We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 22 April 2015

Quốc Hận 30-4, Thương Tiếc Những Nữ Anh Thư Tử Chiến với Giặc Thù CS


Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt cộng nhào vào, chị rút chốt.
Nữ Quân Nhân VNCH 1971

NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH THỜI LỬA BINH

Trong cuộc chiến tranh bảo quốc chống ngăn cơn sóng đỏ của cộng sản quốc tế với đạo quân tay sai tiền kích của chúng là binh đội cộng sản Bắc Việt và Việt cộng miền Nam, khuôn mặt của những người vợ lính dường như đã rất mờ nhạt đằng sau chất muối trắng đẫm đầy trên lưng áo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng chiến tranh càng nặng độ thì hình ảnh những người chị vô danh ấy đã dần hiện rõ trong một ánh sáng diệu kỳ, mà chúng ta chỉ có thể cúi người thật sâu xuống để tôn vinh và ngợi ca. Ðó là những người lính không có vũ khí, không số quân, không tiền lương, không cả lương thực hành quân, nhưng là những người lính tỏa hào quang chói sáng nhất trong những hoàn cảnh nghiệt ngã thắt ngặt nhất, mà đã góp phần đem chiến thắng quyết định trên chiến trường.
Nữ Anh Thư VNCH

Ðó là NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH, những người chị cao cả mà đã cùng chồng dấn mình trong cơn bão lửa của chiến tranh, cùng chia sẻ cái chết, có khi các chị hy sinh trước cả các anh. Những cái chết anh dũng trong âm thầm đó nào ai biết được. Không có Lá Quốc Kỳ Vàng Ba Sọc Ðỏ phủ trên chiếc quan tài được ghép thành từ những mảnh ván đơn sơ, không có chiếc huy chương Anh Dũng Bội Tinh Với Nhành Dương Liễu, không cả tiếng kèn truy điệu ai oán.

Những người lính đóng đồn cùng vợ con của các anh cùng sống chui rúc trong những cái hầm tối tăm ngột ngạt, dưới những những cái hố nhỏ ngập đầy nước. Những người lính nghèo nàn, rách rưới và tội nghiệp co ro ôm súng gác giặc và đánh giặc trong cái lạnh xé thịt của đêm. Ăn uống thì đạm bạc đến không có gì đạm bạc hơn được nữa. Một cái nồi cơm méo mó, với vài con cá nhỏ kho trong chất nước mắm hạng bét mặn chát những muối, một dĩa rau muống ruộng hay rau đắng xơ xác, mà có thể tìm thấy mọc đầy khắp những vũng nước đọng trên những cánh dồng lầy.

Cả gia đình người lính Ðịa Phương Quân hay Nghĩa Quân quây quần chung quanh mâm cơm đơn sơ đó chấp nhận sự thua thiệt của mình. Không than thở, không ta thán và vui lòng với niềm hạnh phúc mong manh của mình. Một năm 365 ngày, mười năm, hai mươi năm, cho đến ngày cuối cùng của cuộc chiến, hơn bảy ngàn đêm những người chị ấy chưa từng bao giờ biết ngủ yên giấc là gì. Chị thao thức đến nửa khuya, lắng nghe tiếng đại bác vọng ì ầm về thành phố từ phía mặt trận có anh ở đó, chị thổn thức nguyện cầu cho anh được bình yên, để anh có một ngày được về với chị và con, dù chỉ là những khoảnh khắc về phép thật quá hiếm hoi. Hay nếu chị cùng chồng trấn thủ lưu đồn, anh chiến đấu cơ cực như thế nào, anh ăn ngủ chập chờn ra sao, thì chị cũng cơ cực và chập chờn ngần ấy.

CHỊ PHẠM THỊ THÀNG, NỮ ANH THƯ ÐẤT GÒ CÔNG

Người vợ lính ở tiền đồn cáng đáng cùng một lúc hai công việc, mà công việc nào cũng biểu hiện hình ảnh và đức tính cao quí của người phụ nữ Việt Nam. Thứ nhất, đức tính đảm đang tận tụy của người vợ, người đàn bà Việt Nam quán xuyến chuyện gia đình, trông nom dạy dỗ con cái và nấu nướng những bữa ăn.

Thứ hai, khi quân giặc đã thấy dẫy đầy ngoài những vòng rào kẽm gai, thì những người nữ chiến sĩ chưa từng một ngày được huấn luyện ở quân trường ấy đã chiến đấu như bất cứ người lính chuyên nghiệp nào. Chị cũng biết dùng máy truyền tin gọi Pháo Binh, chị biết sử dụng thành thạo mọi loại súng trong đồn có, chị ném lựu đạn ác liệt và chính xác, tấm thân nhỏ bé của chị oằn nặng dưới những thùng đạn tiếp tế. Và chị cũng sẵn sàng nằm gói thân thiên thu trong chiếc poncho, để tên chị vĩnh viễn đi vào lịch sử. Chúng ta có nhiều người chị như vậy lắm. Ở ngay tại đồng Giồng Ðình này thì ít nhất cũng có những chị Phạm Thị Thàng và Trần Thị Tâm.
Ðêm 2.10.1965, với âm mưu làm xáo trộn hệ thống tiếp viện của những đơn vị diện địa trong khu vực Tiền Giang để dễ dàng thanh toán mục tiêu chính nào đó, chỉ trong một đêm Việt cộng đã tổ chức tấn công 11 vị trí của quân ta với quân số thật lớn. Ðồn Giồng Ðình thuộc tỉnh Gò Công cũng bị áp lực rất nặng của quân địch khi hứng chịu cuộc cường kích của 300 lính cộng.

Ðây là một lực lượng chính qui Việt cộng với hỏa lực rất mạnh, chúng quyết tâm hủy diệt đồn Giồng Ðình nhỏ bé, mà chỉ có vỏn vẹn một Trung Ðội Nghĩa Quân 24 tay súng trấn giữ. Là những con ác quỷ hung tợn và thâm độc, lực lượng cộng quân đã bố trí ở hướng có nhiều nhà dân chúng, vừa làm bia đỡ đạn cho chúng, vừa ngoác miệng tuyên truyền gây căm thù nếu quân ta bắn trả. Người dân, nhất là những ông bà lão già, đàn bà và trẻ con luôn luôn là những cái bia sống đỡ đạn cho bọn giặc hèn nhát gọi là những người “giải phóng”. Với quân số ấy, vũ khí hùng hậu ấy mà chúng cũng ngán ngại 24 chiến sĩ Nghĩa Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến nỗi phải cậy nhờ đến máu thịt của đồng bào để có cơ may thủ thắng, thì còn từ ngữ nào, hình dung từ tồi tệ nhất nào để diễn tả bộ mặt cùng hung cực ác rất đốn mạt của cộng sản nữa không.

Ðúng 2 giờ đêm, quân cộng dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Thượng Úy Sáu Bích, đã mở cuộc tấn công từ hai mặt đánh vào Giồng Ðình, với sự tin tưởng điên rồ, rằng chúng sẽ thanh toán cái tiền đồn nhỏ xíu này trong một thời gian ngắn. Chiến thắng dường như là chắc chắn, vì với quân số mười lần hơn, mười đè một, dẫu chúng có thí chín tên thì cũng có thể hạ gục được một chiến sĩ Nghĩa Quân Giồng Ðình.

Trên lý thuyết, thì giả thiết đó dường như đúng. Nhưng trên trận địa, người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn thể hiện những chuyện phi thường, mà rất hằng hiện hữu trên bất kỳ chiến trường nào, quả thật cộng quân đã chọn lầm mục tiêu. Sau ba đợt tấn công hung bạo, tưởng gạch đá cũng phải nát thành tro, đã chiếm được 2 trong số 3 lô cốt trong đồn, cộng quân vẫn phải rút trở ra. Cuộc tấn công lần thứ tư được hối hả tổ chức và thực hiện, với quyết tâm san bằng Giồng Ðình. Nhưng liệu 24 chiến sĩ Nghĩa Quân có cho phép điều đó không. Câu trả lời là không, không chỉ đến từ ý chí hừng hực tử thủ của các anh, mà còn là từ đôi bàn tay yếu mềm của những người vợ lính đang sống cùng với chồng con của các chị trong đồn. Phải, cuộc chiến thắng cuối cùng của Nghĩa Quân đồn Giồng Ðình sẽ không thể thực hiện được, nếu không có sự góp sức chiến đấu của những người chị này. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Không phải chỉ những người chị dũng cảm ấy không thôi, mà cả trẻ con cũng đánh.

Ðồn Giồng Ðình nằm ở một vùng thôn ấp hẻo lánh trong tỉnh Gò Công, do một Trung Ðội Nghĩa Quân trấn giữ, với thành phần chỉ huy gồm có anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, anh Lê Văn Hùng, Ðồn Phó và anh Lê Văn Mẫn, âm thoại viên. Trấn thủ một vị trí hung hiểm như vậy, không chỉ có 24 tay súng mà đã đủ, nên tất cả những người vợ lính trong đồn đều đã được chồng huấn luyện sử dụng thành thạo những loại máy móc truyền tin và vũ khí. Như vậy số tay súng đã được nhân lên gấp đôi.

Trong nhiều trường hợp, đến những giây phút tử sinh tuyệt vọng nhất, những em bé cũng tham chiến, khi các em gan dạ bò dưới lưới đạn của giặc để đem tiếp tế đến cho cha và mẹ. Không ai buộc những người vợ lính, con lính cầm súng đánh địch. Nhưng chính những người vợ lính, con lính ấy làm sao có thể ẩn náu tìm cái sống trong khi chồng và cha của họ sắp ngã gục ngoài chiến hào.

Khi chấm dứt đợt tấn công thứ ba, địch tạm rút để tái tổ chức tấn công, thì tình trạng bên trong đồn Giồng Ðình đã khá là bi đát. Ðã có đến 16 chiến sĩ Nghĩa Quân bị thương, chỉ còn 8 Nghĩa Quân còn chiến đấu được. Âm thoại viên Lê Văn Mẫn bị thương ở đầu trong lúc anh đang cố gắng gọi máy về Tiểu Khu.

Anh Mẫn gục xuống buông chiếc ống liên hợp. Chị Trần Thị Tâm, vợ anh Mẫn vội đặt con bên cạnh anh và chộp lấy ống liên hợp. Liên lạc được tiếp nối, chị Tâm nghiễm nhiên trở thành một âm thoại viên, và là cứu tinh của đồn Giồng Ðình. Ở một góc đồn, anh Lê Văn Hùng và chị Phạm Thị Thàng, vợ anh, và hai đứa con nhỏ đang phải đối đầu với một lực lượng quá đông của địch.

Nhìn ra ngoài hàng rào kẽm gai, giặc đã đã tràn vào đen ngòm như những con quái vật hung hãn. Anh Hùng chỉ còn trong tay cây tiểu liên Thompson và 16 trái lựu đạn, chị Thàng có một khẩu Carbine. Thật tội nghiệp cho hai đứa nhỏ, sức ép của bộc phá và súng SKZ của Việt cộng bắn vào quá gần, các em không còn khóc được nữa mà đã nằm bất động dưới chân hai vợ chồng anh Hùng. Chị Thàng thì thào:

- Chúng đang phá lô cốt chánh, để em bắn yểm trợ anh bò về giữ. Lô cốt mất là đồn mình mất, em nằm tại đây giữ mấy đứa nhỏ, nếu chúng tràn vào thì... thì... em ném lựu đạn ra, có thể cầm cự đến sáng được.
Anh Hùng ngần ngừ, anh rưng rưng nhìn vợ con, rồi nhìn về phía lô cốt. Tiếng súng từ lô cốt cuối cùng đã yếu ớt lắm, có lẽ mấy Nghĩa Quân cố thủ ở đó đã kiệt quệ quá rồi. Số phận của anh Thi Ðồn Trưởng thế nào. Anh Hùng lắc đầu không dám nghĩ đến chuyện xấu nhất đã xảy ra cho đồng đội. Nhưng nếu Việt cộng chiếm được lô cốt ấy, thì coi như đánh dấu chấm hết cuộc kháng cự. Anh Hùng phải quyết định, dù quyết định đó quá đau xót, là bỏ lại vợ con, mà trong lúc quân giặc đã hò hét ngay sát bên rồi:

- Anh chạy theo giao thông hào, em bắn yểm trợ cho anh.

