We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 22 September 2015

MẤT GỐC : Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc


MẤT GỐC 




Nhiều khi thành thực quá cũng gây cho mình những bực mình. Trước đây ít lâu, tôi có viết một bài ngắn mang tựa đề : Tôi không phải dân Bắc. Tuần vừa qua, tôi lại viết bài : Hai nỗi cô đơn. Với 2 bài viết này, tôi nhận được khá nhiều điện thơ góp ý kiến, có người đồng ý, có người không đồng ý, nhưng cũng không có vấn đề gì quan trọng. Khi mình đã đưa ra một ý kiến, thì phải chấp nhận các lời phê bình.
Mới đây, khi đi ăn cưới cô cháu gái, tôi gặp anh Lâm Văn Bé, anh cười nói với tôi : Tôi hiểu ý anh, nhưng tôi nghĩ anh sẽ bị phản đối nhiều đó.
Một lúc sau, gặp một ông bạn khác, ông này cũng nhã nhặn, nhưng hỏi móc tôi : Anh không sợ bị kết án là mất gốc ??
Tôi hỏi lại ông : - Theo anh, gốc của tôi là gì? - Thì anh người miền Bắc. Tuy anh ở trong Nam lâu, lấy vợ miền Nam, nhưng gốc của anh là người Bắc.
Tôi nản quá, nói với ông ta : - Anh trật lất rồi. Gốc của tôi là Việt Nam Cộng Hòa. Tôi là công dân của Việt Nam Cộng Hoà. Những công dân VNCH có người sanh tại Miền Bắc, có người sanh tại Miền Trung, có người sanh tại Miền Nam, nhưng họ đều có chung một nền văn hóa, tôi gọi văn hóa Miền Nam.
Gọi như vậy là để phân biệt với các công dân của cnvn Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, ngày xưa gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Ngày nay, trong nước, còn sót lại những công dân cũ của VNCH. Tại Hải Ngoại, đa số là người của VNCH. Tại Việt Nam, những người sống tại Miền Bắc trước 1975 là công dân của CHXHCNVN. Hiện nay, đại đa số người Việt Nam trong nước là các công dân của CHXHCNVN. Người Việt Nam, nói chung, có cùng một tiếng nói, nhưng nói cùng một thứ tiếng không có nghĩa là cùng một tổ quốc. Người Anh, người Úc, người Mỹ, cùng nói Tiếng Anh, nhưng họ không cùng một tổ quốc. Cũng vây, người Việt Nam Công Hòangười của CHXHCNVN không cùng một tổ quốc. Với tôi, người của CHXHCNVN rất xa lạ : Họ nói khác tôi (tiếng Việt Cộng), họ suy nhĩ khác tôi, sống khác tôi, thậm chí lái xe, chưởi thề, ăn mặc, hát, đóng kịch, mọi thứ đều khác. Họ có một lá cờ khác, một bài quốc ca khác, những anh hùng khác, những thần tượng khác. Những người đó là gốc của tôi hay sao ??? Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là tổ quốc của tôi hay sao?? Không, gốc của tôi là VNCH, tổ quốc của tôi là Việt Nam Cộng Hòa. Công dân của VNCH là công dân VNCH và công dân của CHXHCNVN là công dân của CHXHCNVN. Hai khối người, nhưng cũng là hai nỗi cô đơn. Hai nỗi cô đơn này hiện hữu tại trong nước, nhưng cũng hiện hữu tại Hải Ngoại. Bây giờ, giả thử có một ông đảng viên CS nào kêu gọi nới rộng tự do một chút, cởi mở hơn một chút, sửa sai chế độ của họ một chút, thì đó là việc của họ. Riêng tôi, Cộng Sản phải được xóa bỏ toàn bộ. Sửa nó? đúng là nằm mơ giữa ban ngày.
Trần Mộng Lâm

----


Tấm ảnh hai người lính

 

Thời gian gần đây, một số báo chí trong nước đã đồng loạt phổ biến và đề cao giá trị “hòa hợp hòa giải” của tấm ảnh “hai người lính”, mặc dù nó đã xuất hiện lần đầu tiên vào năm 2007, trong một cuộc triển lãm tại Hà Nội, với một cái tên khá hấp dẫn “Ước Vọng Hòa Bình”.

Tấm ảnh chụp hai người lính, một người lính TQLC của miền Nam (VNCH) và một anh bộ đội của miền Bắc (Cộng Sản), được tác giả là Ông Chu Chí Thành, nguyên Trưởng Ban Biên Tập, Sản Xuất Ảnh Báo Chí của Thông Tấn Xã (Bắc Việt), và cũng là nguyên Chủ Tịch Hội Nghệ Sĩ Nhiếp Ảnh VN, cho biết là chính ông đã chụp tại lằn ranh chiến tuyến Triệu Phong, Quảng Trị vào tháng 4/1973 sau Hiệp Định Paris (có hiệu lực từ ngày 27.1.1973). Tác giả bức ảnh cũng như một số báo chí tại Việt Nam đã (và đang) đi tìm hai nhân vật trong tấm ảnh đặc biệt này, mà họ cho là biểu tượng của “Ước Vọng Hòa Bình” và “Tinh Thần Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc” (!).
Cho đến hôm nay, tông tích người lính miền Bắc đã được sáng tỏ. Có điều là anh đã qua đời cách đây khoảng 5, 6 năm. Không biết trước khi chết, anh có còn nhớ người lính miền Nam đã choàng vai anh rất thân tình trong tấm ảnh năm xưa, bên đôi bờ chiến tuyến, và anh có ân hận vì đã từng “phải” cầm súng bắn giết đồng bào, anh em ruột thịt miền Nam, để cuối cùng chỉ tiếp tay gầy dựng một chế độ phi nhân, một chính quyền tham nhũng, man rợ, phản dân hại nước như hôm nay?
Còn anh lính miền Nam kia thì giờ này đang ở đâu? “Bến Hải hay Cà Mau?”. Có lẽ anh đã chết sau Hiệp Định Paris, ngay sau cái ngày anh choàng vai anh bộ đội miền Bắc với chút hy vọng mong manh: Hiệp Định Paris mang tên Hòa Bình sẽ được chính quyền CS miền Bắc thực thi, vì sinh mạng của đồng bào, vì hòa bình của hai miền dất nước? Thân xác anh có thể vùi nông ở đâu đó, bên dòng sông Thạch Hãn hay trên bờ biển cát An Dương (Thuận An) trong giờ thứ 25 của cuộc chiến. May mắn hơn, nếu có được nấm mồ bên cạnh đồng đội được an táng trong Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa, thì cũng đã bị chính quyền “bên thắng cuộc” đập bia, phá mộ, san bằng từ lâu rồi. Nếu còn sống, chắc cũng đang mang bao thương tích cả trên thân xác lẫn trong tâm hồn, bị chính quyền “bên thắng cuộc” kỳ thị, truy bức. Cũng có thể anh là một trong những người thương binh, lê lết đến Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn, mong được nhận một chiếc xe lăn, một xuất khám bệnh của những người còn giữ được tấm lòng, nhưng đã bị đám công an đe dọa, ngăn cản, đuổi xô trong bước đường cùng!

Là một người lính TQLC, anh đã được rèn luyện trong tinh thần kỷ luật và tình “huynh đệ chi binh”, nếu còn sống, chắc chắn anh không hề muốn lên tiếng, nhận mình là người trong tấm ảnh, đang được tung ra nhằm lợi dụng cho một chiến dịch tuyên truyền “Hòa Hợp Hòa Giải” một cách lố bịch.
Tấm ảnh mà tác giả, người từng là Trưởng ban Biên Tập, Sản Xuất Ảnh của Thông Tấn Xã một nước, và sau này là ChủTịch Hội Nghệ Sĩ Nhiếp Ảnh Việt Nam, cho là rất tâm đắc, rất cảm động, là tác phẩm mang ý nghĩa đặc biệt nhất trong cuộc đời nhiếp ảnh, mà sao ông phải “giấu nhẹm” đến 34 năm, trong đó có cả 32 năm “chiến tranh đã kết thúc, hòa bình và thống nhất được thiết lập trên cả nước” ? Bây giờ tấm ảnh được tung ra cùng một lúc trên nhiều tờ báo “lề phải” vốn chỉ làm theo lệnh đảng, ông Chu Chí Thành “vô tư” trả lời các cuộc phỏng vấn, và lúc nào ông cũng gán cho tấm ảnh cái “biểu tượng của Tinh thần Hòa Hợp Hòa Giải”.

Ai có ước vọng hòa bình, và ai hòa hợp hòa giải với ai? Ngay từ tháng 4/ 1973, chính người lính miền Nam đã can đảm, theo lời mời của một anh bộ đội miền Bắc, đi tay không sang chiến tuyến bên kia đang có đầy súng đạn và cả tên lửa dưới các giao thông hào (theo lời kể của ông Chu Chí Thành), để bắt tay cô “bộ đội gái” và choàng vai chụp ảnh với người “anh em bên kia”, trong niềm hy vọng (dù rất mong manh) là Hiệp Định Hòa Bình Paris sẽ thực sự mang lại hòa bình, khi quân đội Mỹ không còn hiện diện trên đất nước. Vậy mà cái hòa bình “giả tạo” khốn kiếp ấy không kéo dài được quá hai tháng! Chính CS Bắc Việt, với bản chất xảo quyệt tráo trở, lợi dụng thời gian “hưu chiến” này để ồ ạt đưa đại quân, chiến xa và súng đạn vào đánh chiếm miền Nam, gieo thêm bao nhiêu tang tóc, để cuối cùng tạo nên một đất nước khiếp nhược, rệu rã tất cả mọi phương diện, từ đạo đức, giáo dục đến kinh tế, để nuôi béo đám cường quyền Cộng Sản thối nát, hèn mạt hôm nay. Vậy mà cái chiêu bài “đánh Mỹ cứu nước” vẫn có thể lường gạt, làm mê muội cả bao nhiêu triệu dân miền Bắc, bởi năm 1973 không còn hiện diện một người lính Mỹ nào tại chiến trường miền Nam!

