We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 11 September 2015

Đạt Lai Lạt Ma- Niềm tin vào Đức Phật từ bi

http://a.disquscdn.com/uploads/mediaembed/images/2507/6146/original.jpg


- Nhìn lại quá khứ, tôi hoàn toàn không hối tiếc là tôi đã theo đuổi đến cùng chính sách bất bạo động. Từ quan điểm cực kỳ quan trọng của tôn giáo chúng tôi, chính sách này là chính sách khả thi duy nhất, và tôi vẫn tin nếu nhân dân tôi đã có thể theo đuổi chính sách ấy cùng với tôi, thì tình cảnh của Tây Tạng sẽ ít ra cũng hơi tốt hơn hiện nay. Ta có thể so sánh hoàn cảnh của chúng tôi với hoàn cảnh của những người bị công an bắt oan. Bản năng của họ có thể là phải chống trả, nhưng họ không thể nào trốn thoát được; họ phải đương đầu với quyền lực quá mạnh; và cuối cùng họ tốt hơn là nên âm thầm chịu đựng, và đặt niềm tin của mình vào quyền lực tối cao của công lý. Nhưng ở Tây Tạng, điều ấy hoàn toàn không thể nào thực hiện được. Nhân dân tôi hoàn toàn không thể nào chấp nhận người Trung Quốc cùng ý thức hệ của họ, và không ai có thể ngăn cản được bản năng đấu tranh của nhân dân tôi.

Cho dù người Trung Quốc gây ra nhiều tội ác ở nước tôi, nhưng trong lòng mình tôi tuyệt đối không bao giờ căm thù nhân dân Trung Quốc. Tôi tin một trong những lời nguyền rủa và nguy hiểm của thời hiện tại là trách các quốc gia vì tội ác của các cá nhân. Tôi biết nhiều người Trung Quốc đáng khâm phục. Tôi đoán không ai trên đời này lại đáng yêu và văn minh bằng những người Trung Quốc cao quý nhất, nhưng cũng không ai tàn ác bằng những người Trung Quốc đốn mạt nhất. Những người Trung Quốc thuộc hạng đê tiện nhất đã gây ra những tội ác ở Tây Tạng là những người lính và các viên chức cộng sản bị băng hoại vì nghĩ họ nắm quyền sinh sát. Hầu hết những người Trung Quốc sẽ rất xấu hổ nếu họ biết về những hành động tàn ác này; nhưng tất nhiên họ không biết. Chúng tôi không nên trả thù những kẻ đã gây ra bao tội ác với chúng tôi, hay đáp trả tội ác của họ bằng tội ác khác. Chúng tôi nên suy nghĩ sâu sắc rằng theo luật Nhân quả, họ dễ bị đầu thai vào các kiếp đời khốn khổ và hèn mọn, và bổn phận của chúng tôi đối với họ, cũng như đối với tất cả chúng sanh, là giúp họ lên được Niết bàn, thay vì để họ chìm xuống các tầng thấp hơn của sự luân hồi. Cộng sản Trung Quốc đã tồn tại mười hai năm; nhưng tôn giáo chúng tôi đã tồn tại 2.500 năm, và chúng tôi có lời hứa của Đức Phật rằng đạo Phật sẽ tồn tại thêm một thời gian dài bằng như thế nữa trước khi một đức Phật khác hạ thế và khai mở lại đạo Phật.

Vào thời sức mạnh quân sự quá lớn này tất cả mọi người chỉ có thể sống trong hy vọng. Nếu họ may mắn có quê hương và gia đình bình an, họ hy vọng được phép gìn giữ quê hương và gia đình ấy và nhìn thấy con cái mình lớn lên hạnh phúc; còn nếu họ mất quê hương như chúng tôi thì nhu cầu hy vọng và niềm tin của họ lại càng cao hơn. Hy vọng của tất cả mọi người, xét cho cùng, chỉ là sự bình an trong tâm hồn. Tôi đặt hy vọng vào lòng can đảm của người Tây Tạng, và vào tình yêu sự thật và công lý vẫn còn hiện diện trong tim người; còn niềm tin tôi đặt vào Đức Phật từ bi.

Nguồn:

Dịch từ tác phẩm My Land and My People của Đức Đạt Lai Lạt Ma xuất bản lần đầu vào năm 1962, tái bản vào năm 1983, nhà xuất bản Potala, New York, trang 233-234. Tựa đề của người dịch.

