We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 2 June 2015

Giới Thiệu tác phẩm Văn Nhân & Tình Sử



blankTôi vốn thích môn lịch sử, nên tôi thích đọc các sách về lịch sử và các sách liên quan đến lịch sử. Vì vậy khi được tác giả Vương Trùng Dương (VTrD) gởi tặng tôi tập sách mới của ông là Văn Nhân & Tình Sử, tôi liền đọc ngay.  

Thú thật lúc đầu tôi đọc vì tôi nghĩ rằng trong những câu chuyện tình sử của các văn nhân, biết đâu lại có những chi tiết lịch sử có thể bổ túc cho việc viết sử của mình. Không ngờ, tôi bị cuốn hút vào trong sách vừa vì những câu chuyện tình đầy kịch tính do tác giả VTrD chọn lựa, và có thể tôi chủ quan, tôi còn bị cuốn hút vì lối viết văn kể chuyện rất tự nhiên và hấp dẫn của VTrD.

Theo “Lời Ngỏ” của tác giả vào đầu sách, sách nầy tập hợp những bài viết của tác giả trong gần hai thập niên qua. “Quyển sách nầy, với tôi không thuộc loâi biên khảo, nhận định mà có tính cách tản mạn, tạp ghi về tác giả qua các khía cạnh cuộc sống, tình yêu và sáng tác (bài thơ, ca khúc...) được phổ biến...”
Đúng vậy, nhìn vào tựa đề các bài viết, người đọc sẽ thấy rõ sách nầy không phải là một tập biên khảo, không viết và trình bày theo lối biên khảo. Sách gồm những bài viết chung quanh đề tài tình yêu nam nữ và thêm vào đó những câu chuyện về cuộc sống của các văn nghệ sĩ do VTrD đã viết lại theo cảm hứng trong thời gian ông làm báo. Sách gồm các chương như sau: Tình Sử Phượng Cầu Hoàng - Nguyễn Trãi, oan nghiệt cuộc tình - Hữu Loan, mối tình thiên thu - Đoàn Chuẩn & gởi người em gái, Hoàng Cầm, tình yêu & tình sử - Quang Dũng, sổ tay và cuộc tình - Lê Thương, trường ca cổ tích - Hoàng Nguyên, dòng nhạc dòng đời - Hoàng Trọng, ngàn thu áo tím - Lê Trạch Lựu, tình khúc em tôi - Tình khúc... gởi Nha Trang của tác giả - Nguyễn Bá Trác & hồ trường - Khái Hưng & Hồn Bướm Mơ Tiên - Nhất Linh, ngọn đuốc trong đêm - Phan Khôi, sĩ khí người cầm bút - Bùi Giáng, đại lão cái bang -  Bà Tùng Long, nhà giáo, nhà văn - Nguyên Sa, lời thơ ý nhạc - Nguyễn Thụy Long, chữ nghĩa & mưu sinh - Nguyễn Thị Thụy Vũ, giữa dòng đời nghiệt ngã - Cung Tích Biền, giữa hai lằn đạn.

Mở đầu sách, “Tình Sử Phượng Cầu Hoàng” là những câu chuyện tình truyền thuyết lãng đãng khắp đó đây, từ những câu chuyện trong thế giới võ lâm của Kim Dung, đến những tình sử huyền thoại thời Xuân Thu bên Trung Hoa, rồi bóng dáng phượng hoàng phảng phất trong đời sống...  

Qua câu chuyện tình thứ hai, VTrD không còn chơi vơi phiêu lãng trong cõi mơ huyền của khúc “Phượng Cầu Hoàng”, không tiếp bước vào những cuộc tình truyền thuyết mơ hồ nữa, mà VTrD trở về với thực tại, đi vào những cuộc tình có thực, bi ai, oan nghiệt cũng có, êm đềm hoa mộng cũng có.  

