We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 2 October 2015

40 năm hối tiếc một thời lịch sử : Nếu Việt Nam Cộng Hòa tồn tại ?

Nếu Việt Nam Cộng Hòa tồn tại ?

 


Thử nhìn phần còn lại của vùng Đông Nam Á và hãy tưởng tượng Miền Nam Việt Nam đã ra như thế nào. Ngày 30 tháng tư sẽ là ngày kỷ niệm 40 năm Saigon thất thủ.  Bốn mươi năm Hoa kỳ đã bỏ rơi Miền Nam VN, có thể đa số mọi người đều chấp nhận rằng trong lịch sử nước Mỹ, việc can thiệp vào Đông Nam Á là một điều sai lầm.

 

Dư luận quả quyết rằng đó hiển nhiên là một lỗi lầm, và một vài người bảo thủ xem điều đó như một điểm cần bàn cãi.  Khi các nhân vật đảng Cộng Hòa nói về Việt Nam, họ bênh vực cho đám lính tàn ác. Đôi khi cũng co một người nào đó nêu ra chuyện tổng tấn công Tết Mậu Thân như là một chiến thắng của quân đội Mỹ. Đôi khi, biến cố Mỹ Lai cũng được đưa ra như một cách để làm bình quân với hàng nghìn những chuyện tương tự, hoặc tệ hơn, đó là tội ác của Cộng Sản Bắc Việt và MTGPMN.

 

Ít có người nêu ra rằng một khi Creighton Abrams thay thế William Westmoreland làm tư lệnh Lực Lượng Hỗ Trợ Quân Đội Mỹ thì chúng ta bắt đầu chiến thắng trong cuộc chiến – và cũng vì từ chối giữ đúng lời hứa của chúng ta với VNCH sau hội đàm Paris, mà quốc hội đã đẩy Miền Nam VN ra khỏi những chiến thắng quân sự và trở nên bại trận.

 

Thay vì tranh luận những chuyện này, thì tôi xin đơn cử ra vài sự thật về một Đông Nam Á tiến bộ ngày nay. Sau khi chính sách thuộc địa dãy chết vào cuối thế chiến thứ hai, thì Đông Nam Á đã tự chuyển mình.  Hoa kỳ đã ủng hộ 3 chính phủ chống lại cộng sản trong cuộc xâm lăng của chủ nghĩa Maxist: Chúng ta đã ủng hộ Cộng Hòa Trung Hoa (Trung Hoa Dân Quốc) chống lại Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung cộng), chúng ta đã yểm trợ Cộng Hòa Hàn quốc (Nam Hàn) chống lại Dân Chủ Cộng Hòa Hà quốc (Bắc Hàn, Triều Tiên), và chúng ta đã yểm trợ Việt Nam Cộng Hòa chống lại Cộng Sản Bắc Việt (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa).

 

Có nghĩa là: Đài Loan chống lại Trung cộng, Nam Hàn chống lại Bắc Hàn, và Miền Nam Việt Nam chống lại Cộng Sản Bắc Việt. Hai trong số 3 quốc gia “cộng hòa” vừa kể đó đã là những quốc gia phát triển cao nhất, là những xứ thịnh vượng và tự do nhất trên thế giới.

 

Một trong những chỉ trích chính yếu của phe phản chiến chống lại sự yểm trợ của Hoa kỳ đối với Miền VN là vì “chính phủ Miền Nam không có dân chủ”. Điều đó là sự thật, vì chính quyền được điều hành bởi các tướng lãnh với một sự cộng tác của những thành phần dân sự. Tuy nhiên một tiếng nói phản chiến từ dân biểu đảng Dân chủ Leo Ryan lại cho rang:” Mặc dù Miền Nam không hề là thành lũy cho những căn bản dân chủ, nhưng những cáo buộc về "nhân quyền bị vi phạm" ở đây phải nói là đã bị thổi phồng.

 

Đã có những tiếng nói chính trị và báo chí đối lập. Chắc chắn là đã có một số tù nhân chính trị, nhưng những điều đó không có tính phổ quát, và các lãnh tụ đối lập không hề sống trong sợ hãi”.  Điều đáng vui là “kinh tế thị trường” có khuynh hướng đưa đẩy những quốc gia chưa tụ do đi về đúng hướng.

 

Cũng như Việt Nam Cộng Hòa, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) và Nam Hàn cũng đã trải qua thời kỳ độc tài.  Nam Hàn có lúc nằm dưới sự cai trị của Tổng thống Phác Chính Hy, từ cuộc đảo chính năm 1961 cho đến khi ông bị ám sát vào năm 1979. Chính phủ của ông từng đàn áp chính trị, nhưng đã xây dựng được một nền kinh tế vững mạnh, và trở thành nền tảng cho nền dân chủ mạnh mẽ và đó là Nam Hàn của ngày nay.

 

Cũng như thế, Đài Loan cũng được cai trị dưới bàn tay thép của Tướng Tưởng Giới Thạch, cho đến khi ông qua đời năm 1975. Cũng như Phác Chính Hy, chế độ của Tưởng Giới Thạch cũng bị mang tiếng bởi những đàn áp, nhưng cũng đã tạo nên một Đài Loan thịnh vượng – và tiếp nối dưới sự lãnh đạo của người con trai ông là Tưởng Kinh Quốc, thì Trung Hoa Dân Quốc đã chuyển mình là một xứ hoàn toàn có tự do, một quốc gia Cộng Hòa Dân Chủ – nhưng xấu hổ thay, lại bị Liên Hiệp Quốc loại ra ngoài vòng của một quốc gia được công nhận, chỉ vì ngả về một Trung quốc cộng sản độc tài!

 

Tuy nhiên, khi dùng cán cân đo lường của chính Liên Hiệp quốc là “Human Development Index formula (để tính mức sống của người dân) thì Đài Loan là quốc gia thứ 21 phát triển nhất trên thế giới.  Cả Nam Hàn và Đài Loan đều vượt trên những xứ nhỏ tại Âu châu như Áo quốc, Bỉ, Lục Xâm Bảo, Ý Đại Lợi, và Phần Lan.  Riêng Nam Hàn còn vượt quá Nhật Bản, Pháp, và Do Thái.  Mặc dù bị giới hạn những tài nguyên quốc gia, Đài Loan đứng thứ 19 của những xứ có tổng sản lượng quốc gia cao nhất thế giới: 45 ngàn 854 dollars cho mỗi đầu người trong một năm, vượt quá cả Canada, Đan Mạch, Bỉ, Pháp, Anh quốc, Nhật Bản và Ý Đại Lợi.

 

Cũng tương đối ít tài nguyên, mà Nam Hàn cũng đứng thứ 30, vượt trên cả Tân Tây Lan, Tây Ban Nha, và cả hai phần của hai quốc gia trước kia có tên là Tiệp Khắc. Hãy so sánh với các quốc gia cộng sản, Trung cộng nằm kém dưới Đài Loan 70 nấc thang, thua cả Turkmenistan, Algeria, Libya, the Maldives, và Iraq. Còn Bắc hàn thì nằm gần sát đáy, ở dưới cả Zimbabwe, Rwanda và Haiti.

 

Về phát triển nhân lực, Trung cộng cũng nằm dưới Đài Loan 70 nấc thang, thua cả Tunisia, Peru, Grenada, và Azerbaizan. Phát triển nhân lực của Bắc hàn thì quá rõ rang là không thể tính được chính xác. Và so sánh với Cộng Sản Việt Nam hiện đang được Mỹ cho dựa lưng, Việt Nam nằm thứ 122 trên nấc thang phát triển nhân lực, đứng sau Syria, Iraq, Moldova, và Gabon, và đứng thứ 126 trên lợi tức mỗi đầu người, thua cả Congo, Swaziland, Dominica, và Albania. Có lẽ đây là hậu quả của việc chiếm đất dân, đàn áp thành phần giáo chức và trí thức.

 

Quan trọng hơn vấn đề kinh tế, hãy nhìn về cái tự do tương đối của người dân. Đài Loan và Nam Hàn thì có tự do bầu cử, độc lập tư pháp, tự do báo chí, tự do tôn giáo, tự do hội họp, và tự do ngôn luận.  Từ Trung cộng đến anh CS Bắc hàn đề không có những quyền tự do này. Và dĩ nhiên, cả Việt Nam CS cũng vậy, khi mà Đảng nắm hết quyền tuyển và bầu cử, tòa án, và còn tiếp tục bắt bớ cầm tù liên hệ đến chính trị và tôn giáo.

                                                                      

Hãy tưởng tượng nếu Việt Nam Cộng Hòa còn tồn tại, thì ngày nay sẽ ra sao. Việt Nam đang đứng thứ 13 về dân số thế giới với hơn 90 triệu người. Khoảng phân nửa dân số này có thể là đang sống trong một ít tự do, thịnh vượng nào đó như Nam Hàn và Đài Loan. (có thể còn thịnh vượng hơn vì nguồn tài nguyên còn dồi dào hơn là Nam Hàn và Đài Loan, vì mỏ dầu hỏa ngoài khơi. Vỡ lẽ ra, như người ta thường nói, chuyện rõ như ban ngày – và như vậy, hoàn toàn không dính dáng gì đến hoàn cảnh của những năm ’60 hay ’70, thì trong năm 2015 này, đã tỏ tường rằng chuyện Hoa kỳ chiến đấu bảo vệ Miền Nam là điều đúng và cần phải làm.

 

Và đã đến lúc càng nhiều người nói về chuyện đó – đặc biệt là các chính trị gia và những nhà giáo dục Hoa kỳ, và cũng đặc biệt là các cựu chiến binh chiến đấu tại VN đã ngày càng già thêm. Và bởi vì, 40 năm sau ngày Saigon thất thủ, chúng ta nên thấm nhuần một bài học về cái giá quá đắt phải trả, khi nước Mỹ đã từ chối không chịu đánh cho ra trò cho một cuộc chiến đầy chính nghĩa.

