We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 25 August 2015

Truyện ngắn: Vùng Đá Ngầm

Nhung-bo-bien-co-bai-da-dep-nhat-o-VN_03
Truyện “Vùng Đá Ngầm” của Hà Kỳ Lam không phải là sản phẩm của tưởng tượng, hay hư cấu văn chương. Tác giả đã ghi lại mọi chi tiết trung thực từ đầu đến cuối của một chuyến vượt biên qua lời kể của một nhân chứng sống! Ông đã trình bày thiên ký sự nầy dưới dạng một truyện ngắn để gây hứng thú cho người đọc. Chỉ có danh tính nhân vật trong cuộc được biến đổi để tôn trọng sự riêng tư của họ.
oOo
Hai chúng tôi cùng đứng cạnh một tảng đá lớn sát mặt biển. Bây giờ là lúc thủy triều xuống. Khi thủy triều dâng thì mỏm đá nầy chắc phải chìm dưới làn nước xanh; dấu vết bọt bèo rải rác khắp nơi đã cho tôi sự ước lượng đó. Suốt một dãi bờ biển dài, uốn khúc, nhấp nhô ghềng đá, chỉ có hai chúng tôi – ông Sềnh và tôi. Trời lộng gió, lạnh buốt xương, và sương mù dày đặc – sương mù huyền thoại của đất nước Anh Cát Lợi. Một điều khá lạ lùng là sương mù chỉ ngự trị trên đất liền. Thực ra, sương mù ở đây chỉ “chiếm hữu” không gian từng đoạn: suốt ba giờ ngồi xe hơi từ Luân Đôn đến đây, miền nam xứ Wales, chúng tôi đã vượt qua hết vùng sương mù dày đặc đến vùng sương mù mỏng, và có khi đi qua một đoạn đường quang đãng, rồi lại sương mù nối tiếp. Tôi có cảm tưởng cả nước Anh bị ôm kín trong màn sương mù khổng lồ và lổ đổ như thế về mùa đông. Nhìn ra khơi, tầm quan sát vẫn rất xa. Chúng tôi thấy được bờ nước chạy quanh trước mặt kéo dài về bên phải chúng tôi một đoạn khá xa, gần cả cây số, rồi vòng ngược về bên trái, lại chạy ngang trước mặt chúng tôi, nhưng làm thành bờ nước bên kia – tựa như một bờ sông – nhưng cũng chẳng bao xa thì bờ nước chấm dứt, nhường lại cho cái mênh mông của biển cả. Ông Sềnh và tôi đứng nhìn cái vịnh tý hon của vùng mỏ than nghèo nàn thuộc cực tây Anh Quốc. Xa xa trên biển nhấp nhô những đỉnh nhọn của đá ngầm dường như chỉ chờ lúc thủy triều rút xuống để xuất đầu lộ diện thách thức và nhắc nhở một đe dọa thường trực với con người. Tôi buột miệng kêu lên:
– Đá ngầm!
Ông Sềnh nhìn tôi, cười khoái trá, và với cái giọng Hoa kiều trong mớ tiếng Việt khá lưu loát ông nói:
– Tao đưa mày ra đây để mày nhớ lại cái vùng đá ngầm của tụi mình ngày xưa. Có lẽ mười ba năm nay ở Mỹ mày chưa có dịp thấy lại đá ngầm bao giờ, hả Hoàng?
– Chú Sềnh nói đúng. Thấy biển thì nhiều, vì năm nào vợ chồng con cái cũng đi tắm biển, phơi nắng, nhưng chưa bao giờ thấy lại những mỏm đá nhô lên giữa biển như hồi mình vượt biên.
Cái kỷ niệm hãi hùng của những ngày vượt biển có lẽ mãi mãi là một phần tâm thức của những người “cùng hội cùng thuyền” năm ấy. Có điều, nếu thấy lại hình ảnh xưa, hoặc nhìn ngắm những hình tượng tương tự bây giờ thì sự gợi nhớ mới mãnh liệt nhất. Chúng tôi nhìn nhau. Ông Sềnh nói:
– Tao vẫn tin rằng mình ăn ở có đạo đức thì Trời luôn luôn che chở để tai qua nạn khỏi.
Tôi phụ họa:
– Cháu cũng nghĩ như thế. Trong bao năm qua, mỗi lần nhớ lại cuộc ra đi của mình, tụi cháu cứ thấy sự sống sót như một phép lạ, một nhiệm mầu. Nhiều người vẫn nghĩ sự cứu vớt lạ lùng năm ấy xảy ra được là nhờ đức độ của người đầu đàn.
Vừa nói tôi vừa nhìn nét mặt thoáng vẻ xúc động của ông Sềnh. Gương mặt ông hơi đăm chiêu, và đôi mắt tuy đang nhìn tôi nhưng đầy vẻ xa xăm. Bỗng nhiên bây giờ tôi mới quan sát ông kỹ hơn. Từ sáng nay, lúc gặp nhau tại phi trường Heathrow, tôi chỉ nhìn ông một cách tổng thể vì mãi vui chuyện xưa chuyện nay của đôi kẻ cố tri lâu ngày gặp lại. Tôi thấy ông Sềnh già đi nhiều, “xuống sắc” nhiều so với mưới lăm năm trước đây, nghĩa là lúc tôi được cơ may quen biết ông ở Sài Gòn, và lúc tạm biệt ông ở một hải đảo tỵ nạn để mỗi người một ngã đường định cư. Nhưng nếu so với cái tuổi sáu mươi, tôi vẫn nghĩ mấy ai còn được phong độ như ông; ông còn cái tráng kiện của một người vừa xấp xỉ năm mươi thôi. Tôi nghĩ, có lẽ ông Sềnh cũng không ngăn được tâm trí xuôi về dĩ vãng, về những ngày “hoạt động” cũ như những gì đang lướt qua rất nhanh và sống động trong trí tôi bây giờ.
Nếu không do một gặp gỡ tình cờ giữa đường với một người quen thì tôi đã không bao giờ biết ông Sềnh – hay đúng hơn, ông Sềnh đã không bao giờ biết tôi – và có thể đã không bao giờ có cơ hội rời khỏi Việt Nam. Gia đình tôi làm gì có đủ tiền bạc để mua một chỗ – một chỗ cho tôi thôi, chứ chưa nói đến vợ con – trên một chiếc ghe vượt biên. Tôi đã làm việc trong “xưởng đóng tàu” của ông Sềnh ở Phú Lâm ròng rã năm tháng trời để chuẩn bị cho việc hạ thủy chiếc “soái hạm” của ông, chiếc ghe định mệnh sẽ mang bốn mươi lăm tâm hồn khắc khoải chống chọi với nỗi chết, nỗi tuyệt vọng, với thú tính, trong một địa ngục bồng bềnh, trôi dạt vô định theo chuỗi ngày dài lê thê, có lẽ sẽ chấm dứt trong một cơn bão biển cho tất cả chìm sâu, chìm sâu… Để trả công cho tôi, ông Sềnh đã dành bốn chỗ trong chuyến vượt biên cho vợ chồng tôi cùng hai con nhỏ.
Những ngày tháng ấy, những ngày tháng mà guồng máy bí mật của ông Sềnh đang âm thầm sôi nổi hoạch định một chuyến đi đại sự, tôi thấy ông ta quả xứng đáng là con người đã từng nắm trong tay tiền muôn, bạc triệu giữa thời vàng son của Miền Nam cũ. Từ ngày nhỏ, tôi vẫn phục những kẻ làm nên sự nghiệp, kể cả làm giàu, bằng bàn tay và khối óc của mình mà không dựa vào những phương cách phi nhân. Những tháng làm việc trong tổ chức vượt biên của ông Sềnh tôi đã được thấy cái phong cách hào phóng của ông, cái tình người của ông, và trong những lúc vui chuyện tôi đã được nghe ông kể về một phần đời thơ ấu nghèo khổ, về những cơ may, những kiên trì, những tính toán thực tế đã giúp ông làm nên cả một cơ ngơi to lớn sau nầy. Nhìn vị “tư lệnh chiến trường vượt biên” năm xưa đang đứng trên một bãi biển xứ người, tôi thấy mình đang trở về những ngày tháng cũ của năm 1978 tại quê nhà…
oOo
Chiếc máy phát điện cũ mềm được vớt lên từ dưới sông để tân trang cho chạy lại làm nguồn mã lực cho con tàu vượt đại dương. Tôi và người thợ máy chính đã làm việc quần quật, thử tới thử lui, chạy thử nghiệm bao nhiêu lần, nó vẫn cứ ì ạch, không chịu chạy cho “ngon trớn”; chốc chốc lại “liệt”. Nhưng cuối cùng rồi cũng xong. Máy móc bắt đầu chạy ngon lành. Chỉ còn lo là bước đường sắp tới sẽ đưa người về đâu, vào tù hay vượt được đại dương, hay là “đường đi không đến”? Tâm trạng của người vượt biển nào cũng giống nhau.
Ông Sềnh đã phát họa một kế hoạch hành động khá tỉ mỉ, chu đáo, cùng những tiên liệu rất thực tiễn. Theo tính toán của ông, cuộc vượt biển sẽ diễn ra theo ba giai đoạn. Giai đoạn một là giai đoạn “dọn đường”. Ông Sềnh đã lo liệu cho thủy thủ đoàn chúng tôi đầy đủ giấy tờ “hợp lệ” để thực hiện những chuyến “công tác” thường xuyên giữa Phú Lâm-Sóc Trăng, một hoạt động “bình thường” của chiếc ghe chở dầu của “Công Ty Dầu Tràm Trà Ôn”. Chúng tôi đã xuôi ngược khúc sông nầy nhiều lần trong những chuyến công tác giả như thế để công an tại các trạm kiểm soát ven sông “biết mặt” mình. Riết rồi họ “chán” chúng tôi thật, vì sau nhiều chuyến qua lại của chúng tôi họ đâm ra lười, chẳng buồn bước xuống ghe ghé mắt xem qua, mà chỉ đứng trên bờ hỏi với xuống: “Công Ty Dầu Trà Ôn hả, đi đi!” Và thế là thời điểm đã chín mùi để chúng tôi chuyển sang giai đoạn hai là vận chuyển con tàu và thủy thủ đoàn thường lệ đó cùng xăng dầu từ Sài Gòn đến tuyến xuất phát ở tận Sóc Trăng. Đây là giai đoạn quan trọng và khó khăn nhất, vì phải làm sao lọt qua được hệ thống kiểm soát của công an dọc đường đi, điều mà suốt giai đoạn một chúng tôi đã nỗ lực dọn đường. Nhưng sự đời thường hay trớ trêu. Ngày lên đường thực sự của chúng tôi lại gặp lúc đám công an tại cái trạm mà lâu nay vẫn dễ dãi để chúng tôi đi qua “nổi hứng” bước xuống khám xét ghe! Chúng tôi liếc nhìn nhau, cái liếc mắt thiểu não mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu; nó ngầm bảo nhau: “thôi, chết cả đám rồi!” Ngoài mấy thùng nước để dàn cảnh ở đầu khoang ghe, giữa khoang chứa toàn những thùng xăng. Rồi còn những túi đựng áo quần, kể cả quần áo của đàn bà và con nít nữa. Đi công tác gì mà chở toàn những vật dụng kỳ cục thế này. Một viên công an bước xuống ghe, dùng một cây gậy thọc vào từng thùng nước. Đến khi sắp hết mấy thùng nước “dàn cảnh”, hắn lom khom định bò vào trong khoang ghe để thọc gậy khám tiếp mớ thùng bên trong thì bị khói mù mịt và khét lẹt từ bếp nấu ăn gần cuối thuyền bay tạt vào mặt làm cay mắt và ngộp thở nên đành thối lui. Chúng tôi thầm cám ơn màn “hỏa mù” của thằng Hải Còm. Chao ôi, mọi ngày nó tối dạ, chóng quên là thế, mà hôm nay bỗng xuất thần thuộc làu bài dạy của ông Sềnh không sai một ly ông cụ, và lại còn thực hành thật xuất sắc nữa chứ, vì nó đốt toàn vỏ cao su và giẻ lau dính dầu mỡ! Đã thế, nó lại còn cong lưng, phùng mang trợn mắt thổi liên tu bất tận để tống khứ mớ khói hắc ám sang đầu ghe bên kia! Leo ra khỏi hầm ghe, anh chàng công an còn chưa chịu buông tha chúng tôi, lôi theo một ba lô, mở tung ra khám. Nào là quần áo đàn bà con nít, nào là dầu gió, lại có cả thuốc chống say sóng nữa. Tôi vội chỉ tay về phía người thợ máy chính và nói nhanh, không ngập ngừng:
– Dạ thưa túi đồ này là của anh kia đem theo cho vợ con ảnh đang ở dưới Sóc Trăng.
Thấy không có gì đáng nghi, viên công an kết thúc cuộc khám xét. Ai nấy thở phào khoan khoái, làm như mấy chục phút vừa qua không được thở.
Như vậy, kế hoạch của ông Sềnh đã diễn tiến tốt đẹp, vượt qua được giai đoạn hai. Giai đoạn ba, giai đoạn cuối của kế hoạch, chỉ là địa điểm và ngày giờ tập trung để đổ người lên ghe vượt biên, tức chiếc ghe chúng tôi đang đi, một giai đoạn tương đối đơn giản hơn và ít nguy hiểm hơn. Đó là công việc sẽ làm ngày hôm sau, do chính ông Sềnh đích thân điều khiển.
Tại Sài Gòn, trước khi ghe rời bến lên đường, một ám hiệu nhận nhau đã được hoạch định. Trên một chiếc phao treo bên sườn trái của ghe chúng tôi cho buộc hai mảnh vải, một mảnh màu trắng, và mảnh kia màu đỏ. Lý do duy nhất khiến ông Sềnh chọn ám hiệu lạ lùng như thế là để giảm thiểu tình trạng trùng hợp tới mức hầu như không thể xảy ra. Nếu chỉ chọn một màu đơn độc, ví dụ màu trắng hay màu đỏ, thì xác suất có chiếc ghe thứ hai cũng mang màu đỏ hay màu trắng sẽ cao hơn xác suất có một ghe như thế mang đúng cái tổng hợp màu đỏ và trắng. Tại một số địa điểm bên bờ trái dọc đường ghe đi ông Sềnh đã bố trí người để quan sát và báo cáo vị trí từng lúc của ghe. Đứng trên ghe nhìn vào bờ, thỉnh thoảng tôi lại thấy một ngư ông thu vén cần câu, đồ nghề, phóng lên xe gắn máy chạy đi khi chúng tôi vừa qua khỏi chỗ đương sự đứng câu. Và cứ thế, mỗi lần chiếc ghe chúng tôi vượt qua một địa điểm bố trí trước thì một người đi câu của ông Sềnh lại thu xếp đồ nghề, nổ máy xe phóng chạy. Sau nầy, nghe người nhà ông Sềnh kể lại tôi được biết tại Phú Lâm ngày hôm đó ông Sềnh ngồi chờ các ngư ông liên lạc viên tuần tự về báo cáo hành trình của chiếc ghe từng chặng đường. Cái điểm “chiến lược” mà ông Sềnh trông đợi nhất để biết tình hình là điểm câu cá chỉ cách trạm kiểm soát của công an biên phòng khoảng một trăm thước. Ngay khi người phụ trách điểm câu cá tại đó về báo là ghe đã đi qua bình yên thì ông Sềnh tươi tỉnh ngay, vẻ mặt bớt căng thẳng. Chỉ còn chờ những điểm còn lại báo cáo để xác nhận thuyền đã đến bãi là ông Sềnh lên đường.
Ngày hôm sau ông Sềnh cùng gia đình và vài người còn lại trong “ban tham mưu” đã đáp chuyến xe đò sớm nhất đi miền Tây. Đến Sóc Trăng tất cả phải “ém quân” tại một nhà đã được sắp đặt trước, chờ đêm đến mới xuống “taxi” xuôi ra cửa biển. Cùng trong đêm, một “cánh quân” khác gồm những “khách quí” đã đóng góp để mua “vé vượt biên” cũng đã được đưa ra bãi. Điểm tập trung là một khu rừng ven biển, mọc toàn một loại cây không cao lắm mà dân địa phương gọi là cây bần. Riêng ông Sềnh, ngay khi đến thị xã Sóc Trăng, đã không ở lại vị trí “ém quân”. Ông cùng với một bộ hạ dùng xuống máy đi ngay ra bãi. Ông ăn mặc rách rưới, đầu đội chiếc nón lá mà vành nón xơ xác như một tiều phu đi đốn củi. Ngồi trên xuồng máy do một tài công lái phóng như bay trên mặt nước, ông Sềnh điều khiển, phối hợp mọi hoạt động của ghe “taxi” và ghe chính một cách nhịp nhàng và với độ bảo mật tuyệt vời. Giai đoạn đổ người lên ghe chính đã hoàn tất mỹ mãn. Tôi nhìn đồng hồ thấy kim chỉ 5 giờ 47 phút khi chiếc ghe của chúng tôi bắt đầu tiến ra khơi, băng mình vào cõi mênh mông của biển cả. Buổi chiều tháng Năm êm đềm, không một cơn gió nhẹ. Mặt biển xanh phẳng lì, khẽ gợn sóng lăn tăn như mặt nước hồ, đang đổi dần sang màu tím dưới ánh chiều tà. Mọi người nhìn nhau cười rạng rỡ. Bờ đất quê hương là vùng đất lưu đày đang bị bỏ lại đằng sau xa dần. Không ai biết một thảm kịch trên biển đang chờ họ. Một đêm hải hành huyền diệu. Mặt biển đen ngòm nhưng bầu trời đầy sao, và không khí mát mẻ thật dễ chịu. Tiếng máy chạy nghe đều đều và con thuyền ung dung lướt tới, trực chỉ hướng Mã Lai. Rồi đêm đen qua đi và bình minh ló dạng. Bình minh trên biển bao giờ cũng sớm hơn và rực rỡ hơn trên đất liền. Biển vẫn phẳng lặng. Tinh thần mọi người phơi phới. Qua rồi những lo âu bị bắt bớ, tù tội. Cầu xin cho trời yên bể lặng, cho máy móc chạy đều, cầu xin cho mọi sự được thuận chèo mát mái, cho chóng đến bến bờ…
Nhưng Trời như chẳng chìu người. Đến gần trưa máy bỗng ngưng chạy. Người thợ máy và tôi, phụ thợ máy, hì hục sửa chữa. Tôi nhảy xuống nước, lặn xuống lườn ghe xem xét: chẳng có triệu chứng gì cho thấy cánh quạt gãy hay máy móc bị chạm vào vật cứng gãy vỡ. Mọi cố gắng để hồi sinh động cơ của chiếc ghe đều vô hiệu. Thế là từ buổi trưa đó khởi đầu bốn mươi sáu ngày trôi dạt, phiêu bồng của chiếc ghe chở bốn mươi lăm người vừa đàn ông, đàn bà, và trẻ con, chỉ mới xa bờ biển Việt Nam độ mười tám tiếng đồng hồ. Điều hãi hùng là lúc bấy giờ chúng tôi làm sao biết sẽ trôi dạt, đói khát bao nhiêu ngày, làm sao biết sẽ được cứu, mà chỉ thấy mỗi ngày qua là một hy vọng bị chìm sâu, và cố gắng nhen nhúm một hy vọng khác. Chúng tôi tâm niệm, còn hơi thở là còn hy vọng.
Chúng tôi hoàn toàn không có ý niệm mình đã đi được bao xa. Ngày xưa tôi chẳng phải thuộc Hải Quân, mà là lính bộ binh, nên chẳng có một mảy may kinh nghiệm về biển cả. Trong số những người cùng đi chuyến ghe nầy có vài người từng là Hải Quân, đã phục vụ trên các hải vận hạm; nhưng lúc nầy họ cũng chẳng có ý kiến gì. Không biết chúng tôi đã đến hải phận quốc tế chưa, hay vẫn còn trong vòng lãnh hải Việt Nam. Tôi nghĩ, dù thế này hay thế khác cũng phải gặp tàu bè chứ, tàu của nước khác hay tàu của Việt Nam. Đằng này tuyệt nhiên không một dấu hiệu của sự sống trên mặt biển bao la ngày qua ngày…
Không còn sức đẩy của cánh quạt hay mái chèo, con thuyền cứ trôi dạt, nghiêng ngã theo chiều gió, theo con nước. Vài người đề nghị ghép mấy mảnh bao bố làm buồm cho ghe trôi nhanh. Tôi chưa từng thấy một tình huống nào mỉa mai hơn. Rõ ràng chúng tôi chỉ mong trôi nhanh, về phương nào cũng được, nhưng đừng đứng tại chỗ. Chúng tôi sợ phải đứng tại chỗ. Dường như dừng lại sẽ thấy nỗi chết kề cận, nỗi chết trong ánh mắt từng người, còn trôi đi, hay ở trạng thái động, ta cảm được sự đổi mới, ta xua tan ám ảnh của chết chóc, ta ý thức sự sống trước mặt, trong quảng xa mà ta đang đi tới. Tôi biết không phải thế, chỉ là ảo giác, ảo tưởng. Chúng tôi muốn trôi dạt cho nhanh để tấp vào một bến bờ, hoặc gặp một tàu nào cũng được. Lúc ấy tôi nhớ đến những câu thơ của thi sĩ Vũ Hoàng Chương:
Bể vô tận sá chi phương hướng nữa
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy lênh đênh
Ở một đoạn khác trong bài thơ, ông đổi vận:
Thuyền ơi thuyền theo gió hãy cho ngoan
Rồi ở một đoạn, ông lại gieo vận mới:
Thuyền ơi thuyền xin ghé bến hoang sơ
Tới nông nỗi nầy tôi còn lòng dạ nào mong “thuyền theo gió hãy lênh đênh”, mà chỉ mong nó “hãy cho ngoan” hoặc “xin ghé bến hoang sơ” thôi. Hãy cho ngoan, trôi đến gặp bất cứ con tàu viễn dương nào; hãy cho ngoan, dạt vào bất cứ bờ bến nào, dù “hoang sơ” cách mấy, cho chúng tôi được sống!
Rồi chúng tôi trải qua ngày thứ mười sáu lênh đênh trên mặt biển bao la, không phương hướng, và cách biệt với loài người còn lại trên trái đất. Thực phẩm đem theo bây giờ chỉ còn đủ cho mọi người ăn cầm hơi khoảng năm ngày nữa. “Ăn cầm hơi” tức là mỗi người một ngày chỉ được một nắm cơm nhỏ bằng nửa chén. “Ăn để mà sống, chứ không phải sống để mà ăn.” Quái lạ, trong hoàn cảnh tuyệt vọng nầy sao tôi nhớ nhiều thơ phú và danh ngôn thế! Nếu những người khác đọc được những gì trong đầu tôi lúc đó chắc phải phát cáu lên, hay điên tiết vứt tôi xuống biển cũng nên. Có thể họ quên rằng trí óc con người ở trạng thái “tỉnh”, tức không bị một đối tượng “mạnh” thu hút chú ý, hoặc không phải sản sinh một năng lực làm việc “định hướng” thường phiêu du nội tại một cách vô kỷ luật, độc lập với ý chí ta. Và chính họ nữa, mỗi người biết đâu đang bị tiềm thức đẩy lên những điều nhớ chẳng ăn nhập, chẳng “ích gì cho buổi ấy”. Ông Sềnh vẫn khấn vái mỗi ngày, cầu xin Trời Phật hãy cứu vớt, chứ đừng trừng phạt, những con người không thể ở lại quê hương. Ông quỳ trên sàn ván ở mũi ghe cả tiếng đồng hồ mỗi lần khấn vái. Ông lẩm nhẩm đọc những lời cầu xin bằng Hoa Ngữ. Từ hôm chiếc ghe lâm nạn đến giờ, đầu gối ông đã phải cọ xát với ván thuyền nhiều lần đến chai đi; tôi bắt đầu thấy ở đó những lằn da sần sùi như da cổ những con trâu cày.
Rồi số ngày trôi dạt lên đến con số hai mươi. Lúc này ai nấy bắt đầu thấy đuối sức. Nhưng với đà “nuôi ăn” nầy thì may lắm còn vài ngày nữa là cạn lương thực. Và cả ghe đã biểu quyết: khẩu phần sẽ giảm xuống phân nửa để kéo dài thêm vài ngày. Sự chịu đựng của con người dường như sắp hết mức rồi! Nhiều lời bàn tán xầm xì, rỉ tai của từng nhóm như báo hiệu một điều gì bất an sắp xảy ra. Không phải cơn thịnh nộ của biển khơi, không phải bàn tay sấm sét của trời cao sắp giáng xuống, mà là một cái gì bất hạnh sẽ từ bên trong nổ ra. Tôi nghe loáng thoáng rằng Bảy Lì, một gã đàn ông khoảng ba mươi tuổi cùng vợ con là những khách vượt biên của ông Sềnh, có ý định dùng khẩu súng lục của y uy hiếp hai người phụ trách lương thực để y quán xuyến việc phân phối phần ăn cho cả ghe, vì y tố cáo rằng hai người kia ăn cắp thực phẩm chung để nuôi gia đình họ no hơn. Tôi ái ngại nhìn ông Sềnh. Tôi không rõ ông có hay biết gì không, nhưng không dám hỏi. Một lời nói nào lúc nầy cũng là một liều lĩnh, tôi nghĩ thế. Tôi nằm sát bên Bảy Lì trong khoang ghe. Hắn có súng. Tôi là người của ông Sềnh, dĩ nhiên hắn nghĩ thế. Rồi tối hôm đó tôi gác ca đầu từ bảy giờ đến mười một giờ đêm. Người gác phải lên ngồi trên nóc ghe để quan sát bốn hướng; hễ thấy ánh đèn của tàu bè thì đốt lửa cho họ thấy mình. Mảnh trăng gần tròn lơ lửng trên cao tỏa ánh sáng mờ mờ xuống trần ghe. Sóng vỗ nhè nhẹ vào mạn thuyền. Mặt biển chìm trong màn sương khói trắng đục. Tôi thấy lòng bồn chồn. Không phải viễn ảnh mờ mịt của ngày mai, không phải sự sống còn của chiếc ghe làm tôi lo âu, vì nỗi ám ảnh đó bao lâu nay, từ hơn hai mươi ngày rồi, đã là một trạng thái tâm linh thường trực của mọi người, và ai nấy đã đạt tới độ “trầm tĩnh” phó mặc mạng sống cho số mệnh, một số mệnh tập thể. Tôi chỉ không yên ổn nghĩ đến những gì có thể xảy ra đêm ấy trong khoang ghe dưới kia, trong đó vợ và hai con tôi đang ngủ. Vào khoảng chín giờ tối, một bóng người từ dưới khoang ghe nhô lên. Tôi nhận ra ông Sềnh và hỏi nhỏ:
– Đại Ca chưa ngủ à?
Không trả lời câu hỏi, ông Sềnh ghé tai tôi hỏi nhỏ:
– Mày có biết Bảy Lì định ra tay cướp ghe không?
– Nghe nói nó chỉ muốn giữ thực phẩm để khỏi bị ăn cắp.
– Không phải. Chỉ là cái cớ. Chú mày không biết đâu. Tao phải triệt nó trước.