Dù tác giả tự nhận rằng sách của ông không thuộc loại biên khảo, nhưng bối cảnh xảy ra những cuộc tình do ông tìm tòi trong sách sở, dò hỏi và phỏng vấn những thân nhân các văn nghệ sĩ, rồi trình bày lại khá cặn kẽ, từ Nguyễn Trãi đến cuối sách, đều là những sự kiện có thật trong cuộc đời nhân vật hoặc trong xã hội mà nhân vật đang sống. Điều nầy góp phần không ít cho những nhà nghiên cứu nắm bắt được những thông tin đầu mối cần thiết, giúp đào sâu thêm tiểu sử các nhân vật, hoặc nhân vật chính hoặc những nhân vật liên hệ, hoặc hoàn cảnh xã hội họ đang sống.  

Ví dụ khi viết về Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ, dù muốn dù không, VTrD cũng phải đi vào chính sử mới có thể vẽ lại khung cảnh của cuộc tình và tấn bi kịch đưa đến bản án tru di gia đình Nguyễn Trãi. Hoặc khi VTrD kể lại mối tình thiên thu của thi sĩ Hữu Loan; ngoài tính chất thơ mộng và bi thương, đưa đến cảm hứng của bài thơ lừng danh “Màu Tím Hoa Sim”, người ta thấy hiện ra trước mắt hình ảnh một chàng thanh niên yêu nước nhiệt thành, lên đường chiến đấu theo tiếng gọi thiêng liêng của tổ quốc.  

“Nàng có ba người anh đi bộ đội / Những em nàng/ Có em chưa biết nói / Khi tóc nàng xanh xanh…”

Những thanh niên nầy tượng trưng cho hàng ngàn, hàng trăm ngàn người đã đứng lên đáp lời sông núi năm 1946. Tuy nhiên, chính tổ chức của những thanh niên đó, chính tổ chức đã kêu gọi cuộc kháng chiến đó, đã phản bội dân tộc, phản bội tổ quốc, xây dựng một chế độ phi nhân, độc tài, và gây ra biết bao thảm cảnh đau thương cho người Việt, mà thi sĩ Hữu Loan và gia đình là một trong những nạn nhân và chứng nhân bị chà đạp đau đớn. Nhân cách của Hữu Loan nổi bậc lên như một anh hùng kiệt xuất trên khung cảnh xám xịt của xã hội ông đang sống. “Tôi bỏ, tôi về, tôi cứ về…tôi phải đi cày, đi bừa, đi thồ, đi đốn củi đưa về, đi xe đá để bán thì nó làm tôi đủ cách, xe nó không cho xe, nó bắt xe đến nỗi sau cuối cùng không xe được, tôi phải đi xe cút kít.  Tôi làm cái xe cút kít tôi đi… xe cút kít nó cũng không cho…nó xui người bắt bánh xe không bán cho tôi nữa… có lần tôi phải gánh bộ, gánh bằng vai…tôi cũng cứ nhận để tôi gánh… Tôi cứ gánh tôi làm, không bao giờ tôi chịu khuất phục...” (Trích Văn Nhân & Tình Sử, tr. 59.)

Rồi những câu chuyện khác nữa suốt trong tác phẩm của VTrD. Ông không chủ ý viết biên khảo, nhưng ông đã kể lại cuộc đời của những Đoàn Chuẩn, Hoàng Cầm, Quang Dũng, Lê Thương, Hoàng Nguyên, Nguyễn Bá Trác, Khái Hưng, Nhất Linh, Phan Khôi... và cả Bùi Giáng, Bà Tùng Long, Nguyễn Thụy Long, Thụy Vũ, Cung Tích Biền.  Cuộc sống của tất cả những nhân vật nầy đều gắn liền với xã hội, với những diễn biến chính trị Việt Nam hiện đại, thì cũng liên hệ ít nhiều đến việc biên khảo.