Sau Hiệp Định Paris 1973, đơn vị tôi trú đóng tại Kontum. Cũng có một thời gian ngắn “ngưng bắn kiểu da beo”. Chúng tôi được một đơn vị CS chính thức mời sang “vùng tạm chiếm” để “liên hoan”. Trong chúng tôi không một ai tin đó là lòng thành thật và sẽ có hòa bình. Tuy nhiên để tỏ thiện chí (và thăm dò), một nhóm mười hai người, dưới sự hướng dẫn của một vị trung tá, cũng đươc lệnh đi tay không sang vùng đất địch, mang theo một xe (Jeep) bánh mì, thịt hộp, bia và thuốc lá Quân Tiếp Vụ làm quà cho những “người anh em”. Chúng tôi được một “thủ trưởng” mang “quân hàm thượng tá” tiếp đón. Tất cả cùng “liên hoan” với bánh mì thịt, bia và thuốc lá của chúng tôi mang đến. Dĩ nhiên là chúng tôi ăn trước để họ tin là không bị thuốc độc. Sau đó còn được mời đấu giao hữu bóng chuyền. Cả đơn vị tôi cùng một hợp đoàn trực thăng phải ứng chiến sẵn sang trong suốt thời gian nhóm mười hai người “liên hoan” trên phần đất địch. (Bởi qua bao nhiêu kinh nghiệm máu xương, đặc biệt là cuộc “hưu chiến” để đồng bào mừng Tết Mậu Thân (1968) đã được hai bên thỏa thuận, vậy mà Hồ Chí Minh còn trực tiếp ra lệnh tấn công trá hình bằng “lời chúc Tết của bác” trên đài phát thanh Hà Nội. Kế hoạch “tổng tấn công và nổi dậy” trên khắp các thành phố lớn miền Nam đã bị thảm bại, nhưng CS đã giết biết bao nhiêu thường dân vô tội. Đặc biệt tại Huế, trước khi rút lui, CS còn ra lệnh giết và chôn sống tập thể cả hàng vạn người. Đến hôm nay, Hoàng Phủ Ngọc Tường, một kẻ nhúng tay vào cuộc tắm máu đó, đang phải sống trong những ngày thê lương, hoảng loạn, bởi ám ảnh những oan hồn).
Sau cuộc “liên hoan mừng hòa bình” đó không bao lâu, thì CS đồng loạt mở các cuộc pháo kích thật dữ dội và tấn công chúng tôi, nhưng đều thảm bại, vì chúng tôi không bất ngờ, đã chuẩn bị sẵn sàng. Khai thác đám tù binh bị bắt, họ khai là cuộc “liên hoan” hôm ấy chỉ là màn kịch bịp do cấp trên đạo diễn, và tay “thủ trưởng mang quân hàm thựợng tá” tiếp chúng tôi hôm ấy thực ra chỉ là một anh hạ sĩ. Còn tay thượng tá chính thức thì đóng vai “cần vụ”. Chúng tôi không hề ngạc nhiên về bản chất xảo quyệt của những người CS.

Người dân miền Nam và đặc biệt là người lính miền Nam, luôn có ước vọng hòa bình, luôn mong ước dân chúng hai miền Nam Bắc được sống trong hòa bình, tự do và hạnh phúc. Chúng tôi không hề muốn chiến tranh, chúng tôi chỉ phải cầm súng để tự vệ. Tính nhân bản của người lính miền Nam được thể hiện qua tâm tư của một người lính từng phục vụ trong một đơn vị biệt kích, nhà thơ nổi tiếng Nguyễn Bắc Sơn (vừa qua đời ở Việt Nam):
Đêm nằm ngủ võng trên đồi cát
nghe súng rừng xa nổ cắc cù
chợt thấy trong lòng mình bát ngát
nỗi buồn sương khói của mùa thu
(Mật Khu Lê Hồng Phong)
….
Kẻ thù ta ơi, những đứa xâm mình
ăn muối đá và hăng say chiến đấu
Ta vốn hiền khô, ta là lính cậu
đi hành quân với rượu đế mang theo
mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
xem chiến cuộc như tai trời ách nước
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi
chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
suy nghĩ làm gì lao tâm khổ trí
(Chiến Tranh Và Tôi)
Người dân miền Nam, trong đó có cả hơn một triệu người miền Bắc đã phải bỏ quê hương di cư vào Nam năm 1954 cùng con cháu sau này, cầm súng chỉ để tự vệ, không hề gây chiến tranh bên kia bờ Bến Hải. Vậy ai là kẻ gây ra chiến tranh để giết hàng mấy triệu người “anh em” của hai miền Nam Bắc, làm tan hoang cả đất nước, và điêu linh khốn khổ cho cả một dân tộc?
Bà Dương Thu Hương, một đảng viên, nhà báo Cộng Sản, trên đường vào “tiếp thu” thành phố Sài gòn trong những ngày cuối tháng 4/75, khi đến ranh giới miền Nam, nhìn thấy sự văn minh, phồn thịnh,so với miền Bắc XHCN, đã ngồi bên lề đường bật khóc, đau đớn nhận ra: Kẻ man rợ đã thắng!
Người Cộng Sản, Đảng Cộng Sản Việt Nam là một vết nhơ lớn nhất trong lịch sữ, mang trọng tội với dân tộc. Tấm ảnh hai người lính là một chứng tích tráo trở, lừa bịp, soi sáng thêm tội ác của người CS. Đó không thể là một “biểu tượng của tinh thần Hòa Hợp Hòa Giải Dân Tộc.” Bởi dân tộc này không cần phải hòa hợp hay hòa giải. Chỉ có những người Cộng Sản luôn gây hận thù chia rẽ và tạo quyền lực tuyệt đối cho riêng mình bằng bạo lực , đứng trên pháp luật, bất chấp mọi thủ đoạn bẩn thỉu, man rợ, để đè đầu cỡi cổ, bịt miệng cả một dân tộc Việt nam khốn khổ.
Phạm Tín An Ninh
(một người lính VNCH)
-----------

Hai hình ảnh, Quốc Gia và CHXHCNVN


                Nghị viên nghiêm trang                                    Các dân biểu Quốc Hội nước CHXHCN/VN
                                                                              đang chăm lo việc Nước trong giấc mơ !
 

Dontre Défi contre Thiêy-Ky à Saigon -                Công khai thách đố!  Công an Việt Cộng bịt miệng !

Tự do biểu tình                                     Đàn áp biểu tình !

Giương biểu ngữ                                               Hạ biểu ngữ !

Dân cử dân bầu hay Đảng cử Dân bầu ?

Tờ báo của những người "xâm mình" hay cơ quan trung ương của đảng... ta ?

    Cô giáo thanh lịch dịu hiền !                       giáo ngày nay tay sắt !  

Sân học đường hiền hòa !                                 Nay... sàn đấu võ tự do !

Tuổi xanh sinh hoạt lành mạnh !            Nay, y như "phim"  hội đen ! 

Gái Việt thùy mị duyên dáng đoan trang !           Hiện tại, nóng bỏng, hở hang !

Gái Việt ngày vinh qui --->      ngóng chờ... Đại Hàn chọn lấy !

Khô sạch ---> ... ướt dơ !

                         Tổ quốc danh dự trách nhiệm !                     Ngu dại ! Chỉ biết còn đảng còn mình.    

HỔ CHẾT ĐỂ DA - HỒ CHẾT DI HỌA


Tiến Sỹ LÊ HIỂN DƯƠNG Cựu Hiệu Trưởng Đại Học Đồng Tháp - Nhìn ở nhiều góc độ, tất cả loài vật dù hung dữ tới đâu, độc hại đến cỡ nào, suy cho cùng cũng có ích cho con người nếu biết sử dụng đúng lúc và đúng chỗ, kể cả thực vật tưởng chừng nguy hiểm như loài hoa Anh Túc (Cây thuốc phiện) cũng được khoa học chế biến phục vụ con người trị bệnh và xoa dịu nỗi đau thể xác, chỉ có cộng sản là từ ngày có mặt nó trong thế giới loài người, chỉ mang đến thảm họa nghèo đói, đau buồn, chết chóc vì bản chất khát máu, và sở trường hận thù giai cấp của nó. Điều đó có thể lý giải vì sao người Nhật dựng tượng Nghĩa Khuyển để ghi nhận lòng trung thành của loài chó, thì tại Nga người dân kéo đổ sập tượng Lênin. Dù hắn cũng mang hình dáng con người nhưng ẩn bên trong là một tâm hồn què quặt, đui mù chân lý, hết sức hoang tưởng và tàn bạo, một thời là pháo đài của đảng cộng sản tại VN, đứng đầu là Hồ Chí Minh.

Từ ngàn xưa, ông bà người Việt Nam đã biết dùng hình tượng con vật để răn bảo nhau sống sao cho có nhân nghĩa ở đời. Có những vị Vua bảo quốc an dân thì cũng có những bạo chúa vô cùng tàn ác, điều đó cho thấy con người dù ở bất cứ địa vị, hoàn cảnh nào cũng không hoàn hảo, phải biết tự răn mình để làm người tử tế. Không biết có phải vì vậy, nên khi cần bày tỏ lòng biết ơn, người đời thường nói Kiếp sau xin làm thân khuyển mã đền đáp công ơn này. Nghĩ cũng lạ (sao kỳ dzậy, mấy cha?), tạo hóa ban tặng loài người có trí khôn vẫn tốt hơn cho việc đền ơn, sao lại muốn trả ơn theo cách loài vật? Dạ thưa, vì con vật không bao giờ phản chủ, đặc biệt là loài chó, loài trung thành bậc nhất, ngay trên hình tinh của con người "khét tiếng" văn minh, dù thủy tổ của đủ các loại chó Nga, chó Tàu, chó cộng sản hay chó tư bản trên thế giới ngày nay, chính là loài Sói hoang dã, hung hãn từ hàng triệu năm trước. Sự tiến hóa của loài sói cùng với sự hướng dẫn của con người, theo thời gian, loài chó trở nên người bạn thân thiết, thậm chí còn được xem như thành viên trong gia đình.

Con người có thể cười nhạo đồng loại, nhưng có thể họ sẽ khóc khi mất đi "người bạn" không biết nói tiếng người. Và khi người bạn chó mất đi, để ghi nhận lòng trung thành, người ta đôi khi còn dựng tượng Nghĩa Khuyển để ngợi ca sự trung thành của nó. Vì chó, không biết lừa Thầy, phản bạn như Hồ Chí Minh cùng đám thuộc hạ đảng cộng sản.

Chú chó Hachiko - Inou ở tận bên Nhật. Câu chuyện có thể khiến nhiều người suy nghĩ về lòng trung thành của loài vật đối với con người, các nhà đạo diễn còn dựng thành phim chú chó Hachiko sống và chết như thế nào đối với chủ của nó, như lời nhắn gửi hãy sống như một người tử tế, để có lòng biết ơn người đã cưu mang giúp đỡ mình.

Thật mỉa mai, cộng sản thường tự hào là động vật cấp cao, với biện chứng "vật chất quyết định ý thức" để bào chữa cho nhau bằng những lời hoa mỹ nhất nhằm lấp liếm tội ác, tung hê những điều giả trá nhất, nhưng đến tận ngày nay, bài bào chữa hay nhất từ ngàn năm trước, không dành cho con người, mà dành cho một chú chó, sự trung thành của nó làm rúng động lòng người.

