We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 8 November 2015

Trò hề “Phát biểu trước Quốc Hội”

 Mấy ngày qua, việc Tập Cận Bình “phát biểu trước Quốc Hội” là một tin tức nóng. Không chỉ qua bộ máy tuyên truyền của đảng mà cả những người ngoài đảng hay thậm chí chống đảng cũng xem đó là một “sự kiện quan trọng”. Những trích dẫn, bình luận, phân tích được đăng đầy trên các báo ở Việt Nam. Người viết thấy không cần phải trích dẫn, đơn giản đó là luận điệu tuyên truyền quen thuộc của Tập Cận Bình.


Hôm 28 tháng 9 năm nay trong một diễn văn dài đọc tại Liên Hiệp Quốc, Tập Cận Bình cũng kêu gọi “gác qua quá khứ hận thù để hướng tới tương lai” và thậm chí còn nhắc đến dân chủ nhưng ngay trong lúc họ Tập phát biểu các phi đạo quân sự vẫn tiếp tục được xây trên quần đảo Trường Sa, các đảo nhân tạo dựng lên giữa vùng biển tranh chấp vẫn tiến hành theo kế hoạch. Và tuần này tại Thanh Hóa, Quảng Ngãi của Việt Nam, hàng ngàn ngư dân Việt Nam vẫn ra biển trong nỗi bất an. Họ thiếu thốn ngay cả những phương tiện thông tin tối thiểu để liên lạc nhau trong lúc hiểm nghèo khi “tàu lạ” đến.

Thật ra, đối với các lãnh đạo CS “phát biểu trước Quốc Hội” không phải là cơ hội để trình bày chính sách mà để tuyên truyền. Ngoài ra, đây chỉ là trò ăn cắp các thủ tục ngoại giao của các nước dân chủ chỉ để hợp thức hóa cơ quan đóng dấu gọi là quốc hội này và để che đậy bản chất toàn trị không hề thay đổi của CS. 

Quốc hội tại các nước CS

Cả thế giới đều biết trong chế độ Cộng Sản quốc hội chỉ là tấm bình phong để che mắt dư luận. Đảng mới là trung tâm quyền lực tuyệt đối điều khiển mọi hoạt động của đất nước. Một trăm phần trăm số đại biểu là đảng viên đảng Cộng Sản hay do các tổ chức ngoại vi của đảng Cộng Sản như Mặt Trận Tổ Quốc giới thiệu. Người dân không có một chọn lựa nào khác ngoài những tên tuổi đã được đảng đưa ra và “cử tri” chỉ đi bầu cho có. 

Suốt 74 năm tồn tại, mặc dù Liên Xô vẫn có quốc hội được gọi là Sô Viết Tối Cao, về mặt quốc tế, gần như không ai biết và cũng chẳng ai cần biết đến. Ngoại trừ khi các Tổng Bí Thư kiêm nhiệm luôn cả chức Chủ Tịch Sô Viết Tối Cao như trường hợp Leonid Brezhnev (sau 1977), Mikhail Gorbachev, chức vụ Chủ Tịch Sô Viết Tối Cao do người khác đảm nhiệm ít khi được nhắc đến trong các cuộc đàm phán hay bang giao quốc tế. 

Kliment Yefremovich Voroshilov là Chủ Tịch Sô Viết Tối Cao suốt bảy năm nhiều thay đổi của Liên Xô từ 1953 đến 1960, nhưng lãnh tụ thực sự của Liên Xô lúc bấy giờ là Nikita Khrushchev. Tương tự, trước 1977, Nikolai Podgorny là Chủ Tịch Sô Viết Tối Cao nhưng Leonid Brezhnev mới thực sự là kẻ nắm quyền. Hiệp ước Giới hạn Vũ khí Chiến lược (SALT I) ký ngày 26 tháng 5, 1972 là giữa TT Richard Nixon ký với Leonid Brezhnev chứ không phải với Nikolai Podgorny.

Tại Trung Cộng, Quốc Hội được gọi là Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, và Đại hội này bầu ra Quốc Vụ Viện để lãnh đạo Trung Quốc. Trên giấy tờ, văn bản, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc quả thật đúng là quyền lực cao nhất nhưng, tương tự như tại Liên Xô trước đây, gần như không bao nhiêu người ở ngoài Trung Quốc biết Chủ tịch Quốc hội là ai. Tổng số đại biểu quốc hội Trung Cộng là 2987 người trong đó 2157 người là đảng viên CS và số còn lại do Mặt Trận Thống Nhất, một cơ cấu khác của đảng CSTQ giới thiệu. Như vậy có nghĩa là 100% đại biểu đều vào quốc hội qua cánh cửa của đảng CS.

Sau Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc khóa 12, Trương Đức Giang đảm nhiệm chức vụ Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, tức là người đứng đầu Quốc hội Trung Quốc. Đồng thời y cũng là Ủy viên Bộ Chính trị và được xếp hàng thứ ba trong 7 người thuộc Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Quốc hội Việt Nam là bản sao của Trung Cộng về cơ cấu lãnh đạo nên việc đề cử, ứng cử, bầu cử đều chẳng khác gì Trung Cộng. Còn tệ hơn nữa, có một thời gian dài Việt Nam không có bầu quốc hội. Bằng chứng, sau lần “bầu cử” 1946, đảng CSVN không thấy cần có quốc hội nên suốt 14 năm sau đó, đảng chẳng màng nghĩ đến chuyện bầu bán làm gì cho tốn công tốn của. Đảng viện dẫn lý do không bầu là vì chiến tranh nhưng nếu đã là “Cơ quan quyền lực cao nhất” thì càng có chiến tranh cần phải bầu ra những người có tài để lãnh đạo quốc gia mới phải. Và cứ thế, hơn nửa thế kỷ dài dằng dặc từ khóa 1 đến khóa 13, văn minh nhân loại đã tiến quá xa mà trò hề “Cơ quan quyền lực cao nhất” vẫn không thay đổi và vẫn lừa gạt được người dân. 

Phát biểu trước Quốc Hội tại các quốc gia dân chủ

Tại các nước dân chủ, lấy Mỹ làm ví dụ trong bài này, phát biểu trước Quốc Hội là một thủ tục đặc biệt không chỉ dành cho các bậc quốc khách mà còn là quốc khách có thành tích, tư cách vượt trội hay vì nhu cầu chiến lược.

Tại Mỹ, Phát biểu trước Phiên họp Lưỡng viện Quốc Hội (Joint Meeting Addresses Before Congress) là một thủ tục ngoại giao cao nhất dành cho một lãnh tụ thế giới quan trọng như trường hợp Đức Giáo Hoàng phát biểu vào ngày 24 tháng 9, 2015 vừa qua, hay Thủ Tướng Nhật Bản Shinzo Abe phát biểu ngày 29 tháng 4 trước đó. Lãnh tụ nhân quyền Nam Phi Nelson Mandela là người duy nhất được mời phát biểu hai lần trước phiên họp lưỡng viện Quốc Hội Mỹ, lần thứ nhất (26 tháng 6, 1990) với tư cách lãnh tụ African National Congress, và lần thứ hai (6 tháng 10, 1994) với tư cách Tổng Thống Cộng Hòa Nam Phi. Phát biểu trước Phiên họp Lưỡng viện Quốc Hội còn là nơi để vinh danh các lãnh tụ đấu tranh nhân quyền dân chủ trên thế giới như trường hợp Vaclav Hável, Tổng thống Tiệp Khắc (21 tháng 1, 1990) hay Lech Walesa, lãnh tụ Công đoàn Đoàn kết Ba Lan (15 tháng 11, 1989). 

Trong suốt lịch sử của phát biểu trước phiên họp Lưỡng viện Quốc hội Mỹ từ 1874 đến nay, chưa có một lãnh tụ CS nào được mời đọc diễn văn trước diễn đàn được trọng vọng nhất của Mỹ này.

Tư cách và khả năng của Đại biểu Quốc Hội CSVN

Tại các quốc gia dân chủ, trước khi được “chọn mặt gởi vàng”, một ứng cử viên Dân Biểu Hạ Viện hay Nghị Sĩ Thượng Viện phải trải qua những cuộc vận động chính trị gay go, tốn kém và sống sót sau những trận tranh luận công khai, hiểm hóc với các đối thủ của mình. Phần lớn ứng cử viên là những người có trình độ nhận thức, kiến thức chính trị vững vàng và nghị trình tranh cử cụ thể. 

Trong lúc đó tại Việt Nam, hầu hết Đại biểu Quốc Hội là những nô bộc của đảng CS. Họa hoằn lắm mới có một người nói vài câu nghe được còn phần lớn phát biểu rất ngu ngơ, dốt nát. 

Trường hợp ngu mới nhất là lời phát biểu của Đại biểu Quốc Hội Lê Việt Trường, Phó chủ nhiệm Ủy ban An ninh Quốc phòng Quốc Hội. Khi nghe tin chiến hạm Mỹ tiến vào vùng Biển Đông tranh chấp họ Lê phán rằng: “Việt Nam mới là nước có quyền chủ quyền và quyền tài phán tại hai quần đảo này. Do đó, khi ra vào khu vực 12 hải lý ở các đảo thuộc quần đảo Trường Sa, phía Mỹ phải thông báo với cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam và phải thực hiện theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam... Việt Nam không hoan nghênh bất cứ nước nào đi vào khu vực này nhằm mục đích làm căng thẳng thêm, phức tạp thêm tình hình tranh chấp tại Biển Đông”.

Lê Việt Trường không biết rằng các hoạt động của Hải quân Mỹ cũng chỉ nhằm làm chậm bước chân bành trướng của Trung Cộng trong vùng Nam Thái Bình Dương chứ chẳng có đánh đấm thật sự nào. Y cũng không biết rằng mọi áp lực chống lại chính sách bành trướng của Trung Cộng tại Á Châu trong thời điểm này đều cần thiết. Từ cố TT Singapore Lý Quang Diệu cho đến TT Phi Benigno Aquino III cũng đều công nhận chỉ có Mỹ mới làm Trung Cộng lo ngại. Chẳng lẽ Lê Việt Trường tin rằng những tuyên ngôn, tuyên cáo đọc như học sinh trả bài suốt 30 năm nay của các phát ngôn nhân Bộ Ngoại Giao CSVN sẽ làm Tập Cận Bình chùn bước?

Lời tuyên bố của Lê Việt Trường chứng tỏ y không có một kiến thức căn bản về bang giao quốc tế mà chỉ bị nhồi sọ bởi các luận điệu tuyên truyền “Chống Mỹ cứu nước” của đảng vốn được đóng đinh quá sâu vào não bộ y. 

Tháng 6, 2014 cũng trong một buổi thảo luận về tranh chấp Biển Đông tại Quốc Hội, Nguyễn Bắc Việt, một Đại biểu Quốc Hội khác tuyên bố một câu còn bịnh hơn Lê Việt Trường: “Về vấn đề biển Đông, từ sáng tới giờ và những ngày qua trong phát biểu, tôi đồng tình với các ý kiến phát biểu ở một vế, đó là vế thể hiện lòng yêu nước. Nhưng còn một vế theo tôi là chúng ta chưa thực sự quan tâm, đó là yêu chế độ và lo cho con tàu Cộng sản và công nhân quốc tế… phải xác định cho rõ nguyên nhân, phải biết đau lòng với tình hình hiện nay của phong trào cộng sản, công nhân quốc tế. Hai nước xã hội chủ nghĩa lình xình với nhau như thế này, ai có lợi?”

Nói như Yuri Alexandrovich Bezmenov, môt nhân viên tình báo Liên Xô đào thoát sang Canada 1970: "Ngay cả mang anh ta tới tận Liên Xô và chỉ cho anh ta thấy trại tập trung, anh ta cũng không tin… cho đến lúc anh ta bị đá ngay vào đít, khi giày đinh đạp lên anh, rồi anh ta mới hiểu. Nhưng không phải trước đó. Đó là thảm kịch của trình trạng bị băng hoại về đạo đức trong con người". 

Miệng lưỡi độc tài luôn ngọt ngào

Một số người lo xa, Tập Cận Bình sẽ dùng cơ hội “phát biểu trước quốc hội” để tuyên bố hợp thức hóa quyền sở hữu của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Lo xa bao giờ cũng cần thiết nhưng không phải vậy đâu. Miệng lưỡi của các lãnh đạo CS bao giờ cũng rất ngọt ngào, thắm thiết chỉ có hành động của chúng mới vô cùng độc ác. 

Nhìn lại cách Trung Cộng nuốt chửng Tây Tạng để thấy kế hoạch của Mao vô cùng thâm độc. 

Ngày 7 tháng Mười 1950, 40 ngàn quân Trung Cộng vượt sông Jinsha. Hai tuần sau, Tây Tạng bị đánh bại. Nếu lúc đó, Mao chỉ thị tiến thẳng về thủ đô Lhasa và chiếm đóng Tây Tạng bằng vũ lực, Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhân dân Tây Tạng và cả thế giới cũng chẳng làm gì được. Thay vì, Mao đổi giọng ngọt ngào và kêu gọi chính phủ Tây Tạng đàm phán một giải pháp hòa bình, hữu nghị. Hiệp ước 17 điểm, trong đó Trung Cộng xác định chủ quyền trên Tây Tạng và cho phép nước này được tồn tại trong khuôn khổ tự trị. Trước sự hiện diện của 40 ngàn quân Trung Cộng, phái đoàn Tây Tạng ký hiệp ước ngày 23 tháng 5, 1951. Đức Đạt Lai Lạt Ma đánh điện tín chấp nhận. 

Năm 1959, Đức Đạt Lai Lạt Ma nhận ra bản thỏa hiệp chỉ là kế hoạch thâm độc của Mao để công khai cướp nước. Văn kiện đó thực tế là một tối hậu thư đầu hàng vì do Trung Cộng đưa ra trong cuộc đàm phán và phái đoàn Tây Tạng không được phép sửa đổi một điểm nào. Đức Đạt Lai Lạt Ma tuyên bố vô hiệu hóa hiệp ước, phát động cuộc nỗi dậy 1959 và sau đó lưu vong sang Ấn Độ cho tới hôm nay.

Cướp nước bằng văn bản không phải là sáng kiến độc đáo của riêng Mao mà đã được các lãnh đạo độc tài thực hiện nhiều lần trong lịch sử. Những ai quan tâm đến vận mệnh đất nước phải học lịch sử Việt Nam và thế giới. Nhiều nhà phân tích tiên đoán tương lai của một quốc gia dựa trên các điều kiện kinh tế chính trị quân sự đang diễn ra. Tuy nhiên như lịch sử đã chứng minh, khi quyết định, phần lớn các lãnh tụ dù độc tài hay chân chính đều nhìn về quá khứ. Lý do, quá khứ đã được chứng nghiệm giúp cho họ yên tâm và xem đó nguồn bảo đảm cho quyết định của họ. Phương pháp Mao dùng để chiếm Tây Tạng cũng giống như cách Hitler dùng để chiếm Tiệp Khắc 1938.

Như người viết đã trình bày nhiều lần, dù một đảng lớn như đảng CS Trung Quốc hay nhỏ như đảng CS Lào, đều là những đảng độc tài tiếm danh chứ không phải là lãnh đạo chính danh của một quốc gia, đại diện cho một nước, và chúng làm tất cả những gì có thể làm để che đậy, lừa gạt và củng cố tính chính danh lãnh đạo của đảng. “Phát biểu trước Quốc Hội”, do đó, chỉ là một trò hề.

