We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 2 May 2015

Số phận sắp đặt: Tôi khen anh "ĐC" nhỏ đi bộ đội lớn ngồi gần Tổng thống

Ngày Tự Sướng


Ngày xưa tôi khóc trong niềm vui chiến thắng,
ngày nay tôi khóc trong nỗi đau thời cuộc.”(“Nghệ sĩ ưu tú” Kim Chi)

“Về ngày 30 tháng Tư, tôi chỉ biết diễn tả cảm giác duy nhất của tôi ngày hôm đó, là họ (công an trại tù Phong Quang, Lào Cai) cho tôi xem một tờ báo có đăng một tấm ảnh rất lớn, chụp cầu Tràng Tiền, trên cầu có chiếc xe Jeep còn mang cờ của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, và trên xe có mấy anh Việt Cộng đội mũ tai bèo, xe cắm cái cờ mà họ gọi là cờ giải phóng. Tôi cảm thấy đau nhói trong lòng và có cảm giác như nhìn thấy vợ mình đang nằm trong tay một người đàn ông khác.”

Người thốt ra những lời trên là ông Nguyễn Hữu Luyện, cựu sĩ quan Biệt Kích Dù QL/VNCH, trong cuộc phỏng vấn của đài Little Saigon Radio vào tháng Tư năm 2001, 26 năm sau ngày 30/4/1975.

Trong số những cách diễn tả cảm xúc về ngày 30 tháng Tư mà tôi nghe được, đọc được, đến nay tôi vẫn chịu cách diễn tả trên nhất.

“Cảm giác như nhìn thấy vợ mình đang nằm trong tay một người đàn ông khác” là cảm giác thật đau đớn trước một thực tế phũ phàng đập vào mắt mình, mà đành “bó tay” vì bất lực. Tôi cho là không có cách ví von, diễn tả nào “thật” hơn và đúng hơn thế. Còn nỗi đau nào hơn trông thấy người vợ yêu quý của mình bị cưỡng đoạt, vùi dập trong tay gã đàn ông xa lạ. Những ai chưa có vợ ngày ấy có thể hình dung người mình yêu nằm gọn trong vòng tay của tình địch. Giá mà kẻ tình địch ấy bảnh trai hơn, văn minh lịch sự hơn mình thì cái đau ấy còn ít, đằng này thì… “tiếc thay cây quế giữa rừng, để cho thằng Mán thằng Mường nó leo”.

Phải thương nước thương nòi ghê lắm, phải đau và hận ghê lắm mới diễn tả được nên lời cảm xúc như thế. Cách ví von ấy rất tượng hình, và tôi tin rằng không ít người có cùng một cảm giác như ông Luyện vào cái ngày thương tâm ấy. Riêng tôi, mãi đến nay cứ mỗi lần hồi tưởng lại cái “biến cố” đó là mỗi lần “đau nhói” trong lồng ngực đến mấy giây vì cảm giác ấy.

Ông Luyện nói thêm, “Sự đau đớn đã làm tôi khóc nhiều ngày, mắt tôi sưng lên. Trong tù rất đói, mà những ngày đó tôi không ăn được nữa.” Đúng vậy, làm sao ăn nổi, làm sao nuốt cho trôi nỗi đau và hận ấy.

Tôi vẫn chuộng những cách ví von tượng hình như thế, chẳng hạn như cách nói “như đàn kiến loi ngoi bò trong lòng chảo nóng” để diễn tả cảnh hoảng loạn của người dân Saigon đang nháo nhào, cuống cuồng tìm đường thoát thân trong những cố gắng tuyệt vọng vào những ngày cuối tháng Tư ấy. Tôi cũng là một chú kiến nhỏ trong lòng chảo tháng Tư ấy, cũng nháo nhào tìm một lối thoát và sau cùng tuyệt vọng, đành chờ bức màn đen của số phận phủ chụp xuống đời mình.

Cái lòng chảo khổng lồ ấy là số phận của cả một dân tộc.

Triệu Người Vui, Triệu Người Buồn

Ông Nguyễn Hữu Luyện nằm bẹp trong một trại tù ở ngoài Bắc (ông bị bắt năm 1966), chỉ xem ảnh trong một tờ báo thôi mà đã “cảm thấy đau nhói trong lòng” như thế, tôi và những bạn bè tôi còn “đau” đến mức nào khi trông thấy tận mắt những chiếc xe tăng của lính Bắc Việt chạy ngờ ngờ giữa lòng thành phố. Không chỉ đau vì người mình yêu bị cưỡng đoạt, tôi còn đau cái đau khác khi trông thấy những khuôn mặt rạng rỡ của từng đoàn người đổ ra ngoài đường phố hoan hô “bên thắng cuộc” (như đã từng hoan hô các “bên thắng cuộc” khác trong cuộc “cách mạng” lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Hòa và những cuộc đảo chánh, chỉnh lý tiếp theo sau đó), trong lúc tôi và các đồng đội cúi gầm mặt lầm lũi đi vào các trại tù cải tạo.

2015 APR 29 LEHUU B 300 
Hoan hô “Bên thắng cuộc” [SIC] ngày 30/4/1975 (lật đổ chính quyền VNCH)

Tấm ảnh này có thể “gây sốc” (nói như trong nước) cho không ít người, thế nhưng chúng không biết nói dối và là những “ảnh tư liệu” cho thấy hai mặt khá phũ phàng của cuộc sống mà lắm khi chúng ta chỉ nhắm vào một mặt và quên đi hay cố tình quên đi cái mặt kia, cũng như không muốn nghe những sự thật khó nghe.

Người khác có thể nói “chỉ một số nào đó thôi”, hoặc số người này bị ép uổng sao đó, thế nhưng nói gì thì nói, những vẻ mặt tươi vui rạng rỡ, những tiếng reo hò phấn khởi hồ hởi của đám đông “cứ bên nào thắng là ta hoan hô”, đặc biệt là những “em gái hậu phương” áo dài trắng ấy cũng đủ làm tan nát lòng những người lính xấu số trong cuộc “đổi đời” nghiệt ngã ấy.

Thực tình thì thời nào cũng có, ít hay nhiều, những kẻ “ăn theo”, những kẻ “đón gió trở cờ” và “gió chiều nào theo chiều ấy” để dễ dàng quăng đi không chút tiếc thương lá cờ vàng của hồn thiêng sông núi, của máu thắm biết bao người đã đổ ra cho họ có được cuộc sống tự do no ấm, và chụp vội lấy lá cờ xa lạ của “bên thắng cuộc” mà phất lia phất lịa, để tỏ ra có tinh thần “giác ngộ cách mạng” sớm hơn ai hết.

