We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 13 October 2015

CHUYỆN MỘT NGƯỜI QUẢNG NAM HAY CÃI


Trong Đại hội Hội đồng hương Quảng Nam Đà Nẵng tại Toronto năm vừa qua, có một người bạn đặt câu hỏi: “Ai là nhà văn trào lộng Quảng Nam tiêu biểu?” Tôi trả lời rằng theo nhiều người, thì đó là nhà văn Phan Khôi, vì Phan Khôi có nhiều đặc điểm của một người Quảng Nam hay cãi, ưa lý sự, hóm hỉnh, và cam đảm nữa.

Dưới đây là những chuyện có thực trong cuộc đời Phan Khôi, vừa táo bạo, vừa dí dỏm, nên được dân gian truyền miệng nhiều lần thành những giai thọai, xin được kể lại nhân Đại hội Đồng hương Quảng Nam Đà Nẵng tại Toronto và vùng phụ cận năm nay, sẽ được tổ chức vào lúc 6:30 chiều Thứ Bảy 24-10-2015, Nhà hàng Kingsley, 50 Kennedy South, Brampton, điện thoại 905-866-6688.

LÝ LUẬN PHAN KHÔI: Trước đây, khi môn luận lý học Tây phương bắt đầu được truyền bá vào nước ta, Phan Khôi tìm sách đọc và học theo lối lý luận Tây phương. Ông viết nhiều bài tranh luận rất sôi nổi trên các báo khắp nước. Từ đó, một thời trước năm 1945, trên báo chí xuất hiện nhóm từ ngữ “lý luận Phan Khôi” để chỉ những người “cãi hay”. Về sau, khi bị kẹt ở ngoài Bắc, sống dưới chế độ cộng sản (CS), bị CS đưa lên sống biệt lập (giam lỏng) ở một vùng trong chiến khu Việt Bắc, Phan Khôi cũng hay “cãi lý” mà không sợ bị CS trù dập. Tượng trưng cho lối “cãi lý” Phan Khôi dưới chế độ CS là bốn câu thơ ông viết năm 1952:

“Làm sao cũng chẳng làm sao,

Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi.

Làm chi cũng chẳng làm chi,

Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao.”

HỘI NGỘ CON GÀ XÃ HỘICHỦ NGHĨA: Sau hiệp định Genève (20-7-1954), Việt Nam bị chia hai ở sông Bến Hải (Quảng Trị), ngang vĩ tuyến 17. Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa [Việt Minh cộng sản] ở phía Bắc và Quốc Gia Việt Nam [sau đổi thành Việt Nam Cộng Hòa] ở phía Nam. Nhà cầm quyền CS đưa Phan Khôi từ vùng Việt Bắc về sống trong một phòng tại Hội Văn Nghệ Hà Nội, số 151 đường Trần Hưng Đạo (tức đường Gambetta trước 1954), gặp lại vợ con từ trong Nam tập kết ra Bắc.

Khi mới về Hà Nội, Phan Khôi được một người bạn đãi cơm. Trong bữa ăn, có món thịt gà. Đây là lần đầu tiên Phan Khôi được thưởng thức món thịt gà sau 9 năm bị Việt Minh ép tản cư lên chịến khu Việt Bắc vào năm 1946. Khi vào bữa ăn, vừa cầm đũa lên, Phan Khôi liền chỉ đĩa thịt gà trên mâm, nói rằng: “Chín năm nay, tao lại gặp mày.” (Hoàng Văn Chí chủ biên, Trăm hoa đua nở trên đất Bắc, Mặt Trận Bảo Vệ Tự Do Văn Hóa, Sài Gòn 1959, tr. 11.)

KHOAI NHẠC NGỰA: Đầu năm 1956, người ta giao cho Phan Khôi dịch một quyển sách từ tiếng Pháp qua tiếng Việt. Trong sách có chữ “pomme de terre”. Phan Khôi dịch chữ đó là “khoai nhạc ngựa”. Khi phê bình quyển sách nầy, báo Cứu Quốc ở Hà Nội, cơ quan truyên truyền của đảng Lao Động (tức đảng CS) đã chê Phan Khôi già nua, lẩm cẩm, dịch sai. Bài phê bình viết rằng chữ “pomme de terre” phải được dịch là “khoai tây”, sao lại dịch thành “khoai nhạc ngựa”?

Phan Khôi trả lời đại ý như sau: Ai cũng biết “pomme de terre” là “khoai tây”, nhưng lâu nay, cán bộ phụ trách cấm ông ta dùng chữ “tây” và chữ “Tàu”. Ví dụ, khi Phan Khôi dùng chữ “đường tây”[đường trắng] thì bị sửa lại là “đường kính”; khi Phan Khôi viết chữ “chè Tàu”, thì bị sửa thành “chè Trung Quốc”; “thịt kho Tàu” thì đổi thành “thịt kho Trung Quốc”. Do đó, thể theo ý lãnh đạo, lần nầy chữ “pomme de terre”, ông không dịch là “khoai tây”, mà dịch là “khoai nhạc ngựa”, vì tiếng Trung Quốc gọi là “mã linh thự”. (Hoàng Văn Chí, sđd. tt. 23-24.) Lối viết thâm thúy dí dỏm của ông tú Nho học Phan Khôi kín đáo bóc trần sự dốt nát của lãnh đạo văn hóa CS, mà họ không bắt bẻ ông được. Người Tàu gọi khoai tây là “mã linh thự” (khoai nhạc ngựa) vì khoai tây Tàu tròn, nhỏ, mọc từng chùm như cái lục lạc đeo nơi cổ con ngựa. Người Việt gọi là khoai tây vì do người Tây dương du nhập vào Việt Nam.

TIẾNG NÓI SANG SẢNG: Cái đinh của Giai Phẩm Mùa Thu (tập 1), xuất bản tại Hà Nội ngày 29-8-1956 là bài viết của Phan Khôi, tựa đề là “Phê bình lãnh đạo văn nghệ”, dài 14 trang (khi in thành sách), cở chữ nhỏ. Trong bài nầy, phần dẫn nhập, Phan Khôi viết rằng trong thời gian chiến tranh, các văn thi sĩ chỉ nghĩ đến kháng chiến, nên sẵn sàng hy sinh, chín bỏ làm mười, không ai thắc mắc gì cả. Tuy nhiên, sau năm 1954, trở về Hà Nội, “lãnh đạo văn nghệ thành ra vấn đề, quần chúng văn nghệ thắc mắc với lãnh đạo.” Phan Khôi đưa ra ba vấn đề chính để phê bình. Đó là tự do của văn nghệ sĩ, vụ Giai Phẩm Mùa Xuân, và Giải thưởng Văn học 1954-1955.

Theo Phan Khôi, lúc đó tại Bắc Việt Nam, văn nghệ sĩ bị kềm kẹp một cách nghiệt ngã, “nhược bằng bắt mọi người phải viết theo lối của mình, thì rồi đến một ngày kia, hàng trăm thứ hoa cúc đều phải nở ra cúc vạn thọ hết.” Phan Khôi chỉ còn biết than với Nguyễn Đình Chiểu: “Cụ Đồ Chiểu ơi! Cụ Đồ Chiểu ơi! Ở thời cụ, cụ đã kêu: Ở đây nào phải trường thi,/ Ra đề hạn vận một khi buộc ràng! Thế mà ngày nay, bảy tám mươi năm sau cụ, người ta còn ra đề, dàn bài, lại còn hạn chữ cho tôi nữa đó cụ ơi! Tôi còn làm ăn được gì nữa cụ ơi! Tôi đâu còn là tôi đâu được nữa cụ ơi! ”

Từ lãnh đạo như thế nên đưa đến phản ứng là Giai Phẩm Mùa Xuân. Rồi lại xảy ra những vụ chụp mũ phản động, mà theo Phan Khôi “thật là cái tội phản động ở xứ nầy sao mà ghép một cách dễ dàng quá.” Cũng vì lãnh đạo như thế nên mới đưa đến kết quả Giải văn học 1954-1955, mà “ở Hà Nội dư luận bàn tán xôn xao, nhiều người không phục, cho rằng có mấy tác phẩm trong đó không xứng đáng được giải.”