"Thưa quý ngài hội thẩm,

Người bạn tốt nhất mà con người có được trên thế giới này có thể một ngày nào đó hóa ra kẻ thù chống lại chúng ta. Con cái mà ta nuôi dưỡng với tình yêu thương hết mực rồi cũng có thể sẽ là một lũ vô ơn.

Những người gần gũi, thân thiết nhất mà người ta gửi gắm hạnh phúc và danh dự có thể trở thành kẻ phản bội, phụ bạc lòng tin cậy và sự trung thành. Tiền bạc mà con người có được rồi sẽ mất đi, thậm chí còn luôn mất đi đúng vào lúc ta cần nó nhất.

Tiếng tăm của con người cũng có thể tiêu tan trong phút chốc bởi một hành động dại dột. Những kẻ phủ phục tôn vinh ta khi ta thành đạt, có thể sẽ là những kẻ ném đá vào ta khi ta sa cơ lỡ vận. Duy có một người bạn không vụ lợi mà con người có thể có trong thế giới ích kỷ này, người bạn không bao giờ bỏ rơi ta, không bao giờ vô ơn hay tráo trở, đó là chú chó của ta.

Nó luôn ở bên cạnh ta trong những lúc phú quý cũng như bần hàn, khi khỏe mạnh cũng như lúc đau ốm. Nó ngủ yên trên nền đất lạnh dù gió đông giá rét hay bão tuyết vùi lấp, miễn sao được cận kề bên chủ. Nó hôn bàn tay ta dù khi ta không còn thức ăn cho nó.

Nó liếm vết thương của ta và những vết trầy xước mà ta phải hứng chịu khi va chạm với cuộc đời bạo tàn này. Nó canh giấc ngủ của ta như thể ta là một ông hoàng, dù ta có là một gã ăn mày. Dù khi ta đã tán gia bại sản, thân tàn danh liệt thì vẫn còn chú chó trung thành với tình yêu nó dành cho ta như thái dương trên bầu trời. Nếu chẳng may số phận hắt ta ngoài rìa xã hội, không bạn bè, không nơi ở thì chú chó trung thành chỉ xin ta một ân huệ là cho nó được đồng hành, cho nó được bảo vệ ta trước nguy hiểm, giúp ta chống lại kẻ thù...

Và khi trò đời hạ màn, thần chết đến rước phần hồn ta đi, để lại thân xác ta trong lòng đất lạnh, thì khi ấy, lúc tất cả thân bằng gia quyến đã phủi tay sau nắm đất cuối cùng và quay đi để sống tiếp cuộc đời của họ, vẫn còn bên nấm mồ của ta - chú chó cao thượng nằm gục mõm giữa hai chân trước, đôi mắt ướt buồn vẫn mở to cảnh giác, trung thành và trung thực ngay cả khi ta đã đi vào cõi hư vô!"

Cảm ơn bạn nhậu và mấy cha nội mẹ ngoại, thật may mắn và vui mừng (hết biết) khi không thấy trên bàn nhậu có "rựa mận", trong tủ rượu của "dân chơi cầu ba cẳng" không có món "cao cẩu cốt".

Chúa sơn lâm, loài thú hung dữ nhất cũng có truyền thuyết kể rằng, Cọp đôi khi cũng biết trả ơn vì nhớ người đã cứu mạng đồng loại nó.

Chuyện kể rằng: "Ở xóm làng heo hút, có bà Mụ vườn, thường đỡ đẻ làm phước, ở xứ nghèo chỉ nhận được hai tiếng cảm ơn, họa hoằn lắm mới có tí quà. Đêm nọ đang ngon giấc, bà mụ nghe tiếng cào trên liếp cửa, ngỡ rằng có ai cần mình, bà lên tiếng hỏi nhiều lần, nhưng không nghe đáp trả, tiếng cào cấu càng lớn và dai dẳng, bà mụ chống cửa lên. Tá hóa, sững sờ, trước mặt là con cọp to như con bò! Nhờ dấu hiệu hiền lành, phủ phục dưới chân, làm bà cũng định thần đôi chút, thoáng bàng hoàng chưa qua, con cọp xốc bà lên lưng, cõng thẳng vào núi, nó thả bà xuống bên con cọp cái, đang rên xiết, với cái bụng lớn chềnh ềnh. Vốn thạo nghề, nhanh trí, bà biết mình phải làm gì. Sau một hồi đem hết khả năng thi triển, chú cọp con chào đời, cọp mẹ ngủ thiếp... cọp bố cõng bà về lại nhà.

Mấy hôm sau, vào buổi sáng tinh mơ, vừa chống cửa lên, bà mụ thấy con heo rừng nằm dưới thềm nhà, bà biết ngay cọp đền ơn, rồi thỉnh thoảng lúc nhím, nai v.v... đó là những món quà, cọp đền ơn cho bà mụ, miền thôn dã."

Khi Cọp chết đi, hoặc bị con người "đuổi tận giết tuyệt - giết lầm hơn bỏ sót"giống chủ trương của HCM trong CCRĐ, chỉ để lấy bộ da trưng bày ở phòng khách cho nó có vẻ "hùng vĩ" và sang trọng. Xương cọp thì nấu cao hổ cốt để tráng dương bổ thận. v.v... Nếu có trí khôn, chắc Cọp cũng buồn cho "Nhân tình thế thái...".

Chuyện Cọp trả ơn không biết có thật không, nhưng cũng đáng để suy ngẫm, sao cho xứng đáng với ân nhân của mình, nếu không trung thành được như loài chó, ít ra cũng không làm hại người mà mình đã thọ ơn như loài cọp.

Một chuyện có thật về loài thú dữ, ai không may chạm mặt nó trong rừng, chắc chắn sẽ hồn phi phách táng, đó là sư tử. Nó hung dữ và đáng sợ đến độ con người dùng hình tượng đó để chỉ... "Sư tử Hà Đông". (Không phải ám chỉ "con mẹ lựu đạn" nha, mấy cha)

"Năm 1969, Anthony và John Rendall, hai công dân Úc cư ngụ tại London thấy một con sư tử nhỏ nặng 35 cân nằm một cách tội nghiệp trong cũi tại một tiệm tạp hóa. Anthony và John đặt tên cho nó là Christian.

Một năm sau, chú sư sử Christian bắt đầu tăng vọt lên tới 185 cân, chủ của nó phải bỏ ra tới 30 bảng Anh một tuần để mua lương thực cho nó. Họ biết rõ là không thể nuôi nó mãi được, nhưng không biết phải làm sao. Họ được khuyên đưa chú sư tử đến Kenya (Châu Phi), đây được khẳng định là môi trường thích hợp cho chú sư tử cưng, Anthony và John đáp máy bay cùng với Christian về nhà mới của nó ở Kenya. Tuy sống tại London, họ vẫn ghé thăm Kenya vài lần để ngắm nhìn con sư tử yêu quý của mình từ xa.

Năm 1974, Adamson cho họ biết rằng Christian đã trở thành thủ lĩnh của đàn sư tử và ông ta không còn thấy nó xuất hiện suốt ba tháng nay, Anthony và John quyết định quay lại Kenya, mong sao có thể chào vĩnh biệt Christian lần cuối, mặc dù người ta khẳng định rằng để leo lên tới cương vị thủ lĩnh kia, Christian phải trở về với bản tính hoang dại của loài sư tử và cho dù họ có tìm ra nó thì nó cũng sẽ chẳng nhận ra họ. Lạ thay, đêm trước khi chuyến bay hạ cánh, chú sư tử Christian bỗng dưng xuất hiện và ngồi đợi ngoài doanh trại của các nhà tự nhiên học, cứ như là linh cảm cho nó biết rằng hai ông chủ cũ sắp đến thăm nó lần cuối cùng.

Đó cũng là lần cuối cùng mà người ta nhìn thấy nó. Tuy nhiên, sau khi đoạn video cảm động kia được upload lên YouTube, chắc chắn chú sư tử Christian sẽ không bao giờ bị lãng quên.

Cuộc gặp gỡ của Christian và hai người bạn cũ đã làm rung động trái tim của hàng triệu người trên thế giới. Trái với suy đoán của nhiều người, khi thấy bóng dáng 2 người chủ cũ, Christian chạy nhanh đến và ôm chầm lấy họ. Chú sư tử chồm cả người lên, dùng hai chân trước ôm lấy từng người một, rúc vào họ như vẫn làm trong những ngày tháng thơ ấu... Không chỉ thế, Christian còn giới thiệu cho 2 người bạn cũ vợ của mình... Và trong khoảnh khắc đấy, không chỉ có tiếng cười mà còn có cả những giọt nước mắt vui sướng..."

Nhìn ở nhiều góc độ, tất cả loài vật dù hung dữ tới đâu, độc hại đến cỡ nào, suy cho cùng cũng có ích cho con người nếu biết sử dụng đúng lúc và đúng chỗ, kể cả thực vật tưởng chừng nguy hiểm như loài hoa Anh Túc (Cây thuốc phiện) cũng được khoa học chế biến phục vụ con người trị bệnh và xoa dịu nỗi đau thể xác, chỉ có cộng sản là từ ngày có mặt nó trong thế giới loài người, chỉ mang đến thảm họa nghèo đói, đau buồn, chết chóc vì bản chất khát máu, và sở trường hận thù giai cấp của nó. Điều đó có thể lý giải vì sao người Nhật dựng tượng Nghĩa Khuyển để ghi nhận lòng trung thành của loài chó, thì tại Nga người dân kéo đổ sập tượng Lênin. Dù hắn cũng mang hình dáng con người nhưng ẩn bên trong là một tâm hồn què quặt, đui mù chân lý, hết sức hoang tưởng và tàn bạo, một thời là pháo đài của đảng cộng sản tại VN, đứng đầu là Hồ Chí Minh.

Hồ Chí Minh khi sống cũng như khi đã chết vẫn là tai họa hàng đầu đối với dân tộc Việt Nam.