Bạn đọc có thể rất thích thú với những chuyện tình ngang trái, éo le của các văn nhân, thi sĩ, nhạc sĩ, vốn là những tâm hồn nhạy cảm, đa tình, nên tình yêu đến với họ dễ dàng, nhanh chóng, và đọng lại nơi họ những dư âm, để biến thành những tác phẩm văn chương hay ca khúc lâm ly, ướt át, dễ làm rung động lòng người. Vì vậy, trước mỗi áng văn thơ hay tình ca tuyệt với lừng danh, thường là một cuộc tình lận đận trái ngang, thêm một chút bí ẩn cho thêm phần thi vị như chuyện Đoàn Chuẩn và người em gái mà VTrD kể lại.

Chuyện “Hoàng Cầm, tình yêu và tình sử” lại càng lãng mạn thi vị. Hoàng Cầm sáng tác nhiều kịch thơ nổi tiếng như “Kiều Loan”, “Hận Nam Quan”, nhưng Hoàng Cầm vốn thuộc nòi tình, nên bài thơ làm cho người đời nhớ đến ông nhiều là bài thơ “Lá Diêu Bông”, do ông sáng tác năm 1959, khi ông hồi tưởng lại cuộc tình đơn phương trẻ dại của ông lúc mới lên khoảng 10 tuổi.  Vâng, chỉ mới lên khoảng 10 tuổi, Hoàng Cầm yêu chị bạn gái hàng xóm lớn tuổi hơn nhiều, và tưởng tượng ra một chuyện tình thơ mộng: “Đứa nào tìm được lá diêu bông / Từ nay ta gọi bằng chồng / Hai ngày em đi tìm thấy lá / Chị chau mày: / Đâu phải lá diêu bông / Mùa đông sau em thìm thấy lá / Chị lắc đầu / Trông nắng vãn bên sông /  Ngày cưới chị / Em tìm thấy lá / Chị cười xe chỉ cắm trôn kim. / Chị ba con / Em tìm thấy lá / Xòe tay phủ mặt chị không nhìn. Từ thuở ấy / Em cầm chiếc lá / Đi đầu non cuối bể.  Gió quê vi vút gọi. Diêu bông hời... Ới diêu bông”.  Lá điêu bông thật ra chỉ là một chiếc lá tưởng tượng cho tình yêu non dại nhưng cũng thật thắm thiết êm đềm của Hoàng Cầm thời trẻ thơ.

Khi nói về tình sử, thì phải nói đến phụ nữ, vì phụ nữ cũng là những nhân vật chính trong tình sử. Phụ nữ trong Văn Nhân & Tình Sử có thể là những giai nhân thấp thoáng qua cuộc sống của văn nghệ sĩ, nhưng chắc chắn không thể thiếu bóng dáng của những người vợ hiền, là những người phải chấp nhận, chịu đựng tính lãng mạn lông bông phiêu lãng của người chồng nghệ sĩ tài hoa.  

Vương Trùng Dương không quên ghi lại hình ảnh của các hiền thê, các giai nhân và diễn biến tâm lý của tất cả những phụ nữ trong các cuộc tình sử, làm cho câu chuyện thêm cảm động, đậm đà và không kém phần hồi hộp. Xin đơn cử trường hợp hiền thê của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn: “Sau vài năm lập gia đình, Đoàn Chuẩn sống cuộc đời phiêu lãng, với âm nhạc, với những cuộc tình văn nghệ phiêu lưu chất ngất yêu thương trong lời ca nét nhạc.  Người bạn đời trăm năm vẫn chịu đựng với tính lãng mạn, đa cảm của chồng, còn bao dung, cởi mở, cho đó là nguồn cảm hứng để sáng tác… vì vậy một lòng chung thủy với chồng, nuôi con và hai mái đầu xanh năm xưa vẫn mãi mãi bên nhau cho đến cuối đời.” (Trích Văn Nhân & Tình Sử, tr. 67.)