 

Người dịch: Tường Giang

--------------------------------------------


Hình nh Cũ Nhng Đa Danh Ca VNCH
Cn Thơ Ngày Cũ
 
Cam Ranh 1966-1972
 
Sài Gòn 1950 – 1975
 
Vĩnh Long Ngày Cũ
 
Nha Trang ngày cũ
 
Dalat ngày cũ
 
Pleiku ngày cũ
 
Ban Mê Thut ngày cũ
 
Phan Rang ngày cũ
 
Quy Nhơn ngày cũ
 
Bình Đnh ngày cũ
 
Vũng Tàu ngày cũ
 
Bình Dương ngày cũ
 
Biên Hòa
 
Th Đc – Dĩ An
 
Qung Tr
 
Huế xưa
 
Qung Nam
 
Qung Tín
 
Qung Ngãi
 
Phước Tuy
 
Bình Long & Phước Long
 
Hu Nghĩa
 
Long An

Sông Chẩy Đôi Dòng





Cả dòng sông dài thương nhớ
Nửa tay cầu vai nghiêng
(Trần Dạ Từ)

Nước Việt Nam của tôi có trên hai ngàn con sông và kênh. Tổng cộng chiều dài của sông, nếu đem nối vào nhau thì được gần bốn mươi hai ngàn cây số, nhưng mới khai thác khoảng hơn tám ngàn cây số.(*) Sông chẩy ngang, chẩy dọc từ Nam Quan đến Cà Mâu. Có sông thì phải có cầu, đã biết bao nhiêu cây cầu được bắc qua những dòng sông đó. Có những cây cầu làm nên thương nhớ, có những cây cầu chỉ là duyên cớ cho một nỗi bâng khuâng. Có những cây cầu chở những mồ hôi nước mắt và nhọc nhằn của người dân lam lũ, ngày hai lượt đi về kiếm sống cho gia đình. Có những cây cầu được sơn bằng máu và rửa bằng nước mắt của người dân vô tội, chết tan xác vì một trái bom gài dưới chân cầu, hay chết giữa lằn đạn của hai phía đầu cầu bắn đến. Nước ở dòng sông mầu xanh hay sắc đỏ, còn tùy khúc sông chẩy qua đó có bao nhiêu xác trôi qua, có bao nhiêu giấc mơ thả xuống.


Trong hai chục năm “Nội chiến từng ngày” những thân cầu đã nát tan vì nhận biết bao nhiêu mảnh đạn, vỏ bom của Trung Cộng, của Nga của Mỹ và đã ôm ấp bao nhiêu xác của dân lành. Nước của mỗi con sông lớn nhỏ đã hòa bao nhiêu máu lệ oan khiên. Nhưng trong dòng oan khiên đó những cây cầu ở quê tôi vẫn mang đến cho tuổi thanh xuân của chúng tôi bao nhiêu điều thơ mộng.

Bây giờ là tháng sáu
Quê hương đang mùa mưa
Mưa trên cây cầu cũ
Mưa trên dòng sông xưa
Cây cầu thời thơ dại
Dòng sông thời mộng mơ
Cô nữ sinh trung học
Thả bao nhiêu bài thơ
(1)

Mỗi dòng sông lớn, mỗi con kênh nhỏ; từ chiếc cầu xây bê tông cốt sắt, cốt thép cho đến cây cầu khỉ bằng những thân tre gầy guộc, đều chứng kiến không ít thì nhiều vào vận nước đổi thay

Những cây cầu chính của cả ba miền, khi nói đến tên thì ai cũng biết, vì nó đánh dấu một đoạn thời gian khói lửa, nó có tên trong những trang sử của quê hương.


Cầu Hiền Lương

Cầu chữ Y, cách chợ Bến Thành hai cây số, ở miền Nam là chiếc cầu có hai chân xoạc ra hình chữ Y bắc giữa hai con kênh Bến Nghé và kênh Tẻ. Chân cầu này đã có lúc là nơi trú ẩn của những người ăn mày, của các đứa trẻ đánh giầy, của những người phiêu bạt ngã vào nhau làm thành một cái gia đình không nhà không cửa, đến dăng lên cái bạt hay dựng máy tấm bìa xé ra ở một cái thùng giấy làm mái che. Có những đứa bé oe oe khóc tiếng chào đời ngay dưới chân cầu này. Ngược dòng lịch sử, chiếc cầu này đã hứng bao nhiêu mảnh đạn trên thân thể từ thời Bình Xuyên Bẩy Viễn và chính phủ Ngô Đình Diệm (1955). Nó đã ôm bao nhiêu xác dân, xác lính (cả hai miền Nam Bắc) trong trận Mậu Thân (1968).

Cầu TràngTiền bắc trên sông Hương sáu vày, mười hai nhịp đi vào văn học, vào trái tim của nam thanh nữ tú, của hẹn hò, của hình ảnh, với những bài thơ tình rất Huế, đã làm cho người miền Bắc, người miền Nam ngẩn ngơ mong ước được đi trên cây cầu đó ít nhất một lần trong đời. Cầu Tràng Tiền là linh hồn của thành phố Huế, hay nói đơn giản, là Huế.

Áo trắng hỡi thuở tìm em không thấy
Nắng mênh mang mấy nhịp Tràng Tiền
Nón rất Huế nhưng đời không phải thế
Mặt trời lên từ phía nón em nghiêng
(2)

Để rồi trong trận Mậu Thân, súng đạn và tội ác cũng làm nhịp cầu gẫy gập.“Cầu thân ái đêm nay gẫy một nhịp rồi/Nón lá buồn khóc điệu Nam Ai tiếc thương lời vắn dài…” Không phải chỉ đơn giản như vậy, mà sau nhịp cầu gẫy đó là hàng hàng, lớp lớp, những nấm mồ chôn tập thể, cả thành phố Huế quấn khăn tang, và nỗi oan khiên đó người miền Trung và người miền Nam không bao giờ quên được. Cầu Tràng Tiền ôm mặt khóc. “Vì sao không thương mến nhau còn gây khổ đau là lỡ nhịp cầu”(3)

Cầu Long Biên bắc qua sông Hồng ở miền Bắc trong trận chiến Bắc Nam đã hứng mười bốn lần bom Mỹ dội xuống, làm gẫy bẩy nhịp và bốn trụ chân (1965-1972) Đây cũng là giai đoạn người dân miền Bắc phải đi sơ tán. Con sông Hồng nước có đỏ thêm không, khi mỗi lần bom trút xuống? Một ngôi chợ Long Biên không cách xa cầu bao nhiêu là ngôi chợ lớn thứ hai của Hà Nội, sau chợ Đồng Xuân, ngày nay là nơi hàng nhập cảng của Trung Quốc nhiều hơn hàng trong nước. Từ quần áo, máy móc cho đến trái cây, rau cỏ. Chân cầu Long Biên cũng là nơi những người nghèo khổ dùng làm chỗ nương thân. Cũng có những mái lều bằng lá, bằng bạt đắp điếm lên nhau để được gọi là “Cái nhà” và những đứa bé sơ sinh (không có giấy khai sinh) cũng được lớn lên từ đó.


Cầu Long Biên

Nhưng chiếc cầu ghi dấu đậm nhất trong lịch sử Việt Nam là cầu Hiền Lương trên sông Bến Hải. Đối với người Việt của cả hai miền Nam Bắc, cầu Hiền Lương là một chứng tích đau thương nhất của cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Nó làm cho người dân Việt nhớ đến bài học lịch sử của thời Trịnh Nguyễn phân tranh; “Ôi Việt Nam cùng Việt Nam gây hấn/Muôn ngàn xưa để hận cho dòng sông…/Ôi Việt Nam nơi nồi da sáo thịt/Nơi con Hồng tàn phá giống Lạc Hồng…”

Ranh giới chia cắt hai miền Nam Bắc là huyện Gio Linh, và huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị. Cả cây cầu và dòng sông cùng trải ra như một tấm da người nhận kín những vết chàm xăm lịch sử.

Ta hãy cúi nhìn xuống vết chàm xăm đó: Sông Bến Hải dài một trăm cây số (100km), bề ngang, chỗ rộng nhất là hai trăm thước (200m), chỗ hẹp khoảng hai mươi đến ba mươi thước. Cây cầu Hiền Lương nguyên thủy có từ 1928. Sau bao lần mục nát, được Pháp xây lại (khoảng1950-1952) bằng những cột sắt có chữ Made in England và ván thông sàn tầu có chữ Made in US , thợ xây cầu là lính công binh viễn chinh Pháp. Như vậy chiếc cầu chia cắt người Việt hai miền được xây bằng những bàn tay ngoại nhân và dùng vật liệu của ngoại quốc. Cầu dài 178 thước, có 7 nhịp, rộng 4 thước. Cầu chia ra là hai phần, Miền Bắc có 450 tấm ván, miềm Nam có 444 tấm. Ván cầu về miền Bắc sơn đỏ, của miền Nam sơn xanh. Giữa hai phần xanh đỏ đó là một cái nẹp sắt phân chia bề ngang rộng mười phân (10cm). Chao ôi, chỉ có mười phân thôi mà hơn hai mươi năm không với được nhau!

Trong một bài viết “Khi Những Dòng Sông Chẩy Thành Âm Nhạc” tác giả Phương An có cho chúng ta biết ảnh hưởng của sông Bến Hải đi vào âm nhạc như thế nào:
“Vĩnh Cát viết Bạn ơi hãy nghe bến Hải tâm tình: "Dòng bến Hải nước xanh xanh mằn mặn. Có từng đàn cá bạc nhảy tung tăng. Dòng sông hẹp sóng êm êm phẳng lặng. Có sẵn đò mà chẳng được sang ngang ...". Trần Viết Bính không nêu địa danh nhưng cũng tả rõ về con sông giới tuyến ấy qua "Nhà em ở phía bên sông, nhưng dòng sông từ ngày có kẻ ngăn đôi, cho tình ta bên này bên ấy rời xa ..."


