm quá khích không nhân tính, chứ kẻ thù cũ là Cộng Sản giờ này là hết hẳn đất đứng.
Dĩ nhiên cũng còn vài nước vẫn bám lấy danh hiệu Cộng Sản nhưng thật ra họ không còn mang chất cộng sản như xưa. Họ bám chỉ vì quyền lợi của đảng phái, của phe nhóm mà họ phải bảo vệ mà thôi. Bắc Hàn và Cuba thì đói khát quanh năm, không đáng bàn đến. Trung Cộng thì tư bản hóa trước cả Việt Cộng. Cụ thể, ngày nay nếu phải đối phó với Trung Quốc thì hoàn toàn không phải là đối phó với một nước cộng sản mà là một đế quốc có chủ trương bá quyền.
Việt Nam cũng thế! Giờ này người ta chống Việt Nam không phải là chống một nước cộng sản mà là chống một chính quyền độc tài, độc đảng, chà đạp nhân quyền giống như nhiều nước độc tài khác trên thế giới.
Trong chế độ Cộng Sản đích thực, chỉ cần có vài mẫu ruộng đã ra pháp trường đấu tố, chỉ cần làm chủ một cửa tiệm hạng trung đã bị đánh tư sản, hoặc vào tù hoặc đi vùng kinh tế mới, chứ làm gì có những cán bộ đảng viên sở hữu những dinh thự nguy nga và ôm hàng tỉ hàng triệu dollars như hiện nay ở Việt Nam! Các cấp lãnh đạo Trung Quốc cũng thế! Có những quan chức phải dành riêng ra hẳn một căn nhà mới đủ chỗ chứa vàng và tiền mặt thì cộng sản ở điểm nào!
Nói tóm lại, trên thế giới ngày nay không còn nước nào áp dụng lý thuyết Cộng Sản đúng nghĩa. Tất cả đều đã đầu hàng tư bản, chạy theo tư bản, nhưng gắng gượng nên câu khẩu hiệu: “Áp dụng cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa!” Họ ngượng ngùng nói thế khi chính họ cũng biết rõ rằng chủ nghĩa xã hội không bao giờ có cơ chế thị trường! Tư bản thúc đẩy sản xuất và cải thiện sản phẩm bằng tự do cạnh tranh! Cộng Sản thúc đẩy sản xuất bằng tuyên truyền, bằng chỉ thị và bằng giấy biểu dương! Khác nhau như nước với lửa, không thể kết hợp được. Cho nên, như tôi đã nói ở trên, người cộng sản một khi đã áp dụng cơ chế thị trường tức là đã bỏ cuộc, là giã từ hẳn chủ nghĩa của mình rồi! Chỉ cần để ý một chút, chúng ta thấy ngay ngày nay họ không còn tự hào khoe khoang về lý tưởng của họ như thuở trước. Những câu khẩu hiệu một thời họ hãnh diện nêu cao như “Đảng ta là Đảng của giai cấp công nhân”, hoặc “Chủ nghĩa xã hội là đỉnh cao trí tuệ loài người” giờ này chính họ đã lặng lẽ xóa đi. Hai chữ “vô sản” là đặc trưng của chế độ, ngày nay cũng đã biến mất! Đấu tranh giai cấp để tiến đến công bằng xã hội thì không thể áp dụng được nữa bởi giai cấp giàu nhất bây giờ gồm toàn đảng viên! Chả nhẽ họ tự đấu tố chính mình! Chẳng những thế, trong nước đang có dư luận một ngày gần đây Đảng Cộng Sản sẽ đổi tên, bỏ hẳn hai chữ “Cộng Sản” đã lỗi thời vì quá nhiều khuyết điểm! Nhưng dù có đổi tên mà vẫn duy trì lề lối cũ, vẫn độc tài và thường xuyên vi phạm Hiến Chương Nhân Quyền của Liên Hiệp Quốc thì thế giới vẫn tiếp tục lên án và người dân vẫn tiếp tục đấu tranh. Bởi mục tiêu tối hậu không phải chỉ là xóa đi hai chữ Cộng Sản, mà là kiến tạo một quốc gia tự do, dân chủ và phú cường, để Việt Nam có thể hãnh diện đứng ngang tầm với các nước văn minh trên thế giới.
Tổng kết lại, nhìn lại 4 thập niên vừa qua, nếu chỉ chú ý đến cái mốc kết thúc chiến tranh năm 1975 ở Việt Nam, thì người ta gọi Miền Bắc là “bên thắng cuộc”. Nhưng nếu mở tầm mắt rộng hơn, nhìn sự sụp đổ của hệ thống Cộng Sản toàn cầu do chiến tranh Việt Nam gián tiếp gây nên, thì thế giới tự do mới đích thực là “bên thắng cuộc”!
Nguyễn Ngọc Ngạn
Tháng 4/2015


-------


Ông Ngạn định đóng góp cái gì?
 Tôi không viết bài này để phản hồi với ông Nguyễn ngọc Ngạn. Tôi viết cho những độc gỉa có thể bị “trúng độc” của ông Ngạn qua bài này. Có chút thích thú. Như tôi có nghe nói ông Ngạn không dùng Internet và E-mail nên ông không biết và không (thèm) để ý đến những phê bình của người Việt trên mạng.
Trở lại đề tài chính: Bài viết của ông Ngạn không có gì mới lạ cả. Ông nói về sự sụp đổ của Cộng sản Liên Sô và (dẫn theo) khối Cộng Sản Đông Âu vì phá sản trong cuộc chạy đua vũ trang với Hoa Kỳ. Ông đánh bóng vai trò của cuộc chiến bại ở Việt-Nam như là nhân tố để bộc lộ bộ mặt thật của những chế độ cộng sản như có người cũng đã đưa ra cái triết lý “muốn thắng thì trước hết phải thua” hay “muốn sống thì trước hết phải chết”… Ông nhận định với sự sụp đổ của cộng sản quốc tế, phe tự do mới là “bên thắng cuộc” …
Là người tị nạn cộng sản và đã lưu vong gần 40 năm, được khoát chiếc áo “người thắng cuộc “ tôi cũng chẳng có vinh dự gì, và nhìn về phía trước, những “an ủi, hãnh diện” như thế sẽ giúp ích được gì cho công cuộc giải phóng quê hương khỏi ách cai trị độc tài và lụn bại của chế độ cộng sản Việt-Nam?
Nhưng quan trọng hơn cả là việc ông nhận định hiện nay Việt-Nam không còn gì là cộng sản nữa nên người Việt chỉ dùng từ cộng sản để chụp mũ bôi nhọ nhau mà thôi. Nhận định này cũng chẳng mới mẽ gì. Cách đây không lâu, tiến sỹ Nguyễn Hưng Quốc cũng có một bài viết như thế này. Nhiều độc giả cũng đã đóng góp cho ông Quốc nhưng có lẻ ông Ngạn không xữ dụng Internet nên không biết và lập lại quan điểm này.
Trước hết, chế độ xã hội tại Việt-Nam ngày nay có còn là một chế độ cộng sản hay không ? Trên lý thuyết, chủ nghĩa CS đã là một không tưởng, một ảo tưởng, một hoang tưởng , một sản phẩm chưa bao giờ thành hiện thực. Cho dù CNCS đã tàn rụi trên toàn thế giới, cho dù xã hội Việt-Nam ngày nay không mang một sắc thái CS gì cả, những hiện thực của các xã hội này như tại Việt-Nam – một trong bốn nước cộng sản còn lại trên thế giới là hiện thực gì? Ai cũng biết đó không phải là hiện thân của xã hội theo lý thuyết CS, không cần ông Nguyễn Hưng Quốc hay Nguyễn Ngọc Ngạn phân tích nữa.
Nhưng trong cái nhìn ngược lại, vì là hiện thân của một chủ nghĩa không tưởng nên những biểu hiện của XHCN là như thế: dối trá, lưu manh, đạo đức gỉa… và để duy trì khả năng lưu manh, đạo đức giả đó, lãnh đạo CS phải duy trì tính độc tài, ngu dân cũng như sẵn sàng thi hành những tội ác để ngự trị. Như vậy, trên thực tế, chính những xã hội này là hiện thân của chủ nghĩa CS điểu cáng và gian ác. Hiểu như thế để đạp đổ tận gốc những nguỵ biện có một thứ chủ nghĩa CS cao đẹp và những sai lầm trong vận dụng chủ nghĩa này vào thực tế.
Cho dù chế độ xã hội ngày nay không còn mang tính chất nào của cộng sản thì những nhà lãnh đạo “cộng sản” vẫn xữ dụng những công cụ của chế độ CS, những cơ cấu tổ chức (structure and infrastructure) để cai trị người dân. Không chống lại những cơ cấu, tổ chức và những áp dụng của chủ nghĩa này thì người Việt chống cái gì ? – chẳng hạn hiến pháp CSVN qui định đảng CS Việt-Nam là đảng lãnh đạo duy nhất của đất nước hay trong luật lao động , chỉ có công đoàn của nhà nước mới chính thức được hoạt động? Dụng ý gì trong khi chính những nhà lãnh đạo cộng sản của nhìn nhận họ là cộng sản, một số còn hãnh diện cho rằng họ mới là những người cộng sản chân chínhn và đang phấn đấu để đưa xã hội của họ lên XHCN thì những người gọi là Quốc Gia lại thanh minh thanh nga dùm họ là không phải?
Cho rằng chế độ CS ngày nay ở Việt-Nam chỉ còn là chế độ độc tài, tham nhũng là đồng hoá chế độ này với những chế độ độc tài chung chung của xã hội loài người. Những chế độ độc tài như ở Bắc Phi, Miến Điện là những chế độ độc tài cá nhân. Cả một chế độ có thể sụp đổ khi những cá nhân này bị loại trừ. Độc tài cộng sản được hổ trợ bằng cả hệ thống lý luận: chủ nghĩa cộng sản và những cơ cấu đã mọc rễ trong lòng xã hội. Chống độc tài tham nhũng chung chung là chống cái gì và phải làm sao? Những lý luận chung chung này sẽ dẫn dắt dân tộc về đâu?
Cho rằng chế độ xã hội ngày nay ở Việt-Nam không còn gì là cộng sản nữa, ông Ngạn đã đi quá xa và xuấc xược khi cho rằng người Việt hải ngoại ngày nay chỉ còn dùng từ cộng sản để chụp mũ, bôi nhọ nhau? Những lý luận kiểu này chỉ góp phần phá huỷ tinh thần của người Việt hải ngoại và vô hiệu hóa các tổ chức chống cộng của cộng đồng người Việt.
Người Việt Quốc Gia đang ở trong tư thế “tứ bề thọ địch”. Họ không chỉ phải chỉ chống cộng, mà còn phải chống tay sai của cộng sản, chống những thành phần chủ bại, chống những âm mưu giải độc cho cộng sản, và chống tư tưởng thỏa hiệp với cộng sản.
Trong tình hình như thế này, những thành phần “trí thức” như ông Ngạn và những bài viết như thế này đã đóng góp cái gì?

Võ Trang

Lời sám hối muộn màng: Chính thức xin lỗi tất cả người dân miền Nam (từ vĩ tuyến 17 trở xuống)

Lời sám hối muộn màng

repentance
Hôm nay ngày 3 tháng 3 năm 2015, tôi quyết định viết bài sám hối này để dứt khoát với những sai lầm trong quá khứ và nhân dịp chính thức xin lỗi tất cả người dân miền Nam (từ vĩ tuyến 17 trở xuống) cùng với hàng triệu người Việt Nam di tản trốn ngục tù cộng sản, đã hy sinh hay đang sinh sống khắp nơi trên thế giới.


Trước hết tôi xin tự giới thiệu. Tôi tên là Lê Quốc Trinh, sinh năm 1948 cư ngụ tại Canada từ năm 1967, là kỹ sư cơ khí về hưu, gia đình gốc Việt Nam, nuôi dưỡng con cái theo truyền thống Việt Nam. Cha mẹ tôi là người miền Bắc, 1945 di cư vào Nam. Tôi sinh ra và lớn lên ở miền Nam Việt Nam, tại Saigon thân yêu; tôi được hấp thụ một nền giáo dục cao thượng, nhân bản, nồng nàn yêu nước dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa; vì thế, tôi không thể nào quên công ơn của toàn thể nhân dân và chính phủ miền Nam đã góp phần đào tạo tôi thành một con người lương thiện, biết tư duy và có tình cảm.

Lời xin lỗi

Trước hết tôi thành thật xin lỗi cố tổng thống Ngô Đình Diệm vì hành động theo đuôi phong trào Phật giáo xuống đường chống đối chính phủ trong lúc không hiểu rõ nguồn cơn và sự thật của vấn đề. Năm 1963 tôi còn là một thanh niên trẻ tuổi bồng bột; là một học sinh trường trung học Võ Trường Toản, sát cạnh dinh tổng thống nên tôi dễ dàng bị lôi cuốn theo những đoàn biểu tình một cách thiếu ý thức. Qua đến Canada tôi tìm, hiểu được thêm nhiều chi tiết lịch sử, được nghe các nhân chứng kể lại về phong trào Phật giáo, và tôi truy ra được nguồn gốc của sự kiện. Tôi sẽ trình bày rõ thêm về vấn đề sau này.

Thứ hai, tôi thành thật xin lỗi gần hai triệu người tị nạn miền Nam Việt Nam đã vượt biển, vượt biên đi tìm tự do(1), vì những hành vi khi tôi sinh hoạt và đóng góp tích cực cho Hội Việt Kiều Yêu Nước tại Canada (HVKYNTC), từ năm 1973 đến năm 1990. Tôi đã vô tình tiếp tay cho một tổ chức ủng hộ và phục vụ cho Đảng Cộng sản và Nhà Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau này là CHXHCN Việt Nam, làm những việc góp phần xây dựng cho một chế độ phi nhân bản, phản khoa học tại quê nhà. Tôi sẽ tiếp tục trình bày cặn kẽ những sự kiện xảy ra ở trong tổ chức này này để tất cả bạn đọc có thể thấy rõ bộ mặt thật của một nhóm người gọi là trí thức thân Cộng trong thời gian Hội còn hoạt động (1969-1990) và cho đến ngày nay.

