We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 27 October 2015

Toàn dân ghi nhớ công ơn nền đệ I Cộng Hòa : 26 Tháng 10 Ngày Độc Lập của Việt Nam

26 Tháng 10 Ngày Độc Lập của Việt Nam

image

Hàng năm, vào ngày 2 tháng 9, Hà Nội long trọng tổ chức Ngày Độc Lập cho Việt Nam. Ý muốn của chírih quyền Việt Nam hiện nay là cho dân chúng biết rằng chính họ là người đánh đuối thực dân Pháp dành Độc Lập cho Việt Nam.
Nhưng ngày nay những tài liệu lịch sử khả tín đã chứng minh ngược lại. Thật vậy, Hồ Chí Minh chưa bao giờ đánh đuổi được người Pháp khỏi Việt Nam, mà còn ký hiệp ước Sơ Bộ ngày 6. 3. 1946 cho phép Thực Dân Pháp chính thức trở lại miên Băc tái lập chế độ thuộc địa, sau khi chính quyền Pháp tại Đông Dương bị quân đội Nhật đảo chánh ngày 9. 3. 1945. Mục đích của Hồ Chí Minh khi ký Hiệp Định này là mượn tay Thực Dân Pháp tiêu diệt cảc Đảng Phái Quốc Gia, nhằm thiết lập chế độ độc tài toàn trị trên cả nước. Họ đã đạt được mục tiêu này, nhưng sau đó, vì quyền lợi mâu thuẩn giữa Đảng Cộng Sản Việt Nam và Thục Dân Pháp, Hồ Chí Minh phát khởi cuộc chiến tranh Việt-Pháp vào ngày 19. 12. 1946, áp dụng chính sách tiêu thô kháng chiên hủy hoại toàn bộ đât nước và tài sản quốc gia một cách vô ích, cho mục tiêu duy trì quyền thống trị độc tài của Đảng Cộng Sản trên lãnh thả Việt Nam.
Đến năm 1954, mặc dù thắng được Thực Dân Pháp ở Điện Biên Phủ, nhưng vì lúc đó, vì quyển lợi của Trung Cộng và Liên Sô, hai cường quốc Cộng Sản này sợ rằng nếu để cuộc chiến tranh Việt-Pháp lan rộng, chinh phủ Hoa Kỳ sẽ liều lĩnh, lợi dụng cơ hội để can thiệp vào chiến trường Đông Dương, có thế dưa đến cuộc đối đầu trực tiếp với giữa hai cường quốc này với Hoa Kỳ, nên họ ép buộc Hồ Chi Minh ký kết hiệp đinh Geneva, chia đôi đất nước Việt Nam đề nhường miền Nam Việt Nam cho Pháp thống trị. Có lè lúc đó không một thành viên nào tham dự hội nghị Geneva nghĩ đến việc Thực Dân Pháp rút khỏi Việt Nam, chì trừ cỏ phái đoàn của chính phủ Quôc Gia Việt Nam.
Thật vậy, Chu Ân Lai và Molotov, muốn Pháp ở lại Việt Nam, để ngăn cản ý đồ của Hoa Kỳ muốn thiết lập căn cứ quân sự tại đây, để thực hiện chính sách bao vây Trung Cộng tại Á Châu. Còn Hồ Chí Minh cũng mong muốn duy trì Lực Lượng Viễn Chinh Pháp tại miền Nam, để cùng với Pháp tổ chức cuộc Tổng Tuyển Cử vào năm 1956 để thôn tính toàn bộ miền đất phía Nam vĩ tuyến 17. Từ những toan tính này, các phe phái liên hệ đã không soạn thảo bất cứ một điều khoản trong hiệp định Geneva, qui định việc Thực Dân Pháp phải rút khỏi Việt Nam
Trong ý đồ này, chính quyền Hà Nội, luôn luôn nhờ Pháp đòi buộc chính phủ Ngô Đình Diệm phải thi hành Hiệp Định Geneva. Thực vậy, vào ngày 1.1.1955, khi thấy Pháp chuyển giao các cơ sở hành chánh và kinh tế lại cho chính quyền miền Nam, Thủ Tướng Phạm Văn Đồng của Bắc Việt đã gởi văn thư cho Pháp, trong đó viết rằng: Chúng ta đã ký Hiệp Định Geneva, và tùy thuộc vào quí Ngài để đòi buộc họ [chính quyền Miền Nam] tôn trọng Hiệp Định này. (xem p. Devillers. The Struggle for the Unification of Vietnam, in North Vietnam Today, 1962, tr. 31)
Vào thời điểm đó, không một quan sát viên quốc tế nào nghĩ răng Quốc Gia Việt Nam do Cựu Hoàng Bảo Đại lãnh đạo có thê tòn tại đến ngày Tổng Tuyển Cử, vì họ nghĩ rằng các đảng phái quôc gia và đặc biệt hơn nữa là các lực lượng quân sự của các giáo phái nhận tiền tài trợ của Pháp và các the lực tài phiệt của Pháp tại miền Nam vì mâu thuẩn quyền hành sẽ dẫn đến những tranh chấp quyết liệt khiến miền Nam tự sụp đỗ và tan rã. Cùng lắm, giả thuyết miền Nam may mắn lắm tồn tại đến tháng 7 năm 1956, thì chính quyền Bảo Đại cũng không đủ ý chí thống nhất và hậu thuẩn cùa quần chúng để thủ thắng với Cộng Sản trong cuộc tổng tuyển cử được dự trù tổ chức vào giữa năm đó. Từ những suy luận duy lý đó, các quốc gia Cộng Sản thư thái ngồi chờ sự sụp đỗ tất yếu của Miền Nam.
Còn về phía chính phủ Hoa Kỳ đã từ chối không ký vào Hiệp Định này, để dành quyền tự do hành động về sau này. Và trước viễn ảnh đen tối, chẳng còn bao lâu nữa bộ đội Cộng Sản sẽ lan tràn khắp cả lãnh thổ Đông Dương. Ngoại Trưởng Foster Dulles đã gấp rút triệu tập Hội Nghị Manila ngày 8. 9. 1954, đê thành lập Tổ Chức Liên Phòng Đông Nam Á, nhằm ngăn cản sự bành trướng của Cộng Sản xuống miền Nam cũng như Ai Lao và Cao Miên.
Trong tình thể hầu như hoàn toàn tuyệt vọng đó, Ông Ngô Đình Diệm đã chấp nhận mọi thử thách để về nước chấp chánh. Không chỉ những phóng viên báo chí, các nhà bình luận chính trị có ác cảm với ông Diệm, mà ngay những người ủng hộ ông, cũng đều bi quan cho rằng, chính quyền Diệm khó có thể kéo dài hơn 6 tháng.
Nhưng như một phép lạ, với một tinh thần quả cảm, một ý chí sắt đá, một nghị lực phi thường, một cuộc sổng đạo đức cá nhân thánh thiện, một quá khứ chống Cộng và chổng Thực Dân Pháp không tì vết và đặc biệt hơn cả là với tài lãnh đạo sáng suổt và một viễn kiến chính trị sâu sắc và đứng đắn. Đó là việc phải đáp ứng được khát vọng sâu xa nhất và gần như thiêng liêng về việc khôi phục toàn vẹn chủ quyền và nền độc lập thực sự cho toàn dân sau nhiêu năm lệ thuộc ngoại bang. Nhờ đó, chỉ không đầy 18 tháng cầm quyền, ông đã hoàn toàn xoay chuyển được tinh thế. Thât vậy, thành tích trước tiên của chính phủ Diệm là biên một vùng đất hồn loạn triền miên vì chiến tranh thành một quốc gia ổn định, có kỷ cương và luật pháp. Tiếp đến, ông đã xảy dựng được một quân đội quốc gia có kỷ luật, có khá nảng và tinh thần chiến đấu và sau hét là ông Diệm đã kiên tạo thể chế dân chủ, tự do, tiến bộ và đầy hiệu năng với sự hậu thuần nhiệt tình cùa tuyệt đại đa sô dàn chúng thời đó. Chính nhờ những tác nhân tích cực này, ông Diệm đà cỏ đù sức mạnh tinh thần và uy tín chinh trị để đựa vào Công Pháp Quốc Tế đòi Lực Lượng Viền Chinh Pháp phái triệt thoái khỏi Việt Nam, giao trả toàn bộ chủ quyền và độc lập thực sự cho Việt Nam. Thật vậy, những ngừoi lính cuối cùng trong Lực Lượng Viễn Chinh Pháp phải triệt thoái khôi Việt Nam vào ngày 25. 4.1956. Sau đó, một ngày. Phù Cao Uy Pháp tại Đông Dương bị hủy bỏ, cũng mang theo ỷ nghía chính thức chấm dứt 72 năm chế độ Pháp Bào Hộ Việt Nam (1884-1956).
Từ những sự kiện lịch sử này, chúng ta có thể đi đến kết luận là chính Ngô Đình Diệm chứ không phải Hồ Chí Minh đã đánh đuổi Thực Dân Pháp để dành lại chủ quyền và độc lập thực sự cho Việt Nam.
Và ngày 26. 10 hôm nay, mới chính là ngày Quốc Khánh, kỷ niệm ngày thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hòa, một chính thể đã thực sự thu hồi toàn vẹn chủ quyền và Độc Lập thực sự cho dân tộc Việt Nam
Và cũng từ đó, chúng ta có thể đi đến một nhận định khác, chính quyền Hồ Chí Minh luôn lợi dụng sinh mạng và tài sản của toàn dân để củng cố quyền thống trị và kiếm tìm đặc quyền, đặc lợi cho Đảng Cộng Sản Việt Nam và phục vụ cho mưu đồ của Cộng Sản quốc tế, chứ không bao giờ nghỉ đến đôc lập, chủ quyền của quốc gia và phúc lợi cho dân tộc.
Để có một nhận định khách quan và vô tư về công cuộc tranh đấu dành độc lập của ông Diệm, chúng ta thử tìm hiểu về thái độ của các cường quôc liên hệ vơí Việt Nam như Hoa Kỳ, Pháp và kiêm điểm lại nội tình chính trị Việt Nam vào những năm tháng đó.
Diệm tranh đấu dành độc lập
Thật vậy, giờ này, hơn nữa thế kỷ đã trôi qua, kể từ ngày ông Diệm về nước chấp chánh và trong khi chế độ Cộng Sản đang sụp đổ khắp nơi trên thế giới, thỉ cá nhân ông Diệm và đường lối lãnh đạo chính quyền của con người chống Cộng đầy quả cảm này vẫn còn là đề tài nhiều tranh cãi. Người viết không có tham vọng giải quyết những vấn nạn này trong bài viết ngắn dành cho tập kỷ yếu về vị lãnh đạo có nhiều đức độ và tài năng này. Ở đây chúng tôi chỉ căn cứ trên một số tài liệu khả tín đà được giải mật và những cuộc phỏng vân với những người đã thực sự tham dự vào các biến cố lịch sử thời đó, để hiểu rõ hơn về những tháng ngày đầy thử thách khi ông Diệm về nước thành lập chính quyền để khôi phục độc lập cho Việt Nam
Được Mời Làm Thủ Tướng