Chẳng những nêu danh những tác phẩm không xứng đáng, Phan Khôi còn đưa ra lối làm việc theo mệnh lệnh của Hội đồng chấm giải, lấy đa số hội viên trong hội để chèn ép “thiểu số tuyệt đối” là chính Phan Khôi. Điều khôi hài nhứt được Phan Khôi nêu ra là có tác giả vừa được sung vào ban chấm giải, vừa có tác phẩm dự giải, và sau đó lại được trúng giải. (Hoàng Văn Chí, sđd. tt. 59-72.)

Khi phê bình lãnh đạo văn nghệ, Phan Khôi phê bình luôn sự lãnh đạo của đảng Lao Động, bởi vì lãnh đạo văn nghệ là chi bộ đảng Lao Động trong Hội Nhà Văn, trực thuộc hệ thống đảng, và Phan Khôi phê bình luôn chế độ ông đang sống. Phan Khôi viết: “Dưới chế độ tư sản, sự đối lập là thường: nhân dân đối lập với chính phủ, công nhân đối lập với chủ xưởng, học sinh đối lập với nhà trường… Nhưng ở dưới chế độ của chúng ta, về mọi phương diện, yêu cầu phải không đi đến đối lập, hễ còn đối lập là còn hiện tượng không tốt, cái triệu chứng không tốt.” (Hoàng Văn Chí, sđd. tr. 61.) Một nước mà không có tiếng nói đối lập có nghĩa là một nước thiếu dân chủ hay độc tài.

Bài báo của Phan Khôi làm xôn xao dư luận Hà Nội. Báo Thời Mới, một tờ báo tư nhân còn sót lại ở Hà Nội lúc đó (1956), do Hiền Nhân chủ trương, (Nguyễn Minh Cần, Công lý đòi hỏi,California: Nxb. Văn Nghệ, 1997, tr. 70) đã gọi bài viết của Phan Khôi là một “quả bom tạ”, thả ngay tại thủ đô Hà nội. “Có người thốt lên rằng chín mười năm nay mới được nghe tiếng nói sang sảng của cụ Phan Khôi.” (Hoàng Văn Chí, sđd. tr. 26.) Giọng Quảng Nam vốn sang sảng, chói tai khó nghe, cộng thêm hào khí của Phan Khôi càng trở nên sang sảng trên văn đàn Hà Nội. Không lâu sau, báo của Hiền Nhân cũng bị đóng cửa.

BỌ XÍT, CỨT LỢN HAY CHÓ ĐẺ: Trong cuộc mít-tin tại Quảng Nam tổ chức sau khi Việt Minh cướp chính quyền và thành lập chính phủ Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2-9-1945, nhà cầm quyền Việt Minh lâm thời ở Quảng Nam mời Phan Khôi lên diễn đàn phát biểu ý kiến. Ông hoan nghênh nền độc lập dân tộc, nhưng khẳng khái tuyên bố ông không đồng tình với con đường chủ nghĩa CS. (Phan Cừ, Phan An, “Phan Khôi niên biểu”, đăng trong Chương Dân thi thoại của Phan Khôi, Nxb. Đà Nẵng tái bản, 1996, tr. 161.)

Sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm năm 1956 và sau việc nhà cầm quyền Hà Nội không cấp giấy phép cho Phan Khôi in tập Nắng chiều vào năm 1957, Phan Khôi bị những văn nô CS đả kích mạnh mẽ. Trên báo Nhân Dân số 1501, ngày 12-4-1958, Thế Lữ, tác giả bài thơ nổi tiếng “Hổ nhớ rừng”, đã lên án Phan Khôi:

“…Phan Khôi phản cách mạng, ngấm ngầm chống đảng lãnh đạo cách mạng từ trong kháng chiến, đó là việc hiện giờ ta thấy rõ hiển nhiên… Phan Khôi vẫn khoe là được Hồ chủ tịch tặng một chiếc áo lụa, và kể cho tôi nghe một chuyến gặp Hồ chủ tịch. Chuyện được áo, tôi không thấy ông ta tỏ ra một ý nào là cảm kích. Phan Khôi không cảm thấy được rằng một cử chỉ đơn giản đó của Người biểu trưng cho một tình bao dung nhân ái rộng lớn dồi dào của đạo đức cách mạng…” (Nguyễn Minh Cần, sđd. tr. 33.)

Tập Nắng chiều không được xuất bản, nên không ai biết nội dung tập Nắng chiều. Sau bài phê bình của Thế Lữ, Phan Khôi bị đả kích tiếp trên báo Văn Nghệ số 15, tháng 8-1958. Lần nầy, Đoàn Giỏi phê phán “Tư tưởng phản động trong sáng tác của Phan Khôi”. Chính nhờ bài phê bình của Đoàn Giỏi mà bàn dân thiên hạ mới biết được phần nào nội dung của tập sách Nắng chiều chưa được xuất bản.

Bài báo của Đoàn Giỏi cho biết Nắng chiều gồm hai phần: truyện ngắn và tạp văn. Phần thứ nhứt gồm ba truyện ngắn” “Cầm vịt”, “Tiếng chim”, và “Cây cộng sản”. Phần thứ hai gồm bốn tạp văn mà Phan Khôi cho là đã chép lại sự thực chứ không phải tiểu thuyết. Đó là “Thái Văn Thu”, “Ông Năm Chuột”, “Chuyện ba ông vua Kiền Long, Quang Trung và Chiêu Thống”, và “Nguyễn Trường Tộ”.

Trong truyện ngắn “Cây cộng sản”, Phan Khôi mô tả lọai cầy nầy như sau: “… Có một thứ thực vật cũng như sen Nhật Bản ở xứ ta, trước kia không có mà bây giờ có rất nhiều. Đâu thì tôi chưa thấy, chỉ thấy ở Việt Bắc không chỗ nào là không có…”

Theo Phan Khôi, có nơi gọi loại cây nầy là “cỏ bù xít”, vì nó có mùi hôi như con bọ xít, có nơi gọi là “cây cứt lợn”, hoặc “cây chó đẻ”. Ông nói rằng những tên đó đều không nhã nhặn tý nào, người có học không gọi như vậy, mà nên Phan Khôi gọi là “cây cộng sản”. Phan Khôi viết tiếp:

“…Không mấy lâu rồi nó mọc cả đồn điền, trừ khử không hết được, nó lan tràn ra ngoài đồn điền. Cái tình trạng ấy bắt đầu có trong những năm 1930-1931 đồng thời với Đông Dương Cộng Sản Đảng họat động, phong trào cộng sản cũng lan tràn nhanh chóng như thứ cây ấy, cũng không trừ khử được như thứ cây ấy, cho nên bọn Tây đồn điền đặt tên nó là “herbe communiste”, đáng lẽ dịch là cỏ cộng sản, nhưng nhiều người gọi là cây cộng sản. Nó còn có một tên rất lạ … Hỏi ông [ông già Thổ mà Phan Khôi hỏi chuyện] tên nó là cây gì, ông nói tên nó là “cỏ cụ Hồ”. Thứ cỏ nầy trước kia ở đây không có, từ ngày cụ Hồ về đây lãnh đạo cách mạng, thì thứ cỏ ấy mọc lên, không mấy lúc mà đầy cả đường sá đồi đống, người ta không biết tên nó là gì, thấy nó cùng một lúc với cụ Hồ về thì gọi nó như vậy…” (Đoàn Giỏi, “Tư tưởng phản động trong sáng tác của Phan Khôi”, đăng trong Hoàng Văn Chí, sđd. tt. 89-96.)

Các truyện ngắn và tạp văn trong tập Nắng chiều đều bị bài báo của Đoàn Giỏi cho là mượn chuyện người xưa để xỏ xiên đời nay. Thông thường, người ta chỉ phê bình một quyển sách khi đã được in ấn và phát hành. Đàng nầy, tập Nắng chiều bị cấm đoán và không được phép in thành sách, vẫn còn trong dạng bản thảo, mà Đoàn Giỏi cũng đem ra phê bình,.

Trong khi phê bình, Đòan Giỏi trích dẫn nguyên bản những đọan văn sỉ nhục chế độ cộng sản. Chính vì lẽ đó, sau khi bài phê phán Phan Khôi được đăng báo, Đoàn Giỏi bị đảng Lao Động tức đảng Cộng sản kiểm điểm và kết tội giả vờ kiếm cớ phê phán Phan Khôi, để giới thiệu Nắng chiều cho mọi người biết một cách khái quát, nhắm bêu xấu chế độ. Sau đó, không thấy Đoàn Giỏi xuất hiện trên văn đàn. (Hoàng Văn Chí, sđd. tt. 89-96. Những trích đọan trong sách Nắng chiều của Phan Khôi đều được Hoàng Văn Chí rút ra từ bài viết của Đoàn Giỏi.)