8/11/2015
Trần Trung Đạo

Thời tỵ nạn, tuổi lưu vong


Con cá đá Xiêm mua từ tháng hai, chết một tuần nay rồi. Như vậy là từ khi về nhà tôi, nó sống được 7 tháng và nó đã được giữ vai chính trong truyện “Mùa Phấn Hoa Anh Túc” của tôi.
Người bán cá bảo nó có thể sống lâu hơn nữa cơ. Nhưng một tuần đi xa nhà, trước khi đi tôi quên thay nước, khi về thấy nó bơi uể oải trong bình nước đục tôi biết ngay là nó bị bệnh trong nước bẩn rồi. Tôi vội thay nước và nhớ thay thường xuyên. Nó sống, nhưng cái giải đuôi như lụa của nó không uốn lượn phất phơ nữa. Nó bơi lừ đừ, cái đuôi thỉnh thoảng mới đưa nhè nhẹ, như một ông lão đi chậm chạp, cầm cái quạt giấy, thỉnh thoảng mới phất phơ. Tôi biết là nó sắp sửa phải vào Hospice rồi. Cuối cùng, một buổi sáng nó nằm im dưới đáy bình, trên mấy cái lá rong xanh như một người bình thản đặt đầu trên gối lụa.

Tôi đem nó ra ngoài vườn, bới sơ dưới gốc cây Mộc Lan một hố nhỏ bằng cái chén ăn cơm, cho nó nằm vào, lấp đất lên. Cái thân bé nhỏ mong manh của nó chỉ cần mấy hôm sẽ tan vào đất.
Cái bếp của tôi tự nhiên vắng ngắt, im lặng mặc dù Biga (tên hai đứa bé đặt cho cá) trước đây chẳng bao giờ cất tiếng hát. Tôi đang nghĩ không biết sẽ trả lời hai đứa cháu ngoại thế nào khi chúng sang chơi, hỏi “Biga đâu?” Một tuần không có Biga tôi không có bạn trong bếp, cái bình thủy tinh trong suốt nơi tôi cho vào đó một cụm thủy trúc nhỏ có Biga bơi bơi nay chỉ còn nhìn thấy đám rễ vàng hoe. Nhà của Biga hay được để giữa cái bàn ăn nhỏ trong bếp này, tôi thường vừa nấu ăn vừa thỉnh thoảng ngắm nghía. Nhất là buổi sáng, một mình trong cái bếp yên tĩnh, vừa ngồi nhâm nhi cà phê vừa hỏi chuyện Biga vài ba câu, vừa nghe chim hót trên cây mộc lan ngoài vườn, đôi khi tôi nhớ đến câu thơ hay.” Xuân gần tàn / Hoa tràn lệ / Con mắt cá rưng rưng.” Đó là một vần thơ Hài Cú của Basho. Tôi đã đọc cho Biga và tôi cùng nghe.

Đối với tôi những con vật be bé hiền lành hay những loài hoa cỏ nho nhỏ, nhất là những loại nhắc đến quê nhà, rất cần thiết, tôi không thiếu chúng nó lâu được. Sáng nay tôi ra Pet Shop dán mũi vào mấy cái chậu cá vàng, nhìn mãi, biết là mình không mua được vì nhà không có hồ cá (lý do không biết đặt máy lọc nước và thay nước) lại dán mắt vào mấy cái hộp nhựa nhỏ đựng riêng rẽ từng con cá đá. Loại này không thể hai con sống chung một bồn với nhau được, khi cả hai cùng phái. Chúng nó sẽ đá nhau tới chết, Fighting Fish mà. Đó là lý do tại sao Biga phải sống cô đơn.
Tôi thấy con cá với cái đuôi màu đỏ có nhãn là Rose Petal khá đẹp nhưng giá tới hai mươi đồng. Hôm trước tôi mua Biga có bẩy đồng. Đắt quá! Tự nhiên tôi không muốn nuôi cá nữa, có lẽ tôi vẫn còn quyến luyến với Biga, nên lấy cớ đắt rẻ, vì chưa muốn con cá khác thay thế nó. Tôi lang thang ra chỗ Ếch Phi Châu. A, mấy con ếch này từ Phi Châu sang mà sao nó không đen, da nó có màu kem. Tôi hỏi mua hai con. Anh chàng bán hàng hỏi:
– Bà có hồ nước ấm không? Chúng cần ở trong nước bẩy mươi độ.
– Tôi không có.
– Như thế thì đừng mua.
– Tôi không có hồ ấm, nhưng tôi sẽ cho nước ấm mỗi ngày và tôi sẽ để nó ở trong bếp nơi tôi nấu ăn. Nếu cần, tôi sẽ đặt đèn cho nó cả ngày.
Anh ta nhìn tôi với cặp mắt không mấy thiện cảm, tôi lờ đi, nói:
– Anh lấy cho tôi hai con.

Anh ta miễn cưỡng mang cái bao ni-lon lại vớt hai con ếch to bằng hai con dế nhũi cho vào, đưa cho tôi với câu nói:
– Đáng nhẽ bà không có hồ ấm tôi không bán, vì giống này ở Phi Châu chỉ quen nóng thôi.
Tôi thấy anh ta khó chịu nên trả lời nhẹ nhàng.

– Anh đừng lo tôi ở xứ nóng sang đây, tôi cũng phải tập quen với cái lạnh. Hai con ếch này sẽ có ngày chúng bắt tôi cho thêm đá vào nước đấy.
Anh ta hừ nhẹ một tiếng trong họng, đưa bịch cá cho tôi không nói thêm một câu. Tôi lờ đi như không biết, vẫn cám ơn ngọt ngào.

Tôi mang ngay hai anh chàng Phi Châu về. Cái nhà của Biga bây giờ chỉ còn cây thủy trúc nhỏ. Dọn hai chàng này vào không được. Ếch cần có cái sàn rộng hơn. Tôi lại chạy đi mua một cái bình hình chữ nhật, ra vườn tìm ba hòn đá, cần một hòn mỏng, để làm nóc, tôi biết ếch thích leo trèo và thích có hang. Tôi kiếm được một miếng gạch vỡ, rửa sạch tất cả, xếp thành hình cái hang nhỏ trong đáy bình. Đổ nước âm ấm, thả hai con ếch vào, đứng ngắm:
Ao cũ / Con ếch nhẩy vào / Vang tiếng nước xao.

Hai con ếch dọn vào nhà mới không phải ao cũ, nhưng được nghe ngay thơ Basho, chúng thật là may mắn.
Chúng may mắn hay tôi may mắn. Tôi nhớ mùa hè năm ngoái, tôi mua được một cụm bèo Nhật ở một nhà bán cây kiểng Mỹ. Khi nó nở một bông hoa tím, tôi hạnh phúc đến bàng hoàng như mang được cả quê hương đến nơi này. Bao nhiêu câu hát về hoa Lục Bình theo nhau chạy về trong trí nhớ. Thế mới biết cái hồn viễn xứ mạnh thật. Khi sống xa quê những vật nhỏ bé, tầm thường nào mang hình ảnh quê nhà đều có tác dụng rất mạnh với mình.
Hai con ếch Phi Châu này không hiểu tại sao da không đen, chắc chúng đã mấy đời lai giống. Tôi nhớ mấy năm về trước tôi mua được một con da đen bóng nó sống với tôi được sáu bẩy tháng mới mất, nó mất cũng chỉ vì tôi vắng nhà mười ngày, không ai săn sóc nó, nếu không chắc nó còn sống lâu hơn. Tôi thích mấy con ếch vì nó làm tôi nhớ đến mấy con ếch nhỏ màu xanh biếc như cánh bèo ở ao quê nhà vào thời thơ ấu. Con ếch đó to và đẹp hơn loại ếch kiểng Phi Châu này nhiều.
Đôi khi tôi tự hỏi, mấy con cá mang nhãn hiệu của nơi xuất xứ thật ra đã bao nhiêu đời được gây giống bên ngoài quê hương gốc của nó. Hai con ếch Phi Châu này chắc chắn từ đời ông sơ, ông cố nó sinh ra ở Phi Châu không phải đời nó, nên nước da mới trắng nhợt thế này.

Tôi nghĩ đến thân phận di dân. Con người cũng vậy thôi, chỉ đời cha, đời ông mới được người cùng quốc gia ở quê nhà gọi là “kiều bào” nhưng đời cháu, đời chắt, họ đánh rơi ngay hai chữ đó trên mỗi bước họ đi. Họ nhận (hay họ chính là) người của quốc gia họ sinh ra và trưởng thành.
Điều đó tự nhiên đến nỗi chẳng ai còn nhớ ra để mà buồn, vì các ông bà cố và cha mẹ, họ hàng xa xưa của họ đã qua đời hết rồi. Đôi khi họ có lúc tìm lại, như tìm một sự kiện để làm một bản văn hay một luận án ra trường. Xong việc đó, mọi việc lại cất vào ngăn lưu trữ, họ lại sống cái đời đang sống. Tôi nhớ hồi mới sang Mỹ, gặp một phụ nữ Á đông ở chỗ làm. Hỏi chị người nước nào, chị thản nhiên nói “người Mỹ”. Chị sinh ra ở Mỹ, trưởng thành ở Mỹ, ông nội và bố chị cũng sinh ra ở Mỹ. Như vậy ông cố chị là người đầu tiên tới đây, đến chị là đời thứ bốn, cho nên chị không nói được tiếng Hoa. Chị nói, cả gia đình tôi, sống theo tập quán của người Mỹ, chúng tôi thưởng thức những ngày lễ hội của Trung Hoa như tất cả những người Mỹ khác mà thôi, không ai quan tâm đến mình phải là người Hoa nữa. Hồi đó mới sang, còn trẻ, tôi nghe ngạc nhiên lắm, nghĩ thầm trong đầu “Đúng là mất gốc”.
Bây giờ lớn tuổi, cách suy nghĩ cũng khác đi, miền tin vào năm tháng thấy mong manh quá. Thử tưởng tượng năm 2100, tám mươi lăm năm nữa, đứa bé Syrian được sinh ra ở Ý, ở Đức, ở Mỹ, vào năm 2015 lúc đó là một người già 85 tuổi, chắc sẽ nói về Syria như kể truyện cổ tích cho con cháu nghe mà thôi. Và sẽ bắt đầu bằng: Ngày xa xưa gần một thế kỷ, ông cố của ta đã tới đây….
Phải chăng, chúng ta sống trong thời đại của tỵ nạn và tuổi của lưu vong.(*)

Tôi nhìn hai con ếch mang nhãn Phi Châu với màu da vàng nhợt nhạt, nhớ đến con cá Xiêm, bất giác nghĩ đến phận mình, phận của bao nhiêu con người nữa, khác chi như cá, như ếch, như bông hoa lục bình trôi từ sông nước quê nhà tạt vào một xứ sở xa xăm.
Trần Mộng Tú

Thư số 49a gởi: Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam



Các Anh là Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Xin gọi Người Lính Quân Đội Nhân Dân là “Các Anh” để tiện trình bày. Chữ “Các Anh” viết hoa mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng.

Là Người Lính trong quân đội “Nhân Dân”, Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Tổ Quốc với Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng nào cầm quyền cũng chỉ một giai đoạn của lịch sử, và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.

Nội dung thư này, tôi cùng Các Anh trở lại Biển Đông đang căng thẳng vì Trung Cộng phản đối liên tục, sau khi chiến hạm Hoa Kỳ tuần tiểu sâu vào vùng 12 hải lý của Đá Ngầm Su Bi và Đá Ngầm Vành Khăn ngày 27/10/2015 mà Trung Cộng đã bồi lấp thành đảo nổi.

Thứ nhất.- Biển Đông, chiến trường pháp lý.

Ngày 13/10/2015, New York Times cho biết: "Hoa Kỳ được cho là chuẩn bị điều động chiến hạm tiến sát các đảo nhân tạo Trung Cộng đã bồi đấp một số Đá Ngầm thành đảo nổi ở biển Đông. Các cuộc tuần tra này sẽ được tiến hành trong phạm vi 12 hải lý của ít nhất một trong số các đảo nhân tạo mà Trung Cộng xây dựng trái phép tại quần đảo Trường Sa. Giới chức Mỹ cho biết, thái độ này nhằm thách thức yêu sách chủ quyền ngang ngược của Trung Cộng trên vùng biển rộng với đường hàng hải chiến lược trên Biển Đông" (trích trong e-mail H-Yến Trần ngày 14/10/2015).

Ngày 16/10/2015, Đại Tướng Phùng Quang Thanh, Bộ Trưởng Bộ Quốc Phòng Việt Cộng hướng dẫn phái đoàn tham dự cuộc gặp gỡ không chính thức với các Bộ Trưởng Quốc Phòng của khối ASEAN, tiếp theo là hội nghị Xiangshan Forum (Diễn Đàn Hương Sơn) với nhiều chuyên gia và giới lãnh đạo quân sự quốc tế sẽ bàn về nhiều vấn đề. Ba lãnh vực nổi bật sẽ được đề cập trong hội nghị Xiangshan Forum là: "An ninh của vùng biển Châu Á-Thái Bình Dương. Các vấn đề về hàng hải. Và chống khủng bố". Tại Bắc Kinh, sau khi Đại Tướng Phùng Quang Thanh gặp Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Cộng Thường Vạn Toàn, Đại Tướng Thanh cho biết là ông Thường Vạn Toàn nói rằng: "Dù Trung Cộng có phát triển lớn mạnh đến đâu, cũng không xâm lược các nước láng giềng trong khu vực”.

Ngày 17/10/2015, Tướng Phạm Trường Long, Phó Chủ Tịch Uỷ Ban Quân Sự Trung Ương của Trung Cộng , đã phát biểu tại Diễn Đàn Hương Sơn ở Bắc Kinh. rằng “Chúng tôi sẽ không bao giờ sử dụng vũ lực một cách cẩu thả, ngay cả trong các vấn đề chủ quyền, và đã làm hết sức để tránh xung đột bất ngờ”. Ông nói thêm “Những hòn đảo đó sẽ không phương hại tới tự do hàng hải ở Biển Nam Trung Hoa -tức Biển Đông- mà chúng tôi có thể cung cấp những dịch vụ công cộng tốt hơn cho hoạt động hàng hải và sản xuất” (trích từ VOA 17/10/15).

Ngày 24/10/2015, Tổng Thống Indonesia Joko Widodo lên đường sang Hoa Kỳ để thảo luận với Tổng Thống Barack Obama vào ngày 26/10/2015 tại Washington DC. Hồ sơ Biển Đông là điểm chính trong chương trình thảo luận giữa hai vị Tổng Thống. Trước ngày Tổng Thống rời Indonesia, Tổng Thống tái xác định quan điểm là bác bỏ đường 9 đoạn mà Trung Cộng tự vạch ra rồi giành chủ quyền trên Biển Đông, vì đã lấn chiếm quần đảo Natuna của Indonesia. Trong khi đó, nhật báo Wall Street Journal (23/10/2015) trích lời ông Luhut Pandjaitan, Bộ Trưởng Đặc Trách các vấn đề chính trị, pháp lý và an ninh, một nhân vật được cho là có ảnh hưởng mạnh nhất trong chính phủ Indonesia hiện nay, xác định rằng: "Jakarta sẽ nhờ Washington giúp đỡ trong việc thành lập một lực lượng tuần duyên hiện đại, để tuần tra các vùng biển chiến lược của mình, cũng như đóng một vai trò tích cực hơn trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ với Trung Cộng ở Biển Đông".

Cùng ngày 24/10/2015, trả lời cuộc phỏng vấn của AP tại Trân Châu Cảng, Đô Đốc Swift, Tổng Tư Lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, tuyên bố: "Chúng tôi đã sẵn sàng. Chúng tôi có đầy đủ khả năng thi hành mệnh lệnh, để chứng tỏ quyết tâm của Hoa Kỳ ở Biển Đông đối với quyền tự do hàng hải quốc tế"..