Đến nay một số tác giả vẫn cho rằng, ông Diệm từ chức Thượng Thư Bộ Lại vào năm 1933, đã sống một cuộc đời ẩn dật, tách rời khỏi sân khấu chính trị Việt Nam. Rồi đến năm 1950, khi du hành qua Hoa Kỳ với ý định đi tu đã sống khép kín trong các tu viện Công Giáo, không biết gì đến những biến chuyển của tình hình thế giới. Nhưng nhờ có ông anh, Giám Mục Ngô Đình Thục, nên được Giáo Hội Công Giáo La Mã hậu thuẩn và từ đó có được sự ủng hộ và can thiệp mạnh mẽ của Đức Hồng Y Spellman và ngoại trưởng Foster Dulles, cuối cùng chính quyên Pháp đã phải yêu cầu Quốc Trưởng Bảo Đại mời Ông Diệm về nước chấp chánh. Rồi nhờ chính quyền Hoa Kỳ hết lòng giùp đở, nên ông Diệm mới cỏ thể đứng vững trước tình thế ngã nghiêng của đất nước. Chứ ông Diệm chẳng có tài cán gì đặc biệt cả. Cho nên, đến năm 1963, khi Hoa Kỳ bỏ rơi, ông mới bị các tướng lãnh sát hại.
Nhưng ngày nay, những sử liệu đáng tin cậy cho thấy rằng những lập luận này là hoàn toàn thiếu cơ sở, nếu không muốn bảo là sai lầm. Thật vậy, những công trình nghiên cứu nghiêm túc của sử gia Edward Miller đăng trên Journal of South East Asian Studies số 35 do Đaị Học Quốc Gia Singapore ấn hành vào tháng 10. 2004 đă cho thấy rằng, vào thập niên 1930, dù không còn giữ chức vụ nào và đang bị cảnh sảt Pháp theo dõi, ông đà đóng một vai trò tích cực trong những biến chuyển chính trị của Triều Đình Huế. Ròi đến thập niên 1940, khi quân đội Nhật chiếm đóng Đông Dương, ông đã dựa vào thế lực của người Nhật để hồ trợ cho những nồ lực chổng Pháp nhằm tranh thủ độc lập cho Việt Nam và cũng trong giai đoạn này, ông cũng liên lạc với Kỳ Ngoại Hầu Cường Đễ đang sống lưu vong ở Nhật Bàn và thành lập một chính đảng bí mật nhằm chuẩn bị cho sự nghiệp chính trị sau này. Chính vì những hoạt động này, mà ông đã phải lẫn tránh vào Toà Tổng Lãnh Sự Nhật ở Huế để tránh sự truy lùng của Mật Thám Pháp.
Rồi đến thập niên 1950, khi đến Hoa Kỳ sống tại Institute of Chinese Culture và các tu viện của các Cha Maryknoll ở Lakewood, New Jersey rồi đến Ossining, thuộc Nữu Ước, kế đến, là Tu Viện Biển Đức (Benedictine) ở vùng Saint-Andre Les Bruges thuôc Bi Quốc, ông Diệm đã không bị cô lập như nhiều người lầm tường, mà việc làm đó còn mang tính cách chiến lược nhiều hơn. Thật vậy, những tu viện này đã cung cấp cho ông mạng lưới Công Giáo quốc tế, giúp cho ông có thế chuyển những tin tức một cách an toàn cho các đồng minh của ông tại Đông Dương, tránh sự theo dõi của mật vụ Pháp. Cũng như trong thời điểm này, các cộng sự viên của ông và các bào đệ của ông đã thành lập được các chính đảng tại cả 3 miền Trung, Nam và Bắc để chuẩn bị cho ngày trở về của ông. Trong thời gian gần 3 năm sống tại Hoa Kỳ từ 1951- 1953, ông Diệm đã tạo được một tích sản quan trọng trong chính trường Hoa Kỳ. Thật vậy, một số chính trị gia có uy tín như John Kennedy, Mike Mansfield, Dân Biêu J. Zablocki, Dân biêu Edna F. Kelly, Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện William O. Douglas, Hồng Y Spellman cùng vô số những nhà báo và một số học giả quan trọng đã bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với đường lối chính trị của ông Diệm.(xem Joseph Morgan, The Vietnam Lobby, The American Friend of Vietnam, 1955-1975, Chapel Hill, NC, Uni. of North Carolina Press, 1997, tr. 1-14)
Độc già có thể tìm thấy đầy đủ chi tiết quan trọng về những hoạt động chính trị của ông Diệm trong bài của Edward Miller, được trích đăng lại trong đặc san này.
Về việc bổ nhiệm ông Diệm vào chức vụ Thủ Tướng, chính những người trong cuộc như Quốc Trưởng Bảo Đại đã tiết lộ trong hồi ký của ngài, vì tin tưởng và quí trọng đức độ, tài năng và sự quả cảm của ông Diệm nên mỗi lần đất nước ở vào tình thế nghiêm trọng, ngài đà mời Ông Diệm ra thành lập chính phủ, nhưng Ông Diệm đêu từ chôi. Vào đâu năm 1954, giữa lúc tình hình Việt Nam biến chuyển nhanh chóng, quân Pháp đang bị bao vây nguy khốn ở Điện Biên Phủ và Hội Nghị Geneva sắp khai diễn để giải quyết cuộc chiến tranh Đông Dương. Bảo Đại lại nghĩ đến ông Diệm, nhưng sợ bị ông Diệm từ chối như những lần trước. Ngài đã nhờ ông Ngô Đình Luyện, một bạn học cũ của ngài trong thập niên 20 tại Pháp và cũng là bào đệ của ông Diệm làm trung gian, mời ông Diệm đến gặp ngài để bàn về việc thành lập chính phủ nhầm đối phó với tình hình vô cùng bi đát của Việt Nam lúc đó. Việc chỉ định ông Diệm làm thủ tướng là hoàn toàn do chủ ý của Quốc Trưởng, chứ không phải do sự vận động của người Mỹ hay áp lực gì của người Pháp cả. (Bảo Đại, 1990, tr 514 -516).
Về phía Bộ Ngoại Giao Mỹ, những tài liệu còn lưu trữ tại thư viện Dwight D. Eisenhower, đã cho thây rằng, chính giới Mỹ không hay biêt gì việc Quôc Trưởng Bảo Đại mời ông Diêm vê nước chấp chánh, cho đến khi Ông Ngô Đình Luyện được cà Quốc Trường Bảo Đại lẫn ông Diệm ủy nhiệm tiếp xúc để thăm dò lập trường của chính quyền Hoa Thịnh Đốn. Thật vậy, ngày 18. 5. 1954, theo lời yêu cầu của ông Ngô Đình Luyện, Smith, Thứ Trưởng Ngoại Giao Mỹ, lúc đó đang dự Hội Nghị Geneva và Philip Bonsal, Giám Đốc Đông Nam Á Sự Vụ tại Bộ Ngoại Giao, đã đến gặp ông Ngô Đình Luyện tại Ba Lê để bàn về ý định của Quốc Trưởng Bảo Đại chỉ định ông Diệm làm thủ tướng. Sau này, Smith tiết lộ rằng: ông Ngô Đình Luyện đã nói với ông, Pháp có thể sẽ chống đổi, nhưng nếu có sự hậu thuần cùa Mỹ, Ọuổc Trường Bào Đại sẽ chi định ông Diệm. (Department of State, Foreign Relations of the United States 1952-1954, 1955-1956, quyển XVI, tr. 843-849). Tuy nhiên, theo ông Ngô Đình Luyện xác nhận: Vào thời đó, ông và Quốc Trưởng không tin rằng Pháp sẽ ngăn cản việc ông Diệm thành lập chính phủ. (ông Ngô Đình Luyện đàm luận với tác giả tại Ba Lê vào tháng 9. 1986 và tại Melbourne tháng 4. 1987).
Sau cuộc hội kiến này, Thứ Trưởng Smith đã khuyến cáo Bộ Ngoại Giao Mỹ nên chi thị cho Toà Đại Sứ Hoa Kỳ tại Ba Lê tìm cách liên lạc với ông Diệm để thảo luận vấn đề này. Đồng thời, theo lời yêu cầu cùa Smith, Philip Bonsal cũng thông báo cho chính phủ Pháp biết nội dung cuộc gặp gỡ giữa người Mỹ và ông Ngô Đình Luyện.
Đến ngày 24 và 25. 5. 1954, theo chỉ thị của Hoa Thịnh Đốn, Đại Sứ Mỹ tại Ba Lê là Dillon và một số viên chức khác đã đên găp ông Diệm để bàn về việc ông nhận chức vụ thủ tướng. Nhưng sự việc đã xảy ra ngoài dự đoán của Hoa Thinh Đôn và các viên chức Mỹ tại Ba Lê, ông Diệm đã nhận lời mời của Quốc Trường Bảo Đại về làm thủ tướng, mặc dù chưa biết lập trường của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, sau đó, các giới chức Mỹ cũng tán trợ quyết định cùa Quốc Trưởng Bảo Đại và ông Diệm, vì nghĩ rằng không có nhân vật nào khá hơn ông Diệm lúc đó. (Department of State, Foreign Relations of the United States 1952-1954, 1955-1956, quyển XIII, tr. 1608-1609).
Trong khi đó, cơ quan CIA của Mỹ đang dành sự ủng hộ cho Bác sĩ Phan Quang Đán, một người tôt nghiệp tại Đại Học Harvard của Mỹ. Thật vậy, Robert Axnory, Phó Giám Đốc CIA lúc bấy giờ, đã cung cấp một vài dữ kiện khá ngộ nghĩnh về sự liên lạc giữa CIA và ông Diệm, mà ông ta phát âm là Ziem, Theo Amory, khi ông đang dự một dạ tiệc ở nhà Martin Agronsky, Thẩm Phán Tối Cao Pháp Viện William O’ Douglas kéo ông ra một góc phòng và nói với ông: Ông có biết ai là người sẽ giúp ông ở Việt Nam không? Người ấy đang sống ở quốc gia này. Đó là Ngô Đình Diệm. Ông lấy sổ tay và ghi vào là Zim Zim. Sáng hôm sau đến văn phòng, ông Amory yêu cầu các nhân viên phụ trách tiểu sự cung cấp bất cứ những chi tiết nào liên quan đên người có tên là Ngo Zim Zim. Nhưng họ đã không tim được gì cả. Tuy vậy, trong buổi họp sáng hôm sau, ông đã đưa vấn đề ông Diệm ra để thảo luận với Allen Dulles, Giám Đốc của CIA, và Frank Wisner, Phó Giám Đốc đặc trách Kế Hoạch. Sau đó, Wisner đã cứu xét đề nghị này.(xem Oral History Interview with Robert Amory Ở Kennedy Library, tr 59 -60 và William c. Gibbons, 1986, tr. 262).
Các sử liệu trên đây chứng tỏ CIA hoàn toàn không hay biết gì về cá nhân ông Diệm, cho đến khi ông được Quốc Trưởng chỉ định. Như thế, làm sao có thể bảo rằng Hoa Kỳ đã áp lực với Chính Phủ Pháp để đưa Ông Diệm về nước?
Chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam sau Hiệp Định Geneva
