We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 11 November 2015

Aung Shan Suu Kyi : Miến Điện, tấm gương không dành cho Việt Nam

Không thể so sánh “chxhcn” VN với Miến Điện

Đem đạo Phật nói với việt cọng
Khác nào đờn khảy tai trâu
Tía má nó mà nó còn giết được
Nói làm gì nghiệp quả xa xôi
Làm sao so sánh
Việt Nam xã nghĩa cộng sản lưu mamh
Với hàng tướng lãnh có học thức Miến Điện
Xứ Phật giáo hiền lành, chỉ sai lầm một lúc
Về xã nghĩa tầm phơ, nhưng vẫn giữ được
Chủ quyền Quốc gia, chế độ tư sản
Đâu phải thứ cộng sản độc tài toàn trị
Kinh tế độc quyền, sở hữu “tàn dân”
Thực tế chệt tàu nắm thóp đã từ lâu

Việt Nam cũng không có một Suu Kyi

khôi nguyên Nobel Hòa Bình

Cũng không có một Liên Đoàn Dân Chủ

Hy sinh kiên cường chiến đấu
Cho nên đừng ngồi đó ước ao
Có ngày cọng sản buông dao đồ tể
Trái lại càng ngày nó càng hung dữ
Ban đầu chỉ bắt bỏ tù những người chống đối
Hiện nay thì các bloggers bị bắt bỏ tù dài dài
Có cái danh sách bìa đen tới vài ba chục mạng
Xếp vào hạng “tù trừ bị” đó!

Cho nên Việt Nam không thể hợp tác

Chuyển hóa chế độ từ từ như Miến Điện

Trái lại phải lật đổ cho được

Chế độ việt gian - cộng sản nô lệ tàu

Mới giành lại CHỦ QUYỀN QUỐC GIA được


Nguyễn Nhơn
*****************



Miến Điện, tấm gương không dành cho Việt Nam






“Cả ngày Chúa Nhật ngày 8 tháng 11 năm 2015, có lẽ dân tộc hạnh phúc và tự hào nhất hành tinh này là Miến Điện. Họ hạnh phúc khi đưa ngón tay nhuộm xanh lên khoe với thế giới rằng cuối cùng thì nhân dân Miến cũng đã tiến tới được bến bờ dân chủ thật sự, dù cái bến ấy mới chỉ được đóng tạm bằng những chiếc cọc tre để con thuyền chính trị của quốc gia ghé lại. Nhưng niềm tin và sức mạnh để mang con thuyền vào được cái bến thô sơ ấy chừng như đang hừng hực không gì có thể làm cho nguội đi.

Năm mươi ba năm, một hành trình không thể gọi là ngắn để lật đổ một chế độ quân phiệt toàn trị. Thế nhưng con số 53 năm ấy không ngưng một chỗ như nước ao tù mà nó luôn khuấy động khi nhiều khi ít cho đến khi thành sóng to bão lớn.

Trước cuộc bầu cử của người dân Miến Điện, nhiều người Việt đưa ra câu thách thức: “Tôi đố đảng cộng sản Việt Nam dám làm như Miến Điện”. E rằng nếu họ làm ngay, làm thật vào lúc này thì người đưa ra thách thức sẽ hối hận! Dễ hiểu lắm, bộ máy của nhà cầm quyền sẽ huy động tối đa để người dân đi bầu…cho họ. Trớ trêu nhất mà ai cũng nhận thấy: người ra tranh cử lúc này là ai, có đủ sáng giá cho người dân bỏ phiếu cho họ hay chưa?

Hãy nhìn thẳng vào những sự thật đã và đang làm cho Việt Nam tê liệt, chai lì và trong một thời gian dài sắp tới khó nói có thể đủ mạnh làm cho nhà nước này sợ hãi trong một cuộc phổ thông đầu phiếu dân chủ.

Bắt đầu từ đâu cũng thấy một con số không. Người nông dân, hơn 80 % dân số của Việt Nam là họ. Những tấm lưng trần giỏi giang trên đồng ruộng và chưa bao giờ làm một điều gì khiến chính quyền lo lắng chứ nói chi tới sợ hãi. Họ khuân vác sự thiếu thốn trong ý thức, kiên trì và chịu đựng áp bức một cách đáng khen. Chính quyền gọi đó là lực lượng cách mạng và sau 70 năm lực lượng cách mạng này vẫn còn có thể sử dụng qua việc nạo vét tới cạn kiệt sức lao động của họ vào từng hạt lúa, con tôm để ngoác miệng ra tự hào về tiềm năng phát triển kinh tế. Người nông dân ôm nỗi lo đói nghèo nằm ngủ và chưa bao giờ trong giấc mơ của họ có một đêm mơ được cầm lá phiếu để đi bầu.

Con cái của họ, đứa nào đầu óc tối tăm sẽ tiếp tục gục đầu dưới ruộng, đứa thông minh một chút lên thành phố thì chỉ một thời gian ngắn sẽ chạy theo cái cách mà con ông cháu cha ăn chơi đàn đúm rồi lại chạy về nhà trộm lúa giống cha mẹ đi bán để ăn chơi. Đứa nào may hơn một chút thì kiếm tấm chồng xa xứ để mà trưng bày phô diễn với chị với em tại vùng quê nghèo mà chúng bỏ đi.

Sinh viên Việt Nam nhiều như trấu nhưng trong cái đám trấu ấy mấy người được như sinh viên của Myanmar cách đây 23 năm. Họ hiên ngang đứng thẳng trước mũi súng của quân phiệt, người này bị bắn ngã xuống, người khác lại đứng lên. Trong ba ngàn con người đã hy sinh ấy sinh viên Việt Nam có được mấy người?

Trí thức Việt Nam là một con số đáng tự hào trong khu vực. Nhưng vẫn chỉ là con số thôi. Con số thống kê và con người trí thức cách biệt và chống đối lẫn nhau. Giáo sư Tiến sĩ nhiều vô số kể nhưng lên tiếng ủng hộ biểu tình chống Trung cộng thì cả nước chỉ được vài người…trên mạng. Ấy là chống Trung cộng mà còn như thế nếu chống trực tiếp đảng CS và chính phủ thì con số sẽ ra sao?

Người Việt Nam gọi tên bà Aung Shan Suu Kyi cho … đỡ nhớ, vì đã quá lâu Việt Nam không có được một hình ảnh đáng kính như bà.

Nhưng người ta không thể cứ nhớ và ước ao một lãnh tụ không hề có thật trong cộng đồng của mình đang sống. Sự thay đổi chính trị nào cũng phải thay da lột xác và chịu đớn đau. Không thể hỏi chừng nào mà nên hỏi tại sao chưa có cái chừng nào ấy.

Cái “tại sao” đầy dẫy mà dễ thấy nhất là từ chính mỗi người của chúng ta. Hãy nhớ lại vài mẩu chuyện nho nhỏ để biết thêm hai chữ “tại sao” này.

Khi Miến Điện bùng nổ biểu tình của sinh viên năm 1988, hàng ngàn sinh viên bị bắn, lập tức sư sãi và dân chúng xuống đường bất kể chính quyền quân phiệt đàn áp dã man. Hàng ngàn người vào tù trong đó có hàng trăm nhà sư, kiên trì tranh đấu cho sự vùng dậy của sinh viên.

Việt Nam biểu tình chống Trung cộng bị nhà nướcVC đàn áp dữ dội, người dân đứng nhìn như thể họ không phải là người Việt. Một nhóm nhỏ bị tấn công, bị bắt, bị hù dọa và sau đó liên tục bị sách nhiễu. Xã hội ung dung và những con người “dại dột” đấu tranh đó chìm sâu vào bóng tối.