Vào thời kỳ chế độ CS Việt Nam còn khắt khe và khép kín, ít có nhà văn nào sống dưới chế độ CS, ngay tại thủ đô Hà Nội của CS, mà dám chỉ trích nhà nước CS. Thế mà Phan Khôi lại công khai viết rằng CS là loại “bọ xít”, “hoa cứt lợn” hay “cây chó đẻ”. Thiệt là hết ý. Hết ý. Đúng là ông Quảng Nam hay cãi gàn quá cỡ thợ mộc.

Do những bài viết độc đáo đặc biệt của Phan Khôi, nhiều người cho rằng Phan Khôi là nhà văn trào lộng tiêu biểu của người Quảng Nam. Người Quảng Nảm thường hay cãi, nhiều khi cãi quá hăng nữa, nhưng lại có tính trào lộng và tự trào tức tự giễu về mình.

Để có dịp nghe thêm và trao đổi với nhau những chuyện hay cãi, cãi hăng và trào lộng vui tính của người Quảng Nam, xin mời mọi người đến gặp nhau tại Đại hội Đồng hương Quảng Nam Đà Nẵng vùng Toronto và phụ cận, sẽ tổ chức vào lúc 6:30 chiều Thứ Bảy 24-10-2015 tại Nhà hàng Kingsley, 50 Kennedy South, Brampton.

Hy vọng sẽ được gặp đông đủ bà con đồng hương vào ngày Đại hội.

TRẦN GIA PHỤNG

(Toronto, Canada)
-----------------


Đại tang

(Truyện trào phúng thời đại Xã Hội Chủ Nghĩa hay Xã Nghĩa)



Trước cổng cơ quan, một bác nông dân thập thò, nghiêng ngó. Thấy vậy, anh bảo vệ quát to:


- Ông kia! Tới có chuyện gì?
- Tôi muốn gặp giám đốc xin cái giấy xác nhận!

- Hôm nay giám đốc nghỉ lo đám tang. Bố giám đốc vừa mất!




- Vậy cho tôi gặp phó giám đốc được không?




- Cũng không được! Vì bố phó giám đốc cũng vừa mất!




Vẻ thất vọng lộ rõ trên gương mặt bác nông dân, nhưng bác vẫn cố hỏi thêm:




- Vậy cho tôi gặp trưởng phòng được không?




- Không được! Bố chồng của trưởng phòng vừa mất.

- Vậy cho tôi gặp phó phòng!




- Không được! Hôm nay phó phòng nghỉ lo đám tang. Ông nội phó phòng vừa mất!




- Anh đùa tôi đấy à? Cha Tiên Sư nó! Chết đéo gì mà lắm thế?
Ca ho lam quan, nhan tai het dat dung vo




- Ông chửi ai đấy hả? Chết mỗi người chứ lấy đéo đâu ra mà lắm! Bố của giám đốc thì cũng là bố của phó giám đốc, thì cũng là bố chồng của trưởng phòng và là ông nội của phó phòng. Vì giám đốc là anh ruột của phó giám đốc, là chồng của trưởng phòng và là bố đẻ của phó phòng. Ông dù chỉ chửi một người nhưng lại là chửi cả cái cơ quan này đó! Ông biết chưa hả? Thôi, về đi cho tôi đóng cổng cơ quan!




- Vẫn sớm mà! Sao đóng vội thế?




- Tôi phải về lo đám tang. Bác tôi vừa mất.
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Những Nghịch Lý Của Ngày Nay : Á Phi Tuy Độc Lập, Giải Phóng, Vẫn Mơ Tỵ Nạn Âu Mỹ. Mỹ Tuy Chúa Nợ, Vẫn Số Một Nền Kinh Tế Thế Giới.

Những Nghịch Lý Của Ngày Nay :  Á Phi Tuy Độc Lập, Giải Phóng, Vẫn Mơ Tỵ Nạn Âu Mỹ.  Mỹ Tuy Chúa Nợ, Vẫn Số Một Nền Kinh Tế Thế Giới.

Tuần nầy, đáng lý là chấm dứt loạt bài «mơ lên không gian», nhưng hai hiện tượng vừa xảy ra lại hun nấu «lần nữa» giấc mơ của chúng tôi.

Hiện tượng thứ nhứt là Nguyệt Thực Hồng. Nguyên đêm ấy, thức trắng ra đồng trống ngồi chờ xem Nguyệt Thực Hồng. Năm nay đặc biệt, tuy đã vào Thu, nhưng trời trong, đầy sao sáng, và trăng to và sáng ! Sáng sớm, 4 giờ sáng, Nguyệt Thực Hồng hiện rõ cuối chơn trời. Năm nay hưởng Trung Thu, được Nguyệt Thực Hồng quá đẹp ! Và được thủy triều cao đặc biệt (grande marée)!

Anh bạn láng giềng rủ gia đình chúng tôi weed end -cuối tuần- ấy cùng gia đình anh, đi chung chiếc camping car -xe cắm trại- to bốn người của anh, đi xuống biển (vùng La Rochelle), chờ grande marée, lượm sò và xem Nguyệt Thực. Ở Pháp, nhứt là vùng chúng tôi vì ở gần Đại Tây Dương (cách khoảng 150 km) dân chúng thích grande marée-thủy triều cao lắm. Gặp dịp là rủ nhau xuống chơi biển một ngày, khom lưng, mang ủng cao su, đi hốt lượm sò ốc. Lượm sò về rửa sạch, mở ăn sống thật tuyệt vời, với một giọt chanh, hoặc siêng hơn, thì với dấm hành ta (échalottes). Cẩn thận mở con sò, trịnh trọng húp một cái, nuốt trọn con sò, nhắp một ngụm rượu trắng sec, muscadet, hay Alsace pinot noir, đời lên hương ! Đi lượm sò thật là cả một thú vị ! Hơi lạnh của biển mùa Thu buổi sớm mai trộn với những giọt hơi nước biển mùa Thu, hòa cùng vị mặn của chất iode, thổi vào người mặc quần áo ấm, với đôi ủng cao su, lội nước, đang lom khom trên bãi biển, thổi vào khuông mặt trống trãi, tạo một làn da lạnh buốt, và đưa một luồng không khí đầy bổ dưỡng đầy vào hai buồng phổi. Tối về thưởng thức những con sò, những con ốc mình lượm cả ngày. Một chén soupe ốc hòa cá biển cho ấm bụng, sau loạt sò ăn lạnh. Chai rượu vin trắng cùng nhau cưa, đưa cay uống cạn, tình bạn hữu nồng nàn, tình vợ chồng khắn khít, thế là có giấc ngủ sảng khoái ! Hưởng một cuối tuần an lành ! (Nhớ mãi một ngày năm xưa, cùng anh em, chiến hữu ở Vancouver (Canada) cũng cùng chia sẻ một buổi cắm trại, chia sẻ một ngọn lửa trại hồng ấm áp, chia sẻ tình người viễn xứ và chia xẻ những con sò huyết khổng lồ hết xẩy – chỉ có ở vùng Vancouver, Canada, bên bờ Thái Bình Dương thôi!)

Tiếc thay Chúa Nhựt ấy (27 tháng9) bận phải đi dự Triển lãm xe xưa và xe quý của Câu lạc Bộ Sư Tử bạn nên không đi biển được ! Trái lại được anh Sư Tử bạn cho ngồi cùng anh trên chiếc Porche Carréra 4 của anh, để chạy vòng khai mạc buổi triển lãm. Hôm ấy, nhìn những chiếc xe hơi collections-siêu tầm, mà nhớ chuyện ngày xưa : trong các loại xe xưa hôm ấy, có một Citroën Traction Avant 15-6 (15 Chevaux-mã lực, 6 cylindres-6 máy) đời 1954, mầu đen cảng trắng, tay lái trắng, giống chiếc tôi có ở Sài gòn, do tôi mua lại năm 1973, và tân trang cáu cạnh, một chiếc xe dùng làm xe đò chạy Đà Nẳng Huế những năm 60.

