We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 7 October 2015

Tâm Tư: Nỗi lòng của những người "Việt Tha Hương"

Xin mời đọc:
2 bài viết sau đây như "chia sẻ tâm tình" giữa những Người Việt Tha Hương, rất tiếc cả 2 bài đều không ký tên. .
BH

Tâm Tư của một Người Mỹ Gốc Việt

Quả thật ngày tôi và gia đình (chồng và 2 con) cùng hơn 500 người gồm nhiều sắc tộc tụ tập tại sân trường đại học SMU/Dallas/TX làm lễ tuyên thệ để chính thức trở thành công dân Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ tôi đã không vui mừng bằng ngày tôi và chồng vượt qua kỳ "khảo hạch" ; mặc dù sự vui mừng này thực tâm mà nói, chỉ là trạng thái của những con người vì nhu cầu sinh tồn trên vùng đất tạm dung, nên cần phải "vượt qua một trong những quan ải của cuộc đời mới " , như khi được cấp thẻ thường trú hoặc thi đậu bằng lái xe mà thôi .
Tôi cũng không có cái buồn "ước lệ" là nay mình đã "không còn là công dân của nước VNCH" , vì tận cùng sâu thẩm, tôi biết ngày nào dù tôi còn sống hay đã chết, trong kiếp này tôi vẫn là công dân nước VNCH và nếu quả thật có tái sanh hay luân hồi, tôi cũng vẫn muốn làm công dân của VNCH .
Cả hai ngày "thi vào quốc tịch" và "ngày tuyên thệ" , gia đình tôi cũng chẳng ăn mừng . Bốn người chúng tôi vẫn giữ nguyên tên họ VN không thêm không bớt chữ nào, mặc dù con nhỏ chúng tôi tỏ ý muốn có một cái tên Mỹ cho bạn học dễ gọi .
Đã 35 năm gia đình chúng tôi không bao giờ quên mà trái lại, còn luôn nhớ và Tưởng Niệm Ngày 30 tháng Tư Năm 1975 là NGÀY QUỐC HẬN , và tôi tin rằng đa số đồng hương tị nạn cộng sản VN như gia đình chúng tôi cũng không mấy ai còn nhớ hay ăn mừng ngày trở thành công dân quê người .
Chỉ có thời gian đi làm hay phải giao tiếp với người "bản xứ" thì chúng tôi bắt buộc phải "nhập gia tùy tục" nhưng vai trò này dù cố gắng đến đâu cũng khó mà tròn vẹn, vì thực chất chúng tôi vẫn là người Việt-Nam Quốc Gia 100% từ tinh thần đến thể chất .
Sinh hoạt riêng tư thì chúng tôi vẫn tìm về với nhau , cư ngụ gần nhau, đi chợ mua thực phẩm chính vẫn là Chợ bán thức ăn VN dù chủ chợ là Tàu, Đại Hàn hay Ấn Độ và xa hơn chợ Mỹ; nhất định quay về Chùa khi thuận tiện dù bà mẹ tinh thần bảo trợ dắt đi lễ Nhà Thờ suốt 8 tháng ròng . Lên xe là nghe CD nhạc VN, nghe radio VN.....do vậy mà gần như 100% "người VN mình" sau 39 năm vẫn nói tiếng "quê người" bằng giọng VN .
Chúng tôi rất hảnh diện (nhất là phụ nữ VN) mỗi khi có dịp được khoác và được khoe chiếc áo dài thuần túy VN trong những ngày quan trọng của gia đình, lễ lạc, đình đám v.v., đã vậy ngay đến khi chết, cũng thích liệm xác trong chiếc áo dài VN .
Từ ngày có phim tàu, phim đại hàn chuyển âm tiếng Việt, thì hầu như đa số chương trình TV hay của Mỹ như "Three Company", "Dallas", "Thi Hoa Hậu" v.v. gần như biến mất trong gia đình chúng tôi, trừ chương trình cartoon hoặc thể thao , thời sự, tin tức trong ngày cho chồng và 2 con.
Ngay đến nhà ở, từ trong nội thất ra đến tiền viên, hậu viên (sân trước, sân sau), ít nhất 80% vẫn giữ nguyên sắc thái của "Người VN" (dù nhà mới, trải thảm cũng không du nhập "lệ bỏ giày dép ngoài cửa" ).
Chúng tôi mang danh là "công dân Mỹ" nhưng thực chất nếu nói đến "quyền lợi nước Mỹ" hay "bổn phận làm người công dân Mỹ tốt" thì cũng có quan tâm và tôn trọng , nhưng sự tôn trọng và quan tâm này vẫn là phát nguồn từ sự giáo dục và đạo đức được hun đúc bởi văn hóa VN theo đúng luậ t: "ăn trái nhớ kẻ trồng cây", "ăn cây nào rào cây nấy" .
Sau 35 năm làm công dân quê người , hít thở không khí và uống nước của quê người , học và hưởng được những văn minh, vật chất, tự do, dân chủ thật sự của "quê người" , chúng tôi thật tâm "nhớ ơn người, nhớ ơn đời, nhớ ơn quê hương thứ 2", nhưng tận cùng tâm khảm chúng tôi vẫn biết rất tường tận rằng: dù mai đây ngay cả khi mình hóa thành tro trên nơi chốn mình đã từng tự nguyện "XIN NHẬN NƠI NAY LÀM QUÊ HƯƠNG" , thủy chung mình cũng chỉ là "khách trọ" mà thôi .
………………………………………………………………………………………………………………………………………………….
Một bài viết nỗi lòng của những người Việt tại hải ngoại…