Có điều, người dân miền Nam còn ngây thơ, dễ tin chứ người cộng sản thì không ngây thơ, cho nên các diễn viên phụ “chạy cờ” này khi xong việc bèn được mời đi chỗ khác chơi cho rộng chỗ, còn đứng xớ rớ có khi lại bị hốt đi cải tạo vì tội “cướp công cách mạng”. Đến cả thành phần thứ ba, thứ tư gì đó cũng được cho “tan hàng, cố gắng”, và các tờ báo “đối lập” như tạp chí Đối Diện (Đứng Dậy, Đồng Dao), nhật báo Tin Sáng đều lần lượt được cám ơn và cho nghỉ hưu non với lý do đã “hoàn thành tốt nhiệm vụ” (mặc dù ai cũng biết là truyền thông báo chí luôn đồng hành với mọi sinh hoạt của người dân chứ làm gì có chuyện… đã hoàn tất nhiệm vụ).

Biến cố 30 tháng Tư là biến cố “kẻ khóc, người cười” của dân tộc Việt. “Một sự kiện liên quan đến chiến tranh khi nhắc lại, có hàng triệu người vui, mà cũng có hàng triệu người buồn,” câu nói ký tên ông cựu Thủ Tướng CSVN Võ Văn Kiệt cũng khá phổ biến không thua gì câu nói “Đừng tin những gì cộng sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm” của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Cái ý của ông Kiệt không có gì mới, nếu có “mới” chỉ là mới được nghe lần đầu từ một quan chức chính quyền CSVN.

Nhiều người chê trách ông Kiệt là chỉ nói được câu ấy sau khi đã về vườn, chẳng còn quyền bính gì trong tay. Điều này có thể hiểu được, lúc còn tại chức dẫu có muốn nói cũng chẳng dại gì nói để còn ngồi yên vị được trên chiếc ghế Thủ Tướng. Tuy rằng có muộn màng nhưng “có còn hơn không”, nói được như thế cũng là giỏi rồi.

Có điều ông Kiệt chỉ nói chung chung thế thôi, thực tế thì có nhiều trường hợp vui buồn khá “phức tạp” mà ông khó lường trước được, gọi là “khi buồn, khi vui” hoặc “trước buồn, sau vui” hoặc “trước vui, sau buồn”, chứ không hẳn chỉ là vui hoặc buồn. Chẳng hạn có người chưa kịp vui thì đã buồn, hoặc thoạt đầu đứng về phía “triệu người vui”, đến khi tỉnh người ra, thấy mọi việc không như mình tưởng thì lại buồn tê tái và nhập vào “triệu người buồn”. Ngược lại, có nhiều người thoạt đầu đứng về phía “triệu người buồn”, buồn đến độ phải bỏ nước ra đi, đến lúc quay về lại thì vui quá là vui, bèn chạy tọt sang phía “triệu người vui” (như là các “Việt kiều yêu nước” xênh xang áo gấm về làng, hoặc các ca sĩ “miền Nam ruột thịt” dắt díu nhau về quê hát véo von và cảm động đến rơi nước mắt khi được nhà nước chiếu cố cho tổ chức những đêm liveshow “hoành tráng” đánh dấu sự nghiệp hát hỏng một đời). Số người “buồn đổi ra vui”, “hết khóc lại cười” ấy cho thấy chẳng có “lập trường” rõ rệt chi cả về việc biểu tỏ trạng thái tình cảm của mình, vì vậy cũng khó mà xếp vào cột nào trong hai cột “triệu người vui” và “triệu người buồn” của ông Võ Văn Kiệt.

2015 APR 29 LEHUU C 300 
Một trong số “triệu người vui”

2015 APR 29 LEHUU D 300 
Một trong số “triệu người buồn”
Tên Gọi Khác cho Ngày 30 Tháng Tư

“Hồi tưởng về những kỷ niệm vui, người ta không còn cảm thấy vui nữa; hồi tưởng về những kỷ niệm buồn, người ta vẫn còn cảm thấy buồn khổ.”

Câu ấy đúng hơn bao giờ khi tôi đọc trên báo, xem trên đài truyền hình những câu chuyện và cảm xúc của nhiều người về những ngày cuối tháng Tư ấy. Những câu chuyện vẫn còn nóng hổi như mới xảy ra ngày hôm qua và những cảm xúc vẫn còn tươi rói, nguyên vẹn. Tôi nhìn thấy những khóe mắt đỏ hoe, tôi nghe thấy những giọng nói rưng rưng, nghẹn ngào. Sau 40 năm, dòng nước mắt ấy vẫn chưa cạn, nỗi đau ấy vẫn chưa nguôi, vết cắt ấy vẫn chưa lành.

Viết về ngày 30 tháng Tư là viết về những gì không vui, những gì nặng nề. Thật không may cho tháng Tư, trở thành tháng ít được thiện cảm nhất trong số mười hai tháng của một năm cũng vì gợi lên những cảm giác nặng nề ấy. “Tháng Tư đen”, trong cái nghĩa đó, là tháng của số phận đen tối phủ trùm lên đất nước, dân tộc. Những ai có muốn quên cũng không dễ gì quên được những ngày ấy, tháng ấy khi mà tấm lịch nào giở ra hoặc treo lên cũng có nguyên tờ lịch tháng Tư và cũng nhìn thấy rành rành con số cuối cùng của cái tháng oan nghiệt ấy.

Có những tên gọi khác nhau ở trong nước và ngoài nước cho ngày 30 tháng Tư năm 1975. Những cách gọi và tên gọi khác nhau ấy đẩy người Việt ra xa ở hai phía đối nghịch. Phía này trang trọng cử hành lễ truy điệu anh hùng tử sĩ và “tưởng niệm 40 năm Ngày Quốc Hận”; phía kia rầm rộ tổ chức diễu hành diễu binh “kỷ niệm 40 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước”, trong lúc vẫn tiếp tục kêu gọi thực hiện “hòa giải, hòa hợp dân tộc”.

Người cộng sản vẫn tỏ ra xuất sắc trong những chiêu lừa gạt. Đã từng là nạn nhân của những vố lừa đau điếng đến “thân tàn ma dại”, người ta không còn cho phép mình tiếp tục ngây thơ, ngu dại nữa. Cái khó cho người cộng sản bây giờ là khó mà làm cho người ta tin được nữa, dẫu họ có tỏ thiện chí cách nào thì cũng bị nhìn dưới cặp mắt ngờ vực, hoặc giả nhân giả nghĩa, hoặc ve vãn phỉnh phờ, hoặc có “ý đồ” gì đây.

Nạn nhân của những quả lừa ngoạn mục ấy không chỉ là người miền Nam mà cả người miền Bắc, và người miền Bắc còn “đau” hơn nhiều. Mãi đến lúc đặt chân lên vỉa hè của thành phố lớn vừa được “giải phóng” thì mới ngã ngửa ra, “Thôi chết rồi, thế là mình bị lừa mất rồi!”  “Mất rồi” là đánh mất cả tuổi thanh xuân, cả những năm tháng tươi đẹp nhất của một đời người, hoặc hơn thế nữa, cả một đời làm “cách mạng”. Thế là khóc như mưa. Thế là tình yêu biến thành tình hận.