Tôi đang thắc mắc ông Sềnh sẽ triệt nó bằng cách nào thì nghe tiếng nhiều người nói lao xao bên dưới, rồi một người leo lên nóc ghe, tay cầm một vật đen mà tôi nhận ra ngay là một khẩu súng lục. Người ấy chìa khẩu súng cho ông Sềnh và nói:
– Xong rồi!
Ông Sềnh hất hàm bảo:
– Ném xuống biển đi.
Một âm thanh “tòm” nhỏ, yếu ớt, vọng lên, và mẫu vũ khí gây bất an cho toàn ghe biến mất dưới biển, trong đêm tối. Tôi leo xuống khoang ghe xem vợ tôi và hai con nhỏ còn ngủ hay đã thức. Mọi người đều đã ngồi dậy. Tôi thấy nét mặt Bảy Lì như mặt nước vừa qua cơn giông bão đang trở về bình thường nhưng dấu vết cuồng phong vẫn còn hằn trên sóng nước. Ông Sềnh đã cho tôi biết nếu ông không khám phá ý đồ tàn sát cả ghe của Bảy Lì thì một thảm cảnh lớn có thể xảy ra đêm đó hoặc hôm sau, và chỉ có gia đình Bảy Lì sẽ sống sót! Động lực đơn giản để Bảy Lì hành động là: mớ thực phẩm ít ỏi nuôi bốn mươi lăm người trong vài ngày sẽ nuôi gia đình y cả tháng trên biển để có cơ may được cứu vớt.
Bảy Lì không còn là một đe dọa, một đối phó bên trong nữa. Nhưng chiếc ghe vẫn tiếp tục bồng bềnh theo gió, khi ngược, khi xuôi, khi đứng im lìm, trong khi chẳng có một tia hy vọng nào về sự cứu vớt huyền diệu chỉ có trong trí tưởng, trong ao ước, trong những truyện tiểu thuyết phiêu lưu mạo hiểm mình đọc thuở xưa, hồi nhỏ. Lúc này chẳng ai thấy mừng đã thoát nạn có thể xảy ra do khẩu súng độc nhất trên ghe, vì chỉ khác một điều là thay vì chết nhanh chóng thì phải chết từ từ, chết trong ngắc ngoải, hay chết đuối dưới biển sâu do cuồng phong ập tới bất cứ lúc nào. Đã gần bốn mươi ngày rồi chỉ thấy trời nước mênh mông, chỉ thấy những bộ mặt tiều tụy, hốc hác, những cặp mắt đờ đẫn, mệt mỏi của nhau. Lương thực đã cạn hết từ mười lăm ngày nay rồi. Mỗi ngày chúng tôi chỉ biết uống nước mưa cho qua cơn đói. Môi chúng tôi khô lại, tái nhợt như không còn máu lưu thông trong thân thể gầy đét như những bộ xương. Không có lấy một mẩu gì có thể bỏ vào mồm nhai được để đánh lừa cơn đói khủng khiếp. Tôi nhặt được một hủ nhỏ trống trơn, đưa lên mũi ngửi mùi chao cho đỡ thèm. Vợ tôi đưa ngón tay quẹt vào thành hủ và liếm một cách ngon lành, mặc dù chẳng có gì ráo. Không ai còn sức lực để cử động nhiều; ai nấy nằm tại chỗ. Đứa con trai bốn tuổi của chúng tôi thường ngày vẫn đi tới lui trong khoang ghe để nhận phần nước uống cho gia đình, hôm nay không còn đủ sức làm công việc đó nữa; nó cũng nằm tại chỗ, thậm chí không còn nâng tay lên nổi. Em gái nó còn thê thảm hơn. Con bé mới vừa năm tháng, đang còn thời kỳ bú sữa, bú nước cháo, đã chịu đựng tới bây giờ thật quá giới hạn của nó.
Tôi treo chiếc võng nhỏ vắt ngang khoang ghe để nó nằm. Thời gian đầu, mỗi ngày còn có ít hột cơm nghiền nát cho nó ăn thay sữa, thay cháo, nên nó còn đủ sức cựa quậy. Lúc nầy nó nằm bất động, chỉ có đôi mắt là còn linh hoạt, một dấu hiệu nó còn sống. Ai nấy cũng nghĩ nó sẽ là người đầu tiên trút hơi thở cuối cùng trong chuyến ghe nầy, một ý nghĩ rất bình thường, không đi kèm một mảy may thương xót. Sự việc phải xảy ra như thế, hợp lẽ với thiên nhiên. Đến như vợ chồng tôi mà cũng đón nhận cái ý nghĩ về sự chết của con mình một cách thản nhiên. Điều bận tâm duy nhất của chúng tôi là làm sao an táng con mình cho nguyên vẹn trong lòng đại dương. Có hai lý do khiến chúng tôi quan tâm như thế: có một số người đã manh nha ý định ăn thịt con bé nếu nó chết; còn nếu vứt xác xuống biển thì cá cũng sẽ phanh thây nó. Tôi bèn khoét sẵn một thùng nhựa cỡ vừa thân hình nó để làm cái áo quan. Tôi định sẽ gói xác bé gái chúng tôi trong thùng đó để thủy táng. Ghe chúng tôi bị nước rỉ vào, tuy không trầm trọng. Và tát nước là công việc hằng ngày mà mọi người đều phải làm theo lối dây chuyền, tức là múc nước vào một thùng và người nầy chuyền cho người kia, cho đến người cuối đổ thùng nước xuống biển. Vì kiệt sức, bây giờ phải cố gắng lắm mới bê nổi thùng nước chuyền cho nhau!Trong cái đói cùng cực, con người chỉ nghĩ đến miếng ăn. Cái ăn là ý tưởng thường trực trong đầu. Trí tưởng tượng vẽ vời những món ăn ngon lành mà bây giờ đã quá xa rồi, chỉ còn là dĩ vãng vàng son. Một người nằm ở cuối khoang ghe nói:
– Dậy đi, anh em ơi, đến nơi rồi. Tắm rửa sạch sẽ, thay áo quần rồi đi ăn điểm tâm hủ tiếu Nam Vang.
Một người ở giữa khoang ghe đáp lại:
– Ghé tiệm hủ tiếu ở đường Trần Quý Cáp. Ở đó có bánh bao ngon tuyệt.
Cái miệng khô và đắng nghét của mỗi người đều cử động “nhép nhép” để nuốt mớ nước bọt vừa tiết ra do nghe tên những món ăn. Và cái cảnh “ăn hàm thụ” đó diễn đi diễn lại không biết bao nhiêu lần.
Có ba lần chúng tôi thấy bóng dáng tàu ở thật xa, xa đến nỗi nó nhỏ như đầu ngón tay. Chúng tôi đã đốt lửa để gây khói. Mặc cho chúng tôi đốt khói, chiếc tàu vẫn xa dần rồi mất hút. Mỗi lần như vậy nhiều người ôm mặt khóc nức nở, nhất là các bà. Trong tuyệt vọng con người có những cử chỉ, hành động thật lẩm cẩm. Một bà người Hoa cứ thỉnh thoảng lại bày một mớ những thỏi vàng và đô la Mỹ, đếm tới, đếm lui, vừa sụt sùi khóc vừa than vãn:
– Tiền này, vàng này, vậy mà tôi không sống nổi để hưởng. Hu hu…
Một thiếu niên chừng mười sáu tuổi nằm khóc rưng rức, mếu máo:
– Má ơi, Má có biết con chết không? Má thương con sao Má xúi giục con ra đi như thế nầy!
Tôi nhắm mắt, quay mặt hướng khác, không muốn thấy, không muốn nghe những gì đang diễn ra chung quanh. Khóc than, hay những cử chỉ rồ dại chẳng cứu nguy được tình thế, chỉ dìm sâu mình vào tuyệt vọng.
Một buổi sáng chúng tôi bỗng thấy những mỏm đá lởm chởm nhô lên khỏi mặt nước bao la. Chiếc ghe chúng tôi càng lúc càng trôi gần những mỏm đá đó. Chúng tôi vội ném dây thừng tròng vào đầu một mỏm đá gần để giữ cho ghe neo tại chỗ, không cho nó đụng vào đá, sợ vỡ ghe. Các tảng đá khác chỉ cách ghe chừng vài trăm thước. Chúng tôi biết có nhiều loại ốc bám vào thành đá, nhưng không ai trong chúng tôi còn hơi sức để bơi đến đó mò ốc. Dưới làn nước trong từng đàn cá bơi lội ung dung chung quanh ghe. Vô số là cá. Cá đủ loại, đủ cỡ. Chúng tôi nẩy ra sáng kiến lấy một cây sắt nhọn đâm cá. Cuối cùng chúng tôi đâm được một con cá dài khoảng ba gang tay. Thế là chúng tôi băm con cá ra nấu một nồi súp lớn, chia mỗi người một chén húp cầm hơi. Nhìn đá chúng tôi bỗng vỡ lẽ: chắc tại ghe chúng tôi trôi gần vùng đá ngầm mà tàu bè đều tránh xa nên chúng tôi chẳng thấy bóng dáng một chiếc tàu nào trong suốt mấy chục ngày trên biển. Một lát sau, mặt biển dâng lên, các mỏm đá từ từ chìm dưới nước, chẳng mấy chốc chung quanh chỉ có nước mênh mông. Tảng đá cao nhất còn lú đỉnh nhọn khỏi mặt nước khoảng một sãi tay. Thấy gió bắt đầu thổi ngược hướng đá ngầm, chúng tôi giương buồm bằng bao bố để trôi xa đá. Nhìn đỉnh nhọn độc nhất còn lú khỏi mặt nước để làm điểm chuẩn tôi mới biết chiếc ghe trôi với một tốc độ đáng kể. Với vận tốc nầy, hơn một tháng vừa qua chắc nó đã có thể đến một bến bờ nào rồi, Mã Lai, Nam Dương, Thái Lan, Phi Luật Tân v.v… Khổ nỗi, nó có tốc độ nhưng không có phương hướng. Nó là một chiếc ghe lãng tử, nay hướng này, mai phương khác, hay nó là một chiếc ghe không có lập trường, gió chiều nào nó xuôi chiều đó!
Cuối cùng, khi mọi hy vọng dường như không còn nữa, khi mọi người chỉ chờ chết, sau khi đã ghi đầy đủ tên tuổi vào một danh sách và bỏ vào một thùng kín thả trôi trên biển – một nhắn gửi sau cùng với loài người – thì vào khoảng mười giờ sáng ngày thứ bốn mươi sáu, người ngồi trên nóc ghe la lên:
– Có tàu! Có tàu! Bà con ơi!
Cả ghe nhốn nháo, tươi tỉnh hẳn. Chúng tôi thấy một chiếc tàu trắng ở một khoảng cách khá xa, nhưng so với ba chiếc tàu trước thì nó gần chúng tôi nhất. Chúng tôi có thể phân biệt được những cột khói nó nhả ra. Chúng tôi đốt lửa lên. Nhiều người đàn bà quỳ tại chỗ vái xin. Ông Sềnh, như thường lệ, quỳ gần mũi ghe lâm râm khấn vái. Chúng tôi vẫn tiếp tục đốt lửa để gây khói, mắt không rời bóng dáng trắng của con tàu ở nẻo xa. Bỗng chúng tôi thấy chiếc tàu phun lên mấy cột khói đen. Rồi nó từ từ quay đầu, hướng về chúng tôi. Con tàu lớn dần, lớn dần. Ở một khoảng cách vừa phải, nó dừng lại. Chiếc xuồng con treo bên hông tàu từ từ được hạ xuống, và một người chèo xuồng đến sát ghe chúng tôi. Hầu như không ai cầm được nước mắt. Trong mỗi người chúng tôi như có nghìn lời không nói ra được. Người ơi, chúng tôi đã tưởng không còn gì nữa! Chúng tôi vẫn biết tứ hải giai huynh đệ nhưng làm sao chúng tôi gặp được các người. Ngọn gió nào, hay đúng hơn, ý muốn của Đấng Toàn Năng nào đã đưa người đến đây?
Người chèo xuồng là một thủy thủ người Âu. Sau vài câu hỏi, thấy chẳng ai hiểu ngôn ngữ mình, người thủy thủ ra hiệu cho chúng tôi buộc một đầu dây thừng vào ghe, đoạn ông ta nới sợi dây dài đến tận tàu lớn. Ghe chúng tôi được kéo sát vào chiếc tàu. Một thang dây được thả xuống để chúng tôi leo lên, nhưng không ai làm nổi điều đó. Chúng tôi đứng còn không vững, nói chi đến dùng sức bám vào thang dây đu đưa và cao vời vợi thế kia. Các thủy thủ đã nghĩ ra cách đưa từng người chúng tôi lên tàu an toàn. Họ dùng một loại dây đai vẫn thường được trang bị cho các người thợ làm việc ở các cao độ nguy hiểm. Mỗi chúng tôi vẫn bám thang dây nhưng được dây đai nâng lên và một thủy thủ đẩy phụ từ dưới. Phải nói là các thủy thủ phụ trách vớt chúng tôi đã rất “can đảm”, vì khi bò từng nấc thang bên dưới mỗi chúng tôi họ vẫn hít thở khí trời đều đặn, không quay mặt hướng khác – mà còn cách nào hơn trên cái thang dây đu đưa kia, ngoại trừ lỗ mũi phải chịu một “cự ly gián cách tiếp cận” phần mông hay phần giò cẳng chúng tôi – và nét mặt “không hề thay đổi”. Chỉ khi lên đến nơi, lúc dìu chúng tôi đi trên sàn tàu họ mới đủ “không gian” quay mặt sang bên trái hay bên phải và chun chun hay khịt khịt cái mũi để “lọc” bớt mùi hương của chúng tôi! Những thân thể gần năm mươi ngày không được tắm rửa, và phải làm cái công việc tháo bỏ cặn bã của một sinh vật tại chỗ trên ghe một thời gian dài như thế – ít nhất khoảng hai mươi ngày sau cùng của hành trình – toát ra cái mùi kỳ lạ mà có lẽ suốt cuộc đời thủy thủ họ mới biết lần đầu, và hy vọng chỉ một lần mà thôi.
Một thủy thủ người Hoa đến tìm người đồng chủng để chuyện vãn. Y nói chuyện với ông Sềnh, và sau đó ông Sềnh đã kể lại cho mọi người cái chi tiết khá lạ lùng dẫn đến cuộc cứu vớt quý hóa nầy. Theo như người thủy thủ ấy cho biết, tàu đang được sơn phết ở một số nơi trên boong, và trên hướng tàu đi, một vài nơi sẽ có mưa rải rác, nên tàu phải tạm thời đổi hướng để tránh mưa có thể làm hư sơn còn ướt. Chính vì thế mà tàu đã đi qua vùng nầy, và ông ta chính là người thợ sơn đang làm việc trên giàn cao. Ông thấy khói bốc lên ở xa xa và nghi có ghe hay tàu nhỏ đang lâm nạn, nên đã vào báo cho các sĩ quan người Anh chỉ huy trên tàu. Họ đã đặt ống nhòm quan sát và thấy rõ ghe chúng tôi. Thuyền Trưởng đã quyết định cho cứu. Người thủy thủ kết luận: “Trời cứu các người đấy.”
oOo
Ông Sềnh giục:
– Thôi, ngắm đá ngầm như vậy đủ rồi, mình về nhà thôi. Ở đây lạnh bỏ mẹ.
– Lâu lâu cháu lại nhớ lại chiếc ghe của mình hồi đó. Có lẽ suốt đời không quên.
– Cuối cùng rồi tất cả đều là dĩ vãng.
Tôi không hiểu ông Sềnh muốn nói điều gì, đã định hỏi lại nhưng thấy ông đi nhanh về phía xe nên đành thôi, bước theo ông. Tôi chui vào chiếc xe cũ kỹ và ngồi phía ghế hành khách, trong khi ông Sềnh ngồi vào chỗ người lái. Trên đường về, vì muốn cho tôi xem qua phố xá nước Anh, ông cho xe chạy vào khu trung tâm thành phố. Tôi chẳng thấy hứng thú ngoạn cảnh lắm. Có thể tại tôi vốn không thích những gì cổ xưa, và có thể phố xá Ăng-Lê không có được vẻ mời gọi, quyến rũ của các đô thị Mỹ, nên phố phường hai bên đường dưới mắt tôi tẻ nhạt làm sao. Bên cạnh những kiến trúc cổ nghiêm trang, một vài tòa nhà kiểu cọ tân kỳ mọc lên, vươn cao hay chen vai sát cánh với các công trình xưa trong một dáng vẻ kịch cỡm, tạo một tương phản không mỹ thuật chút nào, tựa như một áo gấm đắt tiền xưa cũ bị vá đắp bằng những mẫu hàng thời trang mà rẻ tiền ngày nay. Qua khỏi những khu phố chính, ông Sềnh rẽ vào những con đường hẹp hơn, với nhà cửa bé tí san sát hai bên. Khung cảnh gợi tôi nhớ những bối cảnh trong một số phim xã hội của Ý mình đã xem hồi còn bé. Có lẽ các thành phố Âu Châu đều có những nét tương tự.
Chúng tôi vừa xem phố xá vừa chuyện trò với nhau. Tôi nói về nước Mỹ, về cuộc sống điển hình của người Việt tỵ nạn tại đó, về gia đình tôi. Ông Sềnh kể về cuộc sống của gia đình ông từ ngày định cư ở đất nước nầy. Ông Sềnh ở vào một cảnh ngộ hơi đặc biệt, vì ở tuổi tóc đã hoa râm mà đứa con út của ông mới lên bảy, và bà vợ hãy còn “thời thanh xuân”. Tôi không có tính tò mò nên chẳng bao giờ bận tâm về quá khứ của ông. Ông kể những buồn vui nơi xứ người, và tôi bỗng thấy cuộc sống của gia đình ông bây giờ buồn nhiều hơn vui, và dường như một bất an thường trực đang bao trùm lên gia đình Á Châu độc nhất trong vùng. Ông nói về những lỗ lã của cửa tiệm tý hon của gia đình (một phần căn nhà được tách ra làm chỗ bán “thức ăn nhanh” cho khách hàng mua và đem đi). Đây là loại tiệm “take-out” bên Mỹ, nhưng ở đây, xứ sở nguồn gốc của tiếng Anh, người ta gọi “take-away”. Có một điều lạ là cái điểm son trong cá tính của ông Sềnh ngày xưa, tính lạc quan, vẫn không bị thời gian cùng những thăng trầm trong cuộc sống đào thải. Ông nói về những khó khăn của đời sống với một giọng kể chuyện bình thường, không phải giọng than thở, oán trách, và kết luận bao giờ cũng là sự tin tưởng vào tương lai, một niềm tin mang một phần màu sắc siêu hình, và bộc lộ một phần tự tin vào chính mình.
Nghe ông nói, tôi không khỏi nghĩ đến chỗ ở của gia đình ông khi xuống xe trưa nay, đi theo ông vào nhà. Tôi đã từng chứng kiến, từng nhìn thật gần cái nghèo cùng cực, đó đây hồi còn bên nhà, và trước những cảnh tượng như thế tôi đã có những tình cảm bùi ngùi, ái ngại, thương xót, v.v. Nhưng lần nầy thì khác. Mặc dù trên đường đi ông Sềnh đã báo trước với tôi, “mầy thấy nhà chú Sềnh chắc mầy thất kinh luôn”, nhưng tôi vẫn không hình dung nổi “thất kinh” như thế nào, cho đến khi cánh cửa được hé mở! Tôi đã có cái cảm giác trái tim mình bỗng bị ai bóp mạnh một cái. Có thể gọi đây là chỗ cư trú của hai vợ chồng và ba đứa con, mà lớn nhất mười bốn tuổi, và nhỏ nhất bảy tuổi được không? Phòng khách có lẽ được biến cải từ một phòng ngủ, bé tí với bộ xa-lông nệm mà tuổi đời dễ có đến mấy chục niên kỷ, và màu nguyên thủy của nó không ai đoán nổi, chỉ thấy bây giờ nó là một tổng hợp màu vàng của đất sét và màu đen sậm của đất sình, cộng với vẻ nhớt nhát của mỡ dầu bám kinh niên không được tẩy xóa. Chen vào giữa bộ xa-lông là chiếc bàn con mà kích thước ước lượng cỡ tám tấc và bốn tấc. Chìm trong tường là một lò sưởi kiểu xưa dùng củi đốt để tỏa nhiệt. Nhưng ông Sềnh đốt các thùng bằng giấy bìa cứng – những thùng trống sau khi đã tiêu thụ hết hàng hóa đựng bên trong. Tôi không hiểu làm thế nào ông có đủ giấy bìa cứng kia để đốt sưởi mà không cần tới than hay củi. Tôi chẳng thấy một khúc củi hay một cục than nào trong nhà hoặc quanh nhà. Tôi ngồi nhìn lửa cháy bừng bừng trong lò mà vẫn thấy rét cóng tay. Ngoài những thứ tôi vừa nói trên, tuyệt nhiên không còn món đồ gì trong phòng khách. Tôi bước lên từng gác, chỗ ngủ của gia đình, cũng chẳng thấy gì hơn, ngoài giường, nệm, chăn, gối, và một máy ghe băng cassette. Tôi không nhớ mình đã cảm thấy những gì. Mọi sự đã vượt quá xa mức dự tưởng của mình, vượt quá những thái cực mình có thể nghĩ đến. Phải chi những điều nầy xảy ra với một ai khác kia thì nó đỡ thảng thốt cho tôi hơn. Ông bày tỏ hy vọng là năm năm nữa ông sẽ có thể sang Mỹ thăm tôi và du lịch. Tôi hỏi tại sao không là bây giờ hay năm tới. Con số ước tính năm năm trong trí ông Sềnh có hai “biện chứng”: một là con ông sẽ khôn lớn, hai là ông vẫn chưa mất tin tưởng ở năng lực của mình. Tôi nghĩ, không phải là ảo tưởng khi tin vào một tương lai khá hơn, như ông Sềnh đang tin. Tôi biết ông là một người năng động, nhiều sáng kiến, nhiều nghị lực. Tôi hy vọng ông sẽ vượt qua những đen tối hiện tại. Cái điều khiến tôi không thoải mái để kỳ vọng nhiều là mười ba năm qua, một thời gian khá dài, đã đủ để thử thách một người như ông Sềnh chưa? Mãi nói chuyện, lúc xe dừng lại tôi mới nhận ra mình đã về lại nhà ông Sềnh.
oOo
Phi trường quốc tế Heathrow, phi cảng số ba (terminal 3) khá đông người. Một tuần đã trôi qua, hôm nay ông Sềnh tiễn tôi về Mỹ. Làm thủ tục gửi hành lý và lấy số ghế xong, chúng tôi còn hai mươi phút ngồi uống giải khát và chuyện vãn ở quán nước dưới hầm, trước khi chia tay. Cái bắt tay chặt với ông Sềnh cho tôi một cảm nghĩ vô căn cứ về nỗi cô đơn của người bạn già. Nhưng có một điều tôi thấy mình linh cảm được: bấp bênh và bất trắc đang còn nhiều với gia đình ông Sềnh. Tới đầu hành lang dẫn vào máy bay tôi quay lại vẫy tay với ông Sềnh, đoạn đi vào hẳn phi cơ, bên tai như còn văng vẳng câu nói của ông Sềnh bên bờ biển vừa rồi, “tao vẫn tin mình ăn ở có đạo đức thì Trời luôn luôn che chở…” Tôi cảm nhận trong câu nói đó một niềm tin, một biết ơn, nhưng cùng lúc, một nhẫn nại, một chịu đựng. Nếu Trời đã đưa toàn bộ đoàn người trong chiếc ghe vượt biển tìm tự do, mà ông Sềnh là người tổ chức và điều khiển, đến được bến bờ an toàn thì tại sao Trời không tiếp tục giúp đỡ, che chở cho gia đình ông Sềnh làm ăn sinh sống được thuận chèo mát mái nơi xứ người bao năm qua, như bao nhiêu người mà ông Sềnh đã cưu mang đến bến bờ đang được hanh thông ở Úc, Pháp, Anh, và Mỹ, kể cả những kẻ “ác quỷ hiện nguyên hình” như Bảy Lì trong những ngày cả ghe ngắc ngoải chờ chết!
Nhiều khi tôi tin có một quyền lực siêu nhiên cầm cân nẩy mực, không nỡ để những kẻ có lòng thành, hay làm việc tốt như ông Sềnh phải bị nạn; và đấng siêu nhiên ấy cũng không nỡ để những kẻ đã đặt hết tin tưởng vào sự lèo lái của ông Sềnh phải chìm sâu dưới lòng đại dương, làm mồi cho cá, mặc dù một số kẻ trong những ngày toàn bộ nhóm người trên ghe đang lênh đênh trên biển chờ chết, đã là những con ác quỷ hung hãn rắp tâm giết đồng loại cùng hội cùng thuyền với mình để mong được sống còn. Có phải vì sự khấn vái cầu xin của ông Sềnh mà Đấng Toàn Năng ra tay cứu vớt tất cả, không chừa một ai? Tôi không làm sao biết được, và cũng không nghĩ có bao giờ mình sẽ trả lời được thắc mắc kia. Nhưng lắm lúc tôi không hiểu nổi những “trừng phạt của Trời Cao”, nếu có, đối với con người đáng được ban phước, hay ít ra không đáng bị “bỏ rơi” như ông Sềnh.
Một thầy tướng số ngày xưa ở Sài Gòn đã đoán rằng đời ông Sềnh là một đời đầy biến cố. Ông Sềnh đã tâm sự với tôi, “chú sẽ trải qua hai nghìn lần thoát chết, số mệnh đã định trước như thế.” Không biết trong những ngày mọi người lênh đênh trên ghe chờ chết, ông có nhớ lại lời tiên đoán kia không, và nếu có thì ông đã nghĩ gì, lâm râm khấn vái để cám ơn thiên mệnh, hay nguyền rủa nhà lý số xỏ lá? Hai nghìn lần! Không thể mỗi ngày đều gặp nạn, không thể mỗi tháng đều có chuyện phải đối phó, và không thể mỗi năm đều có lần thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Tôi không hình dung nổi một đời phi thường như thế; tôi chỉ mong rằng đó là một cuộc đời ngoại hạng, có chân mạng đế vương, được sự che chở của Trời Đất để làm nên sự nghiệp ở xứ người với đôi bàn tay trắng, cũng như với đôi bàn tay trắng ngày xưa ở Việt Nam ông đã tạo dựng một cơ ngơi to lớn. Ông Sềnh không nuôi hoài bão cao xa, không tin sẽ làm vương, làm tướng. Ông chỉ tin ở chính khả năng ông, ở chính đạo đức của ông mà Trời sẽ chứng giám và giúp đỡ, thế thôi. Tôi cầu mong ông được toại nguyện. Mười ba năm lận đận ở xứ người rồi. Thế cũng quá đủ. Mong rằng Ông Trời thôi thử thách ông.