Thứ ba, tôi thành thật xin lỗi các bác, các anh chị, công chức chính phủ và toàn thể các chiến sĩ, sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh để bảo vệ tự do – trong gần 21 năm, 1954-1975 – và đời sống của người dân miền Nam Việt Nam. Tôi rời Sài Gòn, du học từ cuối năm 1967, nên không có công lao gì trong công cuộc chiến đấu đầy xương máu chống cộng sản xâm lược từ phía Bắc. Có quá nhiều tấm gương hy sinh quả cảm của sĩ quan và binh sĩ quân lực Việt Nam Cộng hòa mà tôi không biết đến, đó là lỗi lầm và thiếu sót của tôi. Đến nay nhờ thông tin quảng bá trên mạng lưới Internet và qua thông tin cặn kẽ từ nhiều trang báo mạng hải ngoại mà tôi mới thực sự hiểu nỗi thống khổ và hy sinh của các anh chị, các bác trong hàng ngũ quân cán chính Việt Nam Cộng hòa.

Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi suy nghĩ

Thật tình mà nói, tôi đã hoạt động tích cực ở đủ mọi lĩnh vực trong một tổ chức thân cộng hơn 17 năm ròng nhưng không hề bị tư tưởng Mác Lê ảnh hưởng vì những yếu tố sau:

- Là người suy nghĩ độc lập, bướng bỉnh, không a dua và không quỵ luỵ từ nhỏ;

- Thích đọc sách, truyện, bị lôi cuốn theo lối sống miền Nam ngày trước, chịu nhiều ảnh hưởng của nền văn hoá miền Nam dân chủ tự do.

- Gần 40 năm hoạt động trong ngành công nghiệp khai khoáng và hoá dầu của Canada tôi đã học được nhiều điều hay về cách tổ chức, tư duy, cách làm việc trung thực của hệ thống tư bản Bắc Mỹ. Điều này đã giúp tôi đã gạn bỏ đi nhiều tàn dư rơi rớt trong lối học từ chương của Việt Nam thời xưa cũng như tinh thần bảo thủ phương Đông; kinh nghiệm làm việc đã giúp tôi hiểu rõ xã hội tư bản hơn và tránh được cạm bẫy dụ dỗ của ý thức hệ cộng sản Mác Lê, và đã giúp cho tôi có cái nhìn chính xác về những con người trí thức thiên tả tháp ngà trong Hội VKYNTC.

- Tôi cũng có được những tấm gương yêu nước dưới thời thực dân Pháp từ những bậc tiền bối của gia đình. Ông ngoại tôi, cụ cử Nguyễn Hữu Cầu, ông bác tôi, cụ Từ Long Lê Đại, là hai trong số những sáng lập viên Trường Đông Kinh Nghĩa Thục, đã từng bị thực dân Pháp bắt giam đầy ra đảo hơn 17 năm trời. Bác tôi, cư sĩ Phật học nổi tiếng Thiều Chửu Nguyễn Hữu Kha, người soạn ra bộ Hán Việt Tự Điển lừng danh, cũng từng bị Việt Minh đem ra đấu tố trong Cải Cách Ruộng Đất 1954 khiến ông đã phải trầm mình tự tử để minh oan. Tôi sẽ có dịp nói nhiều đến những kỷ niệm khó quên về mặt tâm linh với bác Hai Kha Thiều Chửu cùng con cháu hậu duệ đã giúp tôi lần dò tìm lại truyền thống yêu nước của giòng giõi nhà Nguyễn Đông Tác ở Hà Nội.

- Là một trong những thành viên tích cực hoạt động giúp HVKYNTC vì tôi nghĩ rằng mình đang góp phần giúp ích cho quê hương; với kinh nghiệm của một kỹ sư cơ khí thích thiết kế và sáng tạo, tôi là người phụ trách chính về công cuộc cải tạo xây dựng lại Hội quán, số 1450 đường Beaudry, Montreal, giúp cho Hội đoàn này có cơ sở vật chất vững mạnh để phát triển thịnh vượng từ năm 1984 đến 1990. Và tôi cũng có một số hiểu biết nhất định về nhiều vấn đề liên quan đến những công ty kinh doanh do một số nhân vật trong ban lãnh đạo Hội đứng đầu. Tôi sẽ trở lại vấn đề này ở những bài sau.

- Mẹ tôi là một hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ Việt Nam, tận tuỵ tần tảo hy sinh xây dựng gia đình, nuôi nấng con cái. Nhà in Hưng Long, ở Chợ Cũ Saigon, do mẹ tôi thành lập từ 1960, đã từng in ấn rất nhiều kinh sách nhà Phật. Tôi là thầy cò, có trách nhiệm kiểm tra văn tự, lỗi chính tả trước khi lên khuôn. Do đó tôi có cơ duyên tiếp xúc với triết lý nhà Phật sớm; sau này, qua nhiều tác phẩm của bác Thiều Chửu tôi lại có dịp tìm hiểu nghiên cứu thâm sâu về đạo Phật. Mạng lưới Internet cùng với nhiều diễn đàn đã giúp tôi hiểu rõ phong trào Phật giáo thời 1963, cùng với kinh nghiệm sống trong xã hội tự do dân chủ tư bản ở Bắc Mỹ đã khiến tôi đã phải tự thay đổi tư duy để có quan điểm đúng đắn về lĩnh vực tôn giáo tâm linh;

- Tôi là người thích âm nhạc từ nhỏ, tự học thổi sáo, chơi khẩu cầm, đánh đàn mandoline, và tôi đã đi vào thế giới tân nhạc Việt Nam với cả trái tim nồng nhiệt. Tôi đã từng mời nhiều em khiếm thị ở trường Mù Saigon đến nhà giúp tôi học thêm về lý thuyết và thực hành âm nhạc. Tôi biết đến nhạc tiền chiến rất sớm, thưởng thức nhiều bản nhạc xa xưa ngay tại miền Nam trong những năm 1960, những tác phẩm mà chính quyền cộng sản miền Bắc đã nghiêm cấm. Tôi sưu tầm những bản hùng sử ca Việt Nam từ thời kháng chiến chống thực dân Pháp để hiểu rõ thêm bối cảnh lịch sử và tâm tư của nhiều nhạc sĩ dân gian nổi tiếng. Tôi sẽ trình bày cặn kẽ thêm sau này.

Đối tượng của lời sám hối

Tôi biết trước những hậu quả khó tránh khỏi khi viết bài đăng tải rộng rãi trên các trang báo Mạng. Trước tiên là tình bạn hữu có thể sẽ bị sứt mẻ trầm trọng với những người tôi từng sát cách sinh hoạt trong HVKYNTC; sau nữa là những thay đổi có thể có trong quan hệ gia đình từ Canada cho đến Việt Nam. Tôi chấp nhận tất cả và xem như đó là cái giá có thể phải trả; tôi sẽ chấp nhận, chịu đựng mọi hệ quả để lương tâm được thanh thản không còn bị giầy vò.

Tuy nhiên, tôi xin phép có đôi lời nhắn gởi đến với tất cả các anh chị bạn bè quý mến trong Hội.

Thân gửi các anh chị em quý mến trong Hội,

Tôi đã kiên nhẫn chờ đợi phản ứng của các anh chị em hơn hai năm qua, từ khi tôi viết và đăng trên Mạng bài “Sự thật nằm sau bức công hàm Phạm Văn Đồng 1958”(2). Tôi đã gửi riêng cho các anh chị bài viết đó qua e-mail để giúp các anh chị tìm hiểu rõ hơn nội dung bức công hàm và bối cảnh lịch sử xung quanh sự kiện rất quan trọng này. Thế nhưng tôi đã hoài công và vô cùng thất vọng, vì không được một câu trả lời dù đồng ý hay phản đối lập luận của tôi. Tôi xin phép được nhắc lại bài viết đó để anh chị đọc lại và cho cộng đồng người Việt hải ngoại cùng xem và phê phán.

Hai năm trôi qua, những gì xảy ra ở Biển Đông, xung quanh hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã đủ để chứng minh cho những lập luận, phân tích và nhận định của tôi. Trung Quốc càng ngày càng hung hăng, xâm lấn ngang ngược. Trong khi đó thì tập đoàn lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà Nước CHXHCN Việt Nam lại càng co vòi, lép vế, ngậm miệng nín khe. Họ cùng ngồi yên, nhìn ngư dân Việt Nam bị cướp phá uy hiếp. Tất cả đều chứng tỏ lãnh đạo Việt Nam chỉ là một bè lũ bù nhìn, bán nước. Họ đã lấy giang san lãnh thổ đem bán – bằng văn tự – cho lũ láng giềng hung tợn phương Bắc, để nhận được viện trợ vũ khí đạn dược, nhiên liệu thực phẩm, hầu thực hiện mưu đồ chiếm nốt miền Nam trù phú phì nhiêu. Trong khi đó, ngay sau khi Trung Quốc đưa Tuyên bố về Lãnh hải ngày 4 tháng 9, 1958 chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, bằng hành động, đã khẳng định chủ quyền lãnh thổ ở đảo Quang Hòa(3) và ở quần đảo Hoàng Sa bằng trận hải chiến năm 1974, cũng như những công văn gởi đến Liên Hiệp Quốc phản đối CHNDTH vi phạm trắng trợn chủ quyền Việt Nam(4).


Công văn của Đại sứ Nguyễn Hữu Chí gởi Chủ tịch HĐ Bảo an LHQ, Gonzalo Facio, phản đối CHNDTH trắng trợn vi phạm chủ quyền Việt Nam ở quần đảo Hoàng Sa, trang 1/5 (New York, 18/01/1974).

Các anh chị theo dõi sát tình hình Biển Đông từ lúc dàn khoan HD-981 lừng lững đi vào lãnh hải Việt Nam và ngang nhiên cắm sào thăm dò dầu khí của Việt Nam. Các anh chị cũng đã xuống đường phản đối theo đúng chỉ thị… rồi sau đó mọi việc, một cách êm thắm, lại đâu vào đó. Trung Quốc vẫn tiếp tục ngang nhiên xâm phạm biển đảo Việt Nam, và anh chị vẫn im hơi lặng tiếng. Đó có phải là hành động và tư cách của những con người trí thức hải ngoại, những người đã từng hấp thụ một nền giáo dục nhân bản, khai phóng của miền Nam Việt Nam, những người từng vỗ ngực tự xưng là Việt Kiều Yêu Nước Tại Canada?

Tôi rất mong các anh chị suy nghĩ lại, đặt quyền lợi đất nước và con người Việt Nam lên trên tất cả mọi quan hệ lợi nhuận riêng tư với chế độ cộng sản đương quyền, để cùng nhau lên tiếng sám hối vì an nguy của cơ đồ tổ quốc. Cơ hội để cứu nguy cho đất nước không còn nữa đâu! Hơn 60 năm qua, chủ nghĩa cộng sản ngấm quá sâu vào não trạng người dân miền Bắc, toàn thể Bộ Chính trị đảng cộng sản và tập đoàn lãnh đạo Nhà Nước Cộng sản Việt Nam đã và đang bị thế lực từ phương Bắc uy hiếp, mua chuộc, ly gián. Bài học lịch sử về tình báo, nội gián Trọng Thủy-Mỵ Châu vẫn là tấm gương lớn cho hậu thế luận cổ suy kim. Giặc bên ngoài và bè lũ tay sai nội gián bên trong đã và đang gặm nhấm, bào mòn truyền thống yêu nước chống xâm lược của dân tộc, các anh chị chưa thấy sao? Nếu quả thật văn kiện bí mật từ Hội Nghị Thành Đô năm 1990(5) có thật, vì Đảng và Nhà Nước Việt Nam vẫn còn ngậm miệng nín khe trước sức ép dư luận trong nước [xem thêm Kiến Nghị của 61 vị nhân sĩ tướng tá QĐND Việt Nam năm 2014], thì chúng ta chỉ còn không tới 5 năm để lên tiếng phản kháng và để nuôi hy vọng dân tộc Việt Nam sẽ thoát khỏi ách thống trị Đại Hán. Các anh chị không cảm thấy quan tâm, áy náy và trăn trở trước vấn đề nghiêm trọng này hay sao?

Nguyện vọng tương lai

Nghĩ lại thời gian đã qua, tôi thầm tiếc nuối cho một đời thanh niên đã bị lừa dối, bị đánh cắp, và cảm thấy rất ăn năn vì đã không trực tiếp góp phần với cuộc đấu tranh đòi lại công lý cho toàn thể nhân dân miền Nam. Tôi cảm thấy xấu hổ khi có lúc đã sử dụng ngôn ngữ tuyên truyền của chủ nghĩa cộng sản một cách vô ý thức. Nay là lúc cần phải phân tích và tìm hiểu cặn kẽ, nhận định rạch ròi xem ai mới chính là những kẻ “phản động, phản quốc, bù nhìn, tay sai ngoại bang”. Như thế là một phần nhỏ góp vào việc viết đúng sự thực lịch sử Việt Nam cận đại, đặt quân cán chính và người dân miền Nam Việt Nam cũng như hàng triệu người tị nạn cộng sản khắp nơi vào đúng vị trí trong lịch sử nước nhà. Lời sám hối của chúng ta có thể là những nhúm lửa nhỏ đốt cháy những ngôn từ tuyên truyền của tập đoàn cộng sản đang tiếp tục lừa bịp nhân dân Việt Nam và cả những thế hệ tiếp nối của chúng ta.

Tôi rất mong được đứng nghiêm, chào lá cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng hòa và cất cao tiếng, hát bài Tiếng Gọi Thanh Niên (Quốc Ca Việt Nam Công hòa) ngày trước. Tôi rất mong được trở về quê hương như một kỹ sư đã nghỉ hưu, đem 40 năm kinh nghiệm ở xứ người góp phần phục vụ đất nước trước khi chết.

Đường Hàm Nghi – Sài Gòn 1967, ngày ấy tôi đi.

Lê Quốc Trinh
Montréal, Canada 4 tháng 3, 2015


(1) 1,642,179 người đã rời bỏ Việt Nam (kể cả người gốc Hoa và người miền núi) đi tị nạn khắp thế giới trong giai đoạn 1975 – 1997. Canada đã nhận định cư cho 163,415 người. Nguồn: Robinson, W. Courtland, Terms of Refuge,United Nations High Commissioner for Refugees, London: Zed Books, 1998 p. 270, 276, Appendix 2; Far Eastern Economic Review, June 23, 1978, p. 20.

(2) Lê Quốc Trinh, Sự thật nằm sau “Bức công hàm Phạm Văn Đồng 1958”, Dân Làm báo, 30/04/2013.