Người xưa dạy: Ngọc bất trác bất thành khí - Nhân bất học bất tri lý. Thật vậy, ngày xưa con người muốn nên danh phận phải lều chõng đi thi - không thành công thì cũng thành nhân. Muốn công thành danh toại, thì phải miệt mài "sôi kinh nấu sử". Làm gì có chuyện ngọc bất trác bất thành khí, nhỏ không học lớn làm đại úy (mấy cha?). Vậy mà, không cần học nhiều, cứ theo cộng sản, cứ bắn giết dân lành, đặt mìn xe đò, gài bom khủng bố, giết người càng nhiều sẽ được làm quan to, thậm chí còn leo lên tới chức chủ tịch nước, thủ tướng, tổng bí thư, rồi nào là bộ trưởng quốc phòng tá lả, mà không cần học hành gì ráo trọi, điển hình như tên cộng sản Nguyễn Tấn Dũng với thành tích 51 năm "đi theo đảng", trở thành nhân vật bất khả xâm phạm, khi cả nước ai cũng biết hắn là trùm tham nhũng, làm nghèo đất nước, cộng sản cấp cao như chủ tịch nước, tổng bí thư cũng không dám chỉ đích danh, chỉ dám gọi gọi là đồng chí X?. Thiệt ngán ngẩm cho miền Nam khi bị cộng sản dùng vũ lực buộc phải nối gót miền Bắc, tiến nhanh, tiến mạnh, tiến (ớn lạnh) lên thiên đàng xã nghĩa, mà theo lời Nguyễn Phú Trọng đến hết thế kỷ này không biết có hay chưa.

Hơn 40 năm trôi qua từ khi chấm dứt chiến tranh bom đạn, đồng minh phản bội, VNCH bị bức tử, thì cuộc chiến ý thức hệ vẫn còn đó, giữa quốc gia và cộng sản, lòng người ly tán, đất nước bị tàn phá nặng nề, Tàu cộng tha Hồ vào, ra VN như vào nhà thổ có sẵn những tên điếm chính trị hết lòng phục vụ bằng mồm. Nhìn thành tựu phát triển đến tởm lợm, dưới sự lãnh đạo tồi tệ của đảng, sức phát triển, thu nhập bình quân đầu người, còn thua cả Kampuchea và Lào, đến người Mẹ khi thay tã cho con, dù muốn hay không, phải buộc luôn vô tã lót của con số tiền 26 triệu đồng nợ công, xem như quà tặng của bác & đảng chúc mừng bé cất tiếng "cười thầm" thay cho tiếng khóc chào đời. Lãng mạn chút xíu thì cứ xem như "gia tài của mẹ" cộng sản để lại cho con dân. Chính những nghịch lý đến cây cột đèn mà biết đi, nó cũng chạy trốn cộng sản.

Buộc người dân phải nghĩ đến vai trò của HCM và đảng cộng sản trong cái gọi là"giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước". Theo các tài liệu khả tín, kể cả tài liệu do người từng theo cộng sản viết ra thì HCM là bậc thầy lưu manh chính trị, tay sai QTCS do chính Hồ thú nhận, truyền bá CNCS với tham vọng cuồng xuẩn rằng sẽ có một thế giới đại đồng, Hồ thích làm anh hùng trên lưng dân tộc, kể cả bán đứng cụ Phan Bội Châu cho thực dân Pháp, người từng cưu mang giúp đỡ Hồ khi mới đến Pháp, Hồ thích thân xác phụ nữ nhưng không muốn trách nhiệm, sẵn sàng từ bỏ và sát hại sau khi Hồ đã thỏa mãn thú tính.

Khi cướp chính phủ Trần Trọng Kim xong, Hồ lập tức thanh trừng các đảng phái không theo cộng sản, kể cả đồng chí, đồng đảng, đồng bọn nếu ai dám trái ý Hồ để giành quyền lực tuyệt đối, nắm quyền sinh sát toàn dân với sự hỗ trợ của cộng sản Nga - Tàu, thực hiện một chuỗi tội ác tày trời, mỗi khi nghĩ đến phải rùng mình vì sự dã man của nó, thật khó tin Hồ cũng là một con người.

Làm sao có thể tưởng tượng một ông chủ tịch nước cộng sản Hồ Chí Minh, mới có 58 tuổi đầu, gặp ai cũng tự xưng là "Bác", kể cả với những người đáng tuổi ông bà, cha mẹ của nó, còn phạm thượng khi thăm đến Kiếp Bạc, chỉ mặt Vua Hùng "bác anh hùng, tôi cũng anh hùng" !?. Làm sao có thể tưởng tượng trên thế gian này, có kẻ vô ơn đến độ lấy bút danh CB, viết báo đấu tố bằng những lời kết án nặng nề kiểu ngậm máu phun người, để có cớ ra lệnh xử bắn chính đại ân nhân của nó và đồng bọn? Vô đạo hơn, Hồ còn bịt râu đến xem thuộc hạ bắn ân nhân của nó ra sao, Chắc Hồ sẽ vui thích khi thấy thuộc hạ cộng sản dùng chân đạp xác bà Nguyễn Thị Nam (Cát Hanh Long) vào quan tài vì quá chật so với xác người xấu số.

Trong bài viết trước, Hồ Chí Minh là thế đấy! Kẻ viết bài này đã mượn ý của các tác giả để chỉ ra sự cùng hung cực ác của Hồ, ngày nào còn thở sẽ phải còn nhắc lại, cũng như nguyền rủa Hồ cùng đồng bọn của hắn. Phải lưu truyền tội ác cộng sản vào sử sách, để đời đời con cháu người VN luôn nhớ, đã có một thời người VN sống còn thua con vật dưới sự độc tài toàn trị của đảng cộng sản, không được phép quên giống như tội ác của giặc Tàu, một ngàn năm Bắc thuộc, phải luôn ghi nhớ mà xa lánh loài quỷ dữ cộng sản khát máu, dù chúng cũng mang hình dáng con người.

Tội ác Hồ Chí Minh sát hại 172.008 dân lành trong CCRĐ là câu chuyện có thật. Hồ công khai khóc xin lỗi đồng bào miền Bắc, tuyên giáo cộng sản không thể chối cãi và đã thừa thừa nhận vì nhân chứng sống còn đó, bằng chứng còn đầy. Thế quý ông bà tuyên giáo cộng sản moi móc ở đâu ra thứ gọi là "tấm gương đạo đức" nơi một tên giết người hàng loạt để tung hê và nhồi sọ người dân? Nhìn ở góc độ rộng, hàng hàng, lớp lớp giáo $ư. tiến $ĩ, $ử gia bị cộng sản nhồi sọ từ lúc còn ngồi bô thì có thể hiểu được vì sao họ u mê và ngu muội đến vậy.

"Thước đo của mức độ bị tẩy não

Mức độ bị tẩy não cũng có mức trầm trọng khác nhau. Một người bị tẩy não hoàn toàn sẽ không còn khả năng để đánh giá sự thật. Sự kiện và bằng chứng không có nghĩa gì với họ. Yuri Alexandrovich Bezmenov phát biểu từ kinh nghiệm ở Liên Xô “Ngay cả mang anh ta tới tận Liên Xô và chỉ cho anh ta thấy trại tập trung, anh ta cũng không tin... cho đến lúc anh ta bị đá ngay vào đít, khi giày đinh đạp lên anh, rồi anh ta mới hiểu. Nhưng không phải trước đó. Đó là thảm kịch của trình trạng bị băng hoại về đạo đức trong con người.” Nhiều người Việt Nam hiện nay vẫn chịu đựng mức độ tẩy não trầm trọng như vậy.

Tuy nhiên, cũng có những người bị tẩy não ở mức độ thấp hơn. Họ thấy được những hiện tượng sai trái, những bất công, tiêu cực của chế độ nhưng vẫn “chấp nhận đặc ân để sau đó tuân hành”, vẫn cho rằng “chống lại chỉ là hành động vô ích”, vẫn “trải qua nhiều chục năm tuân phục thành một thói quen”, và vẫn nghĩ rằng “phản kháng chỉ làm thiệt hại cho lòng tự trọng hơn là việc đầu hàng có điều kiện” đúng như các điểm mà nhà xã hội học Albert D. Biderman đã liệt kê. Điều đó cho thấy, trên thế giới, chủ nghĩa CS chỉ là một bóng ma hãi hùng của quá khứ, các dân tộc từng bị CS cai trị từ Âu sang Á đã thức tỉnh sau bảy mươi năm chịu đựng chủ nghĩa tàn bạo nhất lịch sử loài người nhưng tại Việt Nam vẫn còn nhiều người bị tẩy não. Giống như đảng CS không bao giờ thừa nhận đã và đang tẩy não cả dân tộc, không ai muốn thừa nhận mình bị CS tẩy não." (Bàn về tẩy não - Trần Trung Đạo)

Đáng trách và cũng đáng lên án nhất, và cũng đừng bao giờ quên, chính là những tên ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản. Được chính thể miền Nam VNCH cưu mang, cho ăn học thành tài. Làm ông này bà nọ, có địa vị cao trong xã hội, không biết ơn thì thôi, lại tráo trở, lật lọng, ngậm máu phun người, phản bội mảnh đất cưu mang chúng và gia đình với đầy đủ tất cả quyền làm người mà chúng được thụ hưởng, nhẫn tâm rước giặc cộng sản tàn phá miền Nam, giết hại đồng bào vô tội. Để sau cùng khi thấy sự thật phũ phàng, cũng không dám lên tiếng nói ra rằng mình bị cộng sản lừa, thì làm sao có can đảm tố cáo tội ác cộng sản. Còn nỗi nhục nào lớn hơn đối với những người được xã hội trọng vọng một thời?

Tương tự như vậy, những kẻ chạy trốn cộng sản sau 1975 bằng tất cả mọi ngã đường, mấy chục năm sau vì cái bả phù vân, tiếp tục ăn cơm cờ hoa (Hoa Kỳ) để thờ quỷ đỏ Ba Đình. Thật khó hiểu, cần sống bao lâu để trưởng thành nhân cách? Cần học tới đâu để xứng đáng và không xấu hổ khi dạy con cháu rằng không được nói láo, không làm chứng gian, phải luôn sống tử tế với mọi người?

Và, cần học tới đâu để có thể phân biệt giữa con người và con vật? Tuy là thường dân lao động nghèo ít học, nhưng chúng tôi đã và sẽ còn quyết tâm vạch mặt chỉ tên bất kỳ kẻ nào nói láo, bưng bô bằng miệng cho cộng sản để nói điều xằng bậy. Sự thật phải được đặt về đúng vị trí lịch sử của nó, dù cái giá có thể phải trả bằng máu.