Miến Điện có một nền văn hóa của nhà Phật. Đạo đức và căn bản làm người được dạy dỗ trong các thế hệ sinh viên học sinh. Bi, trí, dũng của nhà Phật chảy trong máu huyết của người dân Miến và vì vậy họ tôn kính lãnh tụ của mình khi thấy sự dũng cảm và thông tuệ của bà là nguồn sinh lực cho đất nước. Từ tôn kính dẫn tới phục tùng là điều hiển nhiên.

Trong khi đó tại Việt Nam đạo Phật đã biến dạng trở thành buôn thần bán thánh. Sư sãi không ngồi nhồm nhoàm bổng lộc thì cũng đứng lộng ngôn trong tòa “quốc hội”. Một số sư ni chính đạo thì bị chính phật tử bao vây mua chuộc khi đòi cho bằng được những lá xâm thật tốt cho mình.

Căn bản văn hóa đã bị biến dạng như vậy nên thần tượng được nặn lên từ tro tàn của lịch sử liền được người dân tha hồ thờ cúng. Thanh niên nhảy múa trên những giai điệu đàn điếm và không chút tính người vì vậy khi ra đường gặp kẻ thương tật hay tai nạn chết người chúng sung sướng chụp ảnh mang khoe trên Facebook. Những kẻ trộm chó bị giết không cần biết tới luật pháp là gì trong khi bọn trộm tài sản quốc gia lại được đám dân đen ngưỡng mộ và chắt lưỡi vì mình không làm được như chúng.

Việt Nam với môn lịch sử bị bóp méo theo khẩu vị của đám thân Tàu còn Miến Điện lại sẵn sàng bỏ Tàu để tự lực cánh sinh bằng đôi tay và khối óc của họ.

Aung Shan Suu Kyi có một đảng chính trị đúng đắn với hàng trăm con người cộng tác đầy tài năng. Những con người âm thầm nhưng mạnh mẽ và cương quyết ấy góp phần tạo nên Aung Shan Suu Kyi trong khi ở Việt Nam chỉ cần một người có vẻ đáng tin cậy liền bị nhiều thế lực khác nhau, trong đó có cả thế lực tranh đấu, đồng minh đè cho bẹp xuống.

Người Miến lưu vong không có khái niệm quốc cộng, họ chỉ tranh đấu nhằm lật đổ quân phiệt để thành lập nền dân chủ và vì vậy sức mạnh của họ không bị phân tán. Tiếng nói bền bỉ của họ đấu tranh cho bà Aung Shan Suu Kyi được tự do đã nhắc nhở Hoa Kỳ và EU về người đàn bà bất khuất này và cuối cùng cũng lật đổ được sự lạnh lùng của thế giới.

Việt Nam mãi mê phân chia ranh giới và mỗi người tự vẽ cho mình một vòng tròn cô lập. Không có một vòng tròn khép kín nào có thể nối được với một vòng tròn khác để tạo thành sức mạnh. Những vòng tròn bản năng ấy làm tê liệt sức chiến đấu trên mặt trận đấu tranh và tạo thêm niềm tin cho chính quyền hơn là tạo cho họ sự lo lắng cần thiết.

Cần thiết vì khi chính quyền lo lắng chính là lúc người dân biết được điểm chết của họ để tiếp tục tranh đấu, nhấn mạnh vào sự lo lắng ấy bằng những tác động cụ thể. Cũng như Miến Điện, khi bà Aung Shan Suu Kyi bị quản chế, đảng của bà chưa bao giờ lặng yên một ngày mà công tác đánh động quần chúng luôn được nêu cao, song song với sự yễm trợ của Mỹ và EU chính quyền quân phiệt cuối cùng cũng phải nhượng bộ.

Việt Nam không được một khuôn mẫu của Aung Shan Suu Kyi đã đành nhưng kể cả chờ đợi một người tương tự xuất hiện cũng phải biết cách. Tư thế ngồi chờ không phải là tốt đối với người hoạt động chính trị mà phải luôn luôn đứng, cho dù đứng chờ đi nữa, vì khi đứng người ta có thể chạy ngay ra đường khi có dịp, còn ngồi một thời gian quá lâu thì bắp thịt tê cứng, cơ hội đến mà chỉ lê lết chạy sau người khác thì thật quá buồn!

Và vì vậy đừng thách thức nhà nước VC có dám cho bầu cử tự do ngay vào hôm nay hay không, mà hãy tự thách thức chúng ta có dám để cho cơ hội ấy mau tới bằng chính hành động của mình bắt đầu từ hôm nay hay không.


Cánh Cò, viết từ Việt Nam

2015-11-10
---------------

Congratulate Aung San Suu Kyi

Nỗi Lòng Người Đi :Nhạc sĩ Anh Bằng "DÒNG NHẠC TRONG LÒNG DÂN TỘC“

Nhạc sĩ Anh Bằng với Âm nhạc Việt Nam - Thời hưng thịnh


Lịch sử Việt Nam thăng trầm trải qua một ngàn năm Bắc thuộc và hơn 80 năm thực dân Pháp đô hộ, nhưng vẫn giữ được giá trị lịch sử và bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam. Riêng về lịch sử âm nhạc giá trị nghệ thuật qua nhiều thế hệ, trong triều đình vua chúa có nhạc nhã cung đình, ngoài dân gian âm nhạc cũng phổ thông và phong phú. Những âm điệu, tiết tấu đặc trưng của dân ca từ ca dao và thơ lục bát, qua thời gian âm nhạc trở thành những thể loại như: ca hát dân gian khác nhau theo từng địa phương: hát Quan họ, hát Ả Đào, hát Chèo, hát Xẩm, Hò khoang, hát Bội…nhạc cụ gồm có nhiều lọai đàn tranh, đàn tỳ bà, đàn nguyệt, đàn cò, đàn nhị, đàn tam, đàn bầu, sáo, trống…Cuối thế kỷ thứ 20 nền âm nhạc phát triển mạnh mở đầu cho một giai đọan đổi mới của lịch sử âm nhạc Việt Nam. Theo tài liệu của nhiều nhạc sĩ, thì năm 1917, từ hát Bội có thêm hát cải lương ra đời, điệu hát này tân tiến hơn điệu hát bội, danh từ "Cải lương" để đặt tên cho điệu hát mới, năm 1920 có thêm "Sáu câu vọng cổ". [1]

Năm 1930 khởi đầu nền tân nhạc, hay là "thời kỳ tìm nhạc mới"?  Nhạc phẩm "cùng nhau đi Hồng quân" là ca khúc tân nhạc đầu tiên 1930? Từ năm 1935 có thêm 2 ca khúc Bẽ bàng, Tiếng Sáo Chăn Trâu. Năm 1936 ca khúc Bên Hồ Liễu; Trên Sông Hương; Xuân năm xưa. Năm 1937 Bóng ai qua thềm……Năm 1938 tân nhạc thật sự được phổ biến sâu rộng trong quần chúng, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên sáng tác nhạc phẩm Bông Cúc vàng, Kiếp hoa được nhiều người ái mộ. Báo Ngày nay của nhà văn Nhất Linh thời đó có uy tín trên văn đàn Việt Nam đã đăng nhạc phẩm này. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tuyên được mời thuyết trình ở Hà Nội, Huế, Hải Phòng, về tân nhạc và chính tác giả đã hát cho mọi người nghe. Những năm tháng phôi thai trước đó rồi Tân nhạc đã trở thành một phong trào được mọi người đón nhận và đam mê tại những thành phố lớn. Nhạc sĩ Lê Yên, Văn Chung, Doãn Mẫn, Dương Thiện Tước, Thẩm Oánh.. của hai nhóm nổi danh Tricéa và Myosotis đóng góp cho nền Tân nhạc Việt Nam càng ngày thêm phong phú. Những năm chiến tranh bùng nổ toàn dân chống Pháp, những đoàn văn nghệ trong đó có Phạm Duy, Phạm Đình Chương… từ thành phố về sinh hoạt ở vùng nông thôn hẻo lánh, hát tân nhạc để kích động lòng yêu nước, từ đó tân nhạc đã được phổ biến trên khắp mọi nẽo đường quê hương.