Các Anh nhớ rằng, Washington từng tuyên bố: "Không ngã về bên nào trong cuộc tranh cãi gay cấn về chủ quyền biển đảo ở khu vực, nhưng quyền lợi quốc gia của Mỹ gắn chặt với tự do hàng hải trong khu vực Biển Đông". Và trung tuần tháng 10/2015, Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Ash Carter đã nói tại Boston rằng: "Chánh phủ Hoa Kỳ sẽ cho phi cơ và chiến hạm hoạt động trong bất cứ vùng biển nào mà công pháp quốc tế cho phép, kể cả ở Biển Đông. Hải Quân Hoa Kỳ đã có kế hoạch điều động chiến hạm vào vùng biển trong phạm vi 12 hải lý cách các Đá Ngầm mà Trung Cộng đã bồi đắp thành đảo nổi tại Trường Sa, và đang quân sự hoá trên các đảo đó".

Sáng ngày 27/10/2015 -giờ địa phương- tờ Hoàn Cầu thời báo loan tin: "Ngoại Trưởng Trung Quốc Vương Nghị, đang tham dự hội thảo Trung-Nhật-Hàn tại Bắc Kinh, đã tỏ thái độ khi biết tin quân đội Mỹ sẽ đưa chiến hạm vào khu vực 12 hải lý quanh các đảo nhân tạo trong 24 giờ tới. Chúng tôi vẫn đang xác thực tin tức, nhưng cũng không quên cảnh cáo là Hoa Kỳ nên suy nghĩ cẩn trọng trước khi hành động, không nên gây chuyện làm bừa."

Tóm tắt. Trước đây cũng có thời gian "khẩu chiến" một bên là Trung Cộng với bên kia là Hoa Kỳ và Phi Luật Tân, thỉnh thoảng có thêm Australia, nhưng vài tuần qua thì cuộc "khẩu chiến" mạnh mẽ hơn khi Hoa Kỳ công bố sẽ đưa chiến hạm tuần tra chung quanh các đảo nhân tạo của Trung Cộng trong vùng quân đảo Trường Sa, hoặc bất cứ nơi nào mà Luật quốc tế về Biển cho phép. Thế là ông Vương Nghị, Ngoại Trưởng của Trung Cộng cảnh cáo Hoa Kỳ là không nên gây chuyện, mà thật ra nguồn gốc do chính Trung Cộng đã gây ra mà ngày nay mới thành chuyện.

Thứ hai.- Biển Đông, chiến trường cân não.

https://col128.mail.live.com/Handlers/ImageProxy.mvc?bicild=&canary=XumVFntDtf5qzEFlPB66uBvThg67aiEoQAEmYc0N5tI%3d0&url=http%3a%2f%2fbaocalitoday.com%2fuserfiles%2fimage%2fNews_Pictures%2f2015%2f10-27-2015_Cali_Wed%2fDan%2520trung%2520quoc.jpgNgày 27/10/2015, khu trục hạm USS Lassen được hộ tống bởi phi cơ trinh sát P-8A, và một phi cơ trinh sát khác, đã vào khu vực trong phạm vi 12 hải lý cách Đá Ngầm Su Bi và Đá Ngầm Vành Khăn mà Trung Cộng đã bồi đấp và xây dựng căn cứ quân sự trên đó, với khoảng 200 quân Trung Cộng phòng thủ. Nhiệm vụ tuần tra hoàn tất, không xảy ra sự va chạm nào.

Khu trục hạm USS Lassen, là tên của Trung Clyde Everett Lassen, phi công của Hải Quân đầu tiên và là quân nhân Hải Quân thứ 5 nhận được Huân Chương Danh Dự về sự can trường khi tham chiến ở Việt Nam. Khu trục hạm USS Lassen dài 155 509 ft, trọng tải khoảng 9 ngàn 200 tấn. Được trang bị 2 máy bay trực thăm Seahawk; phi đạn Tomahawk, phi đạn chống tàu ngầm RUM-139 Asroc, và sử dụng hệ thống phòng thủ Aegis. Vận tốc 30 hải lý, với thủy thủ đoàn 320 quân nhân.

alt alt

Cùng ngày 27/10/2015, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao Trung Cộng Lục Khảng phát biểu: "Chiến hạm USS Lassen đã xâm nhập bất hợp pháp hải phận Trung Cộng, và vụ việc này là mối đe dọa cho chủ quyền của Trung Cộng. Các cơ quan liên quan đang theo dỏi chặt chẻ chiến hạm này và sẽ đưa ra lời cảnh cáo theo đúng lậut biển. Khi cần thiết, Trung Quốc se đáp trả mọi hành động khiêu khích". Trong khi đó, Tân Hoa Xã Trung Cộng có bài xã luận rằng: “Bắc Kinh không đòi chủ quyền quá đáng ở Biển Đông. Bắc Kinh đối với các hòn đảo và bãi đá ở Biển Đông đã được ghi nhận và có giá trị trong lịch sử. Các giới chức Hoa Kỳ tranh cãi sự kiện này cần phải học lại những bài học lịch sử đã bỏ qua, hoặc làm lơ trước các sự kiện lịch sử.” Còn tờ Hoàn Cầu thời báo bình thường rất hung hăng, nhưng lần này chỉ ngắn gọn trong phần binh luận là: “Ngũ Giác Đài đang gây hấn với chúng ta".

Vẫn là ngày 27/10/2015, Tổng Thống Philippines Benigno Aquino tuyên bố trước báo chí: "Tôi nghĩ rằng, mọi người đều hoan nghênh một sự thăng bằng quyền lực. Một khi chiến hạm Mỹ tuân theo các luật lệ quốc tế, chúng tôi không thấy có vấn đề gì trong việc các tàu không có ý định thù địch đi qua. Nếu nói ủng hộ tự do hàng hải mà lại tìm cách ngăn trở các tàu bè khác, thì có vẻ không phù hợp". Bộ Quốc phòng Australia ra thông cáo ủng hộ tự do hàng hải tại Biển Đông. Còn Ngoại Trưởng Trung Cộng Vương Nghị (Wang Yi) bày tỏ quan ngại: "Chúng tôi khuyến cáo phía Mỹ nên cân nhắc kỹ trước khi hành động, không nên có những hành vi liều lĩnh, thiếu suy nghĩ, không gây rối loạn vô cớ".

Ngày 29/10/15, Tòa Án Trọng Tài thường trực tại Hague ((Permanent Court of Arbitration) tuyên bố: " Tòa Án có quyền thụ lý vụ kiện Biển Đông của Philippines, và có thể sẽ đưa ra phán quyết vào năm 2016". Phát ngôn viên của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ John Kirby tuyên bố trong buổi họp báo thường kỳ rằng: "Chiếu theo những điều khoản của UNCLOS, các phán quyết của toà án trọng tài tại Hague sẽ có tính ràng buộc pháp lý đối với cả Philippines và Trung Cộng, dù cho hai quốc gia này có chấp nhận hay không". Còn ông John McCain, Chủ Tịch Uỷ Ban Quân Vụ của Thượng viện Hoa Kỳ thì: "Phán quyết ngày hôm nay là một bước ngoặt quan trọng trong việc giữ gìn luật pháp quốc tế để chống lại những tuyên bố thiếu căn cứ của Trung Quốc về chủ quyền của họ trên Biển Đông".

Ngày 2/11/2015, bản tin của đài VOA dẫn tin từ tờ South China Morning Post, các hình ảnh do Hải Quân Trung Cộng công bố hôm thứ bảy -31/10/2015- cho thấy các phản lực cơ chiến đấu thuộc Đội Nam Hải có trang bị võ khí, cất cánh từ phi đạo trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hòang Sa.

Vẫn ngày 2/11/2015, một viên chức Hoa kỳ giấu tên, cho biết: "“Chúng tôi sẽ đến khu vực này khoảng hai lần trong mỗi tam cá nguyệt (tức 3 tháng) hoặc nhiều hơn một chút”. Đó là mức độ đúng đắn để việc tuần tra trở nên bình thường nhưng không quá gai mắt. Nó đáp ứng mục đích thường xuyên thực hiện các quyền của Mỹ theo luật quốc tế, cũng là nhắc nhở Trung Cộng và các quốc gia khác về quan điểm của Hoa Kỳ”.

Ngày 3/11/2015, với bài tham luận đọc tại Trung Tâm Stanford, trường Đại học Bắc Kinh, Đô Đốc Harry Harris, Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, tuyên bố: "Vùng biển và không phận quốc tế thuộc về tất cả mọi người, không phải là thuộc quốc của bất kỳ một quốc gia nào". Theo hãng tin Pháp AFP, tuyên bố công khai tại Bắc Kinh của Tư Lệnh Lực Lượng Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương, là một dấu hiệu cho thấy quyết tâm của Washington trong việc bảo vệ đường hàng hải chiến lược trên Biển Đông. Thế là Trung Cộng phản ứng ngay trong buổi họp báo thường kỳ tại Bắc Kinh. Bà Hoa Xuân Oánh, phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao của họ đã nói: "Hành động mới đây của Mỹ tại Trường Sa là một hành động khiêu khích trắng trợn".

Vẫn ngày 3/11/2015, bản tin AFP cho biết: "Bộ Quốc Phòng Australia ra thông cáo khẳng định rằng, điều quan trọng cần phải thừa nhận là theo luật pháp quốc tế, mọi quốc gia đều có quyền tự do hàng hải và hàng không, kể cả tại Biển Đông. Australia mạnh mẽ ủng hộ các quyền này. Tuy Australia không tham gia các hoạt động cùng với Hoa Kỳ tại Biển Đông, nhưng Australia sẽ tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ và các quốc gia khác trong khu vực về an ninh hàng hải. Australia với gần 60% hàng xuất cảng vận chuyển qua Biển Đông, và Australia có các lợi ích chính đáng trong việc duy trì hòa bình và ổn định tại vùng biển quan trọng này".

Trong khi đó, hãng tin CNN trích bản tin của nhật báo Sankei Shimbun (Nhật Bản) cho biết: "Chánh văn phòng nội các Nhật Bản Yoshihide Suga, từ chối đưa ra lời bình luận về việc chiến hạm Hoa Kỳ tuần tiểu vào khu vực 12 hải lý xung quanh các đảo nhân tạo do Trung Cộng tự ý bồi đắp tại Trường Sa, nhưng nói rằng, điều vô cùng quan trọng là cộng đồng quốc tế cùng ngồi lại với nhau để bảo vệ một đại dương rộng mở, tự do và yên bình".

Ngày 4/11/2015, các Bộ Trưởng Quốc Phòng của 10 nước ASEAN và của một số nước khác bắt đầu kỳ họp tại Kuala Lumpur sáng nay, trong khuôn khổ cuộc đối thoại thường niên, khởi đầu từ năm 2013. Tham gia cuộc đối thoại này có Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Ashton Carter và Bộ Trưởng Quốc Phòng Trung Cộng Thường Vạn Toàn. Đây là lần đầu tiên cuộc đối thoại giữa các Bộ Trưởng Quốc Phòng Châu Á-Thái Bình Dương, không ra được một tuyên bố chung do sự chống đối của Trung Cộng.

Ngày 5/11/2015, Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ Ashton Carter lên thăm hàng không mẫu hạm Theodore Roosevelt đang ở Biển Đông. Phát biểu với thủy thủ đoàn, ông Bộ Trưởng khẳng định: "Trung Cộng phải chịu trách nhiệm về tình hình căng thằng trong khu vực do các đòi hỏi chủ quyền của nước này". Theo phóng viên hãng tin Pháp AFP được phép tháp tùng theo Bộ Trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ, thì nhân chuyến hải hành trên tàu sân bay USS Theodore Roosevelt kéo dài ba tiếng đồng hồ, ông Carter đã nhận định rằng: "Hiện có rất nhiều quan ngại đến từ các hành vi của Trung Cộng tại Biển Đông. Sự hiện diện của hàng không mẫu hạm Theodore Roosevelt là dấu hiệu chứng tỏ vai trò trọng yếu của quân đội Mỹ trong một khu vực rất quan trọng cho tương lai của Mỹ". Trong khi hãng tin Anh Reuters trích lời ông Carter: "Sự hiện diện của tôi trên chiếc Theodore Roosevelt ở Biển Đông, cho thấy tính chất ổn định của sự hiện diện của Mỹ và đã được duy trì từ hàng thập kỷ nay trong khu vực. Nếu sự hiện diện này được chú ý, đó là do những căng thẳng mà nguyên nhân đến từ các hoạt động của Trung Cộng trong những năm qua".

Ông Carter trên hàng không mẫu hạm nguyên tử Theodore Roosevelt khi đang di chuyển trong khu vực cách quần đảo Trường Sa từ 150 đến 200 hải lý về phía nam, và cách Malaysia khoảng 70 hải lý về phía bắc. Bảo vệ hàng không mẫu hạm Theodore Roosevelt, có khu trục hạm USS Lassen vừa thực hiện cuộc tuần tra trong vùng 12 hải lý quanh đảo nhân tạo của Trung Cộng ở Trường Sa.

Tóm tắt. Rất có thể cuộc chiến pháp lý lần này đã thúc đẩy một hành động khá mạnh khi chiến hạm Lassen tuần tra trong vùng 12 hải lý của Đá Ngầm Su Bi mà Trung Cộng đã bồi đấp thành đảo nổi, và chiến hạm đã thực hiện nhiệm vụ mà không xảy ra điều gì. Nhưng sau đó thì Trung Cộng phản đối qua tiếng nói của người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Lục Khảng, của Tân Hoa Xã, của Hoàn Cầu thời báo, còn cấp lãnh đạo rất có thể sửng sốt nên chưa lên tiếng chăng? Trong khi đó, Liên Hiệp Âu Châu, Australia, Malaysia, và Indonesia, cùng lên tiếng ủng hộ hành động này của Hoa Kỳ.

Ngày 19/10/2015, Toà Án Trọng Tài Thường Trực công bố Toà Án này có thẩm quyền cứu xét và phán quyết đơn kiện của Philippines, về đường 9 đoạn trên Biển Đông do Trung Cộng tự ý đưa ra để giành chủ quyền, mà chỉ nói miệng chớ không chứng minh được bất cứ tài liệu chủ quyền nào. Đây là "đòn pháp lý" như đang đánh phũ đầu Trung Cộng, cũng là khích lệ các quốc gia liên quan trên hồ sơ Biển Đông mạnh mẽ giành lại vùng lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của mình. Ngoại trừ lãnh đạo Việt Cộng hoàn toàn im ắng.

Sau khi đọc lá Thư này với những tin tức khá mạnh về Biển Đông, suy nghĩ của Các Anh như thế nào: Nếu Trung Cộng gấp rút hoàn thành các căn cứ quân sự trên các đảo nhân tạo thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam để chuẩn bị chiến tranh, Các Anh có ủng hộ họ không? Nếu chiến tranh Biển Đông xảy ra giữa Hoa Kỳ với Trung Cộng thì Các Anh ủng hộ bên nào? Và tại sao? Rồi Các Anh tự trả lời cho chính Các Anh, vì đó là lúc mà trái tim với khối óc của Các Anh chuyển hoá sự suy nghĩ cùng 90 triệu đồng bào về một nước Việt Nam dân chủ pháp trị.

Nhìn chung, Biển Đông đang trong cuộc chiến gây căng thẳng những bộ óc lãnh đạo của các quốc gia liên quan. Chưa đoán được tình hình sẽ như thế nào, nhưng chắc chắn rằng lãnh đạo Trung Cộng đang làm một bài toán mà họ không thể giải đáp được. Nói cách khác, đây là bài toán khó đến mức chưa từng có trên hồ sơ Biển Đông, kể cả Việt Nam trong đó.

Thứ ba.- Hạm Đội của Nga, sự kiện mới trên Biển Đông.