Tôi bỗng nhớ đến những dòng nước không bao giờ hòa làm một trong thiên nhiên như lằn ranh giữa nước ngọt và nước mặn nơi cá hồi (salmon) về nguồn, như dòng nước nóng và lạnh của con sông Ohio (ở nước Mỹ) người ta phải cho nước nóng vào mùa đông và nước lạnh vào mùa hạ cho cá sống. Những nguồn nước này chẩy song song và không bị hòa tan trong nhau nhưng không gây ra một thảm họa nào cho con người, không chia cắt thịt xương đồng chủng.


Cầu Trường Tiền

Đã bao nhiêu lần cả hai bên cùng sơn đi sơn lại những tấm ván bên phía của mình. Hai mươi năm huynh đệ tương tàn. Người được kẻ thua sau 35 năm vẫn ngun ngút hận thù. Miếng nẹp ngăn đôi bây giờ, chắc đã được tháo ra, những tấm ván chắc đã được sơn chỉ một mầu, nhưng nước sông Bến Hải ngàn năm lững lờ chẩy một dòng xuôi đó có mầu gì khi đã bao nhiêu năm nó được nhuộm bằng máu và nước mắt. Ta có thể quên cây cầu đó đi, vì gỗ sẽ mục nát với thời gian, nó được thay thế bằng cây cầu đúc xi măng cốt thép. Nhưng làm sao thay được nước dòng sông Bến Hải. Dòng sông đó trước đây đã nhận bao nhiêu lá thư thả xuống của bờ bên nọ nhớ bãi bên kia. Đã nhận bao nhiêu tờ bươm bướm kêu gọi lòng người thu về một mối. Nhưng cuối cùng sông nước đó vẫn chia hai, máu của những người dân, người lính miền Bắc và máu của những người dân, người lính miền Nam vẫn chia làm hai dòng chẩy. Nó vẫn chẩy song song nhưng không bao giờ hòa làm một. Phải chăng, nước mắt bên này mặn hơn nước mắt bên kia, hay máu bên này đỏ hơn máu bên kia?

Bà mẹ Gio Linh thời Pháp thuộc đã “Nghẹn ngào không nói một câu/Mang khăn gói đi lấy đầu/Đường về thôn xóm buồn teo/Xa xa tiếng chuông chùa reo…” (4)

Bà mẹ Vĩnh Linh bao nhiêu lần chứng kiến tù binh Bắc Việt được gửi trả về từ phía bên kia dòng sông.Tấm hình có dòng chữ “Anh về đất Bắc bình an” dăng ngang ngay đầu cầu Hiền Lương của huyện Gio Linh là một chứng tích cho những ai muốn chối bỏ.
Bà mẹ Gio Linh, bà mẹ Vĩnh Linh bây giờ cũng chỉ còn là những tấm hình lung linh sau màn hương khói. Chỉ còn là những cái tên người ta nhắc đến những khi kể chuyện “Ngày xưa”.

Với những người Việt vào năm 1975 họ ở tuổi ba mươi, bốn mươi khi cuộc chiến Bắc Nam chấm dứt. Bây giờ, sau ba mươi sáu năm, dù họ chỉ là người dân chất phác hay những người lãnh đạo quốc gia đương thời, những quân tướng thất trận lưu vong ở trong nước hay ở bất cứ nơi nào trên thế giới thì họ cũng đang bước từng bước vào chiếc cầu cuối của đời người, chiếc cầu của đôi bờ sinh tử. Có bao giờ họ quay đầu nhìn lại những cây cầu, những dòng sông họ đã được nhìn thấy, được nghe nói hay đã được đi qua trên chính quê hương mình mà ngậm ngùi thương xót, mà ước gì chưa bao giờ có cuộc nội chiến Bắc Nam.

Trần Mộng Tú

Nỗi buồn phây búc


Nghị định làm nô lệ cho đảng jpg
Là người ngồi trước cái computer mỗi ngày một khoảng thời gian lâu hơn ngó mặt… người thật, tôi phải nói ngay và thú nhận ở đây rằng tôi rất chậm tiến và rất nhà quê về facebook. Trò chơi này đã có mặt từ cả hơn một chục năm, nó đã đi tới khắp hang cùng ngõ hẻm, tận rừng già Phi châu, đã về tận Việt Nam, tới cả những nơi chó ăn đá, gà ăn muối, luôn cả những nơi tôi không có thể ngờ tới… đến nỗi nó đã trở thành “thân thương” và được gọi thân mật (?) là phây búc thì cho mãi tới gần đây, tôi vẫn không biết gì về nó.

Đủ mọi loại người đã dùng nó cho đủ mọi thứ việc, đủ mọi thứ chuyện, như làm quen với nhau, thông tin với nhau, kể cho nhau về đủ mọi thứ chuyện trong đời sống, trăm thứ bà dằn không thể nào kể ra cho hết được. Làm quen nhau, biết nhau, tìm gặp nhau, hò hẹn nhau, rồi đè ra cưỡng hiếp ngay sự quen biết (mới) đó, rồi đem sự quen biết (mới ấy) bán vào những ổ điếm như đã nhiều lần báo chí trong nước loan tin. Hay rủ nhau ra trước cổng trường thanh toán vài ba chuyện bất bình rồi nhờ bạn dùng điện thoại smart phone thu hình lột quần áo của nhau, đăng lên phây búc cho cả năm châu bốn biển coi chung cho biết. Thì trong lúc đó, con người cù lần này vẫn không biết gì về phây búc.

Con người cù lần vẫn tiếp tục đi cạnh cuộc đời, vẫn ái ân lạt lẽo của… phây búc. Cho đến tận cuối tháng 8 của năm 2015, hôm tôi đến thăm một người bạn và phải nuốt một cục tự ái to tổ chảng, bẽn lẽn thú nhận là chưa có phây búc, cũng không biết phây búc là gì. Người bạn hỏi là có muốn có phây búc không rồi khi được trả lời là có, thì người bạn hỏi thêm dăm ba câu về thân thế, về cuộc đời ái tình và sự nghiệp (không huy hoàng mấy), và những ngón tay thoăn thoắt của nàng lập cho tôi một phây búc cho đỡ mắc cỡ với bạn bè.

Nhờ đó, tôi hiểu ngay tại sao chung quanh tôi, ở đâu ai cũng chăm chú ngó vào cái màn ảnh nhỏ xíu, ngón tay lúc thì gạt, lúc thì chọc chọc vào cái màn hình. Ngay cả những cô bé chú bé nhỏ xíu cũng thoăn thắt những ngón tay trên những chiếc smart phone.

Và từ hôm ấy, gần hai tháng nay, đời sống của tôi cũng có những thay đổi. Tôi phải nạp thêm điện vào điện thoại mỗi ngày hai lần thay vì một lần như trước. Lý do là thời gian mà tôi ngó vào cái điện thoại rõ ràng là đã gia tăng. Thời gian nhìn vào cái computer giảm bớt đi nhiều. Nhưng vừa có phây búc thì tôi liền thấy mình nộ khí xung thiên ngay lập tức. Dựa trên mấy chi tiết bạn tôi cung cấp, phây búc liền ghi xuống một chi tiết tôi không bao giờ đồng ý và cung cấp. Phây búc tự tiện cho tôi là người của thành phố Hồ Chí Minh! Chi tiết này khiến tôi phải lập tức sử dụng ngay những chữ chửi thề tục tĩu nhất trong cả tiếng Anh lẫn tiếng Việt để nói rõ tôi không bao giờ, không một ngày nào sống ở cái thành phố mang tên một thằng bồi tầu rồi chính cái thằng ấy lại trở thành một thằng bồi Tầu (!).

Nhưng tôi bắt đầu ghiền phây búc từ lúc nào không biết. Thỉnh thoảng, nói đúng ra là cứ vài ba phút, tự nhiên tôi lại mở phây búc ra, check vài ba cái trang của mấy hãng tin, dăm ba người bạn xem có gì mới không. Hầu hết những lần như thế thì cũng chẳng có gì mới. Nhưng chuyện mở phây búc trở thành một thói quen, một hành động vô thức: tôi mở ra không vì một lý do gì hết.

Tự nhiên những chuyện ấm ớ đập vào mắt, bất kể tôi có đi kiếm hay không. Có những chuyện hoàn toàn vô bổ có lẽ cũng chẳng có bao nhiêu người quan tâm hay muốn biết. Một cái sinh nhật, một món ăn vừa được thưởng thức, một cái áo mới, một quen biết tình cờ mới gặp lại, một đứa con, một đứa cháu mới ra đời, một chuyến đi mới thực hiện…Những chuyện đó được “bốt” lên phây búc thì cũng chẳng sao, cũng chẳng gây phiền não cho bất cứ ai. Nhiều khi những chuyện đó lại làm được việc thông báo một số chuyện về những quen biết lâu không gặp hay không có tin tức.

Thế nhưng nhiều khi phây búc cũng lại rất vô tình. Cũng không thể trách những vô tình đó được. Phây búc nhận được gì thì “bốt” lên cái ấy. Nhất là những cái ấy lại được gửi tới bằng tiếng Việt. Có bao nhiêu người biết tiếng Việt trong số hơn một ngàn bẩy trăm người làm việc cho phây búc. Hơn nữa làm sao đọc hết được hàng tỉ phây búc mỗi ngày. Thí dụ một bản tin về một người bị một tai nạn mất hết khuôn mặt, mắt mũi, hay về một phụ nữ trẻ bị vẩy nến vừa qua đời… rồi ngay phía dưới là những bức ảnh của một phụ nữ uốn éo với những trang phục rất đẹp mời đi dự một party sang trọng…

Đồng ý là phê búc không có lỗi trong những chuyện như thế. Mà thật ra cũng chẳng phải là những cái lỗi nào hết. Chúng ta vẫn phải sống đời sống của chúng ta bất kể những chuyện gì đang xẩy ra chung quanh. Không một ai có lỗi cả.