Năm 1954 đình chiến, đất nước bị chia đôi ngày 20.7.1954, những nhạc sĩ danh tiếng từ miền Bắc di cư vào Nam. Chính quyền miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa), với tự do sáng tác thơ, nhạc, văn học nghệ thuật, các nhạc sĩ sáng tác, phổ thơ thành nhạc theo nhiều thể loại được tạm chia ra: Nhạc tiền chiến, nhạc vàng, dân ca, du ca, đạo ca, hùng ca, tình ca, nhạc trẻ, nhạc sến, nhạc giao hưởng, nhạc phản chiến…..Trong khi đó miền Bắc chỉ có một loại nhạc đỏ theo đường hướng của đảng cộng sản chỉ đạo, âm điệu ảnh hưởng nhạc Tàu lai căng.

Trước năm 1975 tại miền Nam phong trào nhạc phát triển mạnh trên bốn vùng chiến thuật, Thủ đô Sài Gòn và Huế có trường Quốc gia và cao đẳng âm nhạc,  tại Sài Gòn nhờ có nhiều nhạc sĩ tài danh mở trường dạy nhạc và đào tạo ca sĩ. Đóng góp đáng kể phải nói đến lớp dạy nhạc ở Tân Định của nhóm Lê Minh Bằng và nhiều nhạc sĩ khác đào tạo nhiều nhân tài cho nền tân nhạc thời hưng thịnh.

Ở Đà Nẵng, Hội An ảnh hưởng nhạc của nhạc sĩ đồng hương: La Hối, Trầm Tử Thiêng, Vĩnh Điện…. và phong trào du ca của cố nhạc sĩ Trần Đình quân (cựu giáo sư Phan Châu Trinh). Huế trong giới sinh viên ảnh hưởng nhạc "phản chiến" của Trịnh Công Sơn, Thỉnh thoảng tại Đà Nẵng tổ chức Đại Nhạc Hội, nhưng học sinh, sinh viên không đủ khả năng mua vé vào xem. Những nhạc phẩm mới chỉ thưởng thức qua các chương trình phát thanh đài Sài Gòn hay Quân đội. Thời kỳ Tivi phát triển các chương trình nhạc được trình diễn, khán giả chỉ biết ca sĩ hát nhạc phẩm nào hay, tên tuổi ca sĩ được người ta yêu thích và biết đến. Nhưng rất tiếc ít người để ý đến tác giả sáng tác nhạc phẩm đó vào thời điểm nào! Bản nhạc Việt Nam Việt Nam của Phạm Duy và nhạc Trịnh Công Sơn Khánh Ly hát nhiều người biết. Nhưng tên tuổi hai nhạc sĩ nầy đã bị lãng quên. (năm 1973 tại Đại học Huế ông Trọng Văn diễn thuyết đề tài "Phạm Duy đã chết", dù ngày nay ông về sống tại Sài Gòn, nhưng cũng như người đã chết, cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn sáng 30. 4.1975 nếu anh đừng vội lên đài Sài Gòn hát Nối vòng tay lớn mừng "chiến thắng" ít ra cũng còn nhiều người mến mộ)

Sau 30.4.1975 thời kỳ suy thoái về âm nhạc, tất cả các nhạc trước 1975 bị cấm, băng nhạc, sách báo bị tịch thu. Nhạc sĩ, nhà văn, thi sĩ cùng với sĩ quan, công chức của VNCH bị tập trung cải tạo… Chúng ta rời bỏ quê hương làm kiếp người tị nạn, hội nhập vào đời sống văn minh của xứ người có tự do dân chủ. Cộng đồng người Việt luôn duy trì bản sắc văn hóa dân tộc. Trong sinh hoạt, âm nhạc không thể thiếu vì nhạc giúp cho đời thêm hương sắc. Các Trung Tâm nhạc ở Hoa Kỳ dù với tính cách thương mãi như: Thuý Nga, Asia, Vân Sơn đã đóng góp phát triển về âm nhạc, với sự góp mặt của nhiều ca sĩ trưởng thành ở hải ngoại trẻ tài sắc vẹn toàn, MC có trình độ học vấn cao, chương trình nhạc dàn dựng công phu, ánh sáng, âm thanh hoàn hảo sống động làm khán giả thêm đam mê, mang lại luồng gió mới âm nhạc Việt Nam hải ngoại và luôn bảo tồn nét đẹp văn hoá Đông phương.

Nhìn lại 34 năm âm nhạc hải ngoại thời thịnh vượng, thành công rực rỡ, với những nhạc phẩm sáng tác hát cho tình yêu quê hương đất nước .. Những Trung Tâm trên mời những nhạc sĩ tài danh giới thiệu họ với khán giả, nói lên lời tri ơn vì họ âm thầm đóng góp cho đời những nhạc phẩm bất hủ. DVD nhạc phát hành trên toàn thế giới, từ đó nhiều người biết mặt các nhạc sĩ, từ lâu tên tuổi họ đã đi vào lịch sử âm nhạc và tình tự dân tộc. Ngoài ra cũng giới thiệu những nhân tài gốc Việt thành công trên nhiều lãnh vực: khoa học, thương mại, xã hội .. mang lại danh dự cho cộng đồng người Việt chúng ta.

Sự có mặt của nhiều nhạc sĩ qua nhiều thế hệ (trưởng thành trước 1975 và sau 1975) đóng góp cho nền âm nhạc tại hải ngoại cần phải được vinh danh. Nhạc sĩ Anh Bằng đến định cư ở Hoa Kỳ từ 1975 lúc 50 tuổi đã có cơ hội tiếp tục sáng tác và phát hành cassette với tên Lê Minh Bằng, Sóng nhạc, Dạ lan, Asia. Khoa học phát triển, nghệ thuật thứ Bảy cũng tiến theo, từ Video đến DVD. Nhạc sĩ Anh Bằng sáng lập ra trung tâm Asia Entertainment, do con gái Thy Vân điều khiển tổng quát, nhạc sĩ trẻ tài ba Trúc Hồ làm Giám đốc. Nhạc sĩ Anh Bằng sáng tác nhiều trong số đó có 10% là thơ phổ nhạc

Phổ nhạc những bài thơ nổi tiếng thời tiền chiến. Bướm Trắng (Nguyễn Bính), Chuyện Hoa Sim (Hữu Loan), Anh Biết Em Đi Chẳng Trở Về (Thái can), Chuyện Giàn Thiên Lý (Yên Thao) Ngập Ngừng (Hồ Dzếnh), Hoa Trắng Thôi Cài Trên Áo Tím (Kiên Giang Hà Huy Hà)…..Anh Bằng rất có tài phổ thơ thành nhạc "Hai Sắc Hoa Ty Gôn" của TTKH dài 40 câu là chuyện tình tan vỡ, vì hoàn cảnh trái ngang nàng phải gạt nước mắt lên xe hoa về nhà chồng thành một ca khúc trữ tình. "chuyện tình hoa tigôn"

Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn

Nhặt cánh hoa rơi chẳng biết buồn

Nhuộm ánh trăng tà qua mái tóc

Tôi chờ người đến với yêu thương


Người ấy thường hay vuốt tóc tôi

Thở dài khi thấy tôi hay cười

Bảo rằng hoa nầy giống như tim vỡ

Anh sợ tình ta cũng thế thôi

…………..