Quan điểm của Hoa Kỳ về việc tổ chức chính quyền cho một nước Việt Nam Tự do thời đó gồm 3 tiêu chuân sau đây:
Viêc Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam phải là điều kiện trưóc tiên và quan trọng hơn cả. Hoa Kỳ muốn Pháp phải đôi xử với Việt Nam như một quốc gia độc lập và có đây đủ chủ quyền và Hoa Kỳ cũng sẽ thiết lập các quan hệ ngoại giao với Việt Nam cũng trên những căn bản đó. Chỉ khi nào Việt nam khôi phục được một nền độc lập hoàn toàn, thì những người lãnh đạo của các phe quốc gia mới tranh thủ được ủng hộ của quần chúng với Cộng Sản được. Và chính sự ủng hộ nàỵ sẽ là yêu tô chính yếu tạo nên sự thành công cho các chính quyên của Nam Việt Nam.
Hoa Kỳ ủng hộ ông Diệm trong việc thiết lập một chính quyền đoàn kết quốc gia bao gồm những đại diện của các lực lượng chủ yếu trong sân khấu chính trị của Nam Việt Nam. Sau khi vãn hồi được sự ổn định trên bình diện quốc gia, Diệm triệu tập một Quốc Hội Lập Hiến để soạn thảo một Hiến Pháp nhăm chinh thúc thiết lập một chế độ dân chù và truất quyền của Quốc Trưởng Bảo Đại.
Hoa Kỳ và Pháp sẻ ủng hộ ông Diệm một cách mạnh mẽ.  Người Mỹ cũng ý thức rằng ông Diệm có một số khiếm khuyết về phương diện cá tính, như quá cứng rắn và không có khả năng thông đạt hay tạo nên những sự hấp dần sâu xa trong dân chúng, nhưng dù sao ông Diệm là một người quốc gia không bị tì vết trong quá khứ do sự hợp tác với Cộng Sản hay thực dân Pháp. Theo quan niệm của Mỹ, chính những đặc điểm này của ông Diêm, cộng với việc khôi phục hoàn toàn nền Độc Lập cùng với sự hậu thuần tích cực của Hoa Kỵ và Pháp, cuối cùng Nam Việt Nam sẽ có được một chính quyền chống Cộng hữu hiệu.(Ibid, quyển I, phần VI, tr.6).
Để hổ trợ cho chính sách chính trị này, Hoa Kỳ đã hoạch định một chương trình kinh tế nhằm mục đích lôi cuốn sự ủng hộ của dân chúng cho chính quyền Miền Nam và đồng thời giảm dần ảnh hường của Pháp trong phạm vi kinh tế. Các nhà hoạch định chính sách kinh tế của Hoa Kỳ tin rằng những đồng bào di cư Miền Bấc sẽ tạo nên những ảnh hưởng tốt đẹp trên nhiều bình diện khác nhau. Thật vậy, việc phân phối các vùng đất hoang chưa khai thác cho người di cư lập nghiệp sẽ lôi cuốn được sự hậu thuẩn chính trị của họ dành cho chính quyền. Đồng thời, nó cũng đẩy manh tiến trình đồng hóa giữa dân Miền Bắc và dân Miền Nam. Và sau hết nó dẫn đến sự toàn dụng đất đai, góp phát triển nền kinh tế yếu kém của Miền Nam.
Ngoài ra, chính phủ Hoa Kỳ còn quyết định trực tiếp viện trợ kinh tế cho Việt Nam, thay vì qua trung gian của người Pháp như trước đây, nhằm mục đích làm nổi bật ý nghĩa Độc Lập của chính quyền non trẻ của Miền Nam. Đồng thời giải kết nền kinh tế của Việt Nam khỏi sự khống chế của người Pháp. Theo quan điểm của người Mỹ,  nếu tiếp tục duy trì sự thống trị của người Pháp trên bình diện này, không những sẽ kiềm hảm những nỗ lực phát triển kinh tế của Việt Nam mà còn chống lại nền độc lập mà đất nước này mới thu hồi được. Và xa hơn nữa, nó cũng tạo nên những bất lợi cho những quyền lợi kinh tế của Hoa Kỳ (Ibid)
Về phương diện quân sự, chính quyền Hoa Kỳ cũng muốn đẩy mạnh tiến trình xây dựng một quân đội quốc gia để tiến dần đến việc đàm nhận vai trò bảo vệ an ninh bên trong lãnh thổ. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, Hoa Kỳ vẫn phải duy trì viện trợ quân sự cho Lực Lượng Viễn Chinh của Pháp, để Pháp tiếp tục giữ gìn trật tự bảo vệ miền Nam chống lại các cuộc tấn công, nếu có từ phía Hà Nội. Tuy nhiên, mãi cho đến tháng 12.1954, chương trình Mỹ thay thế Pháp trong việc huấn luyện quân sự cho quân đội quốc gia Việt Nam mới thực sự tiến hành được, khi sự mâu thuẫn trong lập trường giữa Bộ Ngoại Giao và Bộ Tham Mưu Liên Quân được giải quyết. (Xem bản tóm lược của Bộ Tham Mưu Liên Quân trình cho Bộ Trường Ọuốc Phòng để ngày 12.8.1954 và điện văn của Bộ Ngoại Giao gời Bộ Trưởng Quốc Phòng ngày 13.8.1954 tại Thư Viện Dwight Eisenhower).
Hoa Kỳ Yêu cầu Pháp Họp Tác
Trong phiên họp của Hội Đồng Anh Ninh Quốc Gia trong tháng 8 cũng yêu cầu chính phủ Ba Lê phải vượt qua những mối liên lạc tình cảm và kinh tế lâu đời của Pháp tại Việt Nam để hoàn thành chính sách mới tại Đông Dương. Có lẽ đây là một đòi hỏi quá nhiều và đầy khó khăn mà Hoa Kỳ đã đặt ra cho người Pháp lúc đó. Thật vậy, các nhà lãnh đạo tại Hoa Thịnh Đốn đòi buộc chính phủ của Tổng Thống Mendès-France phải thực hiện một sự thay đổi mạnh mẽ trong chính sách của Pháp tại Việt Nam. Vì Hoa Kỳ tin rằng chi có biện pháp đó mới thu phục được nhân tâm và sự ủng hộ tích cực của quảng đại quân chúng Việt Nam dành cho chính quyền quốc gia.
Một cách chi tiết hơn, một mặt Hoa Kỳ yêu cầu chính quyền Ba Lê duy trì lực lượng Viễn Chinh Pháp tại Việt Nam. Mặt khác, đòi buộc Pháp rút dần ảnh hường của họ khỏi đời sổng chính trị và kinh tế tại Việt Nam. Đồng thời, các nhà lãnh đạo Toà Bạch Ốc còn đề nghị chính quyền Pháp hợp tác với Hoa Kỳ trong việc thực hiện chương trình của người Mỹ tại Việt Nam. Trong khi đó, trên thực tế giởì hữu trách Pháp tại Ba Lê cùng như  tại Sài Gòn không thực tình ùng hộ cho chính quyền quốc gia do Thủ Tướng Ngô Đình Diệm lành đạo như họ đã cam kết với Hoa Kỳ. Thực vậy, chinh Bộ Trường Các Quốc Gia Liên Kết trong chính phủ Pháp, Guy La Chambre, bày tỏ quan điểm rằng ông Diệm mác phải ba lồi lầm chỉnh yếu sau đày:
Ông Diệm sè chông đối một chính quyền đại diện cho các khuynh hướng chinh trị tại miền Nam. Ngăn càn chương trình cải cách điền địa. Ong Diệm cùng sẽ từ chối việc truất phế Quốc Trưởng Bão Đại để thành lập một chế độ Cộng Hoà.
Do đó, Guy La Chambre kỳ vọng rằng Mỹ và Pháp nên tìm cách thay thế chính phủ Ngô Đình Diệm bằng một chính quyền mới để có thể dành thắng lợi trong cuộc Tổng tuyển cử dự định tô chức vào năm 1956.
Chính vì thái độ bất thân thiện, đôi khi thù nghịch của Pháp đối với chính quỵên Ngô Đình Diệm, đã khiến Hoa Thịnh Đốn phải quyết định dấn thân nhiều hơn trong tiến trình viện trợ kinh tế vậ Quân sự cũng như ủng hộ tích cực về mặt chính trị, để có thể đối đầu với thử thách nghiêm trọng của tình thế lúc đó. (Department Of Defence, United States-Vietnam Relations 1945-1967, quyển 10, phần iv, tr 7).
Lập trường của Pháp
Mặc dù trên nguyên tắc, Pháp chấp nhận giúp Hoa Kỳ trong việc thi hành chính sách của Mỹ tại Việt Nam, nhưng trên thực tế những phương thức mà Hoa Thịnh Đốn hoạch định về kinh tế, quân sự và đặc biệt về phương diện chính trị của Việt Nam được đề ra từ tháng 8.1954 lại đối nghịch với quyền lợi và mục tiêu của Pháp.
Rất tiếc đến nay, vì một số trờ ngại kỹ thuật, người viết chưa thể tham khảo những tài liệu đầu tay của Pháp như các văn kiện và tài liệu liên quan đến chính sách về Việt Nam thuộc về Bộ ngoại Giao, Bộ Pháp Quốc Hải Ngoại hay Bộ Đặc Trách về Các Quốc Gia Liên Kết của Pháp, đang lưu trữ tại Thư Viện Quốc Gia Pháp tại Aix-En-Province. Do đó, phần nghiên cưú sau đây, người viết phải dựa vào tin tức và tài liệu từ phía Hoa Kỳ.
Theo quan niệm của giới tình báo Hoa Kỳ thời đó, nếu Pháp nhanh chóng trao trả được độc lập cho Việt Nam và khuyến khích một chính phủ do những người có ý thức quốc gia nhiệt thành lãnh đạo thì lòng căm thù và hoạt động chông Pháp trong quần chúng sẽ giảm bớt. Và với sự giúp đỡ kinh tế và quân sự của Pháp, được hổ trợ bởi sự viện trợ của Hoa Kỳ, Việt Nam sẽ dần dần tổ chức được một lực lượng an ninh hữu hiệu, một tổ chức chính quyền vững mạnh và một chương trình dài hạn để cải tổ kinh tế và xã hội.
Nhưng trong thực tế cũng có thể có ba đường hướng khác hoặc là tổng hợp của những phương hướng này sẽ mở ra những căn bản mới cho chính sách của Pháp trong thời hậu Hiệp Định Geneva.
Đó là: Pháp cố gắng duy trì cơ chế Liên Hiệp Pháp, qua đó, mời Pháp gián tiếp kiểm soát guồng máy chính trị Việt Nam, duy trì sự thống trị về phương diện kinh tế hơn là giao trả hoàn toàn Độc Lập cho Việt Nam.
Pháp sẽ cố gắng đạt đến một thỏa hiệp với Hồ Chí Minh, tiến tới việc tổng tuyển cử năm 1956 để đi đến một nước Việt Nam thống nhất trong đó quyền lợi về văn hóa, kinh tể và chính trị của Pháp vẫn được tiếp tục duy trì.