“Chú Sềnh bây giờ nghèo quá, hả Hoàng? Đừng lo, chú sẽ giàu. Chờ chú ít năm nữa thôi.” Yên vị trên chuyến bay về Mỹ, tôi bỗng nhớ lại câu nói ấy, lúc tôi theo ông Sềnh bước vào nhà. Ít năm nữa! Tôi mong không phải là mười ba năm nữa, hay chẳng bao giờ. Ông Sềnh còn giữ được trong lòng hai điều quý báu của một con người: một niềm tin và một tự tin. Tôi không hiểu những điều ấy có giúp gì cho ông trong lúc này. Ông tin vào lẽ phải của Trời Đất, và vì thế, ông tin vào những điều dạy của một triết lý thực tiễn Á Đông xưa cũ mà suốt một đời ông đã tâm niệm là kim chỉ nam cho ông xử thế. Tôi bỗng thấy bối rối trước đức tin của ông Sềnh. Không phải mình lại rơi vào chủ nghĩa hoài nghi cổ điển của con người, nhưng tôi thấy chua chát tự hỏi đến bao giờ thì những giá trị thiêng liêng mà ông Sềnh tin tưởng mới trở thành “nhãn tiền”. Còn lòng tự tin của ông Sềnh liệu sẽ đứng vững được bao lâu. Năng lực của chàng trai Đèo Chín Sềnh ngày xưa bây giờ có sắc nhọn hơn do thời gian và kinh nghiệm mài giũa, hay vẫn còn như xưa, hay đã tàn lụn theo năm tháng rồi, và niềm tự tin chỉ còn là ký ức lẫn lộn với trực giác? Không biết ông Sềnh có nhớ là mình đã sáu mươi tuổi. Và không biết ông Sềnh có nhớ rằng đây là một thời khác, với những thay đổi sâu rộng từ suy nghĩ đến cung cách làm ăn sinh sống của con người, những thay đổi mà một bộ óc già nua không đuổi kịp.