“Ngày 30 tháng Tư tôi còn khóc vì một lý do khác nữa là vì chúng tôi bị lừa. Chúng tôi đi không nghĩ ngày về, chúng tôi tưởng đấy là chiến thắng quân ngoại xâm nhưng thực sự hoàn toàn là không phải. Và tất cả tuổi trẻ của chúng tôi đã bị tiêu hủy đi hoang phí. Và vì vậy mà tôi khóc. Trong những giọt nước mắt của tôi có cái phần chung cho dân tộc và có phần riêng của chúng tôi, của những người bạn tôi đã chết và của bản thân tôi đã hy sinh tuổi xuân một cách vô ích.”

Người thốt lên những lời lẽ chua xót trên là nhà văn miền Bắc Dương Thu Hương, trong cuộc nói chuyện với đài Á Châu Tự Do tháng trước.

Một nạn nhân người miền Bắc khác, “nghệ sĩ ưu tú” Kim Chi (người có lần khiêm tốn từ chối bằng khen thưởng của ông Thủ Tướng và “nói thẳng nói thật” rằng chỉ vì không muốn trong nhà mình “có chữ ký của kẻ đang làm nghèo đất nước, làm khổ nhân dân”), cũng bày tỏ những “cảm xúc tháng Tư” của mình với phóng viên đài VOA như sau:

“Bây giờ trong lòng tôi nó lạ lắm. Ngày 30 tháng Tư thì tôi thương nhớ đồng đội của tôi vô cùng, nhưng mà tôi cũng thương những người lính Việt Nam Cộng Hòa, và tôi nhận ra rằng trong cái cuộc chiến này người thắng người thua cũng đều đau, đều mất mát, đều đổ máu hết, cho nên thật lòng mà nói thì tôi cảm thấy nó rưng rưng mà xót xa lắm chị à.”

Nói thêm về “những người lính Việt Nam Cộng Hòa”, bà Kim Chi bộc lộ, “Với tôi, những ai sẵn sàng đem tính mạng của mình ra để bảo vệ đất nước thì tôi đều coi tất cả là anh hùng. Vinh danh những người lính VNCH ở trận chiến Hoàng Sa năm 1974 là một việc làm vô cùng ý nghĩa. Nó biểu hiện lòng biết ơn sâu sắc của nhân dân và đất nước đối với những người con ưu tú của tổ quốc Việt Nam.”

Và gần đây nhất là những bộc bạch trong lá thư bà Kim Chi vừa gửi ra từ Hà Nội, 40 năm sau ngày 30/4/1975:

“Bây giờ tôi mới thấy đó là niềm vui ngộ nhận. Hóa ra, niềm vui, niềm tin và những hy vọng cứ sáng lên trong tôi suốt thời chiến trường khói lửa ấy là do ‘nghệ thuật tuyên truyền’… Những năm bom đạn ‘đi theo lý tưởng’ thì quả là ‘lớn rồi mà còn ngây thơ’. Tôi cũng như biết bao đồng đội đã ‘ngây thơ’.

Bây giờ mỗi lần 30 tháng Tư, tâm trạng tôi rất đau đớn, vì niềm tin vào đảng CSVN và chế độ XHCN hoàn toàn đổ vỡ. Nỗi đau buồn không diễn tả được bằng lời. Ngày xưa tôi khóc trong niềm vui chiến thắng, nay tôi lại phải khóc trong nỗi đau thời cuộc, trong những nỗi buồn da diết.”

Những “sự lừa dối ngọt ngào” ấy khủng khiếp đến mức nào khiến cho những kẻ bị lừa khi chạm mặt với sự thật đều phải bật khóc, phải đớn đau, phải thốt ra những lời lẽ đắng cay, chua xót đến như thế.

Tên gọi “Ngày Quốc Hận”, vì vậy không chỉ có ý nghĩa đối với “bên thua cuộc” ở miền Nam mà cả người trong Nam ngoài Bắc, cả những ai từng là nạn nhân, từng say mê “lý tưởng cách mạng” và theo đuổi cái “chiến thắng vĩ đại” ngày 30 tháng Tư mà bà Dương Thu Hương gọi là một “ảo ảnh”, để rồi “sáng mắt sáng lòng” khi nhìn thấy cái ảo ảnh óng ánh, lung linh ấy vỡ tan như những bong bóng xà-phòng.

Đối với rất nhiều gia đình ở miền Nam, ngày 30 tháng Tư là ngày khơi dậy những kỷ niệm buồn, là ngày gợi lên những nỗi đau và những tiếc thương vô hạn. Nhiều gia đình lấy ngày này là ngày giỗ cho người thân yêu mình, những người đã chết tức tưởi hoặc xem như đã chết vì mất tích và đến nay vẫn biệt vô âm tín sau những năm chờ tháng đợi mỏi mòn. Đối với nhiều người chạy thoát ra được nước ngoài trước, trong và sau ngày Saigon hấp hối ấy thì ngày 30 tháng Tư là ngày nước mất nhà tan, ngày sinh ly tử biệt. Tháng Tư vì thế được xem như tháng của tưởng niệm, của tưởng tiếc những nỗi mất mát, tang tóc và chia lìa.

Trước nỗi thống khổ của người khác, người ta chỉ có nghiêng mình và… thinh lặng. Reo hò, nhảy nhót, cười cợt để tỏ sự hả hê, vui sướng trên nỗi đau của đồng loại là việc làm chỉ có ở những kẻ mất nhân tính, thiếu lương tri, và chỉ khoét sâu thêm cái vết thương mà ông Võ Văn Kiệt gọi là “vết thương chung của dân tộc, cần được giữ lành thay vì lại tiếp tục làm cho nó thêm rỉ máu”, và chắc chắn đấy không phải là cách tốt nhất để tỏ thiện chí “hòa giải, hòa hợp”.

Theo tin báo chí trong nước, “lãnh đạo thành phố Đà Nẵng quyết định chi gần 20 tỷ đồng trích từ ngân sách thành phố để mở tiệc ăn mừng 40 năm giải phóng Đà Nẵng”, và “nhiều buổi tổng duyệt quy mô trong suốt những tuần qua để chuẩn lễ cho đại lễ ‘kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước’ sẽ diễn ra tưng bừng trong cả nước vào ngày 30 tháng Tư này, với những màn bắn pháo hoa rực trời và diễu hành, diễu binh thật hoành tráng có đến 6 ngàn người tham gia.”