Và sau hết, nếu tình thế trở nên quá tồi tệ đến mức không còn hy vọng gì nưã, Pháp sẽ quyêt định rút hết tất cả những sự ủng hộ về quân sự, kinh tế và hành chánh dành cho Đông Dương (Department Of Defence, United States-Vietnam Relations 1945-1967, quyển 10, phần iv, tr 4)
Ngoài ra, các giới chức ngoại giao Mỹ tại Hoa Thịnh Đốn cũng như ờ Ba Lê cũng tỏ vè nghi ngại về viễn tượng của một sự hợp tác được hình thành giừa Ba Lê và Hà Nội. Sự thiếu thân thiện và thiêu ủng hộ nhiệt tình cho chính phủ Ngô Đình Diệm cua Pháp đà củng cố thêm mối lo lắng này của Tòa Bạch Ổc.
Đại Sứ Mỳ tại Ba Lê, Dillon nghĩ ràng Mendes-Frances cùng tìm thấy tình hình chính trị lúc bay giờ qủa là một môi trường lý tưởng để trắc nghiệm phần căn bản trong triết lý chính trị sống Chung Hòa Bình do Pháp chủ trương. Và chính phù Pháp ngày càng cố gắng khai thác tình thế và cứu xét một chính sách mang hai miền Nam Bắc xích lại gần nhau. Pháp luôn nhấn mạnh đến viêc thi hành nghiêm chình Hiệp Định Geneva, một bằng chứng cho chính sách hòa giải này cùa chính quyền Ba Lê. Đại Sứ Dillon còn tiên đoán rằng Pháp sẽ chấp nhận kết quả chung cuộc của cuộc Tổng Tuyển Cử tổ chức vào năm 1956, dù kết qủa đó không công bằng đi nưã. Chính phủ Pháp gởi Jean Sainteny đến Hà Nội, để thương thỏa với Hà Nội nhằm bảo vệ các quyền lợi kinh tế và thương mại của Pháp tại Bắc Việt. Cũng nên nhắc lại rằng Sainteny là người có mối liên lạc thân hữu với Hồ Chí Minh và cũng là người đã ký với họ Hồ Hiệp Định sơ bộ 6.3.1946 cho phép Pháp đuợc đổ bộ ra Bắc sau Thế Chiến Thứ Hai. Những sự kiện này càng làm cho các giới chức Hoa Kỳ đặc biệt quan tâm đến diễn biến trong lập trường chính trị của Pháp.
Chính Jacque Raphael-Peygues, một cố vấn trong Hội Đồng Liên Hiệp Pháp và là một thành viên trong Bộ Tham Mưu của Mendès-Frances về Đông Dương đã tiết lộ với Đại Sứ Mỹ Dillon rằng, Sainteny đã thuyết phục chính phủ Pháp rằng Miền Nam Việt Nam sẽ sụp đổ và chỉ còn một phương thế duy nhất khả dĩ thực hiện được để cứu vãn quyền lợi Pháp tại Việt Nam là “chọn con bài Hồ Chí Minh” và ve vãn để lôi kéo Bắc Việt tách ra khỏi quỹ đạo của Cộng Sản Quốc Te. Pháp hy vọng rằng có thể biến Hồ Chí Minh thành một Tito của Việt Nam, một thứ Cộng Sản coi trọng quyền lợi quốc gia hơn là nghĩa vụ Quốc Tê, sẽ hợp tác với Pháp và ngay cả việc liên kêt Việt Nam trong Liên Hiệp Pháp. Raphael-Leygues còn thêm rằng Pháp muốn trì hoãn việc thi hành các quyết dịnh của Hoa Kỳ nhằm củng cố chế độ Sài Gòn vừng mạnh, đê nhận tiền của Hoa Kỳ tài trợ cho lực lượng Viễn Chinh Pháp bảo vệ Đông Dương, đồng thời quy trách nhiệm cho Hoa Kỳ trong trường hợp mien Nam rơi vào tay Cộng Sản.
Đường lối này của chính phủ Pháp tạo nên nhiều áp lực nặng nề cho tướng Ely, Cao Ưy Pháp tại Sài Gòn, ông phải bay về Ba Lê đòi thủ tướng Mendes-Frances minh xác rõ ràng lập trường của Pháp. Tướng Ely dọa sẽ từ chức, nếu chính phủ Pháp theo đuổi chính sách nước đôi (double game) chơi với cả miền Nam lẫn miền Bắc, mục đích ngồi chờ xem và chi để ùng hộ cho phe nào dành được thắng lợi cuối cùng. Mendès Frances đã phải trân an tướng Ely rằng chính sách của Pháp là hỗ trợ tối đa cho Việt Nam để giúp cho họ chiến thắng trong cuộc tổng tuyển cừ 1956. Sau những cam kết của chính phủ Pháp, tướng Ely cảm thấy an tâm phần nào và sau đó ông trở về Sài Gòn. Tuy nhiên, sự hậu thuẫn tối đa của Pháp hứa dành cho ông Diệm chẳng bao giờ thành hiện thực.
        Trong bốn giải pháp mở ra cho Pháp như đã nêu trên, chính quyền Ngô Đình Diệm và Eisenhower chỉ có thể chấp nhận giải pháp thứ nhất. Đó là việc trao trả toàn bộ Độc Lập cho Việt Nam. Vì đây là yếu tố nòng cốt và căn bản nhất để thu phục nhân tâm nhàm tạo nên sự phấn khởi trong quảng đại quần chúng để ủng hộ chính quyền quốc gia thành công. Chính quyền Ngô Đình Diệm đã xem Độc Lập như một nhân tố của sự thành công và là một khởi điểm cho những nổ lực tương lai. Do đó, chính quyền Ngô Đình Diệm và Hoa Kỳ không thể nào chấp nhận để Pháp duy trì sự kiểm soát gián tiếp trong các lãnh vực chính trị, kinh tế và quân sự.
         Còn chính sách hoà giải với Hồ Chí Minh lại càng bị chinh quyền miền Nam và Hoa Kỳ kịch liệt chỉ trích. Mặc dù, lúc đó Hoa Thịnh Đốn cũng chủ trương rằng cần phài xúc tiến những biện pháp ngăn chặn để Bắc Việt khỏi hoàn toàn lệ thuộc vào khối Liên Xô, nhưng Hoa Kỳ chẳng thi hành biện pháp nào khác là duy trì Toà Lãnh Sự Mỳ tại Hà Nội thời dó. Và đặe biệt ngoại trưởng Foster Dulles cũng không tin ràng Hồ Chí Minh trở thành Tito của Á Châu nên ông cương quyết từ chối viêc nói chuyện với họ Hồ. Vì thế Foster Dulles đã quyết định bóp chết mọi hy vọng của Mendès Frances nhằm đem Việt Nam làm một vật thí nghiệm cho chủ trương sống Chung Hoà Bình của Pháp. Và sau hết, Hoa Thịnh Đốn cũng cương quyết đòi buộc chính quyền Balê phải duy trì Lực Lượng Viễn Chinh Pháp để bảo vệ miền Nam cho đến khi quân đội Quốc Gia Việt Nam lớn mạnh.
Nội Tình Chính Trị Việt Nam
         Khi ông Diệm quyết định về nước để đảm nhận vai trò cứu quốc trong một tình thế vô cùng tuyệt vọng lúc đó, ngay cà những người cố vấn thân cận nhất của ông cũng can ngăn. Thật vậy, chính ông Ngô Đình Luyện đã mạnh mẽ khuyên ông Diệm đừng nhận lời mời của Quốc Trường Bảo Đại. Và khi ông Diệm đánh điện về nước yêu cầu ông Ngô Đình Nhu thành lập một ủy Ban Đón Tiếp, ông Nhu đã phúc đáp xin ông Diệm hoãn quyết định về nước trong một vài tháng, để xem xét tình thế lúc đó đang diễn biến hết sức mau lẹ và cho ủy Ban có thời gian chuẩn bị. Nhưng ông Diêm bác bò mọi can gián và cương quyết về nước. Ông tin rằng đây là cơ hội quyết định và cuối cùng, khả dĩ còn lại để ông cứu nước và bảo vệ phần đất miền Nam khỏi rơi vào tay Cộng Sản (ông Ngô Đình Luyện phỏng vấn với tác giả)
       Ngày 19. 6. 1954, ông Diệm chính thức chấp nhận sự ủy nhiệm của Quốc Trưởng Bảo Đại vào chức vụ Thủ Tướng Chính Phủ về nước thành lập nội các. Trong dịp này, Quốc Trường Bảo Đại cũng trao cho ông Diệm một đạo dụ ủy nhiệm cho toàn quyền hành động về hành chánh cũng như quân sự. (Bảo Đại, 1990, tr 515). Ngay sau đó, ủy Ban Đón Tiêp do ông Ngô Đình Nhu thành lập đã cử luật sư Trân Chánh Thành sang Ba Lê, trình bày tóm lược về tình hình Việt Nam lúc đó cho ông Diệm và họp bàn với Ban Tham Mưu của ông Diệm vê chương trình hành động ngay khi Thù Tướng Diệm bước chân xuống Phi Ngày 7. 7. 1954, Thù Tướng Ngô Đình Diệm chính thức trình diện nội các. Với đạo dụ của Quốc Truờng Bào Đai ủy nhiệm toàn quyền hành động về hành chánh và quận sự, trên nguyên tác, Thù Tướng Diệm là người cỏ nhiều quyền hành nhất tại Việt Nam. Nhưng trong thực tế, những quyền hành đó hoàn toàn nằm trên giấy tờ, vị tân Thủ Tướng này chẳng có một quyền hạn nào cà. Thực vậy, Quân Đội Quốc Gia nằm trong tay tướng Nguyễn Văn Hinh, một quân nhân Việt Nam, nhưng mang quốc tịch Pháp và cỏ vợ đầm, thích nói tiếng Pháp hơn là tiếng Việt. Lực Lượng Công An Cảnh Sát được Quốc Trường Bảo Đại đặc nhượng cho Lực Lượng Bình Xuyên điêu khiển. Đây là một băng đảng Mafia Việt Nam được phép khai thác sòng bạc Đại Thế Giới, Trung Tâm Hút Ma Tuý Kim Chung và các nhà mãi dâm tại Sàigòn và Chợ Lớn để lấy lợi tức. Riêng sòng bạc Casino Đại Thế Giới, mỗi ngày Bày Viễn đã giao nộp cho chính phủ của Quốc Trưởng Bảo Đại một triệu đông kê từ đầu năm 1949 (Bào Đại, 1990, tr. 416-417).
         Còn các tỉnh miền Tây, hoàn toàn nam trong sự chi phôi của các lực lượng võ trang của giáo phái Hòa Hào duới quyền của các tướng Trần Văn Soái (biệt hiệu Năm Lừa) và tướng Lê Quang Vinh (biệt hiệu Ba Cụt). Và sau hết, các tinh Miền Đông năm dưới quyền kiểm soát của các lực luợng vũ trang thuộc giáo phái Cao Đài do các tướng Nguyễn Thành Phương và Trịnh Minh Thế cầm đầu ( xem thêm George Me T. Kahin & ed. Governments and Politics in Southeast Asia, 1964, tr. 399- 400)
        Thực tế, lúc đó quyền hành của Thù Tướng Diệm không vượt quá khuôn viên cùa Dinh Gia Long vào những ngày đầu tháng 8. 1954. Ngay cả Lực Lượn