Xe nầy, ngày 2 tháng 5 năm 1975, bị Việt Cộng đớp, tịch thu – viện lý do tại sao tôi có nhiều xe vậy ! – Đớp, ăn cướp thì cứ đớp, cứ ăn cướp vì là phe thắng trận, việc chi mà phải viện tới viện lui, cắt nghĩa ba láp vậy ? Mặc cảm ? (Cá nhơn tôi, vốn Giám Đốc Hảng Bia Nước Ngọt BGI, tôi hằng ngày, đi làm với chiếc Peugeot 504 của Hảng, vợ tôi có một chiếc Citroën LaDalat riêng dùng để đi làm hay đi chợ – tôi không bao giờ chở vợ con bằng xe của Hảng -. Chúa Nhựt vợ chồng gia đình tôi ưa dùng chiếc Citroën Traction Avant vào Chợ An Đông thăm ông bà già chúng tôi, chở ông bà đi lễ nhà thờ, hoặc đi Vũng Tàu tắm biển. Mỗi chiếc có một nhiệm vụ, sao gọi là nhiều ? Ngày nay người Việt tự do tỵ nạn Cộng Sản ở xứ người, ai ai kẹt lắm, cũng có một chiếc xế hộp gọi là làm chưn đi lại. Bình quân 2 chiếc, cho hai vợ chồng, ấy là chuyện bình thường ! Mong mấy thằng ông nội Cộng Sản đừng chưởi chúng tôi dân tỵ nạn là tư bản phung phí, làm le !).

Xin trở về cuộc triển lãm, hôm ấy, có cả một chiếc Renault 4 Ngựa (làm nhớ lại Taxi Sài gòn ngày nào), và đặc biệt một chiếc Jeep của thời Thế Chiến 2 nữa… Xe loại sang thì nhiều, Jaguar MK2, Alpine, và sáu chiếc Porches từ Carréra đến Boxter, có cả một chiếc Cadillac và một Triumph TR4 nữa…Nhưng thằng tui chỉ mê hai chiếc Traction và 4 Ngựa Taxi thôi, vì kỷ niệm Sài gòn của thằng tui !

Hiện tượng thứ hai là một tin tức khoa học. Cơ quan Nasa báo cho biết là Hỏa Tinh có vết tích « có nước ». Mà có nước là có đời sống. Dù đời sống ngày nay không còn nữa, nhưng thể chất đất đai của Hỏa Tinh có thể để người của Trái Đất đến khai thác, mở đồn điền. Vẫn biết Hỏa Tinh là một Tinh Cầu có những điểm rất gần với Quả Đất, nhưng những hiểu biết đến hôm nay chỉ là lý thuyết, hôm nay tất cả đã thành « sự thật » : có nước là có đời sống. Những giấc mơ, những dự định, những chương trình, những dự án có thể thành sự thật. Cuộc hành trình đi Hỏa Tinh, ngày nay tuy dài thật, tuy nguy hiểm thật, 6 đến 7 tháng để đi, 6/7 tháng để về, và có thể ra đi không trở về !

Nhưng ngẫm lại cho cùng, khi xưa, vào thế kỷ thứ 15, phải chăng đã có các thuyền Tây Ba Nha, Bồ Đào Nha vượt Đại Tây Dương đi tìm đường mới, đi tìm đất mới, phiêu lưu ? Và cũng vẫn với những thời gian dài 6,7 tháng, có khi cả năm, và cũng vẫn có những nguy hiểm có thể không trở về, mất tích, chết chìm hay lạc sống trong hoang đảo ! Hãy nhớ những tiểu thuyết hư cấu được tạo từ những câu chuyện thuyền bị đắm, bị mất tích, như, chuyện Robinson Crusoë, hay bộ chuyện Odyssée của Homère. Ngay cả hồi thời trước Kỷ Nguyên Thiên Chúa, đã có chuyện Ulysse giang hồ trên biển Địa Trung Hải cả 10 năm ! (Thế giới biết được của dân Âu Châu La Hy lúc bấy giờ, chỉ quanh quẩn ở Địa Trung Hải !). Sau đó Nhơn loại (Âu Châu) nhờ vượt được Đại Tây Dương, mà tìm ra Châu Mỹ với Cristofo Colombo, đi vòng quanh Trái Đất, vượt mủi Horn cuối Nam Mỹ, với Magellan, và biết được Thái Bình Dương với Vasco de Gama, tìm ra Úc Châu với Cook… Và nhờ vậy hai thế giới, hai nền văn hóa Đông Á Châu và Tây Âu Châu của Trái Đất mới gặp nhau ! Ngày nay, Trái Đất Hóa, Toàn Cầu Hóa, Hoàn Cầu Hóa, các ranh giới, biên cương dần dần được bãi bỏ, thế giới của Trái Đất từ nay biến thành một cái làng nhỏ. Nhờ mạng internet, chúng ta ngồi trong phòng đọc sách, đọc được chuyện cách nhà chúng ta cả 10 ngàn, 20 ngàn cây số ! (trong khi chuyện anh láng giềng nhà kế bên, hoàn toàn không biết !).

Image result for Lune Rouge

Đây bắt đầu những chuyện nghịch lý của thời đại.

Chuyện anh học trò 20 tuổi đem súng vào Đại học bắn chết cả chục người tận mãi xứ Orégon Huê Kỳ, ngồi ở nhà, tôi biết ngay nửa tiếng đồng hồ sau ! Trái lại, chuyện anh láng giềng đầu đường nhà tôi, tối qua, đánh vợ gần chết phải chở vào nhà thương, sáng nay vì cảnh sát đến gỏ cửa nhà tôi điều tra tôi mới hay mới rõ ! Tôi đi chơi thăm bạn bè ở Mỹ mỗi năm. Nhưng gia đình anh bạn thân ở cách tôi 100 cây số, trên một giờ lái xe, đã năm năm nay, tôi chưa đến thăm. Thỉnh thoảng có điện thoại nhau: «pas de nouvelles, bonnes nouvelles – no news, good news – không tin tức, yên ổn cả !». Vì vậy giấc mơ Hỏa Tinh ngày nay của nhơn loại không lấy gì là không tưởng cả !

Từ Nghịch Lý Giữa Hai Nền Văn Hóa Tiên Tiến Và Chậm Tiến:

Nhưng cũng phải nhìn nhận sự chia rẽ ngăn cách rất lớn của thế giới loài người. Một cái nghịch lý lớn của thế giới ngày nay là cái ngăn cách ấy. Cái hố sâu càng ngày càng sâu ngăn cách, chia rẽ giữa một bên :

Cái thế giới đầy ánh sáng của các quốc gia tiên tiến với một thể chế chánh trị nhơn bản, lấy con người làm trọng tâm, lấy pháp luật làm la bàn cai trị, lấy dân chủ làm hướng quản trị, trọng nhơn quyền, trọng tư hữu, với một nền văn hóa thông thoáng đa nguyên, đa tôn giáo, đa diện.

Và, một bên, cái thế giới đầy tăm tối u mê của dốt nát và độc ác của các quốc gia độc tài, chậm tiến, chẳng những về những tư tưởng độc đoán, độc tôn, bám vào những ý thức hệ lỗi thời, hoặc dựa lên luật lệ gò bó Tôn Giáo, hoặc dựa lên một chủ thuyết chánh trị đóng khung con người và bó buộc tư tưởng và bản thể, nô lệ hóa con người, bằng quân sự hóa, bằng đội ngũ hóa như một bầy súc vật, bằng chủ thuyết như Chủ thuyết Cộng Sản. Các chủ thuyết (Cộng Sản, Nazi, Phát Xít… hay Dân Tộc như Hán Tộc, Aryen, Ả rập…) ấy còn nguy hiểm hơn, dùng ngụy biện và lạm dụng những từ ngữ một cách rỗng tuếch như Dân Tộc, Mầu Da, Chủng Tộc, Huyết Thống, Truyền Thống, Nhơn Dân và ngay cả Tự Do, … để rồi phục vụ quyền lực họ, và nhơn danh những tử ngữ ấy chém, giết, bỏ tù những ai không đồng ý với họ. Và càng man rợ và ngu dốt hơn nữa, đập phá những vết tích văn hóa hay tôn giáo, Chùa Chiền, Nhà Thờ, Đền Điện, thậm chí Nhà Tu, Nhà Nguyện (như Trung Cộng thời Cách Mạng Văn Hóa với Mao Xù Xì, như Việt Nam ngày nay đối với các tín hữu các Đạo Tin Lành, Cao Đài hay Hòa Hảo, và ngay cả với những Tôn Giáo có mặt lâu đời ở Việt Nam như Phật Giáo hay Thiên Chúa Giáo La mã !) Họ giết, họ đàn áp, họ cắt đầu, cứa cổ cũng vời những nhơn danh Tự Do ! Dân Chủ ! Độc Lập ! Cộng Sản ! Aryen ! Daech ! Hán tộc ! Hồi Giáo ! Phật Giáo ! Thiên Chúa Giáo ! Do Thái Giáo ! hay Truyền Thống Văn Hóa, Tổ Tiên, Gia Đình … và đau đớn hơn nhục nhã hơn…Văn Hóa Cỗ Truyền ! Thoạt đầu họ nhơn danh, ngụy biện rằng để cải cách, sửa đổi, hay làm cách mạng, sau đó cũng nhơn danh nhưng để tuyên truyền, cũng cố, phát triển quyền lực do những sơ đồ, những thể chế do chính họ sắp đặt bày vẽ độc đoán áp đặt vào người khác, nhưng cũng vài thời gian sau đó, cũng nhơn danh, khi có số đông (vì quyền lợi tư), khi có quyền lực, để đàn áp, để giết, để bắt, để cầm tù, để cải tạo … tất cả những ai không đồng ý kiến mình !