Nhưng những chuyện như thế vẫn xẩy ra. Đó là những chuyện rất là obscene, chữ mà tôi không biết dịch sang tiếng Việt ra làm sao.

Đọc mấy trang phây búc này bỗng chán đời không thể tả được. Thà không có trang phây búc còn hơn.

Bùi Bảo Trúc

VÌ SAO ĐỨC GIÁO HOÀNG PHANXICÔ CÓ SỨC THU HÚT VÀ ĐƯỢC NHIỀU NGƯỜI MẾN MỘ ?


Như vậy là chuyến đi, hay nói theo ngôn từ Công giáo là chuyến tông du (du hành làm mục vụ tông đồ) của Đức Giáo Hoàng Phanxicô (Francisco) đến hai nước Cu Ba và Hoa Kỳ đã diễn ra trong 10 ngày qua (từ 19 đến 28-9-2015) và đã kết thúc tốt đẹp.


Đây là chuyến tông du lần thứ 10 và cũng là chuyến đi ra khỏi thánh địa Roma dài nhất cho đến lúc này, với một chương trình làm việc bận rộn nhất (thực hiện 26 bài diễn văn chính thức,cử hành các nghi lễ tôn giáo, thăm viếng nhiều nơi…) của vị đứng đầu Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ. Năm nay, Giáo Hoàng 78 tuổi, hai năm trước được Hồng Y đoàn bầu chọn lên ngôi vị Giáo Hoàng (2013-2915), sau khi vị tiền nhiệm là Giáo Hoàng Benedicto 16 từ nhiệm vì lý do sức khỏe; khi đó Ngài đang là Hồng Y Jorge Mario Bergoglio(J.M.BERGOGLIO) Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Buenos Aires thủ đô nước Argentina, Nam Mỹ thuộc vùng Châu Mỹ La tinh là một trong những vùng nghèo đói, chậm phát triển trên thế giới; và cũng là nơi phát sinh những tư tưởng thần học cấp tiến thường gọi là “Thần học giải phóng”, không được Giáo Hội Công Giáo thừa nhận vì không phù hợp với nền thần học vốn có của Giáo Hội.

Trong chuyến tông du dài ngày đầy ấn tượng và mang tính biểu tượng nối kết (Cuba & Hoa kỳ sau nhiều thập niên cắt đứt quan hệ, mà Giáo Hoàng là trung giai hòa giải), qua hình ảnh, bài viết được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông (truyền hình, truyền thanh, báo chí, internet…)cho thấy,Giáo Hoàng Phanxicô đã được sự đón tiếp nồng nhiệt của các vị lãnh đạo hàng đầu hai nước Cuba (Anh em Chủ tịch và cựu Chủ tịch nhà họ Castro…) và Hoa Kỳ (Tổng Thống Barrack Obama, Phó Tổng Thống Biden, Chủ tịch Thượng, Hạ viện và các Thượng nghị sĩ dân biểu Hoa Kỳ…), với những nghi thức trang trọng đặc biệt hơn cả vốn dành cho các quốc trưởng từng đến thăm các quốc gia này. Đồng thời, ở tất cả những nơi Giáo Hoàng Phanxicô đến đọc diễn văn (Nhà Trắng vào ngày 23/09, Quốc Hội lưỡng viện ngày 24/09, trước Đại Hội Đồng LHQ ngày 25/09 và bài cám ơn dành cho các nhà tổ chức chuyến thăm ở Philadelphia vào ngày 27/09 nhân bế mạc Đại Hội Gia Đình Thế giới lần thứ Tám… ), hay xuất hiện bất cứ nơi công cộng nào, đều có sự tụ tập đồng người, có nơi lên tới hàng triệu người (27-9-2015 tại Đại Hội Gia Đình Công Giáo lần thứ 8 tại Philadelphia) nồng nhiệt chào đón và hô vang những lời vinh danh, tán tụng Ngài như là “vị Giáo Hoàng chưa bao giờ có”; trong đó đông đảo nhất là các tín đồ Công Giáo đã đành, mà còn có cả không ít những người khác tôn giáo.Tất cả những biểu hiện này cho thấy Giáo Hoàng Phanxicô đã có sức thu hút công chúng, được nhiều người Công Giáo cũng như khác đạo quan tâm, mến mộ. Vì sao?

Theo nhận định của chúng tôi và có lẽ cũng của nhiều người trong cũng như ngoài đạo Công Giáo, sở dĩ Giáo Hoàng Phanxicô có sức thu hút và được nhiều người mến mộ vì qua nhân cách, đời sống tu đức và những việc làm trước cũng như sau khi được bầu vào ngôi vị Giáo Hoàng đã cho thấy, Ngài là một nhà cách mạng tôn giáo và cách mạng xã hội.Thêm vào đó, còn là vì vị thế của Giáo Hội Công Giáo có tầm ảnh hưởng rộng lớn, nhiều mặt trên thế giới, mà Giáo Hoàng Phanxicô là người lãnh đạo tối cao.

1.- Giáo Hoàng Phanxicô là một nhà cách mạng tôn giáo, vì kể từ khi được bầu chọn là người đứng đầu giáo hội Công Giáo, Ngài đã lãnh đạo giáo hội theo chiều hướng canh tân nhiều mặt để diễn tả đúng khuôn mặt của Đấng Cứu Thế và thể hiện đúng sứ vụ Giáo Hội mà Ngài đã thiết lập trước khi về Trời cách nay hơn 2015 năm, là rao giảng Tin Mừng Ơn Cứu Độ cho muôn dân, chứ không riêng cho khoảng 1.3 tỷ tín đồ Công Giáo hiện nay.

Sự canh tân giáo hội đã và đang tiếp tục được Giáo Hoàng Phanxicô thực hiện trên bốn lãnh vực:
Một là canh tân về cơ cấu tổ chức và nhân sự điều hành giáo hội trung ương và các giáo hội địa phương, Giáo Hoàng Phanxicô đã không ngại loại bỏ các bộ phân thừa, thay thế nhân sự tiêu cực, thiệt lập cơ quan mới, nhân sự mới tích cực, hiệu quả hơn (như trong lãnh vực tài chánh, ngân hàng của Giáo Hội từng gây nhiều tai tiếng…); canh tân theo hướng thanh tẩy, tiết kiệm, không có tính phô trương, theo hướng dồn của cải, nỗ lực phục vụ con người, nhất là những con người nghèo khó, không riêng gì tín đồ.
Hai là canh tân đời sống tu đức và cung cách làm mục vụ tông đồ của các tu sĩ thuộc mọi phẩm trật hội thánh như Linh mục, Giám mục, Hồng Y và cả Giáo Hoàng, sao cho đúng phẩm chất và sứ vụ môn đồ của Chúa: sống đơn sơ, khó nghèo, quên mình, tận hiến phục vụ tha nhân, nhất là những tha nhân nghèo yếu, sa cơ thất thế trong xã hội, như xưa kia Chúa Cứu Thế từng quan tâm hàng đầu đến thành phần này trong xã hội.

Như một mẫu mực làm gương, chính đời sống tu đức và cung cách làm mục vụ tông đồ của Giáo Hoàng Phanxicô đã thể hiện phẩm chất này ngay từ khi bước vào đời sống tu trì làm môn đồ của Chúa.Điển hình khi làm Tổng Giám Mục Tổng Giáo Phận Buenos Aires thủ đô nước Argentina, Hồng Y J.M.BERGOGLIO đã không dọn vào ở và làm việc trong Tòa Giám Mục rộng rãi cao sang, có người hầu cận, phục dịch, mà tiếp tục ở một căn hộ chung cư, tự phục vụ, ngày ngày đón xe buýt đến làm việc tại Tòa Giám Mục và vẫn giữ thói quen thăm viếng, sống gần gũi, chia xẻ với những người nghèo khó. Sau khi được bầu chọn là Giáo Hoàng, Ngài chọn thánh hiệu Phanxicô như tiêu chí phục vụ trong cương vị Giáo Hoàng, theo gương một vị đã nên thánh vì suốt đời phục vụ quên mình cho tha nhân nghèo khó, bằng tình yêu thương, bác ái, vị tha. Ngài cũng từ chối ở căn phòng dành cho Giáo Hoàng sống và làm việc trền tấng cao nhất Biệt điện, để ở căn phòng lầu dưới dành cho các Hồng Y làm việc trong các cơ quan của Tòa Thánh, rồi cùng đến ăn chung trong nhà ăn tập thể với các chức sắc Tòa Thánh.Đồng thời Ngài vẫn thể hiện phẩm chất tu đức, cung cách làm mục vụ qua một số việc làm, phẩm phục, lễ phục, nghi thức khác với các vì Giáo Hoàng tiền nhiệm, vượt qua truyền thống nặng tính vương quyền, sa hoa, xa cách của Giáo Hội. Một vài việc làm tiêu biểu như tự mình đến khách sạn tá túc trước khi được bầu làm Giáo Hoàng để trực tiếp thanh toán tiền phòng, lấy đồ dùng cá nhân và cảm ơn nhân viên phục vụ khách sạn; thăm viếng các tù nhân làm nghi thức rửa chân trong nhà tù nhân lễ Phục sinh, hay dùng bữa ăn với người vô gia cư, thăm viếng trại tù, tiếp xúc tự nhiên,thân mật ngoài dự liệu với quần chúng mỗi khi có dịp, như trong chuyến đi Hoa Kỳ vừa qua.v.v…. Ngoài ra, còn nhiều việc làm khác trong hai năm qua ở ngôi vị Giáo Hoàng, Ngài đã thể hiện phẩm chất về mặt tu đức của một tu sĩ,cung cách phục vụ và làm mục vụ của một Giáo Hoàng. Bởi vì Ngài muốn nêu gương cho không ít các đấng bậc Hội Thánh bao lâu nay đã xa rời phẩm chất bình dân, cởi mở này, cần được “Canh tân về nguồn”. Giáo Hoàng Phanxicô đã hơn một lần nhắc nhở và nói thẳng với các vị tu sĩ, linh mục, giám mục có đời sống vương giả, thừa tiện nghi, xử dụng những loại xe đắt tiền, rằng hãy nghĩ đến những người anh em nghèo khó đói ăn, thiếu mặc, mà thay đổi cách sống sao cho đúng phẩm chất môn đồ của Chúa, thức hiện Phúc Âm của Chúa, rằng “Ta đến thế gian để phục vụ, chứ không phải để được phục vụ”. Đối với các tu sĩ Linh mục, Giám mục tha hóa Ngài đưa ra biện pháp chế tài dứt khoát theo giáo luật, không bao che như đã từng được bao che trước đây (Như vấn đề ấu dâm, sống đời hai mặt vi phạm luật độc thân của một số Linh mục, tu sĩ…).