11/9/2015Trần Quốc Việt dịch

Phú lâm nạn, Hịch cứu nước



* 70 năm treo cờ Phúc Kiến, nước mất Độc Lập, dân mất Tự Do
Sử đã ghi:
Đầu làng trống,
cuối thôn chiêng,
Cây cỏ nước Nam như nghìn mũi giáo.
Muôn vạn binh
trăm ngàn mã,
Vọng tiếng loa cho Tống, Hán bay hồn.
Vầng nguyệt tỏ,
Ánh dương soi,
Sánh cùng nước Việt muôn đời hùng vỹ.
Nay, (2-9-1945)
Dòng sử Tiên Long bỗng gặp cơn nguy biến,
Vận nước nhà lâm nạn cộng phỉ hại dân.
Người trong nước đã muôn phần lao khổ,
Lại canh cánh bên lòng cái hoạ ngoại xâm.
Thế cho nên
Chiêng hồi trống thúc.
Nào hỡi Tiên Long,
Như ngàn cơn sóng,
Cuốn với đại dương,
Đọ gan trời đất,
Chị ngã xuống, em đứng lên,
Dẹp cho tan lũ cộng Hồ buôn dân bán nước.
Mẹ phất cờ, Con ra trận,
Quét cho sạch bọn bành trướng ra khỏi biên cương.
Người trong nước, Kẻ ngoài biên,
Quyết đưa biển cả núi sông về một mối an bình thái lạc.
Bởi gương xưa:
Tiền nhân ta, một thước kiếm xây nền đế nghiệp.
Dựng xã tắc, lấy Nhân Nghĩa yên định muôn dân.
Cuộc mở nước như ngọn thuỷ triều trong trời đất,
Dẫu hưng vong, vẫn lẫy lừng giữa chốn trời đông!
Năm Qúy Mão (43) đuổi Tô Định,
Sử nhà Nam ghi tạc công đức Nhị Trưng.
Dáng anh hùng, thân nhi nữ,
Bờ sông Hát ngàn thu còn nghi ngút khói hương.
Đất Thái Bình, (544) sinh Nam Đế,
Dòng sử Việt thêm một lần vạn thế lưu danh.
Cờ Thiên Đức, lầu Vạn Thọ,
Mở hội anh hùng Việt quốc Vạn Xuân.
Vạn Xuân, vạn Vạn Xuân,
Lúc khua chiêng, khi đánh trống,
Trăm vạn mã, ngàn chiến thuyền,
Nhấp nhô giữa Bạch Đằng ( 938) như ngàn con sóng bạc.
Tiếng quân Nam, trong gió bão.
Thế vươn cao trên đỉnh thác trảm Hoàng Thao.
Bàn chân Việt, bước thênh thang.
Năm lần phá tan quân nghịch tặc cướp nước.
Bến Chương Dương, thành Vạn Kiếp,
Cửa Hàm Tử sóng hồng đỏ lấp non sông.
Diệt Tống, Hán, triệt Thanh, Nguyên,
Xoay cơ trời, định bờ cõi, xây nền Độc Lập.
Ngựa Toa Đô, thuyền Ô Mã
Mộng bành trướng khó thoát nạn sinh bắc tử nam.
Dòng nước xanh, vẫn miệt chảy.
Lớp sóng còn ghi nỗi nhục Lưu Cung,
Mà trang sử Việt thì muôn năm trường cửu.
Sang Giáp Thân (1284), Hội Diên Hồng,
Nghìn thu lưu dấu Hưng Đạo, Ngô Vương vì nước.
Công dọc đất, nghiệp ngang trời,
Làm cho khắp nơi sáng tỏ uy linh thần vũ,
Vây Đông Quan, hãm Chi Lăng,
Chỉ một trận mà Liễu Thăng thân vùi vó ngựa.
Bắt Thôi Tụ, tha Vương Thông,
Kiếm Thuận Thiên, bạt ngang trời, Lam Sơn vì nghĩa.
Sang Đinh Mùi (1427) vạch biên cương,
Đất chung một dải, thiên thư định phận: Mỗi nhà một cõi.
Nước chảy cùng dòng, cao xanh đã tạo: Nguồn cội khác nhau.
Đến Kỷ Dậu (1789) mở đường sử mới,
Bắc Bình Vương ra tới Thăng Long,
Vào Ngọc Hồi, Sầm Nghi thắt cổ.
Sang Đống Đa, xác Hán từng gò.
Tiếng quân reo long trời lở đất,
Tung vó ngựa, trúc chẻ ngói tan,
Sỹ Nghị bỏ chạy mà Càn Long vỡ mật!
Đất nhà Nam thiên thu đại định…
Tiếc thay, thế cuộc chuyển vần,
Tổ quốc chưa vui hết ngày hội, mà nơi phương Nam lệ đổ tiễn Quân Vương!
Gặp cơn nước đục Nguyễn thời đi cầu binh ngoại để gieo cái hoạ cho nước.
Đầu làng, cuối xóm chó sủa thâu đêm, dân tình không có được giấc ngủ yên.
Trong nhà con thơ khát sữa, ngoài phố phu thợ, lao công thời ho ra máu.
Ghê gớm thay, Cuồng bạo thay!
Cái ách phong kiến, ngoại xâm.
Nhưng giữa trùng trùng tai trời ách nước,
Hịch Hàm Nghi như trống vọng bốn phương.
Vì Tổ Quốc, người yêu nước lại đứng lên vì nước.
Mở tương lai, một giấc hùng anh,
Toàn dân lấy máu xương mà rửa Quốc thù.
Sau trăm năm, mạch sống xoay vần,
Cơ trời thăng hoa, đất chuyển động,
Non sông chưa thoát ngoại xâm, cộng sản đã dựng cờ hồng. (1930)
Gặp năm đói (1945) chuột đồng về phố,
Cửa nhà hoang, máu đổ khắp thành.
Sáng đấu tố, chiều đấu tố, đấu cho hết những người vì tổ quốc,
“Đào tận gốc, trốc tận rễ”, quét cho sạnh đạo lý luân thường!
Nơi tôn nghiêm, cộng kéo về là đá không còn chồng trên đá,
Phá chùa xưa, đập giáo đường, miếu thần hoàng gạch nát từng viên.
Cảnh đồng hoang, hồ khô cạn, xác chết chương lên giữa phố bốc mùi ô uế.
Bầy chuột đói, chạy vòng quanh, bày đàn hương án, chia phiên bán nước cầu vinh.
Chiều đại nạn, đất lặng tiếng,
Trời ngủ yên, ai biết đâu mà réo gọi.
Trong đêm tối, đưòng mã tấu, như ánh sao,
Người ngã xuống cho máu loang khắp mọi chốn.
Lúc nắng lên, đôi dép râu,
vào từng nhà, ra tận mộ, réo từng tên mà tra khảo của.
Người chết không nấm mồ,
Kẻ sống mất cơ nghiệp.
Xác trôi sông, theo dòng chảy, ấy công nghiệp vĩ đại Hồ tinh.
Tám mươi năm, máu thành dòng, xương cốt Việt chất cao bằng núi,
Kinh hãi thay cảnh giết người, dẫu phong kiến, ngoại xâm xưa nay chưa thấy:
Thằng bé mới lên năm,
mặt xanh như tàu lá,
ngã chúi đầu trên sân,
mồm ấp a ấp úng,
Ông ơi, Hồ…. Hồ chí Minh giết người.
Đứa trẻ năm xưa,
nay đầu đã bạc,
tên người tưởng ma,
đổ gục xuống đất,
đôi mắt trừng trừng,
máu trào ra miệng. Lại cũng là… nó!
Cắc… cắc, tùng … tùng … cheng
Việt Minh lập hội, tiêu Công Lý,
Cộng Sản kết bè, hết Tự Do.
Hỡi ơi, cơn đau như xé ruột,
Tiếng thét uất nghẹn chẳng ra hơi
Mảnh đất nào cho dân ta ở,
Nước sông nào cho dân ta uống,
Gạo thóc nào cho dân ta ăn,
Sữa mẹ nào cho con bú mớm.
Tám mươi năm giặc cộng kéo về,
Bấy nhiêu năm đau thương chẳng cạn.
Ôi! ngày đại nạn, sao người ngủ yên!
Nào hỡi Tiên Long,
Hãy một lần nhìn lại xem giang sơn cẩm tú.
Bắc Hồng Hà, nam Cửu Long, nối liền thân một gánh Hoàng Liên.
Từ Nam Quan, đến Cà Mâu, lưng tựa Trường Sơn chung sức tràn ra biển lớn
Là cơ đồ, là sản nghiệp, là hơi thở,
là máu xương của tiền nhân để lại cho lũ cháu đàn con,
Mà nay một giải giang sơn ấy,
không còn nơi nào thiếu dấu chân quan cán thời Tống – Hán!
Đau xót chưa, Nam Quan, Bản Giốc,
Hoàng Sa, Trường Sa là đất Mẹ nay bỗng đổi tên ra xứ người!
Ôi! Quốc phá gia phong.
Nước mắt lau chẳng ráo,
70 năm treo cờ Phúc Kiến,
Nước mất Độc Lập,
Dân mất Tự Do.
Ai thương hai chữ Non Sông?
Dân không nhà, nước vô chính lệnh.
Trên, một bầy đoàn cán cộng vui mừng làm lễ lên ngôi thái thú.
Dưới, phận lê dân, cơm không no, áo không ấm, sống đời nô lệ,
Hỡi toàn dân Việt,
Tổ Quốc lâm nguy.
Ai người vì nước,
Đứng dậy mà đi.
Người lên rừng, nung chí bắt voi, hổ báo,
Có lẽ nào lo ngại chồn cáo mèo hoang?
Kẻ xuống biển tìm diệt kình ngư, hà bá,
Có khi nào lại sợ cóc nhái dưới chân?
Nào Ta đi cho Việt Nam ngời sáng,
Dân Ta về cho hồn nuớc trào dâng.
Đất của Mẹ, một ngọn cỏ ta thề không bỏ,
Núi nước Nam, một viên đá ta quyết chẳng rời.
Chị ngã xuống, em đứng dậy,
Diệt cho hết phường bán nước hại dân,
Mẹ phất cờ, con ra trận,
Quét cho sạch bọn bành trướng bắc phương.
Người trong nước, kẻ ngoài biên,
Dựng cho cao ngọn cờ Độc Lập.
Hát cho đều tiếng hát Tự Do.
Cho ngàn ngàn sau, dòng sử Việt còn lưu danh cùng trời đất.
Để vạn vạn thế, người nước Nam cùng bốn bể an lạc, hòa minh.
Bảo Giang
2-9-1945/2-9-2015.
---
Tuần Lễ Vàng