(3) Năm 1957, hãng thông tấn Tân Hoa (New China News Agency) của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đưa tin “quân đội miền Nam Việt Nam của Ngô Đình Diệm” đã chiếm đóng các đảo Hữu Nhật (Robert), đảo Hoàng Sa (Pattle), đảo Quang Ánh (Money) thuộc quần đảo Hoàng Sa. (Nguồn: South Vietnam Troops Illegally Occupied Chinese Island, NCNA, New China News Agency Peking, March 6, 1957 in SCPM, no. 1486 (March 11, 1957), p.22  trích dẫn lại trong Hungdah Chiu & Choon‐Ho Park (1975): Legal status of the Paracel and Spratly Islands, Ocean Development & International Law, 3:1, 1-28).

Ngày 4 tháng 9, 1958 chính phủ nước CHNDTH công bố Tuyên bố Lãnh hải 12 hải lý kể cả các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cũng như Bãi Macclesfield (quần đảo Trung Sa). Ngày 22 tháng Hai, 1959, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã trả lời Trung Cộng bằng hành động, Hải quân VNCH đã đến đảo Quang Hòa bắt 82 ngư dân Trung Hoa (sau đó đã trả tự do) và một tháng sau đó lại khẳng định chủ quyền của Việt Nam một lần nữa, cũng tại đảo Quang Hòa. (Nguồn:Statement of the Ministry of Foreign Affairs on the Encroachment upon Our Territorial Sovereignty and the Capture of Our Fishermen by the South Vietnamese Authorities, February 27, 1959, in Chung-hua jen-min kung-ho-kuo tui-wai kuan-hsi wen-chien-chi, vol. 6, 1959, pp. 27-28; Further Statement by the Ministry of Foreign Affairs of the People’s Republic of China Protesting the Illegal Acts of the South Vietnamese Authorities on the Encroachment of Our Territorial Sovereignty, Capture and Mistreatment of Our Fishermen, April 5, 1959, ibid., pp. 37-38 trích dẫn lại trong Hungdah Chiu & Choon‐Ho Park (1975): Legal status of the Paracel and Spratly Islands, Ocean Development & International Law, 3:1, 1-28).

(4) Thư của Đại sứ Nguyễn Hữu Chí gởi ông Gonzlio Facio, Chủ tịch HĐ Bảo an LHQ, Văn phòng Quan sát viên Thường trực, Việt Nam Cộng hòa, tại Liên Hiệp Quốc, Số 2142 UN/VN và 2143 UN/VN. Thư của Đại sứ Nguyễn Hữu Chí gởi ông Kurt Waldheim, Tổng thư ký LHQ, Văn phòng Quan sát viên Thường trực, Việt Nam Cộng hòa, tại Liên Hiệp Quốc, Số 2144 UN/VN.

(5) Nguyễn Trọng Vĩnh – Mặc Lâm (RFA), Hậu quả sau hội nghị Thành Đô? RFA, 2012-10-09