Anh Hùng nhìn chị Thàng và hai đứa nhỏ lần cuối cùng. Trong lòng anh quặn lên một nỗi bi thương. Trời ơi, vợ con mình. Hai đứa nhỏ chẳng biết còn sống hay đã chết. Anh phóng mình xuống hào chạy băng băng về hướng lô cốt. Cây Carbine trên tay chị Thàng run lên, những tràng đạn rải vào những cái bóng đen đã quá gần. Anh Hùng đã bò vào được lô cốt, giữa những tiếng đạn nổ rền trời. May quá, anh Thi trưởng đồn vẫn nguyên vẹn. Súng SKZ của địch thụt ầm ầm, nhưng anh Hùng vẫn có thể nghe được từng tiếng lựu đạn nổ từ phía công sự của chị Thàng.

Nước mắt anh rơi lả chả trên nền đất. Anh đã đếm được đến con số 15, mà tiếng súng của địch vẫn nỗ dòn dã ngay sát tuyến phòng thủ của chị Thàng. Anh biết giây phút định mệnh thảm thiết nhất cũng đã điểm. Chị Thàng sẽ làm gì với quả lựu đạn thứ 16. Anh Hùng đau đớn rên lên trong lòng : “Chỉ còn một trái lựu đạn nữa thôi, làm sao em cầm cự được đến sáng”. Chính anh cũng không có được một giây để nghĩ tiếp cái gì sẽ xảy đến cho vợ con mình, vì dưới chân lô cốt anh tử thủ đã đông nghẹt quân giặc. Ðủ mọi thứ loại súng nỗ chát chúa khắp đồn, anh Hùng không biết chắc là mình đã nghe được tiếng nổ của trái lựu đạn thứ 16 chưa.

Cuộc chiến đấu đã kéo dài được một tiếng đồng hồ, quân địch đã phá được lớp kẽm gai cuối cùng và sắp tràn ngập đồn Giồng Ðình. Lúc đó là 3 giờ sáng rạng ngày 2.10.1965. Tình hình đã quá nguy ngập. Anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, quyết định thà hy sinh còn hơn là để đồn lọt vào tay địch. Anh giật lấy ống liên hợp từ tay chị Tâm và thét lớn:

- Hãy bắn lên đầu chúng tôi ! Bắn vào giữa đồn... Hai lô cốt thứ nhứt và thứ hai đã thất thủ. Tụi tui ở lô cốt thứ ba. Hãy bắn lên trên đầu chúng tôi, Việt cộng đông lắm. Bắn đi... bắn....
Sau tiếng gọi thống thiết của người Ðồn Trưởng, Pháo Binh Tiểu Khu Gò Công lập tức bắn vào đồn với loại đầu nổ cao. Loại đạn đặc biệt này nổ khi cách mặt đất chừng 4, 5 thước, rất hữu hiệu tiêu diệt biển người địch, quân ta núp trong lô cốt vẫn có hy vọng sống sót. Những cái bóng đen nhập nhoạng dưới ánh sáng hỏa châu văng tung tóe, tiếng kêu dẫy chết của chúng như tiếng rú của quỷ. Hàng tràng đạn nổ cao vẫn dội ùng oàng xuống đồn. Chiếc lô cốt cuối cùng vẫn đứng vững, anh Thi cùng anh Hùng từ trong những lổ châu mai bắn tỉa từng tên địch. Giữa tiếng súng nổ dòn, dường như người ta nghe âm thanh rì rì của máy bay. Không Quân Việt Nam đã tới. Những chiếc A1 khu trục cơ đã xuất kích. Ðến đây thì Thượng Úy Sáu Bích, tên chỉ huy trận đánh đã có thể nhận thấy rằng, cuộc tấn công đồn Giồng Ðình đã đánh dấu chấm hết, với phần thắng nghiêng về phía Nghĩa Quân Việt Nam Cộng Hòa. Lúc 4 giờ 30 sáng, chiến địa hoàn toàn im tiếng súng. Quân địch đã kéo những xác chết và những tên bị thương chạy trốn vào phía bóng tối.

Khi ánh hừng đông của một ngày mới đã lên, hai Ðại Ðội Ðịa Phương Quân do chính Trung Tá Tiểu Khu Trưởng Gò Công chỉ huy đã đến và tổ chức bung quân ra lục soát. Quân cộng đã để lại trận địa 23 xác chết, ở giữa đồn có 6 xác khác nằm bên cạnh lô cốt thứ ba, nơi mà anh Ðồn Trưởng Thi, Ðồn Phó Hùng và chị Tâm giữ máy truyền tin đã kháng cự mãnh liệt, thà chết không hàng. Những tên Việt cộng này mang trên mình rất nhiều lựu đạn và bộc phá, chắc là chúng quyết thí mạng để phá cho bằng được ổ kháng cự cuối cùng này.

Anh Thi và anh Hùng đã bắn địch theo lối xâu chéo, nghĩa là bắn chéo góc với nhau tạo thành một xạ trường quét gọn tất cả những tên cộng nào nằm trong đó. Ngày hôm sau, một người thường dân bị Việt cộng bắt đi tải thương lén trốn về được đã cho biết số bị thương của chúng chở đầy sáu chiếc ghe tam bản. Một lính cộng may mắn bị thương tên Dương Văn Thiều, 18 tuổi, sống sót và bị bắt làm tù binh. Tại sao may mắn ? Vì nếu anh ta bị kéo đi theo vào bưng biền, nếu không bị chết vì nhiễm trùng, bị những quân y sĩ Việt cộng cưa cắt bằng những loại cưa và đục của thợ mộc, thì cũng bị cấp chỉ huy ra lệnh mang anh đi thủ tiêu. Ðó là lý do giải thích tại sao sau ngày 30.4.1975, người dân Miền Nam hiếm thấy người thương phế binh cộng sản trên đường phố.

Nhưng đối với anh Hùng, thì tất cả những gì mà Viêt cộng đã trả giá cho cuộc tấn công không làm anh quan tâm. Ngay khi tiếng súng vừa chấm dứt., quân cộng đã rút đi, thì anh đã như một người điên lao mình ra chỗ chiến hào mà chị Thàng đã một mình một súng trấn giữ ở đó, với một niềm hy vọng mỏng manh, rằng đừng bao giờ trái lựu đạn thứ 16 được rút chốt. Anh Hùng bò vào khúc hào mà anh đã nuốt nước mắt chạy đi. Chị Thàng cùng hai đứa con của anh nằm chết bên cạnh ba xác Việt cộng. Anh Hùng gục xuống như thân cây chuối bị một nhát dao bén chém ngọt làm đôi. Anh biết, nếu trái lựu đạn thứ 16 nổ thì chị Thàng cũng đi vào cõi chết, vì chị Thàng sẽ không bao giờ cho phép giặc bắt chị hoặc đạn của chúng bắn vào người chị. Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt cộng nhào vào, chị rút chốt.

Tiếng nổ kinh thiên cùng với xác thịt và máu của người nữ chiến sĩ đó đã được đánh đổi với ba mạng giặc. Anh Hùng ôm xác vợ con vào lòng và gần như ngất xỉu. Nhưng khi nhìn ra ngoài, những xác giặc thù nằm ngỗn ngang khắp nơi, trong nỗi đau khổ tột cùng của mình, anh Hùng thấy trong lòng dậy lên một niềm tự hào đến nghẹn ngào. Sự hy sinh của chị Thàng đã cứu sống được tất cả những thương binh Nghĩa Quân cùng vợ con các anh, nhưng trên hết cứu sống chính sinh mạng của người chồng mà chị yêu mến. Những viên đạn Carbine và 15 trái lựu đạn của chị đã đóng góp vào sự tồn tại kỳ diệu của đồn Giồng Ðình. Một người lính chuyên nghiệp và thiện chiến nhất cũng chỉ làm được đến ngần ấy. Nếu cái lô cốt thứ ba không đứng vững, thì chắc chắn tất cả sinh mạng mấy mươi người Nghĩa Quân và vợ con của đồng Giồng Ðình đều sẽ chết hết.

Anh Hùng ẳm chị Thàng ra ngoài, để trông thấy những người còn sống, những người vợ lính khác đã gục đầu khóc tiếc thương chị Thàng. Những nấm mộ đất được đắp vội với ba tấm bia tang tóc. Một của chị Phạm Thị Thàng, và hai kia của cháu Lê Văn Dũng và Lê Tấn Sỹ. Ôi, những người vợ của lính trong thời lửa binh. Chị Phạm Thị Thàng, chị Trần Thị Tâm, và nhiều người chị khác trên khắp nẽo chiến trường, chị Thạch Thị Ðịnh, chị Bùi Thị Xiếu, chị Am Reng. Người lính của chúng ta, những công dân xếp hạng chót nhất trong bậc thang xã hội, nhưng là những người hứng chịu oan nghiệt trước nhất, là bức tường chắn cho sự an toàn của hậu phương phồn thịnh và hạnh phúc. Trong đời của các anh không có được một thứ ưu tiên vật chất nào cả, ngoài cái ưu tiên phải hy sinh và chết. Có những người lính từ Miền Tây ra tận miền hỏa tuyến hay trên vùng cao nguyên sương mù Miền Trung, nhiều năm liền không có lấy được một ngày phép về thăm gia đình. Nếu anh may mắn, thật đau xót, quân thù bắn anh bị thương, thì anh mới có cái diễm phúc được nắm trong tay tờ giấy phép. Còn nếu sự gọi là may mắn đó đi xa hơn một bước, anh chết, thì anh được phép dài hạn trở về và vĩnh viễn được an nghỉ ở nơi đã sinh ra anh. Ðầu năm 1972, trong một trận đánh của Sư Ðoàn 3 Bộ Binh tại khu vực Cồn Tiên nằm sát phía Nam khu phi quân sự bên này bờ sông Bến Hải, một tiểu đoàn sau nhiều ngày cố gắng đã không thể chiếm được một cao điểm. Vị Tiểu Ðoàn Trưởng gọi bốn người lính gốc Miền Tây lên hứa sẽ cấp mỗi anh mười ngày phép nếu các anh chiếm được ngọn đồi ấy. Bốn người tráng sĩ Kinh Kha đã nai nịt tề chỉnh, mang thật nhiều lựu đạn bò lên, mỗi người cầm một cây gậy ngắn dò đường. Ðêm tối như mực. Hễ chọt trúng cái lổ nào là thảy lựu đạn vô cái lổ đó, vì ở đó chính là cái miệng hầm chốt của địch. Ðến sáng, bốn người dũng tướng vô danh đó đã reo hò trương Cờ Vàng Việt Nam trên đỉnh cao điểm. Ôi, những ngày phép đã trở thành một ân huệ chứ không phải là một quyền lợi đương nhiên của những người lính trận.

Người vợ lính cùng chia sẻ với chồng những nỗi đắng cay thiệt thòi đó, bằng tất cả sự câm nín nhẫn nhục và vui lòng với những gì mình có. Một góc hầm tối tăm, một chiếc ghế bố cũ, vài cái nồi, chảo nhem nhuốc, những cái chén sành và những đôi đũa tre, cùng tiếng cười của lũ trẻ thơ cũng đủ làm nên thành niềm hạnh phúc vĩ đại của những người vợ lính. Chị Thàng đã chết đi, anh linh của chị cùng hai cháu bé đã thăng thiên lên cõi vĩnh hằng, nhưng những người còn sống cùng thời với chị, cho mãi đến tận bây giờ và ngàn đời sau, dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ quên tên chị. NGƯỜI CHỊ CAO CẢ PHẠM THỊ THÀNG. Vì tên chị đã được trân trọng ghi chép vào những trang bi tráng nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam chống cộng sản quốc tế và Hà Nội, một lũ hung đồ diệt chủng, diệt dân tộc gớm ghiếc nhất của thế kỷ thứ 20 và của lịch sử hình thành nhân con người.