«Nhơn danh» và «đổ thừa», là «đôi vú của con bò sữa» cách mạng. « Làm như », tất cả chuyện sai quấy, hư hỏng, bất công của ngày nay đều do những « tàn dư của chế độ cũ và tay sai nước ngoài », để bào chửa những bất lực, và viện lý những bạo lực của họ. Những từ ngữ như Thuộc địa, Tư Bản, Đế quốc … được nêu ra như là « nguồn gốc » của tất cả những sai trái, trật đường rầy của những cái gọi là « chánh sách » của họ.

Việt Namlà một thí dụ. 40 năm qua rồi, mà tất cả những sai trái, trật đường, từ cách quản trị xấu của họ, đến cái cảnh nghèo đói của dân, qua đến sự phát triển chậm tiến của nền kinh tế xã hội đều do lỗi Mỹ Ngụy và nước ngoài Tư Bản chủ nghĩa, cái đuôi của chế độ Thuộc Địa, Đế quốc, tàn dư Mỹ Ngụy ! Thế sao, sau khi người trí thức của một đất nước đệ nhứt thiên hạ, với một con số Tiến sĩ, Phó Tiến sĩ, Thạc sĩ khổng lồ, cùng với một giai cấp nhơn dân vô sản được thấm nhuần bốn ngàn năm văn hiến tam giáo đồng hành, văn võ song toàn, đỉnh cao trí tuệ loài người, thắng thằng Nhựt, đuổi thằng Tây, hạ thằng Mỹ, lại sao không thắng được cái nghèo, cái dốt, cái chậm tiến của đất nước Việt Nam ngày nay ?

Đến Nghịch Lý Văn Hóa nội tại!

Hay vì ? Do cái vị kỷ, cái tự phụ hay mặc cảm tự ty dân tộc, vứt bỏ, hay không dám nhìn nhận, những cái tích cực của ngoại bang, trong những cái tiếp súc chung đụng, gặp gở với « người nước ngoài ». Chớ quên rằng thuở ấy, khi người Tây Phương đến Đông phương thì người văn hóa Tàu và người Việt ta gọi họ là Man di Mọi rợ, vì da họ trắng, vì tóc họ vàng hay đỏ, vì mắt họ xanh, và họ …có râu xồm. Người Tàu và người Việt, chúa kỳ thị, núp sau cái bốn ngàn năm văn hiến « tàu », sau cái bốn ngàn năm văn học « Khổng tử » đầy mỵ dân, đàn áp dân, chỉ biết phục vụ quyền lợi giai cấp quan quyền, chức phận, tiền bạc của cải ! Văn Hóa Khổng Tử, là cả một nền văn học phục vụ một chế độ chánh trị Đế quốc Thuộc địa Phong Kiến như vậy mà được quan quyềnViệt dùng làm mẫu gọi là Thánh hiền để trị dân ! Chán thất ! Cho đến cả ngày nay, cũng vẫn còn, từ phong tục cổ hủ, đến văn hóa Nho Giáo gò bó, cả một nền Văn Học, từ thơ qua phú, từ vè qua ca dao, từ luân lý đến văn chương, toàn là đầy rẩy, hết chê, đến cấm con cái lấy người ngoại quốc. Tất cả Tây đen, Tây trắng, Ả rập, Hồi Giáo gọi là Chà Và, Tàu gọi là Chệt tất cả đếu là man ri, mọi rợ, … thậm chí kỳ thị chia rẽ, cả Bắc kỳ, Nam kỳ, Trung kỳ tuy là nước Việt, tuy là cùng nước, nhưng … không cùng xứ ! (người mình, ngoài mình, phe mình). Chưa kể chia rẽ Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo ! Bên lương, bên giáo.

Ngày nay, dù đã thế kỷ thứ 21, dù đã trú ngụ tại quê hương mới, văn minh, tiên tiến, chung đụng, sanh hoạt với người không đồng chủng, không đồng tôn, không đồng tục, thế mà vẫn còn đầy rẫy trên mạng những bài viết ồn ào, đầy những từ hỗn láo dơ dáy chuởi Đạo, quở người thờ Chúa, chê người đạo Hồi, và sẳn tay wánh luôn cả những tay theo Phật không giống mình …

Chúng tôi không dám « đạo đức giả » nói ai sai ai trái ! Quân Daech Hồi Giáo độc ác ! Đúng, nhưng quân đội Việt Cộng tuy là người Việt ta đó ! Cũng chặt đầu, cũng mổ bụng, thêm cú « xí mứn hổng giống ai » là dồn trấu vào bụng người đồng hương việt nam cùng máu mũ với mình thả trôi sông làm « thằng chỏng » ! Những hình ảnh « thằng chỏng » trôi sông của thuở thiếu thời đi lánh nạn ở Tân Trụ, Tân Hiệp, nay lâu lâu cũng hiện về ám ảnh giấc ngủ tuổi già ! Ai ác hơn ai !

Văn hóa Ả Rập, buộc đàn bà trùm khăn, che mặt, cho phép đàn ông lấy bốn vợ và ăn hiếp người nữ ? Hay văn hóa Tàu bó chơn « xẩm », lấy hai ba vợ, còn thêm 5 thê 7 thiếp, chưa kể đàn bà phải ăn sau khi hầu chồng ăn, ra đường đi sau chồng. Đàn bà phái nữ, Tứ Đức Tam Tòng, chỉ « đồ dùng », cưới về để « nội trợ, đẻ và nuôi con », không được đi ra ngoài ! Tàu (và Việt) có hơn chi Rệp ! Tại sao ta bênh vực Tàu, mà lại chê người Ả Rập ? Họ không ăn thịt heo, cho rằng heo ăn tạp, dơ dáy, Halouv ! Mình không ăn thịt cừu cho rằng « hôi » ! Tất cả là tập tục. Chúng ta người Việt Tự Do tỵ nạn Cộng Sản, ở Pháp, ở Mỹ…đều là dân ở đậu, sống « chùm gởi ». Nhưng tại sao, ngày nay, phe ta lại ăn có, nhập bọn với dân bản xứ, Tây trắng chê người đen, người rệp và … người tỵ nạn. Chúng ta quên chúng ta cũng là người tỵ nạn. Và chúng ta cũng từng bị kỳ thị như họ. Bằng chứng khi ta đến ngụ ở đâu, một thời gian sau, người bổn xứ dọn nhà đi, và chung quanh khu vực chúng ta toàn người á đông đến ở đầy. Khác chi người đen hay người Rệp, họ cũng như ta, đến ngụ đâu, tấy rời chổ đó ! Ở Mỹ có khu Việt khu Tàu, khu Đen. Thậm chí có khu Latino. Latino là dân nói tiếng Tây Ba Nha là dân da trắng. New York có Little Italy, khu người Y, Little Odessa, khu người Nga.

Cuối cùng, chúng ta cũng như những người Đen hay Rệp thôi…chúng ta cũng ở những khu riêng biệt gọi là ghetto, một từ ngữ phát xuất từ tên gọi đầu tiên do Cộng hòa Venise, năm 1516, ra lệnh tập trung cộng đồng Do thái trong khu vực của một xưởng đúc-fonderie, vì tiếng thổ ngữ venise gọi xưỡng đúc là getto hay ghetto. Qua thề kỷ 20, ghetto dùng để chỉ những khu gia cư, tập trung một cộng đồng thiểu số sắc tộc, sống một cách, cắt biệt với xã hội và tập tục người bổn xứ.