Thư Gởi Mạ Năm Thứ Bốn Mươi

30thang4

Mạ ơi! 30 tháng Tư năm ni đánh dấu 40 năm tròn ngày đau buồn nhất của trang sử Việt Nam! Khắp nơi trên thế giới, nơi nào có bước chân người Việt đặt chân đến, đều có những chương trình tưởng niệm trang trọng. Thời gian quả thật như bóng câu qua cửa sổ! Mới đó mà đã 40 năm qua rồi! Từ đó đến nay nỗi đau mất quê hương vào tay giặc Cộng như một vết thương sâu, chỉ lành trên mặt, nhưng bên dưới vẫn âm ỉ mưng mủ,chỉ chờ có cơ hội là bật máu đớn đau như cũ!
Ngày con ra đi mạ chưa tới 70, vẫn còn mạnh khỏe bương chải nuôi dâu mới sanh xong lại vào Sài Gòn chờ con gái khai hoa, nở nhụy. Con biết tuy lòng mạ trong những ngày tháng Hai đó rất nôn nao vì đang nuôi con và cháu ngoại, nhưng cũng nhớ con trai và cháu nội quay quắt. Những ngày trong tháng Hai trời hơi se lạnh. Cháu Út sinh cùng một thời gian với con của một người bạn thân trong cư xá Điện ảnh, tên M. Tuy nhiên, còn non ngày, non tháng nên người nào ở nhà nấy. Bà M. cũng chờ cứng cáp là đi làm trở lại, nên cũng lo tịnh dưỡng kỹ càng. Mạ và mẹ bà M. cũng hay nói chuyện với nhau ở trước nhà, hay gởi nhau mua thức ăn từ chợ. Nuôi con được một tháng, mạ cúng đầy tháng cho cháu Út xong mới quay trở lại Tuy Hòa.
Mạ về nhưng không yên tâm, nên mạ dặn dò rất kỹ con bé C. ngươi làm những điều cần thiết cho người mới sanh, dù sanh con rạ, mạ bảo cũng phải kiêng cử vài tháng, như đi dứng phải nhẹ nhàng, không ăn những thứ quả chua, khòng ăn những thức ăn lạnh lẽo …và nhất là phải uống thuốc bổ máu huyết. Con nhớ ở khu chợ xóm Chiếu có ông y tá, nhưng ông tỏ ra thành thạo như bác sĩ, còn hơn bác sĩ nữa! Thân chủ của ông rất đông, người ta kháo nhau ông rất mát tay, nên văn phòng của ông lúc nào cũng tấp nập không đủ ghế ngồi chờ. Ai cũng bảo ông trị bệnh gì cũng khỏi. Con là một trong những thân chủ trung thành của ông. Để được có đầy đủ máu huyết cho sức khỏe, con đến đó rất thường xuyên để ông vô nước biển! Chả hiểu có phải vì nước biển được chuyền thường xuyên hay không mà nhiều người trầm trồ da dẻ con hồng hào và mập mâp hẳn ra. Chữ “mập” này mà ngày nay khi sống tại Mỹ, ai nghe cũng hoảng hồn, thế nhưng vào cái thời bấy giờ nghe ai khen mập thì người mình đều thích vì có nghĩa là được trẻ ra, hoặc được khen “phát tướng, phát tài”, còn nếu ai bảo “dạo này sao ốm quá!” thì phải hiểu ngầm bị chê là có vẻ già! Cả cư xá ai cũng ít nhất một lần gặp ông để chích thuốc ho, hay đau nhức, hoặc chích thuốc bổ, băng bó vệt cắt v…v..
Không biết con đi chuyền được bao nhiêu chai nước biển thì tới lúc biến loạn. Dạo này có lẽ vì thần kinh căng thẳng, con bị mất ngủ liên miên. Con định ra chợ Khánh Hội , nhờ ông y tá chuyền cho vài chai nước biển xem có khỏe hơn không, nhưng hình như ông đi đâu mất tiêu rồi. Bà M. nói bà cũng có tới văn phòng ông mấy lần, nhờ chích thuốc bổ, nhưng những người chung quanh nói ông không mở cửa cả tháng rồi. Trong cư xá vắng và im lặng hơn. Gia đình Trung Tá S. chỉ huy trưởng đã ra khỏi trung tâm cũng lâu rồi, do đó, căn nhà của tụi con được nới rộng hơn, sáng sủa hơn. Mạ nhớ không, lúc sinh đứa thứ ba, cháu Loan, nay đã được bốn tuổi, thì con ở căn của khu dối diện, chật chội hơn nhiều, mạ bảo nhà con đi mua một cái máy lạnh gắn ở cửa sổ cho mát.
Căn nhà đó, gần căn bà Th. bên tay phải, nhà ông bà đại úy Ch. bên tay trái. Tụi con vẫn chạy qua chạy lại nói chuyện với nhau thường xuyên. Sau lưng nhà là khu gia binh. Thường thương cũng khá ồn ào với tiếng khua nồi niêu soong chảo, hay tiếng ru con, tiếng la mắng con cái, hay tiếng con nít la hét cười đùa khi chúng tan học về. Có lần mới ru cháu mới thiu thỉu ngủ, thì những tiếng cười đùa làm con bé thức giấc, mạ bảo “răng mấy tụi nớ ồn rứa hè?!”. Thế nhưng bây giờ cũng rất vắng vẻ, hình như người ta đã đi ra ngoài hết rồi. Con nhớ lại hồi Tết Mậu Thân, con cũng ở trong cư xá sĩ quan Quân Đoàn, Pleiku, người ta đồn với nhau là những cô những bà vợ sĩ quan lính Cộng Hòa sơn móng tay đỏ, nếu bị Việt Cộng bắt được, chúng sẽ rút móng hết! Có lẽ cũng vì vậy, khi nghe tin Việt Cộng đã tiến vào vòng đai Sài Gòn trại gia binh sợ, di tản hết, trống ngoe!
Bây giờ gần cuối tháng Tư, mẹ con bà Ch. đã đi về nhà mẹ của bà ở gần Chợ Lớn. Bên kia trung tâm tạm trú Hải Quân cũng vắng vẻ hơn. Trước đây, lúc nào cũng tập nập người ra, người vào. Gia đình ông bà đại úy L. cũng có một vẻ gì khác lạ, mặc dầu bà L. vẫn đi ra, đi vô cư xá với chiếc áo cánh màu nâu có sọc nhỏ và nhiều miếng vá- mà bà có vẻ rất thích thú khi người ta phê bình. Chọc bà mãi cũng chán, chỉ còn bà vợ ông Trung Tá chỉ huy trưởng, mà ai cũng quen miệng gọi là “bà Trung Tá”. Bà Trung Tá S. này rất kẻ cả- xem tụi tôi, nhỏ tuổi hơn bà rất nhiều- như kẻ dưới quyền, hễ gặp bà L. bà lại hất mặt lên bảo: “Trởi ơi! Bớt tiền mua vàng để mua cái áo mới đi bà L. ơi! Tiền của để chi nhiều, chết có mang theo được đâu!?”. Bà L. cười, nụ cười thật xinh với hàm răng trắng đều như hạt bắp, trả lời “Tiền ở đâu mà nhiều bà trung tá!?” Và bà vẫn bận chiếc áo bất hủ này cho đến ngày lên Tàu, cũng không rời chiếc áo. Mẹ con bà L. được “bà trung tá” gắn tên cho hai đứa con gái bà L. là “Hím nhỏ, HÍm Lớn” mà sau này con mới hiểu là nghĩa gì. Bà L. cũng cười, chấp nhận tên của con bà như thế. Con nhớ một lần mạ nghe bà L. kêu “Hím nhỏ! Về ăn cơm!” Mạ hỏi “Tên chi lạ rứa con?”.
Những ngày cuối tháng Tư, con cũng bắt chước người ta đi đổi dollars. Những người đổi dollars chuẩn bị thoát ra nước ngoài. Con nhớ đã mang tiền Mỹ lại nhà anh T. Trung tá. Em của anh là anh Kh. bạn cùng khóa với nhà con. Con nhớ anh bảo tìm đường đi, không còn thuốc chữa đâu. Thế nhưng anh Kh. Lại không nghe lời ông anh, anh Kh. cười cười bảo tụi con là “chủ bại, có chi phải chạy! nghe nói trung lập mà”. Cũng vì không chịu tin là Việt Nam hết thuốc chữa, và mặc dù có anh em ruột thịt là những sẽ quan cao cấp cho biết trước thế mà cuối cùng anh Kh. Phải ở tù cả 15 năm. Có lẽ do số phận an bài.
Lúc này sau hai tháng, con đã cứng cáp tụi con và ông bà đại úy M. bàn nhau kế hoạch di tản qua Mỹ vì bà M. làm cho sở Mỹ trong phi trường Tân Sơn Nhất. Chuẩn bị xong con và các cháu cùng bà M. và 3 đứa con của bà được người đưa tới một căn nhà gần phi trường chờ- ông M. và nhà con- dự trù sẽ đến sau và sẽ được lên máy bay – cùng di tản một lượt. Thế nhưng số mạng có lẽ cũng đã đươc an bài, chuyến đi bị hoãn vì lý do nào đó không được biết rõ lắm, và có tin, nếu đi được, cũng chỉ cho đàn bà và con nít thôi, đàn ông họ bắt sẽ đi sau. Nghe tin phải đi một mình, khi có chuyến bay, con và bà M. quyết định rất nhanh “không đi nữa!”.
7034766779_d1fb42bef8_z
Trong khi tin tức dồn dập không khả quan chút nào như Việt Cộng đã chiếm lần lần các tỉnh miền trung, Đà Nẵng, Tuy Hòa, Nha Trang, Phan Rang v..v… và đang tiến gần đến Thủ Đô.Con đã trải qua giây phút khủng hoảng Tết Mậu Thân tại Pleiku, và nay một lần nữa phải đối diện với điều tương tự, thật khủng khiếp. Thiên hạ rùng rùng bỏ chạy. Con lo sợ và hoang mang lắm. Chứng mất ngủ càng nặng hơn.
Khi chuyến đi với bà M. không thành, lúc ấy vào khoảng 20 tháng Tư , trở về lại, con cũng không biết mình phải làm gì. Mấy ông lính bị cấm trại một trăm phần trăm. Trong khu quân sự của trung tâm điện ảnh cũng vắng vẻ một cách kỳ dị. Đàn bà chỉ nghe lóm từ câu chuyện của mấy ông rồi bàn tán xì xào với nhau. Ngày 29 tháng 4, con nhớ như in, ông L. ông M. ông Th. và nhà con về nhà hầu như cùng một lúc. Nói là về nhà có vẻ xa nhưng thật ra từ cư xá, tới văn phòng làm việc của mấy ông cách không xa. Con và mấy bà vợ khác ít khi ra vào nơi đó trừ khi có việc gì cần kíp. Nét mặt của các ông có vẻ nghiêm trọng. Con và các bà còn lại trong cư xá được báo tin là chuẩn bị di tản. Con hỏi “đi đâu?” nhà con bảo “đi ra tàu, rồi tính”. Nói xong, nhà con quay lại văn phòng.
Con nhìn mông lung ra cửa sổ qua hướng trung tâm tạm trú hải quân, đối diện với cư xá. Khung cảnh im lìm, tịch mịch. Không có tấp nập như trước đây. Con lại nhìn chung quanh căn nhà, lòng bâng khuâng tự hỏi: đi đâu? Chừng nào về ?…” Và nhiều câu hỏi khác hiện ra trong đầu mà không biết ai có thể trả lời cho mình. Con nhớ mạ, nhớ nhà quay quắt và thèm một chỗ nằm yên ổn trong căn phòng mạ dành riêng cho con mỗi lần con về thăm và ở lại thật lâu. Con ước ao phải chi con đang ở mới mạ, giao phó tất cả vào tay mạ; rồi lại thầm mong những việc đang đảo lộn chung quanh chỉ là một giấc mơ dữ, khi thức giấc mọi chuyện trở lại bình thường.
Thế nhưng khi nhìn thấy cô em chồng, H.L mới từ Nha Trang vào đây học nghề tóc ở Khánh Hội, nghe lời anh dặn chuẩn bị, cô đang bỏ áo quần vào trong xách tay cho ba đứa cháu, con nhận thức ra rằng đây là cuộc đời thật, không phải ác mộng. Con bé người làm cũng đã xin về nhà ở miền trung, nó nói mẹ nó đau, không lâu sau khi mạ về. Mọi chuyện bây giờ con phải nhờ cô em chồng làm phụ. Con vội vã mở tủ, cẩn thận kéo một chiếc hộp giấy nhỏ, chiếc hộp này con cất dấu rất kỹ dưới những lớp quần áo len. Trước khi bỏ vào hộp, con lấy những mảnh vàng lá ra ngắm nghía. Con đếm lại cái gia tài mới vớt vát lại cách đây đôi tuần sau khi chỉ lấy đươc một số tiền nhỏ nhoi từ ngân hang. Con nhớ những giây phút ồn ào hỗn loạn khi người ta dành nhau rút tiền. Không một ai được rút toàn bộ số tiền trong chương mục của họ cả, có người phải trèo qua cửa sổ mới có thể vào bên trong nhà băng được. Với số tiền đó, con đã vội chạy đi mua vài lượng vàng làm của tùy thân. Con lấy cái thắt lưng kiểu ruột tượng, đã được may mấy ngày trước, con cẩn thận bỏ những thỏi vàng vào cùng với một số tiền mặt rồi thắt chặt vào bụng và cảm thấy đôi chút an tâm.
Việc tiếp theo là thúc giục mấy đứa con mang vào vai cái ba lô nhỏ đựng quần áo, dầy dép, đồng thời đứa nào cũng mang them một vài món cho thằng Út hiện bây giờ đã hai tháng rưỡi vì nó cần nhiều thứ lắm, nào là tã lót, khăn lông, sửa bột, bình chứa nước nóng để pha sửa, áo quần, vớ, mũ v…v…. Bé L., bốn tuổi xỏ chân vào đôi giày có chữ viết màu xanh đỏ “phải”, “trái” để con nít khỏi mang lộn chân. Hai đứa con trai lớn lẽ hiểu sự quan trọng của sự việc nên chỉ làm theo người lớn dặn chứ không thắc mắc gì cả.
Khi mọi chuyện xong xuôi, các ông trong dáng vẻ hấp tấp trở về hối vợ con. Gia đình người nào tự lo liệu. Cô em chồng bỗng dưng nói không muốn đi theo, muốn ở lại một mình tìm đường về lại Nha Trang. Nhà con cau mặt gắt “Nha Trang mất rồi, làm sao mà về. Đi bây giờ ngay rồi tính sau!“. Cô em sụt sịt khóc nhưng không dám cãi lại. Tụi con cả thảy là bảy người hối hả chất lên trên một chiếc xe Honda chạy cho kịp. Tới bây giờ suy nghĩ lại, con vẫn không hiểu sao, bảy người lại có thể ngồi trên một chiếc xe gắn máy nhỏ xíu như vậy được. Điều đó chứng tỏ rằng trước cơn nguy biến, bản năng sinh tồn làm cho người ta có them ý chí, sức mạnh làm những việc mà không thể nào làm được hay nghĩ ra trong hoàn cảnh bình thường.
Đi ngang Khánh Hội, thấy người ta nhốn nháo chạy lên chạy xuống, lách đầu này, lạng đầu kia, cuối cùng tụi con cũng vào được bên trong bến tàu. Người thật đông. Trên bãi cát, xe cộ bỏ bừa bãi, phần đông là xe gắn máy, xe hơi và cả xe đạp. Dưới sông có nhiều chiếc tàu lớn. Tụi con đươc bảo chạy về hướng con tàu mang tên Anh Tuấn. Không biết bằng cách nào, gia đình tụi con, gia đình ông bà L., gia đình ông bà T. đều lên được trên tàu đầy đủ.
HINH 1
Bảy ngày lênh đênh trên biển cả với những cơn mưa như trút nước, với bóng tối bao trùm dưới hầm tàu, với tiếng khóc không ra tiếng của cháu Út, với những bữa cơm đạm bạc tối đa của người chủ tàu tốt bụng và cuối cùng với sự tiếp tế của tàu Mỹ, mọi người bình an đến subic, Phi Luật Tân. Sau những thủ tục giấy tở, từ Subic đến đảo Gwam và từ Gwam đến định cư tại Hoa Kỳ.
Từ đó đến nay thấm thoát đa 40 năm. 40 năm con không có mạ một lần nào nữa! con tự làm những việc mà mạ đã làm cho con, nuôi con và có cháu nội ngoại để thương yêu! Những khi con cái làm con buồn lòng, con mới hiểu con đã làm biết bao nhiêu điều muộn phiền cho mạ. Con cũng nhận ra rằng “nước mắt chỉ chảy xuôi, không bao giờ chảy ngược!”. Con có nhớ mạ đến đau thắt ruột gan. Bây giờ có muốn đền bù công ơn sinh thành dưỡng dục đôi chút cũng không bao giờ còn cơ hội nữa! Làm sao quay ngược được kim đồng hồ. Những đứa con của con cũng có những sự phản kháng như con đã từng làm với mạ. Và con hiểu rồi chúng cũng sẽ nhận ra sự thương yêu của cha mẹ như thế nào khi con của chúng lớn lên, và sẽ thấm thía hiểu được lòng yêu thương vô bờ bến của hai bậc sinh thành. Con bây giờ đã vào lứa tuổi của mạ 40 năm về trước và đứa cháu Út mới hai ruổi rưỡi năm nào nay đã ở vào lứa tuổi trung niên!
Mạ ơi! 40 năm xa quê hương tổ quốc, có những đêm con nằm mơ thấy mạ. Thấy lại ngôi nhà thời thơ ấu. Con nghe được tiếng hàng xóm chuyện vãn lao xao của mỗi buổi sáng mai khi mặt trời vừa thức giấc. Con nghe được âm thanh của những chiếc gàu múc nước từ chiếc giếng nằm ở cuối xóm. Con nghe được tiếng chuông nhà thờ nằm gần khu xe lửa. Con thấy được ánh sang bập bùng của nồi bánh tét tối 30 Tết sau hè. Con nếm được vị ngọt ngào của chiếc bánh chưng nhỏ xíu mà anh N. dùng nếp vụn và nhưn còn lại đề gói riêng cho đứa em gái. Và thật sâu trong ký ức, con còn hình dung cả thời tiểu học ở trường Quân Dân Chính với tiếng trống vào lớp và tiếng trống tan trường dòn dã. Con thấy cả bóng cây bàng thật to ở cuối sân trường mà mỗi lần trời chạng vạng, con đi ngang đều cắm đầu chạy vì sợ ma.
Nhiều đêm con lại nghe được tiếng thông reo vi vu trên con đường dẫn đến trường Nguyễn Huệ cũ. Con cũng sống lại giây phút cả đám, trai có, gái có rủ nhau đạp xe đạp thi từ ngôi trường Nguyễn Huệ mới xuống bãi biển Tuy Hòa. Khi mặt trời đã lặn sau đỉnh núi, cả bọn lại lao nhao lên xe đạp về. Hình như có một ánh mắt nhìn theo sau lưng tà áo trắng. Ánh mắt dĩ vãng vẫn ám ảnh con không nguôi trong những cơn mộng mị. Sau cuộc đời không biết ánh mắt đó đã về đâu!?
Thỉnh thoảng, khi có thì giờ, con lật lại những cuốn album có những tấm hình trắng đen đã bạc màu, mà ba đã khổ công lục lọi lại trong nhà gởi cho con vài năm sau 1975. Tâm hồn lắng đọng với những kỷ niệm dấu yêu. Này là hình ảnh của một thời áo trắng, thời của những bước chân chim. Thời của những e thẹn, ngập ngừng, bối rối trong từng trang lưu bút. Thời của những đêm ngồi nắn nót chép lại những bài thơ tiền chiến mà thấy như bài thơ diễn tả tâm sự của mình… Rồi này là hình mạ, hình ba, hình anh. Những hình con theo chồng về nơi Pleiku đèo heo hút gió khi tuổi mới đôi mươi.
Hai năm sau Tết Mậu Thân, nhà con mới xin đổi vào Sài Gòn. Và với năm năm ở Sài Gòn đã ghi vào sổ tay đời con thật nhiều kỷ niệm. Từng góc phố, cột đèn, chợ hoa, thương xá. Những buổi ra phố chỉ để nhìn người dân Sài gòn lượn lên,lượn xuống khoe chiếc áo dài tha thướt hay những chiếc mini jupe để khoe cặp chân dài. Ăn quà vặt ở chợ Bến Thành, nhâm nhi phá lấu và uống nước mía trên vỉa phố. Nhớ làm sao những cơn mưa bất chợt rơi lộp độp trên mái tôn của ngôi chợ.
40 năm trôi qua, con chỉ về lại Việt Nam một lần khi anh N. qua đời, khoảng mười năm, sau khi con rời bỏ quê hương. Khi con về anh đã được chôn cất, con không được nhìn mặt thân yêu của anh lần cuối. Những ngày ngắn ngủi ở đây con chỉ toàn thấy những gương mặt xấu xí của bọn đã cướp miền nam. Những nơi chốn thân thương nhất trong lứa tuổi mộng mơ của con không còn lại dấu vết nào cả. Con như đi lạc vào một quốc gia không phải là của con những ngày xưa cũ. Tuy Hòa của con khi mới lớn oàn toàn thay đổi. Và Sài Gòn của thời trưởng thành cũng thay đổi một cách đáng sợ. Và khủng khiếp hơn hết là bây giờ người ta kêu tên Sài Gòn bằng tên của một xác chết, vẫn nằm tại Ba Đình.. Mạ ơi! Bọn họ trơ trẽn gọi ngày 30 tháng Tư là Ngày Giải phóng. Thật mỉa mai!, giải phóng gì mà lại khuân cả tài sản miền Nam trù phú ra xứ miền Băc nghèo đói? Giải phóng gì mà những tên cán ngố miền Bắc ngước mặt nhìn những biệt thự, cao ốc của miền nam mà tưởng như lạc vào thiên thai. Thế rồi chúng tha hồ vơ vét, lớn vét theo lớn, nhỏ vét theo nhỏ cho bỏ công mang dép râu vượt trường sơn, cho bỏ mấy chục năm trốn chui, trốn nhũi làm du kích đặc công giết hại dân lành. Chúng vừa vơ vét vừa trả thù người dân một cách công khai với nhà tù, lớn có, nhỏ có từ nam tới bắc. Chẳng biết với bản chất dối trá hay ngu dốt thật sự mà Cộng Sản không hề mở mắt để ý thức rằng người dân miền Nam nghe hai chữ giải phóng đã bỏ ruộng vườn của cải đất đai, mồ mả cha ông, liều chết trốn chạy ra nước ngoài?! Đó mãi mãi là ngày Quốc Hận của dân tộc Việt Nam!
babui_giaiphongMN
Thế nhưng Người Việt của mình thông minh lắm, mạ. Chỉ trong vòng thời gian rất ngắn, nhiều người mới hôm nào chỉ còn tay trắng , nay đã trở thành những chủ nhân ông, trong đó có cháu ngoại của mạ, trở thành bác sĩ, khoa học gia, luật sư, chính trị gia, rất nhiều triệu phú…không thiếu một ngành chuyên môn nào cả.
Thế nhưng mạ ơi! Con của mạ, cũng như bao nhiêu người Việt lưu vong khác, tới cái tuổi này đáng lẽ chỉ còn biết hưởng thụ, con cái đã nên danh phận, thế nhưng hạnh phúc của mỗi nhà hình như không được trọn vẹn. Trong lòng mỗi người con xa xứ đều có một sự gì lấn cấn. Sự lấn cấn đó là giấc mơ chưa thành tựu, giấc mơ hồi hương.Giấc mơ chế độ Cộng Sản sụp đổ. Giấc mơ này kéo dài đã 40 năm vẫn chưa đạt được nhưng không tàn lụi với thời gian Cho nên mỗi lần tháng Tư về thì vết thương xa quê hương lại vỡ òa nhức nhối! Đã có nhiều người phải bỏ cuộc vì “chí thì mong tiến bước nhưng sức không kham nỗi đoạn đường” đành bỏ thây nơi xứ người mà hồn vẫn mơ về cố quốc. Nhiều khi tự ngắm nhìn trong gương cũng đã tự hỏi giấc mơ của mình bao giờ thành sự thật và mình còn có cơ hội đó chăng?!
Khi con nhìn con trong gương, con thấy lại hình bóng mạ. Mỗi lần gói thức ăn cho con cháu đem về, con nhớ những gói thức ăn mạ ký ca, ký cóp đi xe đò từ Tuy Hòa lên Pleiku thăm con và cháu ngoại. Một lần mạ tới thăm lại mang theo một con bé người làm để cho con bớt sợ khi nhà con bị cấm trại 100%. Nhưng con bé này nhát gan và sợ ma còn hơn con nữa. Con hay bế con đứng ở lan can cư xá nhìn theo những chiếc xe GMC chạy ngang qua trong cơn gió cao nguyên lạnh buốt, không biết những chiếc xe đó chạy đến chiến trường nào! Nhìn sang bên kia đường là sân vận động Hoa Lư. Nơi đó có một khu chợ nho nhỏ. Nếu không cần mua nhiều thứ, con đi chợ ở đó, thay vì phải đón xe lam đi chợ Pleiku. Những khi nhà con có thì giờ, chở con bằng xe Honda đi loanh quanh ở khu Diệp Kính, nơi mà một người nhạc sĩ đã viết “đi dăm phút đã về chốn cũ…” Tại khu Diệp Kính, bán đủ thứ, nhất là những đống quần áo viện trợ Mỹ. Người mua ướm thử những chiếc áo đầm rộng thùng hình hay chiếc quần jean cao bồi dài thậm thượt, hay ngần ngừ lựa chọn một chai dầu thơm, hộp phấn, thỏi son. Gió buổi chiều lành lạnh, sương cũng bắt đầu giăng trên hàng thông cao, trước cư xá. Con bé người làm đã theo đứng ở sau lưng tự lúc nào. Nó kéo kéo vạt áo con và nói giọng run run “Cô ơi vào nhà đi trời …tối rồi!”. Vào trong nhà, nó không rời con nửa bước. Sau căn cư xá là một bãi đất trống không có đèn đuốc. Xa xa nữa mới tới khu gia binh. Những bóng đèn điện yếu ớt hắt ra những vệt đèn vàng làm cho khung cảnh thêm lạnh lẽo. Buổi tối là con lo cửa đóng, then cài thật kỹ. Cửa chỉ mở ra khi trời thật sáng, hoặc khi nhà con kêu mở cửa, sau đêm cắm trại về nhà. Con bé sợ ma lắm, sau khi mặt trời tắt nó không bao giờ nó dám bước xuống nhà dưới một mình.
Khi con theo chồng về Sài Gòn, tuy là miền thủ đô thừa dư cả thức ăn lẫn áo quần mặc, nhưng mạ cũng vẫn tiếp tục thăm con với nhưng món ngon mà con thích. Nhiều đêm con nằm mơ thấy mạ. Thế nhưng hầu hết giấc mơ này chỉ xảy ra nửa vời, con chưa kịp làm một cử chỉ hay một lời nói yêu thương nào với mạ thì giấc mơ đã tan. Có lần con thấy rõ ràng mạ ngồi trên giường bên cạnh con, con chỉ cần đưa tay ra là chạm vào mạ. Con cũng hay có những giấc mơ rất kỳ lạ mà con nhớ đã xảy ra khi con còn nhỏ. Con vẫn hằng thắc mắc, nó thật sự xảy ra khi con còn bé hay chỉ là giấc mơ trong lứa tuổi thơ. Như hình ảnh con thấy rất rõ chiếc bụng của một chiếc máy bay thật to và bay thật thấp, thấp đến nỗi như nó có thể chạm vào thân cây ổi già trước sân. Con nhìn lên thấy người ngồi trên máy bay nhìn xuống. Hay là hình ảnh lửa cháy dữ dội ở phía bên kia núi Nhạn, mọi ngươi hốt hoảng chun vào hầm trú ẩn. Con lại thấy con được mạ bỏ vào một đầu thúng, đầu kia là gạo, nước, thức ăn trên bước đường chạy giặc! Phải chi mạ còn sống để con hỏi những chuyện đó có thật sự xảy ra hay chỉ là những cơn mộng mị?!
Những giấc mơ trong tuổi thơ vẫn bám chặt ký ức con không rời mặc dù đã 40 năm trôi qua. 40 năm đã biến những đứa cháu của mạ đã quá tuổi trưởng thành. 40 năm quả đã làm bể cả hóa nương dâu. Giờ đây đứa con gái nhỏ bé của mạ nay cũng đã qua rồi thời xuân sắc! Thời gian trôi quá nhanh. Con nhớ như in, khi con còn bé, con mơ ước được mau lớn để trở thành cô giáo như cô Thu Hồ, cô giáo lớp nhất mà con rất yêu quý. Cô đã thuê nhà của mình và ở chung với cô Ngọc Lan. Cô Thu Hồ có mái tóc cắt tém, kiểu demi garcon, còn cô Ngọc Lan thí có mái tóc dài dợn sóng. Nhiều lần con thấy mấy anh học sinh lớn, bạn anh N. nhìn cô Ngọc Lan một cách ngưỡng mộ. Con say mê nghe hai cô nói những gì đã đọc trong những cuốn Pairs Match nào tài tử Brigitte Bardot, Audrey Hepburn, Sophia Loren, Alain Delon… Con say mê nghe cô Ngọc Lan ca những bài ca tiếng Pháp mà cô Thu Hồ khen cô hát không thua gì Sylvie Vartan. Con thật sung sướng khi đi theo cô Thu Hồ thăm Quy Nhơn. Cô Thu Hồ một lần về quê Phan Thiết ăn Tết, khi quay lại, mang theo cho con hai bộ đồ thật đẹp có chiếc quần tây bó ống. Chiếc quần này được tụi trẻ nhỏ ở Gò Bồ,i Quy Nhơn trầm trồ, chỉ trỏ một cách thèm thuồng.
Con cũng nhớ, mong lớn cho nhanh để được mang chiếc nhẫn ngọc nạm vàng khua lắc cắc của “cô Bảy Ngọng”, hay được đeo đôi xuyến vàng chóe của “thím Chín Thịt Heo”! Khi được ba đem vào Nha Trang thăm bác Dự, con lại ao ước lớn mau mau để được bận những bộ quần áo lụa màu mỡ gà sang trọng, được vén mớ tóc uốn quăn lên cao, để khoe chiếc giây chuyền vàng có hột ngọc màu xanh thẫm.
Mạ ơi! Kể làm sao hết những kỷ niệm quý giá của thời thơ ấu có mạ, có ba, có anh bên cạnh. Người ta có khuynh hướng chỉ mơ về tương lai mà quên sống cho hiện tại, nên chi khi hiện tại trôi qua, trở thành quá khứ thì mới thấy tiếc nuối để phải thốt lên rằng “trời ơi! Sao ta không trân quý hơn những giây phút ấy” hay “sao ta không làm thế này, sao ta không làm thế khác cho người thân yêu của chúng ta hơn”?! Phải! Nếu con biết tận hưởng biết quý trọng những giây phút hạnh phúc bên mạ, biết hiếu thảo với mạ nhiều hơn thì giờ đây tâm hồn con có thể bớt ray rứt hơn chăng!?
Trong giây phút xúc động xao xuyến này, con nguyện với lòng là trân quý những hạnh phúc đang nắm giữ trong tầm tay, tận hưởng từng giây phút của đời sống hiện tại. Những kỷ niệm ngọc ngà của một thuở xa xưa vẫn ấp ủ thương yêu, giữ gìn như một bảo vật hành trang, nhưng không ân hận, không hối tiêc làm mất đi niềm vui hiện tại. Những con diều, những chiếc lồng đèn trung thu, những con chim sáo, những con dế mèn, những hòn bi đủ màu sắc… có thương tiếc cũng không thể nào tìm được, và chắc chắn các cháu của mạ không thể nào hình dung ra đươc những món đồ chơi của thời xa xưa đó. Chúng đã được thay bằng những trò chơi trên máy điện toán, những chiếc IPhone, IPad, những chiếc tàu bay, xe hơi chạy bằng remote control tối tân. Mạ ơi! Hiểu ra được điều ấy, con thấy long nhẹ nhàng hơn và chấp nhận hiện tại một cách thanh thản hơn hơn.
Con đã trải qua 40 lần tháng Tư Đen, cái tháng Tư oan nghiệt đã đem con ra biển xa mọi thứ quý giá nhất trên đời! Trong 40 lần tháng Tư đó, con cũng như bao nhiêu người Việt tị nạn Cộng Sản đã tận dụng tất cả mọi phương tiện mình có trong tay để bảo vệ thành trì chống cộng tại hải ngoại. Sức mạnh đoàn kết đã đem lại chiến thắng vẻ vang trong những trận biểu tình chộng phái đoàn Cộng Sản, bẻ gãy nghị quyết 36 của chúng trong âm mưu phá nát cộng đồng người Việt, và lá cờ vàng ba sọc đỏ thân yêu đã được nhiều tiểu bang, thành phố Hoa Kỳ chấp nhận là lá cờ chính nghĩa của cộng đồng người Việt tị nạn Cộng Sản. Đồng thời mạnh mẽ yểm trợ cho phong trào đấu tranh dân chủ trong nước, mong có một ngày lật ngược cái gọi là “giải phóng miền nam” của Việt Cộng để đòi lại tên Sài Gòn thân thương.
DH2_1424899780
Đã qua 40 lần tháng Tư, niềm tin vẫn còn đó, giấc mơ một ngày hồi hương vẫn còn còn đó, như những đợt sóng ngầm trong trái tim xa xứ. Lần 30 tháng Tư của 40 năm, con nhất định làm theo lời nguyên hứa là dùng quá khứ làm hành trang cho đời, tận dụng tất cả sức lực, phương tiện mình có trong hiện tại tại để tiếp tục tranh đấu cho tương lai đất nước Việt Nam. 30 tháng Tư lần thứ 40 này chưa đạt được, sẽ cố gắng hơn nữa để đạt được trong lần 30 tháng Tư kế tiếp. Con biết mạ sẽ phù hộ cho con có đủ nghị lực để chờ ngày vinh quang đó!
Thu Nga