Có phải nếu mình ở một nơi nào trên dưới ba mươi năm thì mình là người thuộc địa phương đó, đúng không? Đã biết bao nhiêu lần tôi đặt ra câu hỏi đó sau một ngày nhìn vào lịch thấy con số ghi năm đã bước vào năm thứ ba mươi của một người tị nạn.
Bây giờ có ai mới quen gặp tôi, hỏi: Bà ở đâu đến vậy? Thì chắc tôi sẽ trả lời rất tự nhiên, tôi ở San Jose, hay khi đang đi du lịch thì sẽ trả lời, tôi ở Mỹ đến. Tôi sẽ không trả lời là tôi ở Việt Nam đến nữa, chỉ trừ người ta hỏi, bà là người nước nào? Thì lúc đó tôi chắc chắn nói, tôi là người Việt Nam, để cho họ không nhầm với người Trung Hoa, Nhật, hay Phi.
Đúng, tôi ở Mỹ trên dưới ba mươi năm rồi, tôi là một người Mỹ. Bây giờ thử xem lại con người Mỹ của tôi.
Trước tiên mặt mũi, chân tay tôi chẳng có gì thay đổi cả. Vẫn khuôn mặt cấu trúc ít góc cạnh của người Á Đông và cái mũi tẹt khiêm tốn, tóc sợi to và đen, khi có tóc bạc thì nhìn thấy ngay, muốn giấu thì phải nhuộm.
Đối với người Á Đông thì tôi được gọi là người có nước da trắng, nhưng mầu trắng này thực ra là mầu ngà, và đứng cạnh một ông Tây, bà Mỹ nào thì nó vẫn cho cái căn cước da vàng rất rõ rệt. Khi tôi nói tiếng Anh thì cách phát âm vẫn có vấn đề, đôi khi nói nhanh quá thì sẽ vấp phải lỗi nói tiếng Anh theo cách dịch tiếng Việt trong đầu. Như thế bị chê là nói tiếng Anh bể (broken English). Về cách phục sức, nhà ở, xe cộ bên ngoài, tôi có thể không kém một người Mỹ chính gốc.
Nhưng khi bước vào nhà tôi, từ những bức tranh treo ở phòng khách, bát đũa bầy ở bàn ăn, chai nước mắm, hũ dưa cải trong bếp và nhất là sách, báo tiếng Việt ở khắp nơi trong nhà, thì chắc ai cũng sẽ nhận ra ngay đó là một gia đình Việt Nam. Như thế thì tôi là người San Jose hay người Hà Nội, người Mỹ hay người Việt? Tôi ở đất này đến ba mươi năm rồi cơ mà.
Người ở Lạng Sơn, Thanh Hóa ra Hà Nội ở trên dưới ba mươi năm thì tự nhận mình là người Hà Nội; người ở Hải Phòng, Hải Dương vào Sài Gòn lập nghiệp từ năm 75, 76 tự nhận mình là người trong Nam.
Tôi ở Mỹ tìm về Việt Nam không ai chịu nhận tôi là người Việt nữa, dù tôi có yêu quê hương đến quặn thắt cả ruột gan, có gặp lại họ hàng nước mắt khôn cầm thì khi thăm viếng, hỏi han, họ vẫn thỉnh thoảng nói rất tự nhiên: chị đâu có phải là người Việt nữa, bây giờ chị là người Mỹ rồi, chắc cái này không hạp với chị, cái kia chị không ăn được, cái nọ chị không biết đâu.
Những lúc đó tôi chẳng biết mình phải phản ứng thế nào cho đúng. Cứ cãi tôi vẫn Việt, hay nhận đúng rồi tôi là Mỹ? Không, cả hai cùng sai cả. Những khi cần quyên tiền đóng góp vào việc công ích nào ở Việt Nam thì ai ai cũng nhắc lại cho tôi đến ngàn lần tôi là một người Việt Nam chính gốc. Rằng tôi phải có bổn phận và tình thương với đất nước, đồng bào. Tình thương thì nhất định lúc nào tôi cũng đầy ắp trong ngực rồi, tôi chẳng cần ai nhắc nữa, nhưng bổn phận thì cho tôi… nghĩ lại.
Tôi đã đóng góp bổn phận của tôi cho đất nước đó rồi. Một mối tình chết tức tưởi trong chiến tranh hơn ba mươi năm về trước, xương thịt của người tôi yêu nằm trong lòng đất, rồi lại phải đào lên, đốt thành tro than, bị đuổi mộ như đuổi nhà, đã trả bổn phận đó thay tôi rồi. Không đủ hay sao?
Bây giờ tôi phải có bổn phận đóng thuế hàng năm ở đất nước tôi đang sống để phụ với chính phủ sửa đường, xây trường học và nuôi những người ở khắp nơi mới tới, như trước kia đất nước này đã nuôi người Việt, vì giấy tờ cá nhân hiện tại xác định tôi là người Mỹ. Tôi phải làm bổn phận công dân.
Có những ngày tôi lái xe bị kẹt ở xa lộ vào một buổi chiều mưa mùa thu; hay một buổi sáng mùa xuân vắng lặng, êm ả, đứng trong nhà nhìn ra mặt hồ, tôi cảm nhận được nơi mình đang hiện diện không phải là quê mình, không phải nước mình.
Chẳng có một lý do gì cụ thể, chỉ là những giọt mưa đập vào kính xe, chỉ là mặt nước hồ gờn gợn sóng. Mưa trên xa lộ Mỹ nhắc nhớ đến những cơn mưa tháng Năm ở Thị Nghè, nhà mình ở Trần Quý Cáp, nhà anh ở trước rạp ciné Eden đứng trú mưa với nhau.
Nước ở hồ San Jose trước nhà nhắc đến nước sông ở bến Bạch Đằng mỗi lần qua phà sang bên kia Thủ Thiêm chơi với bạn, hay sóng nước ở bắc Mỹ Thuận những lần qua phà đi thăm họ hàng ở tận Bạc Liêu. Những lúc đó tôi bất chợt bắt gặp mình Việt Nam quá, vì những cái bóng Việt Nam thật mờ, thật xa lại chồng lên hình ảnh rõ rệt ngay trước mặt mình. Và kỳ diệu làm sao, những cái bóng đó nó mạnh đến nỗi mình quên mất là mình đang ở Mỹ. Chắc tại tôi là người Việt Nam.
Lại có những lần ở Việt Nam, tôi bị muỗi đốt kín cả hai ống chân, bị đau bụng liên miên cả tuần lễ. Đi đâu cũng phải hỏi đường, ai nhìn mình cũng biết mình từ đâu đến và đang đi lạc. Tiền bạc tính hoài vẫn sai. Nhiều khi đứng chênh vênh trên đường phố Sài Gòn, biết đất nước này vẫn là quê hương mình, những người đi lại chung quanh là đồng bào mình, nhưng sao không giống Việt Nam của mình, hình như đã có điều gì rất lạ.
Ngôn ngữ Việt thì thay đổi quá nhiều, pha trộn nửa Hán nửa Ta, chắp đầu của chữ này với cuối chữ của chữ kia, làm nên một chữ mới thật là “ấn tượng”. Cách phát âm của người Hà Nội bây giờ không giống cách phát âm cũ của ông bà, cha mẹ tôi ngày trước, và họ nói nhanh quá, tôi nghe không kịp. Cái tiếng nói trầm bổng, thanh lịch, chậm rãi, rõ ràng từng chữ của thời xa xưa bây giờ chỉ còn là cổ tích.
Ngửng mặt lên nhìn bầu trời, vẫn bầu trời xanh biếc của thời tuổi trẻ, cúi xuống nhìn mặt đất, vẫn mặt đất thân quen, nhưng sao lòng hoang mang quá đỗi, và thấy đã có một khoảng cách nghìn trùng vô hình giữa mình và quê hương đất Việt. Chắc tôi là người Mỹ!
So sánh thời gian tôi sinh ra, sống ở Việt Nam và thời gian tôi bỏ Việt Nam ra đi, sống ở Mỹ, hai con số đó đã gần ngang nhau. Tôi được học từ nhỏ quê hương là nơi tổ tiên lập nghiệp, là nơi chôn nhau cắt rốn. Ở trong nước có bài hát nổi tiếng “Quê hương mỗi người có một”, như là chỉ một mẹ thôi. Nhưng có người lại nói: Nơi nào mình sống ở đó suốt một quãng đời dài, có những người thân chung quanh mình, hưởng những ân huệ của phần đất cưu mang mình, thì nơi đó cũng được gọi là quê hương mình. Như vậy thì tôi có một hay hai quê?
Tôi sống ở Mỹ thì bạn bè gặp nhau thường nói: Cái này người Việt mình không hạp, hoặc người Mỹ họ mới thích nghi được việc này, người Việt mình không quen.
Khi đi dự buổi tiệc cuối năm của một công ty lớn ở Mỹ, toàn là những người Mỹ sang trọng thì thấy rõ ngay mình là người Việt đi lạc, dù mình có sang trọng, lịch sự như họ. Hóa ra ở Mỹ hay về Việt Nam mình đều lạc chỗ cả.
Tôi nhớ mấy năm trước có lần trò chuyện với mẹ của một người bạn, lúc đó cụ ngoài 80 hãy còn minh mẫn, cụ theo đạo Phật. Trưởng nam của cụ và con dâu cụ tự nhiên rủ nhau theo đạo Công giáo. Găp tôi, cụ hỏi: Không biết anh Bình nhà tôi khi chết thì đi đâu? Phật giận anh ấy, vì anh ấy bỏ đi, Chúa chắc gì cho anh ấy vào, vì anh ấy mới quá! Năm nay cụ ngoài 90 tuổi rồi và không may, cụ bị Alzheimer. Vậy là cụ không còn minh mẫn để lo con mình không có chỗ dung thân cho phần hồn. Bây giờ thỉnh thoảng nghĩ lại những lời cụ nói, thấy mình ngay ở đời sống này cũng đã là một vạt nắng phất phơ bay. Quê nhà, quê người, quê Mỹ, quê Việt. Chao ôi! Cái thân cỏ bồng.
Nhưng lạ lắm, tôi biết chắc mình là người Việt, nhất là khi tôi nằm mơ. Trong giấc ngủ tôi thường gặp cha mẹ, gặp ngay trong những ngôi nhà cũ ở Việt Nam, gặp bạn bè cũng gặp trên đường phố Việt Nam từ ngày rất xa xưa, và bao giờ trong mơ cũng đối thoại bằng tiếng Việt. Tỉnh dậy đôi khi vẫn ứa nước mắt, dù là một giấc mơ vui. Thấy nhớ quê nhà quá đỗi!
Tôi nhớ lại trong những truyện ngắn, những bài thơ Đường tôi đọc thời rất xa xưa về người bỏ làng đi xa lâu năm trở về không ai nhận ra nữa. Hồi đó sao mà mình thương những ông già trong thơ đó thế! Bây giờ nghĩ lại thì người trong sách đó còn may mắn hơn mình, họ đâu có đi đến tận một nước khác như mình. Họ chỉ bỏ làng, chứ không bỏ nước. Thế mà khi về còn ngơ ngác, bùi ngùi, tủi thân vì lạc chỗ ngay trong làng mình.
So sánh tôi với người bỏ làng ra đi trong những trang sách đó thì hoàn cảnh của tôi đáng buồn hơn nhiều. Không những đã bỏ làng, bỏ nước đi, còn nhận quốc tịch của một nước khác.

"Khi về đổi họ thay tên.
"Núi chùng bóng tủi, sông ghen cạn dòng"
----------------- //// --------------------

Khi trở về quê hương , đầu tiên gặp phải nhân viên sở Ngọai Kiều và cách khám xét làm tiền bẩn thiểu của nhân viên Quang Thuế thì xin mượn hai câu thơ sau đây để diễn tả :
" Trở về chốn cũ Quê Hương ,
Mà sao như khách qua đường viên du "
Nga Bich Pham's
-----------

«Tỵ Nạn» Hay «Tìm Tự Do» ??