Như trên đã viết, văn nhân thi sĩ, nhạc sĩ... vốn là những người đa tình, đa sầu, đa cảm nên họ có nhiều cuộc tình hết sức lãng mạn, nhất là các văn nhân thời tiến chiến. Mỗi chương là một chuyện tình đặc thù với những tình tiết rất khác nhau.  
Sau chương “Lê Trạch Lựu, tình khúc em tôi”, đề tài của VTrD bắt đầu chuyển dần dần về bức tranh xã hội bi đát của văn nhân thi sĩ trong cơn lốc chính trị nghiệt ngã, từ Nguyễn Bá Trác, Khái Hưng, Nhất Linh, Phan Khôi, Bùi Giáng, Bà Tùng Long, Nguyên Sa, Nguyễn Thụy Long, Thụy Vũ và cuối cùng là Cung Tích Biền.

Trong các nhân vật trên đây, có hai người còn vướng mắc vài ý kiến tranh cãi là Nguyễn Bá Trác (đã từ trần năm 1945) và Cung Tích Biền (hiện còn sống ở Sài Gòn), vì có một số dư luận không đồng ý với cách hành xử của hai ông trước những thay đổi của thời cuộc đầy phong ba bão táp. Tác giả VTrD, với cách nhìn rộng rãi của một nghệ sĩ, dường như muốn đột phá cánh cửa dư luận, giải tỏa những vướng mắc nầy. Đây là ý kiến mới mẻ riêng của tác giả VTrD, nhưng đồng thuận hay không là còn tùy vào nhận thức của độc giả.

Nói chung, đọc tác phẩm Văn Nhân & Tình Sử chẳng những để giải trí một cách nhẹ nhàng thi vị mà còn giúp mở mang kiến thức về văn học và cả về xã hội.  Với đa số độc giả bình thường, thích giải trí, Văn Nhân & Tình Sử gồm những câu chuyện tình khá thú vị, có thể “mua vui cũng được một vài trống canh” như tác giả VTrD đã nhắc lại câu kết trong Truyện Kiều của Nguyễn Du.  

Ngoài ra, những chuyện tình nầy cũng có thể là những đề tài trò chuyện trong các buổi trà đàm thân hữu, trao đổi tin tức về các văn nghệ sĩ.  Nguyễn Công Trứ đã thốt lên: “Cái tình là cái chi chi / Dẫu chi chi, vẫn chi chi với tình”.  Cái tình ở đây lại là tình sử của những văn nghệ sĩ đa tài và đa tình, thì luôn luôn hấp dẫn và thi vị lắm.  Ai cũng ưa nghe và ai cũng ưa kể cho nhau nghe.  

Với những người quan tâm đến âm nhạc và văn học, thích nghiên cứu văn chương, Văn Nhân & Tình Sử không đơn giản chỉ là những chuyện tình của các văn nghệ sĩ, mà những chuyện tình nầy còn lồng vào thơ văn nhạc và bối cảnh văn hóa, xã hội Việt Nam trong giai đoạn gần đây.  

Hơn nữa, tác giả VTrD có một lối viết kể chuyện là lạ khá cuốn hút, không cầu kỳ, không hoa mỹ, mà nhẹ nhàng, bình dị như cách trò chuyện chậm rãi, nhỏ nhẹ thường ngày của ông, cộng thêm một chút dí dỏm, hết sức tự nhiên, khiến sự việc tưởng chừng như là một cuốn phim đang diễn ra trước mắt chúng ta.  

Tác phẩm Văn Nhân & Tình Sử  dày 372 trang, trình bày trang nhã, kèm theo nhiều hình ảnh của các tác giả trong sách. Tranh bìa do họa sĩ nổi tiếng Nguyễn Đình Thuần trình bày.  Amazon ấn hành.

Ấn phí 20 Mỹ kim. Để có sách, xin liên lạc với Amazon theo địa chỉ trên web, hoặc liên lạc với tác giả Vương Trùng Dương qua email: vuongtrungduong20@...