Ts. Phạm Văn Lưu

26-10-1956 : SỰ HÌNH THÀNH NỀN CỘNG HOÀ VÀ CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HOÀ TẠI VIỆT NAM

Nhân ngày ban hành Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà 26-10-1956 nghĩ về:



image
SỰ HÌNH THÀNH NỀN CỘNG  HOÀ VÀ CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HOÀ TẠI VIỆT NAM

   
·       Thấm thoát mà đã 59 năm(1956-2015), nền cộng hoà được thiết lập tại Việt Nam với bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà ban hành ngày 26-10-1956 tại Miền Nam Việt Nam, đối kháng với chế độ độc tài toàn trị cộng sản Bắc Việt mang bảng hiệu giả mạo “Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà”, bảng hiệu mà Hồ Chí Minh đã dựng lên sau cái gọi là Cách Mạng Tháng 8 năm 1945 cướp được chính quyền bằng xảo thuật chính trị.

·       Giả mạo về một nền dân chủ cộng hoà, vì trước sau đều chỉ nhằm mục đích lừa bịp công luận thế giới để tìm hậu thuẫn quốc tế, ru ngủ nhân dân, trong khi thực chất vẫn là độc tài cộng sản phản dân chủ.

·       Và vì vậy, có thể nói nền cộng hoà thực sự đã chỉ được thiết lập và thực thi tại Việt Nam kể  khi Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hoà được ban hành ngày 26-10-1956. Vì nền cộng hoà ấy đã là nền tảng cho một chế độ chính trị chủ quyền thuộc về toàn dân, một chế độ dân chủ cả hình thức lẫn nội dung, dù phôi thai còn nhiều khuyết tật, song đã phản ánh đúng ý nghĩa của từ ngữ Cộng Hòa và ý nguyện của toàn dân Việt Nam.
      
Presidential Standard of South Vietnam (1955-1963).png     Hôm nay, nhân ngày 26-10- 2015, nghĩ về Hiến pháp Việt Nam Cộng Hoà ban hành ngày 26-10-1956, chúng tôi muốn gửi bài viết này đến quý độc giả người Việt Nam không cộng sản trong cũng như ngoài nước, đề cùng tự hào với quá khứ rằng chúng ta đã chọn đúng nền tảng một chế độ chính trị phù hợp với ý nguyện của toàn dân và tin tưởng mãnh liệt ở tương lại, rằng  nhất định chúng ta sẽ thiết lập được một chế độ dân chủ trên nền tảng cộng hoà đã được xác lập 55 năm qua tại Việt Nam.Nội dung bài viết lần lượt trình bầy:
   1.- Bối cảnh hình thành Nền Cộng Hòa tại Việt Nam.
   2.- Nền Cộng Hòa và Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm
   3.- Nền Cộng Hòa và các bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa.
   4.- Nền Cộng Hòa và các chế độ Việt Nam Cộng Hòa (Đệ nhất và Đệ Nhị VNCH)

I/- BỐI CẢNH HÌNH THÀNH NỀN CỘNG HÒA TẠI VIỆT NAM.
     Như quý độc giả đã biết, sau Thế Chiến Hai, chủ nghĩa thực dân cũ đã buớc vào thời kỳ suy tàn,xu thế giải thực đã buộc các đế quốc từng có nhiều thuộc địa như Pháp, Anh, Tây Ban Nha, Bố Đào Nha, Hà Lan ….. đã phải lần lược trao trả độc lập cho các nước bị trị. Điển hình là một số nước trong vùng như Ấn Đô và Hồi Quốc được Đế Quốc Anh trao trả độc lập năm 1947; Indonesia được Hà Lan trao trả độc lập năm 1949; Triều Tiên được Nhật trao trả độc lập năm 1945; Lào và Cao Miên Pháp trao trả độc lập năm 1953. . . Do đó, theo nhận định của nhiều sử gia và học giả nghiên cứu chính trị và lịch sử, thì chẳng cần cuộc kháng chiến gian khổ 9 năm do đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN) phát động và chủ đạo tiến hành (1945- 1954) làm hao tổn nhiều xương máu nhân dân, tàn phá tài nguyên đất nước vô ích, để có được cái gọi là “Chiến thắng Điện Biên lịch sử”(7-5-1954), thì thực dân Pháp sớm muộn cũng phải trao trả độc lập cho Việt Nam cũng như nhiều thuộc địa khác. Chẳng qua Hồ Chí Minh và Cộng đảng Việt Nam tiến hành cuộc chiến tranh này, chỉ là lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân, dùng chiêu bài độc lập dân tộc để chiếm quyền thống trị đất nước, để áp đặt chế độ độc tài đảng trị CS, theo chủ trương bành trướng lãnh thổ, nhuộm đỏ tòan cầu của cộng sản quốc tế, đứng đầu là hai tân đế quốc Đỏ Nga – Tầu
        