Tôi có cảm tưởng những khó khăn, những trở lực đang giăng bủa khắp lối đi của ông Sềnh. Tôi nhớ lại những “buồn vui tỵ nạn” mà ông Sềnh đã tâm sự với tôi. Tôi hình dung đoạn đường dài ba tiếng đồng hồ lái xe từ nơi ông ở đến Luân Đôn, đoạn đường mà mỗi tuần ba ngày ông phải lái xe đi và về, để phụ việc cho một người bạn kiếm thêm thu nhập cho gia đình, vì mức bán buôn của tiệm ông không đủ trang trải mọi thứ của đời sống. Tôi nhớ ông kể ba lần bị tai nạn trên xa lộ, nhưng may mắn đã toàn mạng. Tôi nhớ ông nói về những vụ trộm viếng cửa tiệm, vét sạch những gì trị giá vài Anh kim trở lên, về hai vụ cháy nhà về mùa đông do đứa con nhỏ nghịch lửa trong lò sưởi. Tôi nhớ những âu lo của ông về viễn ảnh kinh tế xứ Wales, vì Quốc Hội nước Anh đang bàn cãi kế hoạch đóng cửa các mỏ than trong vùng. Mãi lực của tiệm ông Sềnh vốn đã èo uột, sẽ còn đi xuống tới mức nào, khi hàng nghìn thợ mỏ sẽ thất nghiệp. Bất giác tôi nghĩ đến những mỏm đá ngầm gần bờ biển mà tôi và ông Sềnh đã ngắm nhìn hôm nọ. Mười ba năm trước ông Sềnh và gia đình đã được một tàu viễn dương vớt ra khỏi vùng đá ngầm của biển khơi. Đến bao giờ thì ông và gia đình mới được thiên mệnh vớt ra khỏi vùng đá ngầm của nơi họ đang sinh sống, vùng đá ngầm của cuộc đời.
Hà Kỳ Lam

Phim VIETNAMERICA Thành Công Rực Rỡ Tại Houston

Khách Việt Mỹ sắp hàng nối đuôi nhau vào xem phim
Phim VIETNAMERICA Thành Công Rực Rỡ Tại Houston
Phim chuẩn bị Ra Mắt Tại Đại Hội Thánh Mẫu Missouri và Denver, Colorado

• Khán giả đông đảo nhất thuộc thế hệ dưới 50
• Nhiều ý kiến của khán giả Mỹ Việt
                                 
*Bản tin của hội VAHF

Những khán giả đứng xem phim VIETNAMERICA

8.30 tối Chủ Nhật 26 tháng 7, 2015, nhiệt độ của một ngày hè nóng phỏng da của Houston tuy đã dịu xuống đôi chút, nhưng không khí còn rất oi bức. Trước cửa rạp chiếu bóng AMC số 2949 trên đường Dunvale Road thuộc thành phố Houston chật nứt khách đang chờ mua vé vào rạp để xem phim VIETNAMERICA. Ban Tổ Chức đã phải ra cáo lỗi vì đã bán hết 580 vé và rạp đã đầy nên không thể cho khách vào thêm. Một số khách đề nghị ban Tổ chức cho họ vào đứng để xem phim vì đây là buổi chiếu sau cùng của phim VIETNAMERICA tại Houston. Sau khi bàn thảo, Ban Tổ Chức đã đồng ý để cho gần 100 khách vào rạp đứng để xem phim và không lấy tiền vé, chỉ nhận đóng góp tuỳ tâm. Vì thế, đã có gần 2,500 đồng hương tham dự 4 buổi Ra Mắt phim VIETNAMERICA tại Houston trong hai ngày 25 và 26 tháng 7 vừa qua tại rạp AMC.

Ba xuất chiếu trước đó đã được sự chủ toạ của Hội Đồng Liên Tôn Houston gồm: Hoà Thượng Thích Huyền Việt, Linh Mục Phạm Hữu Tâm, Linh Mục Trần Ngọc Hùng, cư sĩ Hoà Hảo Nguyễn Anh Dũng, Nghị viên thành phố Houston Richard Nguyễn, các nhà bảo trợ, một số hội đoàn và cơ quan truyền thông, cùng một số thân hào nhân sĩ Mỹ Việt tại Houston.

Ngoài ra, trong hàng ngũ quan khách, chúng tôi ghi nhận được một số những yếu nhân như Thẩm phán Mc. Comb toà số 13 của Houston, Texas, nữ Thẩm Phán Kathy Hoàng (Hàn Bảo Khanh) toà số 14 và phu quân, bác sĩ Hoàng Ngọc Giao, cựu Thiếu tướng John Bailey, các cựu Đại tá Fred Glacier, Ray Rhodes, từng tham chiến tại Việt Nam. Ủy viên cảnh sát Texas Joe Pennington, một số tu sĩ Thiên Chúa giáo và Phật giáo, và còn nhiều những nhân vật quan trọng khác mà chúng tôi không ghi nhận được.

Những tiếng vỗ tay vang dội và những giọt nước mắt lăn dài

Mỗi xuất chiếu, dưới sự điều động của 3 MC đầy kinh nghiệm:  Trần Tiến Tinh và Nickie Trần vào ngày thứ bảy, Lê Phú Nhuận và Nickie Trần vào ngày Chủ nhật trên 500 khách đã đứng nghiêm chào quốc kỳ Việt Mỹ và phút mặc niệm đầy cảm xúc trước khi thưởng thức cuốn phim.
Trong suốt 90 phút xem phim, khách thưởng ngoạn đã 2 lần vỗ tay vang dội; lần đầu sau khi xem một người Hungary mắng những người Mỹ mang cờ Cộng sản và cờ Giải phóng miền Nam la hét đòi chấm dứt chiến tranh trong phong trào phản chiến tại Mỹ:

 “Các anh ngu xuẩn, dại dột và bị lừa nên đã đến đây biểu tình! Thật là xấu hổ, nhục nhã cho nước Mỹ!....Những người Nam  Việt Nam đang đấu tranh cho tự do và tương lai của con cái họ. Mỗi người lính Việt Nam Cộng Hòa là một anh hùng, họ xứng đáng được gắn huy chương cho lòng can đảm và hy sinh của họ..”

Lần thứ hai, tiếng vỗ tay như không muốn dứt sau khi Khoa học gia Dương Nguyệt Ánh nói: “Tôi muốn đền ơn người Mỹ nên tôi đã cố gắng chế tạo loại vũ khí này để giúp các chiến sĩ Hoa Kỳ chiến đấu tại các chiến trường có thể trở về an lành với gia đình họ…”

Không khí trong rạp còn lại thật trang nghiêm, chỉ nghe tiếng của các nhân vật và nhạc lúc dặt dìu, khi vang dội từ màn ảnh. Khán giả ngồi yên im chăm chú, đâu đây nghe như  tiếng khóc xụt xùi thật nhẹ của khán giả trước những éo le của lịch sử, thảm cảnh của thuyền nhân hay những cảnh chết thảm khốc của người dân lành và trẻ em vô tội trong cuộc chiến thảm khốc trên 20 năm.

Một công trình mang tính cách nhân bản và nghệ thuật.

Hoà thượng Huyền Việt đã thật xúc động sau khi xem phim. Vị Hòa thượng cũng từng là thuyền nhân và sống tại Songkhla, Thái Lan những ngày tháng dài trước khi định cư tại Hoa Kỳ. Ông nghẹn ngào chia sẻ: ” Tôi không giữ được cơn xúc động vì hơn một tiếng đồng hồ qua, tôi đã nhìn lại cảnh đồng bào ta sau năm 1975 đã phải lang thang đến nhiều mảnh đất xa lạ để tìm tự do. Từ những  ngày đau thương đó, chúng ta tom góp nhau lại thành một cộng đồng người Mỹ gốc Việt với bao khó khăn để có ngày hôm nay…”

Riêng với Linh mục Bác sĩ Phạm Ngọc Tâm chia sẻ:” Khi hội VAHF kêu gọi tôi giúp vào việc quảng bá phim VIETNAMERICA, tôi đã nhận lời vì hai lý do: thứ nhất là vì quá trình làm việc của hội và sau đó là nghe và đọc những lời chia sẻ của những người đã xem phim. Nhưng thú thực trong lòng tôi chưa dám mạnh dạn để nói về cuốn phim. Nhưng sau khi xem phim, tôi thấy rằng mình đã có đủ lý do để quảng bá giúp hội VAHF bằng mọi cách vì cuốn phim này ngoài giá trị của bài học lịch sử, phim còn mang tính nhân bản và là một công trình nghệ thuật. Cuốn phim làm rất công phu và không thua gì những cuốn phim của nguời Mỹ đã làm mà mọi người chúng ta phải và cần xem…”. Vị Linh mục Bác sĩ này chỉ không giúp việc quảng bá, ông còn ký ngân phiếu và tặng hội VAHF $200.

Cuốn phim đã mở mắt cho em

Buổi chiếu phim chấm dứt, khán gỉa lần lượt ra về với gương mặt bùi ngùi, xúc động. Một số khán giả sau buổi chiếu đã nán lại để đóng góp ý kiến. Phần lớn các giới trẻ đã lên sân khấu để nói về những ngạc nhiên, thích thú và vui mừng về sự có mặt của VIETNAMERICA.

Nguyễn Thiên Phúc 21 tuổi, sang Mỹ lúc 8 tuổi và hiện đang học tại trường dạy nấu ăn chuyên nghiệp tại Houston đã phát biểu:
“ Em đến đây khi còn nhỏ và không nhớ gì nhiều, cám ơn những người đã làm phim VIETNAMERICA giúp em và những nguời trẻ hiểu được những khó khan và hy sinh của cha mẹ…”

Em Đàm Tôn Đắc Vinh là con trai duy nhất của anh chị Đàm Quang Tâm và Ca sĩ Thái Hà đến từ San José. Vinh 22 tuổi, sinh trưởng tại Canada, vừa tốt nghiệp cử nhân Triết Anh Ngữ và đang chuẩn bị vào trường Luật chia sẻ:
“Cuốn phim đã khiến cho em phải mở mắt (an eyes opening) nhìn vào cuộc đời khác với những suy nghĩ của mình truớc đây. Ba mẹ em là những thuyền nhân. Họ đã kể cho em về chuyến đi tìm tự do khó khăn của họ, nhưng cuốn phim này đã giúp em hiểu đầy đủ với những chi tiết đem lại nhiều xúc động em không thể quên…”

Cô Tiffany Zhang, con dâu của nhà bảo trợ Bạch Kim Stephen Le thuộc công ty Greatland Investments. Ngoài việc bảo trợ, ông Stephen Le còn mua trên 20 vé cho con cháu, dâu rể cùng đi xem. Cô Tiffany phát biểu:
“Tôi là một người Trung Hoa đã kết hôn với chồng tôi là người Việt Nam. Dù cùng là người Á Châu, nhưng tôi nhìn thấy sự chăm chỉ và cần mẫn của gia đình chồng khiến tôi rất kính phục, Hôm nay, sau khi xem cuốn phim, tôi mới hiểu được những đức tính của họ từ đâu mà có. Từ là những người tị nạn tay trắng, họ đã chăm chỉ và không quản ngại trước những khó khăn để thành công như ngày hôm nay….”

Không phải thất vọng

Phương Songkhla, người đã gắn tên của trại tị nạn Song Khla vào tên của mình cho biết em đã mua 20 vé cho gia đình và bạn bè đi xem. Sau khi xem, Phương Songkhla ký check tặng hội VAHF $200 đô la. Phương chia sẻ::” Em đã không cầm được nước mắt. Em đã khóc từ đầu tới cuối cuốn phim”.

Riêng nữ Thẩm phán người Mỹ gốc Việt Kathy Hoàng đã chúc mừng hội VAHFvà nhà sản suất. Bà phát biểu:” Cuốn phim đã rất thành công!”
Nha sĩ Chu Văn Cương và phu nhân Thùy Linh đã ký check ủng hộ hội VAHF $1,000 ngay sau khi bước chân ra khỏi rạp, Nha sĩ Cương chia sẻ:” Phim thật cảm động, chúng tôi thật hãnh diện để góp phần vào việc cổ động cho cuốn phim này”.
Bác sĩ Vũ Ban, Chủ nhân của Thẩm Mỹ viện Bích Ngọc và Đài truyền hình VAN TV trả lời câu phỏng vấn của đài VIETV trong khi đôi mắt còn ướt:” Chúng tôi đã mong đợi để được xem phim này từ lâu. Và quả thật chúng tôi đã không phải thất vọng sau khi xem phim. Tiếc rằng Ban Tổ chức không cho chiếu thêm nhiều ngày nữa để nhiều đồng hương được xem.”

Ý kiến của khán giả Hoa Kỳ:
Cuốn phim nói về tình người tuyệt đẹp!

Cựu Thiếu tướng John Bailey từng tham chiến tại Việt Nam phát biểu: “ Cuốn phim thật tuyệt vời!: ”. Ông còn tỏ ý mong mỏi có những cuốn phim nói lên tình đồng đội thắm thiết giữa người lính Hoa Kỳ và Nam Việt Nam vì ông đã có những kinh nghiệm tốt đẹp này.

Ủy viên Cảnh Sát Texas Joe Pennington nhận định: “Cuốn phim thật hay và cảm động, nếu nhà sản xuất cần bất cứ việc gì để có thể phổ biến cho đại chúng Hoa Kỳ, tôi sẵn sàng góp một tay.”

Nữ cựu quân nhân Treva Mott từng tham chiến tại Iraq và Afphanistan đã thật xúc đông khi cho ý kiến:
“VIETNAMERICA là cuốn phim đau buồn đáng nhớ và mọi người phải xem. Điều làm tôi cảm động nhất là được nghe và xem chính những nhân vật đã kể bằng chính ngôn ngữ của họ. Lòng quyết tâm bỏ trốn, sự bất công to lớn mà họ phải trải qua và họ sẵn sàng chết cho tự do là một điều vô giá. Đây là một phần của lịch sử và một câu chuyện mà mỗi người chúng ta có thể học hỏi”

Nữ Cảnh sát viên Elizabeth Balnton đang phục vụ tại sở cảnh sát Houston phát biểu qua một email gửi cho Tiến sĩ Đặng Thiệu, thuộc Ban Quản trị của hội VAHF:

"Tôi rất thích thú khi xem cuốn phim này vì nó là một cánh cửa sổ đưa vào lịch sử. Trước đây tôi không hề biết sau chiến tranh Việt Nam đã có nhiều người Việt bỏ trốn khỏi đất nước của họ nhiều đến như vậy. Mặc dù câu chuyện của Võ sư Hoá rất buồn, tôi nghĩ rằng cuốn phim đã làm rất tốt việc giải thích lịch sử của người Mỹ gốc Việt và sức mạnh, lòng can đảm và ý chí sống còn của h.”