Ba là canh tân đời sống đức tin của các tín hữu trong cộng đồng dân Chúa, bằng việc không ngừng kêu gọi tín đồ vượt ra khỏi lối sống ích kỷ, chỉ giữ đạo (vụ lợi cho mình) chứ không hành đạo (thực hành Phúc Âm đem lại lợi ích cho tha nhân), hãy sống bác ái (sống đạo vị tha), là yêu thương chia xẻ cơm áo, hạnh phúc với những người cùng khổ, thực hành Phúc Âm của Chúa rằng hãy “thương yêu anh em như chính mình”, không phải chỉ với những anh em đồng đạo, mà thương yêu, chia xẻ với mọi người. Vì theo đức tin Công Giáo, mọi người đều là anh em,đều là thụ tạo của Thượng Đế và Ngôi Hai Thiên Chúa giáng trần là để cứu chuộc toàn thể nhân loại qua mọi thời đại, chứ không riêng gì cho những người Công Giáo.
Bốn là canh tân về mặt tín lý, dù vẫn trung thành với các tín điều bất khả ngộ của Giáo Hội. Chẳng hạn, theo sự hiểu biết của chúng tôi, Giáo Hoàng Phanxicô đã đưa ra một cái nhìn cảm thông với những người đồng tính sống chung, các trường hợp ly hôn, phá thai, dù vẫn giữ vững tín điều chỉ công nhận hôn nhân lưỡng tính, vẫn coi việc ly hôn, phá thai là tội vi phạm Thiên luật và Giáo luật. Sự cảm thông được thể hiện qua việc cho phép các Tòa án giáo quyền và các Linh mục quyền rộng rãi giải quyết hậu quả đối với các tín hữu vi phạm,theo hoàn cảnh với những điều kiện cần và đủ để mở ra chứ không thắt lại, giúp cho những người lỡ phạm tội, muốn thoát ra với tâm tình ăn năn, ý hướng không tái phạm, có cơ hội an tâm sống hạnh phúc trong đức tin, không bị loại bỏ khỏi Giáo hội như trước đây.Nói cách khác, sự cảm thông của Giáo hội được thực hiện như một ơn đại xá tập thể cho các tín đồ nào trong quá khứ, đã lỡ phạm các tội theo Giáo luật, bị tách ra khỏi đời sống đức tin (vạ tuyệt thông), nay có cơ hội trở lại cuộc sống đức tin bình thường; và trong tương lai, nếu tín hữu nào lỡ vấp phạm loại tội phạm trên cũng sẽ được các thẩm quyền của Giáo hội xét định tội, giải quyết từng trường hợp một cách cảm thông chứ không khắt khe, cứng ngắc như trước đây.

2.- Mặt khác, Giáo Hoàng Phanxicô còn là một nhà cách mạng xã hội, vì sau khi trở thành Giáo Hoàng, Ngài không ngừng đưa ra những thông điệp cho thấy ý hướng đòi hỏi, không riêng gì cho các tín đồ và các phẩm trật Hội thánh, mà cho mọi người, nhất là những người lãnh đạo các quốc gia trên thế giới, tùy theo vị thế, khả năng hãy hành động góp phần kiến tạo một xã hội công bình, bác ái, vị tha, bằng sự chia xẻ cơm áo và hạnh phúc của người giầu cho người nghèo. Từ Roma hay trong những chuyến tông du đến các nước, gần nhất là chuyến công du 10 ngày qua tại hai nước Cuba (Một trong những nước nghèo yếu, độc tài nhất thế giới) và Hoa Kỳ (một trong những nước giầu mạnh, dân chủ nhất thế giới), đi đến đâu Giáo Hoàng Phanxicô đều mạnh mẽ lên tiếng và tha thiết mời gọi mọi người, nhất là những người lãnh đạo các quốc gia, những người giấu có, cùng hợp tác kiến tạo một xã hội tốt đẹp và ngày càng tốt đẹp hơn cho mọi người sống chung, với sự quan tâm đặc biệt đến số phận của những con người yếu thế, nghèo khó, kém may mắn trong xã hội. Một đôi lần, Giáo Hoàng Phanxicô cũng đã lên tiếng phàn nàn về những nhà tư bản quá ích kỷ, chỉ quan tâm đến lợi nhuận và bằng mọi cách thủ đắc nhiều lợi nhuận, lạnh lùng trước đời sống cùng khổ của những người nghèo yếu, tạo ra một nền văn hóa chết trong xã hội tư bản.

3.- Sau cùng Giáo Hoàng Phanxicô có sức thu hút và được nhiều ngươi mến mộ, ngoài sự thôi thúc của niềm tin tôn giáo (là sự sùng kính của tín đồ đối với các vị đứng đầu Giáo Hội được tôn xưng là Đức Thánh Cha với ý nghĩa là người cha thánh thiện, hoàn hảo, chứ không phải là thánh sống), sự hiếu kỳ của những người khác tôn giáo, còn là vì vị thế của Giáo Hội Công Giáo có tầm ảnh hưởng rộng lớn, nhiều mặt trên thế giới, mà Giáo Hoàng Phanxicô là người lãnh đạo tối cao.

Thật vậy, Giáo Hội Công Giáo không phải là quốc gia, nhưng có tổ chức và hoạt động đối nội, đối ngoại như một nhà nước tôn giáo, nhà nước Vatican. Bởi vì, Giáo Hội Công Giáo cũng có quốc kỳ, quốc ca riêng dù lãnh thổ thuộc nước Ý, song Giáo Hội có quyền sở hữu và chủ quyền lãnh thổ chưa đầy 1 cây số vuông, nằm phía Tây Bắc thủ đô Roma của nước Ý, dân cư khoảng một ngàn người, số đông là những chức sắc và nhân viên đa quốc tịch làm việc trong các cơ quan của Tòa Thánh dưới sự lãnh đạo tối cao của Giáo Hoàng chăm lo đời sống đức tin cho khoảng 1.3 tỷ tín đồ trên khắp thế giới.Giáo Hội Công Giáo cũng có Quốc Vụ Khanh đóng vai Thủ Tưởng với các Bộ Trưởng, cơ quan hành chánh, chỉ không có quân đội riêng; có nhận đại sứ các nước và cử sứ thần đại diện tòa thánh ở nhiều nước có quan hệ ngoại giao trên thế giới. Từ vị thế và tính chất đặc biệt của “một quốc gia không phải là quốc gia”, Giáo Hội Công Giáo đã có ảnh hưởng chính trị và tôn giáo nhiều nước trên thế giới trong hiện tại cũng như trong qua khứ xa gần

Nói tóm lại, Giáo Hoàng Phanxicô có sức thu hút quần chúng và được nhiều người mến mộ vì tính cấp tiến về mặt tôn giáo cũng như xã hội nên có thể coi Ngài như là một nhà cách mạng tôn giáo và cách mạng xã hội. Trên thực tế Ngài đã thể hiện tính cấp tiến và cách mạng đó qua các việc làm theo chiều hướng canh tân Giáo Hội cũng như các hoạt động thúc đẩy mọi người góp phần kiên tạo một xã hội tự do, công bình, bác ái, đem lại ấm no, hạnh phúc cho mọi người giầu cũng như nghèo sống chung. Chính những quan đểm và hành động cấp tiến theo chiều hướng này mà Giáo Hoàng Phanxicô đã bị một số kẻ gán cho là người chịu ảnh hưởng tư tưởng “Thần Học Giải Phóng” về mặt đức tin tôn giáo và khuynh tả theo chủ nghĩa xã hội về mặt chính trị, xã hội…
Chính những quan điểm và các hoạt động theo chiều hướng cấp tiến mang tính cách mạng trên đã không tránh khỏi đụng chạm đến những thành phần tu sĩ phẩm trật hội thánh thủ cựu quen sống trong tháp ngà giáo đường, các giáo dân và những người giầu có trong cũng như ngoài đạo, đang có cuộc sống ích kỷ và lối sống vụ lợi, ngược chiều, không muốn thay đổi bất lợi cho họ, có thể trở thành nguy cơ cho Giáo Hoàng cách mạng có hành động cải cách, nguy cơ từ nội bộ Giáo Hội và nguy cơ từ bên ngoài Giáo Hội.
Chính vì những nguy cơ nội ngoại tiềm ẩn này, mà những người có trách nhiệm bảo vệ Giáo Hoàng Phanxicô tại Vatican, cũng như trong các chuyến Tông du đến các nước, chính quyền sở tại luôn đặt vấn đề an ninh lên hàng đầu, dù phải tốn kém bao nhiêu (như chi khoảng 24 triệu dollas tại Hoa Kỳ cho chuyến đi đến Hoa Kỳ vừa qua), đề bảo vệ an toàn mạng sống cho vị Giáo Hoàng thường có những hành động thân dân bất ngờ trước những đám đông nồng nhiện chào đón Ngài. Thế nhưng, dường như Giáo Hoàng Phanxicô đã không quan tâm đến những hiểm nguy đang chờ Ngài, mà đã đặt hết niềm tin phó thác nơi Chúa Quan Phòng cho công việc canh tân thanh tẩy Giáo Hội và thúc đẩy cho việc kiến tạo một xã hội công bình, bác ái, vị tha và đầy yêu thương cho con người, không chỉ những người tin Chúa, với cái nhìn nhân bản trong đức tin rằng mọi người đều là con cái Thượng Đế. Vì vậy, trọng các chuyền tông du bên ngoài hay tiếp súc với công chúng tín hữu tại nội địa Tòa Thánh Vatican, Giáo Hoàng thường thích đi xe mui trần hơn là có kính chắn đạn, để tiện tiếp xúc với quần chúng là thế.