Đọc bản tin về những màn biểu dương lực lượng rất “khí thế” này, tôi bỗng nhớ đến ngày 30 tháng Tư của 40 năm về trước. Đâu đâu cũng trông thấy cờ xí ngờm ngợp, những biểu ngữ đỏ chói giăng đầy đường phố, đâu đâu cũng nghe thấy vang lên những bài hát “cách mạng” nhịp quân hành rầm rập, trong lúc loa phóng thanh liên tục mở hết cỡ phát đi những khẩu hiệu ròn rã. Nào là “Chiến công vĩ đại”, “Cuộc kháng chiến thần thánh”, “Chủ nghĩa Mác-Lênin vô địch muôn năm!”, nào là “Đỉnh cao chói lọi trong lịch sử vẻ vang của dân tộc”, “Đánh thắng hai đế quốc sừng sỏ nhất thế giới là Pháp và Mỹ”, nào là  “Vinh quang này thuộc về…, vinh quang kia thuộc về…”, kể ra không hết.

Có vẻ như tên gọi “Ngày Quốc Hận” được hầu hết người Việt “bên thua cuộc” tán đồng để gọi ngày 30 tháng Tư, và cũng khó mà tìm được tên gọi nào tốt hơn; tuy nhiên, nếu cần phải tìm một cái tên gọi cũng ngắn gọn như thế cho “bên thắng cuộc”, là cái bên lúc nào cũng vênh mặt lên với vẻ dương dương tự đắc mà bà Dương Thu Hương gọi là “chiến thắng vênh vênh váo váo”, tôi nghĩ chắc cũng không khó lắm. Ở trong nước có một cái “từ” khá phổ biến, và thiết nghĩ ta có thể dùng cái từ khá thích hợp ấy để đặt tên cho ngày 30 tháng Tư của “bên thắng cuộc”: Ngày Tự Sướng.
Lê Hữu
(29/4/2015)

* Nguồn ảnh: Internet
----
40 năm người Việt Quốc Gia tại Hải Ngoại vẫn còn đây

Còn CS sẽ mất Việt Nam 2020

CS Còn: VN Mất Biển Đảo


Tin trong tuần buồn năm phút cho Việt Nam ở Mỹ cũng như ở Đông Nam Á. Nhơn chuyến Thủ Tương Nhựt Abe công du Mỹ, đọc diễn văn trước Quốc Hội, họp bàn với TT Obama, TT Obama tuyên bố, khẳng định liên minh giữa Washington với Tokyo «không gì lay chuyển» được, nhưng không nên được xem là «một sự khiêu khích» đối với Trung Quốc. Còn Hội nghị thượng đỉnh, lãnh đạo 10 nước Đông Nam Á, ASEAN ra thông cáo chung không dám đề cập thẳng đến vấn đề TC tranh chấp tại biển Đông. Dù chỉ nói mé mé, chung chung kêu gọi phát huy tinh thần ôn hòa và chống cực đoan trong khu vực; thế mà TC, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Trung Quốc Hồng Lỗi họp báo nói và Đài Phát thanh quốc tế Trung Quốc truyền đi. Rằng các hoạt động xây dựng, bồi đắp ở quần đảo Nam Sa, tức quần đảo Trường Sa, là hoàn toàn thuộc chủ quyền của Trung Quốc và điều này không thể phản bác được.

Suy cho cùng, nghĩ cho tận tình hình Biển Đông của VN coi như mất trắng vào tay Trung Cộng rồi. Còn CSVN không hy vọng, trông mong gì giành lại chủ quyền trên vùng biển, vùng trời của VN được. Để một bên lịch sử ngàn năm thuộc VN, xét qua hiện tình thì thấy TC chiếm gần hết Biển Đông mà không cần nổ một tiếng súng. Mỹ và Nhựt có lợi gì để chống TC đề đòi lại cho VN. Biển đảo của VN mà Đảng Nhà Nước CSVN đang cầm quyền VN không đánh tái chiếm, không thưa kiện ra toà án quốc tế, thì hà cớ gì Mỹ, Nhựt, ASEAN các nước xen vào. Còn Đảng Nhà Nước VN thì thừa biết đánh TC là từ chết tới bị thương vì không có nội lực dân tộc, nên cắn răng chịu đựng, lâu lâu làm bộ tuyên bố chủ quyền để dân bớt nguyền rủa, để TC bớt xâm lăng để Đảng Nhà Nước CSVN còn có thể thống trị dân chúng VN để thu vén cuối đời.

Thực vậy, từ hình thức đền nội dung, Biển Đông của VN đã vào tay TC. Tổng Bí Thư Đảng CSVN bị TC triệu hồi sang Bắc Kinh về nói nhăn, nói cuội về Biển Đông thì một ngày sau Ngoại Trưởng Vương Nghị tuyên bố TQ bồ lắp, xây dựng trên đảo Trường sa và Biển Nam Trung Hoa (VN gọi là Biển Đông) là trên sân nhà, ở ao nhà của TQ, không nước nào có quyền xía vào.

Và trước đó, chính Ngoại Trưởng này của TC cũng “trước sau như một”, ngày 08/03/2015, Vương Nghị đã mở cuộc họp báo ở Bắc Kinh công khai và minh thị tuyên bố Biển Đông là nhà, là sân của Trung Quốc. Bộ Ngoại Giao TC còn kỹ lưỡng đưa những lời đanh thép này của Ngoại Trưởng TQ lên web tiếng Anh của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc. Ở đây Ông khẳng khái tuyên bố: «Chúng tôi không giống như một số quốc gia khác đã xây dựng trái phép trong nhà của người khác. Và chúng tôi không chấp nhận những lời chỉ trích từ người khác khi mà chúng tôi chỉ xây dựng các cơ sở trên sân riêng của chúng tôi.»

Chính hai vị tướng của Mỹ phụ trách lực lượng Mỹ ở Thái bình dương và Đệ Thất Hạm đội cũng tuyên bố TC đã quân sự hoá Biển Đông, biến Biển Đông và một số đào thành “vạn lý trường thành bắng cát.”

Nhựt, Phi luật tân có hiệp ước liên minh quân sự với Mỹ mới bị TC tranh chấp sơ sơ mà chông lại TC. Phi kiện TC ở toà án Liên Hiệp Quốc. Nhưt và Mỹ xuất kich hàng mấy trăm phi tuần bảo vệ đảo Senkaku không người ở. Còn VN mất 90% Biển Đông và gần hết hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa nhưng vẫn không có hành dộng bảo vệ nào coi cho được, trừ những lời tuyên bố chủ quyền sói mòn, lo sợ TC không dám nói tới tên TQ sợ phạm huý khi tàu TC tấn công tàu VN thì nói là “tàu lạ.”