Thẩm Phán toà số 13, Houston Mc. Comb đã phát biểu ngắn gọn:
” Cuốn phim nói về tình người tuyệt đẹp!”

Những khán giả bất ngờ và ý kiến của người trong nước qua trang mạng đài VOA

Ví trình chiếu vào mùa hè nên phim VIETNAMERICA đã được một số khách từ Việt Nam sang Mỹ thăm gia đình hoặc lo công việc đã nghe nói về cuốn phim và đến xem.

Ý kiến dưới đây là của một nhà kinh doanh rất thành công tại Việt Nam, ông đến xem phim với toàn thể gia đình. Chúng tôi không ghi rõ tên vì không muốn những khán giả này gặp khó khan khi trở về nước. Vị khan giả từ trong nước đã nhận định:

“Một trong những bộ phim tài liệu hay, dài 90 p, nói về "Boat People". Một thân phận điển hình (võ sư Hoá) tháo chạy khỏi cộng sản khi miền Nam bị xâm chiếm. Sự mất mát quá lớn của một con người là cái giá phải trả cho việc đi tìm tự do. Và giá trị của sự tự do là sự đền bù xứng đáng cho hàng triệu người Việt Nam trong cuộc đào thoát vĩ đại của những thập niên 70, 80.”

Trước khi phim được chiếu khoảng một tuần, phóng viên Hoài Hương của đài VOA chương trình tiếng Việt đã phỏng vấn nhà sản xuất Nancy Bùi. Buổi phỏng vấn này đã gây được sự chú ý của số đông đảo độc giả và thính giả trong và ngoài nước. Chúng tôi xin ghi lại một vài ý kiến tiêu biểu để bạn đọc tiện theo dõi.


Ý kiến bởi: xyz từ: Việt Nam
24.07.2015 17:34
Trả lời
Tôi là người VN 100% và tôi vẫn đang sống trên mảnh đất này, tôi nghĩ Triều Giang đã rất đúng khi làm bộ phim này, tôi hy vọng phim sẽ được công chiếu rộng khắp hoàn cầu, để bất kỳ đâu cũng xem được...ngay cả ở Việt Nam.
Tôi cũng có ý nghĩ giống như 1 bạn 'không ghi tên' :

BỘ PHIM 'Vietnamerica' LÀ PHẦN QUAN TRỌNG NHẤT TRONG LỊCH SỬ ĐẢNG CSVN.

bởi: Le từ: My
24.07.2015 01:23
Trả lời
Nguoi Viet o nuoc ngoai cung la mot thu di dan de kiem an nhu bao nhieu di dan khac chu co gi dau
Trả lời
bởi: Phú từ: Phú Yên
24.07.2015 16:35
Trả lời
Trước khi bạn phát ngôn như vậy, bạn có suy nghĩ tại sao họ phải đi ra nước ngoài để kiếm ăn không? Và phải đánh đổi cả tính mạng của mình chỉ vì miếng ăn?

Bạn đọc có thể vào link của trang chủ đài VOA dưới đây để đọc tiếp những ý kiến rất đáng suy nghĩ:

http://www.voatiengviet.com/content/vietnamerica-tham-canh-thuyen-nhan-vietnam/2870800.html

Những ý kiến đóng góp

Ngoài những lời khen ngượi và cám ơn nhà làm phim kể trên, phần hỏi và đáp có một số ý kiến đóng góp như vì sao phim không nói về TT. Ngô Đình Diệm, không có cảnh đấu tố, phim hay nhưng quá nhẹ nhàng, thiếu những cảnh của các trại tị nạn tại Hoa Kỳ như Forth Chaffy,v..v…
Ban tổ chức đã giải thích cuốn phim thời lượng chỉ có 90 phút thì khó có thể đưa tất cả những vấn đề của Việt Nam trong ¾ thế kỷ vào được. Cần phải có nhiều phim mới hoàn tất đưọc công việc này. Riêng về vấn đề phim thiếu những cảnh bạo lực như đấu tố, máu đổ thịt rơi, Nhà sản xuất Nancy Bùi cho biết mục đích của phim là giáo dục và muốn đưa cuốn phim vào các trường thì những cảnh tượng bạo lực không được đưa vào mà chỉ khéo léo diễn tả để không phải phơi bày các cảnh bạo lực đó.

Nỗ lực của cả thành phố Houston cho sự thành công rực rỡ của VIETNAMERICA

Tiến sĩ Đặng Thiệu, trong Ban quản trị VAHF, người cùng với Dưọc sĩ Quế Phạm trong 2 tháng dài đã làm việc với các thân hữu và hội đoàn như Nha sĩ Chu Văn Cương, anh Đỗ Tĩnh, anh Văn Đình thuộc Cộng Đồng Ngưòi Việt Houston,, chị Phương Ninh, chị Ngọc Tân, chị Tuyết Mai, chị Trần thị Thu Vân và còn nhiều chị khác thuộc Gia Dinh Trưng Vương Houston, các chị Ngọc Sương, Yến La, Ngọc Hương, Thuý Phạm của hội Cựu Nữ sinh Gia Long Houston, và một số thân hữu khác như anh Hoàng Xuân Lý của Viet Travel, chị Thuý Hiệp, anh Trung thuộc nhóm Người Việt Tị Nạn Phi Luật Tân,  để lo bán vé, phân phát vé. Với sự hỗ trợ tối đa của đài phát thanh Sàigòn Houston 900 trong việc loan báo, hội thoại của Hội đồng Liên Tôn, các hội đoàn. Đài còn giúp bán vé ngay tại văn phòng. Các đài truyến hình VIETV, BYN, VAN TV cũng đã yểm trợ tối đa qua các buổi hội luận, những thông báo hầu như hàng ngày.

Còn phải kể đến sự đóng góp rộng rãi của các nhà bảo trợ như ông bà Stephen Le thuộc Greatland Investments, Christine Quỳnh AB Realty, HEB, VIETV, V247, Direct Furniture, Alpha Realtors, Caryn Trần Chicago Tittle, Pham Law Group và Milennium Tittle, Thắng Hưng Super Market, Singapoe Arlines, và DT Collagen. Riêng nhà bảo trợ Christin Quỳnh đã mở cửa nhà đón nhận gần 10 hội viên VAHF làm việc trong 5 ngày trước và sau buổi Ra Mắt phim.

Theo bản tổng kết của ban Tổ chức thì số tiền thu được từ sự ủng hộ của các nhà bảo trợ, thân hào nhân sĩ và tiền bán vé đã lên tới $70,000. Sau khi trừ chi phí, còn lại gần $60,000 đô la giúp hội VAHF trả được hơn 1/3 số nợ của hội cho cuốn phim.

Nhà sản xuất Nancy Bùi tâm sự: "Tất cả những nỗ lực kể trên, thêm vào sự nhiệt tình và chuyên nghiệp của 3 MC gồm chuyên gia Tịnh Tiến Tinh, nhà báo Lê Phú Nhuận và nữ Luật sư trẻ Nickie Trần cùng những thiện nguyện viên có mặt để lo việc tiếp tân, bán vé, soát vé và những hội viên của hội VAHF làm việc trong âm thầm như anh chị Peter Hà Phạm, anh chị Cơ Nguyễn, anh chị Long Mai Nguyễn, chị Tuyết Linh, Chị Tuyết Trần, chị Ý Thơ đến từ Austin, anh Hoàng Hải Ban kỹ thuật hoặc chị Hoàng Dung, trưởng Ban Điều hành đã đóng góp tích cực vào sự thành công rực rỡ của 4 xuất chiếu phim. Hội VAHF xin chân thành cám ơn Houston và người của thành phố “ nắng ấm, tình nồng”  luôn quan tâm và nỗ lực cho những việc công ích của cộng đồng và của đất nước, dân tộc.
Niềm vui lớn nhất của anh chị em trong hội VAHF là nhìn thấy sự quan tâm đến lịch sử của những người trẻ. Hơn một nửa khán giả ở trong lứa tuổi 50 trở xuống. Tức là khi cuộc chiến tranh chấm dứt, họ còn rất trẻ hoặc họ sinh ra sau cuộc chiến. Đó là thế hệ mà cuốn phim nhắm vào để phục vụ. Thế hê của những người biết rất ít hoặc không biết gì cả về cuộc chiến tranh và cả thời hậu chiến. Mong ước kế tiếp của hội là những người trẻ trong nước có dịp để xem cuốn phim VIETNAMERICA, khi đó mục tiêu của hội mới đạt được kết quả mong muốn.”
.
Bà Nancy Bùi cũng cho biết địa điểm chiếu phim VIETNAMERICA kế tiếp là tại Đại Hội Thánh, Mẫu 2015 tại Missouri. vào hai ngày Thứ Tư mùng 5 và Thứ Năm mùng 6 tháng 8 tại Hội Trường Các Thánh Tử Đạo Việt Nam với sức chứa trên 3,000 người của Nhà Dòng Đồng Công tại số 1900 Grand Ave. Carthage, MO. 64836. Mỗi ngày gồm 3 xuất lúc 10am, 2pm và 4pm.

Sau đó, phim sẽ được trình chiếu tại Denver, Colorado tại Hội trường của Nhà Thờ Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Địa chỉ: 4655 Harlan St. Wheat Ridge, CO. 80033 vào Chủ Nhật 20 tháng 9, 2015, gồm 2 xuất vào lúc 4pm và 7pm.Xin liên lạc với anh John Hùng Vũ.  Điện thoại số  (720) 217-3065 để biết thêm chi tiết.

Và khi bài báo này sắp lên khuôn, chúng tôi có nhận được video chip của VIETV tường trình về Buổi Ra Mắt phim VIETNAMERICA tại Houston, xin gửi tới quý độc giả dưới đây để kính tường:

https://youtu.be/FxN1UwS7qXg

Bản tin của hội VAHF
8/2015

Mặt khác, một số thân hữu và khán giả sau khi xem phim đã nhiệt tâm viết và gửi đến hội những bài viết nhận xét về phim, chúng tôi xin ghi nhận và gửi tới độc già dưới đây để kính tường:

Bài viết của Chị Nguyễn Thị Phương Ninh
Gia Đình Trưng Vuơng Houston

Tôi nghĩ cuốn phim Vietnamerica đã đạt được thành công lớn tại Houston khi xuất cuối cùng ngày Chủ nhật 26 tháng 7, 2015 đã không còn một chỗ trống và một số người đã xin được đứng xem vì những người đi xem trước đã hết lòng ngợi khen và dặn rằng :“nếu không đưa cả gia đình, con cháu đi xem phim này sẽ là một thiếu sót lớn”.

Phim có tính cách “Người Thật - Việc Thật” đầy bi ai đã đánh động vào giới trẻ và người bản xứ là những người không biết nhiều, biết đúng về chiến tranh Việt Nam, về cuộc di tản đau thương tháng 4-1975 đi tìm Tự Do, mọi người đã phải bỏ lại hết sau lưng, chỉ với hai bàn tay trắng cùng khối óc và sự cần mẫn, chịu đựng để xây dựng lại cuộc đời với đầy cam go, khó khăn của người tỵ nạn khi mới tới còn chân ướt chân ráo lại không nói được Anh ngữ! Thế mà họ đã vươn lên để có thế hệ thứ hai, thứ ba thành công vẻ vang làm rạng danh người Việt!

Người bản xứ đã phải xúc động rơi lệ khi chứng kiến nỗi khổ đau, sự chịu đựng bền bỉ của Thuyền Nhân vượt qua những cảnh chết chóc, cảnh gia đình ly tán khi vượt biển, vượt biên…. Giới trẻ đã hiểu biết thêm để biết ơn thêm về sự hy sinh của cha mẹ, ông bà….

Xin đồng hương hãy cố gắng thu xếp việc nhà để đi xem cho được cuốn phim này.

Xin chân thành cảm ơn Hội Bảo Tồn Lịch Sử và Văn Hóa - VAHF và nhất là những nỗ lực vượt bực để cho ra mắt cuốn phim VIETNAMERICA đã từng được một số khán giả Houston “khó tính”ca ngợi là “Phim hay nhất trong các phim Việt Nam từ trước tới giờ!

Nguyễn Phương Ninh

VÀI Ý NGHĨ NHÂN XEM PHIM VIETNAMERICA

• Bùi Huy

Bài viết dưới đây của ông Bùi Huy, kỹ sư dầu hoả, đã có những khám phá mới giúp ngành khoan dầu của Hoa Kỳ đứng hàng đầu thế giới vì tính cách an toàn và đem lại nhiều lợi nhuận hơn. Ông Bùi Huy đã mua 18 v é cho cả gia đình cùng đi xem phim.

Mỗi người Việt tỵ nạn giữ trong lòng mình những kỷ niệm riêng tư về chuyến hành trình vượt thoát địa ngục Cộng Sản. Không một câu chuyện nào có thể nói lên được hết những bộ mặt khác nhau của buồn tủi, nhọc nhằn, của đớn đau, kinh hoàng mà người Việt tỵ nạn đã gặp phải.

Tuy vậy, cuốn phim Vietnamerica, bằng cách lồng những đau thương cá nhân vào những thước phim tài liệu, những mẩu chuyện đầy nước mắt vào những lời phát biểu của những quan chức người Mỹ, cuốn phim ấy đã khéo léo vẽ lên được những nét chính của cuộc di cư vĩ đại và đau thương nhất trong lịch sử dân tộc.

Quả là trời thì xanh, mà khổ đau nói sao cho hết! Nhưng hơn thế nữa, không chỉ vẽ lên những uất hận ngập trời, Vietnamerica còn đưa ra những đóng góp đẹp đẽ của người Việt tỵ nạn vào xứ sở đã dung dưỡng họ, của những mảnh đời tuy đã bị quật vỡ nát như của võ sư Hóa, vẫn có thể vươn lên, vượt qua được nỗi ám ảnh về cái chết đau thương của vợ và hai con, để cống hiến cho đời bằng cách rao giảng, truyền dậy cho người già và thanh thiếu niên bản xứ tinh thần kỷ luật và võ thuật Việt Nam, của những người như bà Khúc Minh Thơ tranh đấu cho tù nhân còn bị giam cầm đày đọa, của những thế hệ thứ hai không chỉ đang lao động kiếm tìm miếng cơm manh áo mà còn đóng góp vào sự an toàn và phồn vinh của xã hội dưới nhiều hình thức.

Đây là một cuốn phim đáng xem, nên xem. Không chỉ cho các thế hệ trẻ để chúng hiểu thêm về lý do và hoàn cảnh đưa đến việc cha chú phải bỏ nước ra đi, mà còn cả cho chúng ta, thế hệ đã trưởng thành khi miền Nam bị cưỡng chiếm, để chúng ta có thể nhìn lại chính mình, nhìn lại những gì chúng ta đã làm, và từ đó khôn ngoan hơn trong những bước đi sắp tới, những bước đi từ một quá khứ đau thương vào một tương lai tươi sáng, trên đoạn đường còn lại của một cuộc sống có ý nghĩa.

Đây cũng là một cuốn phim nên rủ những người bạn Mỹ cùng xem. Niềm vui, nỗi buồn của người dân Việt đã không được nhắc đến trong các phim của người Mỹ. Người dân Mỹ nên xem để phần nào có thể hiểu được điều ấy, để biết chính quyền của họ, những người ngồi ở Bạch Cung và tòa nhà Quốc Hội trong mười mấy năm trước tháng Tư 1975, đã đối xử tồi tệ với người dân Việt như thế nào. Chúng ta biết ơn chính quyền và người dân Mỹ đã cưu mang chúng ta, nhưng chúng ta cũng cần phải cho họ biết họ đã sai lầm ra sao trong quá khứ, trong niềm hy vọng rằng một lỗi lầm tương tự có thể được tránh.