Chiều ngày 17/6/2015, đội chiến hạm thuộc Hạm Đội Thái Bình Dương của Hải Quân Liên Bang Nga đã vào hải cảng Cam Ranh để bảo đảm tiếp liệu và giải quyết những trở ngại kỹ thuật. Theo tin tức báo Quân Đội Nhân Dân Việt Cộng , thì đội chiến hạm này sẽ rời nơi đây vào ngày 20/6/2015, tiếp tục hành trình lần lượt đến hải cảng Karachi (Pakistan), hải cảng Victoria (Cộng Hòa Seychelles), và hải cảng Colombo (Sei-Lanka)

Sleeve Insignia of the Russian Pacific Fleet.svgNgày 26/10/2015, thế giới đã sửng sốt khi Nga tuyên bố sẽ chuyển hạm đội Thái Bình Dương của họ sẽ vào Biển Đông, chẳng những sẽ khuấy động tình hình tại hai vùng Biển Đông và Hoa Đông, mà còn ảnh hưởng đến an ninh toàn thế giới nữa. Nga cũng cho biết là sẽ đưa các chiến hạm của họ vào sát Hoàng Sa và các hải đảo nhân tạo của Trung Cộng tại Trường Sa, và sẽ tuần tiểu trên Biển Đông. Đáng ngạc nhiên hơn nữa là Nga sẽ trở lại Vịnh Cam Ranh, vì thời gian mà ông Lê Duẫn lúc đương thời đã ký văn kiện nhượng Cam Ranh cho Nga vẫn còn hiệu lực. Và Nga sẽ ủng hộ các quốc gia vùng Đông Nam Á.

Huy hiệu Hạm Đội Nga

Ngoài ra, Nga sẽ xây dựng căn cứ quân sự tại hòn đảo đang tranh chấp với Nhật Bản. Bắc Kinh đã phản đối mạnh mẽ quyết định này của Nga, tuy nhiên Tập Cận Bình như đang ngồi trên đống lửa vì sự thay đổi 180 độ của Nga. Trong khi Mỹ tuyên bố sẽ vào sát các đảo nhân tạo nhưng vẫn còn chưa dứt khóat và còn muốn nói chuyện đàm phán với Trung Cộng, trong lúc các nước trong vùng tranh chấp mong muốn Mỹ can thiệp ngay bằng quân sự, bỗng dưng Nga nhẩy vào Biển Đông với thái độ dứt khoát. Đường hàng hải qua Thái Bình Dương là con đường huyết mạch của Mỹ, đem lại cho Mỹ một mối lợi khổng lồ trên 5 ngàn tỷ mỹ kim, cho nên việc Nga đang chuyển trục vào Biển Đông và Thái Bình Dương, sẽ làm cho tình hình tại hai vùng biển này càng thêm căng thẳng.

(Trích trong Wikipedia: Hạm Đội Thái Bình Dương của Nga thành lập từ năm 1.731, đã tham gia cuộc chiến tranh Nga - Nhật, cuộc chiến tranh nội bộ, và chiến tranh thế giới lần thứ 2. Đô Đốc Sergey Iosifovich Avakyants giữ chức Tư Lệnh từ năm 2012, với lực lượng gồm 46 chiến hạm trên mặt biển, 22 tàu ngầm, các loại phi cơ vận tải, chiến đấu, chống tàu ngầm. Căn cứ chánh tại Vladivostok phía Đông nước Nga).

Các Anh có nghĩ rằng, nếu như Hạm Đội Nga thật sự vào căn cứ Cam Ranh thì quyền lợi của Việt Nam trên đất liền và chủ quyền trên Biển Đông, sẽ tốt hay xấu? Khía cạnh khác, liệu chiến tranh có xảy ra giữa 3 cường quốc Mỹ - Nga - Tàu không?

Kết luận.

Tôi muốn giúp Các Anh có được nét nhìn của người tự do như chúng tôi, để Các Anh nhận ra con đường cộng sản mà Các Anh đã và đang đi, là tự mình nhốt mình trong nhà tù lớn do Bộ Chính Trị lãnh đạo với bản chất dối trá, và cai trị dối trá. Từ đó, Các Anh hãy suy nghĩ mà chọn cho mình một hướng đi, cùng 90 triệu đồng bào hòa nhập vào Cộng Đồng thế giới tự do, để được ngẫng cao đầu giữa thế giới văn minh, được hãnh diện trước những người ngoại quốc đến Việt Nam du lịch, tìm hiểu nếp sống văn hóa dân tộc với chiều dài lịch sử ngàn năm trước đã lừng danh thế giới.

Các Anh nhớ rằng: "Khi Liên Bang Sô Viết bắt đầu rung chuyển theo đà sụp đổ, người dân kéu nhai đi biểu tình và hô to rằng: "Không có thế lực thù địch nào từ bên ngoài hay bên trong có thể làm cho chế độ toàn trị của chúng ta (Liên Xô) sụp đổ. Cái chế độ phi nhân này chỉ có chính chúng ta từ lãnh đạo đến người dân, ý thức được sự nhục nhã của đời sống vô đạo đức, và quyết định tự tìm lại phẩm giá cho chính mình".

Và đừng quên rằng: “Tự do, không phải là điều đáng sợ, mà là nền tảng cho sự thịnh vượng của đất nước. Không có dân chủ, không thể có sự trỗi dậy và phát triển bền vững. Và Tự Do, phải chính chúng ta tranh đấu, vì Tự Do không phải là quà tặng". (trích trên internet).
Texas, tháng 11 năm 2015
Phạm Bá Hoa

Tham Nhũng, Một Hủ Tục Truyền Thống Kém Văn Minh


Tiểu Luận :

Tham Nhũng,

Một Hủ Tục Truyền Thống Kém Văn Minh

Hay Một Hệ Thống Chánh Trị Lỗi Thời ?


Tranh biếm VACI – MEC: 'Xử lý tham nhũng: Chớ để đầu voi đuôi chuột'

TPP, Một Cơ Hội Cho Việt Nam ?

Hiệp Ước Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương- Trans Pacific Partnership TPP giữa 12 quốc gia ven biển Thái Bình Dương đem lại một nguồn hy vọng lớn cho Việt Nam.

Kể từ nay, mọi người Việt, từ người gốc Việt tỵ nạn Cộng Sản năm châu ngoại quốc, đến người công dân Việt tại xứ Việt Nam Cộng Sản, ngay từ loại đảng viên mơ ngủ cho đến cả bần cùn thứ dân, chồng đạp xích lô, vợ bán xôi và con bán thuốc lá, qua đến các Việt Kiều, du sanh con ông cháu cha, hoặc tạm trú kinh tế thương mại mánh mun xuất khẩu lao động tay chơn hay bán trôn nuôi miệng, ngay cả dân công du cha chú ngoại giao, đều mơ một Việt Nam ngày mai « hoàng tráng » đầy tương lai xán lạn ! Giấc mơ rằng, từ nay thành viên của một cộng đồng TPPcường tráng với 12 quốc gia rộng lớn, giàu có (?), sẽ từ nay, tăng gia lợi tức, nghèo hết đạp xích lô, bán xôi, con cái có cơ mang được đi học chữ nghĩa đàng hoàng, giàu sẽ giàu thêm, dinh cơ đồ sộ, xế hộp huy hoàng…Thế nhưng, có ai dám nghĩ là phải cần có một điều kiện phải và cần. Đó là một môi trường tốt để phát triển đàng hoàng tử tế. Đó là một xã hội, một chế độ chánh trị, một thể chế kinh tế trong sáng, trong sạch, đàng hoàng và sạch bóng tham nhũng.

Khó lắm đấy ! Nhưng Phải và Cần Phải làm. Vì

Với những thể chế chánh trị dân chủ đa nguyên, đa diện, đa văn hóa, kinh ban tế thế cao cường, tư bản chủ nghĩa kinh tế thị trường cởi mở phú cường, TPP chắc chắn sẽ giúp Việt Nam ngày càng vững mạnh về mặt, chẳng những là kinh tế, mà còn cả quân sự và chánh trị nữa !

Tất cả, kể cả những tay đảng viên đảng Cộng Sản thân Tàu nhứt, đều có giấc mơ, rằng từ nay, sẽ đổi mới, - lại đổi mới (cả « đổi mới có quỹ đạo » (sic) của Trọng Lú) - từ nay sẽ cải tổ - lại cải tổ - từ nay sẽ sửa sai - lại sửa sai - như là niềm hy vọng lớn nhứt là … sẽ thoát khỏi ảnh hưởng khổng lồ của Tàu Cộng bá quyền ! Từ nay mong rằng, mơ rằng, sẽ không còn tùy thuộc vào anh láng giềng to lớn phương Bắc nữa, chẳng những về mặt « mẫu phương hướng » phát triển mà còn cả về mặt « khung » đối ngoại chánh trị và quản trị kinh tế nữa ! Từ nay sẽ không còn phải, mỗi mỗi hành động, phải « công du » đến Bắc Kinh « khấu đầu đưới trướng liệu điều kêu ca », xin phép, hỏi đường đi, nước bước ; hay hằng năm triều cống Bắc Triều, xưa đã dâng hải phận Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa Trường Sa, nay trao những yếu điểm chiến lược Bản Giốc, Nam Quan, Vũng Án, Nhân Cơ…, và mai kia, có thể tặng cả toàn bộ quê cha đất tổ.

Việt Nam ngày nay :

Việt Nam ngày nay là một quốc gia hoàn toàn không có độc lập, tự chủ, không có quyền tự quyết. Vì vai vế thân phận đàn em chư hầu chánh trị ở cùng một thể chế chánh trị, Đảng trị, cùng một quan niệm và thể chế quản trị kinh tế, cùng một hướng nhìn phát triển, ưu tiên cho Đảng Cộng Sản và đảng viên, người dân chỉ là thứ, là đồ dùng, vật dụng khai thác. Cùng một nhản quan quản trị hành chánh với Trung Cộng, vừa đồng chí đồng Đảng, vừa là đàn anh đồng minh, vừa là láng giềng muôn thuở, truyền thống, to gấp mười lần, mạnh hơn trăm lần, nên đương quyền Cộng Sản Việt Nam đành ngậm miệng ăn tiền. Bài học lịch sử dạy ta chớ quên rằng đất nước và dân tộc Việt Nam đã, suốt trong bốn ngàn năm lịch sử giữ nước và dựng nước, đã bị một ngàn năm đô hộ với ba lần vùng dậy tự giải phóng ; đã bị bảy lần xâm lăng nhưng nhờ lòng dân đã bảy lần thoát hiểm ; nhưng cũng vẫn bị trên mười năm xâm chiếm ! Và ngày nay, và ngày nay, tiếp tục vẫn đang bị láng giềng Tầu Cộng xâm chiếm dần dần, Hán Hóa dần dần, trong sự thờ ơ của thế giới và nhơn loại !

Việt Nam ngày nay chỉ là một quốc gia với một nền kinh tế tụt hậu, non kém, chỉ biết bám vào khai thác nguồn nhơn lực không chuyên môn của những bàn tay cần cù của thứ dân lao động rẻ tiền, ngoài nghề thi công lắp ráp, may vá, chắp nối, thiếu hẳn kỹ thuật tân tiến, sáng chế và đầu óc kỹ nghệ sáng tạo.

Quốc gia Việt Nam ta, thật tình, có nhiều tài nguyên thiên nhiên, con người Việt Nam ta, thật sự có nhiều tiềm năng, đa nghệ đa tài, nhưng những lãnh đạo đương quyền không biết khai thác – vì thiếu khả năng quản trị hay vì thiếu tự tin lãnh đạo, có bao nhiêu của cải đều giao, bán, một cách « lợi nhuận ngắn hạn, ngu xuẩn, phung phí » cho tư bản nước ngoài – và đặc biệt cho các anh láng giềng gốc Á Đông Đại Hàn hay Đài Loan hoặc cả với anh đàn anh Tàu Cộng đầy tham lam, để họ vào nhà mình ung dung, đương nhiên tự tại, đào xới rút ruột, làm ăn, và, dĩ nhiên, sau khi rút hết ruột, nạo hết võ, vứt bỏ vỏ, tàn phá môi sanh một cách vô ích, phung phí đất đai, ô nhiểm môi trường, không một chương trình hậu khai thác, hồi phục môi sanh, tái sử dụng công trường, tạo môi trường bền vững…Tất cả, từ anh Đài Loan, qua anh Đại Hàn hay Tầu Cộng, - thì khỏi phải nói rồi, ngay chính cả xứ anh mà anh vẫn phá họai môi trường huống chi xứ người ! – Hay ngay cả anh Nhựt Bổn, tuy là những công dân có trách nhiệm của những quốc gia gọi rằng có văn hóa văn minh, có luật lệ bảo vệ người lao động, môi sanh, môi trường, thiên nhiên – nhưng, những luật lệ, những phong thái ấy, chỉ áp dụng, chỉ ở quốc gia họ thôi, và đối với công nhơn đồng gia đồng quốc họ thôi ! Nhưng khi họ qua xứ Việt Nam mình hay xứ khác, thì vẫn tiếp tục đối xử một cách thiếu văn hóa, dã man với những công nhơn ở những quốc gia nơi họ đến khai thác làm ăn ! Chỉ vì do cái tham nhũng, do cái vô trách nhiệm của giới lãnh đạo các quốc gia của bản xứ, của nơi khai thác ấy, đã chấp nhận « ăn bẫn » ăn hối lộ, nhắm mắt, ngậm miệng ăn tiền để giới chủ nhơn tư bản nước ngoài vô đạo đức nầy hoành hành như chổ không người, như những ông trời con ! Trường hợp thường đang xảy ra ở các quốc gia Châu Phi hay châu Á và cả, đau đớn thay, ngay cả ở Việt Nam thân yêu của chúng ta !

Trường hợp Việt Nam, thật là một nghịch lý, trái với những quốc gia kém mở mang khác, là một quốc gia tự nhận rằng đầy trí thức thông minh, tự nhận mình là một quốc gia có nhiều nhơn tài, tự phụ rằng có một sức học cao. Việt Nam có rất nhiều vị Tiến Sĩ, Phó Tiến Sĩ, Thạc Sĩ… nói tóm lại có rất nhiều người trí thức với những học vị cao. Có lẽ là một trong những quốc gia có tỷ lệ học vị Đại học rất cao của thế giới ? – Tôi tin rằng như vậy, chả nhẽ tuyên truyền Việt Cộng cao độ đến « lấy cái không làm cái có », biến thằng ngu thành thành Tiến Sĩ sao ? Thế nhưng tại vì sao, ngày nay, ta vẫn lại là một quốc gia tụt hậu, không có bằng sáng chế, không có óc sáng tạo, không có một nghiên cứu sáng kiến kỹ thuật đáng kể gì cả ?…Tại sao ? Chả nhẽ toàn là toàn bằng cấp dỏm ?

Khi nói đến, thì nghe trả lời rằng tuy có nhiều tài năng, nhiều nhơn tài, nhưng vì thiếu hạ từng kỹ thuật nên không thi thố được ?

Cũng nghe trả lời rằng tuy có nhiều sáng kiến nhiều sáng tạo đó ; nhưng vì chế độ quá sợ, quá hèn, quá nhát, nên chỉ cho phép những gì có thể thấy thôi. Hay là, nói đúng sự thật, là có thể kiểm soát, có thể « ăn được » chấm mút được thôi ?

Cũng nghe nói, chế độ rất sợ những cái mới, sợ những cái gì lạ, khó hiểu.