AMRENG, NGƯỜI NỮ CHIẾN SĨ CAO NGUYÊN

Quân cộng sản hành quân trên vùng cao nguyên thường khinh rẻ và húng hiếp các sắc dân Thượng rất thậm tệ. Chúng bắt trai tráng đi dân công, thậm chí cho bổ sung vào những đơn vị Thượng cộng, người làng thì bị ép buộc đóng góp lương thực, lúa gạo. Chúng dùng muối, là thứ tối cần của người dân miền cao, để đổi chác một cách rất bất lợi cho người Thượng. Người Thượng sống vất vả quanh năm, chỉ trông cậy vào những mảnh đất rừng khai phá để trồng trọt chút hoa màu hay trồng lúa rẫy, không đói đã là may lắm rồi, có còn đâu dư dả để cung phụng cho bọn phỉ cộng. Có nhiều trường hợp cả làng trong rừng sâu chịu không nỗi cảnh áp bức, giết chóc, đã kéo nhau ra quận hay tỉnh để xin nương náu với người Kinh.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã lập Bộ Phát Triễn Sắc Tộc để giải quyết những vấn đề của người thiểu số. Hàng trăm trại tiếp cư tị nạn cộng sản đã được thiết lập để đón tiếp đồng bào Thượng và giúp đỡ đồng bào tạo dựng cuộc sống mới. Ðất canh tác được cấp phát vô điều kiện cho đồng bào Thượng tị nạn cộng sản. Thông thường thì mỗi gia đình thiên tai hay tị nạn đều được cấp phát 10 bao xi măng và 20 tấm tôn để cất lại một căn nhà nhỏ. Một nước nhỏ, nghèo là Việt Nam Cộng Hòa, quanh năm chiến tranh, ngân khoản thiếu thốn, mà đã cắn răng gồng gánh giúp đỡ hàng triệu người đồng bào bất hạnh của mình. Không phải “Lá lành đùm lá rách nữa”, mà là “Lá rách đùm lá nát”. Ðã vậy mà thôi đâu, những làng định cư nhỏ bé và nghèo nàn ấy vừa được dựng lên chưa được bao lâu, thì Việt cộng đã tràn về đốt phá tan hoang. Những chiếc lá rách nát lại cắn răng san sẻ cho nhau những gì mình có. Dưới mắt cộng sản, thì những người dân chạy về phía chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa xin được che chở và giúp đỡ, đều mang cái tội tày trời là “dân ngụy”, là “phản động”, dù có bắn bỏ hay đốt cháy nhà cửa của họ cũng là chuyện trừng phạt đương nhiên của điều mà chúng gọi là cuộc “cách mạng giải phóng”.

Với bản chất là một lũ cướp chuyên nghiệp và man rợ, cộng sản Hà Nội hiện nay không bao giờ từ bỏ cơ hội chiếm đoạt đất khẩn hoang của người Thượng. Chúng chờ cho các sắc tộc Thượng khai phá rừng tạo dựng nên thành những vùng sinh sống màu mỡ trên những tỉnh cao nguyên, là chúng kiếm chuyện cứớp đoạt một cách trắng trợn ngay, nại lý do đất đai thuộc về quyền quản lý của nhà nước, người dân không có quyền sỡ hữu. Mặt khác, chúng áp dụng hình thái thực dân, cho di chuyển dân Kinh gốc Miền Bắc vào ở trên đất mà người Thượng đã sinh sống từ ngàn năm, lấn dần, lấn dần, người Thượng kém thế phải lùi mãi vào tận rừng sâu,ở chỗ chỉ có nước độc, bệnh hoạn và đói kém. Ðã thế mà cộng sản nào chịu buông tha, chúng vẫn cứ cho phép những người gọi là di dân tràn vào như vết dầu loang, để đồng bào Thượng chịu không nỗi phải chạy qua đất Miên xin tị nạn. Ðây là một tiến trình có chủ mưu, có sách lược để tiêu diệt dần mòn dân Thượng. Chúng ta có thể thấy ngay rằng, những người di dân Miền Bắc đã không biết rằng mình đang được rải ra làm phên dậu phòng thủ dọc theo dãy biên thùy Trường Sơn, án ngữ con đường đổ xuống đồng bằng duyên hải, nếu có một đạo quân đánh sang từ đất Lào và Miên. Cũng tốt, cái phên dậu đó giống như con dao hai lưỡi, rồi cũng có một ngày những đồng bào di dân nghèo Miền Bắc đó sẽ trở thành một lực lượng mạnh có khả năng thọc sâu mũi dao vào tận tim của bọn cộng sản để tiễn chúng xuống tận đáy địa ngục.

Tức nước thì có lúc cũng phải vỡ bờ. Ngày 12.4.2004, nhiều chục ngàn dân Thượng của các sắc tộc sinh sống trong những tỉnh Kontum, Pleiku, Darlac, Phước Long, Bình Long đã kéo vào những thành phố tỉnh lỵ để hình thành một cuộc phản kháng bất bạo động, phản đối cộng sản Hà Nội đàn áp đức tin đạo Tin Lành, chiếm đoạt đất đai và quyền sống căn bản của người Thượng. Dưới mắt cộng sản, dù chỉ là một biểu hiện phản đối nhỏ cũng đã được gán cho cái tội phản động, tội chết, chứ đừng nói gì đến những cuộc tập trung đông đảo như vậy. Hàng sư đoàn bộ binh của cộng sản đã được điều động lên phối hợp với công an đàn áp dã man cuộc tập trung. Hàng trăm đồng bào Thượng đã bị bắn chết, những người bị thương bị đem vào cô lập trong bệnh viện nhà nước, không ai có thể vào thăm viếng, kể cả những phóng viên và những nhà ngoại giao nước ngoài.

Ngày đầu xuân Tân Hợi 1971, trên miền cao nguyên của Quân Khu II, trong chiến dịch quân sự mà cộng sản gọi là Cao Ðiểm Tân Hợi nhằm quấy phá những tỉnh biên thùy đã không thực hiện được. Có thể bởi hậu quả của những cuộc hành quân Tây chinh vượt biên Cửu Long của Quân Ðoàn IV, Toàn Thắng của Quân Ðoàn III và Bình Tây của Quân Ðoàn II trong năm 1970 đã gây tổn thất nặng ở những kho tiếp tế hậu cần của cộng sản, nên chúng khó thể đủ sức mở được những mặt trận lớn như mong muốn. Ðêm 31.1.1971, lúc 3 giờ sáng, một lực lượng cộng quân tấn công vị trí của Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân tại làng Plei Kênh Săn thuộc tỉnh Pleiku..

Cuộc tấn công đã rất sớm bị thảm bại vì quân địch đã không thể ngờ rằng, có những người vợ lính cũng đã chiến đấu dũng mãnh như thế nào. Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân đa số chiến sĩ là người dân tộc Thượng, là những chiến sĩ sinh ra và lớn lên ở giữa núi rừng cao nguyên, đã hun đúc các anh trở thành những con người cứng rắn như những tảng đá khổng lồ trên triền dãy Trường Sơn. Người Thượng quen sống kiếp du mục du canh, nên khi người lính Thượng Ðịa Phương Quân đóng đồn ở đâu thì vợ con của các anh cũng đi theo và nhanh chóng thích ứng với môi trường cùng cuộc sống mới ở nơi đó. Tuy là phụ nữ, nhưng những người đàn bà Tây nguyên dẻo dai không kém gì người đàn ông Thượng. Vai mang gùi nặng trên lưng, chân trần chai sạn vì đá cứng và gai nhọn của núi rừng, cùng hoàn cảnh sinh tồn khắc nghiệt, bất cứ một người phụ nữ Thượng nào cũng đã được thiên nhiên rèn luyện nên thành một mẫu người khỏe mạnh, rắn rỏi, nhưng vẫn giữ được những dường nét mềm mại tràn đầy mạch sống. Cho nên khi cuộc chiến đấu nổ ra, thì những người đàn bà đó đã rất nhanh chóng trở thành những người nữ binh hăng hái cầm súng đánh địch. Một trong những người chị đó là chị Ksor Amreng, vợ của Binh Nhứt Kpa Dan.

Anh chị Dan và Amreng đều là người sắc tộc Djarai, sinh quán ở quận Phú Túc, tỉnh Phú Bổn. Từ sau khi thành hôn, anh Dan nhập ngũ, thì chị Amreng cũng đã theo chồng lên sinh sống trong những tiền đồn hẻo lánh ở biên giới trong quận Phú Nhơn, tỉnh Pleiku, những địa danh thật xa lạ với chị : Queng Mep, Plei Kênh Săn. Khi quân cộng sản Bắc Việt nổ súng tấn công Plei Kênh Săn, chị Amreng đã vững vàng trong tư thế phụ xạ thủ đại liên cho chồng. Khẩu đại liên M60 nằm phía sau những lổ châu mai nhỏ đã bị giới hạn rất nhiều khu vực tác xạ, anh Dan quyết định dời khẩu đại liên sang một vị trí khác có xạ trường rộng lớn và bao quát hơn. Trong lúc chị Amreng chạy đi chạy lại để khiêng những thùng đạn đại liên sang vị trí mới, thì có ba tên Ðặc Công Việt cộng đã nhào vào đánh cận chiến cới anh Dan. Anh Dan thật dũng cảm, như một con beo ở rừng xanh, bằng tay không anh đã vật lộn với chúng mà không nao núng. Chị Amreng vừa vác một thùng đạn đến, quát bảo anh Dan tránh ra xa. Hiểu ý vợ, anh Dan lăn một vòng, một trái lựu đạn M26 từ trong tay chị Amreng được ném tới. Ba tên Ðặc Công chưa kịp phản ứng, thì một tiếng nổ chát chúa đã đốn gục chúng xuống ngay bên cạnh đường giao thông hào. Khẩu đại liên M60 trong tay đôi vợ chồng Dan và Amreng đã bắt đầu nổ dòn dã ngăn chận tất cả những cuộc tấn công biển người của địch vào đồn. Anh Dan đang say mùi thuốc súng, anh đã không để ý nhiều tên Ðặc Công khác đã bò vào gần khẩu đại liên để mở cuộc cận chiến lần nữa.

Nhưng chúng không biết rằng người nữ binh vóc dáng nhỏ bé với khuôn mặt hiền lành như một em bé đã rất cảnh giác. Ba trái lựu đạn M26 đã được chị quăng ra rất chính xác vào những cái bóng đen đang bò lổn nhổn. Giữa tiếng súng nổ ầm ầm, chị Amreng đã có thể nghe thấy tiếng kêu gào thảm thiết của những lính địch trúng phải lựu đạn của chị. Ðến lúc này thì anh Kpa Dan chợt nhận ra rằng mình đã bị thương, chị Amreng lập tức trở thành xạ thủ chính, anh Dan lùi qua một bên làm xạ thủ phụ cho chị. Hào hùng không kém gì những đấng nam nhi, người nữ chiến sĩ ấy đã cùng với khẩu M60 đốn ngã hàng loạt cuộc tấn công của giặc. Sinh mạng của cái đồn nhỏ Plei Kênh Săn phần lớn trông cậy vào khẩu đại liên. Nói một cách chính xác, toàn tiền đồn cậy nhờ vào đôi bàn tay nhỏ nhắn của một cô gái mà ngày thường rất hiền hòa và ít nói này.

Khi ánh bình minh lên, giặc chấp nhận thua cuộc và đã rút đi, chiến trường đã hoàn toàn im tiếng súng, lũ chim rừng sau một đêm kinh hoàng đã ríu rít hát ca trên cành lá đón chào một ngày mới. Tin chiến thắng của Plei Kênh Săn đã bay về đến Pleiku và cái tên Ksor Amreng thật dịu dàng và thật đẹp ấy đã được người dân thành phố gọi là buồn muôn thuở này nhắc nhở nhiều. Kinh lẫn Thượng, đồng bào Pleiku đã chung góp gửi đến chị Amreng và Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân nhiều tặng phẩm và tiền thưởng. Thiếu Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh Quân Ðoàn II & Quân Khu II đã đích thân bay trực thăng đến Plei Kênh Săn trân trọng trao gắn cho người lính không số quân Amreng chiếc huy chương cao quí Anh Dũng Bội Tinh, một vinh dự hiếm có dành cho một người dân sự .