30/4/1975: GIẬU ĐỔ BÌM LEO


Họ lợi dụng Dân Chủ để được bảo vệ trước pháp luật bản xứ; lợi dụng Tự Do bản xứ để chửi quân cán chính VNCH, những người đã hy sinh cho họ được an lành ấm no suốt 20 năm điêu linh ở miền Nam vì mưu đồ bán nước của CSBV. Họ đồng lõa với quan thầy VC trong âm mưu dìm hồn thiêng sông núi vào vũng bùn bồn rửa; bôi bác một tôn giáo đã có công sản sinh ra chữ quốc ngữ Việt và là nền tảng tạo dựng nên cường quốc đang cho họ dung thân phì gia! Họ có còn xứng đáng là con người; nhất là con người lưu vong biết tự trọng với căn cước tỵ nạn; không "nhổ rồi lại liếm"

--------------

 Trận mùa Xuân 1975 đã kết thúc với một bên hết đạn phải buông súng; một bên được viện trợ gấp bội để xé bỏ hoàn toàn Hiệp Định Paris 1973 và hoàn tất mưu đồ xâm lăng của đế quốc Cộng-sản Nga Tàu. Từ đó thấm thoát đã 40 năm -gần nửa thế kỷ- để thế hệ lưu vong suy tư và "ôn cố tri tân"; ngõ hầu gây dựng cho thế hệ con cháu một chiến lược hoàn chỉnh cho cuộc chiến giành Tự Do, Dân Chủ vẫn chưa kết thúc để lấy lại giang san mà các vua Hùng đã ngàn năm tạo lập; các vua Đinh, Lê, L‎ý, Trần, Nguyễn đã mở mang bờ cõi và hai nền đệ I & II Việt Nam Cộng Hòa đã bảo vệ vẹn toàn. Bài học 40 năm ấy cho thấy chế độ nhân bản VNCH không chỉ lo đem lại cơm no áo ấm cho toàn dân -kể cả thân nhân kẻ bên kia chiến tuyến- mà còn phải cùng lúc lo đối phó với xâm lược triền miên không ngưng nghỉ; với phản bội từ bên ngoài và nhất là những phản trắc từ bên trong. Do đó mới có ngày 1/11/1963 và hậu quả tất yếu của nó là ngày 30/4/1975. Cảnh "giậu đổ bìm leo" 40 năm ấy được ghi nhận bởi các kí giả nước ngoài ít ỏi có cơ may mục kích tại chỗ và các sử gia chuyên nghiệp ghi chép lại một cách trung thực. Nayan Chanda, Pierre Darcourt, Tiziano Terzani là các cây bút trong số đó. Dẫn chứng của các tay đương kim hay cựu trùm cộng sản tuy không có giá trị sử học nhưng cũng lột trần được sự thật mà chính họ từ bên kia bức màn sắt từng lừa dối quốc tế, đồng bào và lừa dối lẫn nhau.



1/ Quân lực VNCH Hết Đạn:

Tướng Soviet Nicolai Firyubin sớm đến Hà Nội giúp trang bị tối đa vũ khí cho CSBV (Cộng sản BắcViệt). Ngay từ đầu 1975 sau những vi phạm lớn nhỏ để thăm dò phản ứng và thấy Mỹ bất động sau ngày BMT thất thủ 10/3, CSBV đã tăng tốc kế hoạch chiếm miền Nam mà họ dự trù kết thúc năm 1976 bằng các hoạt động quân sự ráo riết. Dù vậy, TT Thiệu vẫn can đảm đến An Lộc để thăm quân sĩ đang đánh bật CSBV khỏi đây sau khi thất thủ hôm 21/3. CSBV tàn sát 250 người Thượng ở Dakson, VC (Việt Cộng) giết hơn 300 tín đồ Cao Đải ở Tây Ninh sau 30 giờ tấn công; đem 1,500 đặc công vào bố trí quanh TSN với 4 khẩu 105 ly tháo rời từng mảnh. BCH của họ đặt tại quận 7 Saigon có một Thiếu Tướng VC và cả 1 thành viên trung ương đảng CS từ 26/4. Tướng VC Trần Văn Trà có mặt tại Biên Hòa cùng 5 sư đoàn BV từ hôm 25/4. Có tin CSBV dành 300,000 đạn 130 ly để pháo Saigon. SĐ 25BB đóng ở Gò Dầu Hạ thiếu đạn 105 ly và 155 ly trầm trọng: mỗi ngày chỉ được bắn vài tràng! Ở miền Trung, CSBV áp dụng cưỡng bức hôn nhân; buộc gái miền Nam lấy thương phế binh BV như hồi 1955 ở miền Bắc; cụ thể là tại nơi chiếm đóng Quảng Nam.



CSBV và VC vào Saigon bằng 4 hướng, BCH (bộ chỉ huy) ở Biên Hòa: xa lộ 13 hướng bắc vào đường Hai Bà Trưng, hướng Tây vào ngã tư Bảy Hiền từ Tây Ninh, hướng tây nam vào Chợ Lớn và hướng đông hùng hậu nhất với hàng trăm tăng, quân xa, đội phòng không 203 từ Hố Nai vào đường PhanThanh Giản và Hồng Thập Tự. Xe tăng số 843 do Bùi Quang Thân chỉ huy, tài xế Lữ Văn Hàng, 2 xạ thủ Thái Bá Minh, Nguyễn Văn Kỷ và chính ủy Bùi Văn Tùng. Xe khởi hành từ 5g sáng; đến Thị Nghè lúc 11g trưa. Thân gặp 2 quân nhân VNCH dọc đường Mạc Đỉnh Chi; bắt một người lên xe chỉ đường đến dinh ĐL (Độc Lập) và ngừng xe hỏi đường một cô gái đi Honda. Xe bắn chỉ thiên khi đến nhà thờ Đức Bà. Một số quân xa VNCH bị xóa dấu vết và bị trưng dụng chở bộ đội Bắc Việt theo sau.