Nếu biết rằng tôi đã lấy chồng

Trời hởi người ấy có buồn không

Có còn nghỉ tới loài hoa vỡ

Làm lỡ tình duyên cũ mất rồi


Nhạc sĩ Anh Bằng thật lãng mạn cảm nhận tình yêu trong mộng tưởng "Anh cứ hẹn" nhưng thi nhân Hồ Dzếnh thì "Ngập Ngừng" với 18 câu thơ bắt đầu "em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé" không gian không làm ngăn cách, Nhưng Anh Bằng thì muốn "anh cứ hẹn" chứ không phải "em cứ hẹn". Chủ từ anh hay em dù có hẹn, nhưng đừng bao giờ đến, vì tình yêu trong mộng tưởng bao giờ cũng đẹp và trong trắng.



Anh cứ hẹn nhưng anh đừng đến nhé

Để một mình em dạo phố lang thang

Quán vắng quanh đây nụ hôn quá nồng nàng

Em bước vội để che hồn trống vắng



Cái đẹp của tình yêu đừng bao giờ đến bến bờ, yêu là dang dở rồi lơ lửng lời thơ với nhạc hòa âm do Sỹ Đan soạn, được bốn ca sĩ trẻ Cardin, Trish Thùy Trang, Thùy Hương, Dạ Nhật Yến làm cuốn hút người nghe thêm say đắm.



Anh cứ hẹn nhưng anh đừng đến nhé

Cuộc đời buồn khi tình đã lên ngôi

Có bao nhiêu tình say đám tuyệt vời

Đều dở dang như tình mình thế thôi

Những cánh thư yêu đừng nên kết vội vàng

Những cánh buồm đừng nên dừng bến đổ

…………………………

Cuộc đời không có gì là vĩnh viễn, vũ trụ mệnh mông còn thay đổi, trong cuộc chiến thân phận làm trai phải ra đi chiến trận khói lửa mịt mù. Người vợ hiền, người em gái bé bỏng đợi chờ. Tàn cuộc chiến trở về thi nhân Hữu Loan khóc người thương với "Màu tím hoa sim" vì yểu mệnh nàng đã ra đi về bên kia thế giới. Thi phẩm bất hủ nầy được các nhạc sĩ phổ nhạc. Dzũng Chinh với bài "Những đồi hoa sim”, Phạm Duy soạn thành bài "Áo anh sứt chỉ đường tà”, Duy Khánh với "Màu tím hoa sim”, Anh Bằng với "Chuyện hoa sim” do các gịong ca: Băng Tâm, Y Phụng, Đặng Thế Luân, Mạnh Đình, Ngọc Huyền, cùng với nhạc phẩm "Chuyện Giàn Thiên Lý" ý thơ của Yên Thao thật xúc động, diễn đạt hết tâm trạng của nguời trai  thời loạn, đó là sự thành công tuyệt vời của nhạc sĩ Anh Bằng



Rừng hoang đẹp nhất hoa màu tím

Chuyện tình thương nhất chuyện hoa sim

Có người con gái xuân vời vợi

Tóc ngăn ngắn chưa đầy búi


Ngày xưa nàng vẩn yêu màu tím

Chiều chiều lên những đồi hoa sim

Đứng nhìn sim tím hoang biền biệt

Nhớ chồng chinh chiến miền xa xăm


Ôi lấy chồng chiến binh (điệp khúc)

Lấy chồng thời chiến chinh, mấy người đi trở lại

Sợ khi mình đi mãi, sợ khi mình không về

Thì thương người vợ bé bỏng chiều quê

Nhưng không chết người trai khói lửa

Mà chết người em nhỏ hậu phương

Mà chết người em bé tôi thương.


Đời tôi là chiến binh rừng núi

Thương ngày qua những đồi hoa sim

Thấy ngày qua những đồi hoa sim

Thầy cành sim chín thương vô bờ

Tiếc người em gái không còn nữa


Tại sao nàng vẫn yêu màu tím

Màu buồn tan tác phải không em

Để chiều sim tím hoang biền biệt

Để một mình tôi khóc chuyện hoa sim


Nhạc sĩ Anh Bằng còn phổ khá nhiều thơ của các thi sĩ: Hoa Học Trò (Nhất Tuấn), Khúc Thụy Du (Du Tử Lê) Anh Còn Nợ Em (Phan Thành Tài), Từ Độ Ánh Trăng Rằm (Đặng Hiền) Trúc Đào (Nguyễn Tất Nhiên), Mai Tôi Đi (Nguyên Sa)….Ngoài ra còn một số nhạc phẩm tình cảm, chiến đấu, hài hước … "nỗi lòng người đi", một hoài niệm man mác về quá khứ dù sống giữa thành phố Sài Gòn tự do hoa lệ .



Tôi  xa Hà Nội lên năm mười tám khi vừa biết yêu

Bao nhiêu mộng đẹp yêu đương thành mây khói tan theo mây chiều

Hà Nội ơi! Nào biết ra sao bây giờ

Ai đứng trông ai ven hồ khuya nước trong như ngày xưa

Tôi xa Hà Nội năm em mười sáu xuân tròn đắm say

…………………

Hôm nay Sài gòn bao nhiêu tà áo khoe màu phố vui

Nhưng riêng một người tâm tư sầu đi trong bùi ngùi

Sài gòn ơi! Mộng với tay cao hơn trời

Tôi hái hoa tiên cho đời để ước mơ nên đẹp đôi


Cuộc di cư lớn nhất trong lịch sử Việt Nam, hơn một triệu người rời bỏ miền Bắc để vào Nam vì không thích sống dưới chế độ cộng sản độc tài, Chính quyền CS lúc nào cũng muốn nắm cái bao tử người dân, cai trị với chế độ tem phiếu, phân phối thực phẩm. Nên sự nghèo đói, điêu tàn thường xảy ra, ngày nay họ gọi là "thời kỳ bao cấp". Nhạc sĩ Anh Bằng nhớ những em bé bất hạnh dưới chế độ cộng sản để viết nhạc phẩn NÓ



Thằng bé âm thầm đi vào ngõ nhỏ

Tuổi ấu thơ đã mang nhiều âu lo

Ngày nó sống kiếp lang thang

Ngẩn ngơ như chim đầu đàn

Nghỉ mình tuổi thân muôn vàn


Miền Bắc điêu tàn nên đời nó khổ

Một chén cơm chiều nên lòng  chưa no

Nhiều lúc nó khóc trong mơ

Mẹ ơi con yêu mong chờ

Bao giờ cho đến bao giờ



Trong Quân sử Việt Nam Cộng Hòa thường nhắc lại cuộc chiến đẩm máu nhất là "Mùa Hè Đỏ Lửa 1972". Nhưng trước đó Tết Mậu Thân năm 1968 cuộc chiến máu lửa đã xảy ra trên bốn vùng chiến thuật rất khủng khiếp. Những thành phố lớn đều bị bom đạn tàn phá, Huế cổ kính, trang nghiêm thơ mộng một thời vang bóng, bị tàn phá dữ dội. Gia đình chú thím tôi ở Ga Huế chịu chung số mệnh tang thương, đứa con út trong gia đình đã chết vì đạn pháo kích của cộng quân, trên đường chạy giặc phải chôn vội bên bờ sông Bến Ngự!…nhạc phẩm "Chuyện một đêm khuya" đã viết lên niềm đau, tâm trạng thật thời đó.