Tấm gương chiến đấu của chị Ksor Amreng là một trong nhiều tấm gương thầm lặng còn chưa được biết của những người chị trên cao nguyên trong cuộc chiến tranh bảo quốc bi tráng của dân tộc Việt Nam. Ngày nay, những thế hệ đi sau anh chị Dan và Amreng sẽ mãi nhớ rằng, dòng máu kiên cường uy vũ bất năng khuất mà anh chị cùng những chiến sĩ Thượng từng một thời thể hiện dưới lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Quân Kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là một niềm kiêu hãnh sáng chói mà họ, những đồng bào Thượng đang bị kềm kẹp oan khuất dưới bàn tay sắt máu của cộng sản Bắc Việt, cũng sẽ có ngày vùng lên ném những quả lựu đạn và bắn những tràng đại liên vào giữa mặt bọn chúng, để hủy diệt chúng, bọn vô dân tộc vô thần đó, và cho chúng biết lòng quật khởi phi thường của người Nước Nam.

Phạm Phong Dinh

Hoa rừng

Hoa rừng

    

Ngày trước làm công chức mắc lỗi mới bị đày lên Buôn Ma Thuột. Trường hợp của tôi thì khác. Tôi mới ra trường lại xung phong lên Buôn Ma Thuột làm việc. Nhiều người ngăn cản. Tôi có lý do riêng của mình. Thời còn đi học tôi mê chuyện đường rừng. Tôi có cô bạn hát bài : “Nụ cười sơn cước” rất hay tôi mê bài hát, mê luôn cảnh núi rừng. Tôi chọn lên Buôn Ma thuột để được dịp sống với núi rừng. Tuổi trẻ có những quyết định quan trọng cho cả đời người chỉ dựa vào những lý lẽ hết sức đơn giản, lãng mạn. Quả nhiên sau đó tôi có được nụ cười sơn cước đẹp như một đoá lan rừng và một cuộc tình giống hệt như tiểu thuyết đường rừng. Ngày nay, sau rất nhiều năm mỗi khi hồi tưởng lại kỷ niệm vẫn cảm thấy lâng lâng như trôi trong màn sương ngan ngát hương rừng, rơi la đà trong men rượu cần xanh rờn sắc núi. Song rồi lại cảm thấy hỗ thẹn và bối rối. Chuyện đã nhiều năm mà tưởng như mới hôm qua. Thật là một đoạn đời khó quên.

Khi chiếc xe đò cũ kỹ vừa qua khỏi Dục Mỹ ì ạch bò lên đèo Phượng Hoàng ngoằn ngoèo vắt mình qua mấy sườn núi, cảnh vật hai bên đường đột ngột mở ra một cõi rừng già nhiệt đới u minh trùng điệp. Mới đây cái nắng gay gắt khi đi ngang qua cánh đồng Dục Mỹ chưa dứt, tiếp tới hơi nóng hừng hực con đường nhựa như chảy ra loang loáng dưới ánh mặt trời lúc băng qua căn cứ Lam Sơn, chiếc xe đò nóng lên chẳng khác gì ngồi trong lò, đến đây bỗng nhiên xe như rơi vào biển băng. Những làn gió thổi trong rừng ra đem theo màn sương li ti lùa vào lòng xe, cho hành khách thấy khoẻ hẳn lên. Những cây rừng cổ thụ mọc sát bên đường dây leo như những con rắn khổng lồ quấn quanh chằng chịt. Cheo leo trên sườn núi là những chiếc chòi canh giữ rẫy nhỏ và dễ thương như tổ chim. Còn hoa rừng, hoa rừng nhiều vô số đủ màu sắc ẩn hiện trong lá. Và ơ kìa! Những người thượng (người dân tộc) từ trong sương bất ngờ hiện ra trông hư thực giống như màu sắc tranh lụa nhạt nhoà. Mấy người con gái để vú trần, vai mang gùi, miệng ngậm ống điếu dài. Những người đàn ông đóng khố da nhăn nheo như vỏ cây, vai mang cung tên. Mấy đứa trẻ con đen đúa trần truồng cùng với con chó săn vằn vện như hổ chạy theo sau. Tôi chồm ra khỏi xe ngoái nhìn theo họ. Giữa quang cảnh núi rừng hoang dại đoàn người lầm lũi đi thành một hàng dọc lặng lẽ, bí ẩn khiến cho tôi lên tưởng đến chuyện bùa ngải ma núi. Cảnh tượng thực lạ mắt, trước đây tôi chỉ đọc thấy trong sách rồi tưởng tượng ra. Tôi thấy cảm xúc của mình giống như người phiêu lưu tìm ra nền văn minh mới. Đất nước ta thực kỳ dị, chỉ mới đây thôi còn nhộn nhịp phố phường mà nay lại lọt vào chính giữa khu rừng nhiệt đới hoang vu bạt ngàn.

Về sau tôi được biết Buôn Ma Thuột là xứ sở của mây mù, buổi sáng mây bay tới tận giờng ngủ. Buôn Ma Thuột còn là xứ sở của hoa, hoa có tên và hoa không tên, hoa như cây dại mọc tràn tới thềm nhà. Buôn Ma Thuột còn là sự yếu mềm của lòng mình, muốn yêu, muốn khóc, muốn làm thơ…
Một buổi chiều, lần đầu tiên tôi làm công việc, hỏi cung các tội nhân. Anh Thư ký dẫn vào phòng một lão già người Thượng. Lão già đóng khố, màu da ám khói giống như quả bầu nậm treo giàn bếp, người Thượng dùng để hứng nước suối đội đầu đem về nhà. Lão ta đứng trước mặt tôi nét mặt như như tượng đá, đang chìm đắm vào cõi suy tư thoát tục. Lão điềm nhiên giống như đang ở một mình trong rừng. Hoàn cảnh khó khăn trước mắt không làm xao động nổi con người đặc biệt nầy. Điều đó thực là hiếm có. Ai đứng chỗ này, trước chiếc bàn của ông Dự Thẩm cũng đều run rẩy khiếp sợ. Số phận của họ trong phút chốc sẽ được định đoạt mà thường thường là bi thảm. Còn lão già này, ngược lại hoàn toàn dửng dưng. Hình như lối sống sơ khai của người miền cao tạo nên cho họ một tâm tính mộc mạc hồn nhiên, họ không lo lắng, không tự dằn vặt hành hạ mình, nhờ thế họ vượt qua dễ dàng những thử thách tinh thần kiểu nầy. Trong khi đó người Kinh nhất người giàu có hoặc có vai vế trong xã hội chỉ cần bỏ tù vài ngày, tinh thần thể xác họ suy sụp hoàn toàn.

Tôi hỏi, lão lắc đầu. Tôi lại hỏi, lão lại lắc đầu. Nhiều lần như thế tôi bối rối. Thế này làm sao hỏi cung ? Có lẽ đây là lần đầu tiên ở phòng Dự Thẩm tội nhân không sợ sệt chỉ có ông Dự Thẩm bối rối. Tôi chưa biết xử trí ra sao, ông lục sự ngồi giúp tôi trong việc chép lời khai nói :
– Thưa ông dự thẩm, để tôi đi gọi Hơ Ly Êban.
Lần đầu tiên tôi nghe tới tên nầy. Số phận đã đưa đẩy Hơ Ly Êban đi vào đời tôi kể từ buổi chiều hôm đó. Hơ Ly là đoá hoa rừng, là quà tặng của xứ được mệnh danh là “Buồn muôn thuở”, một thứ trái cây dại vừa ngọt ngào vừa đắng chát, một sự hoà trộn tuyệt vời giữa hạnh phúc và khổ đau…

Lúc đó Hơ Ly khoảng hai mươi tuổi. Nàng là gái dân tộc Êđê, nếu cô ta có một vẻ đẹp như gái người Kinh thì tôi không kể làm gì, đàng này đó là một cô gái dân tộc Êđê có nguồn gốc chủng tộc Indonesien rất rõ, thể hiện ở vóc dáng, màu da, khuôn mặt. Nước da nàng ngâm ngâm một màu nâu vàng đất sét pha hồng của loại đất badan giàu chất sắt. Mái tóc nàng rậm đen đến độ xanh ánh lên như thép. Hai hố mắt nàng rất sâu chứa đầy bóng tối làm cho cái nhìn trở nên mềm như bông. Hai hàng mi cong cứng và cặp lông mày rậm là nét đặc trưng rất rõ của chủng tộc nàng. Khuôn mặt cô ấy vuông vức kiểu mặt chữ điền, tuy xương hàm hơi thô, ngược lại đôi môi nàng có một vẻ dịu dàng với làn da mỏng tanh, khô khô một vài vết nứt rạn li ti màu hồng nhạt như cánh hoa rừng, trông thấy thì muốn hôn. Cô ta thường mặc váy đen, áo sơ mi nhiều màu. Những ngày lễ lạc nàng mặc loại váy đặc biệt may bằng thứ vải đen dệt theo lối thủ công có nhiều đường chỉ màu sặc sỡ. Tôi không thấy Hơ Ly dùng son phấn bao giờ.

Hơ Ly nói tiếng Việt và tiếng Pháp lưu loát. Lúc trước nàng học trường Dòng vơi các Xơ. Hơ Ly làm thông ngôn cho Toà án. Thời đó người Thượng có toà án riêng gọi là toà án sắc tộc xét xử các vấn đề dân sự như tài sản, gia đình, căn cứ theo tập quán tục lệ mà kết quả thường là phạt trâu, phạt chiêng hoặc phạt ché là một loại lọ lớn dùng để ủ rượu cần. Riêng các tội thuộc về hình sự họ phải ra toà án thường. Hơ Ly là cây cầu ngôn ngữ bắt từ những người đồng chủng của nàng tới chúng tôi. Ban đầu tôi nghĩ Hơ Ly là người Eđê làm thông ngôn thì chẳng khó khăn gì. Sau khi hiểu rõ tôi biết sự việc không phải đơn giản như thế. Không phái bất cứ người Eđê nào cũng làm được. Hơ Ly biết gần bốn mươi thổ ngữ. Thực là một khả năng ngôn ngữ hiếm có. Tôi hỏi về chuyện này Hơ Ly nói :
– Ngoài tiếng Êđê ra còn nhiều thứ ngôn ngữ khác như Gia Rai, Sê Đăng, M’ Nông… Tuy cũng là người Êđê nhưng có khi làng nầy cách làng kia chỉ có một con suối nói vẫn không hiểu nhau được.