Cũng nghe nói bởi chế độ dựa trên cái đốt của các thế hệ « cha già cách mạng chuyên cướp chánh quyền » nay đang làm chủ ?- Hãy nhìn, kìa là anh Thiến Heo, nọ anh Cai Cạo Mũ Cao su, và đệ nhứt cao thủ, khôn ngoan nhứt, là anh đầu xỏ, « Tay Rửa Chén trên Tàu Tréville - Người Thợ Chỉnh Hình – Người Ôm cục Gạch Nóng để Sưởi Mùa Đông Paris suốt mùa làm chia ly » - Tay chuyên môn đớp tên người, tên chung năm người thành tên riêng mình như Nguyễn Ái Quốc - Tay chuyên môn đạo thơ người, « Ngục Trung Tùy bút » - Thật là tay chuyên gia, đạo văn, đạo thơ lẫn cả đạo tên. Cả cái tên cuối cùng làm nên sự nghiệp, cũng của người ta : Hồ Chí Minh, cướp chánh quyền, cướp công trạng đánh Pháp của người kháng chiến Việt Nam – Nên vì tất cả dựa trên cái dỏm, dựa trên cái lường cái gạt, nên Việt Nam ngày nay không thể có cải cách để đem lại một cái gì mới mẻ, sáng tạo, cải tổ được cả !

TPP và Tham Nhũng
Tranh biếm VACI – MEC: 'Xử lý tham nhũng: Chớ để đầu voi đuôi chuột'

Vì vậy, Việt Nam nhập vào hệ thống TPP là một cuộc « ép hôn », « cưởng hôn », « cưởng bức » kinh khủng, không môn đăng hộ đối tý nào cả ! Cô gái quê vào cung Vua, là anh nhà quê lên tỉnh, là Xuân Tóc Đỏ biến thành Đốc Tờ Xuân ! Phải bỏ tất cả những tập tục « thoải mái của đời sống nhà quê » để đi vào văn minh, văn hóa, tân tiến, nhưng đầy gò bó ở thành thị ! Bỏ đi cái ngậm tăm, cái khạc nhổ. Nào phải « biết » tắm vòi sen, phải « biết » ngồi bàn đại tiện. Nào phải « biết » ăn uống tử tế, không ồn ào, nhai ngấu nghiến, uống ừn ực, dzô dzô … đã đành rồi. Nhưng khi vào TPP, còn phải biết đổi cả thái độ, đổi cả bản chất của 70 năm « văn hiến Cộng Sản » - và - Cái khó nhứt là, phải biết dân chủ, trong nước « biết » lắng nghe người dân mình, ra quốc tế «biết » xét lời người đối diện mình… « Biết trọng người đối tác, đối diện » ăn nói từ tốn, lễ độ văn hóa, không khẩu hiệu rao hàng, không sáo ngữ rỗng tuếch. Trong nước không còn dùi cui, công an trị, (dám không ?) ra quốc tế đàng hoàng lễ phép, chừa « thói » chôm « e phone » nơi siêu thị, chừa thói « đi » buôn hàng lậu ra, mua hàng lậu về… ( dám chừa không ?)

Vào TPP, trong nước, phải không còn « thói » phe ta, đảng ta, nữa, phải chấp nhận đa nguyên đa đảng, phải có cái nhìn khác biệt, không kỳ thị, hiểu được trăm người trăm tánh, biết hòa đồng hòa hợp làm việc…

Và Trao đổi thương mại với quốc tế nghĩa là trong sáng làm ăn ở xứ mình, làm ăn « thật sự » đàng hoàng không ăn gian, không ăn lận… Và KHÔNG ĂN BẪN ! Nghĩa là Không Hối Lộ Tham Nhũng ! Khó lắm đấy !

Việt Nam Muốn góp mặt với Thế Giới. Muốn góp mặt với TPP.

Là Phải Dẹp Tham Nhũng !

Với 11 đối tác bạn bè trình độ phát triển khác nhau, trình độ kỹ thuật khác nhau, Việt Nam nếu thật sự muốn phát triển, phải thật sự có một ý muốn phát triển, phải thật sự có một chương trình giáo dục và huấn luyện để nâng cao trình độ phát triển để có thể « nói chuyện » » « trao đổi » « hợp tác » ngang ngữa, đồng điệu, tương đồng, tương xứng chia sẻ, cân bằng với những hợp đồng cân bằng, hỗ tương, synallagmatiques-win-win.

Muốn vậy, trước hết phải dẹp Tham Nhũng !

Vì với Hiệp Ước TPP, các đối tác với Việt Nam. Sẽ là những đối tác thương mãi, Việt Nam đang cần cân bằng cán cân thương mãi - cần nâng cao xuất cảng hàng hóa có giá trị phụ đính kỹ thuật-à valeur technique ajoutée, cần bớt nhập cảng hàng xa xỉ phẩm. Sẽ là những đối tác quân sự - đứng trước hiểm họa bành trướng nạn Hán hóa mà Việt Nam là một nạn nhơn tự nhiên do bốn ngàn năm văn hiến ảnh hưởng Văn Hóa Hán Nho từ Tư Tưởng Văn Hoá đến Tam Giáo hay tổ chức xã hội gia đình. Ngoài ra, họ còn là những đối tác chánh trị, văn hóa, vì vậy phải quyết tâm thật sự quyét dẹp nạn Tham Nhũng hiện nay đang làm bẫn khuôn mặt người Việt Nam.

1/ Tham Nhũng :
Tranh biếm VACI – MEC: 'Xử lý tham nhũng: Chớ để đầu voi đuôi chuột'

Xin chớ vội thêm vào bài viết nầy một vài tên tuổi nào đó, của một vài nhơn vật nào đó, mà các bạn đang nghĩ đến. Chúng tôi ráng giữ văn phong của một người bình luận, một người quan sát đang nghiên cứu cái hiện tượng « tham nhũng » một cách khoa học, không lên án, chê bai, bình phẩm. Ta thử nghĩ đến hiện tượng tham nhũng như … một tật xấu, với tất cả những biến chuyển chung quanh, những hệ luận bên lề, vừa kinh tế, vừa chánh trị vừa cả xã hội nữa !

Tham nhũng : Trước hết chúng ta thử định nghĩa tham nhũng : nói chung chung, tham nhũng là một thái độ xấu xa. Khi ta không tôn trọng luật trao đổi, cung cầu bình thường của một cuộc giao dịch kinh thương, ta xé rào, ta đi lòn, ta đi tắt, ta ăn gian, ta bỏ tiền, ta dùng tiền đi mua chuộc một công việc, một nghiệp vụ một « cách đặc biệt », bằng tiền bạc, đồ tặng. Đó là tham nhũng !

Tham nhũng định nghĩa bởi ba điểu kiện :

Điều kiện thứ nhứt thuộc thành phần đạo đức : tham nhũng là vô luân. Thế nhưng đạo đức chỉ có giá trị khi được mọi người tuân thủ !

Điều kiện thứ hai là điểu kiện kinh tế, mua chuộc bằng tiền bạc nhiều hơn bằng đồ vật.

Điều kiện thứ ba là hệ thống hành chánh, hệ thống xã hội. Tham nhũng phát triển trong một môi trường chánh trị xã hội hành chánh thuận lợi cho tham nhũng.

Một hệ thống hành chánh, một hệ thống xã hội như Nhựt bổn hay Singapore không thể có tham nhũng được.

Tham nhũng chỉ phát triển khi môi trường tạo lợi nhuận (bao thơ, lì xì, đút lót, cúng kiến). Tham nhũng phát triển với những trung gian - nhà nước gọi thầu, bác sĩ làm giấy chứng thương, trọng tài trận đấu thể thao…

Tham nhũng thường đi đôi, dính liền đến quyền lực. Tất cả quyển lực, kể cả quyền lực nhỏ nhen nhứt. Ông quan tỉnh, hay người gác cổng…Ông chủ sự phòng hay cô thư ký trình hồ sơ. Ai quyền lực hơn ai ? Ông quan tiếp nhận người xin hầu chuyện hay người gác cổng cho phép ngườivào hầu quan ? Anh chủ sự phòng xét tập hồ sơ, hay cô thư ký trình tập hồ sơ (cô thư ký không trình hồ sơ thì ông chủ sự nào thấy hồ sơ để xét !). Đây cũng phản ánh cái định nghĩa của Hội đồng Âu Châu : « sử dụng và lạm dụng công quyền cho tư dụng ». Nhóm Xã hội Dân Sự NGO Transparency International-Trong Sạch Quốc tế (TI), chuyên môn trong nghiên cứu và quan sát sự tham nhũng toàn thế giới dùng một quan niệm tương đối hơn để dịnh nghĩa là : « lạm dụng một quyền lực được tiếp nhận hay giao phó để tư dụng ».

Vói những quan niệm như vậy, kẻ tham nhũng là một người có quyền lực, hay được giao phó một quyền lực. Và người tạo tham nhũng là một nhơn vật, một nhóm tư doanh, một doanh nghiệp, dùng tiền bạc, đồ vật để « mua chuộc » kẻ tham nhũng để tạo dễ dàng cho những tư đồ.

Thử hỏi, một tờ giấy dollars kẹp trong cái thông hành để dễ dàng qua cổng phi trường, dễ dàng cho hàng hóa mình nhanh chóng qua cổng phi trường không bị xét hỏi rườm rà, mộc dấu đóng nhanh hơn, … ! Ai là người tạo tham nhũng ? Người đi mua tham nhũng kẹp tờ đô trong thông hành ? Hay anh công chức hành chánh phi trường tham nhũng kiếm chát thêm vì lương lậu kém cỏi ?

Nếu đáng trách, thì ta nên trách ai ? Anh đi mua tham nhũng, anh khách du lịch, dùng tiền dùng tờ giấy bạc mua cái « lương tâm nghề nghiệp » anh công chức hành chánh phi trường. Đấy cũng là một thái độ « miệt thị, mất dạy khinh người, kẻ cả của dân nhà giàu đi du lịch, xem thường luật lệ các nước chậm tiến và công chức các nước chậm tiến ». Chớ quên từ ngữ « bakchich » dùng để chỉ tiền « lì xì mua chuộc các nhơn viên hành chánh các nước chậm tiến » là một từ ngữ gốc ả rập để chỉ một tập quán kém văn minh ở các quốc gia chậm tiến phi châu là việc gì cũng phải « chi » phải « lì xì », phải bakchich cả. Thế nhưng, làm sao có được con mộc, con dấu đóng ? Làm sao có được con tem vào cửa nhanh chóng, nếu không có bakchich ? Ông Phật kia cũng không độ nếu không có nãi chuối « lót đường ». Ông Thiên Chúa, Đức Mẹ Maria sẽ không phù hộ nếu không nghe tiếng « tiền lẻng kẻng » bỏ ống ? (Xin lỗi tất cả bà con thờ Phật Chúa). Hay Chúa và Đức Mẹ không ngưởi được mùi khói khen khét của cây nến ? Và cây nến càng khổng lồ, Thiên Chúa và Đức Mẹ lại càng mau phù hộ nhanh hơn, nhiều hơn ?. Vì vậy ta không ngạc nhiên khi thấy hệ thống kỹ nghệ kinh doanh nghề làm và bán Nhan Đèn Nến để cúng kiến là một kỹ nghệ khá thạnh vượng từ Âu sang Á ! Thiên Chúa, Phật, …gì gì cũng cần cúng kiến, huống chi là người ! Nhan Đèn Hương Nến Muôn Năm là đầu câu chuyện để khởi sự làm ăn ! Thực sự, ngày nay, cặp bài trùng « mua bán tham nhũng » ấy đã thành thông dụng, đã thành tập tục, cã hai vai trò hỗ trợ lẫn nhau, người mua tham nhũng, và kẻ bán tham nhũng, cả hai sống với nhau, tạo guồng máy, tạo trò chơi, luật chơi.

Đứng trước quầy hàng, đứng trước cửa văn phòng, ngồi quanh bàn giấy, giá cả sòng phẳng, kẻ bán người mua, Tham nhũng nay đã biến thành một thị trường cho nhũng nước chậm tiến, được tính toán, đi vào hệ thống. Ở Việt Nam, ở Phi Châu có những những nghề có « cái giá phải trả » của nó, giá đây là giá cả ! Những nghề nầy phải mua mới có ! Như : Nghề cảnh sát đứng đường - thời Việt Nam Cộng Hòa mình gọi là Cảnh sát Công lộ đó mà ! Trái lại, « cảnh sát đứng đường bên Mỹ » là bị đày, là bị « xếp phạt ». Đọc sách trinh thám, hay xem tuồng cinê trinh thám, thường thường tài tử đóng vai thám tử chánh ưa bị Xếp lớn dọa « lạng quạnh tao cho mầy đi đứng đường, múa tay, ông đi qua bà đi lại thổi tu huýt bây giờ ! » - Ở Việt Nam, ở Phi Châu, người cảnh sát nào « mua được cái đứng đường đại lộ giao thông » lại là ngon ơ ! Là ngon lành ! Trúng số, mới « đứng đường », nơi ấy là nơi kiếm tiền ! Dân đi bậy, không đội mũ an toàn, không có giấy bảo hiểm xe, bằng lái xe, hoặc lái xe một tay, lái xe không cầm tay lái, chạy ẩu (định nghĩa của chạy ẩu là gì, không ai biết !) thì bị tu huýt gọi vào, hỏi giấy, muốn đi không bị phạt phải năn nỉ và trả tiền mặt lì xì, hối lộ, thông cảm, để khỏi bị phạt ! Nghề cảnh sát các cửa cảng ra vào bến xe, phi trường, tiếng Việt Cộng gọi là hải quan, tiếng mình gọi là thương cảng cũng là nơi ngon ăn lắm, mua được chổ, làm ăn vài năm, xây nhà lầu ngay !

Tham nhũng, ai là kẻ phạm tội. Người đi mua, đi cho, là người tích cực, người hành động, người phát động. Kẻ nhận, người hưởng thụ, là người tiêu cực, người nhận. Nhưng phát lực thì có phản lực. Vì vậy tất cả là một hệ thống !

Mà đã nói là hệ thống, khi đã là cơ chế rồi, thì đâu là đạo đức ? Đâu là luân lý ? Có lao lực, có làm việc, là có thù lao. Mỗi hành động, tác động đều có giá trị, như vậy, mỗi hành động, mỗi thái độ đều có « Giá » cả ! Giá tính thành tiền ! Như vậy, tội tham nhũng lại càng vô lý nữa ! Sự thành hình kẻ mua người bán gọi là tham nhũng, ấy là có tội ! Phạt ai đây ? Đúng là chuyện quả trứng và con gà mái ! Ai sanh ra ai ?

Cơ Chế :
duongTQ

Có thể quý bạn đọc sẽ phản đối người viết chúng tôi khi chúng tôi bào rằng tham nhũng là con đẻ tự nhiên của những sai lầm của một cơ chế hành chánh. Người tham nhũng, người hưởng tham nhũng. Mà, đổ thừa cho cơ chế ! Dễ giận quá !

Một thí dụ : Ta thử đi tìm một xứ sở xa lạ, của một thời xa xưa, để khỏi đụng chạm ai cả ! Ở xứ Mản Châu hồi đó, tất cả ngành thương mại đều bị cấm, và muốn mua bán trao đổi phải xin phép. Dĩ nhiên, tham nhũng sẽ hoành hành. Vì để được các quan ký giấy cho phép buôn bán, vì mỗi khu vực mua bán trao đổi đều phải được qua tay một ông quan ký tên đóng dấu !