Câu hỏi được đặt ra cho mọi người Việt rời bỏ đất nước thân yêu của mình sau 1975 và hiện đang sinh sống tại một quốc gia Âu Châu, Mỹ Châu hay Úc Châu là : Ông hay Bà là một người tỵ nạn Cộng Sản hay một người di tìm Tự Do ?
Người tỵ nạn bỏ nước ra đi để tránh một tai nạn cho đời sống của mình. Tai nạn đó có thể là một cuộc chiến tranh, một nạn đói, một chế độ nguy hiểm đến sự sống còn của mình hay con cháu mình, thí dụ như chế độ Cộng Sản hay một chế độ Hồi Giáo quá khích-
Người đi tìm một cuộc sống tốt đẹp hơn có thể vì một lý tưởng, một giấc mơ, thí dụ như tìm Tự Do, nhưng cũng có thể vì kinh tế, vì tiền bạc.
Phải công nhận là mỗi một người Việt Nam bỏ nước ra đi sau 1975 đều rơi vào 1 trong hai định nghĩa đó, tùy theo cách nhìn mỗi người, có khi nửa này, nửa kia, nhưng nếu nhìn từ phía nước đón nhận, thì chúng ta đều chỉ là «người tỵ nạn».
Lấy một thì dụ như Canada.
Canada sở dĩ đón nhận người Việt Nam sau 1975 thì chỉ vì lý do nhân đạo : không giúp những người này thì đời sống của họ bị đe dọa, họ là những réfugiés politiques. Canada không đón nhận chúng ta vì chúng ta có một giấc mơ, dù là một Giấc Mơ đẹp đến thế nào chăng nữa-Giấc Mơ Tự Do- . Một người xin tỵ nạn phải chứng tỏ là cuộc sống của họ bị đe dọa nếu ở lại trong nước. Nếu không chứng tỏ được điều này, đơn xin tỵ nạn của họ bị bác, dù nước của họ có một chính thể không hợp với lý tưởng của họ. Đó là lý do tại sao nhiều người đến từ Phi Châu, từ Nam Mỹ bị cưỡng bách hồi hương dù họ kêu gào họ là những người tỵ nạn.
Trở về với những người Việt Nam hiện có mặt tại Hải Ngoại : Chân Diện Mục của chúng ta là gì ??
Tiếng nói của lương tâm thì không thể chối bỏ chúng ta là những người Việt Miền Nam chạy giặc phương Bắc trước hết, tuy tìm Tự Do cũng là một mục tiêu . Phân biệt cái nào là chủ yếu, cái nào là thứ yếu, tùy thuộc vào mỗi cá nhân.
Người Việt Nam sau 40 năm tỵ nạn hình như cố quên đi bản chất của mình . Có những người còn đánh bóng hay làm dáng cho lý lịch của mình bằng những danh từ tốt đẹp như Hành Trình này, Hành Trình Nọ, Giấc Mơ này, Giấc Mơ kia.
Xin hãy gọi con mèo là con mèo : Chạy Cộng Sản thì nói là chạy Cộng Sản, đừng nói tôi đi để thực hiện Giấc Mơ này, Giấc Mơ kia-
Sự thực nói ra mất lòng, nhưng sự thực phải được nói ra, cho lòng nhẹ nhõm.

Một Người Tỵ Nạn

“Vụ Án Hồ Con Rùa”



“Vụ Án Hồ Con Rùa”

Ngay sau ngày 30 tháng 4 1975, Cộng Sản Việt Nam đã nghĩ ngay đến kế hoạch triệt hạ tận gốc nền văn học miền Nam. Một nền văn học chỉ mới được xây dựng trong hơn hai mươi năm dưới hai chế độ: Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hòa. Hai mươi năm là khoảng thời gian thực sự không dài, nhưng vì được tự do sáng tác, tự do tư tưởng, nên nền văn học miền Nam đã sản sinh ra hàng trăm nhà văn, nhà thơ, nhà báo lừng lẫy với hàng ngàn tác phẩm đầy ắp tư tưởng nhân bản yêu thương với cách hành văn phơi phới, phiêu bồng.

Những người dân miền Bắc vào Sài Gòn thời gian từ 1975-1976 không những choáng ngợp với cảnh phố xá đông đúc, hàng hóa đầy ắp, mà còn bị mê hoặc bởi những khu phố chợ trời bán đầy sách báo cũ, một rừng tiểu thuyết, thi ca, tự điển cũ, sách giáo khoa cũ, truyện tranh thiếu nhi, và rồi còn vô số các loại sách giáo dục dành cho thanh thiếu niên theo từng lứa tuổi như: tủ sách hoa xanh, hoa đỏ, hoa tím. Họ tò mò mua, mang về đọc. Rồi họ say mê những tác phẩm của các nhà văn, thi sĩ miền Nam như Võ Phiến, Hồ Hữu Tường, Dương Nghiễm Mậu, Doãn Quốc Sĩ, Duyên Anh, Vũ Hoàng Chương, Hoàng Hải Thủy, Dương Hùng Cường, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Mạnh Côn, Thanh Tâm Tuyền, Tô thùy Yên, Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Dzung Sài Gòn… Rất mau chóng chỗ đứng của nhà thơ “vĩ đại nhất” HCM, và nhà thơ “vĩ đại nhì” Tố Hữu trong lòng người dân miền Bắc bị hạ thấp đến thảm hại. Chú bộ đội “bác Hồ” dấu tác phẩm “Cậu Chó” của Lê Xuyên trong đáy ba lô để đêm đêm mang ra đọc lén. Anh công an “nhân dân” nghiền ngẫm mê say truyện gián điệp “Z.28” của Người Thứ Tám. Chị cán bộ quên ăn quên ngủ với cuốn tiểu thuyết diễm tình “Nẽo về tình yêu” của Bà Tùng Long. Người dân miền Bắc quên hẳn những tác phẩm đặt mìn, pháo kích, ném lựu đạn, rèn mã tấu của Đảng. Họ chán ngấy nền văn học khuôn phép một chiều “one way ticket”, nền văn học AK, nón cối, dép râu. Nền văn học gầm gừ của đám phu đào huyệt viết theo đơn đặt hàng của Đảng. Họ thẳng tay quăng “Sống như Anh”, “Người Mẹ Cầm Súng”, “Những mẩu chuyện về cuộc đời của Hồ chủ tịch’ vào thùng rác một cách không thương tiếc.

Thế thì sau 1975, nền văn học miền Nam đã chiến thắng vẻ vang, đã dìm nền văn học của Đảng xuống hố sâu huyệt lạnh. Đảng điên lên vì tức. Thợ thơ văn nghệ Tố Hữu và thợ viết đồ tể Trần Bạch Đằng nóng máu thề “không để cho bọn văn nghệ miền Nam còn đất sống duới ánh mặt trời”. Đảng “hạ quyết tâm” phải xóa bỏ tận gốc rễ nền văn học miền Nam. Tháng 9 năm 1975, Đảng hô hào và phát động chiến dịch tận diệt nền “văn hóa đồi trụy”, “văn hóa phản động”.

Hàng ngày, những chiếc loa trong phường, trong xóm ong ỏng kêu gào, hò hét người dân đem nộp những văn hóa phẩm “tàn dư của Mỹ Ngụy”. Học sinh, sinh viên, viên chức nhà nước được học tập về chiến dịch tận diệt văn hóa phẩm phản động. Không khí nô nức lắm, hùng hổ lắm. Vài nhà văn và vài tác phẩm tiêu biểu của văn học miền Nam được Đảng chiếu cố cho vào chưng bày chung với xe tăng, đại pháo ở phòng “Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy”. Trên vô tuyến truyền thanh, ngày nào cũng phát đi lời kêu gọi cấm tàng trữ những văn hóa phẩm độc hại và hình ảnh cò mồi là những buổi đốt sách báo đồi trụy được chiếu đi chiếu lại trên ti vi để đập vào mắt dân Sài Gòn.