Bùi Huy

29 tháng 7, 2015


Tại bàn bán vé của Phim VIETNAMERICA trong rạp AMC Houston. Từ trái: cô Thu Mai, chị Hương Loan Nguyễn, bà Trịnh Tiến Tinh, và chị Long Mai đang chuẩn bị đón khán giả.
Chị Ý Thơ (áo dài) thuộc hội VAHF giúp việc soát vé.
Một số các anh chị trong Ban Tổ Chức chụp hình lưu niệm.
Nhà sản xuất Nancy Bùi chụp hình lưu niệm với ông bà Stephen Le, nhà bảo trợ Bạch Kim
Một số nam thành viên của hội VAHF. Từ trái: Bùi Ngọc Triễn, hỗ trợ kỹ thuật, ca sĩ Nguyễn Ngọc Long, trưởng Ban Văn Nghệ, và Tiến sĩ Đặng Thiệu, Trưởng Ban Nghiên Cứu.
Hội Đồng Liên Tôn Houston và một số nhà bảo trợ trong hàng ghế danh dự: Hàng trước từ trái: Ông Stephen Le, Greatland Investments, Linh mục Bác sĩ Phạm Hữu Tâm, Linh mục Trần Ngọc Hùng, Hoà Thượng Thích Huyền Việt. Hàng nhì từ trái. Ký giả Dươg Phục, Đài Saigòn Houston 900am, Luật sư Phạm Quốc Bảo, VIETV, ông Lân Ngô V247, Hàng thứ 3 từ trái: anh John Hoà Nguyễn Ban quản trị VAHF đến từ News Orleans, Bà Nancy Bùi, Andrew Bennett, nhà lắp rá (editor), ứng cử viên Thị Trưởng Houston Nguyễn Thái Học.
Từ trái: Ông Bùi Huy, Kỹ sư dầu hoả, nữ cảnh sát viên Elizabeth Blanton, bà Nguyễn Thị Phương Ninh thuộc Gia Đình Trưng Vương Houston.
MC Nickie Tran & Trịnh Tiến Tinh mời quan khách Mỹ Việt đứng lên chào quốc Kỷ Việt Mỹ và phút mặc niệm.
Đại diện các nhà bảo trợ từ trái: Luật sư Phạm Quốc Bảo, VIETV, Lân Ngô, Tổng Giám đố V247, Christin Quỳnh thuộc AN Realty & Mortgage, Tổng Giám đốc Stephen Le, Greatland Investments, Hai MC Nickie Tran và Trịnh Tiến Tinh.Hình phải: Christin Quỳnh phát biểu cảm tưởng và lý do khiến cô nhận lời bảo trợ VIETNAMERICA.
MC cho 2 buổi trình chiếu ngày Ch ủNhật 26 tháng 7: Luật sư Nickie Tran & nhà báo Lê Phú Nhuận.
Đại diện một số hội đoàn và cơ sở Truyền Thông bảo trợ: Từ trái Bác sĩ Vũ Ban thuộc VAN TV, Bà Yến Lã, Hội Cựu Nữ Sinh Gia Long Houston, Cô Tân Trịnh, Gia đình Trưng Vương Houston và Anh Tịnh Độ, Tổng Thư Ký Cộng Đồng Người Việt Houston
Cựu Đại tá Fred Glacier (người cầm micro phone) từng tham chiến tại Việt Nam đóng góp ý kiến. Người đứng phiá trái là bà Nancy Bùi. Phiá phài Tiến sĩ Đặng Thiệu, Andrew Bennett, Võ sư Nguyễn Tiến Hoá, và ca sĩ Thái Hà đứng trên sâu khấu để trả lời những câu hỏi của khán giả.
Rạp đầy ắp khán giả. Có nhiều người ngồi trên những bậc của lối đi
Những người trẻ không màng phải ngồi trên lối đi.
Và những người khách nhẫn nại đứng dọc hành lang.suốt 90 phút để xem phim.

Điểm đến kế tiếp của phim VIETNAMERICA: Đại Hội Thánh Mẫu Missouri 2015.

Phim sẽ đươc chiếu vào hai ngày: Thứ Tư mùng 5 và thứ Năm, mùng 6 tháng 8. Mỗi ngày 3 xuất lúc 10am, 2pm và 4pm. Kính mời khách hành hương tới xem.

Sau đó, phim sẽ được trình chiếu tại Denver, Colorado tại Hội trường của Nhà Thờ Nữ Vương Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Địa chỉ: 4655 Harlan St. Wheat Ridge, CO. 80033 vào Chủ Nhật 20 tháng 9, 2015, gồm 2 xuất vào lúc 4pm và 7pm.Xin liên lạc với anh John Hùng Vũ. Điện thoại số: (720)217-3065 để biết thêm chi tiết.
http://www.vietvungvinh.com/2015/08/phim-vietnamerica-thanh-cong-ruc-ro-tai.html

Ngàn Giọt Lệ Rơi


Phần 1

Bà Đặng Mỹ Dung
Đặng Hữu Thăng tóm dịch


       Tóm dịch bút ký A THOUSANT TEARS FALLING của bà Đặng Mỹ Dung, tự Yung Krall, người đã trực tiếp giúp Trung ương tình báo CIA và FBI phá vỡ hệ thống gián điệp CSVN tại Hoa Kỳ.
Đặng Hữu Thăng
       L.T.S : Sau khi cướp công của toàn dân trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chia đôi đất nước - CSVN lại tiếp tục gây chiến với chính đồng bào miền Nam, chỉ vì họ không chấp nhận chế độ cộng sản - Cuộc huynh đệ tương tàn đã gây cho dân Việt biết bao thảm cảnh, trong đó những người ruột thịt cùng một gia đình mà không cùng chiến tuyến, bị bắt buộc cầm súng tiêu diệt nhau - Gia đình bà Đặng Mỹ Dung cũng rơi vào trường hợp đó - Thân phụ bà, ông Đặng Văn Quang sau đổi là Đặng Quang Minh, đảng viên, cán bộ cao cấp của Cộng Sản Việt Nam, làm Đại Sứ MTGP tại Nga liên tiếâp bảy năm - Điều khác thường nơi gia đình bà, là mẹ con bà, những người chọn cuộc sống tại miền Nam, đã sáng suốt tìm sự tự do cho chính mình, đồng thời còn đập tan những âm mưu lợi dụng của bọn cộng sản v....v....
       Cám ơn Niên Trưởng Đặng Hữu Thăng đã tóm dịch hồi ký này, tuy đã tóm dịch, nhưng vẫn khá dài so với khuôn khổ tờ Tập San của chúng ta, vì thế chúng tôi phải đăng làm 2 kỳ - Mời quý độc giả cùng theo dõi.....