     Thật vậy, trên thực tế, trước áp lực của xu thế giải thực, thực dân Pháp đã phải lùi từng bước, trao trả độc lập từng phần cho Việt Nam, qua các Hiệp Định Vịnh Hạ Long ngày 5 tháng 6 năm 1948, “đề cử” hòang đế Bảo Đại làm Quốc Trưởng, và Pháp thừa nhận Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Quốc Trưởng Bảo Đại như là một quốc gia độc lập nằm trong Liên Hiệp Pháp. Ngày 8 tháng 3 năm 1949 Tổng Thống Pháp Vicent Auriol và Quốc Trưởng Bảo Đại đã ký “Thỏa Ước Elysée”. Theo đó, Pháp hứa sẽ xây dựng cho Việt Nam một quân đội quốc gia chống cộng. Đây là khởi điểm của sự thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam, gốm có các binh lính và sĩ quan gốc “Khố Xanh Khố Đỏ” của Pháp chuyển qua. Chính những sĩ quan có xuất thân này, đã nắm vận mệnh quốc gia sau khi đảo chánh lật đổ Tổng Thống Diệm, cho đến ngày Miền Nam mất vào tay cộng sản (30-4-1975).
     Thề rồi, cuối cùng thực dân cũng đã Pháp phải trao trả độc lập hòan tòan cho Việt Nam. NhưngViệt Nam có số phận không may đã rơi vào thế gọng kìm của một chiến lược quốc tế mới, với cuộc chiến tranh ý thức hệ (cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa), nên đất nước bị qua phân theo Hiệp Định Genève ngày 20-7-1954, do sự áp đặt của các cường quốc, trái với nguyện vọng quốc dân Việt Nam.
     Hệ quả là một nửa nước Miền Bắc rơi vào tay đảng Cộng sản Việt Nam, thiết lập “Nền Chuyên Chính Vô Sản” , trên đó xây dựng chế độ độc tài tòan trị cộng sản, với quyền thống trị độc tôn, độc quyền của đảng CSVN, một công cụ chiến lược của hai tân đế quốc đỏ Nga-Tầu . Nửa nước Miền Nam Việt Nam được trao trả cho chính quyền chính thống quốc gia Việt Nam, thiết lập nền Cộng Hòa trên đó xây dựng chế độ tự do dân chủ, tức Việt Nam Cộng Hòa, với sự hổ trợ của Hoa Kỳ và các đồng minh Thế Giới Tự Do trên nguyên tắc, song trên thực tế đã bị Hoa Kỳ biến thành công cụ chiến lược của mình, một công cụ ngay tình khác với công cụ tri tình cho Nga- Tầu của Cộng đảng VN và chế độ Cộng sản Bắc Việt. Vì đảng Cộng sản Việt Nam vốn là một công cụ bành trướng của cộng sản quốc tế, đứng đầu là Nga Tầu lúc đó, nên đã phát động và tiến hành cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn để thôn tính Miền Nam Việt Nam(1954-1975).
     Chính quyền chính thống quốc gia và nhân dân Miền Nam,trong thế chẳng đặng đừng đã phải làm tiền đồn chống cộng cho Hoa Kỳ và Thế giới tự do, buộc lòng phải thực hiện cuộc chiến tranh tự vệ để ngăn chặn, đẩy lùi cuộc chiến tranh xâm lược đó của Cộng sản Bắc Việt, để bảo vệ phần đất tự do Miền Nam, trong ý hướng giữ vững độc lập quốc gia, chủ quyền dân tộc, để vừa chiến đấu chống cuộc xâm lăng của CSBV, vừa nỗ lực xây dựng thành công chế độ dân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Hòa, tiến tới thống nhất đất nước, không phải bằng bạo lực quân sự, mà bằng sự ưu thắng của chế độ dân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Hòa và nền kinh tế tự do phát triển phồn vinh ở Miền Nam, trên chế độ độc tài tòan trị CS và nền kinh tế chỉ huy nghèo nàn lạc hậu ở Miền Bắc . Nghĩa là chúng ta, muốn tiến tới tình trạng như Nam Bắc Hàn hiện nay, mà sự thống nhất Hàn Quốc một cách hòa bình, với sự ưu thắng của Nam Hàn dân chủ phồn vinh trên Bắc Hàn độc tài cộng sản nghèo đói và lạc hậu, chỉ còn là vấn đề thời gian.
     Chính vì mục tiêu và lý tưởng vừa nêu, Nền Cộng Hòa đã được xác lập tại Việt Nam, trên đó xây dựng chế độ dân chủ Việt Nam Cộng Hòa thay thế cho chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại nhiều thế kỷ trước đó tại Việt Nam.

II/- NỀN CỘNG HÒA VÀ CỐ TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM:
       Theo tự điển Hán Việt của học giả Đào Duy Anh, Cộng Hòa (Republic:Cộng đồng, dân chúng)có ý nghĩa như là nền tảng cho một chế độ dân chủ, “Chế độ Cộng Hòa” (Repubican Regime)với “Chủ quyền quốc gia thuộc về tòan dân”. Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm được coi là người khai sáng Nền Cộng Hòa như thế tại Việt Nam.
     Sử liệu cận đại Việt Nam ghi nhận các sự kiện có ý nghĩa sau đây: ngày 7 tháng 7 năm 1954, chí sĩ Ngô Đình Diệm đang sống lưu vong ở hải ngọai đã về nước chấp chánh theo sự ủy thác của Vua Bảo Đại trong ngôi vị Thủ Tướng Chính Phủ Quốc Gia Việt Nam, để chống cộng và nếu cần chống cả thực dân và phong kiến để bảo vệ tổ quốc (Như hồi ký của cựu hòang Bảo Đại đã viết). Vì xu thế thời đại, Thủ Tướng Diệm không thể duy trì thể chế quân chủ chuyên chế, nên với sự hậu thuẫn của 18 đòan thể chính trị (Hội Đồng Cách Mạng Quốc gia), họp tại Dinh Độc Lập đã quyết định thiết lập chế độ Cộng Hòa, theo xu thế thời đại, đáp ứng ý nguyện của quốc dân, qua cuộc trưng cầu dân ý ngày 23-10-1955 truất phế vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ Việt Nam thiết lập nhiều thế kỷ trước đó, tôn vinh Thủ Tướng Ngô Đình Diệm là Tổng Thống đầu tiên chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
     Để có căn bản pháp lý, ngày 26-10-1955 Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã ban hành Hiến Ước Tạm Thời Số 1, và ngày 23 tháng 1 năm 1956 đã ký ban hành Dụ Số 8 thiết lập Quốc Hội Lập Hiến định hướng cho chế độ Cộng Hòa sẽ được xác lập.    Trên căn bản các văn kiện pháp lý hành chánh này, nhân dân Miền Nam lần đầu tiên được cầm lá phiếu với tư cách là công dân một nước độc lập, có chủ quyền, đi bầu người đại diện vào Quốc Hội Lập Hiến để thay mặt mình sọan thảo ra một bản hiến pháp dân chủ trên nền tảng Cộng Hòa đầu tiên. Trong vòng 9 tháng sau, Quốc hội do dân bầu này đã hòan thành bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa và ngày 26 tháng 10 năm 1956,Thủ Tướng Ngô Đình Diệm đã ký ban hành bản hiến pháp đầu tiên làm căn bản thíêt lập các định chế quốc gia, với tam quyền phân lập và cơ cấu của một chính quyền cộng hòa với chủ quyền quốc gia thuộc về tòan dân.