Tôi hỏi :
– Làm sao em học được nhiều thế ?
– Ngôn ngữ người dân tộc rất đơn giản. Cái gì họ có thì mới có tên gọi. Ví dụ trong cuộc sống giữa núi rừng làm gì có cái chợ, nên không có danh từ chợ. Họ nói “Nao sang chơ ” có nghĩa là đi sang chợ. Họ chỉ có Một chữ “Nao” là đi mà thôi. Cuộc sống thô sơ nên ngôn ngữ cũng hạn hẹp.
Cô ấy độc quyền trong việc nói năng. Cô ta thông ngôn đúng hay sai chẳng ai biết. Cho tới bây giờ tôi cũng không biết cô gái đẹp người Êđê nầy có lần nào tự ý giúp cho những người đồng chủng của nàng hay không ? Có nhiều lúc tôi chỉ nghe tội nhân ấp úng một vài lời nhưng Hơ Ly dịch thành một câu dài với mục đích biện bạch cho được sự vô tội. Nếu có thế thì vẫn tốt. Tôi xưa nay thường thích người yêu quê hương yêu đồng bào mình .
Sau giờ làm việc tôi thường giữ Hơ Ly lại trong văn phòng bắt nàng kể về phong tục tập quán người Tây Nguyên. Tôi hỏi vì sao người Thượng không bao giờ đi hàng ngang hoặc sánh vai bên nhau trên đường phố, dù là hai người thân cũng người trước người sau, còn đông người thì luôn luôn đi thành một hàng dọc. Hơ Ly giải thích :”Từ bao đời nay, người Sơn cước đi trên những con đường mòn trong rừng làm sao sánh đôi sánh ba cho được. Thói quen nầy ăn sâu trong mỗi người”. Hơ Ly kể nhiều truyền thuyết về núi rừng, mãnh thú, lửa, hoa và nhất là tình yêu trai gái. Chính Hơ Ly dạy cho tôi tiếng Êđê, trong đó có câu “anh yêu em”. Và tôi đã ứng dụng ngay bài học vỡ lòng nầy với người thầy của mình. Hơ Ly trả lời bằng một tràng tiếng Thượng, tôi không hiểu gì cả, rồi nàng cười . Ôi! Giọng cười của nàng vui như tiếng chim, xanh như lá mới, ngọt như trái rừng, reo vang như suối đỗ. Tôi nhớ bài “Nụ cười sơn cước” có đoạn :

…Một chiếc khăn màu trắng trong
Một chiếc vòng sáng long lanh
Với nụ cười nàng quá xinh…

Đúng là nụ cười của Hơ Ly. Tình yêu của tôi lớn nhanh như cỏ dại mùa mưa. Chúng tôi rong chơi với nhau trong rừng. Hơ Ly không bao giờ chịu đi dạo phố phường, đi ăn hay đi xem xinê. Tôi hỏi, nàng nói :”Kao khắp kley Hơ dip phung cư chang!” có nghĩa là em chỉ yêu thích thiên nhiên thôi.
Buôn Ma Thuột vào những năm đầu thập niên sáu mươi là một thành phố kỳ dị. Thiên nhiên xanh rờn mạnh mẽ lấn át phố phường. Từ trên máy bay nhìn xuống chỉ thấy một màu xanh ngút ngàn, con đường như sợi chỉ đỏ chạy quanh co. trong thành phố, có nhiều nơi bên này đường là phố xá, bên kia đã là rừng già nhiệt đới áp sát. Rừng thực là môi trường tốt cho những cặp tình nhân sung sức như chúng tôi. Tôi lái xe chở nàng chạy càn lên rừng hướng dương. Nhìn lại phía sau vết xe làm cho cây cối ngã rạp xuống thành một lối đi. Lần đó chúng tôi dừng lại bên suối. Thật là một nơi lý tưởng cho những cuộc tình hoang dại.
Giữa khu rừng vắng vẻ làm cho sự e dè ngượng ngập xâm chiếm cả hai chúng tôi. Chúng tôi ngồi bên nhau chẳng biết nói gì.. Hình như những ý tưởng riêng tư làm vấn đục tâm hồn. Hơ Ly để bàn tay nằm yên trên lớp cỏ xanh. Sau này tôi có làm bài thơ “Bàn tay trên cỏ” trong đó có câu :

Yêu nhau trên cỏ lá xanh mang về.

Sở dĩ có câu thơ trên vì có lần Hơ Ly nói lúc trở về nhà thay áo nàng thấy một mảnh lá cỏ xanh dính ở vú. Nàng cất nó trong chiếc phong bì làm kỷ niệm. Mấy ngón tay nàng nho nhỏ giống bàn tay trẻ con để yên hồi lâu. Tôi đặt tay lên, tay Hơ Ly lạnh, nàng hơi kéo tay lại. Tôi nắm chặt, nàng hơi vùng vẫy. Tôi giữ chặt hơn, Hơ Ly để yên. Đôi mắt nàng mơ màng nhìn về hướng núi đang chìm dần trong sương, nhưng có lẽ tất cả tâm trí nàng lắng nghe sự rung động của da thịt, cảm giác đụng chạm với người con trai Kinh. Tôi ôm nàng và hôn, Hơ Ly chẳng kháng cự gì cả. Nàng hoàn toàn thụ động.Trong khi hôn hàng mi dài của nàng chớp chớp chạm vào da mặt tôi, hàng mi cong và cứng một cách tự nhiên mà những cô gái Việt rất muốn, họ phải chải sáp hoặc mang lông mi giả. Tôi biết trong khi hôn nàng mở cặp mắt to ra nhìn ngạc nhiên sững sờ. Đó có lẽ là nụ hôn đầu tiên trong đời cô gái nầy. Nàng cuống quít nhưng chẳng biết làm gì. Cái hôn gây cho nàng sự lạ lẫm hơn là thú vị. Nên nhớ đây là một cô gái văn minh, có học, nói tiếng Tây như đầm, nhưng trong việc yêu đương cái bản năng hoang sơ vẫn còn ngự trị mạnh mẽ làm cho cô cảm thấy xa lạ lo âu, hôn xong cô ta mở đôi mắt thao láo ra mà nhìn. Tôi luồn tay vào trong áo nàng. Như mọi cô gái Thượng khác Hơ Ly không mặc nịt vú.Cặp vú tròn ấm áp của cảm giác trơn láng và rắn như trái rừng chín tới là tiêu biểu của bộ ngực gái miền sơn cước. Hơ Ly để yên cho tôi tha hồ sờ mó. Nhưng đến khi tôi muốn đi xa thêm một bước nữa thì nàng phản ứng kịch liệt. Nàng nói :”Không được. Phải có cha mẹ, có làng chứng kiến!” Tôi đòi nữa thì nàng nói :”Ở nơi đây không được, rừng cấm !” Tôi cứ đòi. Hơ Ly nói :”Thần núi phạt đó!” . Tôi hỏi phạt làm sao ? Hơ Ly nói :
– Sinh con ra có đuôi như đuôi con khỉ!

Tôi biết đây là cách của mấy người già bày đặt ra để doạ bọn con gái .
Những năm đầu thập kỷ sáu mươi Buôn Ma Thuột là một thành phố nhỏ chỉ có mấy đường phố. Người Kinh lên đây chưa nhiều. Những người làm nghề khai thác gỗ là giàu, người Pháp lập đồn điền cà phê đã lâu, người Hoa buôn bán. Cả phố chỉ có một rạp xi nê Lô đô. Có nhiều người đi buôn Thượng, thường là đổi chác, ít khi dùng tiền. Người ta đem muối, cồng, chiêng, ché và hạt cườm xanh đỏ đổi lấy lợn gà, ngà, xương hổ. Có một số y tá vào các buôn chữa bệnh sốt rét tiền thuốc cũng trả bằng thổ sản. Người Thượng rất thích tiền giấy mới. Có tiền mới thì bao nhiêu cũng bán. Phụ nữ thường mặc váy đen để mình trần. Họ đi ra chợ từng đoàn ẩn hiện trong sương sớm lạnh buốt. Món hàng quen thuộc là nhưng quả mướp khô chỉ còn lại xơ dùng để chùi xoon nồi. Thời gian này xã hội còn rất đơn giản cho nên mặc dù giữ trọng trách tôi vẫn có nhiều thời gian rỗi. Tôi thường vào rừng săn bắn. Tiếng là đi săn bắn nhưng tôi thường kiếm nơi thanh vắng, tìm gốc cây ôm súng ngả lưng đắm chìm vào cõi mộng mơ. Tôi đem giấy bút viết thư, làm thơ cho Hơ Ly. Những vần thơ này trước khi tới tay Hơ Ly nó đã làm cho người viết ra nó tan ra trong niềm hạnh phúc, thăng hoa thành thứ hơi núi màu lam mờ mờ vương vấn trong rừng cây. Có những bức thư trường giang đại hải viết về tình yêu hai người, kể lể về những lần gặp gỡ, và kể lại một cách tỉ mỉ về cảm giác của tôi khi chung đụng nàng. Khi viết lách về tình yêu người ta thường phóng đại sự việc lớn hơn nhiều lần, tôi cũng không tránh khỏi nhược điểm này. Vả lại tình yêu giữa chúng tôi đã tới thời kỳ chín muồi, có những điều thầm kín cần ghi lại và giữ riêng cho nhau. Tôi nghĩ nếu đó là một cô gái người Kinh chắc tôi không bạo dạn và tiến nhanh như thế trong tình trường. Đây là một bông hoa của rừng thẳm hoang dại nguyên sơ tôi cũng theo lối man rợ, yêu không kiểu cách, càn rỡ. Khi gặp nhau trong rừng Hơ Ly rất ít nói. Nàng thường ngồi yên để cho tôi tha hồ mặc sức hành động. Cô ấy chỉ mở cặp mắt to tròn ngơ ngác nhìn tôi một cách tò mò. Nàng buông thỏng hai tay, không một cử chỉ đáp ứng ngoài sự tò mò về những nụ hôn .

Một lần tôi theo Hơ Ly về buôn. Buôn của nàng gần thành phố, thuộc hạng giàu và văn minh. Gia đình nàng lại giàu nhất trong buôn. Cha nàng là người có uy tín trong bộ tộc Êđê và ngoài ra còn có danh tiếng trong giới cầm quyền người Kinh. Đây là lần đầu tiên tôi bước vào một ngôi nhà sàn. Tôi khó nhọc leo lên mấy bậc thang làm thân cây đẽo thành những chỗ để đặt bàn chân. Trong chiếc nhà sàn rất dài có nhiều gia đình. Hình như họ sống theo lối quần cư, nhiều gia đình sống chung trong một ngôi nhà. Bên dưới nuôi gia súc. Họ nuôi theo lối thả rông. Mấy con lợn nái bụng sà tới đất, hàng vú quét trên cỏ đang dẫn bầy con ăn một cành lá rừng. Tôi không biết đó là thứ cây gì, thật là một lối chăn nuôi đơn giản. Còn dê và gà thì nhiều vô số. Mấy con dê mới sinh màu lông chỗ trắng chỗ đen trông rất dễ thương.

Trong khi tôi con bỡ ngỡ thì lạ quá mọi người ở đây dường như đã biết tôi rất rõ . Không cần Hơ Ly giới thiệu họ biết rõ tên tuổi chức vụ của tôi. Mọi người gặp tôi đều chào hỏi niềm nở rồi lại cưòi, một cách cười hóm hỉnh. Lúc đó tôi chưa hiểu gì cả, nhưng chỉ năm phút sau vỡ lẽ. Trời ơi tôi chỉ có nước độn thổ !
Tôi thấy chỗ Hơ Ly ở rải rác đó đấy trên sàn nhà bằng cây nứa đập dập sánh lên láng bóng do con người qua lại nhiều lần là những lá thư và những bài thơ tôigởi cho nàng. Tôi cầm một tờ giấy lên xem, toàn là chữ nghĩa của tôi. Tôi hoảng hồn vì những diều tôi viết cho Hơ Ly là những bí mật của đôi trai gái. Mấy cô gái khác chẳng cần bảo họ cũng cất giấu loại bảo vật này, còn Hơ Ly lại đem thứ văn chương ái tình chia sẻ với mọi người. Tôi không làm sao hiểu nổi đoá hoa rừng này lại dám đem những chuyện riêng tư của mình ra kể cho cả làng nghe. Mấy lá thư đều nhàu, tôi chắc nàng đã đem nó ra đọc và dịch nhiều lần. Tới lúc này tôi mới hiểu vì sao mới gặp lần đầu mà mọi người ở chỗ thâm sơn cùng cốc này lại biết rõ tôi đến thế.