Trần Gia Phụng 

 - Sau khi thành lập ngày 2-9-1945, chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do Hồ Chí Minh (HCM) và Việt Minh (VM) lãnh đạo, họp phiên thứ nhứt ngày 3-9-1945. Một trong những việc quan trọng đầu tiên chính phủ phải giải quyết là vấn đề ngân sách quốc gia. Theo tài liệu của VM, khi thành lập chính phủ, ngân quỹ trung ương nhà nước VM chỉ có 1,25 triệu đồng bạc Đông Dương, trong đó có 580,000 tiền rách chờ tiêu hủy; trong khi các khoản nợ lên đến 564 triệu đồng. (eFinance Online). Đây là theo số liệu do Cộng Sản Việt Nam (CSVN) đưa ra, còn thực tế như thế nào thì khó biết.

1. Từ Quỹ Độc Lập

Hội đồng chính phủ VM kiếm cách gấp rút gia tăng ngân sách và ủy nhiệm cho Võ Nguyên Giáp ra sắc lệnh lập “Quỹ Độc lập” để quyên tiền bá tính giúp chính phủ. Đặc biệt là HCM, chủ tịch chính phủ không ra sắc lệnh mà lại ủy cho bộ trưởng Nội vụ là Võ Nguyên Giáp phụ trách việc nầy. Sau đây là nguyên văn sắc lệnh ngày 4-9-1945 của Võ Nguyên Giáp, chỉ hai ngày sau khi ra mắt chính phủ.

SẮC LỆNH
Của Chủ tịch Chính phủ Lâm thời số 4/SL ngày 4 tháng 9 năm 1945

CHÍNH PHỦ LÂM THỜI VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Chiếu theo lời đề nghị của Nội vụ Bộ trưởng

Chiếu theo quyết nghị của Hội đồng Chính phủ ngày mùng ba tháng chín năm 1945

ĐỊNH RẰNG

Khoản thứ nhất: Lập tại Hà Nội và các tỉnh trong nước một quỹ thu nhận các món tiền và đồ vật mà nhân dân sẵn lòng quyên giúp Chính phủ để ủng hộ nền độc lập quốc gia. Quỹ nầy gọi là Quỹ Độc lập.

Khoản thứ hai: Cử ông ĐỖ ĐÌNH THIỆN làm phụ trách tại Quỹ Trung ương ở Hà Nội. Ông ĐỖ ĐÌNH THIỆN có quyền lập một tiểu ban điều khiển mọi việc, tìm mọi phương kế để gây dựng cho Quỹ Độc lập.

Quỹ ở Hà Nội gọi là Quỹ Trung ương.

Ông ĐỖ ĐÌNH THIỆN sẽ chịu trách nhiệm về mọi phương diện. Ông có quyền đề nghị lên ông Bộ trưởng Bộ Tài chính các phương sách để đạt được mỹ mãn mục đích của Chính phủ. Ông sẽ thu nhận hết các số tiền và đồ vật do các nơi gửi về Quỹ Trung ương.

Khoản thứ ba: Tại các tỉnh trong cả nước, Quỹ Độc lập sẽ do Ủy ban nhân dân hàng tỉnh tổ chức và chịu trách nhiệm về khu vực tỉnh mình.

Những số tiền hoặc đồ vật quyên được sẽ chuyển giao về Hà Nội do ông ĐỖ ĐÌNH THIỆN và Tiểu ban Lạc quyên Trung ương thu nhận.

Khi nhận tiền và đồ vật, Tiểu ban Lạc quyên Trung Ương và các Ủy ban nhân dân tỉnh đều phải giao cho người quyên giấy biên lai răng cưa để chứng nhận. Quyển sổ biên lai răng cưa đó phải do ông Chủ tịch Tiểu ban Trung ương và ông Chủ tịch từng Ủy ban nhân dân hàng tỉnh đánh số thứ tự và ký nhận từng tờ.

Khoản thứ tư: Các Ủy ban phải tổ chức công việc kế toán để ghi chép các số tiền và các đồ vật đã quyên được và đã gửi tới Hà Nội để tiện việc kiểm soát của Chính phủ. Hàng tháng trong mười hôm đầu cuối tháng sau, các Ủy ban các tỉnh phải gửi tới Tiểu ban Lạc quyên Trung ương tại Hà Nội tờ trình về công việc lạc quyên và bản kê các số tiền và đồ vật đã quyên được trong tháng.

Khoản thứ năm: Ông ĐỖ ĐÌNH THIỆN và Chủ tịch Ủy ban nhân dân hàng tỉnh sẽ đứng quản lý Quỹ Độc lập nhưng chỉ được phép thu nhâïn tiền và các đồ vật vào quỹ. Còn việc chi ra sẽ tùy Bộ Tài chính định liệu.

Khoản thứ sáu: Mọi việc quyên tiền và đồ vật và việc tổ chức sẽ đặt dưới quyền kiểm soát của Bộ Tài chính.

Khoản thứ bảy: Các ông Bộ trưởng Nội vụ và Tài chính có nhiệm vụ theo sắc lệnh này thi hành.