GS Trần Gia Phụng
(California, 22-5-2015)

Nhân mùa Phật đản 2560: Nghĩ về con đường giải thoát 90 triệu con người VN đang sống trong chế độ độc tài .

Nhân mùa Phật đản 2560,
nghĩ về con đường giải thoát chúng sinh của Đức Phật

Hoa-senTrong mấy tuần qua, các chùa chiền nhiều nơi có đông người Việt ở Hoa Kỳ nói riêng và trên tòan thế giới nói chung, các thượng tọa, đại đức, tăng ni, thiện nam tín nữ đồng hương đã cử hành long trọng nghi lễ mừng mùa Đản sinh Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Gọi là Mùa Lễ Phật Đản mà không gọi là Ngày Lễ Phật Đản, là vì không có một ngày lễ Phật Đản nhất định chung trên tòan thế giới như ngày Lễ Giáng sinh của Thiên Chúa giáo hay một số tôn giáo khác, mà tùy theo giáo hội địa phương, sẽ chọn ngày giờ thích hợp để mừng Đản sinh Đức Phật, nên có nhiều ngày lễ khác nhau được tổ chức vào hạ tuần tháng 5 và thường kéo dài đến đầu tháng 6 dương lịch.
Trong Mùa Phật Đản, ngoài các nghi lễ tôn giáo và các sinh hoạt Phật sự đặc biệt, còn là dịp nhắc nhở các Phật tử trong việc tu tập, trau dồi Phật pháp, và thực hành giáo lý nhập thế của Ngài trong đời sống nhân sinh. Một giáo lý hình thành từ chính kinh nghiệm tự giác ngộ, tự tu tập của Đức Phật, vốn xuất thân là một thái tử của một tiểu vương quốc Ấn Độ cách nay 2560 năm. Nghĩa là trước khi tìm ra được phương cách tự giải thoát khỏi kiếp luân hồi để thành Phật, tìm ra được con đường cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh, Ngài không phải xuất thân là một thần linh như giáo chủ một số tôn giác khác, mà là một con người bằng xương bằng thịt, với tất cả tính chất, hệ lụy trong thân phận con người.
Vì vậy, khác với nhiều tôn giáo khác, con người muốn thoát khỏi bể khổ trần gian, phải tự giác, tự hành, tự giải thoát bằng việc tu nhân tích đức, chủ động chứ không thụ động dựa vào sức mạnh siêu nhiên hay cầu cứu thần linh kể cả Đức Phật. Vì Đức Phật không phải là thần thánh, trước khi thành Phật cũng chỉ là con người, nhưng là một con người phi thường vì đã dám từ bỏ cuộc sống trong cung vàng điện ngọc của một thái tử và quyền uy tương lai của một vì vua kế nghiệp vua cha, ra đi tìm đạo và Ngài đã đắc đạo, tìm ra được những quy luật nhân sinh, giúp con người thoát kiếp luân hồi để đến chốn Niết Bàn cực lạc. Bất cứ ai tin, sống, hành động theo đúng các quy luật phát kiến của Ngài đều sẽ đạt được cùng đích thoát khỏi kiếp sống nơi trần gian khổ ải, thành Phật trong cõi Niết Bàn cực lạc sau cái chết.
Một cách khái quát, theo giáo lý Nhà Phật, trong thân phận con người, mọi người đều phải sống trong bể khổ trần gian, với nguồn gốc của khổ lụy là vì bị trói buộc trong tam căn (Tham, Sân, Si) và thất dục (hỉ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục), và mãi quẩn quanh trong kiếp luân hồi. Muốn thoát bể khổ trần gian con người phải tu nhân tích đức, làm lành tránh dữ, để tạo công quả như năng lượng thừa đủ của một lực ly tâm tách con người ra khỏi kiếp luân hồi đến nơi cực lạc Niết Bàn hay Cõi Phật.