Nhưng Đảng đã thất vọng não nề. Càng ra sức tiêu diệt, sách báo cũ của miền Nam càng có giá. Người ta đem dấu, copy lại, truyền tay nhau đọc. Và rồi theo chân những người “chiến thắng”, sách báo “phản động” lại đi ngược Trường Sơn ra tận miền Bắc. Trong khi đó, những sách báo của Đảng mang vào miền Nam, “Thép đã tôi thế đấy”, “Dưới ngọn cờ quang vinh của Đảng”, “Liên Khu Năm anh dũng”, “Hồ chí Minh tuyển tập” nằm ế chỏng gọng, chờ bụi bám trên các giá sách ở các nhà sách quốc doanh. Đảng nhớ lại cuộc phản kháng “Nhân Văn Giai Phẩm” của các nhà văn, nhà thơ miền Bắc năm 1956 và rồi Đảng càng sợ hãi ảnh hưởng tư tưởng của các văn nghệ sĩ miền Nam. Những chuyên viên “tìm tội” cùng với những chuyên viên giết người của Đảng họp khẩn cấp. Cần phải có “thái độ quyết liệt” với bọn này càng sớm càng tốt. Thời gian này, “ngụy quân, ngụy quyền” miền Nam đã bị Đảng dụ khị cho vào tù hết rồi. Đảng đang rất rảnh tay để tiêu diệt đám văn nghệ sĩ Sài Gòn. Đây rồi, Đảng đã nghĩ ra một kế thần sầu quỷ khốc để có cớ đưa tất cả những bọn văn nghệ sĩ miền Nam, “bọn biệt kích cầm bút” vào tù. Đó là quỷ kế bẩn thỉu “gắp lửa bỏ tay người” mà Cộng Sản luôn áp dụng ở bất cứ nơi đâu, bất cứ ngõ ngách nào có sự thống trị của chúng.

Đêm 1 tháng Tư năm 1976, cả Sài Gòn rung chuyển vì một tiếng nổ rất lớn ở ngay trung tâm thành phố. Người dân Sài Gòn ngơ ngác, họ chưa biết chuyện gì xảy ra. Kháng chiến quân VNCH về giải phóng Sài Gòn chăng? "Quân ta" đã về ??? Nhiều người dân Sài Gòn suốt đêm mơ mộng như vậy!!! Không, không phải thế !!! Sáng sớm hôm sau đọc các "báo nhà nước" họ được biết bọn “phản động” đêm qua đã đặt mìn cho nổ tung con rùa làm bằng đồng đen dưới chân tượng đài kỷ niệm những nước đồng minh đã viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa. Đó là “Công Trường Quốc Tế” nằm ngay ở quận Nhất Sài Gòn. Báo chí nhà nước tường thuật chi tiết vụ phá hoại. Bình thường đó là nơi tụ tập hàng đêm để hóng mát của các anh công an, bộ đội đóng ở Dinh Độc Lập, Đài phát thanh, Bưu Điện, Tòa Đại Sứ Mỹ. Thế mà tối hôm đó công an và bộ đội đều vô sự !!!??? Chỉ có những người dân Sài Gòn đi hóng mát và ngồi chơi ở đó là… banh xác.Lực lượng an ninh đã bắt được thủ phạm ngay lập tức. Liền sau đó một chiến dịch quy mô được Đảng tung ra. Tất cả các văn nghệ sĩ miền Nam có tên trong một bảng phong phần đều bị truy bắt trong chiến dịch từ ngày 2/4/76 đến ngày 28/4/76 với tội danh đặt mìn phá hủy “hồ con rùa”. Người dân Sài Gòn chưng hửng, hoang mang và lo sợ tột cùng.

Đến năm 1982, nhà xuất bản Tuổi Trẻ cho phát hành một cuốn sách dưới tựa đề “Vụ Án Hồ Con Rùa” của văn nghệ công an Huỳnh Bá Thành (tức Ba Trung). Trong cuốn sách, Đảng đã bịa đặt ra một câu chuyện thần thoại rằng thì là: Vào năm 1967, khi Nguyễn Văn Thiệu lên làm tổng thống đã mời một thầy phong thủy Tàu nổi tiếng đến coi thế đất tại dinh Độc Lập. Người thầy phong thủy này cho rằng vị trí của dinh là vị trí của long mạch trấn yểm vị trí của đầu rồng. Con rồng này đầu tại dinh Độc Lập và đuôi nằm tại vị trí của Công Trường Quốc Tế. Do đuôi rồng hay vùng vẫy nên sự nghiệp của người cầm đầu dinh Độc Lập sẽ không bền. Vì vậy, nghe theo lời ông thầy phong thủy, Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu đã yểm bùa bằng cách đúc một con rùa lớn để trấn đuôi rồng, không cho vùng vẫy được nữa để giữ được ngôi vị tổng thống lâu dài!? Trong cuốn sách gian dối bẩn thỉu này, Huỳnh Bá Thành đã cho các nhà văn miền Nam “trói gà không chặt” biến hết thành các “điệp viên tình báo” lão luyện, mưu mô, xảo trá. Họ cũng được biến thành các chuyên viên chất nổ được huấn luyện kỹ lưỡng, thành thục vv..và vv. Đảng vu cáo rằng các văn nghệ sĩ miền Nam đều là tay sai của CIA cài lại, do mê tín dị đoan, do ngu muội và tàn ác đã cho đặt mìn phá hoại “đuôi rồng” để “mong” chính quyền cách mạng sụp đổ! Nhưng cuối cùng, “bọn chúng - nghệ sĩ miền Nam” đều bị các lực lượng an ninh của Đảng phát hiện và tóm gọn.

Luôn luôn, Đảng rất yêu và quý trọng tài năng của con người vì bác đã dạy “con người là vốn quý”. Đảng không bao giờ bắt bớ các nhà văn, nhà báo vì tư tưởng hay chính kiến của họ. Đảng chỉ bắt những đứa “đặt mìn sát hại dân lành”. Đảng chỉ bắt những đứa “đưa tin xuyên tạc sự thật”. Đảng chỉ bắt những đứa “tiết lộ bí mật quốc gia”. Đảng chỉ bắt những đứa “vu cáo, nói xấu lãnh đạo”. Đảng chỉ bắt những đứa “trốn thuế” mà thôi. Nếu ai còn không tin, cứ cho biết, Đảng sẵn sàng chưng bày hết “bằng chứng tội ác” của chúng nó.

Thế là, theo chân các “ngụy quân, ngụy quyền mang nợ máu” với nhân dân, gần 50 văn nghệ sĩ miền Nam thuộc “thành phần nguy hiểm” lại lần lượt theo chân nhau vào tù với cái gọi là “Vụ Án Hồ Con Rùa” do Đảng tự dựng nên. Cộng Sản lại viết thêm một trang sử chó đẻ nữa trong chồng hồ sơ tội ác của chúng với dân tộc Việt Nam.

Lỗ Rốn

7/25/2008

Tuổi Già Của Tôi



Năm 1992 gia đình tôi tới Mỹ, một quốc gia tự do và nhân đạo, với 13 nhân khẩu. Không ngờ, vốn chỉ là một ca sĩ tài tử và đã bị chính quyền Cộng Sản giam cầm và cấm hát suốt 17 năm, tôi vẫn được một trung tâm ca nhạc tiếng tăm mời sang Paris tổ chức một buổi hội ngộ với thính giả và thu những băng nhạc nghệ thuật.

Các thính giả đã vào cả hậu trường chào mừng tôi, buồn vui, mừng tủi. Tôi chỉ còn nhớ, và nhớ mãi, một câu chào, như mâu thuẫn và thật lòng: "Bác (hay chú) chẳng thay đổi gì cả, chỉ già đi nhiều thôi."
Ồ! Tôi đã già đi! chắc chắn rồi. Nhưng tôi đã không có thì giờ nghĩ đến. Làm sao có thì giờ nghĩ đến khi không biết ngày nào hết cảnh lao tù để về chung sức với vợ nuôi nấng 6 đứa con, 5 đứa cháu và một mẹ già đau yếu. Nhất là nỗi đau mất 3 đứa con và 7 đứa cháu trên biển cả. Nỗi đau quá lớn khiến mẹ đã té ngã và trở thành phế nhân với nửa người bất động.

Trong đời sống của mỗi con người, ai cũng có 3 giai đoạn: tuổi thơ, tuổi thanh xuân và tuổi già. Riêng tôi tuổi thơ hầu như không có. Cha mẹ mất sớm, bị những người lớn tuổi trong đại gia đình hành hạ; năm 12 tuổi tôi đã bỏ đi sống một mình.

Tôi còn nhớ, hồi đó ở vùng kháng chiến Việt Bắc tôi thi vào trường Sư Phạm; với học bổng 18 kg gạo, 180 đồng tiền thức ăn, và 1 chai dầu dùng để thắp đèn học đêm. Nghỉ hè, trường không phát học bổng, tôi phải đi hái trà và đạp trà thuê. Cuối ngày lãnh tiền đủ đong được chút gạo, hái rau rừng làm thức ăn. Với đủ mọi hình thức kiếm tiền lương thiện, tôi đã phấn đấu học hành, làm việc với châm ngôn do mình đặt ra: không hận thù những người đã hành hạ mình và phải cố gắng học cho thành tài. Cả hai châm ngôn này tôi đã thực hiện đầy đủ và chân thành. Bỏ vùng Việt Bắc, trở vềHà Nội rồi di cư vào Nam, tôi đã cố gắng hoàn tất việc học, trở thành luật sư đồng thời lập gia đình năm 1961.