Võ Nguyên Giáp (đã ký)


Đỗ Đình Thiện (1904-1972), người Hà Nội, theo học kỹ sư canh nông ở Toulouse (Pháp) và gia nhập đảng Cộng Sản Pháp tại đây. Tháng 10-1931, ông bị cảnh sát Pháp bắt vì in truyền đơn chống Pháp, rồi nhờ người mang về Việt Nam. Ông bị Pháp kết án 4 tháng tù và bị trục xuất khỏi Pháp, phải trở về Việt Nam.

Về Hà nội, Đỗ Đình Thiện sống bằng nghề kinh doanh. Năm 1932, ông kết hôn với một nữ cán bộ CS, Hai vợ chồng mở tiệm tơ Cát Lợi, số 54 Hàng Gai, Hà Nội, làm ăn phát đạt, trở nên giàu có, lập nhà máy dệt ở Gia Lâm, mua đồn điền Chi Nê (ngày nay ở xã Cổ Nghĩa, huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình).

Hai vợ chồng tiếp tục hoạt động bí mật, giúp đỡ các lãnh tụ CS như Nguyễn Lương Bằng, Trường Chinh... Sau khi HCM cầm quyền, nhà tư sản Đỗ Đình Thiện được bổ nhiệm phụ trách Quỹ Độc lập Trung ương ở Hà Nội. 

2. Đến Tuần Lễ Vàng 

Sắc lệnh thành lập Quỹ Độc lập để quyên vàng bạc được ban hành ngày 4-9-1945, nhưng có thể kết quả quá chậm hoặc quá thấp, và cũng có thể nôn nóng kiếm tiền để kịp chi dùng, nên ba ngày sau đó, nhà nước VM quyết định tổ chức Tuần lễ vàng để kêu gọi, kích động toàn dân đóng góp. 

Tuần lễ vàng được phát động từ ngày 7 đến ngày 14-9-1945, nhưng thật ra, Tuần lễ vàng được tổ chức nhiều lần, trong nhiều tháng trên toàn quốc. Mở đầu, HCM đưa ra lời kêu gọi lòng yêu nước và tinh thần độc lập của dân chúng. Điều nầy cho thấy lúc đó nhà nước VM rất cần ngân sách chi dùng. Toàn văn lời kêu gọi của HCM như sau:

THƯ GỬI ĐỒNG BÀO TOÀN QUỐC NHÂN DỊP TUẦN LỄ VÀNG

Cùng toàn thể đồng bào,

Ban tổ chức Tuần lễ VÀNG ở Hà Nội có mời tôi đến dự cuộc lễ khai mạc Tuần lễ VÀNG. Vì bận việc, tôi không đến được, nhưng tôi có bức thư này ngỏ cùng toàn quốc đồng bào.

Nhờ sức hy sinh phấn đấu của toàn quốc đồng bào ngót 80 năm nay, nhất là trong 5 năm nay, chúng ta đã xây đắp được nền tự do độc lập của chúng ta. Ngày nay, chúng ta cần củng cố nền tự do độc lập ấy để chống lại với sự dã tâm xâm lăng của bọn đế quốc Pháp.

Muốn củng cố nền tự do độc lập ấy, chúng ta cần sức hy sinh phấn đấu của toàn quốc đồng bào; nhưng chúng ta cũng rất cần sức quyên giúp của nhân dân, nhất là những nhà giàu có.

Ý nghĩa “Tuần lễ VÀNG” là ở chỗ đó.

Tuần lễ VÀNG sẽ thu góp số VÀNG trong nhân dân và nhất là của các nhà giàu có để cúng vào việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc nầy là việc quốc phòng.

Tuần lễ VÀNG sẽ tỏ cho toàn quốc đồng bào và toàn thế giới biết rằng trong lúc chiến sĩ Việt Minh trên các mặt trận quyết hy sinh giọt máu cuối cùng để giữ vững nền tự do độc lập của nước nhà, thì đồng bào hậu phương, nhất là những nhà giàu có, cũng có thể hy sinh được chút VÀNG để phụng sự Tổ quốc.

Như thế, tuần lễ VÀNG không những có ý nghĩa giúp vào nền tài chính quốc phòng, nó còn có một ý nghĩa chính trị quan trọng.

Vì vậy, tôi mong rằng toàn quốc đồng bào, nhất là các nhà giàu có, hết sức vì nước hy sinh.

Tôi tin rằng, toàn quốc đồng bào, nhất là các nhà giàu có trong sự quyên giúp này, sẽ xứng đáng với sức hy sinh phấn đấu của các chiến sĩ ái quốc trên các mặt trận.

Mong toàn quốc đồng bào làm tròn nghĩa vụ.

Việt Nam độc lập muôn năm!

Hồ Chí Minh
Báo Cứu Quốc, số 45, ngày 17-9-1945.

(Trích: Hồ Chí Minh toàn tập, tập 4, 1945-1946, xuất bản lần thứ hai, Hà Nội: Nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia, 2000, tt. 25-26.) [Người viết in đậm.]

3. Vận Động Tuần Lễ Vàng

Nhà nước VM sử dụng tối đa các phương tiện truyền thông (phát thanh, báo chí, học tập) để vận động dân chúng cùng nhau đóng góp vào Tuần lễ vàng. Trong thư gởi trên đây, HCM đã năm (5) lần kêu gọi “các nhà giàu có” (do người viết in đậm). Những người lớn tuổi hiện còn sống đều cho biết là lúc đó người Việt rất hăng hái đóng góp vì yêu nước và vì tinh thần chống Pháp, chứ ít biết HCM và VM là CS. Sau đây là bài thơ kêu gọi quyên góp vàng bạc nữ trang đăng trên báo Cứu Quốc năm 1946: 

Đeo hoa chỉ tổ nặng tai,
Đeo kiềng nặng cổ hỡi ai có vàng.
Làm dân một nước vẻ vang,
Đem vàng giúp nước giàu sang nào tày...
Đổi vàng lấy súng cối xay,
Bắn tan giặc, nước đến ngày vinh quang. 
Mỗi khi các chị ra đường,
Cổ tay chẳng xuyến chẳng vòng cũng xinh.
Lúc nầy làm dáng càng dơ,
Hãy đem vàng để phụng thờ nước non. 
Người còn thì của hãy còn, 
Nước tan nhà mất vàng son làm gì?”

(Bài thơ nầy do tiến sĩ Trần Huy Bích, đọc theo trí nhớ cho người viết ghi ngày 26-4-2001 tại Santa Ana, California.)

Bích chương quảng cáo TUẦN LỄ VÀNG của VM
(Trích: Edward Doyle và nhiều tác giả, The Vietnam Experience:
Passing the Torch, Boston: Boston Publishing Company, 1981, tr. 18.)