Chuyện một đêm khuya nghe tiếng nổ nổ vang trời

Chuyện một đêm khuya ôi máu đổ đổ lệ rơi

Chuyện một đêm khuya nghe tiếng than trong xóm nghèo

Mái tranh lửa cháy bốc lên ngun ngút trời cao


Bà đặt con lên đám cỏ phủ sương mờ

Tội gì con ơi khi lứa tuổi còn thơ

Bà nhẹ đưa môi hôn trán con yêu giá lạnh

Vuốt ve lần cuối trước khi xa con suốt đời.

………………….

Hơn hai mươi năm chinh chiến bom đạn tàn phá quê hương, người dân miền Nam luôn nguyện cầu cho hòa bình, nhạc sĩ Anh Bằng là con chiên ngoan đạo sáng tác nhạc phẩm Nguyện cầu, chắp tay nguyện cầu xin Thượng Đế thấu hiểu nỗi khổ đau triền miên của dân tộc Việt Nam mình



Hãy lắng tiếng nói vang trong hồn mình người ơi

Con tim chân chính không bao giờ biết nói dối

Tôi đi chinh chiến bao năm trường miệt mài

Và hồn tôi mang vết thương trần ai

……………………………………………


Hàng ngày tiếng chuông nguyện cầu vang vọng khắp muôn nơi, vào đêm Giáng Sinh hay ngày Tết chính quyền miền Nam (VNCH) luôn tôn trọng một ngày ngưng tiếng súng, để người dân tạm sống trong hòa bình yên vui đón vui xuân và nguyện cầu, nhưng địch quân luôn lợi dụng những giấy phút thiêng liêng đánh phá phá! Chỉ Thượng Đế thấu hiểu ước mơ của người dân hiền



Thượng Đế hởi có thấu cho Việt Nam nầy

Nhiều sóng gío trôi dạt lâu dài

Từng chiến đấu tiêu diệt quân thù bạo tàn

Thượng Đế hởi hãy lắng nghe người dân hiền

Vì đất nước đang còn ưu phiền

Còn tiếng khóc đi vào đem trường tiền miến

…………………………………………



Cuộc đời của nhạc sĩ Anh Bằng, cũng như nhiều người khác đã hai lần đi cư, từ Bắc vô Nam và từ miền Nam thân yêu trù phú, phải một lần nửa "di tản buồn". Sống ở miền đất hứa bốn mùa thời tiết thay đổi với vẽ đẹp của thiên nhiên, nhạc sĩ Anh Bằng vẫn canh cánh bên lòng với khung trời kỷ niệm của quê hương yêu dấu mùa thu, mưa, nắng cho đến đêm trăng … bao giờ cũng đẹp hơn nơi đất khách .


Mùa thu nơi đây

Buồn hơn mùa thu Sai Gòn nhiều

Nhìn Thu lá bay

Không thiết tha giống Sài Gòn nhiều

biết không anh biết không anh

Mùa thu nơi đây rất buồn rất buồn.


Trời mưa nơi đây

Buồn hơn trời mưa Sài Gòn nhiều

Giọt mưa hắt hiu

Như nhắc ta nhớ Sài Gòn nhiều..

Màu trăng nơi đây

Đục hơn màu trăng Sài Gòn nhiều

Trời đêm lặng sao….

Biết không anh biết không anh

Ở đây trăng sao rất buồn rất buồn!!!



Hàng năm ở Hoa kỳ thường có ngày Mother‘s Day để tưởng nhớ Mẹ. Anh Bằng đã sáng tác nhạc phẩm "Khóc Mẹ Đêm Mưa" vinh danh Mẹ hiền, qua giọng hát thiết tha não nùng của Đặng Thế Luân, người mất Mẹ thì nước mắt lưng tròng, khóc Mẹ cũng là một thông điệp nhắc nhở những người còn Mẹ phải làm tròn bổn phận thiêng liêng.



Có những lần con khóc giữa đêm mưa

Khi hình Mẹ hiện về năm khói lừa

Giặc đêm đêm về quê ta vây khốn

Bắt cha đi Mẹ khóc suốt đêm buồn

Ôi thương Mẹ vất vã sống nuôi con

Đi vội về sợ con thơ ngóng chờ

Nhưng Mẹ đi không bao giờ về nữa

Ngã trên đường tức tủi chết trong mưa

Tan chiêm bao nước mắt thành dòng

Con gọi Mẹ một mình trong đêm vắng

Mẹ ơi! Mẹ ơi

Tha hương con gục đầu tưởng nhớ

Trên đời nầy Mẹ con không gặp nửa.

Mẹ ơi! con khóc giữa đêm mưa!



Nhạc sĩ Anh Bằng đã ca tụng tình yêu, tình yêu với quê hương, tình chiến hữu "Huynh đệ chi binh", tri ơn những người lính chiến vô danh đã nằm xuống vì tự do,  những Thương phế binh VNCH bị bỏ quên sau cuộc chiến. Những năm qua các Hội cựu quân nhân VNCH thường tổ chức văn nghệ giúp cho thương phế binh, một món quà, một số tiền nhỏ gởi về giúp họ nói lên tấm lòng biết ơn. Tuy nhiên trong tập hợp xã hội thuờng có những bất đồng chính kiến "chín người mười ý", đôi khi làm rạng nứt, tan vở tình người !



Nhạc sĩ Anh Bằng mong ước cùng chúng ta đấu tranh Tự Do và Dân Chủ cho Việt Nam, bỏ qua những tỵ hiềm bé nhỏ, cùng cầm tay nhau đốt lên ngọn đuốt soi sáng những tối tăm mịt mù quê hương, và sưởi ấm lòng người viễn xứ. Hơn 34 năm chúng ta sống đời lưu vong, mong ước một ngày không xa quê hương Việt Nam, sẽ thật sự có tự do, no ấm phú cường.



Đốt đuốc lên! Ta đốt đuốt lên!

Cho tình anh em Việt Nam đoàn kết

Thắp nến lên! Ta thắp nến lên

Xua ngàn tối tăm ra ngoài trái tim cùng một lời nguyền

Đốt đuốc lên! ta đốt đuốc lên!

Cho cờ vàng lên rực cao Tổ quốc

Thắp nến lên! ta thắp nến lên

Cho màu vàng sáng thơm da vàng Việt Nam



Theo tiếc lộ của nhạc sĩ Lê Dinh định cư ở Canada. nhạc sĩ Anh Bằng đã ngoài 80 tuổi, bị bệnh lảng tai nặng nhưng ông vẫn còn sáng suốt, tiếp tục sáng tác hàng trăm nhạc phẩm để đời. Nhìn lại sự nghiệp âm nhạc của Anh Bằng đóng góp vào kho tàng văn hoá Việt Nam hải ngoại rất trân trọng. Tác phẩm của ông khá nhiều viết chung trong nhóm "Lê Minh Bằng" tức bút hiệu của ba nhạc sĩ Lê Dinh, Minh Kỳ và Anh Bằng. Ngoài ra những năm ở hải ngoại ông tiếp tục sáng tác và phổ nhạc rất nhiều nhạc phẩm giá trị, đậm đà tình người qua những chặng đường thăng trầm của đất nước.  Bài sưu khảo nầy trong giới hạn, không thể trích dẫn hết những cái hay cái uyên bác, trữ tình trong nhạc phẩm của nhạc sĩ Anh Bằng.