image
III/- NỀN CỘNG HÒA VÀ CÁC BẢN HIẾN PHÁP VIỆT NAM CỘNG HÒA.
     Như trên đã trình bầy Nền Cộng Hòa là nền tảng của một chế độ chính trị với chủ quyền quốc gia thuộc về tòan dân, theo học thuyết chính trị dân chủ Phương Tây, tương tự quan niệm dân chủ Phương Đông “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”, đều lấy “Dân làm gốc”. Tiếc rằng, quan niệm dân chủ này chỉ có trong sách vở ở xã hội phong kiến, thực tế Vua vẫn là tối thượng, chủ quyền quốc gia thuộc về vua, chứ không phải của tòan dân. Cũng như trong “nền chuyên chính vô sản” chủ quyền quốc gia thuộc về đảng cộng sản, quyền “Làm chủ của nhân dân” chỉ là bánh vẽ lừa mị nhân dân.
     Vì vậy muốn chủ quyền quốc gia thuộc về tòan dân, cần xây dựng một chế độ dân chủ trên nền tảng Cộng Hòa. Để thiết định chế độ Dân Chủ Cộng Hòa này, cẩn có một bản Hiến Pháp, là một văn kiện pháp lý căn bản qui định rõ quyền lợi nghĩa vụ người dân trong tương quan với các cơ quan công quyền, với các viên chức được người dân ủy quyền qua lá phiếu trong các cuộc bầu cử tự do, cử người đại diện cho dân, làm nhiệm vụ công bộc ăn lương của nhân dân, điều hành guồng máy công quyền quốc gia, từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ sở, theo ý nguyện của người dân, sao cho xã hội ổn định, phát triển, quốc gia phú cường, mọi tầng lớp nhân dân có điều kiện phát triển đồng đếu, “cộng đồng đồng tiến”, có đời sống sống ấm nó, mưu cầu hạnh phuc riêng (cá nhân) cũng như chung (tập thể).
     Trong ý hướng trên, bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên được sọan thảo và ban hành ngày 26-10-1956 và bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa thứ hai đuơc ban hành ngày 1-4-1967. Bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 26-10-1956 được sọan thảo dựa trên hai nền tảng triết lý và chính trị. Nền tảng triết lý là triết học duy tâm, lấy con nguời là trung tâm, là chủ thể xã hội và là đối tuợng phục vụ của xã hội.Nền tảng chính trị là chủ nghĩa nhân vị, trên đó thiệt lập chế độ cộng hòa với chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân,các quyền dân chủ, dân sinh và nhân quyền được tôn trọng và bảo vệ . Chủ đích của các nhà lập hiến khi chọn chủ nghĩa Nhân Vị  làm nền tảng cho chế độ Cộng Hòa để soạn thảo ra Hiến Pháp hữu thần Việt Nam Cộng Hòa là để đối kháng với triết học duy vật  và chủ nghĩa Cộng Sản vô thần, là nền tảng hiến pháp của chế độ vô thần Cộng sản Bắc Việt, vốn coi con nguời là sản phẩm kinh tế, là công cụ của xã hội, cá nhân phải phục vụ xã hội và quyền lợi cá nhân phải hy sinh cho quyền lợi tập thể (thực chất là hy sinh cho quyền lợi của một tập đòan thống trị CS), trong một xã hội mà những nguời cộng sản muốn thiết lập, đó là xã hội “Xã hội chủ nghia”, giai đọan đầu của xã hội cộng sản mà đỉnh cao là “Thiên đường cộng sản” (!?!)
     Tham vọng của các nhà lập hiến Việt Nam khi chọn chủ nghĩa Nhân Vị  làm nền tảng cho chế độ Cộng Hòa đối kháng với chủ nghĩa cộng sản Bắc Việt với chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (giả hiệu) như là một võ khí lý luận để đánh bại đối phương về mặt ý thức hệ, song song với nỗ lực quân sự đập tan cuồng vọng xâm lăng Miền Nam của Cộng sản Bắc Việt lúc bấy giờ. Với võ khí lý luận là chủ nghĩa Nhân Vị và chế độ Cộng Hòa, các nhà lập hiến Việt Nam Cộng Hòa tin rằng, nguời dân sẽ thấy đuợc hai con đuờng “Nhân vị chủ nghĩa” “Cộng sản chủ nghia” dẫn đến mục tiếu tối hậu hòan tòan trái nguợc: Chủ nghia nhân vị  “Xây dựng một xã hội vì con nguời,tôn trọng phẩm giá con nguời và xã hội phải phục vụ lợi ích tối thuợng của con nguời”. Trong khi chủ nghĩa cộng sảnxây dựng một xã hội Vì đảng cộng sản, nô dịch và xã hội hóa con nguời, biến con nguời thành công cụ phục vụ xã hội(thực chất là phụng vụ giai cấp thống trị), nhân vị bị hạ thấp ngang tầm lòai vật”(theo lý luận và thực hành Duy vật biện chứng của CS).
     Đồng thời, chủ nghĩa  Nhân Vị sẽ là nền tảng cho chế độ chính trị Cộng Hòa, để bảo đảm được nhân vị và các nhân quyền căn bản của người dân. Trong bối cảnh cuộc chiến tranh chống cộng bảo vệ nền Cộng Hòa và chế độ dân chủ VNCH, chủ nghĩa Nhân Vị giúp nguời dân phân biệt đuợc mục tiêu và lý tuởng tranh đấu tối hậu của nguời Việt Quốc gia là thiết lập cho kỳ đuợc một chế độ dân chủ cộng hòa là vì nhân vị và phẩm giá con người, vì hạnh phúc của nhân dân, quyền dân chủ dân sinh và nhân quyền được bảo đảm với tam quyền phân lập, trái nguợc với chế độ độc tài tòan trị cộng sản độc tài, độc tôn và độc quyền thống trị của đảng CSVN, vì quyền lợi của giai cấp thống trị là các cán bộ đảng viên CS.
     Chính vì vậy mà chủ thuyết nhân vị đuợc xác tín qua phần “Mở Đầu” của Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa ngày 26-10-1956 như sau:
    Tin tuởng ở sự truờng tồn của nền văn minh Việt Nam, cần có trên nền tảng duy linh mà tòan dân đều có nhiệm vụ phát huy;
   “ Tin tuởng ở giá trị siêu việt của con nguời mà sự phát triển tự do. Điều hòa và đầy đủ trong cương vị cá nhân cũng như trong đời sống tập thể phải là mục đích của mọi họat động quốc gia. . .”.
     Như vậy, chính trên nền tảng chủ nghĩa Nhân Vị, Quốc hội Lập Hiến đầu tiên của Quốc Gia Việt Nam đã sọan ra bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên,(hòan tòan khác với cái gọi là Hiến pháp Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của Cộng sản Bắc việt “ngụy cộng hòa”), và đã đuợc Thủ Tướng Ngô Đinh Diệm, sau trở thành vị Tổng Thống đầu tiên chế độ Việt Nam Cộng Hòa, đã ký ban hành ngày 26-10-1956.
        Nội dung Bản Hiến Pháp này,ngòai phần “Mở Đầu”, gồm 10 Thiên và 98 Điều thể hiện rõ Nguyên tắc phân quyền: Thiên thứ nhất quy định những “Điều khỏan căn bản”; Thiên Thứ Hai: “Quyền lợi và Nhiệm vụ nguời dân”; Thiên thứ ba:“Tổng Thống”; Thiên thứ tư: “Quốc Hội”; Thiên thứ năm “Thẩm Phán”; Thiên Thứ sáu “Đặc biệt Pháp Viện”; Thiên Thứ Bẩy “Hội ĐồngKinh Tế Quốc gia”; Thiên thứ tám “Viện Bảo Hiến”; Thiên Thứ Chín “Sửa Đổi Hiến Pháp” và Thiên Thứ muời “Các Điều Khỏan Chung”.
       
         Cuộc đảo chánh quân sự ngày 1-11-1963, với sự trợ giúp của ngọai bang đã đưa đến cái chết thảm thương cho Cố Tổng Thống Ngô Đinh Diệm, nguời có công khai sáng nền Cộng Hòa Việt Nam. Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa ngày 26-10-1956 bị hủy bỏ cùng với sự cáo chung nền Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hòa.
           Sau những năm triền miên bất ổn chính trị, xã hội xáo trộn do các phe phái chính trị quân sự tranh giành quyền lực (1963-1967) Bản Hiến Pháp Đệ Nhị Việt Nam Cộng Hòa đã được Quốc Hội Lập Hiến thông quan ngày 18-3-1967 và đã được Tướng Nguyễn Văn Thiệu trong tư cách Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc gia ban hành ngày 1-4-1967. Cuộc bầu cử ngày 3-9-1967 đã đưa Tướng Nguyễn Văn Thiệu lên ngôi vị Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa, là vị Tổng Thống thứ hai của nền Cộng Hòa Việt Nam.
         Ngày 5-4-1975,truớc áp lực của ngọai bang và biến chuyển của tình thế không còn kiểm soát được nữa, Tổng Thống Thiệu đã phải từ chức và trao quyền cho Phó Thổng Thống Trần Văn Hương theo qui định của Hiến Pháp. Chưa đầy một tháng sau, ngày 28-4-1975, Tổng Thống Trần Văn Huong, vị Tổng Thống thứ ba và cũng là vị Tổng Thống cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa , do áp lực của tình thế, đã lại phải từ chức để trao quyền Tổng Thống VNCH ngoài dự liệu của Hiến Pháp cho Tướng Dương Văn Minh làm nhiệm vụ khai tử chế độ đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa theo sự đạo diễn, sắp xếp của ngọai bang, như ông ta đã từng theo lệnh ngọai bang cầm đầu nhóm đảo chánh phá đổ chế độ Đệ nhất Việt Nam Cộng Hòa, sát hại Tổng Thống Diệm, người khai sáng nền Cộng Hòa Việt Nam 12 năm trước đó (1963-1975)
        Nếu so sánh tổng quát hai bản Hiến Pháp chế đô đệ nhất và đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa, cả hai có nền tảng chung là Cộng Hòa, cùng vận dụng nguyên tắc phân quyền theo học thuyết chính trị dân chủ Phương Tây, trong việc thiết lập và điều hành các định chế quốc gia và guống máy công quyền, nhằm thể hiện “Quyền lực quốc gia thuộc về tòan dân” và bảo đảm các nhân quyền và dân quyền cơ bản của công dân được tôn trọng, bảo vệ và hành xử.
         Nhưng khác là Hiến pháp 26-10-1956 dựa trên hai nền tảng chủ nghĩa nhân vị và học thuyết dân chủ Phương Tây để thiết lập  chế độ Cộng Hòa, với nguyên tắc phân quyền, còn bản Hiến Pháp 1-4-1967, chỉ dựa trên nền tảng chủ thuyết chính trị dân chủ Phương Tây để thiết lập chế độ Cộng Hòa. Nếu so sánh nội dung thì Hiến pháp VNCH ngày 1-4-1967 hòan chỉnh, tiến bộ hơn Hiến Pháp 26-10- 1956, với các định chế quốc gia và cơ cấu tổ chức chính quyền có nhiều điểm giống Hiến Pháp Hoa Kỳ nên có tính dân chủ cao hơn, như phân định rõ Tổng Thống nắm quyền hành pháp, Quốc Hội lưỡng viện (Thượng viện và Hạ viện)lập pháp và Tối cao Pháp Viện nắm quyền tư pháp, thể hiện rõ quyền lực quân bình của nguyên tắc tam quyền phân lập. Trong khi, Hiến pháp 26-10-1956, chỉ có quyền hành pháp mạnh (Tổng Thống) và lập pháp yếu(Quốc Hội) là thể hiện qua cơ chế, còn tư pháp chỉ quy định như một đòan thể (Thẩm phán đoàn) không có tính cơ cấu mạnh. Thế nhưng, việc vận dụng Hiến Pháp vào thực tế thì có lẽ, Hiến Pháp VNCH 26-10-1956 có thể là phù hợp hơn trong bối cảnh đất nước đang có chíến tranh lúc bấy giờ(cần một hành pháp mạnh), với trình độ ý thức dân chủ người dân chưa cao và đối phương CS có thể lợi dụng quyền dân chủ rộng rãi để lũng đọan chính quyền, quân đội và các lực lương an ninh của VNCH, như thực tế cho thấy.