Các tòa đại sứ đồng minh bắt đầu di tản nhân viên. TQLC Mỹ đốt giấy tờ mật và cả một số tờ $100 USD lấy từ két của tòa đại sứ. TQLC Mỹ không kịp phá bỏ bảng đồng gắn nơi đồng đội của họ tử thương hồi Tết 1968; nguyên văn trích từ Lawrence of Arabia ". . .bởi đó là chiến tranh của họ và thời gian của ta ở đây có hạn". Dân Ấn và Pháp treo cờ nước họ trước nhà và các cơ sở kinh doanh, trường sở để tránh bị VC tấn công lầm. Sân bay TSN còn ngổn ngang hơn 100 xác máy bay các loại nhưng tháp điều khiển còn nguyên. Kí giả Ý Terzani dùng ảnh chụp chung đã lâu để xin vào TSN gặp Võ Đ. Giang nhờ chuyển tin sớm nhất về 30/4 cho báo Đức "Der Spiegel" ở Hamburg qua ngã Hà Nội -East Berlin. Số phôn của Giang để liên lạc là 924-5149 mà kí giả ngoại quốc ai cũng biết do Thiếu tá VC Phương Nam trực máy. Vài thành viên Canada trong ICCS bị CSBV bắt làm tù binh nhiều ngày nên sau này CP Canada phải rút lui.



2/ Saigon Thất Thủ:

Tại dinh Độc Lập (ĐL), xây lại suốt gần 1 năm tốn 1.5 triệu USD; khánh thành hôm 30/10/1966), Tướng nằm vùng VC Nguyễn Hữu Hạnh mặc quân phục đeo 1 sao cùng với Vũ Văn Mẫu, Lý Qúy Chung, Ng.V. Ba và nội các đứng đón Thân. Thân quát hỏi "Dương Văn Minh đâu?". Big Minh bước tới trả lời "xin bình tĩnh; chúng tôi đã đầu hàng rồi!". Sinh viên Nguyễn Hữu Thái chỉ lối cho Thân leo lên tầng trên treo cờ Mặt Trận Giải Phóng hồi 12:15 trưa 30/4. Chính ủy Tùng đến sau 10 phút; tự giới thiệu với Big Minh và bảo Minh cùng 18 thành viên nội các rằng họ cứ tự nhiên. Thân ra lệnh "Anh Minh" đến đài phát thanh đọc lệnh đầu hàng chính thức do chính ủy Tùng viết tay. Lời tuyên bố ngừng bắn của Big Minh trước đó đã được thu âm vào máy của kí giả Đức Boris Gallash (Bùi Tín-HXT tr.53). Bọn sinh viên Thái đến đài trước nhưng không biết dùng nên loay hoay 2 giờ sau và vài lần thử mới phát thanh được lúc 2:30 chiều. Sau khi đọc lệnh đầu hàng, Big Minh ra lệnh giải tán Chính quyền quốc gia ở mọi cấp. Ls Vũ Văn Mẫu, thủ tướng hô hào toàn dân đón chào "hòa bình" và ra lệnh công chức trở lại làm việc. Minh và Mẫu được Cộng sản Bắc Việt chở về dinh ĐL. Phó TT. Nguyễn Văn Huyền về nhà nằm nghỉ. Nửa giờ sau, tăng Cộng sản Bắc Việt vào dinh. Người nhà ông đã chở ông bằng xe Honda đến dinh trình diện hồi 5g chiều.



Hàng chữ "The Noble Sacrifice of The Allied Soldiers Will Never Be Forgotten" ở Tân Sơn Nhất đã bị bôi bằng sơn trắng. Trại Davis bị chiếm hồi 1g trưa. Lm Chân Tín mô tả đêm hôm 29/4 trong hầm trú ẩn của VC: ". . .khi nghe DVM tuyên bố đầu hàng trên radio, cảnh tượng (trong hầm) hết sức vui mừng. Chúng tôi ra khỏi hầm gặp Tướng Tuấn. Bộ đội ôm nhau nhảy và đi tới lui. Tướng Tuấn cho giết con gà và đem chai rượu ra ăn mừng. Chúng tôi thấy chiếc T54 đầu tiên hồi giữa trưa nhưng không rời trại cho đến 6g chiều vì vẫn còn giao tranh ở Bộ TổngTham Mưu . . .Võ Đ. Giang kí cho chúng tôi giấy phép đầu tiên để đi đường hôm 30/4". VC ở Lộc Ninh sắm dép mới cho cán bộ về thành. Tướng Trà đến dinh ĐL lúc 5:30 chiều cùng chính ủy Bùi Thanh Khiết. Phạm Hùng ẩn nấp lâu ngày không bị lộ diện ở quận 7 Saigon; nay cũng đến đó. Lê Đức Thọ đến Saigon hôm 1/5 từ Lộc Ninh và Biên Hòa. Y làm bài thơ dài gởi Bắc Bộ Phủ mừng chiến thắng. Chiều 30/4, Hải quân Bắc Việt đến Saigon để gom tàu thuyền còn kẹt lại. Hồi 12:50, một chiếc Mi-6 của KQ. CSBV đến TSN để "tiếp quản"; có kí giả Lê Bá Thuyên của tờ "Hanoi Illustrated Review", dân Saigon tập kết tháp tùng.



3/ Saigon Hỗn Loạn:

Sau khi TT Thiệu từ chức hôm 21/4, hoang mang và hỗn loạn bắt đầu diễn ra ở Saigon không kém ở miền Trung. Nhóm Lm Tín, Gs Luân và Ls Liễng từ nhà Big Minh ở số 3 Trần Quí Cáp đến trại Davis gặp VC Võ Đông Giang và phải ngủ lại đêm 29/4. Triệu Quốc Mạnh thay Tướng Nguyễn Khắc Bình đã thả 300 tù VC rồi từ chức. Đã có hơn 150 chiến đấu cơ VNCH di tản sang Utapao. Tướng Phú tự tử bằng thuốc sốt rét Novakin tại nhà. Sau khi bị cộng sản Bắc Việt bắt sống hồi 1954 với cấp bậc Đại úy, ông được thả nhờ sinh viên học sinh ở Saigon biểu tình áp lực trước cửa phái bộ Bắc Việt do Văn Tiến Dũng cầm đầu hôm 20/7/1955. Chỉ còn 136/219 vị dân cử lưỡng viện đến Quốc Hội bầu Big Minh làm Tổng Thống. Lý Qúy Chung đề nghị đầu hàng VC nhưng Tướng Minh không chịu. CSBV không chấp nhận tướng Đôn hay ông Lắm làm Thủ tướng vì 2 người này là "tay chân của Thiệu". Ông Lắm từng kí HĐ Paris và bị TT Thiệu bãi chức do khi kí đã "hug" VC Nguyễn T. Bình. Ông Huyền từ chối chức này để tránh tiếng là thân Công giáo (CG). Cựu Tướng Pháp Vanuxem, cố vấn TT Thiệu đến gặp Big Minh bảo đừng đầu hàng; chờ Liên-xô, TQ can thiệp. Sau khi Big Minh tuyên bố đầu hàng lúc 10:20 sáng 30/4, bồi bàn "Joseph" nằm vùng ở Caravelle Hotel la lớn "C'est fini, c'est fini!" (thế là xong!)



Một đám sinh viên Vạn Hạnh do Nguyễn Hữu Thái cầm đầu chiếm trường Đại học Vạn Hạnh; tự xưng là "Phật tử Yêu nước" rồi 2 giờ sau tự xưng "Hội Đồng Cách Mạng" in giấy phép đi đường cấp cho quân cán chính VNCH. Thái một mình đến Ấn Quang nhờ VC Thích Trí Quang thuyết phục Big Minh đầu hàng VC và thông báo cho MTGP 10 trung tâm Phật Giáo (PG) để họ tránh đừng pháo kích nhưng MT không trả lời! Thái nghe Vũ V. Mẫu nói trên phôn "nhờ Trí Quang xin MTGP cho một số viên chức nội các rời VN và cho đại diện quân sự của Big Minh gặp MT để thảo luận đầu hàng". Thái rời trường Vạn Hạnh đi tìm Lý Qúy Chung tại dinh ĐL để xin vào đài phát thanh nhưng tài xế không chịu đi. Thái (cha là Sĩ quan VNCH) tâm sự y theo VC khi gặp chúng trong tù hồi 1964 khi y biểu tình chống Chính phủ Nguyễn Khánh. Thái được Đ. Tá Mỹ Wilson, cố vấn của tướng Kỳ che chở nên bị VC nghi ngờ và bị thất sủng sau này. Thái bị bắt lần 2 năm 1966 tù 2 năm; ra tù vào bưng ở Quế Sơn, Đà Nẵng nhưng VC không tin dùng. Y bị động viên vào TTVB Thủ Đức năm 1968. Y giúp VC với bí danh "Hai Hòa" phụ trách giao liên với nhóm VC ở Ấn Quang; tổ chức ám sát Trần Q. Bửu 2 lần hụt nhưng thành công giết Gs Bông. Ra tù 1974, Thái lại liên hệ nhóm Ấn Quang và Mẫu nên được có mặt trong dinh ĐL hôm 30/4. Y than "vào Đảng không dễ" vì lí lịch và giai cấp; hơn nữa y trông cậy vào tổ trưởng VC vụ giết Gs Bông để tên này khai tên y ra mà lập công; khốn nỗi tên VC này lại hợp tác với địch để tránh bị án tử nên mộng vào đảng CS của y tan thành mây khói!



Big Minh được CSBV thả hồi 7:30 tối 2/5. Big Minh từng là sinh viên Y khoa ở Hà Nội, nơi ông quen biết Huỳnh Tấn Phát hồi 1945. Lễ trả tự do có mặt chính ủy Bùi Thanh Khiết, Tướng Trà - chủ tịch Ủy Ban Quân Quản và Cao Đăng Chiếm phụ tá. Trà phát biểu tuyên truyền: ". . .vinh quang dành cho mọi người Việt". Big Minh đáp từ: "Tôi 60 tuổi hôm nay vinh dự được một lần nữa làm công dân Việt Nam tự do"! Big Minh và nội các được miễn tù cải tạo. Nhà ông nay không còn VC canh gác nhưng phôn bị cắt và ít ai còn lui tới. Nhà PTT Huyền ở 181 Hồng Thập Tự cũng vậy. Ông Huyền tiết lộ có một số SQ. VNCH đến nhà Big Minh phản đối lệnh đầu hàng nhưng tướng Minh trấn an được họ nên cũng êm. Vũ V. Mẫu xác nhận "lực lượng thứ ba" không còn hiện hữu. Nguyễn Văn Hảo được mời vào dinh ĐL để báo cáo về kinh tế. Hảo nộp 16 tấn vàng cho VC theo luật quốc tế và có lẽ cũng để lập công. Bọn cầm quyền ở Bắc Bộ Phủ đã chia nhau bỏ túi số vàng này; tổng cộng 27 tấn (Bùi Tín-MMTK tr.147). Hình ảnh căn nhà dát vàng của Nông Đức Mạnh hiện nay là một bằng chứng hùng hồn. Tin đồn TT Thiệu lấy đi 16 tấn vàng do chính CSBV và VC tung ra; nguyên văn "cho đến ngày 26/4 khi Thiệu và gia đình hắn đem 16 tấn vàng bạc, đô-la, của cải vội vã chạy sang Đài Loan. . ." (Văn Tiến Dũng -ĐTMX trang 249)!



Trường Vạn Hạnh nay là trung tâm "cách mạng". Sinh viên đeo băng hiệu màu vàng của trường và làm việc không lương suốt ngày. Trong sân và 2 phòng lớn có hơn 1,500 súng carbin, 2,600 M16, 400 M72, 174 M79 và 3 thùng súng ngắn. Bên ngoài đường có 14 quân xa; tất cả do cựu binh VNCH đem đến nộp và trình diện. Nhóm 15 sinh viên Vạn Hạnh lấy súng và lựu đạn của binh sĩ BĐQ bỏ lại trường để chiếm phân khoa Nông Nghiệp trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm cạnh đài phát thanh. Một sinh viên VH bị một CSQG bắn chết khi la lớn mừng MTGP. Bộ đội BV và "cách mạng 30" (CM30) đeo súng M16 đến chiếm Maxim Hotel cạnh Majestic Hotel ở bến Bạch Đằng. Một CM30 bắn thị oai để giải tán đám đông bu quanh hai cô gái "ăn sương" cãi lộn trước Continental Hotel đã bị hai bộ đội lại tước súng.



4/ Saigon Đổi Chủ:

Đài TV Saigon tái hoạt động hồi 7g tối 1/5 với hình ảnh cờ xí BV & MTGP và chân dung HCM. Sau đó, Huỳnh Tấn Mẫm phát biểu và một VC đọc lệnh cấm lưu hành "văn hóa đồi trụy" Saigon. Ba ngàn người kể cả một số cảnh sát viên lánh nạn ở bệnh viện Grall của Pháp đã ra về hôm 2/5. Bưu điện Saigon mở lại hôm 7/5. Con gái của Nguyễn Hữu Thọ (Chủ tịch MTGP) di tản đi Mỹ với "chồng" người Mỹ. Một cựu bộ trưởng của MTGP từng là bồ của một sĩ quan cảnh sát VNCH cũng đã theo di tản ra nước ngoài. Thống đốc Lê Q. Uyên, phụ tá và toàn bộ ban quản trị Ngân hàng quốc gia VN bị bắt tại sở làm cùng toàn vẹn 27 tấn vàng. Ông Uyên tốt nghiệp ở Pháp; tuổi chưa đến 40. Ông kẹt lại vì đã đem vợ con vào ngân hàng chờ máy bay Mỹ đến đón nhưng có lẽ đã không nghe thấy tiếng phi cơ. Ông được mời vào dinh ĐL nhưng sau cũng bị tù cải tạo. Có mấy tin đồn: TT Thiệu nhờ hãng hàng không Thụy sĩ Balair chở 16 tấn vàng đi gởi nhưng bị từ chối, vàng được chôn bí mật ở Thủ Đức, vàng được gởi trong két của Banque Francaise d'Asie. VC Lê Minh Châu nay làm giám đốc Saigon-Gia Định National Bank.



Lý Qúy Chung nịnh bộ đội có mặt trong dinh ĐL; nguyên văn "mọi vinh quang đều thuộc phần các anh!". Một cán bộ tập kết tên Cổ Tấn Chương tức "Bảy Phan" cùng đồng chí đến chiếm bưu điện Saigon. Hai tháng sau, y phụ trách kiểm duyệt văn hóa. Mẹ già và anh chị em của y vẫn ở Rue Foucault phía sau nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi từ hồi 1945 đến nay. Y cũng có anh em là sĩ quan VNCH. Y từng học Lycée Chasseloup Laubat Saigon trước khi theo VM ra bắc. Anh thứ 3 của y là Đại tá KQ.VNCH di tản sang Mỹ. Bộ đội chiếm tòa đại sứ Anh vẫn ngủ bằng "võng Trường Sơn" giăng trong tòa nhà này; có lẽ sợ bị đầu độc?! Toán bộ đội khác vào tòa đại sứ Ý của đại sứ Rubino đã về nước; khoe tìm thấy "máy nghe lén" (máy massage) của CIA "cài đặt" bên trong nệm giường ở đây!?