(Văn Đàn Đồng Tâm, vinh danh nhạc sĩ Anh Bằng)



Tài liệu tham khảo


Lời nhạc tham khảo trong trang Đặc Trưng-Online

Thơ: Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến toàn tập của Nguyễn Tấn Long

Bách khoa toàn thư Wikipedia



--------------------------------------------------------------------------------

[1] Dạ cổ hoài lang là nghe tiếng trống đêm nhớ nhà, gồm 20 câu vọng cổ của ông  Cao Văn Lầu. Nhạc sĩ Cao Văn Lầu sinh năm 1892 tại xã Thuận Lễ nay là Thuận Mỹ, Tân An (Long An) mất 13.08.1976. Tổ phụ của ông nguyên ở thành Gia Định. Năm ông Sáu Lầu lên 6 tuổi, cha ông chuyển về Bạc Liêu. Ông sáng tác năm 1918, bản vọng cổ  nói về tâm sự người đàn bà nghe tiếng trống cầm canh ban đêm nhớ chồng. vọng cổ đã có sức sống mãnh liệt trong lòng công chúng, nó chiếm lĩnh tình cảm tất cả các tầng lớp từ trí thức, đến những người bình dân




Từ là từ phu tướng

Bảo kiếm sắc phán lên đường

Vào ra luống trong tin chàng

Năm canh mơ màng.

Em luống trông tin chàng

Ôi gan vàng thêm đau.

Đường dù xa ong bướm,

Xin đó đừng phụ nghiã tào khang

Còn đêm luống trông tin bạn,

Ngày mỏi mòn như đá vọng phu.

Vọng phu luống trông tin chàng

Lòng xin chớ phụ phàng

Chàng là chàng có hay?

Đêm thiếp nắm luông những sầu tây

Biết bao thưở đó đây sum vầy

Duyên sắc cầm đừng lợt phai

Là nguyện cho chàng

Đặng  chữ an bình an

Trở lại gia đàng

Cho én nhạn hiệp đôi.


Cải lương ra đời năm 1918 ở miền Nam, từ đó phát triển được đến các miền đất nước. Nơi nào cũng tiếp nhận dễ dàng. Khác với một số thể loại như chèo chỉ ở Bắc, cung đình chỉ ở Huế, ca kịch bài chòi chỉ ở Nam Trung Bộ. "Cải lương là sửa đổi cho trở nên tốt hơn",  Sân khấu cải lương là một quá trình  thừa  kế và phát triển truyền thống âm nhạc dân tộc. Cải lương xuất phát từ thể loại đờn ca tài tử mà ra. Vào cuối thế kỷ 19, đờn ca tài tử đã phát triển hoàn chỉnh từ đờn, ca, bài bản. Người ca diễn cả tâm trạng của bài hát bằng những điệu bộ, gọi là lối ca ra bộ, là hiện tượng tự phát theo từng bài bản riêng một. Cải lương là ca ra bộ xuất hiện đầu tiên ở Vĩnh Long trong nhóm đờn ca tài tử của ông Tống Hữu Định. Nhưng khi nó được đưa lên sân khấu ở Mỹ Tho, để ra mắt quần chúng rộng rãi, thì mới được chú trọng. (Lúc đó, ở Mỹ Tho có rạp chiếu phim Casino của ông Châu Văn Tú, để lôi cuốn khách coi phim, chủ rạp mời nhóm đờn ca tài tử của ông Nguyễn Tống Triều phụ diễn văn nghệ trước khi chiếu phim).

"Cải cách hát ca cho tiến bộ
Lương truyền tuồng tích sáng văn minh”
Nguyễn Quý Đại
------------
Xin anh chị em góp lời cầu nguyện:
Thương Tiếc Nhạc Sĩ Anh Bằng

Tin buồn nhận dạ tái tê
Anh Bằng nhạc sĩ đã về cõi xa
Chín giờ đêm lạnh sương nhòa
Nỗi đau nhỏ lệ tang gia não buồn

Thân bằng quyến thuộc tiếc thương
Nén nhang thắp khói chập chờn bay cao
Trời xa tắt một vì sao
Bầu trời âm nhạc nghẹn ngào sương rơi

Nghe ca khúc cũ ngậm ngùi
Khúc Thụy Du hát những lời chia ly
Lệ ai đẫm ướt bờ mi
Xót xa dòng nhạc ôm ghì nhớ nhung

Tiếng ca giăng nhớ chập chùng
Nghẹn ngào tâm tưởng Nỗi Lòng Người Đi
Chuyện Giàn Thiên Lý tình quê
Gửi bao lưu luyến lối về lòng nhau

Chuyện Hoa Sim tím lặng sầu
Chuyện Tình Lan Và Điệp sâu ân tình...
Lắng nghe tiếng nhạc lênh đênh
Là nghe tiếng đập tim mình đó thôi

Giờ âm dương cách đôi nơi
Cầu hồn thiêng hưởng ơn trời Thánh Nhan
Về an vui cõi Thiên Đàng
Lòng người tiếng nhạc Anh Bằng mãi vang

Chợt nghe tin dữ bàng hoàng
Xin chia đau đớn với tang gia buồn
 Thành Kính Phân Ưu

( 13 tháng 11. 2015 )
 Trầm Vân


Hải Ngoại gần 40 năm: Chuyện “Terror in Little Sài Gòn” hay chuyện Nội Bộ ?

Kính thưa quý vị,
Để rộng đường dư luận, chúng tôi xin phổ biến nguyên bài " Chuyện Nôi Bộ?"
viết vào tháng 7 năm 1999 của Phan Kim Điện, đăng trên báo Làng Văn số 189, 
phát hành ngày 1/9/1999.
Phan Kim Điện là bút hiệu của Nguyễn Thị Bé Bảy và Bùi Dương Liêm.

Trân trọng, 
Bùi Dương Liêm
Nguyễn Thị Bé Bảy


________________________


Chuyện Nội Bộ?