Cầu chúc Đức Giáo Hoàng Phanxicô thành công trong sự vụ canh tân Giáo Hội Công Giáo ngày càng tốt đệp hơn và thành công trong nỗ lực góp phần kiến tạo một xã hội công bình, bác ái, yêu thương, trong đó người giầu cũng như nghèo sống chung hài hòa, biết chia xẻ cơm áo và hạnh phúc riêng cũng như chung cho nhau./.
Thiện Ý

------------

http://www.voatiengviet.com/media/video/2974204.html

Cô Dâu Ở Tuổi 46


Chị bạn hỏi tôi, "Ê Trâm, 46 rồi còn làm cô dâu được không Trâm ?". Tôi thấy thú vị, nhìn lên hỏi chị " 50 còn được chứ ở đó mà 46 không được, chị thấy ai mặc áo cưới tuổi này à ? ". Chị ỡm ờ " thì ...thì người bạn trai Mỹ hỏi cưới mà chị chỉ muốn làm giấy tờ rồi sống chung thôi ". Đàn bà rõ khổ, tôi thấy khổ thật chứ không phải chơi. Này nhé, yêu một người, muốn sống chung, thật ra đám cưới là sự chia xẻ hạnh phúc của đôi vợ chồng dù có tuổi hay không, mặc áo cưới hay không không thành vấn đề, có sự công bố trước gia đình, họ hàng, tôi thấy đã là đủ. Vì sợ lời ra tiếng vào mà phải suy nghĩ , trời, lấy chồng chứ có đi buôn gì không đúng đâu à. Tôi được thể hỏi tiếp : " Chị muốn mặc chị cứ mặc, thậm chí trong tiệc chị thay đổi ba bốn cái áo trắng đen gì tuỳ thích em cũng ủng hộ chị chứ đừng nói một cái, còn chị không muốn làm vì nghĩ chị với anh ta hiểu nhau đủ rồi, em ủng hộ luôn ". Chị cười mau mắn " hỏi ai cũng trả lời như Trâm thì chị đã xong lâu rồi, người này nói này, người kia lại nói khác, không dễ tính đâu ". Tôi kết luận với chị " trời, đời chị chứ đời người ta đâu, người ta không chịu trách nhiệm đến đau khổ hay hạnh phúc chị có đâu, chị làm gì chị vui cho cuộc sống của chị em đều ủng hộ. Có tin vui thì báo em nhé ".

Kinh nghiệm cuộc đời cho tôi hiểu vợ chồng là duyên số chứ không phải cứ muốn là đươc. Khi còn trẻ lúc yêu, người ta có thể thề sống chết với tình yêu mà còn bỏ nhau hà rầm, khi lớn tuổi kẻ thì lao vào, người thì tránh như tránh tên thợ săn do thất bại của hôn nhân trước. Cái câu hỏi mà họ phải tự hỏi họ là họ có hiểu và có nghiệm ra được làm thế nào nhận dạng được tình yêu chân thật hay không vì cũng như bao hiện tượng khác những gì có thể nhầm lẫn với tình yêu nhiều vô cùng.

Trong đời sống, ngoài sách vở ra, tôi thật sự muốn cha mẹ là một nguồn chính thức khác dạy cho con cái mình biết yêu và làm thế nào để nhận dạng tình yêu thật sự. Nhiều cha mẹ cho con cái mình cái ý niệm xem như không tiền, không bằng cấp thì chớ có rớ vào con cái mình nếu con của họ là con gái. Điều đó cũng đúng, chàng trai nào mà không lo nổi cho bản thân thì đúng là còn lo được tới ai. Nhưng liệu bằng cấp và tiền bạc có mua nổi một gia đình hạnh phúc hay không. Người Việt Nam hay nói cái câu có lớn mà không có khôn. Một chàng trai có thể học giỏi, nhiều bằng cấp nhưng về việc quan tâm và quán xuyến gia đình thì không tới đâu vì có thể điều đó nằm ngoài sự quan tâm của anh ta hay trong chừng mực nào đó cũng không ngoa khi nói anh ta đã không được dạy bài học tự mình phải làm cha làm mẹ như thế nào hay phải cải tiến cách làm cha làm mẹ của cha mẹ mình như thế nào, bổ sung những điều gì mà cha mẹ mình đã không làm được cho mình. Như tôi chẳng hạn, nhìn mẹ tôi hầu bố tôi từng bữa cơm, ngụm nước đến cả cây tăm xỉa răng sau khi ăn cơm, tôi thề mai mốt có chồng cũng làm vậy cho anh hiểu sự tận tụy của tôi với anh. Hiểu đâu à, khi tôi làm vậy anh trừng mắt " em làm như anh con nít không bằng, để anh tự lấy nước anh uống ". Ủa, vậy là khen hay chê, làm hay không làm. Hành động đó với cha mẹ tôi là yêu thương, còn với chồng tôi đó lại là xem thường.

Tôi đã từng không làm nữa, mà thật tôi cũng không biết phải làm gì để thể hiện yêu thương ngoài việc chung giường, chung mâm với người phối ngẫu của mình. Nếu hỏi tôi tiếc gì khi còn ở chung với cha mẹ, tôi chỉ tiếc mỗi một điều là cha mẹ không dạy được tôi bài học đơn thuần là yêu thương chân thành được thể hiện ra sao. Nếu bản thân tôi được chứng kiến những yêu thương giữa cha lẫn mẹ và cả những ẩu đả cúa cha mẹ, thì liệu tôi có đủ khôn ngoan trong đời để dàn ra cho chính bản thân một đáp án đầy đủ của sự yêu thương thật sự không.

Tôi còn nhớ cứ ra đường, trong trường, anh chàng nào thích mình, thấy hợp nhãn, nói chuyện có duyên hay hay là theo và đi cùng. Chẳng thì giờ đâu mà xem xét, yêu thích hay có thì giờ cho chuyện riêng tư để tự tìm xem trong đời sống chung có thể hợp nhau không. Cỡ tôi hồi đó còn chưa biết và tự vẽ ra rồi đời sống riêng sẽ ra sao, bao nhiêu con, ở đâu, làm gì khi lập gia đình. Viễn cảnh đó khi tôi yêu thương ai hầu như hoàn toàn không đặt ra cho tôi câu hỏi nào, yêu là yêu, lấy là lấy, không yêu thì có cho vàng cũng không lấy. Do vậy mà tôi không thích cái câu người xưa vẫn nói cứ lấy đi là hợp à. Câu đó có thể đúng với người xưa khi cả hai bị gả ép không hề biết mặt nhau mà vẫn ăn đời ở kiếp cho đến lúc cái chết chia lìa họ. Xã hội ngày nay đã tiến hóa và văn minh hơn rất nhiều. Trong đời sống chung, nhiều mâu thuẫn, đụng chạm, không được thử thách đầy đủ để đủ sức chịu đựng trải qua những sóng gió trong đời sống chung cùng nhau, hôn nhân đổ gãy liền. Tôi cũng ghét cái câu nói, về già đời sống vợ chồng chỉ còn là tình nghĩa. Sai luôn. Tôi đã từng nhìn thấy hai ông bà cụ dắt tay nhau đi bộ mỗi chiều, đi ăn sáng cùng nhau, vẫn chăm sóc và nhìn nhau thân ái. Nhiều khi tôi còn cảm nhận cái nhìn có khi còn tha thiết hơn nhiều vì họ biết ơn trong đời sống hiện tại họ vẫn còn bên nhau và còn có nhau đến tuổi này.

Cái ông hàng xóm gần nhà tôi đến lạ. Lúc rảnh rỗi, tôi mang hai đứa trẻ nhà tôi sang chơi với ông theo lời ông yêu cầu. Mai sáng gặp ông ông lại than tôi làm vậy khiến ông buồn hơn. Trời ơi trời, tôi biết làm sao. Ông bảo lẽ ra ông phải có đời sống như vậy, con cái, vợ chồng bên nhau vậy mà không hoàn không, đời ông chỉ như một cái bóng. Cứ đứng núi này trông núi nọ cho chết. Tìm niềm vui từ niềm vui của người khác cũng là một cách. Không ai, không một ai có thể thay đổi quá khứ thì ông buồn làm gì. Nếu đời sống không cho tôi một đứa con trai và một đứa con gái như hiện tại, có lẽ tôi đã sách bị đi thiện nguyện cho một tổ chức phi lợi nhuận nào đó , không nhà không cửa như hôm nay. Thêm vào đó tôi muốn đề cập tới cái chuyện người Mỹ hay nói " fall in" anh "fall out" of love. Khi con cái đã lớn cũng gần nữa số cặp vợ chồng kết thúc bằng tờ giấy ly dị, họ cho răng tình yêu của họ không còn như thuở trước ( làm sao được đầy đủ như trước mà so sánh chi). Hồi xuân hay triệu chứng mãn kinh của người phụ nữ đóng góp vào chuyện đó thì chỉ còn nhờ sự hiểu biết và thông cảm của cả vợ lẫn chồng chứ không thể từ một phía nào đơn độc được.