Sài Gòn 17.09.2015
TIẾN SỸ LÊ HIỂN DƯƠNG CỰU HIỆU TRƯỞNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP
Tài liệu tham khảo:

- Những lừa đảo lịch sử của Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam. Tác giả Cao-Đắc Tuấn. http://danlambaovn.blogspot.com/2014/10/nhung-lua-ao-lich-su-cua-ho-chi-minh-va.html

- Hồ Chí Minh Tự Thú: Tôi Là Nhân Viên Lãnh Lương Của Quốc Tế Cộng Sản - Thực Hiện Các Công Tác Bành Trướng Chủ Nghĩa Cộng Sản Do Quốc Tế CS Giao Phó Với Lương Công Tác: 100 Mỹ Kim/tháng. (năm 1924). Hồ Chí Minh Toàn Tập - tập 2.http://www.vietnamexodus.info/vne/modules.php?name=News&file=article&sid=452

- T.T. Tưởng Giới Thạch của Đài Loan nói : “Việt nam phải mất 100 năm nữa mới có được người như ông Diệm”.
Nguồn: http://bacaytruc.com/index.php...

- Duyệt lại sự thật lịch sử. Luật Sư Nguyễn Hữu Thống.http://danlambaovn.blogspot.com/2015/02/duyet-lai-su-that-lich-su.html

- Sự Thật cuối cùng đến quá trễ!. Tác giả Phan Nhật Nam.http://www.rfa.org/vietnamese/ReadersOpinions/bandocviet-pnnam-091914-09192014115917.html

- Những lời phát biểu của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tác giả Trần Quốc Việt.http://danlambaovn.blogspot.com/2013/11/nhung-loi-phat-bieu-cua-tong-thong-ngo.html#more

- Trong cuốn ‘Cold War Mandarin. T/g Jacobs Không ưa Diệm vẫn khen Ông là người vô vị Lợi.http://www.bbc.co.uk/vietnamese/forum/2013/11/131102_why_remember_president_diem.shtml (Bản Tiếng Anh:http://www.goodreads.com/book/show/937662.Cold_War_Mandarin)

- Đọc Lại Di Chúc Hồ chí Minh! Tác giả Nguyễn Thái Hoàng.http://toquocvietnam.org/DiChucHoChiMinh.htm

- Cựu chiến binh Mỹ tố cáo tội ác của cộng sản. Tác Giả: Bill Laurie.http://saigonecho.com/news/index.php/lich-su-vn/chien-tranh-vn/hoi-ky/7110-cuu-chien-binh-my-to-cao-toi-ac-cua-cong-san

- Văn Hóa Đạo Đức Hồ Chí Minh. Văn hóa viết láo, nói láo. Tác giả Bút Sử.https://mousekeymakehistory.wordpress.com/2014/11/21/van-hoa-dao-duc-ho-chi-minh/

HCM đã từng dạy đảng viên, cán bộ rằng “cứ nói láo mãi rồi cũng có người tin là như vậy!” (Tôi Bỏ Đảng, Hoàng Hữu Quýnh, 2002, trang 251).motgoctroi.com/StLichsu/LSCandai/MVo/Bodang_02.htm

- Chân dung của một tên bồi bút. Tác giả Trần An Lộc.danlambaovn.blogspot.com/2014/.../chan-dung-cua-mot-ten-boi-but.ht...

- Bà Cát Hanh Long Nguyễn Thị Năm và ông Hồ chí Minh. Tác giả: Nguyễn Quang Duy. http://www.danchimviet.info/archives/12664/ba-cat-hanh-long-nguy%E1%BB%85n-th%E1%BB%8B-nam-va-ong-h%E1%BB%93-chi-minh-2/2010/07

- Hồ Chí Minh Và Cái Chết Của Nông Thị Xuân . Bức Thư Mật liên quan đến cuộc đời của Hồ Chí Minh (Lưu giữ tại văn phòng Chủ Tịch Quốc Hội Việt Nam).http://toiac.webs.com/hvnngthixun.htm

- Thư Tố Cáo Nguyễn Tấn Dũng Tham Nhũng, Giàu Nhất Châu Á. Một đảng viên CSVN mang tên Phan Văn Trung.http://tinhamburg.blogspot.com/2011/03/thu-to-cao-nguyen-tan-dung-tham-nhung.html

- Khủng bố: Xưa và nay. Tác giả Nguyễn Hội.www.danchimviet.info/archives/34392/khủng-bố-xưa-va-nay/2011/05

- Tôi ám sát người sắp làm thủ tướng Sài Gòn. Vũ Quang Hùng.danviet.vn/xa.../toi-am-sat-nguoi-sap-lam-thu-tuong-sai-gon-48833.html

- Những sự thật cần phải biết: "THỐNG NHẤT" - Xin đừng xảo ngôn! Tác giả Đặng Chí Hùng. http://danlambaovn.blogspot.com/2012/12/nhung-su-that-can-phai-biet-thong-nhat.html

- Hậu Quả Của Việc Hoa Kỳ Bỏ Rơi Đông Dương. Tác giả Giáo sư Robert F. Turner. Trung tâm an Ninh Luật Pháp Quốc Gia. Đại Học Luật Khoa Virginia & Học Viện Hải Quân. (Trích trong “những sự thật về Chiến Tranh Việt Nam)
http://vnchtoday.blogspot.com/2012/06/hau-qua-cua-viec-hoa-ky-bo-roi-ong.html

- Cựu chiến binh tranh luận về chiến tranh Việt nam. Kính Hòa, phóng viên RFA.http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/debat-on-vn-war-by-vn-vet-08072014070151.html

"Ông Turner kết luận rằng sự bỏ rơi miền Nam Việt nam của Hoa kỳ là một sự xấu hổ trong lịch sử."

- HCM Bán Đứng Phan Bội Châu Cho Thực Dân Pháp Trên Đất Trung Hoa Năm 1925. Tác giả Mường Giang. http://motgoctroi.com/StLichsu/HCMbdPBC.htm

- Chúng Nó Giết Nhau hay việt cộng thanh trừng nội bộ do tác giả Đỗ Thông Minh biên khảo. https://muoisau.wordpress.com/2013/12/04/chung-no-giet-nhau-do-thong-minh/

- Hồ Chí Minh là thế đấy!!! danlambaovn.blogspot.com/2014/10/ho-chi-minh-la-ay.html

- Binh bài thơ xấc xược của Hồ trước vị anh hùng kiệt xuất của Dân tộc Việt Nam - Thánh nhân Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Tác giả Phan Châu Thành.http://danlambaovn.blogspot.com/2014/05/binh-bai-tho-xac-xuoc-cua-ho-truoc-vi.html

Đèn Cù. Số Phận Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng Sản. Tự Truyện Của Người Từng Viết Tiểu Sử Hồ Chí Minh. Tác giả Trần Đĩnh.http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nvntnvn4n3n31n343tq83a3q3m3237nvn&AspxAutoDetectCookieSupport=1

- iBook Cải cách ruộng đất. "Vài năm sau ngày lên nắm chính quyền tại miền Bắc, đảng cộng sản Việt Nam đã cho thực hiện một cuộc cách mạng được chính những người phát động mô tả là “long trời lở đất”. Đó là cuộc cải cách ruộng đất. Thống kê chính thức cho biết là đã có 172.008 người bị quy vào thành phần địa chủ và phú nông, bị “đào tận gốc, trốc tận rễ” nghĩa là không bị xử bắn tại chỗ thì cũng bị lãnh án tù rồi chết trong nhà giam, rồi con cái bị truy bức đến ba đời sau."http://www.rfa.org/vietnamese/people_stories/land_reform-12022013161432.html

- Trò chuyện với một nhân chứng sống của Cải cách Ruộng đất. Nhà văn Trần Mạnh Hảo. www.voatiengviet.com/content/tro-chuyen...nhan.../2457370.html

- Bàn về tẩy não. Tác giả Trần Tring Đạo.http://danlambaovn.blogspot.com/2013/10/ban-ve-tay-nao.html

- Việt Nam chính thức bị Lào, Campuchia vượt mặt. http://motthegioi.vn/kinh-te/tin-trong-nuoc-va-quoc-te/viet-nam-chinh-thuc-bi-lao-campuchia-vuot-mat-186572.html

- Chú Chó Trung Thành HaChiKo
https://www.youtube.com/watch?v=6hdqBK-VFWg

- Tượng Lê nin lớn nhất Liên Xô đã bị giật sập
https://www.youtube.com/watch?v=u2N60jijT-Q

- Câu chuyện cảm động về chú sư tử christian. https://www.youtube.com/watch?v=l-HsE0KEI8M)

- Mỗi người Việt đang gánh hơn 26 triệu đồng nợ công.http://www.thanhnien.com.vn/kinh-te/moi-nguoi-viet-dang-ganh-hon-26-trieu-dong-no-cong-587921.html
---

Thỉnh Nguyện Thư Yêu Cầu Không Đặt Tượng
Hồ Chí Minh
Ở New Haven City


The Petitions continues to have a powerful impact.

THỈNH NGUYỆN THƯ: Nếu chúng ta không làm thì ai sẽ làm thay cho chúng ta?

Tìm lại Sài Gòn xưa: Phù điêu chợ Bến Thành

Tìm lại tác giả phù điêu chợ Bến Thành


Nằm ở trung tâm thành phố , chợ Bến Thành đã trở nên quá quen thuộc với mỗi người dân Sài Gòn, cũng như đối với du khách trong và ngoài nước.
Theo dòng thời gian, kiến trúc của chợ Bến Thành có nhiều thay đổi.
Tuy thế, dáng vẻ và phần đầu của mặt tiền chợ vẫn giữ được như xưa. Trong lòng nhiều thế hệ, chợ như là một biểu tượng của Sài Gòn –
Thành phố HCM cho dù điều đó chưa được chính thức công nhận.
Nằm ở trung tâm thành phố chợ Bến Thành đã trở nên quá quen thuộc với mỗi người dân Sài Gòn, cũng như đối với du khách trong và ngoài nước. Theo Quen thuộc là vậy, có thể nhiều người quan sát thấy những bức phù điêu trang trí chợ Bến Thành với hình con bò, con cá đuối, nải chuối…
Nhưng có lẽ, ít người biết tác giả của những bức phù điêu đó là ai?

Tìm lại người xưa


Trong quá trình tìm về lịch sử trường Mỹ nghệ Biên Hòa, cũng như dòng gốm Biên Hòa xưa. Tôi cũng may mắn tìm gặp lại được hai nghệ nhân gốm Biên Hòa, những người đã trực tiếp gắn những bức phù điêu ở chợ Bến Thành năm xưa.
Mùa hè năm 2007, qua lời giới thiệu của một chị làm trong ngành gốm, tôi được gặp ông Nguyễn Trí Dạng (Tư Dạng), một nghệ nhân gốm Biên Hòa xưa, hiện sống tại phường Thống Nhất, thành phố Biên Hòa. Qua vài lời nói chuyện làm quen.
Tôi liền hỏi ông ngay:
“Cháu nghe nói trường mình, trường Mỹ nghệ Biên Hòa, ngày xưa có làm phù điêu trang trí cho chợ Bến Thành?”.
Ông Tư Dạng trả lời ngay:
“Đúng, làm năm 1952, mẫu là sáng tác của ông Mậu; tôi và một người bạn là hai người trực tiếp lên Sài Gòn gắn những bức phù điêu đó”.