Làng Văn số 184, mục Tài Liệu, có đăng bài "Chung Quanh Cuộc Tranh Luận Về Vấn Đề Sống Chết Của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh". Trong phần Lời Tòa Soạn, quý báo đã nêu lên một số ý kiến về vấn đề nói trên.
Ở đây, chúng tôi không có ý tham dự vào cuộc tranh luận giữa đôi bên là ông Phạm Văn Thành, Luật Sư Hoàng Duy Hùng và MTQGTNGPVN, chỉ xin có một vài ý kiến liên quan đến "Lời Toà Soạn" của quý báo. Quý báo viết rằng:
-................................
- Đám mây mờ bao phủ uy tín của Mặt Trận trong vụ rạn nứt nội bộ với Đại tá Liễu, sau tin dữ nói trên đã tan dần. Người ta mừng khi thấy tổ chức của MT tại hải ngoại, nhất là các cơ sở hạ tầng, vẫn vững vàng và góp nhiều công lớn trong việc chống lại các chiến dịch tuyên truyền, xân nhập, ngoại vận của CS. Những nỗ lực lớn lao bền bĩ này đã giúp giữ vững trận tuyến và tinh thần chống cộng ở hải ngoại.
- Cho đến nay, MTQGTNGPVN vẫn chưa công bố sư hy sinh của Tướng Hoàng Cơ Minh và cánh quân Đông Tiến. Điều này có thể hiểu ngầm là vì lý do chiến lược, chiến thuật, tâm lý, tổ chức hay do chính di huấn của tướng Minh trước khi xuất thân vào hiểm địa, hoặc một lý do nào khác. Công chúng tôn trọng quyết định nội bộ của MT, tuy nhiên MT cũng phải ghi nhận những lời dị nghị trong tinh thần dân chủ và tôn trọng ý kiến người khác.
.....................................
- LS Hùng đã đi xa hơn, khi trong phần II bài viết, anh phê bình và kết án MTQGTNGPVN "có âm mưu" khi xác quyết rằng tướng Minh "còn sống". Chúng tôi thấy sự cáo buộc này không cần thiết và cũng không có lợi cho đại cuộc. Như trên đã viết, đó là quyết đuịnh có tính cách nội bộ của một tổ chức, người ngoài nên tôn trọng.
Chúng tôi xin có ý kiến về ba điểm mà quý báo nêu lên ở đây:
- MT tại hải ngoại góp nhiều công lớn trong việc chống lại các chiến dịch tuyên truyền xâm nhập của CS.
- Sự việc chưa công bố sự hy sinh của Tướng Hoàng Cơ Minh là vấn đề nội bộ của MT.
- Sự cáo buộc của luật sư Hoàng Duy Hùng không có lợi cho đại cuộc.
I- M T đóng góp trong việc chống lại các chiến dịch tuyên truyền xâm nhập của cộng sản.
Từ khi thành lập cho đến năm 1995, MTQGTNGPVN có góp công với đồng bào trong việc chống lại các chiến dịch tuyên truyền, xâm nhập bằng văn hoá, văn nghệ của CS. Tuy nhiên, từ năm 1995 trở về sau, những sự kiện sau đây đã xảy ra:
- MT trao giải Văn Học Nghệ Thuật cho Hà Sĩ Phu vào năm 1995 qua bài viết " Chia Tay Ý Thức Hệ". Tựa đề của bài viết nói trên là lý do chính để MT phát giải cho Hà Sĩ Phu, với lập luận rằng Hà Sĩ Phu đã chia tay với ý thức hệ CS. Tuy nhiên, nội dung bài viết của Hà Sĩ Phu có rất nhiều điều không đi đôi vời đề tựa, nếu không nói là mâu thuẫn trầm trọng: a/ Quan niệm của Hà Sĩ Phu về một loại nhân quyền có ba bậc tùy theo "sự tiếp cận văn hoá" và Hà Sĩ Phu kết luận rằng CS là một trào lưu đấu tranh cho nhân quyền tối thiểu, ở tầm văn hoá thấp. b/ Ca tụng Hồ Chí Minh đã tạo nên một sự nghiệp thần kỳ, là nhân vật lịch sử  số 1 của dân tộc Việt Nam và của thế giới, c/ Cho rằng chủ nghĩa Mác  sẽ sống lại và phát huy cái tác dụng tích cực của nó.
-   Hội Chuyên Gia Việt Nam, một tổ chức ngoại vi của MT, đã sử dụng tài liệu của VC để thực hiện một CD ROM về lịch sử Việt Nam. Sau khi bị phản đối, Hội Chuyên Gia ra thông cáo xin lỗi và yêu cầu những ai đã mua CD nói trên thì gửi trả về cho Hội Chuyên Gia.
- Liên Minh Việt Nam Tự Do, một tổ chưc ngoại vi khác của MT, đã phổ biến rất nhiều tài liệu VC ca tụng chủ nghĩa Mác Lê, ca tụng Hồ Chí Minh với lời giải thích rằng họ đang thực thi chiến thuật " Vận Dụng Phản Kháng".
(Cũng xin mở một dấu ngoặc ở đây, mặc dù MT phủ nhận hai tổ chức trên đây không phải là ngoại vi của MT, cũng như LM VNTD đã từng lên tiếng xác định LM là một tổ chức độc lập, nhưng một số lớn nhân sự nòng cốt của hai tổ chức này đều xuất thân từ MT. Ngoài ra, MT và LM cùng có chung một đường lối và chủ trương hoạt động giống nhau, trong đó có chiến thuật "vận dụng phản kháng".)
Vin vào những lời phê bình nhóm lãnh tụ đương quyền của các đảng viên trung kiên nhiều tuổi đảng, và cho rằng cần phải khai dụng tính phản kháng của những lời phê bình này, những loại tài liệu ca tụng chủ nghĩa Mác Lê, ca tụng Hồ Chí Minh đi kèm theo những lời phê bình nhóm lãnh tụ đương quyền đã được LM VNTD phổ biến và quảng cáo rộng rãi tại hải ngoại, không còn bị liệt kê vào diện " văn hoá phẩm tuyên truyền của VC" như trước kia.
Vì vậy, có thể  nói rằng chiến thuật "Vận Dụng Phản Kháng" hay "Khai Dụng Phản Kháng"  của LM VNTD vô hình chung đã trở thành một phương cách tuyên truyền cho CS. Vì chưng, sự "vận dụng phản kháng" đã tô son điểm phấn cho tác giả những bài viết, tác giả những sách vở ca tụng Hồ và chủ nghĩa Mác Lê - họ vốn là những con người CS thuần thành, những con người CS chân chính, những con người CS có phẩm hạnh đúng theo tiêu chuẩn và giá trị cộng sản như chính họ tự nhận, có người mang thành tích giết đồng bào không gớm tay như " Hung Thần Chợ Đệm Nguyễn Văn Trấn- bỗng nhiên trở thành  những nhà cách mạng lão thành, những sĩ phu yêu nước, những trí thức có lương tri, thậm chí những tên CS này còn được LMVNTD ví ngang hàng với Chu Văn An, Nguyễn Trường Tộ.
Như quý báo cũng đã biết, Trần Độ - tác giả của những bài viết mà quý báo đã đăng tải trong mục Tài Liệu - ông tướng VC này nói thẳng  rằng mình là "một con ngựa già đem sức tàn ra bảo vệ Đảng".
Nói trắng ra , những luận điệu ca tụng chủ nghĩa CS và những lời ca tụng Hồ Chí Minh trong các bài viết của Trần Độ, chẳng những sẽ không được hải ngoại đón nhận mà sẽ bị phản đối mãnh liệt và sẽ bị vứt vào thùng rác, nếu nó không đi kèm với những lời chỉ trích chế độ và chống đối những lãnh tụ CS hiện nay.
Mà thật sự đó đâu phải là những lời lẽ chống đối cho cam! Đúng ra, đó là những lời của
đàn anh trách mắng, phê bình bọn đàn em không biết cách bảo vệ đảng và không theo đúng đường lối của Hồ Chí Minh đã vạch ra trong sự nghiệp xây dựng đảng và xây dựng xã hội chủ nghĩa!