Cơ chế còn những những cái xấu nữa, như những « trục trặc kỹ thuật bất thường », Việt Cộng dùng từ « sự cố ». Thí dụ, để « rút ngắn thời gian nghiên cứu, thẩm định, cứu xét » ; thí dụ « để dễ dàng thông qua một kiểm tra định kỳ vừa tốn thời giờ vừa hao bạc » ; ta có thể mở hầu bao thông cảm nhơn viên, cơ quan hành chánh. Pháp có từ ngữ « Système D », D do động từ débrouiller (se débrouiller đúng hơn cho có vẽ tự túc), ta có thể dịch là « Tự lo liệu, tự chế biến, tự úm ba la ». Nhưng tiếng Việt ta có động từ « Chạy chọt » nó tích cực hơn, vì chạy chọt có túc từ, « chạy chọt AI ?). Ai là ai đây ? Vậy thì chạy chọt là hối lộ, là lo lót, là « tham nhũng ». Vậy ta nên đổi « Système D » của Pháp đi. Từ nay, nên nói là Système C cho xong chuyện. C là Corruption, là Tham Nhũng. Nói như vậy chẳng riêng gì các quốc gia chậm tiến, Phi Châu, Á Châu Việt Nam gì cho xa lại ! Ở Tây, ở Pháp đây cũng Corruption đầy trời ! Tham Nhũng ! Dân « Tây giấy, da vàng ta » hằng ngày ở Tây vẫn thấy đầy rẫy những tiệm Siêu Thị mở mang xôm tụ bừa bãi, giết các cửa hàng, bạn hàng, bé nhỏ trong trung tâm thành phố ! Các bạn cũng nghe thấy những con số tiền bạc, khổng lổ, cả triệu euros, phung phí của các chiến dịch bầu cử của các đảng phái. Tiền đâu ? Ai cho ? Ai cúng ? Để làm gì ? Nhóm buôn súng bên Mỹ, nhóm Thuốc lá bên Mỹ vẫn hoành hành mặc dù súng dùng bậy bắn bậy, chết người hằng năm chụ vụ trăm người chết ! Còn thuốc lá tạo một lô nạn nhơn tốn một khối tiền cho xã hội Mỹ, nhưng không một ông ứng cử viên Tổng Thống Mỹ nào dám đụng tới ! Tham Nhũng hay Ủng Hộ Đầu Tư hay Vận Động-Lobby ? Tất cả !

Quyền Lực Và Đạo Đức :
tapcb

Cơ chế và hệ thống của cơ chế ảnh hưởng đến thái độ và đạo đức của các chánh trị gia. Nói như vậy để nói rõ vai trò và ảnh hưởng của quyền lực trong hệ thống cơ chế do quyền lực tạo ra, và tạo cả mức độ của tham nhũng. Nhà triết học và sử học người Anh Lord Acton thốt ra định lý « Quyền lực tạo tham nhũng, quyền lực càng tuyệt đối, tham nhũng càng tuyệt đối ». Sức mạnh của quyền lực không đo bằng những phạm vi mà quyền lực ảnh hưởng, mà đo bằng hình thức ảnh hưởng của quyền lực. Mọi nơi, mọi địa hạt ; đa dạng, đa thể, bất đồng. Với những luật lệ không ổn định, và đăc biệt trong cơ chế và hệ thống thuế vụ. Do đó chúng ta thấy rõ một sự liên quan vô hình giữa chế độ tự do và mức độ tham nhũng : Càng thiếu tự do càng nhiều tham nhũng.

Sau đây là bảng sắp hạng của NGO TI-Transparency International về các quốc gia ít tham nhũng : Từ ít đến nhiều : Đứng đầu sổ, Đan Mạch, Phần Lan, Thụy Điển, (ba quốc gia Bắc Âu Tin Lành Giáo), Tây Tân Lan…Nước Pháp kha khá hạng thứ 20. Cuối bảng của 176 nước, A Phú Hản, Soudan, Bắc Hàn, Somalie. Việt Nam có mặt trong 10 nước đội sổ.

Vì vậy muốn chống tham nhũng, phải có Tự Do, và phải tạo Dân Chủ để người dân thực sự có quyền Tự Quyết. Quyền Lực do người dân chọn và giao phó. Ở các quốc gia Đông Âu, sau 1990, mặc dù dân chủ hóa trở lại rất chậm chạp nhưng cũng xóa bỏ được dần dần những hủ tục tham nhũng tàn dư của chế độ độc tài Sô Viết. Một vài quốc gia, đặc biệt như Hung Gia Lợi, như Ba Lan, Slovénie, Cộng Hòa Tiệp, 3 quốc gia vùng Bal tíc, Dân Chủ và Tự Do Nhơn Quyền đã dẹp bỏ được bức tường tham nhũng.

Tham Nhũng Rất Mắc, Tham Nhũng Hao Tốn Tài Của Quốc Gia :

Xoá bỏ Tham Nhũng phải là một nguyên tắc hàng đầu để có một Chánh quyền tốt và thành công. Bởi Tham Nhũng có một cái giá phải trả rất cao ! NGO Transparency International đánh giá Tham Nhũng rất hao tốn, phí tổn chiếm 3% trị giá của Tổng Sản Lượng trao đổi thương mại thế giới. Trong các trao đổi thương mãi bị dơ dáy, vướng bẫn bởi tham nhũng, tin tức thương mãi bị mất tín nhiệm, chữ tín bị mất, lòng tin không còn, nhịp độ thương mãi dĩ nhiên phải yếu đi nhiều. Thương mãi, tài chánh dựa trên tín dụng, tín dụng là chữ tín, là tin tưởng, là lòng thành. Tham Nhũng phá vỡ chữ Tín, phà vỡ hệ thống Tài Chánh, hệ thống Thương Mãi thế giới.

Tham Nhũng phá vỡ thành trì của một Xã hội đàng hoàng dựa trên chữ Tín. Tham Nhung tạo một Xã hội dựa trên quyền lực, sức mạnh. Thế giới của Vũ Lực thay thế thế giới của Pháp Luật. Thế giới của ma-phi-a, của ma mãnh, canh me. Nghi ngờ, phản bội, khai báo, tố cáo lẫn nhau sẽ thay thế thế giới của danh dự, nghéo tay, khế ước, đàng hoàng, tử tế. Giàu có sẽ mang đến đầy nghi kỵ, giàu có sẽ là điển hình của sự xấu xa, nghi ngờ, bất lương bất thiện. Những mạng lưới nhền nhện, những nhóm lợi ích, lo thủ tư lợi, quyền lợi riêng tư hơn là lo việc công, việc nước, phá hoại nền Dân Chủ, bịt miệng thường dân.

2/ Phải Xóa Tham Nhũng :


KinhTe

Thay lời Kết : Muốn Xoá Tham Nhũng Là Phải Dẹp Bớt Quyền Lực.

Thay đổi cơ chế chưa chắc là đáp nhu cầu của toàn xã hội !

Có những dân tộc thích sống, quen sống trong tham nhũng. Những cuộc « cách mạng », « đảo chánh » chánh biến thường do quân đội tạo nên ở Phi Châu những năm tháng gần đây biểu hiện sự thèm muốn thay thế chánh quyền cũ để hưởng lộc. « Bây giờ đến phiên tôi, các anh no đủ rồi hãy xuống đi ! ». Giựt quyền lực để hưởng tham nhũng.

Nhưng cũng có những cơ chế xã hội đầy rẫy các nhóm lợi ích công cộng, các xã hôi dân sự, các tổ chức nghề nghiệp, nghiệp đoàn, công đoàn, các nhóm nầy được hưởng những quy chế đặc biệt, lợi lộc, trợ cấp, công việc làm bảo đảm, quy tế y tế, học đường, nhà cửa đặc biệt… tất cả đều đúng luật lệ, được luật lệ bảo vệ TUY NHIÊN, có phải là do luật lệ đã đi trật chìa không, luật lệ do một nhóm lợi ích nào đó bầu ra không ? Vì vậy mặc dù là được luật lệ bảo vệ nhưng những che chở, quy chế đặc biệt ấy có phải do đâu mà ra, quy chế để bảo vệ thân chủ, hay quy chế để kiếm phiếu thân chủ. Ngày nay, do toàn cầu hóa, rất nhiều quy chế đặc biệt, lợi lộc đặc biệt bị cạnh tranh mạnh, nên những hội đoàn, những nghiệp đoàn công đoàn ấy thường chống Toàn Cầu Hóa, chống Liên Âu, chống thế giới.

Vậy thì làm sao chống Tham Nhũng đây ! Vì Tham Nhũng được cả kể bán tham Nhũng lẫn người mua Tham Nhũng ủng hộ. Có lẽ phải nhơn con số Xã hội Dân Sự để dòm ngó, kiểm soát. Có lẽ phải Dân Chủ hóa nhiều hơn. Có lẽ phải chia bớt quyền lực các cơ quan, các cơ sở, tạo cạnh tranh với các xã hôi dân sự với các hôi đoàn công dân. Có lẽ …Có lẽ… Phải … Phải… Thay đổi, …

Tốt hơn chúng ta phải tạo lại một Xã Hội đầy chữ Tín. Xã hội Lòng Tin, Xã Hội Tình Người. Tạo lại Hãnh Diện làm một người Việt tử tế, đàng hoàng, trong một Xã hội Việt Nam của một quốc gia Việt Nam đàng hoàng. Có thế TPP mới đáng là một cơ hội để Việt Nam biến thể, to lớn hơn, lớn mạnh hơn, đàng hoàng tử tế hơn.

Còn Tham Nhũng thì dân Việt sẽ mãi mãi bần cùn, mãi mãi thi công, nam bán lao lực nuôi thân, nữ bán trôn nuôi miệng, làm ngày nào lo ngày đó, không tương lai, không viễn tượng, cuộc sống tủi nhục, ăn mày, mãi mãi, vô vọng, tuyệt vọng.

Hồi Nhơn Sơn 06 tháng 11 2015

TS.Phan Văn Song

Tuổi già kiếp lưu vong: Cái Xe Gỗ

Truyện ngắn Cái Xe Gỗ



Trời đã quá trưa rồi mà ông Năm vẫn chưa chịu dừng tay để nghỉ ngơi, ông vẫn cặm cụi làm việc ở dưới mái hiên phía sau nhà, để hết tâm trí vào việc đẽo gọt cái xe bằng gỗ do chính tay ông làm ra. Nó chẳng đáng giá gì, thế mà trông cách ông thận trọng nâng niu, người ta tưởng như ông đang nâng niu một báu vật.

Cả tháng nay, ngày nào ông cũng say mê làm việc quên cả thì giờ, hôm nay cái xe đã thành hình đúng như ý ông mong muốn. Ông hài lòng ngắm nghía chiếc xe có cái mui bằng vải bố màu ka ki có thể xếp lại như cái mui của xe xích lô dùng để che nắng. Trông toàn thể, nó giống như một cái xe kéo thời xưa với hai cái càng, nhưng lại có tới bốn cái bánh xe bằng cao su, ông đã khổ công tháo gỡ từ cái xe cắt cỏ bị hư bỏ ở sau vườn. Ông đang chăm chú gắn các bánh xe vào hai cái trục bằng sắt, vừa làm ông vừa lẩm bẩm một mình: 
- Bánh xe bằng cao su đặc, êm là phải biết, lại bền nữa.
Cho nhớt vào trục xe xong xoay thử mấy cái bánh xe thấy êm rồi, ông xoa hai tay vào nhau một cách hài lòng:
- Bây giờ chỉ còn sơn phết và đánh bóng nữa là hoàn tất. Tết này đem về làm quà cho các cháu, hai anh em thằng Nghĩa chắc là thích mê.

Ông sung sướng ngồi thẳng người lên, đưa tay ra sau lưng đấm đấm vài cái cho đỡ mỏi rồi lại cúi xuống tiếp tục làm việc, ông chợt nhớ ra là chiếc xe còn thiếu mấy cái vành  dùng để chắn bùn ông phải cố gắng làm cho xong.

Khi đồng hồ ở trong nhà vừa điểm một tiếng thì đứa cháu nội của ông từ trong nhà chạy ra gọi:
- Grandpa! trễ rồi, đi vào nhà ăn lunch.

Nó nói bằng một giọng lơ lớ như người ngoại quốc nói tiếng Việt. Ông ngẩng lên mỉm cười, trán ông lấm tấm mồ hôi, trời sắp vào thu rồi mà còn nắng gớm, đuợc cái hiên nhà có mái che nên cũng đỡ, ông đưa tay lên quệt mồ hôi rồi bảo cháu:
- Ông không đói, cháu và cả nhà cứ ăn trước đi!
- Ông đang busy à? What are you doing?
- Ừ! ông đang bận, ông cố làm cho xong cái xe này, cháu xem có đẹp không?

Ông dơ lên cho nó coi cái xe đã thành hình dạng hẳn hòi, chỉ chưa sơn phết. Đứa bé reo lên thích thú:
- Ồ, trông nó giống như cái xe pick up truck, nhưng sao lại có cái này, ông nội?
Nó trỏ hai cái càng kéo xe, ông lúng túng giải thích:
- Xe truck thì chạy bằng động cơ, à run by motor ấy mà. Ông cố dùng từ tiếng Anh để cho cháu hiểu, còn cái xe này không có motor thì phải có người kéo, đây là hai cái càng để cho người kéo.
- Ông ơi! cái xe này dùng để làm gì vậy?
- Đây là đồ chơi ông làm cho Nghĩa, cousin của cháu ở Việt Nam.
- Việt Nam là đâu vậy ông nội?
- Là quê hương mình đó mà.
Thấy nó ngơ ngác có vẻ không hiểu, ông dịu dàng cắt nghĩa:
- Là birthplace của ông và bố mẹ cháu đó.
- Xa không, ông nội?
- Xa lắm cháu ạ, đi máy bay phải nửa ngày mới tới.
- No wonder, I’ve never seen  him.
- Ừ, ở xa quá nên cháu chưa bao giờ gặp Nghĩa cả. Ông hy vọng một ngày nào đó, bố mẹ cháu sẽ đưa cháu về thăm quê hương và cháu sẽ gặp Nghĩa, nó ngoan lắm và cũng dễ thương như cháu vậy. Bố cháu và mẹ của Nghĩa là hai anh em ruột, tiếng Mỹ là brother và sister…
- Cháu hiểu rồi, thế ở Việt Nam không có đồ chơi hả ông nội?
- Có chứ, thiếu gì... Nhưng, ông ngập ngừng, đây không hẳn là đồ chơi, mà còn là đồ dùng.
- Đồ chơi hay đồ dùng cho trẻ con đều có bán ở tiệm. Sao ông không mua cho Nghĩa ở Toy-R-US?
- Ông muốn tự tay làm lấy, Nghĩa chỉ thích cái xe bằng gỗ to như thật để có thể chở em nó đi chơi.
- Nghĩa crazy, ông cũng crazy!
Nó toác miệng ra cười và bảo ông điên, ông chỉ cười và không giận, ai lại giận những lời lẽ ngây thơ cua trẻ con.
Tới đây thì trong nhà có tiếng lao xao rồi Trung, con trai ông xuất hiện ở nơi cửa:
- David! sao lâu thế? mẹ đang chờ.
- Grandpa nói he’s not hungry.
Trung quay sang cha:
- Bố không đói hả bố? Vậy con cho tụi nhỏ ăn trước nhé? ăn xong còn chở chúng nó đi shopping.
- Ừ, có đi đâu thì nhớ ghé mua cho bố vài hộp sơn nhỏ.
- Để sơn cái xe thổ tả này hả?
- Đừng nói thế được không? Ông cau mày, nếu con biết cái xe này là cả tâm huyết của bố?

Ông Năm vừa nói vừa ngắm nghía tác phẩm của mình, phải công nhận trông nó chẳng đẹp đẽ lắm, nhưng cần gì, có phải để đem đi triển lãm đâu?  Ông làm cho cháu ông, thằng Nghĩa đã viết thơ khẩn khoản xin ông, và ông muốn tự tay làm cho cháu. Chiếc xe đã gần xong, chỉ cần thêm vài nước sơn… Trung tắc lưỡi:
- Thôi được rồi, thế bố muốn màu gì?
- Mua cho bố ba màu: nâu, xanh lá cây và xám bạc, à quên, còn một hộp vẹc ni nữa.
- Con thấy bố mất thì giờ vì nó nhiều quá!
- Bố có việc gì làm đâu? ngoài việc đi loanh quanh trong nhà cả ngày…  Ông thở dài, bố bây giờ chỉ là một lão già vô dụng, không giúp ích gì cho ai được cả.