4. Kết Quả Tuần Lễ Vàng

“Tổng kết lại, cả Quỹ Độc lập và Tuần lễ vàng, trong cả nước đã thu được 370 kilô vàng và 20 triệu đồng, tương đương với tổng số thuế thân và thuế điền thu được trên toàn quốc trong một năm dưới thời Pháp thuộc.” (Đặng Phong, Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000, Tập I: 1945-1954, Hà Nội: Nxb Khoa Học Xã Hội, 2002, tr. 139.)

Những thành phố đóng góp đáng kể là Hà Nội, Hải Phòng, Huế. Lúc đó Sài Gòn trong tay người Pháp nên VM không tổ chức được Tuần lễ vàng. 

Những nhân vật đóng góp nhiều là: 

TRỊNH VĂN BÔ và HOÀNG THỊ MINH HỒ: Hai ông bà đã ủng hộ cho VMCS 85,000 đồng Đông Dương (tương đương 215,5 lượng vàng) trước khi VM cướp chính quyền; ủng hộ 200,000 đồng ĐD (tương đương 500 lượng vàng) vào Quỹ Độc lập; ủng hộ 117 lượng vàng trong tuần lễ vàng.

Khi VM về Hà Nội cướp chính quyền năm 1945, ông bà Bô đã biến cơ sở làm ăn của mình, hiệu buôn tơ lụa Phúc Lợi, số 48 phố Hàng Ngang, làm nơi trú ngụ và làm việc, tiếp khách của HCM và cán bộ CS trong hơn một tháng, trước khi HCM vào ở Bắc Bộ phủ.

Đáp lại, sau năm 1954. CSVN chiếm giữ chẳng những cơ sở 48 Hàng Ngang, mà cả nhà riêng của gia đình ông bà Bô ở số 34 đường Hoàng Diệu Hà Nội. Mãi cho đến năm 2003, tức 60 năm sau, CS mới trả lại cho bà Bô căn nhà nầy. Lúc đó, ông Bô đã từ trần.

NGUYỄN SƠN HÀ (1894-1980): Ông là nhà nghiên cứu và sản xuất sơn dầu đầu tiên người Việt Nam, lập nghiệp ở Hải Phòng. Trong Tuần lễ vàng, Nguyễn Sơn Hà cùng gia đình cúng hiến nữ trang, vàng bạc, đá quý, cân nặng toàn bộ là 10,5 ký lô. Ngoài ra, ông cống hiến toàn bộ tài sản nhà cửa cho VMCS. Đáp lại, VM cho ông đắc cử dân biểu nhiều khóa. 

ĐỖ ĐÌNH THIỆN, đã từng phụ trách Quỹ Độc lập Trung ương (Hà Nội), đóng góp 100 lượng vàng, và mua đấu giá 1 triệu đồng Đông Dương tranh chân dung HCM, rồi tặng trở lại cho Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Hà Nội.

Tuy thuộc thành phần đại tư sản, địa chủ (có đồn điền Chi Nê), nhưng nhờ sớm “cúng” hết tài sản cho VMCS, và nhất là gốc đảng viên đảng CS Pháp, nên ông bà Đỗ Đình Thiện không bị VM đấu tố trong cuộc Cải cách ruộng đất như bà Nguyễn Thị Năm Cát Hanh Long, vì sợ phía đảng CS Pháp phản đối.

NGUYỄN THỊ NĂM (CÁT HANH LONG) (1906-1953): Tuy là một góa phụ, bà Cát Hanh Long một mình xây dựng sự nghiệp lớn ở Hải Phòng nhờ tài kinh doanh của bà. Bà buôn nhiều thứ khác nhau, trong đó có nghề buôn sắt vụn. 

Vào năm 1945, bà Năm giao cho con trai thứ của bà là Nguyễn Cát (bí danh là Hoàng Công) số tiền trị giá 700 lượng vàng để góp vào quỹ “cách mạng” ở căn cứ địa. Trong Tuần lễ vàng ở Hải Phòng, bà Năm đóng trên 100 lượng vàng nữa. Năm 1946, bà tản cư lên Thái Nguyên. Tại đây, bà mua lại một đồn điền của người Pháp. Bà tích cực tham gia hoạt động trong Hội Phụ Nữ tỉnh Thái Nguyên và từng làm chủ tịch Hội Phụ nữ tỉnh Thái Nguyên trong ba năm.

Từ 1945 đến 1951, bà Cát Hanh Long đã từng dùng nhà mình làm nơi hội họp, nghỉ ngơi, che giấu, ăn ở, nuôi dưỡng cán bộ CS, trong đó có những nhân vật cao cấp như Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, Lê Văn Lương, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Chí Thanh, Lê Thanh Nghị, Lê Giản, Hoàng Tùng... 

Thế mà bà Năm là người bị chính những người bà giúp đỡ đem ra đấu tố đầu tiên trong đợt CCRĐ năm 1953. Bà bị đấu tố trước Tòa án nhân dân ba lần từ ngày 22-5-1953, có hàng vạn người tham dự. (Hồi ký Trần Huy Liệu [Internet]). Bà bị hành quyết ngày 9-7-1953 ở Đồng Bẩm, Thái Nguyên. 

Theo một tác giả hiện còn ở trong nước, lúc đó có nhiệm vụ viết bài tường thuật vụ xử án bà Cát Hanh Long, thì khi xảy ra vụ án: 1) Hồ Chí Minh bịt râu, hóa trang để đến dự đấu tố. 2) Trường Chinh đeo kính đen để khỏi bị nhận diện khi tham gia cuộc đấu tố. 3) Sau khi bà Năm bị giết, cán bộ CS mua một cái hòm thật rẻ tiền để chôn. Vì rẻ tiền nên hòm nhỏ quá, bỏ xác người chết vào không lọt. Cán bộ CS liền đứng lên đạp xác bà Năm xuống; xương gãy kêu răng rắc rất rợn người. (Trần Đĩnh, Đèn cù, California: Người Việt Books, 2014, tr. 84-86.) 

Lúc xử án và xử tử bà Năm, dư luận dân chúng khá xôn xao, kể cả những đảng viên CS, vì bà Năm là ân nhân của đảng Lao Động, người nhân từ, giúp đỡ nhiều người, bao che cho cán bộ VM, tham gia hăng hái công tác phụ nữ. Phía CS giải thích là việc đấu tố và giết bà Năm nhằm chứng tỏ rằng CCRĐ là cuộc đấu tranh giai cấp không khoan nhượng và không phân biệt giới tính nam hay nữ. Nhằm trấn an dư luận, trên báo Nhân Dân ngày 21-7-1953, xuất hiện bài viết nhan đề là “Địa chủ ác ghê” của tác giả C.B., tố cáo địa chủ Nguyễn Thị Năm và hai con trai là những người thật ác độc, giết hại nhiều người. Dần dần người ta biết rằng C.B. là “của bác”, tức là chính HCM viết, nên không ai còn dám bàn tán nữa. 