Nguyễn Trí Dạng (trái) và Võ Ngọc Hảo, hai nghệ nhân đã trực tiếp gắn những bức phù điêu chợ Bến Thành
Được gợi về những năm tháng xa xưa, ông hào hứng kể lại vô số chuyện cũ.
Chuyện về những người thầy, những thợ bạn và những sản phẩm gốm Biên Hòa xưa.
Đó là những chuyện không xưa lắm, nhưng lớp trẻ ngày nay khó hình dung về một ngôi trường nổi tiếng một thời với dòng gốm mỹ nghệ Biên Hòa.
Sinh ra trong một gia đình có truyền thống về gốm mỹ nghệ, nên từ rất nhỏ ông đã có dịp tiếp xúc với những người nghệ nhân của trường Bá nghệ, càng quan sát ông càng đam mê những đất, men. Năm 14 tuổi, ông vào học trường Mỹ nghệ Biên Hòa, sau 4 năm học tập, ông tốt nghiệp năm 1950, và cũng là khóa học trò cuối cùng của trường dưới sự điều hành của ông bà Balick.
Sau khi ra trường, ông làm việc liên tục tại Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa cho đến khi được tuyển vào trường Kỹ thuật Biên Hòa, năm 1966, để làm thầy dạy ban gốm của trường. Cả đời ông gắn liền với nghề gốm, hiện nay ở tuổi 76, ông vẫn làm những sản phẩm gốm cho những đơn hàng nhỏ, lẻ. Gặp được người nghệ nhân thứ nhất, tôi tiếp tục đi tìm người nghệ nhân thứ hai đã tham gia gắn những bức phù điêu đó. Sau nhiều cuộc tìm kiếm, cùng với sự   hướng dẫn chỉ đường của ông Tư Dạng, tôi cũng tìm được người nghệ nhân này, gặp được ông tại Cù Lao Phố (Biên Hòa) vào một ngày trung tuần tháng 10. Ông là Võ Ngọc Hảo, sinh năm 1932 tại Tân Thành, Biên Hòa.
Vào học trường Mỹ nghệ Biên Hòa năm 1945, sau bốn năm học tập, ông tốt nghiệp ban gốm của trường vào ngày 11.07.1949.
Sau khi tốt nghiệp, ông ra làm thợ cho Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa đến năm 1961, sau đó ông làm cho công ty cấp nước thành phố đến khi nghỉ hưu.
Hiện nay, ông sống tại Bình Lục, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai. Tại Cù Lao Phố, vào một ngày tháng 10.2007, hai người nghệ nhân mỹ nghệ Biên Hòa năm nào, sau nhiều năm xa cách, ngày nào lên gắn những phù điêu tóc hãy còn xanh nay mái đầu đã bạc.
Gặp lại, hai ông ôn lại những kỷ niệm năm xưa về mái trường Mỹ nghệ, nay chỉ còn trong ký ức. Và nhớ lại những ngày đi gắn những bức phù điêu, đó là những kỷ niệm không thể nào quên.
Người viết bài này được phép ngồi cạnh hai vị nghệ nhân, dịp này xin thuật lại đôi điều về những ký ức đó!

Ký ức còn lại

Phù điêu hình bò và heo (cửa Đông)
Tôi đọc được một trang nhật ký của một nghệ nhân mỹ nghệ Biên Hòa ghi:“Ngày 1.9 (âm lịch) mưa cả ngày. Qua ngày 2.9 nước lên lẹ cấp kỳ. Nước xuống lần cho tới ngày 17.9. Đâu về đó”. Đó là những dòng chữ ghi lại nhật ký trận lũ lịch sử Nhâm Thìn (1952) tại Biên Hòa.

Phù điêu hình bò và vịt (cửa Đông)

Sau trận lũ lụt Nhâm Thìn, ba ông Phạm Văn Ngà (Ba Ngà), Nguyễn Trí Dạng (Tư Dạng) và Võ Ngọc Hảo được Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa cử lên Sài Gòn để gắn những bức phù điêu chợ Bến Thành. Những bức phù điêu này được nhà thầu chợ Bến Thành đặt trường Mỹ nghệ Biên Hòa làm. Thầy Lê Văn Mậu được giao sáng tác theo đơn đặt hàng, được sự giúp của những người thầy và những nghệ nhân lành nghề bên Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa như: Sáu Sảnh, Tư Ngô, Hai Sáng, chủ Thạch, anh Tóc… Thầy Lê Văn Mậu sáng tác trực tiếp lên đất, sau đó chỉnh sửa với sự góp ý của những người nghệ nhân. Rồi những bức phù điêu đó, nhằm để tránh những sự vênh méo ở những sản phẩm có độ nung cao như gốm Biên Hòa, chúng được cắt ra theo từng miếng nhỏ riêng, để đem mang đi chấm men, đi nung. Lò đốt bằng củi thỉnh thoảng gây “hỏa biến” ở những đồ gốm, đặc biệt có ở những bức phù điêu chợ Bến Thành những màu men trắng ta, trắng ngà ngà vàng mỡ gà rất đẹp,rất hiếm gặp. Do những miếng nhỏ của những bức phù điêu được đặt ở nhiệt độ không đều nhau, tuy trong cùng một lò nung, nên khi ra lò nó có miếng màu nhạt, màu đậm là vậy.

Phù điêu hình cá đuối và nải chuối (cửa Tây)

Trước khi đóng thùng mang lên Sài Gòn bằng những chiếc xe công nhông. Những mẫu gốm của phù điêu chợ Bến Thành được mang từ trường trong (ngày nay là địa điểm trường CĐ Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai) ra sắp ngoài trường ngoài (ngày nay là địa điểm trụ sở UBND tỉnh Đồng Nai), bởi lò nung gốm được đặt ở trường trong. Những mẫu gốm của phù điêu được đem sắp ngay chỗ cột cờ, chỗ văn phòng thầy Mã Phiếu (trưởng phòng hành chánh trường Mỹ nghệ Biên Hòa) bước ra, sắp ra ở đó. Thầy Lê Văn Mậu, chắp tay sau lưng, đi qua đi lại coi xem tấm nào nó bị vênh mới cho đục sau lưng cho nó mỏng để cho nó bằng. Xong xuôi đâu đó mới xếp vào thùng chuyển lên Sài Gòn. Rồi xuống dưới đó, chợ Bến Thành, nhà thầu khi họ xây dựng họ chừa lại những mảng tường cho mình để gắn những phù điêu. Và họ cũng làm sẵn cho mình những giàn giáo, những cô công nhân trộn cho những hồ vữa sẵn để mình chỉ tập trung gắn những phù điêu. Ông Phạm Văn Ngà, người thợ cả chỉ đạo gắn những bức phù điêu cho hai người thợ trẻ, ông Tư Dạng và Hảo, làm những công việc cần làm để gắn những bức phù điêu lên. Từng tấm, từng tấm, gắn từ những tấm ở dưới trước rồi dùng những cây chỏi để giữ cho nó gắn chặt với hồ vữa, đến khi hoàn thành một bức phù điêu, kiểm tra lại xem chổ nào còn hở thì trét hồ cho kín. Nhìn thấy công việc cũng không khó khăn lắm, cộng với nhiều công việc đang đợi mình ở Biên Hòa, nên ông Ba Ngà về trước, để lại những tấm phù điêu đó cho hai người thợ trẻ tiếp tục công việc.
Phù điêu hình bò và cá (cửa Nam)
Những thuận lợi ban đầu, khi ở Sài Gòn họ tạo điều kiện cho mình, nhưng bên cạnh đó gặp cũng không ít khó khăn. Ở cái cửa chính kế ga xe lửa, chổ này về khuya cá biển về họ mần rầm rầm hơi nó bốc lên mà nó hôi tanh, muốn ói vậy, trong khi đó mình phải ngủ trên… những chiếc đồng hồ nơi cửa chính này. Ban ngày thì nắng chang chang, sáng có sương mù tối đến mưa phùn, những giấc ngủ lạnh buốt là thế nhưng những người nghệ nhân Biên Hòa này luôn cố gắng để hoàn thành công việc được giao. Theo trí nhớ của hai nghệ nhân gốm, thì thời gian hoàn thành 12 bức phù điêu cho bốn cửa của chợ Bến Thành khoảng hai tháng trở lại chứ không có hơn, cũng mau lắm!
Phù điêu hình vịt (cửa Bắc)
Khi những bức phù điêu đã tương đối hoàn tất thì người thợ cả Ba Ngà xuống xem, chỉnh sửa lại đôi chổ còn thiếu sót. Hai người thợ trẻ hoàn thành công việc được giao, họ phấn khởi, đó là những kỷ niệm một thời nay khó phai mờ trong ký ức!

Lê Văn Mậu – tác giả những bức phù điêu.

Lê Văn Mậu (1917 – 2003) là một nhà giáo nhân hậu và một điêu khắc gia tài hoa. Sinh năm 1917 tại Vĩnh Long. Năm 1930, lên Sài Gòn ở nhà người cậu là bác sĩ Quế để học trung học. Sau khi đậu Diplôme vào năm 1934, Lê Văn Mậu lên Biên Hòa xin học điêu khắc trong dịp hè với ông Balick, hiệu trưởng trường Mỹ nghệ. Ông bà Balick là thân chủ bác sĩ Quế nên rất quí thầy và sắp xếp cho thầy ở Cù Lao Phố. Khi ông Balick hứa sẽ xin cho thầy học bổng học trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương thì thầy quyết định bỏ học ban tú tài mà theo học trường Mỹ nghệ. Trong thời gian học ở đây, những mẫu sáng tác của thầy được Hợp tác xã Mỹ nghệ Biên Hòa chọn để đưa vào sản xuất. Sau những năm tháng học tập, thầy đậu hạng nhất kì thi tốt nghiệp khóa ngày 2.7.1937.
Đoàn Trường Kỹ thuật Biên Hòa tham dự khóa hội thảo về giáo dục năm 1965 tại Sài Gòn (Lê văn Mậu đầu tiên, bên trái) 