Còn TC, kế hoạch xâm lăng Biển Đông và các quần đảo của VN rất có “bài bản”, ngon ăn nhứt trong dòng lịch sử 4000 năm của VN. Quân Tàu Cộng không cần nổ một tiếng súng, rút một cây gươm. TC dàn dựng dễ dàng cuộc xâm lăng, chiếm đóng, thôn tính. Tuyên bố chủ quyền, cho tàu ra chứng tỏ sự hiện VN đánh cá. Không làm rùm beng, súng nổ, bom rơi như thực dân Pháp chiếm thuộc địa. Mà làm bằng quyền lực mềm như Mao trạch Đông thôn tính, sáp nhập thành đất nước tỉnh, huyện của TQ như biến Cộng Hoà Hồi Giáo Turkestan thành tinh Tân Cương, Tây Tạng thành tỉnh Thanh Hải của TQ và Hoàng sa, Trường sa của VN thành Huyện Tam sa trực thuộc tỉnh Hải Nam một tỉnh trực thuộc của Trung Quốc vậy. Thôn tính là nghề của CS Trung Quốc. Trong thời đại Mao Trạch Đông, sử sách cho biết CS đã mở rộng được đất đai thêm một phần ba diện tích của TQ bây giờ.

TC làm công tác tuyên truyền dân, quân, địch vận, qui mô, liên tục, nhiều ngày, dưới mọi hình thức tuyên truyền đen, trắng, xám rất có phương pháp. TC thành lập chánh quyền quân dân, cán chính đủ mọi mặt. TC chứng tỏ sự có mặt của chánh quyền địa phương và của dân chúng Trung Quốc từ lục địa.

Theo thông tấn xã của AFP nhận định ngày 10/03/2013 chính TC chánh thức làm nhiệm vụ bảo quốc an dân như tại nước non nhà trên Biển Đông. Cho ngư dân TC ngang nhiên tràn ngập ra đánh cá trên Biển Đông như ao nhà của đất nước TQ. Quân dân TC thấm nhuần tuyên truyền của Bắc Kinh và được kích động tinh thần thượng tôn dân tộc Đại Hán. Tin của RFI, trích AFP, dẫn chứng Ông Wang, một chủ tàu cá ở Đàm Môn (Tanmen), nói như thuộc lòng: «Biển Đông là của chúng tôi, tổ tiên chúng tôi đã từng đánh cá ở đây». Ông nói đầy tin tưởng theo đề tài dân vận của Đảng Nhà Nước CS Bắc Kinh, rằng ngư dân Trung Quốc đã có mặt trên vùng biển này từ thời Hán, tức 200 năm trước Công nguyên.

Còn CS Bắc Kinh thì bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, cũng “trước sau như một” khẳng định Biển Đông là của TQ, là ao nhà, là sân nhà của TQ, nhứt quyết đó là điều không thể tranh cãi gì nữa cả. Bắc Kinh đã tự ý vạch ra, phổ biến bằng nhiều cách «Đường lưỡi bò» 9 đọan chạy dài thậm chí đến đảo Bornéo, cách vùng duyên hải Trung Quốc đến hơn 1.000 cây số. TC bất chấp mọi phản đối, cứ tiếp tục tung ra bản đồ này dưới nhiều hình thức, trong nhiều cơ hội.

TC còn mở rộng vành đai bảo vệ thêm với chiến lược chính Chủ Tịch TC Tập cận Bình tuyên bố, mở “Con đường tơ lụa trên biển” của TQ. Trước khi bàn giao chức vụ cho người kế nhiệm, trong cuộc họp khoáng đại Quốc hội ngày 05/03/2013, Thủ tướng mãn nhiệm Trung Quốc Ôn Gia Bảo còn đã nhấn mạnh, rằng Bắc Kinh quyết tâm «phát triển kinh tế biển (…) và bảo vệ các quyền và lợi ích trên biển».

Còn Đảng Nhà Nước VNCS là nhà cầm quyền đang thống trị VN lại “định hướng dư luận” theo lịnh cũa CS Bắc Kinh, không để cho người dân Việt bày tỏ lòng yêu nước, chớ đừng nói là bảo vệ giang sơn gấm vóc. Hỏi như vậy, Biển Đông, Hoàng sa, Trường sa của VN làm sao còn, nếu CSVN chưa mất./.
 
Vi Anh

Cộng đồng Hải Ngoại vẫn còn Uất Hận 30.4: Mừng 40 năm cộng đồng người Việt canada thoát khỏi CS ?


BILL S-219 “Journey to Freedom Day”

Là một người tỵ nạn cộng sản, tôi hằng chú tâm theo dõi những biến chuyển, những sự việc, những tin tức liên quan đến cộng đồng tỵ nạn cộng sản, do đó tôi đã có vài ba bài viết trình bày suy nghĩ cá nhân liên quan đến SJ-215 mới được Quốc Hội Canada ban hành trong tháng tư vừa qua. Bài viết hôm nay cũng vẫn lấy đối tượng là đạo luật vừa được đề cập.

Tôi không hiểu tên gọi của SJ-215
Phần tóm lược của SJ-215 (Short Title) ghi nguyên văn bằng Anh ngữ như sau :
“1. This Act may be cited as the Journey to Freedom Day Act: JOURNEY TO FREEDOM DAY.
1. Đạo luật này được gọi là Đạo luật Ngày Hành Trình Tìm Tự Do: NGÀY HÀNH TRÌNH TÌM TỰ DO.
2. Throughout Canada, in each and every year, the thirtieth day of April shall be known as “Journey to Freedom Day”.
2. Khắp đất nước Canada, hàng năm và mỗi năm, vào ngày thứ ba mươi của tháng Tư sẽ được biết đến như là “Ngày Hành Trình Tìm Tự Do”.

3. For greater certainty, Journey to Freedom Day is not a legal holiday or a non-juridical day.
3. Để rõ nghĩa hơn, Ngày Hành Trình Tìm Tự Do sẽ là ngày lễ kỷ niệm nhưng không phải là ngày nghỉ lễ chính thức.“
(Phần Việt ngữ kèm theo do Tiến sĩ Lê Minh Thịnh phổ biến trên internet cùng với lời chú thích “đăng bởi Luật sư Vũ Đức Khanh và cho phép tùy nghi xử lý“. Đối với tiểu mục 3, tôi nghĩ cách chuyển sang Việt ngữ có lẽ cần phải đươc xem lại vì : a) câu văn Anh ngữ không có nhóm chữ nào hàm ý “ngày lễ kỷ niệm“; b) khái niệm “non-juridical day“ bị gạt bỏ, không dịch).
Phần tóm lược bằng Pháp ngữ (Titre Abrégé) dịch Journey to Freedom Day thành Journée du Parcours vers la Liberté. 
Vào những ngày cuối tháng tư gia đình tôi chạy trối chết tìm cách bỏ nước ra đi. Đêm 29 rạng 30.04, chúng tôi được lệnh đến tập trung tại một cao ốc gần Toà Đại sứ Hoa Kỳ với hy vọng được Hoa Kỳ bốc đi, như người Mỹ đã chính thức cam kết. Sáng 30.04, toàn thể nhân viên cơ quan kẹt lại và sau đó cả mấy ngàn người cùng nhau đi tù. Tôi không nghĩ rằng giá đêm hôm đó, Mỹ bốc chúng tôi đi thì tôi cùng gia đình đã tham gia một hành trình, đã tham gia một journey, đã tham gia một parcours. (Thú thật trong ba chữ “hành trình, journey và parcours“, chữ “parcours“ là chữ tôi không thể hiểu nhất). 
Đến ngày 24.01.1984, nhờ sự can thiệp hết sức kiên nhẫn của chính quyền Tây Đức, gia đình chúng tôi năm người lên máy bay Air Vietnam rời Tân Sơn Nhứt qua Băng Cốc và tiếp tục lên phi cơ Lufthansa sang Frankfurt am Main. Tôi đứt ruột đành đoạn bỏ lại hết, bỏ cả mẹ đẻ của tôi, mặc dầu tôi là con trưởng. Trong hoàn cảnh và với tâm trạng đó, tôi không thể hiểu là mình đã tham dự một cuộc hành trình, một vụ journey, một đoạn parcours. 
Trí óc tôi không hiểu thì tôi xin nói là tôi không hiểu, vấn đề chỉ đơn giản có vậy mà thôi. Tôi càng không hiểu hơn vì nhận thấy trong S-219, dẫu chữ “exodus, exode“ nhiều lần được dùng nhưng nó lại không được dùng cho tên gọi đạo luật, mặc dầu khi đọc tác giả Vi Anh, tôi được cho biết rằng làm luật thì phải uyển chuyển.