5. Quyên tiền để làm gì?

Cuộc lạc quyên trong tuần lễ vàng chắc chắn có thất thoát nhưng có thể không lớn lắm, vì lúc đó tinh thần dân chúng hăng hái chống Pháp và nhất là trình độ tham nhũng chưa cao và khả năng tham nhũng chưa điêu luyện như sau nầy. 

Sau Tuần lễ vàng, HCM và VM dùng tiền và vàng lạc quyên được vào hai công việc chính: 1) Hối lộ các tướng lãnh Trung Hoa cầm quân vào Việt Nam giải giới quân đội Nhật. 2) Mua võ khí mà các tướng Trung Hoa tịch thu của quân đội Nhật Bản.

Thứ nhứt, HCM và VM hối lộ các tướng lãnh Trung Hoa nhằm mục đích để cho các tướng Tàu chóng rút quân về nước, đừng quậy phá VM, và ngưng ủng hộ các đảng phái theo chủ nghĩa dân tộc Việt Nam Quốc Dân Đảng, Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội… 

Việt Minh và HCM hối lộ các tướng Tàu vừa bằng tiền, vừa bằng vàng. Thậm chí VM còn hối lộ cho tướng Tiêu Văn một bàn đèn hút thuốc phiện bằng vàng. (Đoàn Thêm, Hai mươi năm qua, 1945-1964, việc từng ngày, California: Nxb. Xuân Thu tái bản không đề năm, tr. 14.) (Bùi Diễm, Gọng kìm lịch sử - Hồi ký chính trị, Paris: Cơ sở xuất bản Phạm Quang Khai, 2000, tr. 67.)

Bà Trịnh Văn Bô tên là Hoàng Thị Minh Hồ, lúc về già ở Hà Nội, đã tâm sự với một nhà báo rằng HCM đã có lần nhờ bà chuẩn bị tiền lót tay cho các tướng Tàu để chúng rút quân về nước, Bà Bô nói: “Để có 200 vạn cho Tiêu Văn, 300 vạn cho Lư Hán, và 500 vạn cho Ứng Khâm, tôi đã phải bán phá giá những xấp vải có trong nhà vì dân kinh doanh đâu để nhiều tiền mặt trong nhà...” (Hoàng Thùy, “Người đàn bà tặng hơn 5,000 lượng vàng cho cách mạng”, Vnexpress.net)

Thứ hai, VM và HCM còn dùng tiền và vàng để mua võ khí của quân Trung Hoa và võ khí do quân Trung Hoa tịch thu của quân Nhật khi giải giới quân đội Nhật.

Tháng 9-1945, quân đội Trung Hoa Quốc Dân Đảng vào Việt Nam giải giới quân đội Nhật ở phía bắc vĩ tuyến 16 theo tối hậu thư Potsdam ngày 26-7-1945. Các tướng lãnh QDĐ Trung Hoa liên lạc thân thiết với lãnh tụ các lực lượng dân tộc, nhất là Việt Nam Quốc Dân Đảng, và hứa hẹn khi Trung Hoa rút quân, các tướng QDĐ Trung Hoa sẽ giao số võ khí tịch thu được của quân đội Nhật Bản cho QDĐ Việt Nam. Không ngờ, khi quân Trung Hoa rút về nước, giao kho lại cho QDĐ Việt Nam, thì kho trống rỗng, không còn võ khí, vì VM đã hối lộ các tướng lãnh Trung Hoa và mua hết võ khí rồi. Việt Minh đã phỏng tay trên. (Theo lời kể của một lãnh tụ VNQDĐ lúc đó là Lê Ninh cho em ruột là Lê Hưng. Ông Lê Hưng kể lại cho một người bạn trẻ hơn (hiện cũng đã lớn tuổi) đang cư trú ở Santa Ana, California.)

Chính nhờ số võ khí nầy, mà quân Tự vệ VM mới chống cự lại được cuộc tấn công của Pháp từ tối 19-12-1946 cho đến ngày 17-2-1947, tức gần hai tháng mới hoàn toàn rút lui. Cũng vì vậy, Hà Nội tan nát theo chủ trương tiêu thổ kháng chiến của VMCS.

Kết Luận

Tóm lại, sau khi cướp được chính quyền, nhà nước VM cộng sản gặp những khó khăn về tài chánh. Lợi dụng lòng yêu nước và tinh thần chống Pháp của đồng bào, VM thành lập Quỹ Độc lập và tổ chức Tuần lễ vàng để quyên góp tiền, vàng của bá tánh.

Nhân dịp mở đầu Tuần lễ vàng, trong thư ngắn ngày 17-9-1945, HCM năm (5) lần kêu gọi lòng hảo tâm của những nhà giàu có, hằng tâm hằng sản. Lời lẽ hết sức nhẹ nhàng, khẩn thiết… Sau đó, một khi đã nắm chắc được quyền lực, HCM và CSVN lần lượt đưa ra những kế sách tịch biên tài sản, nhà cửa, xí nghiệp, tiêu diệt những người giàu có hảo tâm, qua các chiến dịch như Cải cách ruộng đất, Cải tạo công thương nghiệp, Tổ chức hợp tác xã... Bà Nguyễn Thị Năm, tiêu biểu cho những người ủng hộ HCM và CSVN hết sức mạnh mẽ, đã được HCM và CSVN trả ơn theo kiểu CSVN thật thê thảm.

Một điều lạ là kinh nghiệm lịch sử sờ sờ ra đó, nhân chứng sống như bà Trịnh Văn Bô tức Hoàng Thị Minh Hồ vẫn còn đó, thế mà ngày nay vẫn có một số người tiếp tục nghe theo những lời phỉnh phờ, lừa gạt của CSVN. Một số tay tư sản, một số tên có học, có bằng cấp, gọi là “Việt kiều yêu nước” hay “trí thức yêu nước”, vì ham chuộng một chút hư danh hảo huyền, hoặc ham của, ham tiền, ham một ít lợi nhuận nhỏ nhen, về Việt Nam nói là đóng góp xây dựng quê hương, đất nước. Để rồi bị chúng làm tiền, bóc lột, trấn áp và cuối cùng phải bỏ của chạy lấy người.