Ngẫm nghĩ lại, tuổi thơ không có, tuổi thanh xuân cũng không được bao nhiêu. Sau khi gia nhập Luật Sư Đoàn được 2 năm và lập gia đình được hơn 1 năm, vào năm 1962 tôi được gọi nhập ngũ. Dĩ nhiên, phục vụ đất nước trong thời chiến tranh là nghĩa vụ thiêng liêng của con dân một nước. Nhưng rời bỏ gia đình mới được hơn một tuổi, bỏ lại vợ và con thơ để làm nghĩa vụ người trai trong 13 năm rưỡi rồi tiếp theo là 11 năm tù đày trong các trại tù Cộng Sản; thì hỡi ôi tuổi thanh xuân của tôi đã mất hút tự bao giờ tôi cũng không còn nhớ được nữa.

Ra tù và sang đến Mỹ năm 1992 thì tôi đã ở vào tuổi 56. Các thính giả có bảo là già đi nhiều thì cũng phải thôi. Tiếp tục vật lộn với đời sống để nuôi gia đình nên mối ưu tư về tuổi già, về những chăm sóc cho tuổi già được sống hợp lý, tốt đẹp cũng không phải là điều dễ dàng. André Maurois đã viết:

"Năm, sáu chục năm trời nếm trải những thành công và thất bại, hỏi ai còn có thể giữ được nguyên vẹn những điểm sung mãn thời trẻ? Đi vào hoàng hôn của cuộc đời như đi vào vùng ánh sáng đã điều hòa, ít chói chang hơn, mắt khỏi bị lóa bởi những màu sắc rực rỡ của bao ham muốn. Và như vậy già là một tất yếu của vòng đời, một chuyện đương nhiên khi người ta tính tuổi, cớ sao phải lãng tránh? Có trẻ thì có già, đó là nhịp điệu của vũ trụ, đâu cần phải khổ đau vì già? Trái lại, phải làm sao để có một tuổi già hạnh phúc."

Trong thời gian tôi theo học tại trường Luật, có một người bạn đã gửi cho tôi một tấm thiệp giáng sinh trên đó có ghi toàn văn bản dịch của bài thơ "TUỔI TRẺ(YOUTH)" của Samuel Ullman. Lời lẽ bài thơ thật là sâu sắc, đầy tinh thần lạc quan, nó ảnh hưởng sâu sa đến tôi trong mấy chục năm nay.

Mặc dầu nó được viết ra từnăm 1918, lúc tác giảđã 78 tuổi nhưng ý tưởng thật mới mẻ. Xin trích một vài câu tiêu biểu:

"Không một ai lại già cỗi đi vì những năm tháng trôi qua. Chúng ta già nua bởi vì ruồng bỏ lý tưởng của mình. Năm tháng có thể làm nhăn nhúm làn da của chúng ta, nhưng sự từ bỏ tinh thần hăng say, phấn khởi mới làm tâm hồn chúng ta héo hắt."

Tướng Douglas Mc Arthur rất tâm đắc với bài thơnày và ông đã cho trưng bày bài thơ ngay tại phòng làm việc của ông ở Tokyo khi ông đang là Tư Lệnh Quân Đội Đồng Minh đặc trách công việc giải giới và phục hồi nước Nhật sau chiến tranh. Rồi vào năm 1946, tạp chí Reader's Digest ấn bản tiếng Nhật đã phổ biến toàn văn bài thơ bất hủ này bằng Nhật ngữ. Nhân dân Nhật đã hân hoan đón nhận cái tín hiệu đầy lạc quan, tích cực và năng động của bài thơ không vần này. Cũng từ đó họ đã hăng say dấn thân vào việc tái thiết đất nước, khiến nước Nhật lấy lại được vị thếcường quốc về kinh tế, chính trị cũng như văn hoá như ta thấy ngày nay.

Sau đây là nguyên văn bài thơ:

YOUTH
By Samuel Ullman (1840-1925)

Youth is not a time of life; it is a state of mind; it is not a matter of rosy cheeks, red lips and supple knees; it is a matter of the will, a quality of the imagination, a vigor of the emotions; it is the freshness of the deep springs of life.

Youth means a temperamental predominance of courage over timidity of the appetite, for adventure over the love of ease. This offen exists in a man of sixty more than a body of twenty. Nobody grows old merely by a number of years. We grow old by deserting our ideals.

Years may wrinkle the skin, but to give up enthusiasm wrinkles the soul. Worry, fear, selfdistrust bows the heart and turns the spirit back to dust.

Sixty or sixteen, there is in every human being's heart the lure of wonder, the unfailing child-like appetite of what's next, and the joy of the game of living. In the center of your heart and my heart, there is a wireless station; so long as it receives messages of beauty, hope, cheer, courage and power from men and from the infinite, so long are you young.

When the aerials are down, and your spirit is covered with snows of cynicism and the ice of pessimism, then you are grow old, even at twenty, but as long as your aerials are up, to catch the waves of optimism, there is hope you may die young at eighty.

Năm 1992 tôi tới Mỹ với một tấm thân tàn vì bệnh hoạn, đói khổ, và tù đầy. Nếu không nhờ nền y tế tối tân và siêu việt của quốc gia này, tôi không còn sống tới ngày hôm nay. Từ bệnh cao huyết áp, tiểu đường, nghẽn mạch máu tim, cao mỡv.v.., tôi đã phải vào bệnh viện 5 lần, thông tim 4 lần, stroke nhẹ 2 lần. Tôi phải liên tục dùng thuốc trong mười mấy năm nay, tốn kém của nhà nước bao nhiêu tiền của. Tôi đã cốgắng tập thểdục, ăn uống kiêng cữ, và nhất là tìm một môn luyện tập thân thểtheo phương pháp đông phương thích hợp với tuổi già. Đấy là nguồn gốc cái duyên mà tôi tìm đến với môn Taichi.

Một lần trong một buổi phát thanh của đài VOVN, phỏng vấn các vịlãnh đạo TAEKWONDO thếgiới, tôi đã hỏi ngắn gọn về môn Taichi thì nhận được những lời ngợi khen nồng nhiệt và có ý kiến rằng môn tập này mang ý nghiã sử dụng nguyên lý âm dương như một võ công. Muốn có được những lợi lạc của phương pháp Taichi thì cần có ý niệm về khí công. Một trong những điều căn bản cần nắm vững là phải biết thư giãn bản thân. Vì Taichi hầu như chỉ được tập luyện qua những động tác chậm cho nên ở bất cứ tuổi nào người ta cũng có thể luyện tập một cách dễd àng.

Một lợi điểm phụ thuộc là có được khả năng tự vệ. Đấy cũng là quan điểm của võ phái Taekwondo. Các tài liệu khoa học theo tạp chí Science Daily gần đây có nêu 2 lợi điểm nổi bật trong việc tập thể dục theo phương pháp Taichi: - Một là chữa các dạng viêm khớp - Hai là gia tăng sức đềkháng nơi những người lớn tuổi

1/ Taichi giúp chữa viêm khớp: Một công trình mới đây của viện nghiên cứu The George Institute International Health cho thấy Taichi có lợi rõ rệt đối với các chứng viêm khớp. Một sốcác nhà nghiên cứu đang tiến hành một cuộc thử nghiệm để xem phương pháp thể dục đó có hiệu quả gì đối với chứng đau nhức ở phần dưới của lưng hay không.

2/ Taichi giúp gia tăng sức đề kháng ở người lớn tuổi: Tập thểdục theo Taichi đã được ít nhiều Tây hóa của một môn võ thuật Trung Hoa từhơn 2000 năm trước với những nét đặc trưng như vận động chậm rãi trong tư thế trầm tư. Phương pháp này có khả năng tăng cường sức đề kháng nơi người cao niên chống các loại vi khuẩn gây nên các chứng nổi mần, nổi ngứa rất khó chiụtrên da, mà thuật ngữ y học tiếng Anh gọi là Shingles, theo như một nghiên cứu mới nhất của Đại học UCLA ở California.

Tôi không phải là một nhà nghiên cứu mà chỉ là một ông già nhiều bệnh đi tìm một môn tập có thể giúp mình giải thoát được phần nào những tật bệnh đã hành hạ mình từ bao năm nay. Do một cơ duyên tình cờ, tôi đã đến với hội TỪ BI PHỤNG SỰ. Hội do Thầy HẰNG TRƯỜNG sáng lập với mục đích phục vụ tha nhân về mặt tinh thần và thể lực. Trụ sở chính của hội đặt tại California nhưng Thầy HẰNG TRƯỜNG đã huấn luyện được hàng trăm huấn luyện viên hiện sinh sống tại nhiều thành phố lớn có đông người Việt cưngụ. Hội mở ra các lớp tập mang tên CÀN KHÔN THẬP LINH phối hợp giữa 2 môn Taichi và Yoga. Yoga cũng là một môn tập rất lâu đời cuả người Ấn Độmà lợi ích to lớn cuả nó thì ai cũng đã biết rõ. Sự phối hợp nhịp nhàng và chặt chẽ giữa Taichi và Yoga đã khiến những bài tập CÀN KHÔN THẬP LINH trở nên hiệu quả một cách tuyệt hảo. Thế là bao mong ước của tôi về môn Taichi không những đã được đáp ứng mà còn được đáp ứng một cách hoàn mỹ nữa nhờ có thêm Yoga.