Cảnh tượng chiếm đóng đa dạng: Lính BV không tuân thủ đèn đường; giặt quần áo treo đầy hàng rào dinh ĐL. Họ dùng gỗ thùng đạn để nấu cơm ngay tại công viên trước dinh. Lệnh giới nghiêm từ 6g chiều nhưng không ai chấp hành. Dân Saigon nhận diện để phân biệt sĩ quan và lính BV qua số bút gắn túi áo của chúng: nhiều bút cao cấp hơn ít bút; không bút là lính quèn?! Một tu sĩ PG leo lên xe tăng CSBV trên đường Công Lí để ôm hôn các cán binh trên xe. Một nhóm CM30 ở đường Lê V. Duyệt gần khám Chí Hòa la lớn và đi xé cờ VNCH và các biểu ngữ. Một tăng CS án ngữ cổng nhà tù này rồi một cán binh xuống xe cám ơn đồng bào đã ủng hộ "cách mạng" và loan báo 7,000 tù ở đây đã được thả. Một sĩ quan BV cấp cao đến thăm một linh mục già ở Hố Nai; cám ơn ngài đã cứu cha mình hồi 1953.



Lần đầu tiên, kỷ niệm chiến thắng ĐBP được tổ chức ở Saigon hôm 7/5/1975. Toàn bộ lãnh tụ MTGP đều có mặt; trong đó có Tướng Trần V. Trà. Trà sinh 15/1/1918 ở Quảng Ngãi, gia đình nông dân, có nhiều bí danh từ 1939-1944 như Sing Tich, Lê V. Thắng, Anh Tư Chí ..vv.. Y sang Tàu tháng 2/1949, Nga tháng 12/1949; chỉ huy khu Saigon-Cholon từ 1952 và đánh An Phú Đông, Thủ Đức hồi 1968. Y xác nhận đã giết kí giả Pháp Lucien Bodard hồi thập niên 1950s. Y khoe vợ đẹp tên Lê T. Thoa và con gái luôn sống ở Saigon không bị phát giác. Y đeo 1 sao hồi 1958 khi chỉ huy SĐ 330 CSBV; vào nam 1964 đeo 2 sao từ 1973 dưới quyền N. Chí Thanh. Trà chơi máy ảnh và là "phó nhòm" duy nhất được Phạm Hùng cho chụp ảnh. Võ N. Giáp mặc thường phục cùng đi với 2 cận vệ rảo khắp Saigon sau 30/4 mà không ai hay biết.



5/ Nam Việt Bìm Leo:

Lm Chân Tín xin ra Côn Sơn thả tù CS để lập công nhưng không được phép. Ông ngượng ngùng bảo Terzani: "đã xong cả mà không cần chúng tôi". CS tỏ ra rằng nay họ tự giải phóng tù của họ mà không cần tay sai hay quốc tế. Lm Nguyễn Gia Thụy trở lại Côn Sơn hôm 27/4 yêu cầu Đ.Tá Lâm Bùi Phương thả tù chính trị nhưng bị từ chối. Ông đại tá giám đốc nhà tù này di tản bằng ghe rồi bị VC bắt ở Bến Tre. Lm Phương cùng các cai tù Dậu, Hiên, Đông mở cửa tù cho VC. Trong đám tù VC Côn đảo có Lê Quang Vinh Gs Pétrus Kí, "kĩ sư Tinh", Bùi Hữu Nhan theo VM từ 1945, Lê Cầu tù từ 1962. . . Trại tù này về tay VC từ 2 giờ sáng. Dậu cùng Vinh, Phan Tư lập BCH và ra lệnh bắt cai tù "Bảy Dũng", Ching Kuang và 20 người khác; giao lại cho bộ đội BV hôm 4/5. Tất cả tù Côn đảo được đưa đến Vũng Tàu hôm 6/5 để thanh lọc. Lm "hốt rác" VC Phan Khắc Từ cầm cờ máu cùng một số CM30 xông vào trụ sở Tổng Công Đoàn Liên Đoàn Lao Động VN ở số 14 Lê V. Duyệt ngay sau hôm 1/5. Y phân công cho đệ tử gác cổng rồi cùng CM30, dân thất nghiệp, nằm vùng và côn đồ đi xé các biểu ngữ cũ; làm và treo các bảng "Hội Đồng Nhân Dân CM", xé bỏ các ảnh Trần Q. Bửu bắt tay TT Thiệu và Đs Bunker. Y ngồi vào bàn của Tr. Q. Bửu; tuyên bố sẽ lập Tổng Công Đoàn Giải Phóng và cho in lại tài liệu công đoàn XHCN dùng trong vùng VC kiểm soát. Vợ của Lm Từ đảng viên CS hồi 2014 đã phổ biến trên Internet thư xác nhận mụ là vợ Lm Phan Khắc Từ.



Những kẻ nằm vùng và CM30 nay ra mặt xông xáo khắp miền Nam. Một bà bán nước mía lâu năm ngay trước cổng Ty CSQG Quảng Ngãi nay là thành viên HĐCM tỉnh. Một kẻ "điên" ăn xin lâu năm ở trạm xe bus và thường la hét giữa đồng ruộng; nay là sĩ quan VC ở tỉnh này. Một "gia đình" sống gần Hotel Anh Đào ở BMThuột; nay là nhóm chỉ đạo MTGP với tên họ không liên hệ huyết thống. Bồi bàn Bình của Kim Hoa Restaurant ở góc Pasteur-Lê Lợi Saigon nay là cán bộ VC trở lại để chỉ huy. Một bà lao công của Saigon Circle Sportif nay là cán bộ cao cấp của MTGP. Cận vệ trẻ của Lm Trần Hữu Thanh nay là bộ đội du kích MTGP. Lm Trần Hữu Thanh, người ủng hộ chế độ cũ và tôn thờ quốc kỳ có "3 sọc đỏ cũng là Ba Ngôi Thiên Chúa" (Trinity) được Trịnh Đ. Thảo mời vào dinh ĐL đề nghị cộng tác nhưng ông từ chối khéo. Ngay sau khi VC chiếm dinh ĐL, một nhóm "VC chiêu hồi" mà Lm Thanh giúp tìm việc làm; nay tìm thăm ông và cho biết họ hiện là du kích xâm nhập trá hàng! Thư kí Trần Thị Lan của bà Ngô Bá Thành nay là cán bộ VC. Hai sĩ quan phụ tá của Đại tá Đỗ Việt ở Cục CTCT nay là VC. Tên "Joseph" bồi bàn ở Continental Palace Hotel (CP) sau 30/4 lộ mặt VC nằm vùng: Y qui tụ nhân viên hôm 19/5 để mừng sinh nhật HCM rồi tố cáo ông Lợi quản lí là tư bản "bóc lột". Ông Lợi bị đuổi rồi lâm bệnh.



Những ông bố "vô danh" hay "chết" trong giấy khai sinh của con em vùng sôi đậu nay về thành đoàn tụ với "vợ góa", "con côi"! Soeur giám đốc một viện mồ côi CG ở Bến Tre bất lực nhìn mấy "trẻ mồ côi" của mình bị (cha mẹ chúng) bắt cóc đem đi giữa ban ngày! Sau 3 tháng "giải phóng", 1/2 trong số các "trẻ mồ côi" như thế được cha mẹ VC (tập kết, nằm vùng) đem về nhà từ các trại mồ côi CG, PG hay của chính phủ VNCH! Phan Văn Thao, lãnh tụ VC ở Mỹ Tho trước 30/4 lấy tên giả đóng vai chủ vựa lúa, để ria mép, đeo kính trắng; sau 30/4 mới lấy lại tên thật sinh năm 1927 (đã khai tử năm 1956), bạn học của Th. Tá VC Phương Nam cùng quê; học ở Lycée Lemyre de Vilers (sau này là Ng. Đ. Chiểu). Phụ tá của Thao là Lê Thanh Hiên sinh 1937, một Đại úy VNCH nằm vùng chuyên cung cấp tin tức và sơ đồ hành quân cho Thao. Hiên vào đảng CS từ 1960 rồi hợp tác với Thao từ 1967. Thao tự xưng là anh em họ của Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm nên Khiêm biết y là VC mà vẫn làm lơ!? Thao cũng khoe hôm 25/4 đã dùng Honda lên Saigon gặp Khiêm để khuyên ông ta ở lại VN nhưng Khiêm nói ông phải đi vì sợ CIA?!



6/ Saigon XHCN:

Chợ trời Tôn Thất Đạm đông tấp nập ngay hôm 1/5. Nhiều bộ đội học lái xe Honda lấy được của dân di tản. Dân Tàu Cholon hạ cờ Taiwan và ảnh Tưởng để treo cờ TC và ảnh Mao. Dép râu, ảnh Hồ và cờ BV, MTGP được Cholon sản xuất để kinh doanh. Bộ đội bảo con buôn: "Bác chỉ để tặng; không được bán"! Một đồng tiền BV đổi $2,000 VNCH ngoài chợ đen. Bộ đội "biến chất" đem xăng, rượu cognac, whisky chiếm được để đổi đồng hồ, kính râm, xe đạp và "đài" (radio). Xăng Mỹ màu tím nay được thay bằng xăng Liên-xô màu vàng do bộ đội "thoái hóa" trộm bán ngoài chợ trời. Có một tá bộ đội bị ám sát chết và 30 cuộc xử tử trộm cướp ở Saigon do bộ đội gây ra trong ba tháng chiếm đóng. Một bộ đội ngố ở chợ Hai Bà Trưng kiên nhẫn suốt mấy giờ đứng chờ một cậu bé đem xe đạp lại trả sau khi nó được cho "mượn đỡ vài phút"! Nhiều bộ đội ngố mua lầm đồng hồ Seiko giả của HongKong. Ngoài đồng hồ và "đài" (radio), máy ảnh Polaroid rất được bộ đội BV chiếu cố. Tuy không phải loại 3-D nhưng ảnh chụp lấy liền cho thấy hàm trên răng vẩu chìa ra khỏi cái mồm cười toe toét của mấy bộ đội trẻ quê kệch trông có vẻ lớn hơn răng thật (chắc vì cận ống kính nhất)?! Một bộ đội con của Trần Huy Liệu (chết 1969) tên Trần Thành Công (đổi từ Trần Huy Công sau "giải phóng") khoe đã mua dĩa Beethoven ở chợ trời đường Lê Lợi vì biết tiếng Đức; từng học ngành hóa chất ở Leipzig, Đông Đức; nay là họa sĩ. Khu cổng TSN cũng biến thành chợ trời đông nghẹt. Sách cũ bày bán vội ở hiên Cafe Rex để tránh bị cấm sau 22/5 theo thông cáo hôm 15/5 của UBQQ.



Nhật báo độc nhất SGGP chỉ phát hành mỗi ngày không quá vài ngàn tờ; tin tức một chiều đơn điệu gây nhàm chán nên từ tháng 7/1975, bọn CM30 chỉ mánh cho VC mở thêm mục vu khống chế độ cũ; bịa đặt những bí ẩn giật gân để in thêm báo câu khách. Các tin giật gân gồm: Tướng Đặng Văn Quang buôn lậu ma túy và giàu có! (VC chống TT Thiệu tất phải bôi bẩn các phụ tá đắc lực của ông. Nếu có bằng chứng, CP Mỹ, Canada và tòa án quốc tế đã chẳng để ông yên thân). Đường dây gạo lậu trước đây do bà Ngô Thị Huyết, dì của TT Thiệu cầm đầu! Cao Giao của Newsweek VC nằm vùng ở Saigon còn bịa đặt rằng TT Thiệu bận giao du với gái 14-15 tuổi do tay chân cống hiến! Ngoài Tướng nằm vùng thật Ng. Hữu Hạnh, tin đồn Tướng VNCH Đồng V. Khuyên, bà con với tướng VC Đồng Văn Cống là sai. CP Mỹ đánh giá Tướng Khuyên là tài ba, cần mẫn và thanh bần nhất của VNCH. Tướng Khuyên không có nhà riêng; vợ chỉ nuôi gà phụ đồng lương của chồng ở trong khu gia binh TTM. SGGP số ngày 3/7 đăng thư của "độc giả" CM30 Lê Hữu T. đề nghị cấm dân Saigon nghe "đài ngoại" như VOA, BBC; đài mà Ph.V.Đồng, Võ N.Giáp, Ng.V.Linh nghe hàng ngày (Bùi Tín-HXT tr18). Các rạp hát nay chỉ chiếu phim Hà Nội về HCM, "anh hùng" Ng.V. Trổi..vv.. Phim Liên-xô, TQ chiếu rất ít ai mua vé coi.



Phần lớn giáo sư đại học Y khoa di tản (Nha khoa đi 1/2) nhưng GS ngành kiến trúc hầu hết ở lại. GS khoa xã hội do Mỹ đào tạo bị đi tù "cải tạo". Trường Vạn Hạnh mở lại tháng 7/75. Chiến dịch xóa dấu vết văn hóa Saigon bắt đầu với việc giật sập tượng TQLC trước tòa nhà quốc hội VNCH hồi 10:30 sáng 5/5. Một nhóm CM30 (kiểu vệ binh đỏ Tàu Cộng) ở chợ Bến Thành xúm cắt ống quần "patte" (ống loe) của một cô gái Saigon; đã bị bộ đội buộc phải bồi thường cho nạn nhân. Đám SVHS "CM30" có trụ sở ở đường Duy Tân chia làm nhiều toán hôm 23/5 đi từng nhà thu gom sách báo "đồi trụy". Nhiều tóan bị chủ nhà chận cửa hoặc đuổi ra ngoài. Sách "Love Story" bị đốt. Sách của Steinbeck viết trước kia không bị cấm nhưng sách viết sau khi ông đến VN với lập trường ủng hộ quân đội Mỹ thì bị thu. Sách của Solzhenitsyn bị cấm tuyệt. Vụ phản kháng mạnh nhất là tại lề đường Nguyễn Kim: nhóm CM30 thấy có vài tờ Playboy bèn lấy cớ đòi tịch thu hết số sách báo bày bán còn lại. Người bán, một cựu binh VNCH nổi giận lấy ra một quả lựu đạn rút chốt khiến ông và 3 "CM30" chết banh xác! Nhiều xe tải chở sách giáo khoa "cách mạng" từ Hà Nội vào Saigon; cất ở VP báo chí cũ ở đường Tự Do để cung cấp cho các trường. Buổi hòa nhạc đầu tiên được tổ chức tại tòa nhà quốc hội cũ có Nguyễn Hữu Thọ dự. Bản "La Donna el Mobile" của Rigoletto được hát bằng tiếng Nga.