       Cha tôi là một nhà cách mạng, ông đã tham gia hoạt động chính trị chống thực dân Pháp, dành độc lập cho quê hương lúc còn đang theo học tại Đại học và đi làm nhà giáo. Ông đã quen biết yêu thương và kết hôn với mẹ tôi là em gái của người đồng chí cũng cùng hoạt động với ông, khi ông vừa tới 28 tuổi.
       Đa số các anh chị em của mẹ tôi đều có tham gia phong trào, nhưng mẹ tôi và ông bà ngoại thì không. Hai cụ còn luôn luôn tỏ rõ thái độ chống đối một cách khá rõ rệt đối với bọn cộng sản trá hình, như dùng một từ ngữ không mấy đẹp..... Khi nói tới ông Hồ Chí Minh và bè lũ.
       Cha mẹ tôi đã sinh được 4 anh em thì ông bị Pháp bắt cùng với người cậu đưa đi cầm tù tại Côn Sơn vào năm 1940, bị tra tấn hành hạ rất tàn nhẫn để buộc ông khai ra tổ chức, nhưng ông cương quyết từ chối. Trong suốt những năm tháng bị giam cầm, cả hai người đều không hề liên lạc thư tín với gia đình, mà chỉ có lời nhắn qua các tù nhân được thả về là ông còn sống, cũng chính vào thời gian này, ông bị tuyên truyền nhiễm độc, nên đã ra nhập đảng Cộng Sản Đông Dương do Hồ Chí Minh lãnh đạo.
       Năm 1945, sau khi được thả về, ông tham gia hoạt động ngay với phong trào kháng chiến đang lan rộng khi Pháp theo chân quân đội Anh vào Việt Nam để tái lập thuộc địa.
       Sau khi đoàn tụ, cha mẹ tôi "tăng gia sản xuất" thêm hai em nữa và cả gia đình phải theo cha di chuyển qua nhiều nơi được mang danh là vùng giải phóng và thường xuyên bị phi cơ pháp Pháp oanh kích - Một lần ông phải đổi theo cơ quan đến làm việc tại một nơi, hình như là vùng U Minh, nên gia đình cũng phải đi theo. Qua nhiều ngày đêm di chuyển bằng ghe, khi tới nơi thì một người đón về nhà cho ở tạm, nằm bên ven rừng, nên ngay ngày hôm sau, ông cậu tôi là người vẫn thường đến giúp gia đình di chuyển, phải vào rừng chặt cây làm nhà cho chúng tôi có chỗ che nắng che mưa. Nơi đây có được chút may mắn không bị oanh tạc như trước. Cũng nhờ theo chân ba, nên chúng tôi đã có dịp gặp các người đồng chí của ông như Lê Đức Thọ, Lê Duẩn và nhiều người khác nữa từ ngoài Bắc được gửi vào.
       Khi hoà ưóc Geneve được ký kết thì Việt Minh phải tập kết ra Bắc. Chính phủ quốc gia có tân thủ tướng là ông Ngô Đình Diệm và vừa nhận chức đã phải lo cho làn sóng di cư vĩ đại từ Bắc vào Nam, với những tin tức sơ khởi là hàng triệu người dân sẽ bỏ quê hương ruộng vườn đi tìm tự do. Cha tôi muốn tất cả gia đình chúng tôi cùng theo ông tập kết ra Bắc. Ông lập luận là có ông ở bên cạnh thì tất cả anh chị em chúng tôi sẽ vào Đại học ở Hà Nội, cũng như còn có thể được qua Nga du học.
       Sau nhiều ngày đêm thảo luận tranh cãi, mẹ tôi nhất quyết ở lại miền Nam với lập luận sống chết với quê hương và bà có đủ khả năng dạy dỗ con cái nên người. Cuối cùng thì 5 chị em chúng tôi theo mẹ, còn người anh lớn là Đặng Văn Khôi đồng ý theo cha tập kết ra Bắc. Lúc này ba tôi thường xuyên vắng nhà nên mẹ tôi phải đưa cả gia đình về Long Thành thuộc tỉnh Cần Thơ nương nhờ bên ngoại, để sẵn sàng thích hợp với hoàn cảnh mới.
       Ít ngày trước khi từ biệt gia đình, ba tôi hủy bỏ tất cả các hình ảnh cái nào có chụp với ông, cũng như làm lại khai sinh tên cha ghi là mất tích, để chính quyền Miền Nam không tìm ra tông tích của ông và gây khó khăn cho những người ở lại... Sự việc gia đình chia ly là một trăn trở lớn lao đối với tuổi trẻ của chúng tôi, anh chị em đang sống gần gũi bên nhau, nay bỗng nhiên chia xa và không biết ngày nào sẽ gặp lại, nên tôi cố thuyết phục anh Khôi. Tôi lập đi lập lại tình cảm của chúng tôi, mong anh hủy bỏ ý định theo cha ra Bắc, để mẹ con, anh em sống gần bên nhau, cũng như anh còn tiếp tay mẹ trong sinh kế và chị em chúng tôi trong việc học hành, nhưng Khôi một mực muốn theo cha ra Hànội để đi du học nước ngoài như ba đã nói với chúng tôi..
       Thời hạn 300 ngày gần hết, cha lén về Long Thành từ biệt vợ con để đón anh Khôi cùng ra Bắc như ông nói. Nhưng thực tế chỉ có Khôi ra đi, còn ông vẫn bí mật ở lại miền Nam để cùng với các đồng đảng của ông thi hành kế hoạch phá hoại nền an ninh của miền Nam. Cho tới năm 1956, thêm một lần thất bại khi muốn mẹ con chúng tôi theo liên lạc qua gặp ông trên đất Cao Miên, để ông có dịp thuyết phục mẹ tôi thay đổi ý kiến chịu theo ông ra Bắêc, khi ông được lệnh triệu hồi của Hà Nội.
       Ở lại vùng quốc gia, chính quyền không gây khó khăn gì cho gia đình tôi, dù cơ quan an ninh biết chúng tôi có cha, anh đi tập kết, mà ngược lại, chúng tôi bị quấy phá bởi mấy ông nằm vùng, đòi hỏi đóng góp đủ thứ, cũng như kêu gọi chúng tôi thoát ly ra chiến khu.
       Để xa lánh bớt những phiền hà cũng như chứng tỏ khả năng chịu đựng, mẹ tôi quyết định rời Long Thành dọn ra Cần Thơ mướn nhà mở tiệm may, nhờ vậy mà chị em chúng tôi đều vào học các trường công lập, có dịp làm quen với các bạn học gốc miền Bắc, tìm hiểu tại sao gia đình họ bỏ hết tài sản quê hương di cư vào Nam, nên chúng tôi mừng về quyết định quá sáng suốt của mẹ.
       Việc học hành của chúng tôi không có gì khó khăn. Cá nhân tôi sau bảy năm trung học với mảnh bằng tú tài trong tay. Mẹ muốn tôi ghi tên thi vào đại học cho có tương lai. Nhưng thấy mẹ quá vất vả, hàng ngày bà làm việc không nghỉ và sức khỏe quá sa sút, nên tôi quyết định kiếm việc làm và cũng có ý tưởng ra nhập quân đội, nhưng rất tiếc lúc này chính phủ chưa có kế hoạch tuyển nữ giới.
       Rồi việc gì phải đến cũng sẽ đến. Tôi có người bạn là sĩ quan làm ở phòng 5 Quân Khu 4, tôi nhờ anh có thể xin cho tôi vào làm phóng viên, vì tôi tự tin mình có khả năng về nghề này. Anh nói để coi, vì xếp cũ đổi đi và Đại Úy Nguyễn Đạt Thịnh, một nhà báo quân đội vừa từ SàiGòn xuống với nhiệm vụ tái tổ chức cơ quan này cho hợp với nhu cầu phát triển, nhưng việc tôi muốn thì thường do các quân nhân đảm trách chứ chưa thấy giao cho nhân viên dân sự, nếu tôi xin làm thư ký thì dễ hơn.
       Tuần lễ sau, tôi được anh sắp xếp tham dự một buổi dạ tiệc do người quen tổ chức, để anh có dịp thuận tiện giới thiệu tôi với Đại Úy Thịnh. Hôm sau, anh lại nhà cho hay là ông Thịnh muốn gặp tôi để thảo luận. Sáng thứ hai tôi đến văn phòng ông tiếp tôi, hỏi tuổi rồi nói tôi quá trẻ chưa qua 18, nên ông khuyên tôi nên đi học hơn là đi làm. Tôi nói vì gia đình đông chị em, mà chỉ có mình mẹ lo, nên cần phải đi làm để tiếp tay với mẹ. Nghe vậy rồi ông cũng quyết định tuyển tôi vào với nhiệm vụ biên tập các bài thông tin hàng ngày, để đọc trên chương trình phát thanh quân đội tại Cần Thơ, qua một khế ước đặc biệt với số lương cũng đặc biệt là 2 ngàn đồng, trong khi thư ký chỉ hơn 1 ngàn.
       Một vài ngày trước khi chính thức nhận việc, tôi tự thấy là phải thông báo cho ông Thịnh biết về liên hệ gia đình. Tôi xin gặp và khi nghe tôi trình bày tôi có cha là cán bộ CS cùng với người anh tập kết ra Bắc, nhưng không hề có liên lạc với nhau từ năm 1955, để ông nghĩ lại có thể cho tôi làm hay không, hơn là im lặng để sau này cơ quan tìm ra còn phiền hà hơn. Đại Úy Thịnh nói là đâu có sao, chính ông cũng có 2 người anh em ruột là Sĩ quan của Bắc Việt, trước khi ông cùng đơn vị di chuyển vào Nam.
       Sau một thời gian dài làm việc quá sức, mẹ tôi bắt đầu mang trọng bệnh, nên phải cấp tốc đưa vào bệnh viện và nhờ có người bạn học cũ cuả bà làm Y Tá Trưởng tận tình giúp đỡ. Nên sau thời gian ngắn điều trị, mẹ tôi hồi phục về nhà tĩnh dưỡng, bà không đủ khả năng làm việc lại như trước, nên bà quyết định di chuyển cả gia đình lên Sài Gòn, cùng với hai người con lớn đã tạm ổn định về nơi ăn chốn ở rồi, nên không cần phải lo mướn nhà. Phần tôi phải xin nghỉ việc đi theo, nhưng cũng phải gấp rút trau dồi anh ngữ để có thể xin vào làm sở Mỹ và chỉ cách đó mới có số thu nhập khá, với hy vọng trợ giúp gia đình. Ba tháng sau tôi qua đợt tuyển dụng và được nhận vào làm thâu ngân cho môt câu lạc bộ của sĩ quan Mỹ với số lương khá cao, 5 ngàn đồng một tháng và cũng tại nơi này một sĩ quan phi công trẻ của Hải Quân là John J. Krall mỗi ngày đến ăn, cố tìm cách làm quen khi tôi không bận và chúng tôi trở nên tương đắc. Vì thế sau này tôi có cái tên mới Yung Krall vào cuối năm 1968.
       Cuộc tổng công kích tàn bạo của cộng quân vào dịp tết Mậu Thân đã là một thúc dục đối với tuổi trẻ Việt Nam. Vân, em trai tôi, sau hai ngày theo bạn giúp cơ quan Hồng Thập Tự góp nhặt chuyên chở người chết và bị thương, khi về nhà nó đã tỏ thái độ nhất quyết là sẽ xin ra nhập không quân VNCH, để có cơ hội trả đũa với CSBV, vì nó đã tận mắt chứng kiến nhiều người bị giết không gớm tay, bởi các cán binh Cộng Sản. Mộât lần nữa, tôi biết nó không thể đạt ý nguyện, nếu không có người giúp, nên tôi lại nhờ Trung Tá Nguyễn Đạt Thịnh và Trung Tá Trần Duy Bình giúp bạch hóa hồ sơ của Vân, để nó có thể được nhận vào Không quân. Như các ông đã giúp tôi khi làm cho P5/QĐ4 tại Cần Thơ, bị An Ninh Quân Đội điều tra.. Năm 1971, Vân được Không Quân cho qua Hoa Kỳ học lái phi cơ trực thăng. Tướng chỉ huy trưởng đã viết thơ cho mẹ tôi khen về khả năng của Vân, tin tưởng nó sẽ là một phi công có hạng của không lực, nhưng không may chuyến bay cuối cùng Vân gặp thời tiết xấu, phi cơ đâm vào núi và bị tử nạn. Không quân Hoa Kỳ đã đưa thi hài Vân về VIệt Nam an táng tại nghiã trang quân đội Biên Hòa, đó là sự mất mát to lớn cho gia đình. Ngược lại, Cộng Sản Việt Nam dùng tai nạn này tuyên truyền là Mỹ đã ám hại Vân và cha tôi cũng tin như thế, khi tôi có dịp gặp ông lần đầu sau bao năm xa cách. Tôi hết lời cải chính nhưng ông vẫn giữ thái độ im lặng.
       Đầu tháng 4 năm 1975, tôi ở Honolulu vì lúc này chồng tôi phục vụ tại tại Bộ Tư Lệnh Hải Quân Thái Bình Dương, thì có người Pháp tên Jean Sagan (người đã có lần ghi tên trên bao thơ gửi cho tôi mấy tấm hình của anh Khôi, chụp khi du học tại Nga, ba tôi chụp chung với Hồ Chí Minh, Lê Duẩn và Trường Chinh) gọi điện thoại cho tôi. Tự xưng là bạn của cha tôi, nói với tôi là bằng bất cứ cách nào phải lo đưa ngay mẹ và các em tôi ra khỏi Việt Nam trước khi quá trễ, ông nói thêm sớm muộn gì thì các người bạn của cha tôi cũng sẽ vào Sài Gòn (ám chỉ bộ đội Cộng Sản Bắc Việt) và mẹ tôi sẽ bị đe dọa nặng nề. Ông ta còn nói thêm là tôi có thể nhờ Đô Đốc Gaylor Tư Lệnh Thái Bình Dương can thiệp giúp, ông là người rất tốt.
       Tối hôm đó, John ở sở về, nghe tôi nói thì ngay hôm sau, anh xin phép nghỉ một tháng để đi Sài Gòn lo đem mẹ và hai em tôi qua My, đồng thời anh cũng sẽ lo cho các trẻ em mồ côi tại trại Minh Trí, Gò Vấp, mà chúng tôi đã trực tiếp giúp đỡ từ nhiều năm nay.
       Biết là năm 1954, khi tôi còn quá nhỏ, nhưng đã thấy và hiểu được tại sao trên 800,000 người Bắc bỏ xứ sở quê hương chạy vào Nam tỵ nạn, trong khi đó chỉ có khoảng 100,000 người Nam theo Cộng Sản ra Bắc, đã cho thấy sự khác biệt.
       Sau gần một tuần lễ ngược xuôi lo lắng, John điện thoại về cho tôi hay là tình hình không mấy sáng sủa, tuy nhiên anh vẫn cố gắng bằng mọi cách, nên tôi nói với anh dù không sáng sủa nhưng đó cũng là tin mừng đối với tôi, vì mọi người thân không đi trên chiếc C5 bị rớt ở Tân Sơn Nhất.  John cười trả lời đó là ý nghĩ ngu đần. Hai ngày sau, John đánh lá bài chót, báo cho nhân viên CIA toà Đại Sứ về gia đình bên vợ, bố vợ là Đặng Văn Quang tự Đặng Quang Minh nhân viên cao cấp trong đảng Cộng Sản Việt Nam, hiện là Đại Sứ Việt Cộng tại Mạc Tư Khoa, nên cần phải đưa thân nhân còn lại ra khỏi Việt Nam trước khi quá trễ. Họ không giải quyết mà nói phải trình về trung ương giải quyết.
       Để tiếp tay với John, tôi gọi điện thoại đến tư gia Đô Đốc Gaylor, Tư Lệnh Thái Bình Dương, thì người quản gia cho hay là ông làm việc suốt đêm vừa mới về và đang ngủ. Tôi xin được tiếp chuyện với phu nhân Đô Đốc, vì tôi là vợ của 1 Hải Quân, đang cần sự giúp đỡ của Đô Đốc. Ít phút sau thì bà Gaylor nói trên điện thoại hỏi tôi là có vấn đề gì, Tôi nói ngay không suy nghĩ:
       - Thưa bà, tôi là con gái của ông Đại Sứ Việt Cộng tại Mạc Tư Khoa. Cha tôi người của Hà Nội, tôi hiểu không liên hệ gì với bà, nhưng Đô Đốc là người nhận rõ tình hình và tôi xin ông cứu gia đình tôi ra khỏi Việt Nam.
       Bà nói hãy bình tĩnh, để bà đánh thức Đô Đốc, vì ông không thể không lưu tâm tới một chuyện quan trọng như thế này được. Vài phút sau ông trả lời điện thoại. Tôi lập lại những điều đã nói với bà Gaylor trước đó với ông. Vừa nghe xong thì ông nói được rồi, một phụ tá của ông sẽ liên lạc với tôi để ghi nhận vấn đề nội trong ngày.
       Đúng như ông nói, khoảng vài giờ sau thì có Trung Tá Dave Smith điện thoại hẹn đến nhà gặp tôi.  Đúng như đã hẹn, tôi mời vào và ông vừa ngồi xuống ghế tại phòng khách là tôi kể lại ngay chuyện đàm thoại của tôi với ông Tây Jean Sagan, khiến ông đặc biệt chú ý ghi nhận và nói sẽ trình rõ sự việc với Đô Đốc Gaylor. Tôi cũng lật lá bài cuối, mong muốn mẹ và em tôi an toàn thoát khỏi Việt Nam, hứa là sẵn sàng cộng tác một khi chính phủ cần tới tôi.
       Ngẫu nhiên sự phát biểu của tôi qủa có hiệu năng. Ngày hôm sau một nhân vật dân sự tên Bob Jantzen đến gặp tôi. Ông nói những gì ông ghi nhận được qua Trung Tá Smith rất quan trọng. Ông không tự giới thiệu là người của CIA. Ông nhấn mạnh là không quan tâm nhiều về việc cha tôi làm, nhưng sự an toàn của mẹ và em tôi là việc cần thiết trong lúc này, nên ông ghi rõ ràng tên tuổi cùng ngày tháng năm sinh của mọi người, để lo liệu giúp đỡ. Bob cũng ngạc nhiên khi biết John đang có mặt ở Sài Gòn, nên cũng ghi rõ cấp bậc tên họ để tiện liên lạc. Cuối cùng ông nói với tôi: "Bà Krall, tôi xin thưa rõ với bà là chúng tôi đặt trọng tâm về sự an toàn của mẹ bà và sẽ dùng tất cả quyền hạn để lo liệu việc này."
       Ngày 10 tháng 4 năm 1975, có thể do các áp lực từ trên xuống, cùng với sự can thiệp trực tiếp của Đô Đốc Gaylor, thì nhân viên toà Đại Sứ ông Grand Ichikawa, tỏ ra rất cởi mở báo cho John hay là mọi việc đã sắp xếp chu đáo, đang lo chuyến bay, ngược hẳn thái độ thản nhiên của mấy lần tiếp xúc trước. Khi hay tin, John về báo tin cũng như chào tạm biệt mọi người để trở về Hoa Kỳ.
       Ngày 23 tháng 4 năm 1975, mẹ và các em tôi gọi điện thoại cho tôi khi họ vừa tới đảo Guam. Mọi người cùng khóc thương cho số phận quê hương và từ nay coi như sẽ mất luôn. Tôi hiểu mẹ tôi là người đau đớn hơn cả, vì bà phải đối đầu với sự thật phũ phàng nhất trong đời, bỏ lại mộ phần người con trai thân yêu không ai trông nom săn sóc, cũng như tiên đoán những gì sẽ xẩy ra, khi những người Cộng Sản trong đó có cả chồng và các anh, em, cháu của bà sẽ tiến vào Sài Gòn...
       Năm ngày sau thì cả gia đình tôi đoàn tụ mang cùng một nỗi đau chung của dân tộc. Trên đường từ phi trường Hickam về nhà thì tôi nghiêng đầu hỏi:
       - Mẹ có nghĩ là chúng ta đã làm đúng không hả mẹ?
       Bà trả lời rõ ràng là:
       - Đừng bao giờ nghi ngờ về việc đó. Việc ra đi không những đúng cho chúng ta, mà còn đúng luôn cả với bố con nữa. Mẹ có thể sẽ tự tử, trước khi để cho Cộng Sản xét xử. Con nên nhớ là chúng không để bất cứ ai yên thân đâu. Riêng về bố các con thì ông ấy đã có đảng CS của ông ấy rồi!
       Bốn tuần lễ sau khi ván bài Việt Nam đã lật, Bob Jantzen gọi điện thoại mời vợ chồng tôi đến gặp tại văn phòng của ông ta. Qua vài lời xã giao ông khen John về việc anh về Sàigòn lo đưa gia đình vợ, cũng như khen tôi đã can đảm đối phó với sự việc. Bob hỏi tôi có sẵn sàng gặp nhân viên phụ trách về Đông Nam Á của CIA sẽ từ DC đến không? Tôi trả lời Bob là không có gì trở ngại - Mấy ngày sau đó chúng tôi trở lại văn phòng cuả Bob để gặp nhân viên phụ trách là Robert Hall hay Rob mà Bob giới thiệu với chúng tôi. Chúng tôi thảo luận với nhau qua một vài chủ đề. John ngỏ ý mời Rob đi ăn cơm tối tại một nhà hàng ở Honolulu.Rob nhận lời. Sau khi ăn xong thì Rob mời chúng tôi trở về khách sạn nơi ông tạm nghỉ để có dịp mời lại chúng tôi một chầu uống. Tới nơi chúng tôi lựa một chỗ tương đối kín đáo để thuận tiện thảo luận tiếp, cũng như huấn luyện cho tôi cách thức chuyển trao tài liệu theo kỹ thuật tình báo, không để bị lộ mà không cần gặp người nhận.
       Những ngày kế tiếp, tôi và Rob thảo luận về những thân nhân của gia đình tôi đã theo đuổi hoạt động trong hàng ngũ Cộng Sản, những công tác mà ba tôi đã tham gia từ khi ông còn là một nhà giáo cho đến khi trở thành Đại Sứ, những bạn đồng chí của ông mà tôi có dịp gặp gỡ trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, đến nỗi Rob cũng thuộc lòng không thua gì tôi. Bắt đầu từ giờ phút đó, tôi trở nên nhân viên chính thức không lương của Trung Ương Tình Báo. Tới đây tôi đã hiểu phần nào mục tiêu mà Rob mong muốn tôi sẽ làm, cuối cùng ông đề nghị tôi sắp xếp để có thể về DC tham dự một lớp huấn luyện...
       ...............
       Những ngày kế tiếp cả gia đình tôi dồn mọi nỗ lực giúp đỡ đón tiếp dân tỵ nạn đến Hawaii. Mỗi ngày chúng tôi phải làm việc không nghỉ 16 giờ liên tiếp. John đăng báo xin quần áo cùng các dụng cụ, điệân thoại tới tấp gọi để hỏi các chi tiết như nơi giao đồ, hướng dẫn đường đi. Nhưng nhà tôi đã tràn ngập, không còn chỗ, ngay cả chung quanh nhà cũng như ngoài sân, nên John phải dùng thùng để tại các bãi đậu xe của các trung tâm thương mại và buổi tối chúng tôi lái xe đến lấy đưa đến phi trường, để dân tỵ nạn tự lựa chọn những gì họ cần, trước khi được di chuyển đến các nơi tạm trú, hay về với thân nhân. Chúng tôi cũng phải giúp đỡ họ tìm kiếm thân nhân đã bị thất lạc trong khi di tản, nhất là các trẻ em - Sáng ngày 20 tháng 7, tôi đang tính kiếm giấc ngủ bù sau mấy ngày quá mệt nhọc thì một người bạn của John vừa công tác ở Á châu về gọi điện thọai nói có điều khá hấp dẫn muốn cho tôi coi, nên tôi ngỏ ý mời anh đến dùng cơm tối với gia đình tôi luôn và anh nhận lời.
       Buổi chiều phòng liên lạc báo cho tôi hay là John sẽ không về kịp như dự định vào chiều hôm nay, mà tới khuya mới về, nên khi bạn John tới nơi, tôi mời anh ngồi tại phòng khách cùng uống rượu và sẽ vào bàn ăn sau, anh đưa cho tôi tờ báo Japan Time xuất bản ở Đông Kinh. Tôi cám ơn kỷ vật và nói để đọc sau.