Tôi ngượng nghịu vô cùng chỉ muốn ra về liền. Hơ Ly tiễn tôi ra xe, tôi giận nàng lắm không nói một lời. Xe chạy hồi lâu tôi cũng nguôi ngoai dần. Tôi tự an ủi : Thôi cô ta đem chuyện ra kể cho mấy người trong cái làng Thượng hẻo lánh này cũng chẳng sao, ai ngờ sự việc không dừng lại ở đó. Mấy hôm sau tôi thấy các cô ở trong toà án tụm năm tụm ba lại đọc. Họ thấy tôi đi qua thì giấu, len lén đưa mắt nhìn trộm tôi rồi cười ruc rích. Thôi đích thị Hơ Ly lấy thư của tôi cho mấy người này xem rồi. Đọc xong mấy cô chuyển cho mấy cậu nhân viên xem. Mấy cậu này xem xong đưa cho ông chánh lục sự già xem, ông này trao lại cho ông chánh án thưởng thức thứ văn chương ái tình của tôi. Thực là những bức thư tình ướt át mùi mẫn có đôi chỗ pha thứ văn chương phòng the đồi truỵ. Khổ nhất là thời đó tuy tôi mới hơn hai mươi tuổi đã là một ông quan toà, đi dến đâu người ta cũng thưa bẩm. Một vị thẩm phán cầm cân nẩy mực giữ địa vị cao nhất nhì trong tỉnh lại làm cái chuyện lạ đời là viết thư tình cho một người con gái Thượng. Tôi chắc rồi đây thế nào cả cái thị xã Buôn Ma Thuột này cũng sẽ rõ chuyện. Cũng may không lọt về Bộ nếu không thì sự nghiệp của tôi cũng tan theo gió ngàn Buôn Ma Thuột .
Tôi gặp Hơ Ly trách :

– Tại sao em lại đem thư đọc cho cả làng nghe lại còn đem đến chốn công đường cho người ta xem ?
Không một chút ấp úng, Hơ Ly đáp :
– Ơ, anh viết hay quá mà, em đọc một mình nhiều lần rồi, phải cho người khác xem với chớ!
– Chuyện riêng tư ai lại cho người khác biết ?
– Cho người khác biết chớ, hề chi .
– Em không biết xấu hổ sao ?
– Chyện gì lại xấu hổ ?
– Chuyện kín của hai người mà .
– Chuyện đó có gì kín đâu? Trai gái ai lại không làm ?
Trước lời lẽ mộc mạc hồn nhiên của cô gái miền cao như thế này tôi làm sao trách cứ nàng cho được. Tôi chỉ biết trách mình đã không tìm hiểu đúng mức phong tục người miền núi mà đã dám yêu đương người ta. Thật đáng đời !
Sau đó hỏi chuyện một già làng tôi mới hiểu tâm tính khác thường của những cô gái miền Thượng du. Lão này nghe tôi hỏi thì trầm ngâm thả thứ khói thuốc mùi hăng hắc từ chiếc ống điếu làm bằng một lóng trúc dài với cái vỏ trái rừng khô. Lão ta dùng thứ tiếng lơ lớ giảng giải cho tôi hiểu đại khái rằng, người Êđê theo chế độ mẫu hệ, người nữ có quyền định đoạt mọi việc kể cả việc chọn người nào làm chồng. Con gái Thượng được kẻ nào yêu thương, nếu họ cũng thích người đó nữa thì họ sung sướng lắm. Họ thường đem chuyện yêu đương giữa hai người kể cho nhiều người khác biết để chung vui với họ. Ai ân giữa đôi trai gái là điều thiiêng liêng, tự nhiên, sạch sẽ như con chim con thú, không cần giấu diếm. Nhưng đem nhau vào rừng làm chuyện này thì họ kiêng cử lắm. Làng bắt được thì phạt vạ. Ông lão nói :
– Cái con mái quí lắm! Con gà mái, con heo nái, con chó cái đổi hai ba con đực người Thượng không đổi đâu. Con gái đi cưới chồng. “Bắt cái chồng” không mắc cỡ đâu!

Thời gian sau không hiểu vì sao Hơ Ly tìm cách tránh tôi. Mỗi lần thông dịch xong nàng tất tả đi ngay. Tôi tìm gặp hỏi chuyện, nàng nói :

– Thôi, không được đâu, không gặp nữa, không chơi nữa!
Tôi nói liều :
– “Bắt cái anh” về làm chồng đi !
Hơ Ly cười nói :
– Bắt không được đâu.
– Tại sao?
– Cha mẹ anh đòi nhiều lắm .
Tôi nói :
– Không đòi trâu dê cồng chiêng đâu. Cho em luôn, cho không, không đòi gì cả, cho luôn trái tim…

Hơ Ly lại cười. Ôi ! Nụ cười sơn cước chính hiệu một trăm phần trăm. Trong tôi trào dâng tình yêu nóng rực, tôi chồm tới ôm nàng vào lòng. Hơ Ly vùng vẫy kịch liệt. Tôi bắt chước mấy thằng tù, mấy tên lính nói càn một cách thô tục :

– Cho anh “bắt cái nước” (làm tình) đi !
– Không được, nói bậy! Người tử tế không được nói bậy. Không lấy nhau làm vợ chồng được đâu. Không lấy anh đâu. Không ngủ với nhau được đâu!
Tôi hỏi :
– Tại sao ?
– Không đẻ con ra tốt đâu…
Tôi kinh ngạc hỏi :”Tại sao?” Hơ Ly thì thầm như tiết lộ một điều bí mật huyền hoặc:”Trong buôn của em có chị Hơ Ring lấy anh lính người Kinh ở trung đoàn 45. Con đẻ ra chỗ trắng chỗ đen giống như con chó vá!”. Tôi lại hỏi :”Em có thấy không ?” Hơ Ly nói :” Không. Em nghe mấy người già trong làng nói. Họ không cho em cưới anh!”. Bây giờ tôi mới hiểu vì sao Hơ Ly lánh mặt tôi. Tôi nói :
– Họ nói bậy, không đúng đâu.
– Đúng mà, người già nói đúng mà !
– Tại sao em biết đúng ?
– Biết chớ. Rồi Hơ Ly kể cho tôi nghe:”Trong nhà em có nuôi con heo cái giống trắng. Tới thời kỳ, nó chạy vô rừng lấy con heo rừng. Con nó đẻ ra loang lổ. Mình lấy nhau con đẻ ra cũng như con heo lang!
Trời ơi cô gái cao nguyên này nghiên cứu cả sinh học. Lý lẽ nàng thực là hùng hồn, trắng đen lấy nhau con sinh ra chỗ trắng chỗ đen. Tôi biết đây là cách của mấy già làng nói doạ Hơ Ly. Tôi hỏi :
– Em không cưới anh thiệt sao ?
– Thiệt! Buồn lắm nhưng không cưới anh đâu. Không cưới ai hết. Sống như cái cây trong rừng vàng lá cành khô già đi rồi chết…
Lần này Hơ Ly ôm lấy tôi hôn rối rít vừa hôn vừa khóc. Không như những lần trước mở mắt ra nhìn, lần này nàng nhắm nghiền hai con mắt lại đẩy nước mắt ra ràn rụa chảy xuống đôi môi hai người làm cho cái hôn mặn chát…
Năm sau đó tôi đi khỏi Buôn Ma Thuột. Tôi về làm việc ở Huế rồi Quảng Ngãi. Được vài năm thì tôi xin thôi. Tôi chẳng có cái duyên mà cũng chẳng hợp với nghề xét xử con người. Từ đó tôi không còn biết tin tức gì của Hơ Ly. Tôi luôn luôn mong cho nàng có một cuộc sống tốt đẹp. Người như nàng xứng đáng được hưởng hạnh phúc trong tình yêu.
Quý Thể

https://trangvhntnguoncoi.wordpress.com

Khúc Quanh Ảm Đạm Của Lịch Sử: Là Ngày Quốc Hận Của Dân Tộc

Khúc Quanh Ảm Đạm Của Lịch Sử
Là Ngày Quốc Hận Của Dân Tộc

Cuộc chiến đấu anh dũng chống cộng sản của dân tộc Việt Nam trong hơn bốn thập niên giữa những người cùng huyết thống, đã chấm dứt một cách bi thảm vào ngày 30-4-1975. Máu xương của hàng nhiều triệu người, cả cầm súng lẫn tay không, đã trở thành vô nghĩa vì không ngăn chặn được chủ thuyết tàn bạo của cộng sản Quốc tế với manh tâm nhuộm đỏ toàn cõi Đông Nam Á Châu.
Để thoát khỏi “vũng lầy” Đông dương, Hoa Kỳ đã xúc tiến các cuộc mật đàm với phe cộng sản từ năm 1968 tại Paris, nhưng phải đợi đến trước ngày bầu cử của nhiệm kỳ II của ông Nixon mới đạt được sự đồng thuận. Ông Henry Kissinger đã gặp gỡ Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai tại bắc Kinh, cũng như tiếp xúc bí mật với Lê Đức Thọ, Trưởng phái đoàn thương thuyết của CS Hà Nội. Một Hiệp định đình chiến được thương thảo giữa các cường quốc mang danh “ngưng bắn vì hòa bình” tại Việt Nam, nhưng thực tế, thay vì đưa đến hòa bình lại mở đường cho cộng sản miền Bắc xâm chiếm miền Nam bằng các trận đánh đẫm máu sau đó.

Hiệp định Paris ký kết ngày 28-1-1973, có hiệu lực và sự ngưng bắn chính thức được thi hành trên toàn miền Nam Việt Nam. Hoa Kỳ chấm dứt mọi hoạt động quân sự tại Việt Nam, và Ngày 29-3-1973, người lính Mỹ cuối cùng rời khỏi lãnh thổ miền Nam.
Hiệp định Paris 1973 không mang lại hòa bình: VNCH bị bức tử
Hiệp định Paris 1973 với danh nghĩa là hiệp định đình chiến, mang lại hòa bình cho Việt Nam; nhưng trái lại, đã gây bất lợi cho sự sống còn của miền Nam trong các điều khoản sau:
Về lực lương vũ trang tại miền Nam, Mục (b) của Điều 3 (Chương II) có ghi: “Các lực lượng vũ trang của hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ở nguyên vị trí của mình. Ban Liên hợp quân sự hai bên sẽ quy định vùng do mỗi bên kiểm soát và những thể thức trú quân.”
(c): “Các lực lương chính quy thuộc mọi quân chủng và binh chủng và các lực lương không chính quy của các bên của miền Nam Việt Nam phải ngừng mọi hoạt động tấn công nhau…”
Điều 4 (Chương II): “Hoa Kỳ sẽ không tiếp tục dính líu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam.”

Theo Điều 5 (Chương II) của Hiệp định ngưng bắn ký kết ngày 27-1-1973 có đoạn: “Trong thời hạn 60 ngày kể từ khi ký Hiệp định này sẽ hoàn thành việc rút khỏi miền Nam Việt Nam mọi quân đội, cố vấn quân sự và nhân viên quân sự, kể cả nhân viên quân sự kỹ thuật, nhân viên quân sự liên quan đến chương trình bình định, các loại vũ khí, đạn dược và dụng cụ chiến tranh của Hoa Kỳ và của các nước ngoài khác.”
Về quân ngoại nhập tại miền Nam, trong Hiệp định đình chiến 1973 không nói tới số 150.000 bộ đội miền Bắc còn lưu lại tại miền Nam từ các trận đánh, ngoài ra còn số quân đội miền Bắc tiếp tục xâm nhập vào miền Nam, được kể là quân ngoại nhập phải rút khỏi miền Nam. Về điều này, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu cho rằng, với quân số nêu trên của miền Bắc ở lại miền Nam trong khi Mỹ rút toàn bộ quân đội còn lại, sẽ gây trở ngại và khiến miền Nam sụp đổ.
Để việc rút quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam được thuận lợi, chương trình Việt Nam Hóa chiến tranh ra đời. Với chương trình này, ông Nixon nói Việt Nam hóa sẽ giúp miền Nam đủ sức tự vệ mà không cần tới quân đội Mỹ, và đã đưa ra lịch trình rút quân, giảm từ 500.000 vào tháng 1-1969 xuống còn khoảng 50.000 vào ngày bầu cử 1972. Mặc dù quân số miền Nam có tăng cường nhưng quân viện bị cắt giảm, cũng không mang lại kết quả tốt đẹp hơn.