7/ Vắt Chanh Bỏ Vỏ:

Bọn CM30 bị giải tán sau 3 tuần lễ "làm cách mạng". Một số vào bộ đội khi có đợt tuyển quân hồi tháng 6/1975 để làm bia đỡ đạn sau này bên Kampuchia. Bọn quân quản xuất thân du kích và nằm vùng các địa phương sau này đều bị phế thải. Ngay cả bọn MTGP ở trung ương đều bị thất sủng gần hết. Trương Như Tảng vượt biên, tên phụ tá tự tử vì bị vợ con chửi và làm nhục (hồi kí "Truong Nhu Tang: Une Viet Cong Mémoire" 1984). Bản thân tướng Trà bị cấm ra mắt hồi kí "Những Chặng Đường B2 Thành Đồng" hay "Kết Thúc Cuộc Chiến Tranh 30 Năm" hồi 1987 (có số lượng nhỏ in lại ở hải ngoại) được cho là giành công với Văn Tiến Dũng qua hồi kí "Đại Thắng Mùa Xuân", NXB.QĐND 1977 trước đó. Cựu Tướng Trà sau bị đầu độc và chết trong một bệnh viện ở Singapore; tựa như số phận Nguyễn Bá Thanh sau này vậy!



Số phận nhóm phản chiến CG: Báo "Đối Diện" thân VC của Lm Tín ra hồi tháng 7/1969; sau trao cho cựu Lm Ng.Ngọc Lan đổi thành "Đồng Dao" rồi "Đứng Dậy" trước 30/4. Sau 30/4 báo bị cấm hẳn. Ng. Ng. Lan tâm sự: "tôi liên lạc lần đầu với Mặt Trận hồi 1968 khi Gs Luân đem tôi đến vùng GP Bến Lức gần Mỹ Tho. . .anh em và bạn bè tôi quyết định hợp tác với người Marxist và chúng tôi sẵn sàng nhận lệnh từ du kích quân . . .nhưng cán bộ bảo không cần tôi sang phía họ; chỉ cần GHCG đứng ngòai cuộc chiến". Lm Lan sau này lấy vợ và có đứa con gái; bị VC thất sủng và ám sát hụt súyt chết mấy lần. Tờ "CG và DT" số ra ngày 10/7 đăng chuyện (tuyên truyền lố bịch) ở giáo xứ Bắc Tiến, Gò Vấp: "Một bà ôm bộ đội nói 'cám ơn anh đã vào giải phóng kịp bằng không chúng tôi đã rơi vào tay CS và chịu số phận tử đạo!'. Anh bộ đội nhìn bà ngạc nhiên, trả lời 'nhưng tôi vừa là CG vừa là CS!". Chủ bút là Lm Nguyễn Đình Thi trong nhóm phản chiến từ Paris về. TGM Bình hợp tác với chế độ và ủng hộ nhóm phản chiến các Lm Thi, Tr. Bá Cần, Huỳnh C. Minh và Chân Tín. Lm Minh vẫn còn là tai mắt của chế độ bên trong Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn.



Ông Ngô Công Đức nổi tiếng thế giới với tựa đăng trên báo Tin Sáng của ông "Yankee Go Home!" khiến ông phải sống lưu vong ở Bangkok; sau 30/4 đã trở về Saigon qua ngả Hà Nội để gặp Phạm V. Đồng. Hôm 6/6, ông Đức được Nguyễn Hữu Thọ mời vào dinh ĐL. Ông tuyên bố vu vơ "tôi không phải cộng sản nhưng biết đâu có ngày thành CS cũng nên!". Ông sinh năm 1936, cháu của TGM Bình. Cha là địa chủ bị VM giết. Ông chống cộng kiểu cố TT Diệm (chống đem quân Mỹ vào VN) nên báo TS bị tịch thu 282 lần trước khi bị đình bản hẳn tháng 2/1972. Sau 2 lần bị ám sát hụt; có lẽ để cảnh cáo, ông phải qua Thái ẩn dật. Ông từng được ĐGH Paul VI tiếp kiến. Thụy Điển cấp passport cho ông đi công du các nước để chống can thiệp Mỹ. Trong chuyến Âu du tháng 7/1973, ông đã gặp Phạm V. Đồng. Sau 30/4, nhóm 29 người của ông Đức được miễn tù "cải tạo"; tuy nhiên báo Tin Sáng chỉ được tái bản một thời gian ngắn.



8/ Tống Cựu Nghinh Tân:

Trước 30/4 có khoảng 400 kí giả nước ngoài ở VN; 150 đã di tản trước khi Tân Sơn Nhất đóng cửa. Số 127 kẹt lại sáng 30/4 được chở đi Vientiane- Lào hôm 24/5 bằng 2 chiếc Ilyuchin; trong đó có Tướng Vanuxem. Kí giả Pháp Michel Laurent bị lạc đạn chết trên đường đi Xuân Lộc. Nhiếp ảnh viên Jean-Claude Labbé bị bộ đội chận xét vì đeo băng đỏ và huy hiệu HCM. Khi anh ta trình thẻ đảng viên CS Pháp, tên bộ đội đưa tay lên vành nón cối chào và nói "cám ơn đồng chí!". Hai phái đoàn ICCS Poland và Hungary được VC tổ chức tiệc tiễn về nước chiều 7/5. Khách gồm tướng Trà, Đ.tá Dương Đ. Thao, nữ Th. tá Phương Dung. Sứ thần Vatican, GM LeMaitre gốc Bỉ bị bọn CG phản chiến xua đuổi theo lệnh VC hôm 3/6 nên bộ đội chỉ đứng nhìn không can thiệp; nhưng khi 300 giáo dân từ đường Trương M. Giảng đến giải vây cho ngài thì bị nổ súng chận ở góc Trương Tấn Bửu khiến 3 bị thương và một số bị bắt. Tại TSN sau khi bị trục xuất, sứ thần Vatican LeMaitre bị VC khám kỹ hành lí và chiếu đèn quay phim.



VC trổ tài chơi xỏ -biệt tài vô địch của chúng- các đồng minh cũ của VNCH: Chúng mời cựu đại sứ Pháp Merillon đến dinh ĐL dự lễ chiến thắng hôm 15/5 nhưng lại cố tình in sai giờ khiến ông bị tẽn tò! VC không ra lệnh trục xuất nhưng chỉ lặng lẽ đuổi ông đi hôm 5/6. Vì chỉ có máy bay của International Red Cross và UNICEF thuộc LHQ được đáp nên mãi đến tháng 6 mới có tên ông: "Jean-Marie Merillon, Nationalité Francaise, né 1926, Passeport numéro 593". Ông đi cùng các giáo sư và y tá Pháp bị trục xuất cùng lượt. VC vớt vát cho ông đỡ "mất mặt bầu cua" bằng một trò tiểu xảo: đuổi hết hành khách xuống sân bay rồi mời ông, hành khách đầu tiên được lên lại máy bay! Hành lí của ông do một phụ tá xách đã bị một bộ đội khám xét: VC tỏ thái độ cho Merillon biết ông không còn được hưởng qui chế miễn trừ ngoại giao vì "tội" đã làm đồng minh của kẻ thù chúng.



9/ Cướp Đoạt và Trả Thù

Hãng bia BGI bị chiếm sáng 30/4. Hơn 2,000 công nhân tịch thu súng của vài lính gác rồi lập HĐCM 5 người. Chủ tịch là Huyền Ngọc Thanh 50 tuổi từng bị tù 3 năm ở Chí Hòa về tội nằm vùng trong TCĐ để cung cấp thuốc tây cho VC trong bưng. Gia đình chủ Pháp nay chỉ còn là chuyên viên kỹ thuật của BGI. Chính ủy nay là Ng.Nam Lộc 53 tuổi từng là CT.CĐLĐ trong vùng VC; hồi 1956 nằm vùng coi kho nhà đèn Saigon bị bắt; ra tù 1961 rồi vào bưng. Hãng pin Con Ó cũng bị tịch thu. Tiệm vàng Bảo Chu ở 165 Tự Do nay phải bán cháo $150/chén. Continental Palace Hotel do Mathieu Franchini làm chủ từ thời Pháp. Con trai Philippe kế thừa sau khi ông qua đời; đã trao cho ông Lợi quản lí‎ vì anh ta mê hội họa hơn kinh doanh và thường xuyên sống bên Pháp. Philippe sang Saigon trước 30/4 một tháng để bán khách sạn này nhưng bất thành. CP Hotel bị bộ đội tịch thu hồi tháng 6/75 rồi đuổi nốt hai khách trọ cuối cùng là hai kí giả Terzani của Italia và James Fenton của Anh. Givral Hotel từng được đổi tên thành Garden Hotel khi chủ Pháp về hưu mở tiệm bánh kế bên và bán lại bar cho người Tàu Cholon thời Mỹ vào VN. Nhưng mọi người đều thích gọi tên cũ. Đây là trung tâm gián điệp lớn nhất và nhộn nhịp nhất ĐNÁ thời đó. Gián điệp đã cung cấp tin BMT thất thủ sớm nhất cho kí giả Pháp Paul Leandri của AFP khiến ông bị CSQG bắn chết ngay trước cổng BTL ở Saigon hồi tháng 3/75 sau khi ông gởi tin này đi. Một cảnh thương tâm xảy ra ở Givral trước ngày bị tịch thu: phụ nữ tên Phụng, ca sĩ, bị người tình quận trưởng (Q. X?) bỏ rơi sau khi di tản với vợ con; đã đến lảm nhảm điên loạn một mình suốt ngày. Xe hơi tư bị tịch thu và xung công; mang các bảng số "K1, K2, K3 . . ." để phân biệt ban ngành. Xe gắn máy, quạt trần (bị ngộ nhận là "máy chém" lúc đầu), TV, quạt bàn, phonograph, stereo cassette . . .bị gom chở về BV như chiến lợi phẩm. Chiến thuật cướp đoạt tài sản của VC bắt đầu với 300,000 dân Saigon bị đuổi đi "Kinh Tế Mới" 3 tháng sau ngày 30/4; và nhất là cuộc đánh tư sản và đổi tiền sau đó chỉ là đợt 2 sau vụ cướp 27 tấn vàng trong ngân hàng QGVN.



Hàng ngàn "tòa án nhân dân" mở ra khắp miền Nam sau 30/4. Nạn nhân là các chiến sĩ quốc gia nhiều công trạng như Lê Trình ở Quảng Ngãi hôm 17/4, xã trưởng Túy ở Tân Quí Đông, Nhà Bè hôm 4/7, Thiếu Úy Lê Nhật Thanh ở Châu Đốc hôm 12/7, Lê Văn Hội hôm 19/6 ở quận Bình Hòa với những chứng cớ viển vông đến độ "quan tòa" cũng không thể kết án tử hình! Cha xứ nhà thờ Vinh Sơn ở đường Trần Q. Toản Saigon bị vu cáo và bắt đi thủ tiêu ..vv.. Một Đại úy viết báo tường do VC tổ chức trong một nhà tù ở Vĩnh Long đã dại dột khai thành tích thắng trận giết nhiều VC; tịch thu nhiều súng AK47 vẫn còn nguyên trong bọc mỡ bò hiện chôn dưới lòng sông. . . khúc. . .; thay vì được về sớm như mong đợi thì đã bị ra pháp trường ngay hôm sau! GM Thuận, cháu cố TT Diệm, bị bắt tù giam ngoài bắc lâu năm; sau bị trục xuất sang Úc, nơi mẹ ngài tỵ nạn.



10/ Kết Luận:

Giậu đã đổ hôm 30/4/1975; chỉ còn hồn thiêng màu cờ tồn tại; nhưng bìm thì vẫn leo suốt 40 năm qua; thậm chí còn vươn cánh tay dài ra tận hải ngoại khắp 5 châu lục để ăn sâu bám rễ. Chúng núp danh nghĩa ngoại giao, kinh doanh, du lịch và tôn giáo để hoạt động kinh tài cho VC qua việc bòn rút hầu bao nạn nhân của chúng; những người từng bị VC cướp trắng tay 40 năm qua; từng bị giam hãm đọa đầy khổ sai nhục nhằn; thân nhân bị mất mạng trong rừng sâu nước độc có tên mỹ miều là "trại cải tạo" và vùng "kinh tế mới"; hoặc dưới đáy đại dương sâu thẳm mênh mông tăm tối. Nay bị chứng "dementia" hay thậm chí "Alzeimer" tự nhiễm nên có kẻ đã chóng quên bài học còn rướm máu; thậm chí còn manh tâm đón gió trở cờ để được VC cho chấm mút và làm tay sai.



Họ lợi dụng Dân Chủ để được bảo vệ trước pháp luật bản xứ; lợi dụng Tự Do bản xứ để chửi quân cán chính VNCH, những người đã hy sinh cho họ được an lành ấm no suốt 20 năm điêu linh ở miền Nam vì mưu đồ bán nước của CSBV. Họ đồng lõa với quan thầy VC trong âm mưu dìm hồn thiêng sông núi vào vũng bùn bồn rửa; bôi bác một tôn giáo đã có công sản sinh ra chữ quốc ngữ Việt và là nền tảng tạo dựng nên cường quốc đang cho họ dung thân phì gia! Họ có còn xứng đáng là con người; nhất là con người lưu vong biết tự trọng với căn cước tỵ nạn; không "nhổ rồi lại liếm" lời thề chống chủ nghĩa Cộng sản năm xưa khi xin tỵ nạn chính trị và thi vào quốc tịch bản xứ của chính mình? Hay họ chỉ muốn làm thân bìm hoang dại bám víu lên bức giậu xiêu vẹo để làm tiền mà sống tầm gửi?



HÀ BẮC

(tham khảo tài liệu của Nayan Chanda, Tiziano Terzani, Pierre Darcourt, Bùi Tín, Văn Tiến Dũng, Trần Văn Trà, Trương Như Tảng và các báo chí khác

Bài Xem Nhiều