Tựu chung, đó là những chủ đề thuyết pháp, trọng tâm sinh họat Phật sự của các hòa thượng, đại dức, tăng ni, và suy niệm của Phật tử trong mùa Đại Lễ Phật Đản hàng năm.
Lễ Phật đản tại Hàn Quốc.
Trải qua 2560 năm qua, con đường tu đạo tự giác, tự hành của Đức Phật đã giải thoát được hàng tỷ con người qua nhiều thế hệ và thời đại.
Như vậy, chúng ta thấy đã có sự gặp nhau ở cùng đích cuộc sống con người của các tôn giáo có chung niềm tin về một thế giới cực lạc sau cái chết, một thế giới siêu hình như Thiên đàng cực lạc của Thiên Chúa giáo, Hồi giáo. Và những tôn giáo có chung niềm tin này, thường cũng có chung một cái nhân đưa đến quả theo tuyết nhân quả của nhà Phật, là nếu cuộc sống ở trần gian đã làm được nhiều điều thiện, thì cái quả sau cùng của cái chết sẽ là thế giới cực lạc.
Xem thế Phật giáo nói riêng, tôn giáo nói chung, bàn chất không mang tính chất mê hoặc như người cộng sản từng kết án làm lý cớ đàn áp tiêu diệt, mà tôn giáo đã thực sự góp phần vào nền đạo đức xã hội. Vì rằng, một xã hội có tôn giáo, có thần linh mà tội ác còn gia tăng, thì một xã hội vô tôn giáo, phi thần linh, tội ác chắc chắn phải gia tăng nhiều hơn nữa.
Đó là thực trạng xã hội Việt Nam ngày nay, sau nhiều năm chủ trương bách hại để tiêu diệt mọi tôn giáo nhằm thực hiện chế độ xã hội chủ nghĩa vô thần bị thất bại, đã tạo ra một xã hội hổ lốn, mất căn bản đạo đức xã hội.Vì đảng CSVN đã phá nát các chuẩn mực đạo đức của mọi tôn giáo và luân thường đạo lý truyền thống văn hóa xã hội tốt đẹp bao đời của Việt Nam. Trong khi đảng CSVN lại không hình thành được cái gọi là nền đạo đức văn hóa cộng sản chủ nghĩa, với những con người mới trong xã hội mới xã hội “xã hội chủ nghĩa”,vốn được tuyên truyền là một xã hội ngàn lần tốt đẹp hơn xã hội cũ. Hệ quả là, tại Việt Nam quê mẹ của chúng ta hiện nay, không chỉ tội ác gia tăng số lượng, tính chất tàn bạo ở mức độ đáng quan ngại; không chỉ suy đồi về mặt đạo đức, mà còn suy đồi nhiều mặt khác trong đời sống và xã hội, khiến chúng ta không khỏi lo ngại cho tiền đồ dân tộc và đất nước, nếu chế độ vô thần, độc tài toàn trị cộng sản còn tiếp tục tồn tại trên đất nước ta, dù giờ đây cái gọi là “chế độ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” chỉ là cái vỏ. Thực tế cũng như thực chất, chế độ này từ lâu đã biến thể thành một “chế độ đỏ vỏ (cộng sản chủ nghĩa) xanh lòng (tư bản chủ nghĩa)”.
Ước gì Mùa Phật Đản năm nay ánh đạo vàng của Đức Từ Phụ Thích Ca mâu Ni Phật sẽ soi rọi vào tâm thức của những người lãnh đạo đương quyền tại Việt Nam, để họ sám hối, tự giác, tự nguyên từ bỏ tham, sân, si, hỉ, nộ, ai, lạc ái, ố, dục, tự hành theo ước nguyên dân chủ hóa đất nước của nhân dân để tự giải thoát cho chính Đảng CSVN và cho những người đang bị chế độ cầm tù và 90 triệu con người Việt Nam đang sống trong chế độ độc tài toàn trị.