Ông Thiệu không chấp nhận một số điều khoản trong bản dự thảo và cực lực phản đối đề nghị hòa bình giả dối của các cuộc hòa đàm ở Paris. Điều này đã gây trở ngại cho cuộc hòa đàm, khiến Ông Nixon phải hứa sẽ tăng viện trợ quân sự và Hoa Kỳ sẽ trở lại Việt Nam nếu CS miền Bắc vi phạm hiệp định, và ép buộc ông Thiệu phải chấp nhận các điều khỏan với áp lực đe dọa cắt viện trợ cho miền Nam. Ông Thiệu đã phải chấp nhận đề nghị của Hoa kỳ. Trên thực tế, một năm sau khi Hiệp định đình chiến được ký kết, cộng quân đã tiến hành những trận đánh chiếm tại các vùng đất xa xôi.
Vào thời gian này, viện trợ kinh tế cho Việt Nam Cộng Hòa tiếp tục giảm (*):

Năm 1972: 445 triệu Mỹ kim
Năm 1973: 297 triệu Mỹ kim
Năm 1974: 265 triệu Mỹ kim

Quốc hội Hoa Kỳ chuẩn chi viện trợ quân sự cho VNCH 1.4 tỉ Mỹ kim, nhưng chỉ còn 700 triệu vì phân nửa đã dùng cho nửa năm trước. Ngân khoản 700 triệu Mỹ kim này cũng bị trừ mất 300 triệu Mỹ kim cho số dụng cụ quân sự mà Hoa Kỳ đã ứng trước đó. Như vậy, sau tháng 6 của năm 1974, VNCH chỉ còn 400 triệu Mỹ kim để tự vệ (*).
Vì số quân viện cắt giảm, nên quân dụng cũng phải cắt giảm theo, chỉ còn 50% số lượng của những năm trước. Chẳng hạn mỗi cuộc hành quân: súng cá nhân trước đây là 400 viên đạn, nay chỉ còn 200. Mỗi khẩu đại bác 105 ly trước đây là 180 nay chỉ còn 10 viên. Vì không đủ nhiên liệu nên các phi vụ của máy bay chiến đấu, trực thăng cũng giảm đi một nửa (*).
Vào thời điểm này, Hà Nội đưa 35.000 tân binh, 400 chiến xa, 350 đại pháo tầm xa và 35.000 tấn tiếp liệu theo đường mòn Hồ Chí Minh xâm nhập vào miền Nam. Các phương tiện chiến tranh đều do Nga Xô cung cấp vào năm 1973 đã gấp đôi năm 1972. Hà Nội cũng được Nga thông báo về viện trợ của năm 1974 sẽ gia tăng với lý do: “Cách mạng ở phía Nam phải được thực hiện dưới hình thức một cuộc bạo động” [(*)nguồn: Stephen B. Young – Cuộc chiến thắng bị bỏ lỡ)]
Các nước thuộc khối Xã hội Chủ Nghĩa Viện trợ kinh tế của cho VNDCCH, đã gia tăng gấp bội vào năm 1974, với ngân khoản:

Năm 1973 575 – 605 triệu Mỹ kim
Năm 1974: 1.159 – 1.190 triệu Mỹ kim.
Khối lượng hàng quân sự cũng tăng theo:
Giai đoạn 1965-1968: 517.393 tấn
Giai đoạn 1969-1972: 1.000.796 tấn

Đến cuối năm 1974, tình hình Miền Nam Việt Nam trở lên nguy ngập hơn khi Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật “1974 Foreign Assistance Act”, chấm dứt các viện trợ quân sự ngoại quốc.
Sau khi Đạo Luật “Viện Trợ Ngoại Quốc 1974” ban hành, cộng quân đã gia tăng các trận đánh chiếm một số tỉnh lỵ như Phước Long và Bình Long vào đầu năm 1975, vì biết không lực Hoa kỳ không thể tiếp trợ khi CSBV vi phạm Hiệp định Paris, như Tổng thống Nixon đã hứa hẹn với Tổng Thống Thiệu.
Trước sự sụp đổ của VNCH, ngày 14-1-1975, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ đã phát biểu khi điều trần tại Quốc Hội, Hoa Kỳ không giữ lời hứa với Tổng Thống Thiệu như đã cam kết.
Cùng chiều hướng trên, Thống tướng William C. Westmoreland đã nói: “Chúng ta không thua tại Việt Nam, nhưng chúng ta đã không giữ đúng lời cam kết đối với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Đồng minh của chúng ta.” 

Và ông cũng xin lỗi các cựu quân nhân QLVNCH: “Thay mặt cho quân đội Hoa Kỳ, tôi xin lỗi các bạn Cựu Quân Nhân của Quân Lực Miền Nam Việt Nam vì chúng tôi đã bỏ rơi các bạn.”
(On behalf of the United States Armed Forces, I would like to Apologize to the veterans of the South Vietnameses Armed Forces fo abandoning you guys.” (General Williams C. Westmoreland)
Sau khi ông Nixon từ chức vì vụ Watergate, ông Gerald Ford lên làm Tổng thống, đã tuyên bố vào ngày 23-4-1975: “Chiến tranh Việt Nam chấm dứt”.
trai hoc tap
Miền Nam sau ngày 30-4-1975.
Trong một cuộc chiến không cân sức vì thiếu phương tiện khiến VNCH sụp đổ vào ngày 30-4-1975, mặc dù nhân dân miền Nam vẫn thừa can đảm và ý chí chiến đấu. Cho dù nền Dân chủ của miền Nam còn non trẻ sau 20 năm xây dựng trong một đất nước chiến tranh, nhưng người dân miền Nam đã sống hạnh phúc trong một xã hội mà nhân phẩm được tôn trọng, một nơi mà người dân góp sức xây dựng ngày một tốt đẹp hơn.

Sau ba thập niên phí phạm máu xương, những tưởng biến cố 30-4-1975 là một cơ hội để đảng CS đoàn kết dân tộc, hàn gắn vết thương chiến tranh, đã từng nêu cao như một chính nghĩa, nhưng “bản chất Cướp” đã lộ nguyên hình trước miếng mồi béo bở miền Nam. Hàng loạt chính sách tàn bạo được thực hiện tại miền Nam.
Chính sách “học tập cải tạo” đã đưa hàng triệu người miền Nam vào tù, một hình thức “nhân đạo”, không giết cũng chết, mà căn bản là thành phần Quân, Cán, Chính của chính quyền miền Nam, gây ra cảnh gia đình tan nát, con mất cha vợ xa chồng. Số tù nhân cải tạo tử vong trong các trại tù ngày một gia tăng, nhất là tại nơi rừng thiêng nước độc từ Nam ra Bắc vì bị đầy ải trong lao động, bệnh tật không thuốc chữa, đã lên tới hàng trăm ngàn người. Tại miền Nam, từ trường học đến giáo đường đã biến thành nhà tù, những nơi tôn nghiêm đã trở thành cơ sở sản xuất, chăn nuôi.

Chính sách đánh “Tư sản” và đưa người dân thành phố tới vùng “Kinh tế mới” chỉ để cướp đoạt của cải tài sản của người miền Nam, lấy nhà của người miền Nam cho các quan chức miền Bắc. Các cuộc “đổi tiền” đã cào bằng kinh tế miền Nam, để miền Nam “tiến mau, tiến mạnh” bằng đời sống nghèo đói miền Bắc. Nhưng tệ hại nhất là chính sách “Kê khai lý lịch 3 đời” đã gạt tuổi trẻ miền Nam ra khỏi ngưỡng cửa đại học vì là con cái “Ngụy”.
Trước chính sách đàn áp tàn bạo của cộng sản, hàng triệu người miền Nam đã bỏ nước vượt biên đi tìm tự do, để lại sau lưng cả mồ hôi và nước mắt. Hàng nửa triệu người đã vùi thân dưới lòng biển cả hay bị cướp bóc, hãm hiếp bởi hải tặc. Tất cả những hành động trên của đảng cộng sản Hà Nội, đã khắc sâu sự căm hờn trong lòng người miền Nam. Vì vậy, ngày 30 tháng 4 được ghi nhận là “Ngày Quốc Hận”.

Mối hận của người miền Bắc.

Phải tới thời điểm 30-4-1975, người miền Bắc mới được sáng mắt, vì bị Hồ Chí Minh và đảng CSVN lừa gạt. Ngay từ buổi đầu “Cách mạng Tháng Tám”, khi Hồ Chí Minh ôm ngọn “Cờ Đỏ Sao Vàng”, một bản sao của lá cờ tỉnh Phúc kiến có từ năm 1931, về cắm tại hang Pác Bó-Cao Bằng vào năm 1941, người miền Bắc bị mê hoặc do lời tuyên truyền “bài Phong, đả Thực” được khích động bởi chiêu bài “Đấu tranh Giai cấp”, nên đã vắt cạn sức người cho một chủ thuyết không tưởng. Cũng từ chiến dịch Cải cách Ruộng đất, ông Hồ và đảng CS đã giết oan 172.008 người dân lành, không kể hàng triệu thân nhân của nạn nhân bị trù dập, sống ngoài lề xã hội.
Qua hành động đàn áp, cướp đoạt tài sản của nhân dân miền Nam vào ngày 30-4-1975 của đảng CS Hà Nội, người miền Bắc chua xót nhớ lại chính sách “Cải cách Ruộng đất” và “Cải tạo Công thương nghiệp” đã biến miền Bắc, vốn một thời kiêu hãnh nằm trên vùng đất mầu mỡ Sông Hồng, một nơi được nhận là vựa lúa của vùng Châu thổ, đã trở thành nghèo đói. Hạt gạo, bữa cơm no thường có trước đây, đã trở thành giấc mơ của người dân nghèo.
Chính sách “đốt sách, giam tù các nhà trí thức miền Bắc” qua chiến dịch “Trăm hoa đua nở” sau năm 1954, được ông Hồ và đảng CS rập theo Trung cộng. Một loại văn hóa lai căng nửa Việt nửa Tầu đã giết chết tình thần dân tộc của người Việt.

Sau 30 năm bị mê hoặc, cuốn lôi trong hào quang “giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cứu dân miền Nam thoát khỏi cảnh kìm kẹp đói khổ”, người dân miền Bắc một lần nữa phải thắt lưng buộc bụng, hạt gạo xẻ tư để nuôi con em trên đường “Sinh Bắc-Tử Nam”.
Cũng do chính sách “Trăm năm trồng người” khiến nhiều thế hệ thanh thiếu niên miền Bắc bị u mê, đã hủy diệt nhận thức của tuổi trẻ, trở thành một thứ công cụ “chết vì đảng”. Một thí dụ điển hình như trường hợp của Bác sĩ trẻ tuổi Đặng Thùy Trâm, đã ghi trong nhật ký của cô vào ngày 19-9-1968:

“Đại đội huyện đoàn thanh niên lớn lên trong chiến đấu:
– Em Hoàng 14 tuổi trong 6 tháng đầu năm giết được 6 lính Mỹ, đánh lật 2 xe tăng bằng vũ khí tự tạo, lấy được 7 súng giặc trong đó có 2 cối cá nhân và các loại khác.
– Em An Phổ Châu lấy 5 súng, có 2 cối cá nhân, một đài RC. (Nhật ký Đặng Thùy Trâm: trang 83)
Lời chúc tết của ông Hồ vào ngày đầu năm 1-1-1969 đã trở thành một loại kinh nhật tụng, được Đặng Thùy Trâm ghi nhớ: 

Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc còn thắng to.
Vì độc lập – Vì tự do
Đánh cho Mỹ cút , đánh cho Ngụy nhào. (Nhật ký ĐTT trang 113)

Trong chiều hướng bị mê hoặc bởi lời tuyên truyền, tin tưởng tuyệt đối vào đảng CS, cô Đặng Thùy Trâm đã ghi trong nhật ký ngày 2-6-1970:
“Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước còn có thể kéo dài, đồng bào ta còn có thể hy sinh nhiều hơn nữa, song dù sao chúng ta nhất định thắng lợi…
Cô tâm niệm:
Bác Hồ ơi, di chúc của Bác còn vang bên tai con và lúc này lời nói ấy vang lên át cả tiếng bom đạn, con mang nó trong lòng và ra đi…” (Nhật ký Đặng Thùy Trâm, trang 247)

Từ những bút tích ghi trong nhật ký của Đặng Thùy Trâm, chúng ta liên tưởng tới bài hát “Anh Kim Đồng” vào thập niên 3,40 đã nức lòng tuổi trẻ miền Bắc, đến câu chuyện tiểu anh hùng Lê Văn Tám tẩm săng tự đốt cháy, chạy tới phá kho xăng Nhà Bè năm 1946. Sau này, ông Trần Huy Liệu, Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền, tác giả của câu chuyện trên đã giải thích, đây là một “chuyện bịa”, để tạo dựng một thần tượng thúc đẩy sự hy sinh của tuổi trẻ lúc bấy giờ. Rất tiếc, cô Đặng Thùy Trâm qua đời từ lâu, nên không thấy đảng CS đã biến chất và đang trên đà suy vong.