        - Hãy coi trang 4! Anh ta nói vậy.
       Lật qua thấy tiêu đề: "Hànội, Saigòn tham dự cuộc tập trung chống bom Nguyên tử".
       - Tôi yêu chuộng hoà bình, nhưng tôi không thích những cuộc biểu tình chống chiến tranh.
       - Chị cứ đọc đi rồi chị sẽ thấy là rất hấp dẫn đó.
Tôi đọc tiếp ..... Khoảng 80 đại diện của 21 nước sẽ đến tham khảo việc chống vũ khí nguyên tử tại Hiroshima, bắt đầu vào ngày 5 tháng 8 - Đại biểu gồm cả Bắc và Nam Việt Nam .... Đại diện Nam Việt Nam cầm đầu bởi ông Đặng Quang Minh, Ủy Viên Trung Ương Mặt Trận Giải Phóng.....
       - "Đây là ba tôi! Đúng là ông rồi!".Tôi la lớn lên và nói:
       - Tôi phải sang đó để gặp ba tôi.
       Tôi tiếp tục đọc hết rồi lấy thêm đồ uống cho cả hai chúng tôi rồi xin lỗi anh để tôi vào phòng mẹ tôi đang chơi với cháu ngoại để đọc cho bà tin sốt dẻo này, với hy vọng là bà sẽ rất vui khi đọc tên ba tôi trên trang báo này . Khi tôi nói là tôi sẽ đi gặp ba tôi thì bà tỏ ra dè dặt, nói tôi cần thông báo cho công quyền biết chuyện đó, vì có thể coi là phạm luật khi gặp một cán bộ Cộng Sản, cũng như có thể gây rắc rối cho chồng tôi. Tôi không đồng ý và nói tôi không cần xin phép ai một khi tôi đi gặp ba tôi.
       - Mẹ biết là mức độ thương yêu của con đối với ba con không có gì ngăn cách được, nhưng con cũng nên biết rằng đó không phải tình cha con nghĩa bình thường và con cũng cần hỏi chồng con nữa.
       Tôi đến phi trường đón John lúc 2 giờ sáng. Chúng tôi nói chuyện với nhau trên đường về nhà. John đồng ý hoàn toàn là tôi nên làm và cần đem luôn cả Lance con trai chúng tôi, cho nó có dịp gặp ông ngọai. Sáng hôm sau tôi liên lạc toà Lãnh Sự Nhật Bản xin chiếu khán, cũng như hãng hàng không để mua vé, buổi chiều tôi được chiếu khán, ngày hôm sau tôi và cháu Lance bay sang Đông Kinh. Vì không quen biết với nơi này, nên tôi muốn đến sớm một vài ngày để làm quen. Ngày 28 tháng 7, tôi biết ba tôi sẽ tới vào ngày 30 và ở tại khách sạn Hoàng Tử.
       Ngày 30 - 7, tờ Nhật Báo đăng hình ba tôi cười và tay cầm lá cờ MTGP vẫy những ngưòi đứng đón. Tôi cảm thấy vui vui khi thấy ông còn khoẻ mạnh sau hơn 20 năm không gặp. Buổi chiều tôi gọi điện thoại tới khách sạn Hoàng Tử xin cho tôi nóí chuyện với ông Minh thì được cho hay là ông ở phòng 421 nhưng không trả lời.
       9:30 tối, Lance lên giường ngủ, tôi ngồi uống rựơu một mình rồi quyết định gọi lại thì bên kia đầu dây trả lời giọng nửa Anh nửa Pháp, tôi muốn nói ngay câu ba ơi con đây nhưng tôi nói:
       - Xin lỗi có phải ông Đại Sứ Minh đấy không?
       - Đúng tôi đây, cho biết tôi đang nói chuyện với ai đó?
       - Thưa có phải ông là Đặng Văn Quang dân biểu Cần Thơ trước năm1954 không, vì tôi thường ghé Biên Hoà thăm Cô Khuê.
       - Cô ấy là em tôi đúng rồi. Sao cô biết rõ quá vậy? Có phải cô là du học sinh gặp phái đoàn sáng nay không?
       Tôi không thể kéo dài sự ngỡ ngàng nên la to:
       - Ba ơi ba, Mỹ Dung con gái của ba đây!
       Không nghe thấy ba tôi nói gì qua một vài giây im lặng, tôi lên tiếng nữa:
       - Ba, ba có sao không?
       - Trời, đó là con gái tôi! Có tiếng khóc nức nở.
       - Ba, mình có thể nói chuyện với nhau được không, con biết chính phủ CS có thể cho nhân viên nghe để theo dõi!
       - Không sao đâu, sao con biết là ba có ở đây?
       - Tin tức đăng trên các báo ở đây mà.
       Rất cảm động khi nghe tiếng con gái. Tôi nghe giọng ông nức nở khi nói ra từng tiếng một.
       - Con có thể đến gặp ba bây giờ được không, con biết là hơi trễ.
       - Con đi một mình?
       - Với thằng cháu ngoại của ba nhưng nó đi ngủ rồi, con sẽ kiếm người giữ trẻ trông nó.
       - Con có thể tin người trông nom nó. Con nhớ là cứ đi thẳng lên phòng nghe!
       - Không sao đâu!
       Tôi đến khách sạn và đi thẳng lên phòng đúng như ông dặn. Tiếng chân tôi đi gây tiếng động trên hành lang, nên khi vừa gõ thì ông đã mở cửa.
       - Ồ, trời!
        Ông đưa tay kéo tôi vào sát, ôm chặt hôn tôi thật lâu, kéo tôi ngồi xuống ghế, đặt tay lên vai, nhìn từ trên đầu xuống chân nói:
       - Con gái cưng của tôi, quá lâu rồi con ơi! rồi nức nở tiếp, nước mắt trào xuống gò má.
       Tôi không nói gì nhưng đưa tay rờ đầu ông, mái tóc chải giống như xưa nhưng không nhiều, màu đen lúc trẻ nay đã thành muối tiêu.
       - Không còn lời nào có thể diễn tả đầøy đủ là ba nhớ thương mẹ con, các con - Giọng ba không bình thường khi nhắc tơí Vân, Tôi nắm chặt tay ba để chia sẻ với ông về tai nạn gây tử thương cho em tôi.
       - Ba phải hãnh diện về em Vân. Nó là đứa con ngoan của mẹ và là người con trai sống đời đáng sống.
       - Ba không muốn nói đến Vân nữa - Ông nhìn lên cao rồi quay lại nói với tôi
       - Họ nói với ba là nó bị người Mỹ ám hại!
       - Ba muốn tin vào sự thực hay ba muốn tin vào sự bịa đặt.
       Tôi rất tiếc là nói ra điều này khởi đầu của cuộc gặp gỡ, nhưng buộc lòng tôi phải tiến tới vì cái chết danh dự của em tôi và phải được nói lên sự thật. Ba chuyển hướng và mỉm cười:
       - Thôi, ta nói về mẹ con và các con.
       - Mẹ con bình thường. mẹ rất vui khi được tin ba. Kim đã lập gia đình. Cương có 2 con gái, Bình có 1con trai. Tâm thì đang cố học để làm quen với đời sống Mỹ, tất cả đều bình thường. chỉ có Bình còn luyến thương Việt Nam hơn cả mọi người. ngoại trừ con, con nhớ quê hương nhất vào các mùa thu hoạch ở quê ngoại, con nhớ từng kỷ niệm cả lớn lẫn bé đó ba. Con muốn nói rõ và chắc chắn với ba rằng không ai giết em Vân con hết. Phải nói Vân là ngưòi hùng, Vân là phi công trong không quân Việt Nam Cộng Hoà. nó không ngả vào ngã rẽ lạc hướng để hủy họai tương lai, mà đó một sự lựa chọn theo đúng tâm tư cuả nó. Một tai nạn! Con biết chắc chắn đó là tai nạn. con muốn ba nghe rõ tin về cái chết của Vân qua chúng con chứ không qua sự dối trá của những người Công Sản của ba.
       Ông đập mạnh xuống bàn và la to:
       - Con không hiểu.
       - Ba nghĩ là chúng con để cho kẻ nào đó giết em sống bình thường ngoài vòng pháp luật hay sao?
       - Những người đã giết nó chính là những người đã đưa mẹ con rời Sàigon trước khi ba về tới.  Ông qủa quyết như vậy.
       - Con rất tiếc là ý nghĩ của con và sự thật đã làm ba thất vọng.
       - Không, ba không thất vọng vì con. Có một điều ba muốn là các con của ba thương yêu ba và công bằng với ba thôi.
       - Con rất vui khi nghe ba nói vậy, bây giờ cho con biết về anh Khôi của chúng con.
       Nét mặt ba tươi hẳn khi nghe nói tới Khôi:
       - Khôi đã giải ngũ và sẽ vào Sàigòn cùng với ba khi ba về qua Hà Nội,. Nó sẽ làm ở đài truyền hình. Nó nhớ con nhiều nhất.
       - Không thể sánh với sự nhớ thương của con đối với anh ấy. Con đau đớn và mất mát quá nhiều vì thiếu vắng ba và Khôi, khi con chưa đủ khôn lớn ba biết không.
       - Con có thể về thăm.
       - Không đâu ba, con đủ can đảm để chia sẻ với đồng bào qua cuộc chiến, nhưng con không nghĩ là con có thể tìm thấy một niềm vui khi đồng bào bị đè nén qua chế độ Hànội.
       Ông tỏ vẻ cáu kỉnh nhưng cũng kịp thay đổi đề tài:
       - Ba muốn đưa mẹ con về sống với ba.
       - Con nghĩ mẹ con không muốn gì hơn.
       - Con có thể tìm cách đưa mẹ con qua Ba Lê được không?
       - Con sẽ cố gắng bằøng tất cả khả năng của con.
       - Hãy cố gắng thêm lên!
       Ba tôi giơ tay nhìn giờ. Tôi thấy đó là chiếc Omega loại sang, rồi bảo tôi cần về với Lance.
       - Ba cũng cần coi lại bài diễn văn một chút nữa, nếu có thì khoảng 8 giờ mai con qua đây ăn sáng với ba ngay tại phòng này.
       - Mai con qua.
       Tôi vừa về tới phòng, Lance vẫn say giấc nên tôi ghé qua hôn lên má trước khi thay quần áo thì chuông điện thoai reo. Ba tôi muốn chắc chắn tôi về tới nơi an toàn.
       - Cháu ngoại của ba ra sao?
       - Cháu đang ngủ ngon lành.
       - Ngày mai không nói chuyện chính trị nữa nghe con mà chỉ nói về gia đình, về mẹ con, các chị em của con, các con rể của ba vì chúng ta không có nhiều thời gian.
       - Con sẽ không thể thoả mãn ba được. Ba thiếu nợ con 21 năm và chính trị đã chia ly vợ chồng, mẹ con, anh chị em nên không thể không nói về chính trị đó ba ơi.
       - Ba nhớ là con rất dịu hiền, can đảm và thông minh nhưng không nghĩ là con đã trở nên chua chát như hôm nay.
       - Ba ơi con không giận dỗi gì với ba, nhưng là đối với chủ nghiã Cộng Sản, họ đã phản bội cách mạng, phản lại lòng yêu nước nhiệt tình của toàn dân, của các tổ chức kháng chiến chống Pháp và cướp công sau hòa ước Geneve.
       - Ba hy vọng sẽ có đủ hoàn cảnh để giải thích cho con thấy bề mặt của cuộc cách mạng.
       - Con không có gì nghi ngờ về tinh thần của những người yêu nước theo Việt Minh chiến đấu cho nền độc lập của quê hương. Con hãnh diện vì ba đã là Việt Minh, hãnh diện việc ba bị tù đày, nhưng con không chấp nhận chính phủ Hànội áp đặt chế độ cộng sản lên đầu nhân dân miền Nam.
       - Con, con cũng tiếp tục hãnh diện và tin là ba của con sẽ dùng mọi khả năng của mình lo cho miền Nam chứ! Con có biết là chúng ta đã thắng cuộc chiến này và người Mỹ cũng đã thắng luôn không?
        - Thưa ba, ý ba muốn nhắc tới những kẻ trốn quân dịch và thiểu số nhỏ nhoi vừa đủ đếm trên bàn tay chống chiến tranh, chứ không phải toàn thể Hoa Kỳ. Chính con là một người rất đau thương, thất vọng khi chúng ta mất Miền Nam vào tay Cộng Sản, ba có hiểu như thế không?
       - Ba cảm thấy một luồng không khí mới khi nghe con nói. Giọng nói cuả ba tôi có vẻ cởi mở khi bị tôi tấn công một cách mạnh mẽ.
       - Con nghĩ là chưa có một ai có thể nói thẳng với ông Đại Sứ MTGP, nhưng con được cái ưu thế là con và ba hiểu là con lợi dụng cái ưu thế đó chứ!
       - Con có thể lợi dụng cái ưu thế đó với ba bất cứ lúc nào.
       - Ba có chắc chắn không?
       - Chắc chắn chứ.
       - Có một điều con xin ba dùng mọi khả năng để giúp con. Ba có hứa với con không?
       - Ba không thể hứa khi chưa biết rõ điều con muốn.
       - Ba nói chiến tranh đã qua rồi, bây giờ là lúc hàn gắn vết thương, xoá bỏ những dị biệt tiến tới thương yêu là mục tiêu của giải phóng. Con muốn nhắc với ba là hiện vẫn còn những tù binh Mỹ bị giam giữ tại VN, đúng vậy không ba? Điều làm tâm tư con đau nhói mỗi khi nghĩ tới họ, nghĩ tới gia đình họ.
       - Con gái cưng ơi, điều con nói ba không có thẩm quyền đề cập tới.
       - Con hiểu, nhưng con không nói chuyện với giới chức thẩm quyền mà đang nói chuyện với ba, người đã được những người xung quanh thương yêu, kính nể vì các hành động bao dung cuả người anh hùng từng bị giam cầm tra tấn và bị tước đoạt cái quyền tự do tranh đấu cho xứ sở của mình.
       - Ba không hiểu tại sao con lại nêu ra một vấn đề mà cả ba lẫn con không giải quyết được, cũng không liên hệ gì tới khoảng dài xa cách của gia đình mình.
       - Ba ơi, là con của ba. Con đã có đầy đủ kinh nghiệm của một đứa trẻ không cha và bây giờ con cảm thấy sung sướng khì gặp lại ba. Con biết cảm xúc của ba ra sao khi ba nói chuyện với con, nên con muốn nhấn mạnh là ba hãy tận dụng khả năng của ba giúp cho những người đó trở về với vợ con họ, khi họ đang cùng mang chung hoàn cảnh của chúng ta.
       - Ba không thể nói về chuyện đó.
       - Có, ba có thể.
       - Có thể con không hiểu vấn đề này.
       - Con hiểu, nhưng con không đồng ý là ba không cố gắng đem đến cho những gia đình nạn nhân kia một tin vui, chính ba sẽ nở nụ cười khi nhìn thấy họ đoàn tụ, chính ba sẽ vui khi thấy những người đó quăng đôi nạng ôm hôn con cái của họ, đó là cái niềm ước vọng của con với ba, nếu ba đã không dạy con lúc còn bé nhỏ là đừng ích kỷ, thì giờ này con không có gì để nói với ba. Không có gì khó khăn khi ba hiểu ý nghĩ của con và tại sao?
       - Này con nghe ba nói, ba thương yêu con đã không mang bản chất ích kỷ, nhưng con nhớ là trước ba còn có đảng nên không dễ như con nghĩ đâu.
       - Con không nói là ba mở cửa nhà tù thả họ về, nhưng con muốn ba can thiệp với ai đó có quyền năng. Với tư cách là Đại sứ, ba còn lung lạc được nước Nga thì ba cũng có thể ảnh hưởng được với Lê Duẩn là Tổng Bi Thư đảng được chứ.
       - Ba không nghĩ là chúng ta nên kéo dài cuộc nói chuyện này qua điện thoại, ba sẽ lưu tâm những điều con đã nói với ba.
       -Thưa ba, con muốn lưu tâm là mỗi khi ba nghĩ về chúng con và mẹ con, thì ba cũng nên nghĩ tới những người đàn bà thiếu bóng người chồng và những trẻ thơ không có cha bên cạnh nghe ba.
       - Ba hưá là ba sẽ nghĩ về nhữõng điều con nói với ba, ba thương con nhiều. Ông chuyển hướng câu chuyện khi hỏi có phải John chồng tôi gốc Ba Tư không.
       - Anh ấy là người Mỹ gốc Ba Tư.
       - Ba có biết là tình yêu có thể nói qua nhiều ngôn ngữ, sắc dân, kể cả đen lẫn đỏ . Ba rất vui khi nghe con nói. Ba đã lo ngại......
       - Ba lo ngại con lấy chồng Mỹ là vì nhu cầu của cuộc sống? Họ Đặng không bao giờ hành động như thế đâu ba. Mẹ con vẫn thường nói họ Đặng nhà ta mang nặng truyền thống "yêu thương".
       Ba tôi cười, có thể ông nhớ lại thuở ấu thơ của chúng tôi bên cạnh cha mẹ và cũng là lúc phải tạm ngưng cuộc điện đàm........
       Ngồi trên xe trên đường tới khách sạn Hoàng Tử, tôi bảo Lance là ông ngoại đại diện chính phủ Sàigòn sang Đông Kinh có việc của cơ quan.
       - Mẹ, ông ngoại là người của Sàigòn có nghĩa ông là Cộng Sản phải không?
       - Đúng, nhưng con nên nhớ đó là ông ngoại của con nhé và ông rất muốn gặp con đó.
       - Có gì đâu mà sợ.
     Tôi dặn Lance là phải giữ kín John là phi công của Hải Quân vì có thể có người nào khác nữa, nên chỉ mình biết với nhau thôi.
       - Ba có ra oanh tạc Bắc Việt không hả mẹ? Lance hỏi tôi.
       - Khi nào về nhà con hỏi ba con sau nhé!
       Khi đến nơi thì ba tôi đã chờ ở cửa nhấc Lance lên ôm sát nó, ngửi tóc rồi nói tiếng Việt là tóc con giống như mùi hoa cam ở bên xứ ông đó.
       Lance cũng nói tiếng Việt luôn
       - Ông có thể sang ở với mẹ con cháu được không? Ba cháu cũng rất quý mến ông, ba nói vậy trước khi cháu qua đây.
       - Cám ơn cháu.
       - Cháu nghĩ là bà ngoại nhớ ông ngoại nhiều lắm đó, bà khóc khi viết thơ cho ông. Lance chạy lại chỗ tôi và nhắc đưa thơ cho ba tôi.
       - Gần như đa số các bạn của ba bỏ lại gia đình ở thành phố thoát ly theo kháng chiến, nhưng ba thì không, ba đã mang mẹ con và các con theo ba vào sống trong vùng giải phóng. Làm sao ba quên được và ba cũng rất vui khi đó con đủ lớn để nhớ lại. và đó điều quan trọng phải không con?
       - Ba có nghĩ rằng tất cả những điều con nói với ba là từ trong tim óc con không?
       - Ba biết con có nhiều tình cảm nhưng con không hiểu đó là một vấn đề rắc rối.
       - Con muốn rõ là ba đã hiểu con ở mức độ nào để con có thể tiếp tục yêu cầu thêm cái gì con muốn ba giúp. Điều Hà Nội thường đề cao là Việt Nam đã có hoà bình rồi, nên đã đến lúc con muốn họ trả người cha của con trở về với gia đình.
       Khi tôi nói như vậy, ba tôi vội đưa tay bịt miệng vì sợ có người nghe được. Ông vặn âm thanh radio lớn lên rồi ông nói:
       - Ba không muốn nghe lối nói của con nữa. Ba tha thứ cho sự thiếu hiểu biết của con về ba.
       Tôi có cảm tưởng là chúng tôi và ba tôi không cùng một chuyến xe, nên tôi nói:
       - Giữa ba với con gần như hoàn toàn khác biệt nhau về tâm tư cũng như mục tiêu cuối cùng. Con không nghi ngờ mục tiêu mà ba theo đuổi, nhưng chính quyền đã đi ngược lại nguyện vọng cuả người dân, tước đoạt hết quyền tư hữu, tương lai của họ đều do đảng quyết định thì làm sao có chuyện DÂN GIÀU NƯỚC MẠNH.
       - Ba không tìm cách thay đổi con nhưng ba muốn con đừng cản trở tới sự tin tưởng của ba.
       - Ba truyền dạy cho con tinh thần yêu nước Việt Nam. Qua ba con biết được nỗi đau thương của đồng bào và cũng ở đó trái tim con đã thổn thức trông mong một nền hòa bình cho đất nước. Nhưng thực tế quá phũ phàng nên con chỉ cầu xin và lưu tâm ba là cần định lại mốc thời gian cho gia đình và chính trị. Con muốn tạo được hoàn cảnh để tìm biết rõ về ba, nhưng thật quá khó để có được sự tương quan giữa hai thế hệ. Khi tất cả chúng con còn non dại, mẹ con đã phải làm việc quá sức vất vả để nuôi dưỡng chúng con. Đôi khi mẹ con phải nói rõ mong có ba ở bên, để chia sẻ bớt khó khăn với mẹ con.
       - Ba biết là không làm ra tiền để tài trợ gia đình mà đều do bàn tay mẹ con cũng như trông cậy vào sự tài trợ của ông bà ngoại và ba cũng hối hận là đã không đưa cả gia đình ra Hànội vì đã không cố gắng thuyết phục mẹ con.
       - Mẹ con lo lắng về anh Khôi rất nhiều. Bà thắc mắc không biết anh ấy vẫn còn giữ được bản ngã tình cảm như xưa hay ngược lại qua những năm tháng sống với CS.
       - Mẹ con sẽ có dịp để biết về nếp sống anh con. Khôi không vào đảng, mặc dù nó có xin nhưng không được chấp thuận vì chính nó cũng không cố gắng để đạt được mục tiêu! Con có thể lo cho mẹ con qua Pháp được không và nếu được thi bao lâu nữa?
       - Ngay sau khi con trở về Hawaii nhưng không dễ, vì mẹ đến Hoa Kỳ là diện tỵ nạn. Tuy nhiên con sẽ cố gắng.
      Tôi nói Lance là đã đến giờ ông ngoại phải đi làm việc nên nó ngỏ ý:
       - Ông ngoại có thể qua chơi bên khách sạn cháu được không?
       Ông cháu ôm sát nhau nhưng không nói gì để trả lời, nên tôi phải nóí với Lance là ông ngoại không thể đi đâu một mình theo ý muốn được....
       ......
       Ngày hôm sau ba tôi có một vài giờ rảnh để đi phố mua sắm tặng phẩm lặt vặt, nên mẹ con tôi qua khách sạn Hoàng Tử để cùng đi với nhau. Ba tôi mua cho anh Khôi cái đàn guitar và tôi mua cho anh một tặng vật nho nhỏ nhưng chưá chấp nhiều ẩn ý là cái đồng hồ báo thức. Ngoài một thơ tay tôi còn nhét một mật thơ nói anh tìm cách sang Hoa Kỳ và tôi có khả năng móc nối thu xếp vấn đề. Tôi cũng nhắc lại một kỷ niệm thời thơ ấu để Khôi nhớ mà tìm được mật thơ của tôi... Khi ba tôi rời Đông Kinh trở về thiên đàng của ông qua ngả Ba Lê, thì ngày hôm sau hai mẹ con tôi cũng bay về Hawaii.

Bài Xem Nhiều