Những Westminster, Little Saigon hay Chinatown, hay khu 13 chỉ là những ghetto thôi ! Chúng ta, dân người Việt Tự Do tỵ nạn Cộng Sản, hãnh diện có những con đường ở Mỹ, ở Canada, ở Úc mang tên họ những người Việt Nam anh hùng. Nhưng chúng ta quên sao những cái tự hào vui sướng của chúng ta khi năm 1954, nhìn thấy các đường phố ở Sài gòn thân yêu của chúng ta thay các tên đường từ Pháp sang Việt. Những Hiền Vương, những Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo đã vĩnh viễn thay những Mayer, Paul Blanchy, Galliéni… Chúng ta hãnh diện dạo phố Lê Lợi, Tự Do …thay vì những Bonnard, Catinat. Và chúng ta vứt bỏ những phở Turc, những mỳ Jacquario, để thay bằng những phở Thái Lập Thành, những mỳ Tản Đà… ! Và cũng như ngày nay, chúng ta khóc vì những con đường thân yêu của chúng ta, mất tên những vị anh hùng lịch sử của dân tộc của người Việt ta để mang những cái tên của những tay đồ tể dân tộc như Lê Duẩn, Trường Chinh hay Võ Nguyên Giáp… !

Vì vậy chúng nên thông cảm người Mỹ (đen hay trắng) khi họ không bằng lòng với những tên Việt Nam ngày nay thay tên đường quen thuộc của họ, mặc dù ta viện rằng ta có bốn ngàn năm văn hiến và họ chỉ vỏn vẹn có 200 năm lập quốc ! Và ta lại phải cám ơn và biết ơn họ đã cho phép ta đặt tên Việt cho những đường xá thị xã của họ, và đặt biệt họ đã cưu mang, chia xẻ phương tiện kinh tế, tài chánh đời sống của họ cho chúng ta.

Và ngày nay, rủi họ có thích cưu mang, gánh vác thêm người tỵ nạn (đối với chúng ta là « dân cà chớn nên để chết ngoài biển cả » !) thì chúng ta những cư dân ở đậu cũng nên chiều theo ý chủ nhà ! Còn nếu ta không bằng lòng, thì ta dọn nhà đi. Đã đi một lần rồi ! Tất cả là Kinh Tế Mới mà, kể cả Cung Trăng kể cả Hỏa Tinh.

Nền Kinh Tế Huê Kỳ, một Nghịch Lý ngoại lệ!

Ai cũng biết : cán cân ngoại thương của Huê kỳ đã bị thất thu từ lâu. Theo nguyên tắc và luật lệ kinh tế – khách quan mà nói, với những quốc gia khác, với một nền kinh tế như vậy, thì đã tiêu tùng, xập tiệm từ lâu rồi. Đằng nầy, nền kinh tế Huê kỳ vẫn đứng, chả những vững, lại còn phát triển và còn lớn mạnh thêm. Tại sao ?

Năm 2015, chiếu dự đoán của cơ quan kinh tế quốc tế World Economic Outlook (WEO), qua những con số tháng 04/2015, Huê kỳ xuất cảng sang Trung Cộng 140 tỷ dollars US $, nhập cảng từ Tàu, 520 tỷ dollars US $, thất thu là 380 tỷ. Phải nhận xét thêm là gần như ngoại thương của Hoa kỳ thất thu với tất cả 5 châu, chớ không riêng gì với Tàu Cộng cả ! Lạ thật ! Nghich Lý thật ! Tại sao nền kinh tế Mỹ với cán cân ngoại thương thất thu như vậy, mà vẫn « trơ trơ cùng tuế nguyệt » ?

Năm 2012, Huê kỳ nhập từ Á châu 996 tỷ dollars, xuất 457 tỷ, thất thu 539 tỷ.

Âu châu, Mỹ xuất 329 tỷ, nhập 455 tỷ, thất thu là 126 tỷ.

Phi châu, Mỹ xuất 33 tỷ, nhập 67 tỷ, thất thu là 34 tỷ.

Trung Mỹ, Huê kỳ xuất 183 tỷ, nhập 172 tỷ, thặng dư là 11 tỷ.

Úc châu, Hoa kỳ xuất 36 tỷ, nhập 13 tỷ, thặng dư là 23 tỷ.

Canada và Mễ tây cơ, Huê kỳ xuất 508 tỷ, nhập 602 tỷ, thất thu là 94 tỷ.

(Theo Documentation française – Etats-Unis vers une hégémonie discrète – numéro 64).

Tóm lại, suốt năm 2012, cán cân ngoại thương cũa Hoa kỳ thất thu là 759 tỷ $.

Và nếu trở về trước từ năm 2000 chẳng hạn, thất thu về ngoại thương tính theo tỷ lệ tổng sản lượng là : 4,2 % ; 2001 : 3,9% ; 2002 : 4,3 % ; 2003 : 4,7 ; 2004 : 5,3 % ; 2005 : 5,9 % ; 2006 : 6% ; 2007 : 5,1 % ; 2008 : 4,7 ; 2009 : 2,7 % ; 2010 : 3,2 % ; 2011 : 3,1 % ; 2012 : 3,3 %. Dài dài, toàn là thất thu và mắc nợ.

Thử lấy một thí dụ : năm 2011, khi tổng sản lượng quốc gia Huê kỳ là 15 094 tỷ, sản lượng đầu người là 48 441 US $, thất thu ngoại thương là – 3,1 %. Như vậy, mỗi người dân Hoa kỳ sản xuất mỗi năm là 48 441US $, nhưng tiêu xài vượt bực thêm 3,1% tức là thêm 1 501, 69 $, (48 441,6 x 3,1%). Vì vậy phải đi vay, đi mượn !

Muốn hiểu rõ vấn đề ta trở về tý lịch sử. Năm 1944, tại Hội nghị Bretton Woods, các Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), Ngân hàng quốc tế (WB) hay Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) ra đời và đồng ý cho Huê Kỳ đưa đồng dollar của mình làm bản vị, phụ với kim loại là vàng và bạc để bảo đảm hệ thống tiền tệ các quốc gia trên thế giới. Cũng xin nhắc lại, trước năm 1944, cả thế giới đều dùng Kim bản vị. là vàng để bảo đảm đồng tiền của mình (cũng có vài quốc lấy Bạc), quy định một ký vàng tương đương bao nhiêu tiền, bằng một sắc luật của chính phủ.

Chiến tranh, một số lớn vàng chạy sang tỵ nạn ở Hoa kỳ. Sau chiến tranh, vì nhu cầu xây dựng, nên cần nhiều phương tiện trao đổi bằng tiền bạc. Và thế giới đành nhờ Mỹ chấp nhận giúp các nước Âu châu đang thời xây dựng bảo đảm tiền tệ của họ bằng dollars US Mỹ. Nghĩa là, từ nay, khi Ngân hàng Trung ương nào đó, có một số US$ dollars, thì có thể in tiền của mình,

Thoạt đầu, Huê kỳ quy định đồng dollar US $ tương đương với vàng «Có thể đổi ra vàng-Convertibilité en or». Nhưng năm 1972, dân Mỹ tiêu xài quá độ, như đã nói trên, nào phần dân tiêu, nào phần chính phủ, nào chiến tranh can thiệp, be bờ chống cộng … cán cân ngoại thương từ từ bị thất thu và thất thu dài dài! Nên Mỹ xả cảng, dollar không đối chiếu đổi ra vàng nữa. Nhưng dollar vẫn làm bàn vị các hối đoái tiền tệ. Thất thu, mắc nợ nhưng nhở là bàn vị nên kinh tế Huê kỳ vẫn tăng trưởng. Nghịch lý chưa ? Hãy nhìn

Từ 2000 tới năm 2012, tỷ lệ tăng trưởng so với tổng sản lượng quốc gia :

Năm 2 000, là 4,1 ; năm 2001 : 1,1 ; năm 2002 : 1,8 ; 2003 : 2,0 ; 2004 : 3,1 ; 2005 : 2,5 ; 2006 : 3,0 ; 2007 : 2,8 ; 2008 : 0,0 ; 2009 : – 3,6 ; 2010 : 3,2 ; 2011 : 1,6 ; 2012 :1,4. (Theo Indicateurs : Economie mondiale – Alternatives economiques – hors série).

Chỉ có năm 2009 là âm, do khủng hoảng kinh tế tài chánh năm 2008.

Tại sao vậy?