Ông nói một cách thật lòng, thấy con cái vất vả, còn ông thì ở không suốt ngày, dư thừa thì giờ mà không giúp gì cho chúng nó, ông cảm thấy áy náy và thấy mình quả thật là một người thừa. Nhưng ông không biết nấu nướng, cũng không biết lái xe để có thể đưa đón các cháu đi học và có thể tự mình đi đây đi đó. Ở Mỹ không biết lái xe thật khổ, đi đâu cũng phải nhờ con, mà chúng nó bận đi làm cả ngày, về đến nhà còn công kia việc nọ lu bù đủ thứ chuyện, ông đâu dám mở miệng nhờ vả, thành thử ông cứ phải ở nhà suốt ngày suốt tháng chẳng khác chi người ở tù.

Hồi vợ ông còn sống, có bà bầu bạn nên còn đỡ, từ khi bà chết đi, ông thui thủi một mình. Sống giữa bầy con cháu nhưng ông vẫn cảm thấy cô đơn vô cùng, con ông đầu tắt mặt tối suốt ngày đâu có thì giờ hỏi han đến ông. Đứa con dâu mặt mũi lúc nào cũng lạnh tanh, khinh khỉnh, mấy đứa cháu thì chỉ trừ đứa bé nhất biết lõm bõm vài câu tiếng Việt, mấy đứa kia, ông không tài nào nói chuyện được với chúng nó. Thấy ông quê mùa lại không biết tiếng Anh, chúng nó phá ra cười chế diễu, với những cái nháy mắt đồng lõa của mẹ chúng. Trẻ con ở bên này hình như không biết lễ phép, không biết kính trọng các bậc trưởng thượng, ông chẳng thèm chấp, nhưng sao khỏi tủi thân cho kiếp sống nhờ, số phận chung của những người già ở nơi xứ người. Không rành tiếng Mỹ, có miệng cũng thành câm, có tai cũng thành điếc, có mắt cũng chẳng thể đọc được sách báo, ông thấy cuộc đời hết còn sinh thú và ông có mặc cảm của một người bị bỏ rơi, bị xã hội gạt ra bên lề đường, bơ vơ lạc lõng giữa một tập thể toàn là những người xa lạ, ông cô đơn, buồn rầu và chán nản vô cùng.

Trung không nhìn thấy khía cạnh tiêu cực đó của bố, hắn cứ nghĩ rằng bố không phải làm việc, được ở không ăn chơi là sướng rồi, có gì mà phải phàn nàn? phàn nàn là không biết điều. Trung chau mày khẽ gắt:
- Thôi xin bố đừng cay đắng nữa, bố khỏi cần phải mặc cảm như vậy, bố cứ khoẻ mạnh cho con nhờ là được rồi.

Ừ nhỉ, còn vấn dế sức khoẻ nữa, ông đã bảy mươi tuổi rồi, mấy lúc gần đây ông cảm thấy mệt mỏi lắm và tim thỉnh thoảng lại đau nhói, ông cũng lờ đi chẳng thèm đi khám bác sĩ, để làm gì chứ? ông đâu có muốn kéo dài kiếp sống tủi nhục của một người thừa? vả lại ông không biết lái xe, ông đâu có thể tự mình đi được. Trung bận rộn suốt tuần, week end phải để cho nó nghỉ ngơi và đưa vợ con đi chơi, ông đâu dám phá đám, ông sợ nhất phải nghe những lời bóng gió, chì chiết của con dâu và những cái ra lườm vào nguýt. Thôi thì mặc kệ tới đâu hay tới đó, ông không muốn là nguyên nhân của những cuộc cãi vã giữa hai vợ chồng nó. Khổ quá, ở Mỹ mà không biết lái xe, thật chẳng khác gì người què… A nói đến què, ông lại nghĩ đến hai đứa cháu ngoại khốn khổ của ông còn ở quê nhà.
Con Lễ bị bệnh tê liệt què cả hai chân từ khi mới lên một tuổi, tội nghiệp thằng Nghĩa, anh nó, mới lên tám tuổi đã bị giao nhiệm vụ giữ em cho mẹ nó đi làm. Cha chúng nó đã chết trong một tai nạn xe cộ từ khi Nghĩa mới lên năm và em nó mới lên hai. Dạo đó bà Năm còn sống, hai ông bà thương cháu nên đã đem cả ba mẹ con nó về ở chung để trông cháu cho mẹ chúng đi làm. Cho tới ngày hai ông bà được đi đoàn tụ, thằng Nghĩa đã phải thay ông bà để trông em. Tội nghiệp nó còn bé quá, đâu có thể cõng được em nó đi chơi, thành ra con bé cứ bị nhốt ở trong nhà cả ngày, nó chỉ biết đến thế giới ở bên ngoài qua lời kể của anh nó. Nó mơ ước được ra công viên hóng mát, ngắm hoa lá, chim, bướm và nhìn những đứa trẻ cùng tuổi nó nô đùa, nó mơ ước được đi sở thú, được đi xem hang đá ở nhà thờ Đức Bà dêm giáng sinh… Những ước mơ nhỏ nhoi đó, nhưng thật là vĩ đại đối với con bé, sẽ thực hiện được nếu Nghĩa có một cái xe, nó có thể chở em nó đi chơi trong lúc mẹ nó bận đi làm kiếm sống…

Ông Năm nói:
- Con phải hiểu cái xe tầm thường này lại quan trọng đến mức nào đối với hai đứa bé tội nghiệp đó.
Trung gật gù hỏi cho qua chuyện:
- Thế bao giờ bố định gởi nó về Việt Nam?
- Bố không gởi, mà chính tay bố sẽ đem về làm quà cho hai đứa nhỏ vào dịp Tết. Cũng sắp tới rồi, vì vậy bố phải cố gắng làm cho xong.
- Bố định về Việt Nam thật à?
- Thật chứ, bố đã để dành đủ tiền dể mua vé máy bay rồi, con khỏi lo.
- Bố định ở chơi bao lâu?
- Chưa biết, tới chừng nào hay chừng đó, càng lâu càng tốt cho con phải không? Ông trầm giọng xuống, bố hiểu vợ con khó chịu vì sự có mặt của bố ở trong gia đình này…
Trung cúi đầu xấu hổ, nhưng còn vớt vát:
- Đời sống ở bên này khó khăn, mà lòng người thì hẹp hòi, nhất là lòng dạ đàn bà…
- Bố hiểu và bố không trách gì con cả.

Đúng ra ông chỉ tự trách mình thôi, ông trách mình đã không sáng suốt, chưa suy nghĩ kỹ càng đã vội quyết định ra đi để rồi bây giờ dở dở dang dang, đi không được mà ở thì bực mình.

Hồi còn ở nhà, hai ông bà cứ tưởng được đi Mỹ thì sẽ sướng lắm. Phải mà, nghe nói lương tối thiểu cũng sáu, bảy đô một giờ, mà thức ăn lại rẻ mạt, ông âm thầm làm một con tính nhẩm, chỉ cần đi làm một tuần thôi cũng đủ ăn cả tháng, còn thì dành dụm, trở nên giàu có mấy hồi?  Không giàu sao những Việt kiều về quê người nào cũng sênh sang áo gấm về làng, làm ai cũng thèm thuồng, ước mơ được đến cái xứ thiên đàng… Ông tưởng tượng đến cảnh đoàn tụ, con cháu xum vầy một nhà, hiếu thuận hòa hảo, ấm êm hạnh phúc, mọi người đều vui vẻ sống trong cảnh giàu sang sung sướng.

Nào ngờ thực tế lại khác hẳn, mọi người chen chúc trong một căn nhà chật hẹp, bảo là nhà mua nhưng cũng đâu thuộc về mình, mà là thuộc về chủ nợ là nhà băng. Thấy dâu, con vất vả đầu tắt mặt tối suốt ngày mà cũng chỉ đủ ăn, hai ông bà chưng hửng, thì ra tất cả nhà cửa, xe cộ, đồ đạc, bàn  ghế, TV, tủ lạnh v..v.. thậm chí đến cả quần áo nữa, tất cả đều là mua nợ. Mà đã mua nợ thì phải trả lãi, hàng tháng những hoá đơn đòi nợ gởi đến ùn ùn đòi phải thanh toán. Ngoài ra còn cả trăm thứ linh tinh khác, nhiều món theo ông thấy vô lý hết sức, không dùng, hoặc chỉ để phòng hờ thôi, mà vẫn phải trả, đó là các thứ bảo hiểm: bảo hiểm nhà, bảo hiểm xe, bảo hiểm sức khoẻ… Thứ nào cũng đắt tiền cả, đóng thì tiếc nhưng không đóng không được, lái xe mà không có bảo hiểm là bất hợp pháp, không trình giấy bảo hiểm, nha lộ vận không cấp bằng lái. Mua nhà phải mua luôn bảo hiểm, không thì nhà băng không cho vay nợ, bởi vì rủi ro cháy nhà mà không có bảo hiểm thì lấy chi mà xiết nợ?  Còn bảo hiểm y tế thì lẽ dĩ nhiên phải mua, có ai dám chắc là mình sẽ không bao giờ đau ốm? nếu có chuyện gì thì tiền đâu ra để trả bệnh phí?

Đời sống ở Mỹ là thế, đã cho chân vào guồng máy thì cứ phải theo nó mà xoay tròn, không tài nào rút chân ra được. Chẳng ai than phiền, vì vất vả mà có việc làm là may rồi, mất việc mới là thê thảm, mà ở Mỹ, mất việc là chuyện thường lắm, hôm nay đi làm chủ còn vui vẻ, ngày mai tới sở, chủ chìa ra cái giấy cho thôi việc. Thế là khốn khổ cái thân đời, tiền nợ hai tháng không trả, nhà cửa, xe cộ sẽ bị nhà băng tịch thu, lấy lại hết, lo điên người, lo đến phát ốm…

Thương con cháu vất vả, bà tình nguyện làm một chân vú em, ở nhà coi cháu, với những công việc cho ăn, thay tã, ẵm bế, kiêm luôn nấu ăn cho cả nhà, ông thì phụ bếp, làm vườn và lau chùi nhà cửa… Vô hình trung, hai ông bà trở thành những người làm không công cho các con của mình, thôi cũng được đi, coi như để trả tiền ăn nhờ ở đậu.

Hàng ngày, khi dâu, con đi làm về, và những ngày cuối tuần là những lúc ông bà được nghỉ ngơi, ông đưa bà đi dạo mát ở mấy khu phố chung quanh nhà cho đỡ buồn, đôi khi nổi hứng, ông đưa bà đi xa hơn, tới khu chợ Việt Nam ở cách nhà khoảng non một tiếng. Dần dà con dâu lấn lướt, coi việc đi chơi rong của ông bà là phí phạm thì giờ, nó khó chịu ra mặt, tuy không nói ra, nhưng nó tìm cách giao thêm công việc. Những ngày cuối tuần, khi con trai ông phải đi làm phụ trội để kiếm thêm, thì con dâu cũng giao con cho ông bà giữ để đi mua sắm, ông bà thương cháu nên đành phải chịu. Những đứa trẻ ông bà ẵm bế từ nhỏ, khi lớn lên lại trở thành xa cách, chúng được đến trường, học nói tiếng Anh, quên dần tiếng mẹ đẻ, quên luôn cả nguồn gốc và hình như chúng xấu hổ với bạn bè vì có ông bà nội quê mùa, xấu xí.

Sang Mỹ đuợc ba năm, ông bà xin được tiền trợ cấp cho những người già, vừa lúc đó Trung bị thất nghiệp, thấy mọi người lo lắng chỉ sợ không có tiền trả, nhà băng sẽ lấy lại căn nhà, ông bà đã đưa hết tiền già để giúp cho gia đình con qua cơn túng thiếu. Tám tháng sau, Trung mới tìm được việc làm mới. Thấy tình hình tài chánh của vợ chồng nó đã ổn định rồi, ông bà mới rút bớt tiền, chỉ đưa có một nửa, thế là sinh chuyện, con dâu xưng xỉa nói ra nói vào chưa đủ, lại nói riêng với chồng nhưng nói rõ to, cốt để cha mẹ chồng nghe thấy:
- Hai ông bà già rồi mà còn tham quá, giữ tiền để làm gì chứ? không lẽ để khi chết dem theo xuống mồ?

Ông bà nhìn nhau, bà tủi thân ứa nước mắt, nào phải ông bà tham dâu, tiền này ông bà dành dụm để gởi về Việt Nam giúp gia đình đứa con gái nghèo khổ của ông bà, anh nó không dư giả gì lại có người vợ ích kỷ, hẹp hòi nên chẳng bao giờ giúp đỡ em gái. Sống ở Mỹ lâu năm, hình như không nhiều thì ít, mọi người đều có quan niệm “ kiến giả nhất phận ”, người nào cũng phải tự lo lấy thân, đùm bọc nhau quả là chuyện hiếm.

Ông an ủi vợ:
-    Bà đừng buồn, cứ nhắm mắt bỏ qua. Chúng ta cố dành dụm lấy  một món tiền kha khá để mai mốt sẽ về dưỡng già ở Việt Nam, cuộc sống ở bên này không hạp với vợ chồng mình.

Bà lặng lẽ gật đầu. Nhưng cái ngày mong đợi đó không bao giờ tới, năm ngoái bà qua đời đột ngột vì chứng xuất huyết não. Bà ra đi thật bất ngờ, không có dấu hiệu gì báo trước, buổi chiều hôm đó tắm xong, bà than nhức đầu và bỏ vào giường nằm. Tưởng bà chỉ bị cảm xoàng, ông đem cho bà một chén cháo hành, gừng thật ngon, nhưng bà lắc đầu nói không muốn ăn, bà mệt chỉ muốn ngủ. Ông khép cửa, đi thật nhẹ ra khỏi phòng, rón rén không dám gây tiếng động để yên cho bà ngủ, và bà đã ngủ luôn không bao giờ dậy nữa. Bẩy giờ chiều không thấy bà trở ra, ông vào phòng xem sao thì thấy bà nằm im lìm, mắt khép kín, ông rờ thử thấy người bà còn ấm, nhưng chân tay đã lạnh. Hốt hoảng, ông lay gọi nhưng bà không tỉnh, ông vội vã gọi xe cứu thương nhưng vô ích, bà tắt thở trên đường đến bệnh viện.

Trước cái chết bất ngờ của vợ, ông Năm thẫn thờ như kẻ mất hồn, ông ra ngẩn vào ngơ một mình nhìn chỗ nào cũng gợi lại hình bóng của vợ . Ông nhớ bà, ông xọm đi trông thấy, Trung thương cha nhưng không có thì giờ an ủi cho cha vơi sầu, hắn còn phải đi cày tới hai job để trả nợ cơm áo, vợ hắn lại vừa sanh thêm một đứa con nữa. Khi đứa bé vừa được ba tháng thì phải đem gởi nhà trẻ để mẹ nó đi làm, vướng nhà, vướng xe, phải hai income mới đủ. Ông tự giận mình vô tích sự, ở không cả ngày mà không trông nổi cháu, nhưng dạo này ông yếu lắm rồi, huyết áp lúc lên, lúc xuống không thể kiểm soát, nhiều lúc ông cảm thấy xây xẩm mặt mày, tim đập nhanh một cách khác thường và thỉnh thoảng lại đau nhói, làm ông phải ôm ngực thở hổn hển một lúc mới hết.