Được ông Balick giới thiệu, cuối năm 1937, thầy đã vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương không phải qua thi tuyển. Năm 1940, báo Pháp La volonté indochinoise nhận xét phê bình: “Tác phẩm Đám rước của ông Mậu, do cách bố cục và sự tìm tòi trong cách thể hiện, đã báo hiệu một nghệ sĩ tài năng”. Sau nhiều trăn trở tính suy, mùa hè năm 1942, thầy quyết định thôi học một năm trước khi thi tốt nghiệp, ông hiệu trưởng E. Jonchère cho thầy một chứng chỉ với nhận xét rất tốt.
Theo thư mời của ông Balick, Lê Văn Mậu trở thành giáo viên dạy môn điêu khắc và môn vẽ cho trường Mỹ nghệ Biên Hòa kể từ năm 1944, là người thế chân cho thầy Nhứt (Đặng Văn Quới) nghỉ hưu. Từ đó thầy gắn bó với trường Mỹ nghệ, với Biên Hòa tròn nửa thế kỷ. Cuộc đời nhà giáo của thầy phẳng lặng êm đềm. Năm 1963, thầy được cử làm hiệu trưởng trường Mỹ nghệ Biên Hòa, nhưng với tên mới là trường Kỹ thuật Biên Hòa.
Năm 1973, trường Kỹ thuật Biên Hòa có sự xáo trộn, thầy xin thôi chức hiệu trưởng và thầy thuyên chuyển về trường Quốc gia Cao đẳng Mỹ thuật Sài Gòn làm giảng viên môn điêu khắc. Sau 1975, thầy tiếp tục dạy tại trường cũ, nhưng có tên mới là ĐH Mỹ   thuật Tp.HCM, cho đến khi nghỉ hưu.
Ông Nguyễn Hoàng, hiệu trưởng nhận xét: “Ông là người thầy đã đóng góp nhiều công sức để đào tạo cho đội ngũ điêu khắc ở miền Nam trước và sau giải phóng”.
Trong sự nghiệp sáng tác của mình thầy Lê Văn Mậu đã sáng tác hàng trăm tác phẩm lớn nhỏ. Hiện nay được lưu giữ trân trọng tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Đồng Nai, sưu tập tư nhân trong và ngoài nước. Chỉ xin kể một số tác   phẩm tiêu biểu của thầy: Đức mẹ Maria (1951, Nhà thờ Biên Hòa), Napoléon xem binh thư (1954, Pháp), Phật Thích Ca(1954, Chùa Xá Lợi), Bóng xế tà (1964, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh), Đại thần Phan Thanh Giản (1964, Vĩnh Long), Tượng trưng tài nguyên và kinh tế Biên Hòa (1967), Anh hùng Nguyễn Trung Trực (1968, đặt trước chợ Rạch Giá), Đài phun nước Cá hóa long (1968 – 1970, Công trường Sông Phố, Biên Hòa), Hùng Vương dựng nước (1989, Khách sạn Continental, Thành phố Hồ Chí Minh)… Thầy ba lần làm tượng VIP đáng nhớ: tượng Cựu hoàng Bảo Đại (1948), tượng Tổng thống Ngô Đình Diệm (1959) và tượng Bà Sáu Thiệu (1970-1973).  Và thầy đã sáng tác rất nhiều mẫu mã phục vụ cho những sản phẩm gốm mỹ nghệ Biên Hòa.

Bài và ảnh sưu tầm của : Cựu sinh viên trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí

----------

Điều cần thiết: Viết di chúc. (WILL)



VIẾT DI CHÚC (WILL)

Đối với phong tục tập quán người Việt Nam nói riêng, chúng ta không bao giờ muốn đề cập tới sự chết chóc trong khi chúng ta còn khỏe mạnh yêu đời. Do đó khi nói đến vấn đề viết di chúc hay mua bảo hiểm nhân thọ là nói đến sự chết cho nên chẳng ai thích thú quan tâm gì đến hai vấn đề này. Hơn nữa con cái trong gia đình hay cha mẹ rất e ngại khi phải đề cập đến vấn đề viết di chúc. Vì nếu con cái yêu cầu cha mẹ viết di chúc thì lại sợ cha mẹ sẽ hiểu lầm là con cái muốn cho cha mẹ chết sớm để thừa hưởng gia tài; còn cha mẹ đề cập vấn đề này với nhau thì lại sợ hiểu lầm nhau là người này muốn cho người kia chết trước vì trong lòng không còn thương yêu nhau nữa. Đấy là chưa kể một số người rất tin dị đoan là đang tự nhiên khỏe mạnh mà đề cập đến việc viết di chúc thật đúng là một điềm gở, báo hiệu sự chết chóc sắp xảy ra trong gia đình.

Hãy nghĩ lại tất cả các lý do thầm kín tại sao chúng ta cố tránh né việc viết di chúc vừa nêu trên, không phải là một điều đáng trách, trái lại nhiều khi lại là một điều rất đáng quý. Vì thật sự chúng ta không muốn viết di chúc là bao hàm một yếu tố tình cảm thắm thiết gia đình và sợi giây thân ái sống chung hàng ngày đã ràng buộc mỗi người trong gia đình đều tin cậy và hi sinh cho nhau. Nhỡ có mệnh hệ nào cha mẹ hay một trong hai người chết đi thì của cải để lại vẫn được giữ lấy để cho cả gia đình đều đồng hưởng, hoặc nếu cần phải chia đồng đều cho mọi người trong gia đình thì sẽ được giải quyết bằng đường lối tình cảm êm đẹp chứ không theo đường lối đem nhau ra pháp đình để được xét xử như chúng ta vẫn thường thấy xẩy ra ở những xứ Âu Mỹ này. Tuy nhiên chúng ta vẫn không quên câu do cha ông chúng ta thường nói: “nhập gia tùy tục”. Tất cả chúng ta đã phải rời bỏ quê hương yêu dấu của chúng ta để đến đây tìm tự do và lập nghiệp, lập lại cuộc đời thì chúng ta cũng nên hội nhập những gì tốt đẹp mang tính cách phổ quát và thực sự hữu dụng cho chính bản thân chúng ta. Một trong những điều tốt đẹp đó mà chúng tôi muốn nói ở đây là vấn đề viết di chúc.

Viết di chúc là một phương cách hết sức thực tiễn và thông thường ở xứ này. Như quý độc giả đã rõ, sống trong một nước có quá nhiều nhu cầu vật chất cũng như có quá nhiều phương tiện văn minh vật chất, mọi người trong chúng ta nên đề phòng và sẵn sàng thích nghi với mọi hoàn cảnh bất trắc khác thường có thể xảy đến cho cả gia đình hay cho cá nhân trong gia đình mà không một ai trong chúng ta có thể lường trước được. Chẳng hạn như những dịp lễ Giáng Sinh, các ngày lễ nghỉ lớn của Hoa Kỳ v.v.. Có biết bao nhiêu người chết bất ngờ vì tai nạn xe cộ hay vì rớt máy bay. Ngoài ra còn nhiều người chết bất đắc kỳ tử vì bệnh đau tim (heart attack) hoặc vì những chứng bệnh thiên thời quái đản (AIDS) v.v… mà ngành y khoa vẫn chưa tìm ra được những nguyên nhân để chữa trị cho bệnh nhân. Chúng ta nên biết những người chết bất ngờ như vậy nếu không có di chúc để lại thì của cải của họ như nhà cửa, xe hơi, tiền bạc trong ngân hàng v.v.. con cái của họ hay người phối ngẫu còn sống cũng không có quyền tự động dễ dàng để thừa hưởng những của cải đó mà tất cả những của cải đó sẽ bị quản thủ bởi tòa án, chờ phiên tòa phán xử rồi con cái hay người phối ngẫu mới được quyền thụ hưởng, bất kể đến nhu cầu cấp bách cần phải sử dụng của cải đó để lo liệu cho người chết cũng như cho người còn sống. Vì theo luật lệ khắt khe của đa số tiểu bang, nếu người chết không để lại di chúc thì tất cả của cải nhiều hay ít của người quá cố để lại đều do tòa án tạm thời quản thủ và tất cả những thân nhân trong gia đình còn sống như con cái, người phối ngẫu đều phải chờ đợi cho tới khi nào tòa phán quyết xong mới được quyền thụ hưởng phần tài sản được phân chia cho từng người và tất cả phí tổn tiền tòa và luật sư sẽ được khấu trừ vào của cải của người quá cố để lại.

Chúng ta nên nhớ rằng nhiều khi tổn phí cho toà và cho luật sư còn đắt gấp trăm ngàn lần hơn là trả một số tiền nhỏ cho luật sư viết di chúc khi chúng ta còn sống. Hơn nữa nếu có di chúc, tài sản của người quá cố để lại dù nhiều hay ít, những người thân yêu trong gia đình còn sống cứ thế mà tự thi hành những điều khoản đã ghi trong di chúc, không cần phải nhờ đến luật sư biện hộ và chờ tòa phán xử mới có quyền thụ hưởng những tài sản đó.

Cũng theo luật lệ của nhiều tiểu bang, nếu người quá cố không để lại di chúc thì tất cả tài sản của người quá cố sẽ được phân chia làm đôi. Một nửa tài sản dành cho người phối ngẫu còn sống và một nửa tài sản sẽ chia đồng đều cho con cái còn sống. Nếu con cái dưới tuổi vị thành niên, phần tài sản dành cho các người con này sẽ do tòa án chỉ định ai là người được quyền thay mặt các em để chi dụng phần tài sản đó, chi tiêu cho các em về ăn uống và giáo dục.

Vậy điều tốt hơn hết là mọi người chúng ta từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt giàu nghèo, có tài sản nhiều hay ít, đều nên nhờ một luật sư viết di chúc cho chúng ta. Viết di chúc đòi hỏi người viết phải dựa theo một khuôn mẫu gồm những từ ngữ chuyên môn về pháp lý mà chỉ có luật sư mới là người am tường vấn đề viết di chúc cho đúng cách, vừa theo đầy đủ ý muốn của thân chủ và đồng thời nội dung của bản di chúc lại phải hợp với các tiêu chuẩn pháp luật hiện hành. Chúng ta không cần thiết phải nhờ đến những luật sư chuyên môn hay nổi tiếng để viết di chúc cho chúng ta. Bất luận luật sư nào dù mới ra trường cũng có thể viết di chúc cho chúng ta được và tiền phí tổn cho luật sư sẽ từ 50 mỹ kim trở lên tùy theo nội dung phức tạp của bản di chúc.

Một điều nên biết rằng có một vài trường hợp xảy ra vì lý do thầm kín nào đó người quá cố đã không để trong di chúc chia phần tài sản cho người phối ngẫu còn sống hoặc cho người con nào đó còn sống thì người phối ngẫu và người con đó vẫn có quyền nhờ luật sư đưa nội vụ ra tòa xét xử để đòi phần chia một phần nào tài sản cho mình theo quyền thụ hưởng ngẫu nhiên.