Trở lại cái chuyện cô dâu tuổi 46, chị còn mãi suy nghĩ và cho rằng đâu phải chị lấy chồng lần đầu, vả lại lấy chị lấy người bản xứ người ta thì họ hàng bạn bè người dị nghị nhiều hơn tán đồng. Họ nói chị theo kiểu gì như là vơ bèo, vặt tép. Người bản xứ thì sao chứ, ăn thua là chồng tương lai của chị, ông ta có tốt với chị hay không; chị có tốt với ông ta hay không khi nhỡ chị hay ông có vấn đề gì về sức khoẻ mà hai người vẫn yêu thương và bên nhau. Lời của ông Toà đọc cho hai người nói theo trước khi nói I DO rất dài mà tôi chỉ còn nhớ mỗi chữ ?for sickness and for health? thật đúng vô cùng. Nó nói lên sự đồng cam cộng khổ là điều tiên quyết làm nên một đời sống vợ chồng đúng nghĩa và không ai trong hai người được quên điều đó.

Nếu là tôi, tôi suy nghĩ về điều đồng cam cộng khổ này nhiều hơn là điều đời sống phải có đôi, có cặp. Nhưng đôi cặp gì thì cũng phải có tình yêu thương chân thành và đủ mạnh để đi suốt với người bạn đời tới cuối con đường. Dù biết rằng không ai nhìn được tương lai nhưng hiểu được lòng mình và tình cảm của mình trước khi nói I DO thì được chứ tại sao lại không được.

Tôi thấy mừng cho chị vì qua những đau khổ của đời sống, chị tìm được một chỗ dựa tinh thần cho mình và mong chỗ dựa đó của chị sẽ là vĩnh cửu. Tôi nói với chị : " Hạnh phúc cho mình chứ cho ai đâu chị, vui buồn gì cũng do mình gieo, trồng và gặt hái, chị có lòng tin cho chị thì em cũng có lòng tin cho đời sống sắp tới của chị ".

Tối qua chị báo tin cho tôi tháng tới chị sẽ là cô dâu 46 tuổi. Lễ cưới của chị sẽ tổ chức đơn giản ở một công viên, chị bạn tôi sẽ mặc áo dài trắng, chú rể người bản xứ mặc vest. Chị hỏi tôi muốn làm phụ dâu cho chị hay không, tôi bảo chị để em chạy dọn dẹp cho chị có ích hơn. Chị nghe và đồng ý.

Cô dâu 46 tuổi của em, bài viết này dành cho chị và với tình thân mong chị sẽ hạnh phúc trọn vẹn với người chị chọn tới cuối con đường đời nhé.


Vành Khuyên

Việt Cộng , Tập Cận Bình nói có nghe rõ không?

 Tập Cận Bình: tôi nói mấy anh Hà Nội có nghe rõ không?



- Ngày mồng Hai tháng Chín năm 1945, tại cuộc mít tinh Tuyên bố Độc lập ở Quảng trường Ba Đình, ông Hồ Chí Minh đã để lại câu nói lịch sử: “Tôi nói, đồng bào có nghe rõ không?”

Bây giờ, 70 năm sau, ngày 25/09/2015 người ta cũng mường tượng nghe thấy Lãnh tụ Trung Quốc Tập Cận Bình đã nói từ Dinh Tổng thống Mỹ: "Tôi nói, mấy anh Hà Nội có nghe rõ không?"

Vậy họ Tập đã nói gì mà nghe quen quen?

Câu chuyện bắt đầu từ cuộc họp báo chung giữa Tổng thống Barack Obama và ông Tập Cận Bình diễn ra tại vườn Hồng trong Tòa Bạch Ốc, tiếp theo sau cuộc họp riêng giữa hai người nhân chuyến thăm chính thức nước Mỹ của họ Tập.

Hai lãnh tụ đã thảo luận các vấn đề quan tâm đến hai nước, từ mậu dịch đến nghi ngờ Trung Quốc đứng sau hàng loạt tin tặc xâm nhập các công ty, xí nghiệp Mỹ hoạt động ở Trung Quốc và Hoa Kỷ để đánh cắp tin tức và kế họach giúp cho Trung Quốc cạnh tranh bất chính. Trên 22 triệu nhân viên Chính phủ Mỹ và một số cơ quan trọng yếu về an ninh như hai Bộ Quốc phòng và An ninh Quốc gia, bao gồm cả CIA (Tình báo Hoa Kỳ), FBI (cơ quan điều tra liên bang Hoa Kỳ) cũng bị xâm nhập.

Ngoài ra hai bên cũng thảo luận và đồng ý kế họach gỉam thiểu chất độc làm ô nhiễm khí hậu và hứa cùng nhau hợp tác giải quyết cuộc khủng hoảng về môi trường và khí hậu trên thế giới.

Chuyện biển đông

Đến chuyện khủng hoảng ở Biển Đông do hành động bồi đắp và bành trướng lãnh thổ của Bắc Kinh gây ra, Tổng thống Obama cho biết: “Chúng tôi đã thẳng thắn thảo luận vấn đề biển Đông và Nam Trung Hoa, và tôi đã tái khẳng định quyền của mọi quốc gia được tự do giao thông thương mại trên biển và trên không không bị ngăn cản. Do đó, tôi đã lưu ý là Hoa Kỳ sẽ tiếp tục lướt sóng, bay và hoạt động bất cứ nơi nào mà luật pháp Quốc tế cho phép.”

(”We did have candid discussions on the East and South China Seas, and I reiterated the right of all countries to freedom of navigation and overflight and to unimpeded commerce. As such, I indicated that the United States will continue to sail, fly and operate anywhere that international law allows.” (Thông tin của Văn phòng Báo chí Phủ Tổng thống)

“Tôi cũng đã nói với Chủ tịch Tập về mối quan ngại đặc biệt của Hoa Kỳ về hành động dành chủ quyền đất đai, xây dựng và quân sự hóa những vùng tranh chấp, gây khó khăn cho các quốc gia trong vùng giải quyết hòa bình những bất đồng. Vì vậy tôi khuyến khích tìm ra một giải pháp giữa các quốc gia tranh chấp ở khu vực này. Hoa Kỳ không phải là nước có tranh chấp; Chúng tôi chỉ muốn bảo đảm luật pháp của lưu thông phải được bảo vệ.”

(I conveyed to President Xi our significant concerns over land reclamation, construction and the militarization of disputed areas, which makes it harder for countries in the region to resolve disagreements peacefully. And I encouraged a resolution between claimants in these areas. We are not a claimant; we just want to make sure that the rules of the road are upheld.)

Lãnh thổ của Trung Hoa

Đến phiên Tập Cận Bình, ông ta nói: “Chúng tôi đã có cuộc thảo luận sâu rộng về tình hình Châu Á-Thái Bình Dương. Và chúng tôi tin rằng Trung Quốc và Hoa Kỳ cùng có quyền lợi chung rộng rãi ở khu vực, và chúng ta nên tiếp tục tăng cường trao đổi và hợp tác trong các lĩnh vực ở đó, và cùng làm việc với nhau để cổ võ những hoạt động và hợp tác hỗ tương trong khu vực Á Châu Thái Bình Dương, và cùng làm việc với các nước trong khu vực để mưu cầu hòa bình, ổn định và thịnh vượng chung.”

(--Lời Thông dịch viên: “We have in-depth discussion on the situation of the Asia Pacific. And we believe that China and the United States have extensive common interests in this region, and we should continue to deepen dialogue and cooperation on regional affairs and work together to promote active interactions and inclusive cooperation in the Asia Pacific, and work with countries in the Asia Pacific to promote peace, stability, and prosperity in this region.”

Với gương mặt lạnh như đồng nhưng cương quyết, họ Tập nhìn thẳng các Nhà báo nói tiếp: “Trung Quốc cam kết theo đuổi chính sách phát triển hòa bình, láng giềng tốt và hợp tác với các quốc gia láng giềng của chúng tôi. Các hòn đảo ở biển Nam Trung Hoa, từ thời cổ đại, là lãnh thổ của Trung Quốc. Chúng tôi có tòan quyền bảo vệ chủ quyền lãnh thổ hợp pháp của chúng tôi, cũng như các quyền lợi chính đáng về hàng hải. Chúng tôi cam kết duy trì hòa bình và ổn định ở vùng biển Nam Trung Hoa, dung hòa khác biệt và tranh chấp qua đối thọai, thương thuyết, tham khảo lẫn nhau trong hòa bình để mưu tìm giải pháp cùng có lợi thông qua hợp tác.”

(China is committed to the path of peaceful development and a neighboring foreign policy characterized by good neighborliness and partnership with our neighbors. Islands in the South China Sea since ancient times are China’s territory. We have the right to uphold our own territorial sovereignty and lawful and legitimate maritime rights and interests. We are committed to maintaining peace and stability in the South China Sea, managing differences and disputes through dialogue, and addressing disputes through negotiation, consultation, and peaceful manner, and exploring ways to achieve mutual benefit through cooperation.)

Ngỏanh mặt về phía Tổng thống Obama, nhà Lãnh đạo Trung Quốc nói như trả lời trực tiếp quan ngại của Mỹ: “Chúng tôi cam đoan bảo vệ lưu thông hàng hải và hàng không của các quốc gia theo luật pháp quốc tế. Liên quan đến các hoạt động xây cất của Trung Quốc thi hành ở quần đảo ở phía Nam, Trường Sa, không nhắm vào hay gây ảnh hưởng đến bất cứ nước nào, và Trung Quốc không có chủ tâm tiến tới quân sự hóa ở đó.”

(We're committed to respecting and upholding the freedom of navigation and overflight that countries enjoy according to international law. Relevant construction activities that China are undertaking in the island of South -- Nansha Islands do not target or impact any country, and China does not intend to pursue militarization.)