Vì do có một thể chế chánh trị tốt, dân chủ tự do và kinh tế thị trường, không những có thể vận động toàn lực người dân, mà còn thu hút nhơn tài trên thế giới, là nơi đất lành chim đậu ? Hay

Vì do sự thống trị thế giới bằng đồng Dollar ? Một« Chủ nghĩa thực dân mới » ? Kinh tế thế giới được xem như một sòng bạc lớn, Huê Kỳ làm cái, muốn kéo hay không kéo bài thêm (Xì Dzách-Baccara). Tay cái vốn nhiều hơn tay con. Và đặc Hoa kỳ hiện nay, có thể in thêm tiền. Đây là kiểu chơi cha, Mỹ chỉ có thắng!

Nay thêm TPP!

Hiệp Ước TPP Trans Pacific Partnership- Hiệp Ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương liên quan đến kinh tế của 12 quốc gia trong vành cung Thái Bình Dương : Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật, Malaysia, Mexico, New Zeland, Peru, Singapore, USA và Việt Nam. Khối TPP sản xuất ra khoảng 28 ngàn tỷ đô la một năm, bằng 40% sản lượng toàn cầu. Dẫn đầu sẽ là Huê Kỳ cùng Nhựt Bổn, và hai bạn vàng của Mỹ trong hệ thống NAFTA là Canada và Mexico. Nếu thành công, Nam Hàn và Đài Loan cũng sẽ tham dự trong vài năm tới…

Về chánh trị kinh tế, loại được Trung Quốc. Cạnh tranh trực tiếp với kế hoạch “Đối tác Kinh Tế Toàn Diện Cấp Vùng (Regional Comprehensive Economic Partnership) của Tàu. Phá vỡ luôn kế hoạch của Putin, Nga về Liên Hiệp Âu-Á – Eurasian Union.

Nói về chiến lược, TPP sẽ phá con đường tơ lụa Tàu, và dự án Ngân Hàng Đầu Tư Hạ Tầng Cơ Sở Á Châu-AIIB của Đại Xì Thẩu Tập Cận Bình Xù Xì. Hôm qua, Tổng Thống Barack Obama phát biểu: «95% khách hàng tiềm năng của chúng ta nằm ở nước ngoài. Chúng ta không thể để những nước như Trung Quốc thảo ra các đạo luật của nền kinh tế thế giới».

Nhưng nếu hỏi TPP có cân bằng giữa11 bạn hàng của Mỹ và Mỹ không ? Đó là một chuyện khác. Chắc chắn, trên nguyên tắc, việc mua bán sẽ đem lại lợi ích cho mọi người trong cuộc, nhưng lợi ích sẽ không đồng đều. Vì vào thị trường Mỹ rất khó, nhiều tiêu chuẩn, thị trường Mỹ rất kín. Trái lại hàng Mỹ sẽ nhập tự do vào chợ nhà. Riêng câu hỏi : TPP sẽ ngon lành cho Việt Nam ? Trả lời : Wait & See !

Hay là tránh anh Tàu gặp anh Mỹ. Tránh Ma Cô lại gặp Sở Khanh ! Chờ xem !

Hồi Nhơn Sơn, Mùa Trung Thu Và Nguyệt Thực Hồng 2015


TS Phan Văn Song

Tin Vui : Những kẻ hưởng tự do thích thờ ma cộng sản ...một Việt kiều Mỹ sập bẫy


VỀ VIỆT NAM MUA NHÀ, MỘT VIỆT KIỀU MỸ SẬP BẪY…

Ông Nguyễn Thanh Dũng ký đơn cầu cứu gửi đến Báo Dân Trí

Chuyện kéo dài cả 5 năm, Việt kiều này đòi tiền lại không nổi.
Báo Dân Trí kể rằng đó là khu đất ảo.
Bản tin Dân Trí nói rằng khi về nước sau 18 năm định cư ở Mỹ, ông Nguyễn Thanh Dũng đã bị một nhóm đối tượng lừa đảo chuyên nghiệp, có bài bản đưa vào tròng rồi chiếm đoạt hàng tỷ đồng. Điều đáng nói, sự việc kéo dài hơn 5 năm nay nhưng vẫn chưa được giải quyết thỏa đáng dù ông Dũng đã gửi đơn cầu cứu khắp nơi.
Bản tin kể rằng trong lá đơn cầu cứu gửi đến Báo Dân Trí, ông Nguyễn Thanh Dũng (45 tuổi, Việt kiều Mỹ, hiện đang trú tại Quận Thủ Đức, TP.SG) trình bày:
‘’Ngày 27.4.2010 tại Văn Phòng Luật Sư Bùi Văn Mạc (Quận 5), giữa tôi và bà Lương Thị Kim Loan (50 tuổi, ngụ phường Phú Thọ Hòa, Quận Tân Phú, là người đại diện cho bà Huỳnh Thị Kim Hương, ngụ Quận 8 nhưng không có giấy tờ hợp lệ) có ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho tôi. Bà Loan đồng ý chuyển nhượng cho tôi lô đất tại nền số 30 Lô C1 (diện tích 119,5m2) tọa lạc tại khu tái định cư của dự án đầu tư xây dựng Khu dân cư Bến Lức trên địa bàn phường 7 (Quận 8) và xã An Phú Tây (Huyện Bình Chánh) với giá gần 2 tỷ đồng.’’
Ghi nhận: Con số 2 tỷ đồng Việt Nam là tương đương hơn 90 ngàn USD. Theo giá bây giờ là 90.100 đôla (viết theo lối Mỹ là: $90,100).
Ông Dũng chồng trước 1 tỷ đồng. Tức là gần 50 ngàn đôla. Thế là, bà Loan cầm tiền xong, là biến mất.
Báo Dân Trí kể:
‘’Ông Dũng cho biết, ngay sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng thì ông Dũng đã đặt cọc cho bà Loan số tiền 1 tỷ đồng. Hơn 900 triệu đồng còn lại sẽ thanh toán cho bà Loan sau 1 tháng. Theo ông Dũng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông và bà Loan có sự chứng kiến của ông Bùi Văn Mạc-Trưởng Văn Phòng Luật Sư Bùi Văn Mạc. Hợp đồng này sau đó được in làm 3 bản (ông Dũng giữ 1 bản, bà Loan giữ 1 bản và Luật Sư Mạc giữ 1 bản) để làm bằng chứng.
Tuy nhiên, sau khi nhận số tiền 1 tỷ của ông Dũng, bà Loan đã không làm các thủ tục sang nhượng đất như cam kết. Cùng thời điểm này, ông Dũng phát hiện, mảnh đất mà bà Loan đứng ra bán cho ông thực chất là của một người khác. ‘’Sau khi phát hiện vụ việc, tôi đã nhiều lần liên hệ bà Loan, yêu cầu trả lại 1 tỷ đồng nhưng bà Loan luôn tránh mặt…’’
Bản tin Dân Trí cũng nói, đến ngày 17.4.2013, ông Dũng đã làm đơn tố cáo bà Loan và những người có liên quan đến cơ quan cảnh sát điều tra công an TP.SG để tố cáo hành vi ‘’Lừa đảo chiếm đoạt tài sản’’.
Vấn đề là, công an từ chối xét đơn Việt kiều này, vì:
‘’…Ông Dũng nhận được thông báo của cơ quan CSĐT công an TP.SG cho rằng, việc ông Dũng đặt cọc, hợp đồng mua đất với bà Loan là do ông Dũng không kiểm tra kỹ trước khi đặt cọc, đồng thời hợp đồng mua bán đất không được văn phòng công chứng chứng thực nên không được pháp luật bảo vệ và bà Loan đã khắc phục một phần hậu quả cho ông Dũng. Bà Loan không bỏ trốn nên đây là tranh chấp hợp đồng mua bán không có sự việc tội phạm hình sự xảy nên cơ quan CSĐT không ra quyết định khởi tố hình sự vụ việc trên.’’
Ông Dũng kiện tiếp lên Viện Kiểm Sát Nhân Dân TP.SG. Cơ quan này nói mua bán bằng giấy tay thì ráng chịu…
Thực tế, ông Dũng không hề nhận lại một đồng nào hoàn trả (mà công an gọi là tiền khắc phục) từ bà Loan.
Có phải đây là quả đắng địa ốc của nghị quyết 36 giành cho Việt kiều ?
Nguồn:  Việt Báo