 Thiện Ý

Thằng (đứa) dại làm hại thằng (đứa) khôn


Ảnh mang tính minh họaCâu nhận định trên không biết có từ bao giờ và ai là tác giả của nó. Không ai biết, nhưng chắc phải lâu lắm. Mà cũng không ai dại gì mà nhận là tác giả của câu nhận định rất đúng nhưng lại rất thiếu những nét nhẹ nhàng, dễ nghe hay nể nang tối thiểu: Cả hai bên đều bị đề cập tới bằng những chữ, nếu không bằng “thằng,” thì cũng bằng “đứa,” bất kể một phía bề gì cũng tử tế hơn, tốt đẹp hơn: phía “khôn.”
Những trường hợp “thằng (đứa) dại làm hại thằng (đứa) khôn” thì rất nhiều. Tháng trước, lại đã xẩy ra một trường hợp (rất có thể) những người rất đáng thương bị những đứa khùng điên ngộ dại làm hại đời.
Việt Nam sau 40 năm “giải phóng và thống nhất” và bất kể những thứ thống kê ngu xuẩn nói đó là một nơi thiên đàng của hạnh phúc, rất đáng để sống, hơn cả mấy nước Bắc Âu, Canada và Mỹ, người dân vẫn muốn bỏ đi khỏi cái thiên đường ấy. Một số vẫn còn xuống thuyền đi tìm một miền đất hạnh phúc mới. Nhiều người muốn tới Úc để làm lại cuộc đời.
Tất cả đều bị chặn ở ngoài khơi, không cho đổ bộ lên xứ của kangaroo, của koala, của boomerang và bị trả lại Việt Nam. Gần đây, chính phủ Úc đã bắt giữ 46 người Việt khi những người này tìm cách tới Úc. Tất cả đều bị giữ kín trên một chiến hạm của hải quân Hoàng Gia Úc đậu ngoài khơi từ ngày 20 tháng 3. Các nhân viên di trú Úc đã lên tầu để phỏng vấn những người Việt này, tất cả đều xin cho được tị nạn và ở lại Úc. Cuộc phỏng vấn 46 người kéo dài (mỗi người) khoảng 40 phút đến 2 tiếng đồng hồ, và đại diện chính phủ Úc đã bác yêu cầu xin tị nạn của tất cả. Những người này hôm 18 tháng 4 đã được đưa trở về Vũng Tầu.
Cơ Quan Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đã bầy tỏ quan tâm và lo ngại về việc những người này được phỏng vấn ở ngoài biển, đồng thời cũng nêu thắc mắc quyết định bác yêu cầu xin tị nạn có được công bằng hay không. Bộ Trưởng Di Trú Michael Pezzullo tuyên bố tại thượng viện Úc rằng thời gian (tối thiểu) 40 phút để phỏng vấn là đủ, không quá ngắn và hoàn toàn phù hợp với đòi hỏi của Liên Hiệp Quốc.
Nhưng thực ra, 40 phút có đủ không?
Trừ đi những câu chào hỏi thông thường, những lời khai về tên tuổi, nơi sinh quán, ngày lên đường, bị chặn bắt hôm nào vân vân mà tất cả đều phải mất đi một nửa (thời gian) cho việc thông dịch, thì thời lượng dành cho những câu trả lời về lý do phải bỏ nước ra đi chắc chắn không còn được bao nhiêu. Cho nên khó mà có thể nói là những cuộc phỏng vấn đã diễn ra một cách thuận lợi cho các thuyền nhân người Việt. Ðó là chưa nói tới chi tiết tâm lý không mấy bình tĩnh, lo sợ ảnh hưởng rất nhiều tới những câu trả lời của những người được phỏng vấn.