IV/- NỀN CỘNG HÒA VÀ CÁC CHẾ ĐỘ VIỆT NAM CỘNG HÒA.
         Như vậy nền cộng hòa thể hiện rõ mục tiêu chống cộng bấy lâu nay của người Việt Quốc gia hay là người Việt Nam không cộng sản là để nhằm thành đạt mục tiêu tối hậu là xây dựng một chế độ dân chủ đích thực, chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã được xác lập tại Việt Nam, đánh dấu bằng sự ra đời của bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa 26-10-1956. Chế độ đó là chế độ đệ nhất và đệ nhị Việt Nam Cộng Hòa kế tiếp nhau (1956-1975).
         Ngày 30-4-1975, cộng sản Bắc Việt đã cưỡng chiếm Miền Nam, vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris ngày 27-1-1973 , tức vi phạm luật pháp quốc tế, trước sự đồng lõa, phủi tay của đồng minh Hoa kỳ, và sự làm ngơ của quốc tế, cụ thể là các cường quốc đế quốc đóng vai trò trung tâm quyền lực thế giới bảo đảm việc thực thi Hiệp Định Paris, thông qua tổ chức Liên Hiệp Quốc, vốn là công cụ của họ, do họ dựng lên và vì quyền lợi ưu tiên của họ, nhân danh nền hòa bình thế giới áp chế các dân tộc nhược tiểu.
   Như thế là Chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã bị cưỡng tử về mặt thực tế, song chúng tôi cho rằng vẫn tồn tại về mặt pháp lý căn cứ theo Điều 15 và nhiều điều khỏan khác trong Hiệp Định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình cho Việt Nam. Chế độ Việt Nam Công Hòa chỉ không tồn tại trên đất nước Việt Nam trong tư thế một quốc gia với đầy đủ ba yếu tố cấu thành: lãnh thổ, chính quyền và dân chúng, song vẫn tồn tại về mặt pháp lý, với thực tế là hầu hết bộ phận đầu não chính quyền, và một số khá đông (nay ước chừng 3-4 triệu) các thế hệ quân, dân, cán chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa đã kịp di tản ra nước ngòai trước ngày 30-4-1975, hay chậy trốn chế độ CS sau này, trong thân phận lưu vong, vẫn không bỏ cuộc, đã quy tụ lại tại hải ngọai tiếp tục cuộc chiến đấu chống cộng, với cùng mục tiêu đánh đổ chế độ độc tài cộng sản, thành đạt mục tiêu tối hậu là tái lập chế độ Dân Chủ trên nền Nền Cộng Hòa đã được xác lập tại Việt Nam từ năm 1956;và hiện vẫn tồn tại trên đất nước Việt Nam, trong lòng hơn khoảng 90 triệu nhân dân Việt Nam với khát vọng tự do dân chủ, vì các quyền tự do, dân chủ, dân sinh, nhân quyền đã và đang bị “nền chuyên chính vô sản” với chế độ “Độc tài tòan trị cộng sản” cướp đọat và chà đạp. Khát vọng này đã và đang được nhân dân trong nước thể hiện ngày một lan rộng và mạnh mẽ qua các cuộc đấu tranh đòi dân chủ, dân sinh, nhân quyền, tức đòi tái lập nền Cộng Hòa đã được xác lập trước đây,bởi chính quyền Quốc gia chính danh,kế thừa lịch sử dựng nước và giữ nước của tiền nhân; trái với chính quyền cộng sản ngụy danh, kế thừa lịch sử bành trướng quyền thống trị thế giới của cộng sản quốc tế, phản dân hại nước, như mọi người đều biết qua việc làm của họ, kề từ khi những môn đồ đầu tiên, đứng đầu là Hồ Chí Minh tình nguyện làm môn đồ của cộng sản quốc tế, du nhập chủ nghĩa cộng sản vào Việt Nam, tụ đảng từ ngày 3-2-1930 làm công cụ thực hiện nghĩa vụ quốc tế cộng sản để mở mang bờ cõi cho các tân đế quốc đỏ Nga-Tầu, phá họai tòan diện đất nước, để lại hậu quả nghiêm trọng nhiều mặt, lâu dài cho dân tộc Việt Nam, mà mai hậu sẽ mất nhiều thời gian và công sức dọn dẹp, tái tạo.
• KẾT LUẬN:
         Tóm lại, như vậy là cuộc chiến đấu anh dũng của quân dân Miền Nam bảo vệ chế độ dân chủ pháp trị Việt Nam Cộng Hòa đã thất bại, song chỉ là thất bại tạm thời, có tính giai đọan. Vì sau đó và cho đến nay, cuộc chiến đấu chống chế độ cộng sản độc tài toàn trị để tái lập chế độ cộng hòa trên cả nuớc vẫn đang tiếp diễn. Đây là giai đọan chống cộng cuối cùng vì dân chủ, cho nền cộng hòa Việt Nam của nguời Việt Quốc gia hay là nguời Việt Nam không cộng sản trong cũng như ngòai nuớc. Thực tế đã và đang ngày một khẳng định chính nghĩa “Cộng Hòa”(Chủ quyền quốc gia thuộc về toàn dân) tất thắng ngụy nghĩa “Cộng sản” (Chủ quyền quốc gia thuộc về đảng CSVN)
          Nhân dân Việt Nam nhất định sẽ thiết lập đuợc nền “Đệ Tam Cộng Hòa” trên tòan cõi Việt Nam trong một tương lai không xa, với một Bản Hiến Pháp Cộng Hòa “thể hiện đuợc nguyện vọng của nhân dân (Việt Nam), từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan”, như từng đuợc khẳng định trong lời “Mở Đầu” của bản Hiến Pháp Việt Nam Cộng Hòa tiên khởi ngày 26-10- 1956.
         Năm mươi chín năm qua, mục tiêu chống cộng để thực hiện lý tướng thiết lập cho kỳ được môt chế độ dân chủ cộng hòa trên quê hương đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta vẫn kiên định. Chúng ta tạm thời thất bại trong giai đọan chiến đấu bảo vệ chế độ Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc chiến tranh Quốc-Công vừa qua (1954-1975), song không chỉ có niềm tin mãnh liệt mà cả thực tế đã và đang ngày một khẳng định: Chân lý tất thắng, chính nghĩa quốc gia tất thắng ngụy nghĩa cộng sản. Nền cộng hòa nhất định sẽ thay thế nền độc tài chuyên chính cộng sản hiện nay tạiViệt Nam trong tương lai không xa.
         Kỷ niệm 59 năm ngày thành lập nền Cộng Hòa Việt Nam vào thời điểm này, ngòai mục đích tưởng niệm và ghi ơn những người đã có công thiết lập nền cộng hòa Việt Nam, như Cố TổngThống Ngô Đình Diệm và các dân biểu Quốc Hội Lập Hiến đã sọan thảo ra bản Hiến Pháp Việt Nam Công Hòa ngày 26-10-1956, chúng ta còn tưởng nhớ và ghi ơn hai vị Tổng Thống kế nhiệm Nguyễn Văn Thiệu và Trần Văn Hương ( dù các vị Tổng Thống ai cũng có những khiếm khuyết sai lầm về lãnh đạo khi còn tại chúc, song đều một lòng bảo vệ nền Cộng Hòa Việt Nam), cũng như các Tướng lãnh, quân dân cán chính Việt Nam Cộng Hòa đã chiến đấu hy sinh để bảo vệ nền Cộng Hòa non trẻ ấy. Đồng thời, cũng là dịp nhắc nhở chúng ta về mục tiếu chống cộng để thành đạt lý tưởng xây dựng môt chế độ dân chủ cộng hòa đích thực trên quê hương Việt Nam hậu cộng sản, chứ không nhằm thay thế chế độ độc tài cộng sản bằng một chế độ độc tài không cộng sản.
     Vì thực tế, đã có những biểu hiện cho thấy một số cá nhân và một số chính đảng quốc gia, đòan thể chống cộng ở Hải ngọai nói chung, Houston nói riêng, dường như đã coi nhẹ mục tiêu tối hậu này của sự nghệp chống cộng. Do đó đã có những chủ trương, họat động và cách ứng xử thiếu khôn ngoan, có tính “Độc tài không cộng sản” với những chiến hữu và đồng hương cùng bè quốc gia dân tộc, phái tự do dân chủ cộng hòa, có chung mục tiêu chống cộng với mình, chỉ vì khác quan điểm và phương thức chống cộng. Thực tế điều này đã tác hại rất lớn đến sức mạnh đòan kết, niềm tin tất thắng vào “Chính nghĩa Quốc gia” của quần chúng và các lực lượng lãnh đạo công cuộc chống cộng ở hải ngọai cũng như trong nước. Do đó cần phải được chấn chính kịp thời, nếu chúng ta, những cá nhân hay đòan thể muốn chống cộng vì dân chủ và chống cộng để thắng cộng, chứ không phải chống cộng để lấy tiếng, chống cộng mà chơi, chống cộng chỉ để cho vơi bớt thù hận, dù cộng sản thực tế quả đã gây và để lại quá nhiều thù hận trong lòng mỗi người Việt chúng ta. Nhưng chúng ta không chống cộng vì thù hận mà vì lòng yêu nước muốn đem lại những điều tốt đẹp cho Đất nước, cho tự do, dân chủ và hạnh phúc thật sự của quốc dân Việt Nam thế hệ hiện tại cũng như tương lai trường tồn của Dân Tộc Việt.
Thiện Ý
Houston, ngày 26 tháng 10 năm 2015.

Bài Xem Nhiều