Tôi có hiểu chủ đích và nội dung của SJ-215
Trình độ cá nhân giúp bản thân tôi hiểu rằng SJ-215 có mục đích và nội dung chống cộng và vì thế, Việt cộng đã phản đối mạnh mẽ. Tôi chỉ chưa đủ trình độ để hiểu hai khái niệm “cuỡng hành“ và “uyển chuyển“ sau khi đọc bài viết mới đây của tác giả Vi Anh nhan đề Canada chống cộng bằng luật.
Tôi hiểu rằng các bộ luật, sắc luật, đạo luật, điều luật v.v..đều có tính cách cưỡng hành, nghĩa là mọi tổ chức, mọi công dân thuộc quốc gia liên hệ đều phải tuân thủ, phải thi hành. Tôi chỉ không hiểu khi áp dụng vào đời sống dân chúng, SJ-215 sẽ được thi hành ra sao. Đến ngày 30.04 sang năm chẳng hạn, trong khi cộng đồng Người Việt tỵ nạn cộng sản tại Canada tổ chức Ngày Quốc Hận thì xã hội Canada sẽ có những hình thái sinh hoạt gì để thực thi tính chất “cuỡng hành“ của SJ-215. Tại Hoa Kỳ và từ nhiều năm nay rồi, đã có những đạo luật đồng loại với SJ-215 nhưng là ở cấp tiểu bang. Tôi kính xin tác giả Vi Anh, vốn đang cư trú tại Hoa Kỳ và nếu được, rộng lòng và vui lòng chỉ dạy cho tôi qua cung cấp cho tôi một số dữ kiện thuộc lĩnh vực tác động lên sinh hoạt của xã hội tiểu bang Virginia của các đạo luật SJ-455, SJ-139 vào các ngày 30.04 trong những năm qua. Trở lại với SJ-215. Chẳng rõ rồi ra các cuốn lịch phát hành tại Canada có ghi nhóm chữ Journey to Freedom Day vào ngày 30.04 không. Chẳng rõ xã hội Canada sẽ đón tiếp ngày Journey to Freedom như thế nào. Riêng thành phần người Việt tỵ nạn cộng sản tại Canada sẽ có những sinh hoạt đặc biệt gì nhằm đón tiếp Journey to Freedom Day. Tôi nghĩ rằng tại Canada, trong tương lai Journey to Freedom Day chắc không thể nào lại là một ngày như mọi ngày.
Như đã trình bày, tôi ghi nhận trong thân bài văn bản pháp lý SJ-215 có chữ “exodus, exode“. Theo cung cách giải thích của tác giả Vi Anh, chắc cũng vì phải “uyển chuyển“ nên trong tên gọi của SJ-215, đã không có chữ này. Tránh các nhóm chữ Tháng Tư Đen, Ngày Quốc Hận chưa đủ, còn phải tránh cả chữ Exodus. Cái giá của sự “uyển chuyển“ thật là cao.
Cái giá đó càng cao hơn nữa khi tôi nhìn lại quanh mình để thấy giữa những người mình quen biết và mến chuộng, thông hiểu và kính phục lại đang xảy ra những tình huống va chạm đụng độ có thể xem là mạnh mẽ trầm trọng chỉ vì bênh và chống SJ-215.

Tổn thương kế cận
Trong y khoa có khái niệm tác dụng phụ của thuốc, side effects. Trong chiến tranh có khái niệm collateral damages  mà tôi xin phép tạm dịch là tổn thương kế cận. 
Cân nhắc giá trị thực dụng và thực tế của SJ-215, cá nhân tôi, với sự hiểu biết hạn hẹp và với cách nhìn chủ quan, chỉ biết kết luận là SJ-215 tuy là một văn bản lập pháp chống cộng nhưng rất tiếc và đáng buồn là nó có side effects, collateral damages không nhẹ, không nhỏ.
Đấy là tôi triệt để không dám lạm bàn đến những khía cạnh suy đoán, diễn dịch gắn liền với quá trình soạn thảo, bàn luận, giải thích SJ-215 đang diễn ra trên mạng lưới. Tôi không dám lạm bàn vì không ít người đã làm rồi và quí vị này đã tỏ ra sắc bén, thông thái, thâm thúy, uyên bác vượt trội hẳn bản thân tôi. 
01.05.2015

Cộng Đồng Vương Quốc Anh: Tường trình biểu tình 40 năm Quốc Hận, 30/4/2015 tại London

  Tường trình: Biểu tình 40 năm Quốc Hận, 30/4/2015 tại London
 
Như mọi năm, sáng nay, 30/4/2015, chúng tôi có mặt tại Văn phòng Cộng đồng người Việt tỵ nạn Cộng sản tại vùng Midlands, để lên đường tham gia cuộc Biểu tình và Tưởng Niệm 40 năm Quốc Hận trước  Tòa đại sứ của Việt cộng tại Luân-Đôn, để lên án những tội ác của đảng Cộng sản sau 40 năm chúng cưỡng chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa.
 