Bị bác đơn xin tị nạn ở Úc là chuyện dễ hiểu. Ðại diện của chính phủ Úc rõ ràng là đã có sẵn những câu trả lời, những quyết định về yêu cầu xin tị nạn của 46 người Việt hồi tháng trước.
Không cho người cha hay người mẹ tị nạn thì cũng phải bác luôn yêu cầu xin tị nạn của những đứa con còn rất nhỏ. Thế là tất cả được đưa trở lại Việt Nam.
Những câu trả lời có sẵn của các nhân viên di trú và quyết định của bộ di trú Úc có thể đã bị ảnh hưởng của những “đứa dại” đã đến Úc trước đó. Thí dụ được cho vào Úc tị nạn thì chẳng bao lâu sau đó những “đứa dại” đó lại đâm đầu đi Việt Nam xoành xoạch. Có những “đứa dại” năm nào cũng về Việt Nam để bày tỏ lòng thù ghét Cộng Sản ... chơi. Việc làm đó làm mất hẳn ý nghĩa của hành động đi tìm tự do, bỏ trốn chế độ Cộng Sản. Bác yêu cầu tị nạn là phải.
Mà đó cũng mới chỉ là một chuyện nhỏ. Chuyện lớn hơn thì lại là những nguy hiểm cho nước Úc của một số những “đứa dại” khác. Gọi chúng là những ‘đứa dại” hay những “thằng dại” có thể cũng không đúng lắm. Chúng nó không dại chút nào. Chúng rất khốn nạn. Chúng nó đã làm phiền nước Úc rất nhiều. Nói rằng chúng làm phiền là còn quá nhẹ. Việc làm bất lương của chúng thực ra đã tạo ra những nguy hiểm đe dọa đời sống của quốc gia này không ít.
Năm 1995, một tài liệu của thượng viện Úc đã đem vấn đề phạm pháp của những người Việt ở Úc ra thảo luận và coi đây là một đe dọa nghiêm trọng cho an ninh nước Úc. Các băng đảng người Việt như đảng T5 đã tiến vào các hoạt động trong các lãnh vực tội ác như ma túy, cờ bạc, cướp bóc, tống tiền ... nhắm vào cộng đồng người Việt và cả các cộng đồng Úc. Cảnh sát Úc cho hay các nhóm tội phạm Việt Nam võ trang võ khí nặng đang mở rộng địa bàn hoạt động tại Nam Úc, Tây Úc, New South Wales, Queensland, Victoria, tại Brisbane, Melbourne, Sydney... Nội trong hai năm 1992 và 1994 đã có 1,360 người Việt bị bắt trong các vụ mua bán heroine ở Úc. Một số tìm cách chuyển lậu bạch phiến từ Việt Nam sang Úc để đầu độc người Úc. Một số bị bắt trên đường trở lại Úc, một số bị bắt ở Việt Nam và chắc chắn một số đã trót lọt trở lại Úc. Những thành phần này thuộc đủ mọi loại, luôn cả những phụ nữ còn rất trẻ, một phụ nữ ngoài 70 cũng dính; một người dấu heroine trong chỗ kín thì thiệt mạng trước ngày trở lại Úc khi những bao nylon bị vỡ trong cửa mình...
Kể không sao hết được những hoạt động phạm pháp của chúng. Chỉ cần gõ mấy chữ “Vietnamese criminals in Australia” là thấy ngay rất nhiều bài viết của các báo chí tài liệu của Úc viết về việc làm của bọn lưu manh, vô ơn bạc nghĩa này để đền đáp lại sự tử tế của nước Úc khi mở cửa cho chúng vào “tị nạn.”
Làm thế nào có thể trách nước Úc đuổi những người Việt Nam về nước hồi tháng trước.
Lòng trắc ẩn (compassion) cũng còn có khi mỏi mệt nữa là!
Chỉ tội nghiệp cho những người quả thực lương thiện muốn tị nạn tại Úc.

 Bùi Bảo Trúc

Bài Xem Nhiều