-------------------


Điều tra một Việt kiều chết bất thường trong ngôi nhà 2 tầng

  • alt
  • alt
  • alt
  • alt
TTO - Ông Huỳnh Công Anh (68 tuổi, quốc tịch Mỹ) được phát hiện đã chết trong căn nhà trên đường Phan Đình Phùng, P.1, Q.Phú Nhuận, TP.SG sau nhiều ngày không nhận báo.
Cơ quan điều tra đang khám nghiệm hiện trường - Ảnh: H.L
Cơ quan điều tra đang khám nghiệm hiện trường - Ảnh: H.L
Ngày 13-10, Công an Q.Phú Nhuận .SG(phối hợp các đơn vị nghiệp vụ Công an  khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi điều tra nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông Huỳnh Công Anh (68 tuổi, quốc tịch Mỹ) trong căn nhà trên đường Phan Đình Phùng, P.1, Q.Phú Nhuận.SG
Theo các nhân chứng, căn nhà nơi xảy ra vụ việc được ông Anh thuê sống một mình khoảng hai năm nay. Thường ngày, ông Anh vẫn xuất hiện ra vào hẻm 270 mua đồ ăn, thức uống… Tuy nhiên, khoảng 4 ngày nay không thấy ông Anh.  
Ngày 13-10, người giao báo cho ông Anh đến giao báo mới phát hiện 4 ngày nay ông Anh không nhận báo. Sự việc sau đó được báo cho chủ nhà để kiểm tra.
Một cán bộ trong đoàn khám nghiệm hiện trường cho biết ông Anh được phát hiện tử vong tại lầu 1 căn nhà trong tư thế nằm. Thi thể đang trong quá trình phân hủy.
Tại hiện trường có một số dấu hiệu nghi vấn như xuất hiện vết máu trên công tác đèn, ở bậc cầu thang có một đôi dép nữ dính máu và một chiếc búa.
HOÀNG LỘC
------------
Nguyễn Phương Hùng : Độc hại nhất là bọn ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản ngày nay.

NỢ MỘT LỜI XIN LỖI


Tính tới nay, bốn mươi năm đã qua. Gần một nửa thế kỷ, thời gian đủ dài để nhìn lại những sai sót, những lầm lẫn, những chuyện không hay đã xẩy ra để tránh lập lại, và ít nhất là nhận lỗi, để đưa ra một lời xin lỗi. Mặc dù lời xin lỗi đó có muộn màng, có quá muộn màng đi chăng nữa. Tôi rất thích cách nói này của tiếng Anh: Tôi nợ anh một lời xin lỗi, I owe you an apology. Khi mắc hay thiếu nợ thì phải trả, không có chuyện bỏ qua được.
Ngay sau khi những chiếc T-54 chạy vào Thành Phố Sài Gòn, ủi sập một cánh cổng và cầy nát thảm cỏ của Dinh Độc Lập (một cách không cần thiết), thì cái việc không hay đó cũng bắt đầu.
Trong cuốn Giải Phóng (1976) của Tiziano Terzani, một nhà báo người Ý, viết về ngày 30 tháng Tư năm 1975, có một bức ảnh đen trắng chụp một nữ du kích đứng tại góc đường Tự Do và Lê Lợi, có thể là trong ngày đầu tiên khi quân đội miền Bắc tiến vào kiểm soát Thủ Đô miền Nam. Người nữ du kích mặc quần áo đen, khăn rằn, mặt mũi vẩu viu, vẫn chưa hoàn hồn, vẻ kinh ngạc còn nguyên trong ánh mắt. Cảnh Sài Gòn đã tạo ra nét hoảng hốt đó.

Người Sài Gòn sau những kinh hoàng đầu tiên, đã kéo nhau ra đường tung hô những thay đổi, ngây thơ tưởng như làm như thế, họ sẽ được những bánh sắt xe tăng đối xử tử tế, nhẹ nhàng hơn. Những hình ảnh chụp cảnh đốt sách báo ở ngoài đường, hay cảnh tham dự cuộc diễn hành của quân ‘’giải phóng’’ người ta thấy nhiều phụ nữ mặc những chiếc áo dài đẹp để mừng ‘’đoàn quân chiến thắng’’.
Nhưng chỉ vài ba ngày sau đó, cái ngây thơ đó đã bị dội cho những chậu nước lạnh buốt và tàn nhẫn. Nói là tàn nhẫn thì cũng vẫn còn là nhẹ. Phe chiến thắng quay lại đưa ra những đối xử tàn bạo ngay sau đó. Những kiểu ăn mặc của người Sài Gòn bị chiếu cố lập tức. Ở đầu đường, góc phố, các thanh niên bị chặn lại, những mái tóc bị những nhát kéo nham nhở làm cho ngắn đi, những chiếc quần ống hơi chật bị cắt cho rộng ra để có thể lọt một cái chai. Thời trang cách mạng, bưng biền không chấp nhận kiểu ăn mặc như thế. Những chiếc quần jean biến mất vào trong những góc tủ quần áo hay chạy ra chợ trời cùng với những kiểu quần áo ‘’đồi trụy’’ tàn dư của Mỹ Ngụy phản động.
 
Về phía phụ nữ thì những chiếc áo dài cũng ngừng xuất hiện. Những chiếc không hoa lá, mầu mè sặc sỡ thì với mấy nhát kéo để làm cho mất đi những nét thời trang bay bướm của những ngày trước khi bưng biền tiến vào. Hai chục năm Hà Nội nhem nhuốc áo cánh, quần vải thô không thể chốc lát điều chỉnh để có lại được cảm quan nghệ thuật trong lãnh vực ăn mặc. Cách ăn mặc của phụ nữ Sài Gòn chắc chắn làm cho những người như cô nữ du kích vừa từ bưng vào thành phố không vui.
Thế nên phải dẹp cái thứ thời trang không thích hợp với lối ăn mặc của cách mạng. Kiểu ăn mặc đó là kiểu đồi trụy. Cái đẹp cách mạng không có lối ăn mặc như thế.
Chỉ một thời gian ngắn sau đó, những chiếc áo dài mini của tuổi trẻ Sài Gòn, những kiểu áo đẹp thầm kín chững chạc hơn, vai raglan, không eo cũng biến mất…

Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều
Cánh tay tà áo sát vòng eo…
Guốc cao gót nhỏ mây vào gót
Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ…
(Nguyên Sa)

Nhưng rồi cũng không lâu sau đó, những chiếc áo dài đồi trụy thấy dần dần xuất hiện trở lại. Chúng được mua ở chợ trời của những người chủ của chúng để giải quyết những cơn túng quẫn của trận phá sản kinh tế diễn ra ở miền Nam. Những chiếc áo ấy được đem ra Bắc, được đem ướm vào những hình hài thô kệch, và bỗng biến những nét thô kệch ấy giảm đi ít nhiều. Những chiếc áo đó được đem ra mặc, và từ từ xuất hiện nhiều hơn khi người ta thấy chúng giúp làm bớt đi những nét quê kệch của người mặc. Chúng được dùng làm kiểu mẫu để đo may và cắt những chiếc áo mới.
Những chiếc áo dài từ đó dần dần không còn bị coi là đồi trụy nữa. Cán bộ nhà nước quay sang mặc chúng trong các dịp lễ lạc, tiếp tân và vợ của các lãnh tụ cũng diện chúng trong những chuyến xuất ngoại với chồng. Hết vợ Trương tấn Sang lại đến vợ Ba Ếch…mụ nào cũng lôi những chiếc áo may theo kiểu áo dài của thời đồi trụy Mỹ Ngụy, nhưng không thấy một con khỉ đột nào đòi cắt hai vạt trước sau như hồi năm 1975 nữa. Những cuộc trình diễn thời trang ở trong nước cũng đem trình diễn toàn những chiếc áo dài từng có lúc bị coi là đồi trụy và thiếu cách mạng tính, không tượng trưng cho nét đẹp bưng biền, giải phóng…
Bọn ngợm từng xúc phạm, mạ lỵ, bôi bẩn những chiếc áo dài phải xin lỗi những chiếc áo dài mới phải.
Nhưng có lẽ cũng chẳng cần tới lời xin lỗi của một bọn quen trò nhổ rôì lại liếm nữa. Cứ lôi những chiếc áo dài đồi trụy ra mặc cũng đã là tự chúng nó chửi cha chúng nó lên rồi.
Những chiếc áo dài đều biết điều đó!
Bùi Bảo Trúc

Bài Xem Nhiều