Trước khi lên xe, chúng tôi gặp ông bà Nguyễn Văn Thi, là hai vị đã từng góp mặt trong những sinh hoạt đấu tranh chống Cộng sản rất bền bỉ, cho đến hôm nay, mặc dù đã cao tuổi, (ngoài 80) sức khỏe có phần giảm sút, nhưng ông bà Nguyễn Văn Thi, đã không ngại thời gian từ sáng tới chiều tối, từ lúc ngồi trên xe, và đi bộ một quãng đường khá xa, để tới Tòa đại sứ của Việt cộng. Ngoài ông bà Nguyễn Văn Thi, còn có anh Nguyễn Thế Quang, là một trong những người con của ông bà Nguyễn Văn Thi, đã thành lập một Ban nhạc đấu tranh chống Cộng, gồm các anh chị em trong gia đình, lúc nào cũng đầy nhiệt tâm, góp mặt trong những lần sinh hoạt chống Cộng. Anh cũng đã không ngại bỏ công việc riêng, để tự tay lái xe, đón đồng bào đi biểu tình. Chúng tôi kính phục ông bà  Nguyễn Văn Thi, vì thấy các con cháu của ông bà, mặc dù sinh sống ở phương Tây, những vẫn giữ được nề nếp gia phong, lễ giáo, nhưng trên hết là con cháu của một Sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đã một thời chắp tay súng, để bảo vệ tự do, bảo vệ đồng bào tại miền Nam: VNCH.


 

Trước khi khởi hành, đứng trước lá Đại Kỳ Việt Nam Cộng Hòa, cụ Nguyễn Văn Thi đã có lời ngỏ với đồng bào về ý nghĩa của cuộc Biểu tình và Lễ Tưởng Niệm 40 Quốc Hận, cũng như nêu lên những tội ác do đảng Cộng sản Bắc Việt đã gây ra cho cả dân tộc nói chung, và nói riêng cho tất cả Dân, Quân, Cán, Chính VNCH kể từ sau ngày 30/4/1975.

Cụ Nguyễn Văn Thi cũng cho biết trước đó, cụ có đến thăm Linh Mục Nguyễn Tiến Đắc, được Cha Đắc cho hay, Cha rất muốn tham dự cuộc Biểu tình Tưởng Niệm 40 năm Quốc Hận,; nhưng vì đã cao tuổi, sức yếu, không thể đi đứng lâu được một thời gian suốt cả ngày, ngồi trên xe và đứng trước “tòa đại sứ của Việt cộng. Tuy nhiên, trong lúc đồng bào đi Biểu tình, thì Cha có cho Ban Tổ Chức biết, Cha sẽ theo dõi để xem cuộc Biểu tình truyền hình trực tiếp. Cha cũng chúc quý đồng bào tỵ nạn Cộng sản tại vương quốc Anh sẽ thành công tốt đẹp trong ngày lễ trọng đại này.




Tiếp theo, là phần dâng hương, và đọc Văn Tế trước bàn thờ Tổ Quốc, được đặt tạm ngay địa điểm khởi hành, do ba vị đảm trách, đó là cụ Nguyễn Văn Thi, ông Ngô Ngọc Hiếu và ông Nguyễn Đức Chung, để Tưởng Niệm và Tri Ân các vị anh hùng Vị Quốc Vong Thân.



Sau phần đọc Văn tế, ba vị đã cùng đồng bào chít vành khăn tang lên đầu, rồi đi đến Tòa đại sứ của Việt cộng tại London.



Lá Đại Kỳ Việt Nam Cộng Hòa.




Khi đến trước Tòa đại sứ của Việt cộng, thì một lần nữa, cụ Nguyễn Văn Thi đã lên án nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa đã tự xé bỏ Hiệp định Paris, mà họ đã ký kết vào tháng 1/1973, xua xâm lăng và cưỡng chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 30/4/75, để rồi sau đó, đảng Cộng sản Bắc Việt đã giết chết, hoặc trả thù, hành hạ tất cả Dân, Quân, Cán, chính Việt Nam Cộng Hòa bằng  những cảnh bắt bớ, giam cầm, đấy ải vô cùng, tàn bạo, dã man...




Bà Hàn Giang Trần Lệ Tuyền phát biểu: Theo bà những tội ác của đảng Cộng sản, thì như cụ Nguyễn Văn Thi đã nói, là đã đủ, nên bà không nói thêm, vì tất cả những ngôn từ của nhân loại không thể diễn đạt cho hết được. Vì thế, bà chỉ nói đến một điều, mà có một thiểu số, đã không đồng ý hai chữ mất nước; Bởi theo bà, thì ngày xưa chính đảng Cộng sản Hà Nội đã toa rập với nước Pháp, ký kết cái Hiệp Định Genève vào ngày 20/7/1954, để chia đôi đất nước. Kể từ đó, miền Bắc đã trở thành nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do Hồ Chí Minh cai trị. Miền Nam trở thành nước Việt Nam Cộng Hòa do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo. Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa có đầy đủ Tam Quyền phân lập: Lập pháp, Hành Pháp và Tư Pháp, có Lưỡng Viện Quốc Hội, có Hiến Pháp, đã từng được Liên Hiệp Quốc công nhận...

Năm 1956, Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã ký các Sắc lệnh, và cho đặt bia đá chủ quyền trên đảo Trường Sa, Hoàng Sa.

Thế nhưng, năm 1958, thì "Thủ tướng" Phạm Văn Đồng đã thừa lệnh của ông Hồ Chí Minh, nhân danh Chính phủ nước Việt Nam Cộng Hòa đã ký vào văn bản Công hàm và đã gửi cho Chu Ân Lai, để dâng, bán Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng!
 
Sau đó, đảng Cộng sản của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa đã ngang nhiên xua quân xâm lăng và cưỡng chiếm đất nước Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 30/4/1975. Vì thế, đối với người dân của nước VNCH không cộng sản, thì họ là người bị Mất Nước!
 
Và chính tay bà đã cắt may lá Đại Kỳ Việt Nam cộng Hòa, để góp mặt trong cuộc Biểu tình và Tưởng Niệm 40 năm Quốc Hận, với niềm tin của bà, ngày 30/4/2016, bà sẽ mang lá Đại Kỳ này, cùng với những lá Đại Kỳ khác của người Việt tỵ nạn Cộng sản ở khắp nơi, trở về cắm tại Sài Gòn, thù đô của nước Việt Nam Cộng Hòa. Cũng theo bà, thì những người Việt Nam yêu nước chân chính, chống Cộng thực sự tại hải ngoại, hãy cùng nhau hướng về quê hương, bằng mọi cách, yểm trợ đồng bào tại quốc nội trong cuộc đấu tranh sống còn, để giải trừ đảng Cộng sản, hầu xây dựng lại một nước Việt Nam Tự Do, Dân chủ - Không Cộng Sản, để giành lại chủ quyền của đất nước, và đánh đuổi lũ giặc Tầu ra khỏi bờ cõi Việt Nam.




Kế đến, ông Ngô Ngọc Hiếu đã giới thiệu ông Lê Thành Lập, chủ tịch Cộng Đồng người Việt tỵ nạn vùng Midlands, phát biểu cảm tưởng và  lên án những tội ác của đảng Cộng sản Việt Nam. (vì giới hạn của một bài tường trình, chúng tôi xin tóm lược): Ông Lê Thành Lập đã mạnh mẽ lên án những tội ác của đảng Cộng sản, kể từ khi Hồ Chí Minh đem cái chủ thuyết Cộng sản ngoại lai về áp đặt trên đất nước, khi chúng cướp chính quyền từ năm 1945; và đã xua quân vào cướp miền Nam: VNCH vào ngày 30/4/1975.
 