Ông không đi bộ nữa vì chỉ một quãng ngắn đã thấy mệt, làm việc gì hơi nặng một chút là thấy chóng mặt hoa cả mắt. Sức khoẻ đã đến lúc suy tàn, ông mỏi mệt chẳng muốn tiếp tục bước tới, thất thập cổ lai hy, sống đến bẩy mươi đã là thọ rồi, ông chẳng ham sống lâu thêm nữa. Nhưng trước khi chết, ông muốn được nhìn mặt người con gái út và hai đứa cháu ngoại của ông, trao tận tay cho chúng món quà mà chúng mơ ước: cái xe bằng gỗ do chính ông làm ra, chiếc xe mà ông đã đặt vào đó bao nhiêu tình thương, ông muốn được nhìn thấy những nụ cười rạng rỡ của hai đứa cháu. Ôi nụ cười của trẻ thơ mới thần tiên làm sao! đó là một món quà của Thượng đế ban cho những người già, nó sẽ làm tim ông ấm lại. Hai đứa bé đã từng mơ ước Đức Mẹ sẽ ban phép lạ cho con bé được chữa lành đôi chân, thằng Nghĩa hứa với em nó, nếu nó có một cái xe, nó sẽ chở em nó đi nhà thờ để cầu nguyện. Ôi chiếc xe! chiếc xe có thể giúp hai đứa bé đáng thương đó thực hiện được ước mơ kỳ diệu, ai dám bảo việc ông làm chiếc xe cho chúng là một việc điên rồ?

Gần đến Tết, trời bỗng trở lạnh, ông ho xù xụ, nhưng khỏi lo, về Việt Nam sẽ hết vì bên đó ấm lắm, ông nhủ thầm. Vé máy bay đã mua rồi, hành lý đã được sửa soạn, ông không đem gì nhiều, chỉ một cái va ly nhỏ quần áo và cái xe!  Cái xe đã được ông o bế kỹ lưỡng, sơn phết thật đẹp đẽ, thùng xe được đánh vẹc ni láng coóng, ông còn cẩn thận dùng vải mềm quấn kỹ chung quanh đề phòng khỏi bị trầy sát, sau cùng ông ràng cái xe vào một dụng cụ có bánh xe để có thể dễ dàng kéo đi trong phi trường.

Ông đã sẵn sàng để lên đường, chỉ còn hai ngày nữa thôi, ông nôn nao lắm, thời gian đi sao mà chậm hơn rùa, mãi mà chẳng hết một ngày, sốt cả ruột.

Trung cười mỉm:
- Từ từ thôi bố! Bố cứ đi ra đi vào cả trăm lần, thấy mà chóng cả mặt.

Ông cũng cười trả lại nhưng không nói gì cả, đâu phải chỉ mình Trung chóng mặt? ông cũng đang chóng mặt đây, người ông bừng bừng, hai tay ông run rẩy và ông còn cảm thấy hơi buồn nôn nữa. Cố dằn xuống đi, đừng ốm nhé! ốm bây giờ là không phải lúc đâu, ai lại ốm trước một chuyến đi quan trong như thế bao giờ? Ông cố hít vào một hơi thật sâu và cảm thấy dễ chịu hơn, có thế chứ, ai dám bảo thể thao là không có ích?  Ông nghĩ đến ba mẹ con thằng Nghĩa ở bên nhà, giờ này chắc cũng đang sốt ruột chờ ông về. Ở bên đó đồng hồ đi nhanh hơn bên này tới mười bốn tiếng, mười bốn tiếng chớ có ít đâu? tính ra thì chỉ còn có ba mươi sáu giờ nữa thôi, ba mươi sáu giờ tức là một ngày ruỡi… Nghĩa viết trong thơ:
“  Cháu còn nhớ ông ngoại thích ăn bắp nướng nên cháu đã xin mẹ mua sẵn vài cái thật ngon, chờ ông về sẽ nướng cho ông ăn…” Ông mỉm cười cảm động, thằng nhỏ thật ngây thơ và có lòng, nhưng thời gian qua, mọi việc đã đổi khác rồi cháu ạ, răng ông bây giờ đã rụng gần hết, những cái còn lại thì lung lay, làm sao ông ăn được bắp nuớng?

Ông chậm chạp đi vào nhà, lấy cái hình mới nhất của Nghĩa ra ngắm nghía, thằng nhỏ cũng thay đổi nhiều, khi ông đi nó mới lên năm, bây giờ thì đã lên chín. Trong mấy đứa cháu, ông thương nhất anh em thằng Nghĩa, mấy đứa cháu nội ông không lo, vì chúng còn cha mẹ đầy đủ, nhưng thương thì ông vẫn thương. Nhiều lúc ông muốn tỏ tình thương với cháu, nhưng chúng nó chỉ nhìn ông bằng những cặp măt dửng dưng.

Đời sống ở bên này quá bận rộn, và thiếu tình cảm, con cháu chẳng ai để ý đến những nỗi đau tinh thần lẫn thể xác của những người già. Phải chi bà còn sống, bà sẽ chia xẻ với ông, nhưng bà đã chết rồi…

Bỗng ông nhăn mặt đau đớn, tim ông vừa nhói lên, một cơn đau chợt đến bất ngờ làm ông phải nín thở đến vài giây, cơn đau lan từ ngực lên tới vai rồi cả cánh tay trái. Ông lảo đảo đi vào giường nằm xuống, rõ ràng là ông ốm rồi, ốm nặng rồi, ông ôm ngực thở hổn hển, tim ơi! đừng dở chứng ra đó nhé? hãy chịu khó làm việc thêm một chút nữa, chỉ một ngày ruỡi nữa thôi, à không, còn cần nửa ngày đi đường nữa là hai ngày mới đủ, cho ta có thể sống tới khi được gặp hai đứa cháu dáng thương của ta, trao cho chúng món quà mà chúng mơ ước. Ta chỉ yêu cầu có thế, sau đó mi sẽ được nghỉ ngơi, cả ta cũng vậy, ta đâu có muốn sống thêm làm gì?  Nhưng ta không muốn làm tan đi cái ước mơ nhỏ bé của hai đứa cháu tội nghiệp, ta muốn được nhìn thấy những ánh mắt reo vui, những nét mặt sung sướng của chúng nó, và giữ mãi cái ấn tượng đẹp đẽ đó như một hình ảnh cuối cùng trước khi đi vào cõi chết… Ông mệt mỏi thiếp đi.

Buổi chiều, ông cố gắng ăn được nửa chén cơm rồi vào giường đi ngủ sớm. Nhưng không tài nào ngủ được, ông trăn trở một mình trong đêm khuya, có cái gì đó chặn nơi ngực làm ông khó thở, ông ho không ra tiếng, mồ hôi toát ra ướt đầm mặc dù trời đang lạnh và ông đang rét run. Ông muốn lấy cái mền để ở chân giường nhưng không sao với tới, ông muốn gọi con nhưng rồi lại thôi, chúng nó cần ngủ để mai còn đi làm sớm, ông ngại không muốn làm phiền con cái. Ông cố gắng nhích tới từng chút một, khi tay ông vừa chạm vào cái mền thì cả người ông lẫn cái mền đều rơi xuống đất. Ông cố gượng ngồi dậy để bò lên giường, nhưng không thể được, tứ chi của ông không chiu theo sự điều khiển của khối óc ông nữa rồi, mặc dù ông vẫn tỉnh táo. Ông đành cứ nằm ngửa trên sàn, lắng nghe những cảm giác tê rần rật chạy tới đầu các ngón tay, ông mệt lắm, có cảm tưởng như bao nhiêu sinh lực của ông đang từ từ thoát ra khỏi cơ thể. Ý nghĩ mình sắp chết làm ông kinh sợ, không phải ông sợ chết, nhưng ông không thể chết bây giờ được, ông cần phải sống để gặp cháu, đem quà cho cháu…  Lậy trời cho tôi sống thêm một ngày, chỉ một ngày nữa thôi!

Sáng hôm sau không thấy ông ra ăn sáng, tưởng ông ngủ quên, Trung vào phòng để đánh thức, thấy cha nằm co quắp trên sàn nhà, Trung hoảng sợ kêu lên:
- Trời ơi! chuyện gì thế này? bố có sao không? con chở bố đi nhà thương nhé?
- Khỏi cần!  Ông xua tay, bố có sao đâu, chỉ hơi mệt một tị, để bố nghỉ ngơi  hôm nay cho khoẻ, sáng mai còn lên đường.
Trung nhìn cha thương xót, đỡ ông nằm lên giường xong rồi mới nói:
- Bố không biết lượng sức mình, tình trạng này mà còn nói chuyện đi đứng gì nữa? bố cứ nằm nghỉ, để con ra hãng du lịch xin hoãn chuyến bay cho bố.
- Còn có một ngày nữa hoãn đâu có kịp, thôi để bố cố gắng.
- Bố không dậy nổi thì làm sao đi?
- Mày cứ nói thế chứ đâu đến nỗi, cứ để bố thử xem sao.

Ông chống tay ngồi lên, nhưng chỉ được vài phút, một cơn đau ập đến làm ông nhăn mặt, lại nằm vật xuống. Ông ôm ngực thở hổn hển, mắt ông mờ đi, một niềm thất vọng sâu xa in hằn lên nét mặt đau khổ, ông chịu thua số phận rồi, trời không thương, không để ông sống cho tới khi được trở về quê hương. Ông lẩm bẩm:
- Con nói đúng, không kịp nữa rồi.
Biết rằng giây phút cuối cùng cùa đời mình sắp tới, ông muốn những dự tính của ông  phải được thi hành, ông nằm yên chờ cho qua cơn đau rồi mới vẫy tay ra hiệu cho Trung lại gần:
- Bố biết bố sắp chết, bố có mấy lời dặn con… Trung này! sau khi bố chết đi, con phải cưu mang em con, đừng bỏ mặc mẹ con nó, tội nghiệp hai đứa bé mồ côi cha…
Ông ngừng một lúc để thở rồi mới tiếp tục:
- Bố có dành dụm được một số tiền là mười ngàn đô, để trong cái túi xách tay treo ở đầu giường bố kia kìa, cái túi bố định đem theo khi về Việt Nam. Con dùng tiền đó để làm đám ma cho bố, nhớ làm hết sức đơn giản thôi, số tiền còn lại con gởi hết về Việt nam cho mẹ con thằng Nghĩa…
Trung rơm rớm nước mắt:
- Bố chỉ nói dại, bố chết sao được?
- Bố biết trong mình bố, con không cần phải an ủi, vì bố có sợ chết đâu?  Ông mỉm cười mệt nhọc, bố sắp di theo ông bà, bố sắp gặp lại mẹ con, bố sung sướng lắm, bố không ân hận gì cả. Nhưng bố chưa yên tâm ra đi vì bố có một tâm nguyện…

Ông Năm ngừng nói, nhắm mắt lại một lúc, một cơn đau dữ dội dâng lên nơi trái tim. Khi ông mở mắt ra, ông không còn nhìn thấy gì nũa, nhưng câu chuyện cần phải kết thúc. Ông mệt nhọc nói tiếp, giọng đã khản đặc:
- Tâm nguyện cuả bố là… bố muốn làm thoả mãn ước mơ của hai đứa trẻ thơ, một ước mơ rất giản dị, tầm thường nhưng đối với chúng là một giấc mơ thần tiên… Bố muốn nói cái xe, con nhớ nhé? cái xe, tuy nó không đáng giá gì nhưng bố đã làm với tất cả tâm huyết của bố cho Nghĩa, cho em của Nghĩa, hai đứa bé đáng thương… Con nói với Nghĩa rằng ông ngoại gởi cho nó cái xe, nó có thể chở em nó đến nhà thờ để cầu nguyện… Con phải gởi
ngay cho nó, con hứa với bố đi!
Ông ngưng một lúc chờ cho con trả lời, không thấy nó nói gì cả, ông lại dục:
- Con hứa đi!
Trung gật đầu:
- Thôi được rồi, con hứa!  Bố dừng nói nhiều mất sức, bố cứ an tâm nghỉ ngơi  đừng lo lắng gì cả, bố cố ngủ đi một giấc cho khoẻ.
- Bố yên tâm rồi, cám ơn con.
Ông Năm thở ra một hơi dài sung sướng, ông nhắm mắt lại, một dòng lệ ứa ra nơi khoé, nhưng môi ông nở một nụ cuời mãn nguyện. Khuya hôm đó, ông Năm trút hơi thở cuối cùng, hai tiếng đồng hồ trước khi chuyến bay về Việt Nam cất cánh.
Một tuần sau đám tang của cha, Trung dọn dẹp nhà cửa, tom góp những đồ đạc của ông Năm đem cho các hội thiện. Chợt nhìn thấy cái xe gỗ nằm trơ trọi ở góc nhà, Trung tần ngần đứng ngắm nghía nó một lúc rồi chậc lưỡi:
- To quá, làm sao đóng thùng để gởi về Việt Nam được đây?
Vợ chàng đứng bên cạnh nhăn mặt, giọng bực bội:
- Gởi làm quái gì vừa mất công vừa mất thì giờ, đem cho phứt đi cho rồi.
- Ai mà lấy cái của nợ này? vừa nặng vừa cồng kềnh, trông lại chẳng ra cái gì cả, đồ chơi chẳng ra đồ chơi, đồ dùng chẳng ra đồ dùng, không biết để xài vào việc gì? Thật đúng là ông già lẩm cẩm…
- Mình nói phải, hay là ta cứ liệng đại nó vô thùng rác?
- Đâu được! Trung nhăn mặt, anh đã hứa với ông già là sẽ gởi cái xe này về cho thằng Nghĩa.
- Ông già chết rồi, làm sao biết được mình có gởi hay không gởi?
Thấy Trung không trả lời, biết chồng còn ngần ngại, vợ chàng suy nghĩ một lúc rồi bàn:
- Em có ý kiến này, mình xem có được không?  Cái xe này chỉ đáng giá vài chục bạc, gởi về tiền cước cũng tốn hơn bạc trăm. Thôi thì mình cứ đưa phứt cho họ tròn hai trăm đồng, đỡ phải lôi thôi, rắc rối. Như vậy là sòng phẳng, rộng rãi lắm rồi, mình thấy sao?
Trung đồng ý liền, chàng reo lên mừng rỡ:
- Được lắm! có thế mà không nghĩ ra. Rồi chàng lẩm nhẩm tính toán, số tiền mười ngàn của ông cụ để lại, lo tang ma mất hết năm ngàn, còn năm ngàn cộng với tiền cái xe nữa là năm ngàn hai, mình gởi tất cả về Việt Nam cho má con thằng Nghĩa, chẳng phải là thực tế hơn hay sao?  Có tiền tiêu là sướng rồi, con nhà nghèo đâu cần phải có đồ chơi?

Bàn bạc, tính toán xong xuôi, hai vợ chồng thở phào sung sướng, thế là giải quyết xong mọi vấn đề một cách hợp tình, hợp lý theo ý họ, lương tâm họ ngủ rất yên.

Ngay buổi chiều hôm đó, hai vợ chồng hì hục khiêng cái xe gỗ, liệng tọt ngay vào thùng rác, rồi kéo ra để trên lề đường ngay trước cửa nhà. Ngày mai là ngày đổ rác, xe rác của thành phố sẽ đến lấy đi tất cả các rác rưởi của mọi nhà để đem đi thiêu hủy.

Ôi! tâm nguyện của một ông già, ôi hy vọng của hai đứa trẻ thơ! tất cả sắp bị hủy diệt cùng với các thứ rác rưởi khác. Linh hồn của ông Năm nếu có linh thiêng, chắc sẽ đau lòng lắm khi chứng kiến món quà lưu niệm của ông dành cho hai đứa cháu ngoại mồ côi cha, món quà tự tay ông làm lấy và ông đã để hết tâm hồn, đặt hết cả tình thương vào đó, bây giờ đang nằm gọn lỏn trong thùng rác, dơ hai cái càng lên như diễu đời.

Sáng tác của Phương Lan

( Trích trong tập truyện Còn chờ một kiếp sau. Nhà sáchTự Lực phát hành )

Bài Xem Nhiều