Giải thích rõ hơn với báo chí, họ Tập nhắc lại rằng: “Trung Hoa và Hoa Kỳ đều có những quyền lợi chung ở vùng biển Nam Trung Hoa. Chúng ta cùng ủng hộ một Nam Hải hòa bình và ổn định. Những nước trực tiếp có tranh chấp hãy làm việc qua thương lượng, tham khảo lẫn nhau bằng những biện pháp hòa bình. Chúng tôi ủng hộ tự do lưu thông hàng hải và bay trên không của tất cả các quốc gia theo luật pháp quốc tế và giải quyết sự khác biệt qua thương thuyết, thi hành đầy đủ Tuyên bố về Ứng xử Các bên ở Biển Đông (DOC, Declaration on Conduct of the Parties in the South China Sea), và sớm hòan tất thương thảo về Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC, Code of Conduct) dựa trên sự đồng thuận. Chúng tôi đồng ý duy trì tích cực mối liên lạc về những vấn đề liên quan.”

(China and the United States have a lot of common interests on the issue of South China Sea. We both support peace and stability of the South China Sea. The countries directly involved should address their dispute through negotiation, consultation and in peaceful means. And we support freedom of navigation and overflight of countries according to international law and the management of differences through dialogue, and full and effective implementation of DOC and an early conclusion of the consultation of COC based on consensus-building. We have agreed to maintain constructive communication on relevant issues.)

Phản ứng từ Việt Nam

Không có gì ngạc nhiên khi thấy các Nhà báo Trung Quốc, Hoa Kỳ và nước ngoài có mặt tại cuộc họp báo đã không có câu hỏi nào về lời tuyên bố như tát nước lạnh vào mặt Hà Nội của Tập Cận Bình. Nhưng phải thắc mắc tại sao đảng, chính phủ, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ ngoại giao Việt Nam, nhất là các cơ quan ngôn luận vẫn thường xuyên to mồm như Nhân Dân, Quân đội Nhân dân, Thông tấn xã Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam đã không dám hé răng mở miệng chỉ trích lời nói công khai xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam của họ Tập.

Trước đây, mỗi khi có câu nói tương tự phát ra từ cửa miệng Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường hay Bộ trưởng Ngoại giao Vương Nghị thì Ban Tuyên giáo chỉ thị ngay cho Bộ Thông tin và Truyền thông để truyền xuống các báo và Phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao mau mắn đáp trả bằng lời viết sẵn của chính phủ chỉ để lập lại câu nói “biết rồi khổ lắm nói mãi”: Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử xác định Hoàng Sa-Trường Sa là của Việt Nam!

Lần này, phải đợi đến ngày 28/9 (2015), người ta mới nghe được phản ứng của ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đưa ra tại một cuộc họp của Tổ chức Xã hội Châu Á (Asia Society) ở New York.

Ông Sang nói (với phóng viên Ban tiếng Việt của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ): “Người Trung Quốc, trong những lần gặp gỡ Việt Nam, cũng thường nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc, không gì tranh cãi. Thì người Việt Nam chúng tôi cũng nói lại rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của tổ tiên Việt Nam, không gì tranh cãi. Chắc các câu này các bạn đã nghe suốt”.

“Vấn đề đặt ra là chúng tôi mong muốn rằng mọi tranh chấp phải được giải quyết bằng luật pháp quốc tế và con đường duy nhất dẫn đến chỗ đó thôi, chứ không thể nói mãi như thế này được. Một anh đứng ở bên đây sông thì nói là của tôi, và một anh đứng ở bên kia sông thì nói là của anh. Như tôi đã nói với các bạn vừa nãy, trong lúc quá độ, hai bên đều thống nhất 6 nguyên tắc cơ bản để chỉ đạo các vấn đề trên biển”.

6 nguyên tắc nói gì?

6 “Nguyên tắc” ông Sang ám chỉ là Thỏa hiệp được ký tại Bắc Kinh trong chuyến thăm Trung Quốc lần thứ nhất của Tông Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng, ngay sau khi đắc cử Lãnh đạo khóa đảng XI ngày 20/01/2011.

Nguyên văn 6 Điểm như sau:

1. Lấy đại cục quan hệ hai nước làm trọng, xuất phát từ tầm cao chiến lược và toàn cục, dưới sự chỉ đạo của phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, kiên trì thông qua hiệp thương hữu nghị, xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển, làm cho Biển Đông trở thành vùng biển hòa bình, hữu nghị, hợp tác, đóng góp vào việc phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc, góp phần duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực.

2. Trên tinh thần tôn trọng đầy đủ chứng cứ pháp lý và xem xét các yếu tố liên quan khác như lịch sử…, đồng thời chiếu cố đến quan ngại hợp lý của nhau, với thái độ xây dựng, cố gắng mở rộng nhận thức chung, thu hẹp bất đồng, không ngừng thúc đẩy tiến trình đàm phán. Căn cứ chế độ pháp lý và nguyên tắc được xác định bởi luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, nỗ lực tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được cho các vấn đề tranh chấp trên Biển.

3. Trong tiến trình đàm phán vấn đề trên biển, hai bên nghiêm chỉnh tuân thủ thỏa thuận và nhận thức chung mà Lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc và tinh thần của “Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC).

Đối với tranh chấp trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc, hai bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị. Nếu tranh chấp liên quan đến các nước khác, thì sẽ hiệp thương với các bên tranh chấp khác.

4. Trong tiến trình tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài cho vấn đề trên biển, trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng, cùng có lợi, tích cực bàn bạc thảo luận về những giải pháp mang tính quá độ, tạm thời mà không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của hai bên, bao gồm việc tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển theo những nguyên tắc đã nêu tại điều 2 của Thỏa thuận này.

5. Giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau. Vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này. Tích cực thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn trên biển, phòng chống, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai. Nỗ lực tăng cường tin cậy lẫn nhau để tạo điều kiện cho việc giải quyết các vấn đề khó khăn hơn.

6. Hai bên tiến hành cuộc gặp định kỳ Trưởng đoàn đàm phán biên giới cấp Chính phủ một năm hai lần, luân phiên tổ chức, khi cần thiết có thể tiến hành các cuộc gặp bất thường. Hai bên nhất trí thiết lập cơ chế đường dây nóng trong khuôn khổ đoàn đại biểu cấp Chính phủ để kịp thời trao đổi và xử lý thỏa đáng vấn đề trên biển.

Sau thỏa hiệp căn bản này, các cuộc thảo luận đôi bên tiếp tục bế tắc vì Trung Quốc luôn luôn đòi phần hơn ở vịnh Bắc Bộ và muốn Việt Nam hợp thức hóa việc “hợp tác cùng khai thác” ở Biển Đông, nhưng chủ quyền biển đảo vẫn phải là của Trung Quốc như câu nói của Tập Cận Bình.

Đây là quan điểm Trung Quốc gọi là “vấn đề cốt lõi chủ quyền biển” đã đưa ra từ năm 1979 của Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình và được duy trì để chuyển cho Việt Nam vá các nước có tranh chấp với Trung Quốc qua các đời Chủ tịch-Tổng Bí thư Cộng sản Trung Hoa Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình hiện nay.

Tuy nhiên tranh chấp Việt-Trung đã đạt cao độ khi Trung Quốc đặt giàn khoan dầu Hải Dương 981 vào sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam gần đảo Hoàng Sa từ ngày 2/5 đến 27/05/2014. Bắc Kinh chỉ rút lui sau khi bị Quốc tế lên án làm căng thẳng tình hình và cho biết họ đã tìm thấy có dầu và khí đốt tại 2 giếng đào thử, nhưng không nói khi nào sẽ trở lại khai thác.

Sau đó, Trung Quốc một mặt tiếp tục “nói chuyện phải trái với Việt Nam”, mặt khác lại tăng cường tái tạo, xây dựng 7 đảo và đá san hô chiếm được của Việt Nam ở Trường Sa năm 1988 thành các đảo lớn kiên cố có sân bay, bến cảng và căn cứ quân sự.

Để bảo vệ, nhiều Tiểu đoàn Thủy quân Lục chiến Trung Hoa và đơn vị phòng không, súng đại bác đã được điều động đến Gạc Ma, Vành Khăn, Chữ Thập v.v…

Trước các hành động ngang nhiên chiếm biển đảo này của Trung Quốc, Bộ Quốc phòng Việt Nam cũng âm thầm “đắp đập be bờ” ở một số đảo và đá ngầm, nhưng so với kiến thiết của Trung Quốc thì như muối bỏ biển, như châu chấu đá voi.

Về mặt ngoại giao và tuyên truyền, Bộ Ngoại giao Việt Nam chỉ làm được mỗi việc nhắc lại điệp khúc “tái khẳng định Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam”.

Lãnh đạo đảng, từ Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xuống đến anh Tuyên giáo Xã, Phường cũng chỉ biết bảo nhau hô to kiên quyết: "Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”, như viết trong Dự thảo Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng XII.

Vì vậy, chẳng phải ngẫu hứng mà ông Tập Cận Bình đã chọn Tòa Bạch Ốc trong chuyến thăm Mỹ ngày 25/09/2015 để nói rõ cho Hà Nội và cả Thế giới biết lập trường chủ quyền biển đảo của Trung Quốc ở Trường Sa.

Trong suốt cuộc họp báo với Tổng thống Obama họ Tập không nói gì đến Hoàng Sa mà Trung Hoa đã chiếm từ tay Quân đội Việt Nam Cộng Hòa tháng 1/1974.

Điều này không lạ vì đã từ lâu, trong tất cả các cuộc gặp và thảo luận tranh chấp với Việt Nam, phía Trung Quốc đã gạt phăng như chuyện thừa thãi mất thời giờ mỗi khi phía Việt Nam muốn nhắc đến Hoàng Sa. Cũng là chuyện bất bình thường khi ít lâu nay, không thấy phía Việt Nam nói nhiều đến Hoàng Sa, ngoại trừ khi có các vụ tầu đánh cá Việt Nam bị Trung Quốc tấn công, cướp của ở khu vực biển Hoàng Sa.

Có tin Trung Quốc đã nói thẳng với Việt Nam “Hoàng Sa không có trong bất cứ cuộc nói chuyện nào”. Riêng Bộ Quốc phòng Việt Nam thì họ đã quên nói đến Hoàng Sa từ 1974. -/-

Phạm Trần

(09/015)

Bài Xem Nhiều