Sau trận Tết Mậu Thân 1968 và Mùa Hè đỏ lửa 1972, qua chiến thuật biển người, nhiều sư đoàn chính quy miền Bắc đã bị xóa sổ tại chiến trường miền Nam. Con số thương vong lên đến hàng triệu người, chưa kể thành phần dân chúng tử vong và thương tật nhiều hơn gấp bội. Khi chiến tranh chấm dứt, số phận của 300.000 bộ đội trẻ được ghi nhận mất tích, đã không để lại dấu vết trên các nẻo đường tiến quân đánh chiếm miền Nam. Đảng CS cầm quyền phủi tay để mừng thành quả “chiến thắng”, không màng tới số phận các nạn nhân, khiến gia đình thân nhân của các con em tử nạn phải đau khổ âm thầm chịu đựng.
Lam than
Mối hận của cả dân tộc:

Sau biến cố 30-4-75 tài sản của miền Nam đã theo nhau ra Bắc. Một phần trả các món nợ quân viện của các nước Nga-Tầu để CS Hà Nội có phương tiện đánh chiếm miền Nam, phần khác đã chui vào túi tham của kẻ cầm quyền. 16 tấn vàng trong Ngân khố Sài Gòn do những ai chiếm đoạt, cũng không còn dấu vết. Người Việt trong nước chỉ thấy các quan tham bất chợt trở lên giầu còn người dân ngày càng nghèo hơn.
Sau ngày mở cửa, vì tình cảm gia đình, người Việt hải ngoại gửi tiền về giúp đỡ thân nhân, vực dậy một đất nước nghèo đói. Theo thống kê, số ngân khỏan gửi về trong nước tính đến năm 2013 đã lên tới 84 tỉ Mỹ kim.. Không kể số tiền người Việt hải ngoại hàng năm về thăm quê mang theo tiêu dùng lên tới hàng tỉ Mỹ kim. Riêng năm 2014, số ngân khoản chuyển về Việt Nam lên tới 12 Tỉ Mỹ kim. Một ngân khỏan không hoàn trả, là ước mơ của các nước sau chiến tranh. Hà Nội đã in tiền giả để đổi lấy tiền thật.

Một câu hỏi được đặt ra, tại sao kinh tế Việt Nam không phát triển, như Nhật Bản và Nam Hàn, mặc dầu chiến tranh đã chấm dứt. Với tài sản chiếm đoạt của Miền Nam sau ngày 30-4-1975 và ngân khỏan người Việt hải ngoại chuyển về hàng năm, kinh tế VN vẫn tụt hậu so với các nước trong vùng?
Theo tài liệu phát triển kinh tế của 10 quốc gia Á Châu vào thời điểm 1960, thứ tự trong bảng xếp GDP tính bằng Mỹ kim như sau:

Singapore (395$), Malaysia (299$), Philippine (257$), Việt Nam Cộng Hòa (miền Nam: 223$), South Korea (155$), Thailand (101$), Trung quốc (92$), Ấn Độ (84$), Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (miền Bắc: 73$). Như vậy VNCH đã ngang hàng với Philippine, vượt qua South Korea, gấp 2 Thái Lan, gấp 2,4 lần Trung quốc, gấp 2,7 lần Ấn Độ và gấp 3 lần VNDCCH.
Vào thời điểm 2013, mức phát triển của Việt Nam là 1.660 US$, trong lúc Singapore đang ở vị trí 50.899 US$. Theo tiên đoán của IMF về sự phát triển của GDP từ năm 2011 đến 2017, Việt Nam sẽ không bao giờ đuổi kịp các quốc gia nói trên, nếu vẫn tăng trưởng với cường độ hiện tại. Việt Nam tiếp tục ở hạng chót và sẽ không bao giờ bắt kịp được Philippine, Indonesia, Thái Lan, chứ đừng mơ tưởng đuổi kịp Malaysia, Nam Hàn và Singapore.

So sánh đà phát triển của các nước Á Châu trong nửa thế kỷ vừa qua, chúng ta nhận ra một sự thật, cơ chế của một chính thể đã ảnh hưởng tới sự phát triển của quốc gia đó.
Về mặt xã hội, tệ nạn tham nhũng trong giới lãnh đạo đảng ngày càng gia tăng. Cán bộ lãnh đạo đảng trắng trợn cướp đoạt tài sản nhân dân, khiến các cuộc biểu tình đòi đất của người dân nghèo xẩy ra từ Bắc vào Nam. Tình trạng an ninh xã hội xuống cấp đến nỗi một đại biểu quốc hội đã phải lên tiếng: “ra ngõ không thấy anh hùng chỉ gặp toàn kẻ cướp.” Mà tệ hại hơn nữa, chính quyền nhiều địa phương xử dụng xã hội đen, hay trá hình xã hội đen để đàn áp nhân dân trong các vụ cướp đoạt ruộng vườn.

Đạo đức xã hội ngày càng suy đồi, bạo hành xẩy ra thường xuyên trong các trường học. Giáo dục chạy theo thành tích, định hướng Xã hội Chủ nghĩa, đã đẩy nhiều thế hệ tuổi trẻ Việt Nam trở thành công cụ của đảng. Trước sự tha hóa của xã hội, nhiều người lên tiếng đòi nhà cầm quyền tôn trọng quyền sống căn bản của con người, họ đã bị khủng bố, trù dập, giam cầm.
Chưa có chính quyền nào công khai bán nước như đảng CSVN. Công Hàm 1958 do Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký tên dưới sự chỉ đạo của ông Hồ, đã dâng Hòang Sa và Trường sa cho Trung quốc với mục đích để có phương tiện đánh chiếm miền Nam, mặc dầu vào thời gian này các hải đảo trên thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa.

Chiến tranh biên giới Hoa-Việt năm 1979, Trung cộng đã tàn phá các tỉnh biên giới, di chuyển cột mốc xuống phía nam và đòi đảng CSVN phải vẽ lại đường biên giới. Việt Nam đã mất hàng ngàn cây số vuông chạy dài trên sáu tỉnh miền Bắc. Các cao điểm chiến lược đã nằm trong tay Trung cộng. Pác Bó – Cao Bằng trước của ta nay thuộc Tầu. Điều tệ hại hơn nữa, với “16 chữ vàng và 4 tốt”, người Tầu vào Việt Nam tự do, trái lại người Việt vào đất Tầu phải xin phép. Vịnh Bắc bộ của Việt Nam cũng phân chia lại, có lợi về phía Trung quốc.
Năm 1988 Trung cộng tiến chiếm các đảo đá thuộc Trường Sa, Hải quân VN đã khởi động chiến dịch chủ quyền các đảo Cô Lin, Len Đao và Gạc Ma dưới tên CQ-88. Anh Nguyễn Văn Thống người sống sót sau trận đụng độ với quân Trung cộng cho hay: “trước khi đi đã quán triệt không được nổ súng với bất cứ giá nào.” Tướng Lê Mã Lương, nguyên Giám đốc Bảo tàng Quân sự Việt Nam cho biết: “…Đồng chí lãnh đạo cấp cao ra lệnh bộ đội ta không được nổ súng nếu như đánh chiếm cái đảo Gạc Ma hay bất cứ đảo nào của Trường Sa…” Ông Nguyễn Khắc Mai, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa Minh triết cho biết “ông Lê Đức Anh trong vai trò Bộ trưởng Quốc phòng, được xem là người đã ra lệnh không được nổ súng.” (Nguồn: Mạc Lâm-đài RFA)

Ông Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh người cầm đầu phái đoàn VN, với Đỗ Mười, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng và Phạm Văn Đồng đại diện phía Việt Nam, và TBT Giang Trạch Dân và Thủ tướng Lý Bằng đại diện phía Trung quốc, dự Hội nghị Thành Đô trong 2 ngày 3 và 4 -9-1990, đã tái xác định con đường bán nước của các người tiền nhiệm lãnh đạo đảng CSVN. Ông Nguyễn Cơ Thạch đã tuyên bố sau Hội nghị Thành Đô: “Một thời kỳ Bắc thuộc rất nguy hiểm đã bắt đầu.”
Gần đây nhất, khi Trung cộng đưa giàn khoan vào vùng đặc nhiệm kinh tế của Việt nam khiến tình hình Biển Đông trở lên sôi động. Nhiều nước đã đưa lời phản đối Trung quốc, trong khi Tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam đã tuyên bố quan hệ Việt-Trung vẫn tốt đẹp. Ông Thanh nói: “…Đây chỉ là sự bất đồng, cũng như sự bất đồng trong một gia đình .” Mặc dầu ở địa vị đứng đầu tổ chức quân đội, ông Thanh đã không có một hành động nào bảo vệ sự vẹn toàn lãnh thổ và chủ quyền của quốc gia.

Mục tiêu Xã Hội Chủ Nghĩa vốn không tưởng, chỉ còn là tấm bình phong của đảng CSVN che đậy những hành động đàn áp bóc lột người dân để bảo vệ quyền lợi của đảng. Đã tới lúc những đảng viên thực tâm yêu nước phải bỏ đảng, như nhận định của ông Nguyễn Minh Cần:
“…Nhóm cầm quyền không đủ trí tuệ để nhận ra cái mới, cái năng động của mầm non…Ban lãnh đạo, nhất là Bộ chính trị, Ban Bí thư già cả không có sức sống của tuổi trẻ để vươn tới trí tuệ..” Ông Cần cũng nhắn nhủ: “Mỗi người tự hỏi và quyết định: có nên tiếp tục ở trong đảng CS này không? Cái đảng phạm tôi diệt chủng. Cái đảng gian dối, lừa gạt lật lọng…”
Cũng cùng nhận định về sự phản bội dân tộc của đảng CSVN, ngày 10-4-2013, Thiếu tướng Hà Thanh Châu đã xin tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ. Gần đây nhất, ông Đặng Xương Hùng, nguyên Lãnh sự VN tại Genève đã tuyên bố bỏ đảng từ tháng 10-2013 và xin tỵ nạn chính trị tại Thụy Sỹ, để khởi đầu cuộc đấu tranh dân chủ cho Việt Nam.

Từ thời điểm 30-4-1975, đảng CSVN đã chứng tỏ là một đảng cướp, tồn tại nhờ dựa vào bạo lực để củng cố địa vị sống còn. Một đảng phạm tội diệt chủng, gây ra bao nhiêu đau thương cho người dân Việt từ Bắc vào Nam. Vì nguồn gốc côn đồ, các cuộc thanh toán vì quyền lợi phe nhóm của giới lãnh đạo đảng ngày một công khai, và những giới chức sẽ “phải hy sinh” còn đang tiếp diễn. Sau hơn 7 thập niên cầm quyền, đảng CS chứng tỏ không có khả năng xây dựng nhưng mạnh về phá hoại, khiến dân tộc ngày thêm điêu đứng và đất nước trở lên chậm tiến.
Ngày 30-4 không những là ngày Quốc hận đối với người Miền Nam, mà còn là mối căm hận chung cho cả Dân Tộc Việt Nam.

Trần Nhật Kim
Tháng 4-2015

Bài Xem Nhiều