Tóm lại việc viết di chúc là một điều tối cần thiết và rất thực tiễn trên xứ này cho tất cả mọi người chứ không phải cho những người giàu của cải mới cần phải viết di chúc như nhiều người thường nghĩ. Đã có khá nhiều trường hợp xảy ra cho một số người Việt Nam khi chết đi không để lại di chúc trong lúc người phối ngẫu còn sống ở quê nhà nên tất cả tiền của của người quá cố đã bị cô lập và quản thủ bởi tòa án để chờ ngày phiên tòa xét xử. Trong khi đó, người vợ còn sống không có một lợi tức nào khác để bù đắp lo việc ma chay cho tốt đẹp hơn theo nguyện ước của cả gia đình. Trong những trường hợp như vậy sẽ tạo ra biết bao nhiêu điều rắc rối lôi thôi và nhiều thủ tục phức tạp phải thi hành để tang gia mới được phép rút ra một số tiền nhỏ của người quá cố để lại tạm thời chỉ vừa đủ trả tiền phí tổn chôn cất người quá cố.

Nói riêng những người Thiên Chúa Giáo sớm tối vẫn thường năng đi xưng tội rước lễ hầu lo cho linh hồn mình được sạch tội lỗi, để nhỡ có chết bất ngờ còn hy vọng được lên thiên đàng hưởng mặt Chúa, thì vấn đề viết di chúc cũng là một phương tiện rất thiết thực nhằm chuẩn bị các tiện nghi sẵn có do Chúa ban cho mình ở đời này, chuyển nhượng những tiện nghi đó sang cho những người thân yêu còn sống sót tránh được nhiều sự rắc rối khó khăn có liên quan đến pháp lý trong việc thừa hưởng các tài sản của người quá cố để lại, đồng thời còn tránh được nhiều điều phức tạp không mấy tốt đẹp có thể xảy ra trong gia đình người quá cố mà khi còn sống không ai có thể ngờ được.



PT Nguyễn Mạnh San

Hỗn danh “dân chơi cầu Ba Cẳng”

Từ đâu có hỗn danh “dân chơi cầu Ba Cẳng”?

Trong thế giới ngầm, thế giới ăn chơi, để phân biệt đẳng cấp và vị trí của người chơi, giới chơi và cách chơi, giang hồ thường đặt cho một hỗn danh để ngầm quy ước vai trò quan trọng hay thể hiện đúng vị thế, dấu ấn của dân chơi.
Hỗn danh “dân chơi cầu Ba Cẳng” ra đời trước năm 1975 và lưu truyền đến nay để nhắc về một lớp đàn anh “ngang trời dọc đất” nhưng dám chơi mà không dám chịu, đụng chuyện thì tránh né. Hỗn danh này còn được gắn cho một tay anh chị do Mã Ban cầm đầu một nhóm ăn chơi thuở xưa, nhưng sau đó gác kiếm, rút lui khỏi giới giang hồ về với đời thường một cách lặng lẽ.
Cầu Ba Cẳng không còn cẳng nào
Trước hết phải khẳng định cầu Ba Cẳng là một cây cầu có thật. Theo bút ký của nhà văn Trương Đạm Thủy, vùng Q.6, Chợ Lớn cách đây mấy mươi năm có một cây cầu bằng sắt có hình dạng rất lạ, có ba chân. Vì cầu chẳng có cái tên chính thức nào như cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Nhị Thiên Đường, cầu Tân Thuận… nên người dân lấy hình mã đặt tên, tức cầu Ba Cẳng. Ngày ngày, dân bụi đời ưa tụ tập ở đó để cờ bạc, đá gà, ăn nhậu gây mất trật tự và vẻ khó coi cho khu Chợ Lớn mới. Đêm đêm dân chơi đi… “bắt bò lạc” là mấy em gái ăn sương cũng thường coi cầu Ba Cẳng là điểm hẹn để tìm một đêm vui. Vì thế mà cái tên “cầu Ba Cẳng” lần hồi đã trở nên nổi tiếng. Đi xa hơn, loại dân chơi nào bị coi là chơi không đẹp, chơi nhếch nhác, chơi thiếu… mỹ quan thì bị thiên hạ gán cho cái tên “dân chơi cầu Ba Cẳng”.

-
Cầu Ba Cẳng (Chợ Lớn). Ảnh: Tư liệu
Còn theo ghi chép của Hội những người yêu Sài Gòn, trước 1954, thành phố Sài Gòn thường quen được gọi là “Sài Gòn - Chợ Lớn” để phân biệt như hai khu vực. Một vùng do đại đa số người Việt sinh sống, còn vùng kia là người Việt gốc Hoa buôn bán làm ăn phát triển (từ Q.5 tới Q.11, trừ Q.9 thành lập sau này thuộc vùng Sài Gòn).
“Cầu Ba Cẳng” thuộc vùng Chợ Lớn bắc qua một cái vàm (ngã ba kinh rạch) của kinh Hàng Bàng, do quan Khâm sai người Pháp (không nhớ tên và thời điểm) ra lệnh xây dựng. Lúc đầu mang tên cầu Khâm Sai. Do một trận hỏa hoạn lớn ở đường Gia Long, người ta đổ xô lên cầu chen lấn, đứng xem quá đông khiến cầu bị sập. Sau đó cầu được xây lại thành ba nhánh bằng bê tông cốt sắt vững vàng hơn. Dân chúng trong vùng không còn gọi là cầu Khâm Sai nữa mà gọi theo hình dáng xây dựng là “cầu Ba Cẳng”. Cầu nằm cuối đường, phía sau chợ Kim Biên P.13, Q.5, thuộc Chợ Lớn. Cầu Ba Cẳng nay không còn nữa. Xưa, cầu ở đầu đoạn rạch Bãi Sậy, sau đó được lấp thành đường Bãi Sậy và Phan Văn Khỏe, Q.6. “Cầu Ba Cẳng” nằm ở khúc rẽ phải ra kênh Tàu Hũ, hai chân nằm ở bến Bãi Sậy và bến Nguyễn Văn Thành, còn chân kia ở bến Vạn Tượng. Cầu tồn tại đến năm 1990 thì bị sập hoàn toàn.
Dân chơi "Hồng Kông bên hông Chợ Lớn"
Hỗn danh “dân chơi cầu Ba Cẳng” ngụ ý là dân giang hồ không có tính toán, mưu lược, chơi ẩu, cứ thấy có chuyện gì lạ là nhào ra xía vô, không nghĩ gì tới lợi hại, như kiểu thấy hỏa hoạn ở tuốt đường Gia Long rồi kéo nhau lên cầu coi cho thỏa ý tò mò tới độ cầu bị sập, sinh ra tai nạn. Khi nói “dân chơi cầu Ba Cẳng” còn một ngụ ý khác nữa, ám chỉ là dân giang hồ dám làm mà không dám chịu, chuyên tránh né, không dám hiên ngang chống đỡ với đối lực, từ câu chuyện kể. Năm 1955, có một đám côn đồ sau khi làm việc phi pháp bị hai cảnh sát rượt đuổi. Chúng chạy lên cầu Ba Cẳng. Vì cầu có ba hướng lên xuống mà cảnh sát chỉ có hai người, do đó chỉ chặn được hai ngả. Bọn này cứ như chuột, lúc nào cũng có ngả hở thoát thân. Tóm lại, các dạng dân chơi chuyên lừa đảo để kiếm tình, kiếm tiền, dụ khị đàn ông, lừa bịp đàn bà, theo các dạng bát nháo trên đều có thể liệt vào hạng “dân chơi cầu Ba Cẳng”.


Ảnh: Tư liệu
Sài Gòn trước 1975, dân chơi tứ chiếng tràn ngập và là mảnh đất anh tài hội tụ. Lớp người Hoa thời kỳ đó rất nhộn nhịp, bởi Hòn ngọc Viễn Đông lúc đó đâu đâu cũng có những phố xá ăn chơi sành điệu bậc nhất. Sài Gòn lúc đó như chiếc bánh ngọt được các băng nhóm giang hồ chia nhỏ thành lãnh địa riêng rồi phân nhau hùng cứ. Vì vậy, các bậc đàn anh, đàn chị giang hồ nổi lên cát cứ khắp nơi. Chính quyền vô cùng đau đầu, đã lập ra danh sách đen các bậc anh chị có “số má”, với những hỗn danh có tiếng vang để lùng bắt nhằm ổn định an ninh trật tự.
Theo nhiều tài liệu, thời kỳ đó một nữ A xẩm Tiều nán (người Triều Châu) ở gần Chợ Lớn mới (chợ Bình Tây, Q.6, TP.HCM ngày nay) góa bụa giữa lúc nửa chừng xuân. A xẩm đi nấu ăn cho nhà giàu kiếm tiền nuôi đứa con trai lớn tên Mã Ban ăn học. Mã Ban học tiểu học rồi trung học dành cho học sinh người Hoa ở Chợ Lớn. Tuy nhiên, thay vì học hành chăm chỉ thì Mã Ban lại lao vào ăn chơi khiến cho người mẹ nghèo rất buồn khổ. Bị mẹ la mắng nhiều, thương mẹ, Mã Ban quyết định tự lập kiếm tiền để ăn chơi. Không tiền, không nghề nghiệp, Mã Ban thu thập đàn em để làm bảo kê, chuyên xử lý các băng nhóm quậy phá. Có tiền rủng rỉnh, Mã Ban cùng đám đàn em lao vào những cuộc ăn chơi thâu đêm suốt sáng. Thời gian sau, Mã Ban được một đại gia người Hoa quý mến, gả con gái cho. Nhằm giúp Mã Ban trốn quân dịch, người cha vợ lắm tiền nhiều của của Mã Ban đã đút lót cho viên chức cao cấp để Mã Ban trở thành cảnh sát viên của Tổng nha cảnh sát. Từ đó, Mã Ban nổi lên với những cuộc ăn chơi đàn đúm, sử dụng súng rulo bá phát và luôn có những người đẹp nổi tiếng vây quanh.
Sau khi Sài Gòn phỏng giái, năm 1984, Mã Ban đã rũ bỏ nghiệp giang hồ, quay về cùng vợ con, mở nhà hàng ăn uống ở Chợ Lớn. Tuy nhiên, do vẫn còn máu chơi hào phóng nên chẳng bao lâu buôn bán lỗ lã, dẹp tiệm. Từ đó, bắt đầu cuộc sống khó khăn, vợ bệnh, con đau, không tiền bạc, Mã Ban từ một tay anh chị phong lưu trở thành tay trắng. Dân chơi “cầu Ba Cẳng” lại lưu danh thêm một đàn anh vào danh sách để nhắc nhớ quá khứ oanh liệt Sài Gòn - Chợ Lớn ngày xưa

Bài Xem Nhiều