(Toronto, 07-09-2015)

Trần Gia Phụng

Phí phạm của Trời : Một vấn đề lớn của mỗi người ngày nay



Ai cũng thấy nạn thiếu ăn của thế giới ngày nay cực kỳ trầm trọng – đêm tới, có hơn 1 triệu đứa trẻ đi ngủ bụng trống nhưng nạn phí phạm thực phẩm do con người gây ra vẫn chưa được con người khắc phục .
Nhựt báo Le Monde số phát hành cuối tháng 8 vừa qua đã báo động «  Sự phí phạm thực phẩm ở Pháp làm cho Pháp mỗi năm thiệt hại từ 12 tới 20 tỷ euros . Vì mỗi người ở Pháp, cả những người ở lậu, dân tỵ nạn không phải gốc Việt nam, mỗi người vứt bỏ từ 20 tới 30 kg thức ăn / năm như rau cải, bánh mì, trái cây, thịt cá . Tính ra có tới ¼ lượng thực phẩm, trị giá 500 euros / người .
Không riêng người tiêu dùng phí phạm mà cả nhà sản xuất cũng phí phạm tới 30 % số thực phẩm sản xuất, vì nhiều nguyên nhân khác nhau .
Chánh quyền Pháp đang hô hào mọi người phải biết tôn trọng thực phẩm nuôi sống mình . Từ nay, các nhà phân phối lớn phải cho không các tổ chức chuyên thu lượm số thực phẩm không bán hết được . Họ bỏ chớ không cho để bảo vệ thị trường .
Nhưng kết quả điều tra cho thấy chính người tiêu thụ mới là thủ phạm chánh . Họ vứt bỏ vào thùng rác nhiều thứ đôi khi còn tốt . Trong số từ 20-30 kg thực phẩm vứt bỏ có tới 7 kg hoàn toàn còn trong tình trạng tiêu thụ bình thường .
Có ai nghĩ, theo báo cáo của Bộ Môi trường công bố năm 2012, Pháp đã vứt vào thùng rác năm 2010 hết 7 triệu tấn thực phẩm ?

Sự phí phạm thực phẩm ở những nước giàu
Inline images 1
Khi nhìn thấy rác thực phẩm ngày càng nhiều người ta mới ý thức rỏ những nước giàu rất khó chống lại sự phí phạm cái ăn cái uống . Theo số liệu thống kê có tới phân nửa khối lượng thực phẩm sản xuất trên thế giới
sau đó bị biến thành rác . Nguyên nhân khá nhiều như thu hoạch sơ xuất, hư hao do bảo quản và vận chuyển, sự vô trách nhiệm của những nhà phân phối và người tiêu dùng .
Theo Tổ chức Lương Nông thế giới thì sự hoang phí thực phẩm chỉ trầm trọng ở những nước phát triển vì ở những nước nghèo người dân không dám phí phạm .
Mỗi năm thế giới sản xuất được lối 4 tỷ tấn lương thực thì có tới 2 tỷ tần không bao giờ được tiêu thụ . Riêng ở những nước nghèo, sự phí phạm làm thất thoát thực phẩm không ở con người vứt bỏ mà do khả nẳng bảo quản quá yếu kém
Trong số các loại thực phẩm bị vứt đi, trái cây chiếm 19% và rau củ là 31% . Do tính chất dễ hỏng, người tiêu thụ không ngần ngại vứt vào sọt rác các loại hoa quả hay rau củ dù chỉ mới chớm hỏng một chút. Tiếp đến là các loại thức uống, phần lớn là sữa và các loại tinh bột từ những bữa ăn thừa mứa là 12%. Phần còn lại, bao gồm các loại thịt cá 4% và các thức ăn chế biến sẵn 2% (Cơ quan Môi trường và Năng lượng - Ademe) .
Quan trọng vì ảnh hưởng tới đời sống người dân là trong bối cảnh kinh tế thế giới, nhất là tại Châu Âu, khó khăn và tỷ lệ thất nghiệp cao như hiện nay, tình trạng lãng phí thực phẩm cũng gây thiệt hại không nhỏ cho nền kinh tế đất nước. Ngoài ra, sự vứt bỏ thực phẩm còn tác động xấu đến môi trường làm phát sanh những ô nhiểm nghiêm trọng .

Nhìn qua thế giới
... trong khi còn gần 1 tỉ người trên Trái Đất đang thiếu ăn.
Có ai không giựt mình khi biết cứ mỗi giây đồng hồ qua là có 41 200 kg thực phẩm trên thế giới bị vứt bỏ ?
Thực phẩm hoang phí ở những nước giàu và cả ở những nước nghèo lên tới 990 tỷ đô-la .
Theo điều tra của Tổ chức Lương Nông thế giới công bố năm 2011 thì có tới 1, 3 tỷ tấn thực phẩm lãng phí hàng năm trên thế giới, tức có 1/3 số lương thực sản xuất ra mà không được tiêu thụ trong lúc đó 13 % dân số thế giới lâm vào tình trạng thiếu ăn .
Có một bản điều tra khác công bố chỉ có 43 % lương thực sản xuất trên thế giới được con người tiêu thụ mà thôi .
Ở những nước giàu, sự lãng phí thực phẩm thấy được ở lúc phân phối vì  người ta tránh rủi ro gây ra trách nhiệm nên cứ nhìn thời hạn sử dụng sắp hết là vứt đi . Một khối lượng lớn thực phẩm hoang phí lúc chế biến, vận chuyển và ngay cả ở nhà bếp .
Ở Bỉ, người ta tính mỗi người hoang phí thực phẩm là 15, 2 kg / năm, bằng 12 % rác nhà bếp và 175 euros ném thẳng vào thùng rác .
Ở Anh, theo một báo cáo gởi Thủ tướng, người ta ước tính có 1/3 số lượng thực phẩm đã mua, không ăn, lại vứt vào thùng rác, mà phần lớn đều còn dùng được vì chưa phải hư hỏng . Sự hoang phí tính thành tiền là hơn 500 euros cho mỗi gia đình / năm . Hay 4, 1 triệu tấn vứt đi, bằng 13 tỷ euros / năm và gây ra 2, 4 % cho nước Anh khí thải hiệu ứng nhà kiếng . Người ta tính nếu Anh tránh được sự hoang phí thực phẩm thì bằng rút được 1 xe trên 5 ra khỏi số xe lưu thông, tức 60 % số thực phẩm bỏ có thể đủ tái tạo năng lượng cung cấp điện năng cho những thành phố của Glasgow có 1 triêu dân sanh sống !
Nếu tránh được sự hoang phí lương thực thì ¼ sự hao hụt đó trên thế giới sẽ đủ nuôi sống 870 triêu người khỏi bị chết đói .
Điều đáng chú ý để có thể cải thiện là hằng năm, có 1, 3 tỷ tấn thực phẩm bị hủy bỏ chỉ vì bảo quản, vận chuyển và nhứt là bao bì, nhản hiệu trình bày không hạp nhản người bán lẻ và người tiêu dùng !
Sự hoang phí thực phẩm không chỉ ở khối lượng thực phẩm không sử dụng được mà còn làm thiệt hại một khối lượng lớn nước, 250 km khối, cần thiết cho sản xuất / năm .
Ở Đức, hàng năm, có 11 triêu tấn thực phẩm bịt vứt bỏ hay hư hỏng . Tính trên mỗi gia đình, có 82 kg / năm