Tôi theo tập lớp Càn Khôn Thập Linh này đã được hơn 2 năm và giờ đây những bệnh tật của tôi, không quá lạc quan là đã hết hẳn, nhưng hình như đã nằm yên để cho những ngày già của tôi được an bình. Ông Bác sĩ người Mỹ ở bệnh viện tim khám bệnh thường xuyên cho tôi 3 tháng 1 lần, nay đã hẹn 1 năm nữa mới phải trở lại. Có lần tái khám, ông ấy mỉm cười nói: "Chẳng lẽ tôi hẹn ông 2 năm mới khám lại thì kỳ quá!"

Bây giờ các bệnh máu cao, mỡ cao, đường cao đều đã xuống. Hoạt động của tim cũng điều hòa. Có một điều này nữa, tôi không nói dối đâu. Tất cả các bằng hữu, người quen biết hay các fans âm nhạc khi gặp tôi đều có cùng một nhận xét là tôi trẻ ra nhiều, thậm chí còn trẻ hơn ngày tôi mới sang Mỹ năm 1992 nữa.

Tất cả các bạn già cùng tập Càn Khôn Thập Linh với tôi đều có kết quản hưtôi, nhiều hay ít mà thôi. Ngày mới tập, mỗi thế tôi chỉ làm được 5, 7 lần là đã thấy mệt. Nay tôi có thể"múa" được 15, 20, thậm chí 25 lần vẫn thấy thoải mái. Thấm nhuần và mở rộng các quán tưởng của mỗi thế tập còn khiến người ta thấy yêu đời, yêu người, mở lòng mình ra vũ trụ, ra thế giới bên ngoài, nhân ái với hết thảy mọi loài nữa.

Qua bài viết này, trước hết tôi muốn gửi lời cảm ơn đến Thầy Hằng Trường, người đã bỏ bao công sức, bao thời gian, đi đến những vùng rất xa xôi trên đất nước Trung Hoa để tìm tòi, học hỏi mà sáng chế ra những thế tập qua tên gọi của những con vât tượng trưng cho sự nhẫn nại, sự hiền hoà, sự vượt khó v.v... Bài tập CÀN KHÔN THẬP LINH quả đã mang lại sức khỏe, sự tươi vui ... cho những người tìm đến nó.

Lời cảm ơn tiếp theo tôi xin gửi đến toàn thể anh Chịếm Huấn Luyện Viên của hội TỪ BI PHỤNG SỰ đã chia sẻ với chúng tôi những kiến thức quí báu, đã hy sinh thời giờ, ngay cả tiền bạc để mang lại cho chúng tôi những bài tập bổ ích, những phòng tập thoải mái mát mẻ. Để kết thúc bài viết này tôi xin giới thiệu bài thơ vui, rất vui (do một người bạn gửi cho), dành cho những người tuổi hạc như tôi vậy.

SỬA LẠI GIÂY ĐỜN
Thanh Mai

60 chưa phải là già
60 là tuổi mới qua dậy thì
65 hết tuổi thiếu nhi
70 là tuổi mới đi vào đời
75 là tuổi ăn chơi
80 là tuổi yêu người yêu hoa
90 mới bắt đầu già
Đêm đêm vẫn cứ mặn mà yêu đương
100 có lệnh diêm vương
Cứ ở trên ấy yêu đương thỏa lòng
Bao giờ đạn hết lên nòng
Từ từ nằm xuống là xong một đời

Duy Trác
HOUSTON7/9/2009

HAI MẢNH ĐỜI TỊ NẠN

Chưa bước vào nhà đã nghe tiếng ông Bình oang oang ngoài cửa. Ông người tầm thước, to béo bề ngang, tóc nhuộm đen nhánh, chải dầu ngược ra sau theo kiểu bố già Mafia; mặc dù… đã ăn tiền già rồi nhưng coi ông vẫn còn khoẻ mạnh, nhanh nhẹn lắm. Thấy anh Tâm ra đón, ông liền lao tới xoè tay ra bắt, còn tay kia vỗ vào vai Tâm bồm bộp, giọng kẻ cả hỏi han tới tấp:
– Sao! Lúc này thế nào rồi” Có khoẻ không” Có bận gì không”
– Mời bác vào chơi.

Vừa vào nhà, thấy bộ ghế sofa là ông Bình xà ngay xuống, mắt láo liên nhìn khắp quanh nhà… xem anh Tâm có mua sắm đồ đạc gì mới, đẹp và mắc tiền hơn nhà ông không” Ông thở phào nhẹ nhõm, vui vẻ vì nhà anh Tâm vẫn vậy, không có thêm đồ đạc gì mới hơn nhà ông cả.
Anh Tâm với tay đóng cửa, miệng ráng nở một nụ cười xã giao méo xệch, vì anh rất bực mình: Cái lão Bình này qua Mỹ đã lâu rồi mà vẫn còn thói quen như ở Việt Nam (VN), hứng lên bất tử, là đùng đùng đến thăm người ta, không điện thoại báo trước gì cả. Thật sự, nghĩ như vậy là oan cho ông Bình lắm. Lúc trước, mỗi lần đến thăm ông Bình đều có gọi phone báo trước. Nhưng vì anh Tâm đã thủ sẵn, dặn kỹ chị Tâm là cứ nghe “đại danh” ông Bình trên phone là làm ơn nhớ nói anh không có nhà. Nên bây giờ ông đành chơi lại kiểu VN, khi nào ở nhà không có gì hấp dẫn, chán quá là ông lấy xe chạy vòng vòng mấy nhà người quen, thấy trước nhà có xe của chủ nhân là ông tắp vô liền.
Anh Tâm thấy mặt ông Bình đến thăm cũng chán lắm, cả tuần đi làm vất vả, mệt đến rụng rời cả tay chân, chỉ có ngày cuối tuần được nghỉ nghơi, làm công việc nhà, nay cũng bị ông Bình phá đám. Vì vậy, dù bản tính hay cả nể, anh cũng biết mát mẻ:
– Khoẻ bác, tôi chỉ không bận gì lúc tắm thôi, chứ còn những lúc khác cũng phải bận gì… ít nhất cũng là cái quần tà lỏn chứ bác.
Ông Bình đang thoải mái, ngồi ngửa người ra sau ghế sofa, hai tay chắp sau gáy, chân bắt chữ ngũ, nhịp nhịp yêu đời – bỗng khựng lại, mắt mở lớn tròn xoe, vì câu pha trò tiếu lâm “chơi chữ” của anh Tâm. Cái thằng lù đù này coi vậy cũng không vừa đâu. Ông ngửa mặt khoái chí cười lên ha hả, tay vỗ xuống thành ghế cái đét.

– Hay! Hay!!! Nhưng thiếu sót, thiếu sót… nói cho anh biết, có lúc làm việc mà không bận gì… mới làm tốt được. Không tin anh hỏi chị ấy thử coi…he he he.
Anh Tâm vào bếp lấy nguyên cây giò thủ vừa mua ở chợ VN ra, cắt thành từng miếng để vào dĩa, kiếm thêm hai cái chén, hai đôi đũa, xách theo một dây bia Budweiser sáu lon trong tủ lạnh ra… bày hết trên bàn kính của bộ Sofa. Xem chừng tạm đủ, anh ngồi xuống chiếc ghế đối diện với ông Bình tìm câu chuyện đẩy đưa:

– Saddam Hussein bị bắt sống rồi mà tình hình Iraq vẫn còn lộn xộn. Ngày nào cũng có lính Mỹ tử trận, thật tội nghiệp. Đánh nhau với bọn tiểu nhân chuyên môn phục kích, đánh lén không coi sinh mạng dân lành vô tội là gì hết…Thật là khó.
Ông Bình tự nhiên như người nhà, không nề hà khách sáo, chụp ngay một lon bia lạnh, mở cái bốp, làm một ngụm lớn, khà lên một tiếng sảng khoái, rồi mới hào hứng trả lời:
– Tiểu nhân gì! Khoẻ dùng sức – Yếu dùng mưu. Đánh nhau với thằng con nhà giàu, to con, có võ thì phải đánh … lén chớ. Tình hình này mà còn kéo dài, coi chừng lại thua như ở VN nữa cho mà coi.
– Ở VN vì tình hình thế giới biến chuyển, Mỹ đã bắt tay được với Trung Cộng, miền Nam VN không còn là điểm cần thiết chiến lược nữa, nên nó tìm cách rút quân ra chứ đâu có thua… bác.
– Thua chứ sao lại không thua, đổ bao nhiêu quân, chết bao nhiêu lính, tốn bao nhiêu tiền, rồi rút quân ra, chả được cái gì cả… là thua chứ sao không thua.
– Nghĩ cũng tội cho người Mỹ, đem tiền, đem sinh mạng đi giúp người ta, mà thường không được gì… chỉ bị gieo tiếng ác.
– Quyền lợi! Quyền lợi cả! Giúp đỡ cái gì” Việt Nam cũng như Iraq, đất đai, quê hương mình bỗng dưng có bọn ngoại nhân xâm nhập, rêu rao Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền này nọ… toàn những thứ chưa cần thiết với người dân quê lao động. Rồi đem chiến tranh, bom đạn, thuốc khai quang thả xuống ruộng đất ông cha mình bao đời để lại…Hỏi thử không oán Mỹ sao được” Oán lắm chứ, thù lắm chứ… Nên mới có dũng sĩ diệt Mỹ mới 12 – 13 tuổi đã biết “hy sinh” đặt chất nổ ở VN, có đàn bà ôm bom cảm tử ở Iraq.

Ông Bình vừa ăn vừa nói rất hăng, ông mới đi chơi Tết ở VN về, trông cái mặt vẫn còn hả hê lắm, chắc lại được ai chỉ vẽ thêm cho một mớ lý luận để về khi Mỹ có dịp chén chú – chén anh thì có câu chuyện mà nói. Ông biết anh Tâm chẳng ưa gì ông, nhưng vợ anh Tâm đang làm công cho một nhà hàng Tàu mà con gái ông đang làm chủ. Như vậy, bề gì anh Tâm cũng phải nể ông, nhịn ông một tí. Đời ông từ bé học hành dở dang, khổ cực, nhịn nhục đã nhiều, nay được dịp cũng phải biết kên đời, hãnh tiến cho thiên hạ biết: Thằng Bình “lác” này khác xưa nhiều rồi … Từ ngày vượt biên, dắt bầu đoàn thê tử đến Mỹ, bao nhiêu năm trời lăn lộn, vất vả ngược xuôi, xin tiền trợ cấp xã hội, ở nhà Housing Project, cùng nhau đi làm tiền mặt, góp nhặt chặt bị cho đến khi con cái trưởng thành, ăn nên làm ra…ông bà mới dám nghỉ ngơi, ngước mặt với đời. Hai năm về trước, hai ông bà xin được tiền già, mượn tên con gái mua nhà mua xe mới, ngày dài tháng rộng rong chơi, về VN như đi chợ, quyết hưởng thụ xứng đáng, trọn vẹn những ngày còn lại của đời mình.
Anh Tâm là đầu tàu của một gia đình VN qua Mỹ theo diện HO. Trâu chậm uống nước đục, còn đâu hình ảnh một Sĩ Quan Hải Quân VNCH mới ra trường, trẻ măng, cường tráng, đầy nhiệt huyết du học Mỹ quốc ngày nào. Anh bây giờ gầy đét, cao nhòng, tướng xì ke gió thổi dám bay, cảm cúm dài dài, trí nhớ thì ít, trí quên thì nhiều. Vợ anh, chị Tâm một hiền phụ thật thà như đếm, quá đỗi hiền lành, nên không có được cái mau mắn hơn người. Vì vậy, qua Mỹ đã gần 10 năm rồi, gia đình anh vẫn còn chật vật, anh chị chỉ có một niền hãnh diện duy nhất là hai đứa con trai rất hiếu thảo, biết vâng lời cha mẹ và học giỏi nổi tiếng cả trường.

Anh Tâm nghe ông Bình nói vậy mà ngán ngẩm, cố nén tiếng thở dài. Không phải anh không đủ kiến thức, lý lẽ để tranh luận cho ra phải trái với ông Bình. Ngặt một nỗi, muốn như vậy cần phải dài dòng, phân tích, dẫn chứng, lý luận cụ thể … rất tốn thì giờ. Hơn nữa, trình độ ông Bình lại quá giới hạn, chỉ biết nghe những gì người khác nói với mình…rồi bắt chuớc nói lại với người khác cho ra vẻ ta đây cũng trình độ, biết này biết nọ. Mấy lần trước anh đều im lặng, đưa đẩy để ông Bình nói cho sướng miêng rồi…thì về đi, để anh được yên thân mà làm công việc của anh. Hôm nay, nhìn cái mặt nhơn nhơn, đắc chí của ông Bình, anh ghét quá, anh không nhịn nữa, anh hỏi vặn lại ông Bình:
– Mỹ nó “ác” vậy, sao hồi 1954 bác vào Nam làm chi” Rồi sau này lại vượt biên khổ sở, chết chóc để được đi Mỹ. Bây giờ ở Mỹ lại về VN, chỉ về chơi thôi! Sao không về ở luôn VN đi”
– Mỗi thời mỗi khác… anh Tâm ơi! VN bây giờ đổi mới, khác nhiều rồi. Sống là phải biết hiện tại, nhìn về tươnglai, đừng nhìn về quá khứ. Chính quyền VN, công an không còn như ngày xưa nữa đâu, cho chúng nó ít tiền, thì tụi nó cũng rất cởi mở, thân thiện. Tôi đã từng đi uống cà phê, nhậu nhẹt với công an phường – quận, thấy tụi nó rất hiểu biết, có trình độ và rất thông cảm với bà con Việt Kiều mình. Mà…xin lỗi anh, người ta là Thiếu Tướng, là Phó Tổng Thống còn về VN chơi nữa, huống gì là tôi…he he he…
Tim Tâm nghe như có ai bóp một cái thật mạnh. Trước ngày mất miền Nam không lâu, anh có nghe ông này diễn thuyết đòi tử thủ Sài Gòn, hứa ở lại VN không đi Mỹ vì thích mắm tôm, nước mắm, rồi ông dông tuốt… Để bọn anh ở lại nếm mùi cải tạo, hoà hợp hoà giải với người cộng sản. Trong tù, ngoài việc phải lao động khổ sai mà ăn không đủ no, không còn gì sỉ nhục, đểu cáng hơn là bắt bọn tù binh bại trận như anh phải hát những bài ca của người thắng trận, nhất là bài “Như Có Bác Hồ Trong Ngày Vui Đại Thắng”. Mặt mũi thằng tù binh nào hát bài này đều như muốn khóc, trông thảm thiết lắm, vậy mà cán bộ quản giáo cứ cười cười, bắt phải hát to lên, vui lên, hồ hởi, phấn khởi lên. Vì vậy, trong đám tù binh học tập dốt nát dở khóc dở cười này, mới có thằng “sáng tác” lại hát nhỏ, rỉ tai cho nhau nghe đỡ tủi:

Như có ông Thiệu đang ngồi binh xập xám.
Ngồi kế bên là ông Nguyễn Cao Kỳ.
Ông đeo kính dâm là Trần Văn Hương.
Ông đang gôm sòng là Hồ Chí Minh.
VN Hồ Chí Minh: ăn gian – ăn gian…
VN Hồ Chí Minh: ăn gian – ăn gian…
Trong bốn ông này, ba ông Thiệu, Kỳ, Hương đều là người của miền Nạm VN. Hai ông Kỳ và Hương đều từng làm Phó Tổng Thống cho ông Thiệu, ông Kỳ làm phó nhiệm kỳ đầu. Đến nhiệm kỳ hai, ông Thiệu chọn ông Hương làm phó, cho ông Kỳ về vườn sớm, đi chơi đá gà cho hợp với sở thích thực sự của ông. Sau ngày miền Nam sụp đổ, ông Hương đã ở lại VN, giữ đúng lời hứa, ông đã nằm xuống chung với nắm xương khô của anh em chiến sĩ miền Nam. Nghe đâu năm 1978 chính quyền cộng sản VN có cho phép ông được hưởng quyền công dân. Ông không nhận, vì ông có trách nhiệm với bao nhiêu sĩ quan, công chức miền Nam đã vì nghe lệnh ông mà còn lao tù cải tạo, khi nào các anh em này được thả ra hết, và có quyền công dân, thì sẽ đến phiên ông. Ông Trần Văn Hương đã chứng tỏ được khí phách, đởm lược của một người lãnh đạo miền Nam, khi sa cơ thất thế, rơi vào tay giặc vẫn không muối mặt bán đứng anh em, làm cái loa tuyên truyền giải độc cho những người cộng sản.
Anh Tâm nhìn thẳng vào mặt ông Bình mà hỏi:
– Vậy bác nghĩ sao về trường hợp ông NCK về VN vừa rồi”
– Mình là người VN thì về VN thăm quê hương là chuyện thường tình, riêng ông K về VN phát biểu này nọ là quyền Tự Do Ngôn Luận, phát biểu ý kiến của ông ta. Chiến tranh chấm dứt đã lâu rồi, thù hận làm gì nữa, dân tộc mình nên hoà hợp, hoà giải với nhau thôi.
Anh Tâm bắt đầu nóng mặt, môi anh mím lại, bàn tay nắm chặt, hào khí dâng tràn, xúc động như ngày nào mãn khoá ra trường, cùng các bạn quỳ xuống nhận lon Thiếu Uý – Tân Sĩ Quan thề vang: Tận Trung – Bảo Quốc – An Dân trước Vũ Đình Trường:
– Nếu đã là người tị nạn chính trị, thì thật sự không thể về khi chế độ áp bức, đàn áp mà mình phải ra đi vẫn còn đó. Nhưng chắc ai cũng có thể thông cảm khi về VN để thăm lại gia đình, bà con thân thuộc, bạn bè, quê quán. Riêng ông NCK đã từng là Phó Tổng Thống miền Nam, nay lại về VN phát biểu toàn những lời lẽ như một Phát Ngôn Viên Ngoại Giao của chính quyền CSVN đã từng nói, thì quả thật là…
Nghe anh Tâm đỏ mặt tía tai, hùng hồn nói một hơi dài, ông Bình thấy “tội nghiệp” cho anh Tâm quá. Tối ngày chỉ suy nghĩ, tìm hiểu ba cái chuyện chính trị lẩm cẩm này, thì ở Mỹ cũng không khá, mà về VN ăn chơi, giải trí như ông cũng không xong. Anh Tâm lầm to rồi. Ở Mỹ, ông đâu cần biết mình là tị nạn hay không” Chỉ cần biết ông có quốc tịch, và tiền già mỗi tháng, vậy là đủ rồi. Còn về VN, ai cũng gọi ông là Việt Kiều Mỹ, nhà nước coi trọng như một công dân quí tộc, tạo mọi điều kiện thuân lợi cho ông đem tiền về VN ăn chơi thoả mái, thì tội gì cứ nghĩ mình là tị nạn chính trị, chính em làm gì cho nó mất… vui đi. Mấy chuyện chính trị ông không muốn biết vì nó hoàn toàn không có lợi cho ông. Hơn nữa, chính trị là một đề tài rất nhạy cảm, làm người ta dễ dàng nổi nóng, không còn biết nể sợ là gì. Ông đành giả lả, cười trừ với anh Tâm:
– Ôi thôi! Nói chuyện chánh trị làm chi cho nó nhức đầu, anh nói như vậy thì tôi biết vậy, ông NCK muốn nổi tiếng thì mình đừng bàn đến ông ấy nữa là ổng hết nổi tiếng chứ gì…hi hi hi
Với đũa gắp một miếng giò thủ lớn, bỏ vào mồm nhai chóp chép, gật gù thưởng thức, chiêu thêm một ngụm bia nữa, ông Bình đổi đề tài:

– Lúc này anh có hay gặp Ba Nhỏ không” Anh Tâm.
– Không bác ơi, hai vợ chồng tôi đi làm tối ngày, mấy đứa nhỏ đi học, cuối tuần dọn dẹp, giặt ủi, nhiều chuyện lu bu, đâu có gặp ai, thăm ai. Mà… lúc trước, chiều thứ bảy nào bác không nhậu nhẹt ở nhà Ba Nhỏ”
– Ôi! Mà thôi cũng lâu rồi, anh ơi! Cái đám đó cứ nhậu vào là lời ra, chửi thề, nói năng, kể chuyện tục tĩu, không còn ra thể thống, tư cách con người gì cả.
– Vậy mà, cũng lâu rồi tôi gặp Ba Nhỏ ở chợ Walmart. Hắn lại nói bác cãi lộn với tụi nó. Lần đó tụi nó có thằng bạn ở cùng đơn vị ngày xưa, từ tiểu bang Cali qua chơi, kể chuyện ngày xưa, tiếu lâm vui cười quá xá. Bác cũng hào hứng tham gia kể chuyện tiếu lâm với anh em, nhưng… giễu dở quá, hổng có ai cười. Thằng bạn Cali phải đi chọc tay vào nách từng thằng bắt cười cho phải phép lịch sự. Thế là bác sùng lên, chửi tụi nó coi thường bác, rồi giận dỗi bỏ về ngang xương.
Ông Bình nghe như vậy tức muốn ứa gan, lộn cả ruột. Ông giận lắm, muốn kiếm chuyện gì nói chơi lại cho đỡ tức, hả dạ, đã cái miệng, nhưng hơi ngán Ba Nhỏ là dân Nhảy Dù bạt mạng, nên thôi.
– Ôi! Nó muốn nói gì nói, ở đây ai còn lạ gì cái đám Ba Nhỏ nữa.
Đĩa giò thủ đã gần hết, sáu lon bia thì anh Tâm một lon chưa hết, còn ông Bình đã làm hết bốn lon rồi vẫn còn chưa đã. Chả lẽ chơi luôn lon cuối rồi mới về thì coi…kỳ quá. Ông đành chép miệng cáo từ:
– Thôi…quấy quả anh chị nhiều rồi, chắc phải về thôi.

Với tay lấy chùm chìa khoá, ông Bình đứng lên. Anh Tâm cũng vội đứng lên tiễn ông Bình ra cửa. Ra đến ngoài rồi, ông Bình vẫn còn bịn rịn, cố tìm câu chuyện để lấy lại “uy tín”:
– Hôm nọ, tôi với bà nó đi coi cái nhà mới của vợ chồng đứa con gái thứ hai. Gia đình tụi nó chỉ có ba người, hai vợ chồng với một đứa con gái nhỏ mà mua cái nhà bốn phòng hơn 3000 sì-que fít (square feet), sân trước sân sau rộng lớn, trồng bông, cây kiểng len sì-kép (landscape) đẹp mất hồn luôn. Nhà ở khu sao-oét (SouthWest), sấp-đì-vi-dần (Subdivision) toàn Mỹ trắng thượng lưu không.
Thấy anh Tâm làm thinh, không hỏi gì thêm, ông đành mở cửa vào ngồi trong xe. Ấy thế mà, đã nổ máy xe rồi, ông còn hạ kính xuống, cố với ra nói vớt vát với anh Tâm :
– Hôm nào đến nhà tôi chơi…anh Tâm. Nhà mới có cái TV mới 36 inches, phờ-lát si-cờ-rin (flat screen) hình rõ, hết xẩy từng chi tiết luôn –
Ông mắt la mày lét, ngó trước ngó sau, giọng ông nhỏ xuống – Tôi vừa mới có mấy bộ phim mới, hôm trước coi rồi, hứng quá… Hôm nào anh lại nhà, tôi cho anh coi.
– Trời ơi! Bác tuổi này rồi…mà còn làm được chuyện đó hả” Sao mạnh quá vậy”
– Trời ơi! Anh tưởng hết rồi sao, còn được, nhưng mà… phải coi phim một chút lấy hứng mới được, anh ơi. Còn về VN thì khỏi cần. Hôm nào anh với tôi về VN một chuyến đi. Kỳ Tết vừa rồi tôi về VN khám phá ra một chỗ mát-xa bấm huyệt phục vụ điệu nghệ lắm… muốn chết giấc luôn. Ai nói nước Mỹ này là một thiên đường, tôi ở đây hơn hai mươi năm rồi, lao động ná thở, có thấy gì đâu! Vậy mà lần nào về VN cũng thấy, thiên đường chỉ có ở VN thôi…anh Tâm ơi! Thôi bye nha…anh Tâm.
Ông Bình đã về rồi mà anh Tâm vẫn còn đứng đó. Một chút gì xót xa, chán ngán tràn ngập hồn Tâm – anh chớp mắt, thở dài, cảm nhận được sự cô đơn, yếu đuối, bất lực của mình với cuộc đời trước mặt. Từng cơn gió nhẹ thổi lao xao, đêm đang dần xuống, trời bên ngoài càng thêm trở lạnh.
Anh Tâm mở cửa bước vào nhà, lòng anh chợt ấm lại, ánh mắt sáng lên niềm hy vọng, khi thấy hai đứa con anh đang chăm chỉ học hành. Gần đó, người vợ hiền đã chia xẻ bao nhiêu năm tháng buồn vui, vinh nhục của đời anh đang lặng lẽ, an phận nấu bữa cơm chiều.

PHẠM GIA NAM

Bài Xem Nhiều