Ông Lê Thành Lập nói tiếp: 40 năm rồi, đã qua đủ, để chúng ta cùng đứng lên đòi lại quyền tự quyết của Dân tộc.



Sau mỗi phần phát biểu, thì anh Nguyễn Thế Quang, người phụ trách âm thanh, đã cho đồng bào nghe những bản nhạc đấu tranh như bản: Lửa máu hận thù, Việt Nam tôi Đâu? và Anh Là Ai? của Nhạc sĩ Việt Khang, người đang bị Việt cộng bỏ tù, chỉ vì một cái tội đã viết lên những lời ca, để đặt câu hỏi cho đảng Cộng sản Việt Nam khi thấy lũ giặc Tầu lan tràn trên quê hương... Tiếp nối những bài ca, là những tiếng hô vang, với các khẩu hiệu như: Human rights for Vietnam, Freedom for Vietnam, Religious freedom for Vietnam, The Vietnamese communist down, Đả đảo Viêt cộng bán nước...





Ông Lê Phát Định đang phát biểu, ông nói: 40 năm qua, chúng ta không ngừng đấu tranh chống Cộng sản, ông cũng là một người đã phải bỏ nước ra đi trong thập tử nhất sinh. Ông cũng nói đến những cuộc đấu tranh, xuống đường của giới trẻ trong nước; và ông tin rằng nếu có những cuộc tổng đình công toàn quốc, sẽ đưa đến sự sụp đổ của chế độ Cộng sản, như những cuộc cách mạng tại Đông Âu...


 

Ông Nguyễn Đức Chung, chủ trang điện báo Hồn Việt phát biểu: Ngày xưa qua một ngàn năm dưới ách cai trị của giặc Tầu, gần một trăm năm bị lệ thuộc Tây, nhưng dân tộc Việt Nam không bị mất một một hải đảo, cũng như một tấc đất liền về tay của ngoại bang. Thế nhưng, kể từ khi có mặt đảng Cộng sản trên đất nước; đặc biệt là kể từ ngày 30/4/1975 cho tới nay, thì chính đảng Cộng sản Việt Nam đã bán rẻ từng phần đất, tới hải đảo cho lũ giặc Tầu. Ngày nay, mọi người đã biết đảng Cộng sản thực sự là một đảng cướp.
 
Và 40 năm, đã quá đủ, chúng ta, những người đang sống ở các nước tự do, không còn chần chờ gì nữa, hãy cùng nhau đứng lên, như Nhạc sĩ Việt Khang đã viết. Phải đứng lên để đánh đổ chế độ Cộng sản. Ý dân là ý Trời là vậy.
 
Và theo ông: Hôm nay, 40 năm Quốc Hận, chúng ta chít những vành khăn tang trên đầu, là không phải đển than khóc, mà tượng trưng cho niềm uất hận, và phải biến uất hận trong suốt 40 năm qua thành những hành động thực tiễn, là hãy cùng đứng lên, đánh đổ chế độ Cộng sản, và một khi đảng Cộng sản không còn nữa, thì đất nước không còn phải bị lệ thuộc của ngoại bang...



 
Ông Ngô Ngọc Hiếu, là một khuôn mặt đấu tranh chống Cộng rất quen thuộc, không phải chỉ riêng tại vương quốc Anh, mà ông từng đi khắp nơi, để vận động người Việt tỵ nạn Cộng sản hướng về quê hương, trong công cuộc Yểm trợ đồng bào quốc nội vùng dậy; ông bà Ngô Ngọc Hiếu luôn nhiệt thành trong tất cả những sinh hoạt đấu tranh chống Cộng, luôn đóng góp rất nhiều, và cũng không thiếu mặt trong những cuộc biểu tình chống Cộng nào cả.
 
Ông đã nêu lên tình thần đấu tranh chống Cộng liên tục của một số đồng bào đã từng góp mặt trong những cuộc biểu tình chống Cộng trước đây, như ông Trần Xuân Điều, ông Bùi Ngọc Tuyên, ông Hồ Văn Hội, ông Chu Quý, hiền thê của ông Nguyễn Xuân Hương, ông Nguyễn Văn Khâu, Cụ Dương Văn Lý... Bà Nguyễn Thị Kim Thoa, có lần vì bị bệnh, không thể đi biểu tình được, nhưng vẫn đóng góp 50 Anh kim, cho ban tổ chức Biểu tình, và vừa qua, chị vẫn hy vọng sẽ đi biểu tình 40 năm Quốc Hận năm nay, nhưng rồi chị đã ra đi một cách bất ngờ, ông đã xin quý đồng hương dành một giây để tưởng niệm những chiến hữu, đồng hương đấu tranh đã ra đi kể trên.
 
Riêng có một điều, mà chúng tôi thấy rất đúng, và vô cùng chính đáng, đó là, khi ông Ngô Ngọc Hiếu đã lên án những tội ác của đảng Cộng sản. Đặc biệt là tội bán nước, là phản quốc, mà như Di chúc của Vua Trần Nhân Tông, là tội chém đầu và phải bị Tru Di Tam Tộc!
 
Bà Bùi Ngọc Tuyên
 

Sau cùng, chúng tôi muốn nói đến ông Đoàn Minh Thanh, là chủ của trang UK Đấu Tranh; ông là một người trưởng thành sau ngày Quốc Hận 30/4/1975, nhưng trên trang báo của ông, ông không bỏ qua những tội ác của đảng Cộng sản, bằng cách đăng những bài viết của các tác giả có tinh thần đấu tranh chống Cộng.
 
Trong cuộc Biểu tình và Tưởng Niệm 40 năm Quốc Hận vào ngày 30/4/2015, chính ông Đoàn Minh Thanh là người thực hiện quay phim và truyền hình trực tiếp cuộc Biểu tình và Tưởng Niệm  40 năm Quốc Hận tại vương quốc Anh.



Tại địa điểm tập trung trước khi chia tay ra về, Ban tổ chức đã thu lại tất cả những khăn tang, để đem về đốt đoạn tang sau cuộc Biểu tình Tưởng Niệm 40 năm Quốc Hận năm nay.

Trong khuôn khổ của một bài tường thuật, chúng tôi không thể ghi lại tất cả mọi diễn tiến, cũng như những lời phát biểu của quý vị trong cuộc Biểu tình 40 năm Quốc Hận vừa qua. Kính mời quý độc giả vào xem chi tiết tại địa chỉ YouTube dưới đây:



Nguyễn Hùng Anh
 http://hon-viet.co.uk/BieuTinhQuocHan30thangTuLondon2015.htm

Bài Xem Nhiều