Năng lượng của thực phẩm hoang phí
"Farm equipment used to feed and maintain livestock and plant and harvest crops uses a lot of diesel fuel and other utilities from fossil fuels," says Christine Costello. "When people waste meat, these fuels, as well as fertilizers, are also wasted." (U.S. Department of Agricure/(CC BY 2.0)
Khối lượng thực phẩm hoang phí tính ra giá trị năng lưọng là 990 000 000 000 đô-la / năm .
Thực phẩm là một trong những nguồn đứng đầu gây ra khí thải . Từ sản xuất tới xử lý phế thải, chu kỳ đời sống thực phẩm của một người Pháp trung bình bằng khoảng 20 % của tổng số khí thải hằng ngày của hắn .
Sự phí phạm thực phẩm tính ra bằng 7 lần số tiền giúp thế giới phát triển trong năm 2011-2012, tức bằng 134 tỷ . Ngân sách của Bỉ năm 2012 là 266 tỷ euros .
Hằng triệu tấn thực phẩm do dân âu châu lãng phí được chia ra như sau :

42 % do gia đình,
39 % do kỷ nghệ nông thực phẩm,
5 % do người bán lẻ,
14 % do những người buôn bán ăn như nhà hang, căn-tin .

Đánh động dư luận
Làm thế nào hạn chế được thói quen lãng phí thực phẩm đang là vấn đề thời sự nóng cho nhiều người dân Pháp. Ý thức được tầm mức của vấn đề, nhiều sáng kiến tập thể cũng như là cá nhân cũng đã được đề ra. Việc Bộ trưởng Môi trường Pháp gây áp lực lên các nhà phân phối cũng đã đạt được một kết quả khả quan. Những nhà phân phối lớn ở Pháp như siêu thị Carrefour, Auchan, Leclerc, … đã bắt đầu liên kết với các tổ chức từ thiện như Restos du Coeur, Ngân hàng thực phẩm và Secours Populaire để thu gom và chọn lọc trái cây và hoa quả phải bị bỏ đi rồi tinh chọn và phân phối lại .
Thu nhặt chất thải hữu cơ để có thể tái sử dụng là trọng tâm của một sáng kiến chống lãng phí thực phẩm. Chẳng hạn như tại một trường học ở quận 2, Paris, học sinh học cách tách rác thải với thức ăn thừa .

Đầu bếp giỏi là không có lãng phí thực phẩm
Nếu như điều kiện an toàn thực phẩm là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng lãng phí mỗi năm hơn một tấn thức ăn (chiếm tỷ lệ 15%) trong ngành dịch vụ ăn uống, thì theo ông Christian Constant, một đầu bếp danh tiếng tại Paris, trên làn sóng đài Europe 1, còn khẳng định vai trò và trách nhiệm của người làm nhà hàng. Khi nói đến mối liên hệ của giữa người đầu bếp với tình trạng phung phí thực phẩm, ông Christian Constant đã nhấn mạnh rằng: " Một người đầu bếp giỏi không vứt một cái gì hết. Khi anh đứng bếp, anh phải tiết kiệm mọi thứ. Tất cả đều có thể tái sử dụng " !
Xu hướng tiết kiệm và tái sử dụng thức ăn đang là một trào lưu mới trong làng ẩm thực tại Pháp. Nhằm khẳng định sự khác biệt với nhiều hàng quán chuyên bán các sản phẩm đã qua chế biến, nhiều quán ăn đã chọn phương cách « tự chế biến », tức do nhà hàng làm ra để phục hồi một phong cách ẩm thực mà Pháp được Unesco nhìn nhận « ẩm thực của Pháp là di sản văn hóa phi vật thể » . Nhờ đó khẩu phần cho thực khách cũng được định lượng không để dư thừa .

Thay đổi tập quán
Sự lãng phí thực phẩm ở người tiêu dùng có thể cải thiện được . Ỡ những xứ giàu, người dân có thói quen đi chợ mua thực phẩn nhiều hơn nhu cầu . Người ta dễ bị hấp dẩn bởi kỷ thuật tiếp thị mà không kịp suy tính theo nhu cầu thật sự . Cửa hàng rao hoặc niêm yết “ Mua 3 trả tiền 2 ” . Hoặc một dỉa thức ăn đầy ấp nấu chin, ăn tại chổ hay mang đi . Dỉ nhiên người mua sẽ không ăn hết, rồi phải bỏ vào thùng rác phần còn lại .
Lúc sau này xuất hiện những tiệm ăn bao bụng với giá duy nhứt . Thức ăn đủ thứ bày ra đầy để cho thực khách tự do chọn lựa và lấy đầy dỉa đem lại bàn ăn . Con người ta đói con mắt hơn đói bụng . Thực phẩm thừa mứa trên dỉa thực khách sẽ là một khối lượng không nhỏ cho một tiệm ăn .
Trong trường hợp này, thực khách tàu cộng hay việt nam xhcn sẽ giành giựt đầy ấp dỉa, không cần để ý tới những thực khách đứng sau mình . Dỉ nhiên sẽ có không ít ngưòi bỏ lại trên dỉa . Ngày nay, dân 2 nước này khi đi ra ngoại quốc, người hướng dẩn nhắc đi nhắc lại nhiều lần tránh phí phạm thực phẩm, nhưng vẫn chưa thay đổi thói xấu này được . Thậm chí, ở nhà hàng phải cảnh cáo là lấy nhiều, ăn không hết, bỏ lại, bị phạt tiền .
Chắc chắn cái thói xấu này không phải vì đói lâu ngày mà do một nảo trạng kết tinh từ thứ văn hóa “ chiến thắng ” của phe xhcn ưu việt !
Đối với dân tiêu dùng ở xứ giàu, chánh quyền dự tính sẽ phổ biến thông tin cụ thể là không nên vứt đi thực phẩm còn dùng được tuy trên bao bì có ghi thời hạn xử dụng vì thời hạn này do nhà bán hàng cần bán nhiều hàng nên ghi hết hạn trước khá xa . Những thực phẩm được đóng gói kỷ như sửa chua, đồ hộp, đồ khô, …đều có thể xử dụng sau khi đã mản hạn . Cả thuốc tây cũng vậy . Nhiều thuốc hết hạn một năm vẫn cón xử dụng tốt .
Tiết kiệm thực phẩm không phải chỉ nhằm tránh sự tốn kém chi phí gia đình mà quan trọng là mỗi người phải biết rỏ tài nguyên thế giới không phải là vô tận . Việc làm đáng làm là tránh lãng phí hơn là gia tăng sản xuất theo đà dân số thế giới gia tăng .

Nguyễn thị Cỏ May

Bài Xem Nhiều