Trong bài viết mới nhất là "Bút Ký Xuân Kỷ Mão 1999" , Trần Độ minh xác một lần nữa tư tưởng trung thành với đảng và trung thành với chủ thuyết CS của mình bằng những lời lẽ như sau:"Phải thực sự tôn trọng và thực hiện khẩu hiệu rất hay đã có là "Việt Nam
muốn làm bạn với tất cả mọi người". Mục tiêu chiến lược và tư duy chiến lược đó là  cao nhất, nó cao hơn và bao hàm cả những nguyên tắc đã có như là: kiên trì lý tưởng XHCN, kiên trì chủ nghĩa Mác-Lênin; vai trò của đảng CS,  chứ không ra ngoài và không ngược lại. Đảng CS cần phải thu hút trí tuệ toàn dân để bồi bổ cho trí tuệ của Đảng và làm cho Đảng xứng đáng vai trò tác giả, tiền phong và tham mưu cho toàn dân tộc. Tôi cho đó là phương hướng tốt đẹp nhất..".
Tóm lại, có đọc hết những bài viết, những sách vở của những người CS được Liên Minh Việt Nam Tự Do quảng cáo, sẽ thấy họ cùng viết theo một công thức giống nhau, nội dung gồm có hai phần rất rõ rệt: phần thứ nhất là phê bình chỉ trích nhóm lãnh tụ đương quyền, tố giác tham nhũng, vạch ra những sai lầm của chế độ, nhưng chung cuộc ở phần thứ hai, họ vẫn một mực ca tụng Hồ Chí Minh là lãnh tụ vĩ đại cùng với đảng CSVN đã xây dựng nên một sự nghiệp thần kỳ, và chủ nghĩa CS vẫn là một chủ nghĩa lý tưởng, chỉ có người thi hành đã không theo đúng đường lối CS chân chính mà thôi.
Công thức này được thể hiện rõ ràng nhất qua các bài viết của Trần Dũng Tiến, Phạm Vũ Sơn, Phạm Hồng Sơn và gần đây nhất là bài " Góp Ý Để Xây Dựng Đảng" của Nguyễn Trung Trực, với những lời mở đầu sặc mùi CS không thể lầm lẫn vào đâu được, nó như thế này:
"Đảng ta, do bác Hồ sáng lập và rèn luyện đã có công lao vô cùng to lớn trong thời kỳ trước cách mạng và trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Trong suốt tiến trình lịch sử  45 năm đó (1930-1975) Đảng đã đưa dân tộc ta từ một dân tộc nô lệ, lầm than, không có tên trên bản đồ thế giới trở thành một dân tộc anh hùng, một thời là "lương tâm của loài người, lương tri của thời đại". Có được thành quả kỳ diệu đó, chúng ta mãi mãi ghi nhớ công ơn trời biển của Bác Hồ, vị lãnh tụ vĩ đại, bằng đạo đức trong sáng, mẫu mực của mình đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ, đảng viên xứng đáng với danh hiệu của người CS chân chính, làm cho Đảng trở thành nguyên nhân của mọi thắng lợi của dân tộc Việt Nam."
Những lời lẽ trên đây đã thể hiện một cách rõ ràng cái lối treo cờ đỏ và ảnh Hồ Chí Minh bằng ngôn ngữ, và nếu đem so sánh với hành động treo cờ đỏ và hình Hồ, hành động sì sụp vái lạy của vợ chồng Trần Trường trước hai hình ảnh ghê tởm ấy thì có khác gì nhau?
Như thế, phải chăng MT - qua các tổ chức ngoại vi- hiện nay chẳng những không còn đóng góp vào việc ngăn chận sự tuyên truyền, xâm nhập của CS qua cửa ngỏ văn hoá, mà còn có hành động ngược lại, nghĩa là tiếp tay cho CS?
Phải chăng bằng cơ quan ngôn luận chính thức của LMVNDC là nguyệt san Việt Nam Dân Chủ, bằng hệ thống internet, LM VNTD đã cổ võ và quảng bá những văn hoá phẩm tuyên truyền, trực tiếp ca tụng vinh danh Hồ Chí Minh, gián tiếp ca ngợi công lao của lá cờ đỏ (với búa liềm hoặc sao vàng), là hai hình tượng ghê tởm đã bị đồng bào chống đối cho đến cùng tại Nam California vào tháng 2 năm 1999?
" Đảng bây giờ chỉ còn là hữu danh vô thực. Hơn hai triệu đảng viên bình thường trong các chi bộ cơ sở, những người đã từng vào sanh ra tử, xung phong đi đầu trong công cuộc giải phóng dân tộc, cay đắng bất lực nhìn Ban Lãnh Đạo Đảng gồm những tên biến chất, tha hoá về đạo đức, lợi dụng nguyên tắc tập trung dân chủ, phù phép thao túng toàn bộ đất nước. Đảng bây giờ chỉ còn là Đảng của những tên có chức quyền, chỉ lo thu vén cho quyền lợi cá nhân, suốt ngày đêm chỉ lo sao cho chắc chiếc ghế của mình để tiếp tục vơ vét làm giàu, mặc cho đại bộ phận nhân dân vẫn tiếp tục sống trong nghèo khổ..."
(Nguyễn Trung Trực, bài Góp Ý Xây Dựng Đảng").
Như đã nói, những lời phê bình  như trên đây được LMVNTD trưng dẫn để giải thích cho cái chiến thuật "Vận Dụng Phản Kháng" của họ. Những lời phê bình chứa đựng nội dung na ná giống nhau như kiểu này có thể tìm được trong bất cứ bài viết nào của những người cộng sản kể trên, chỉ khác nhau ở cách diễn tả và văn phong, từ mộc mạc đến văn hoa, từ đơn giản đến phức tạp tùy theo người viết.
Nhóm cựu tướng lãnh như VC như Trần Dũng Tiến, Phạm Vũ Sơn, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Trung Trực có lối hành văn mộc mạc; Trần Độ, Nguyễn Văn Trấn có lối hành văn của một kẻ cả nói với thuộc cấp, Hà Sĩ Phu có văn phong của một nhà khoa học, lý luận và triết học, Nguyễn Thanh Giang có lối hành văn nhẹ nhàng nhưng thuyết phục của một nhà trí thức...
Nhìn vào thực trạng các văn hoá phẩm treo cờ đỏ và hình Hồ Chí Minh bằng ngôn ngữ đang tràn ngập tại hải ngoại hiện nay, chúng tôi giật mình khi nhận thấy rằng, chiến thuật "vận dụng phản kháng" của LMVNTD vô hình chung đã đáp ứng đúng vào mục tiêu của chiến dịch "Hoa Hồng Đỏ", một chiến dịch dùng văn hóa, văn nghệ xâm nhập cộng đồng
Việt Nam hải ngoại mà vc phát động vào cuối thập niên 80'. Quan trọng hơn nữa, chiến thuật này cũng đáp ứng đúng cái chiến lược dài hạn của VC là bóp méo lịch sử, bóp méo sự thật mà mục đích tối hậu là đầu độc các thế hệ mai sau bằng những dữ kiện lịch sử  do người CS viết ra.
Tóm lại, cái tác dụng tích cực của chiến thuật "vận dụng phản kháng" thì chưa thấy đâu,
nhưng tai hại nhãn tiền lẫn dài hạn thì đã thấy rõ ràng: những đảng viên trung kiên, chung thủy, trung trinh với đảng CS,  với Hồ Chí Minh và Mác Lê, tự dưng trở thành những con người yêu nước thương nòi, những chiến sĩ nhân quyền ... Thành phần này sẽ đóng vai đối lập cốt cán nếu có cuộc "bầu cử dân chủ"  với sự  giám sát của quốc tế!
Lúc ấy, VC không cần chơi trò gian lận, mà cuộc bầu cử "dân chủ" cũng đi đến kết quả chung cuộc là những người đắc cử toàn là đảng viên và cán bộ CS, thành phần không cộng sản may mắn lắm là được dăm ba người!
Thử tưởng tượng một "Quốc Hội Dân Chủ"  với thành phần CS trung kiên nắm đa số như thế, thì nó khác với cái Quốc Hội CS hiện nay ở chỗ nào? Cái khác nhau, phải chăng là nó được quốc tế hợp thức hóa tính cách dân chủ? Lúc ấy thành phần thiểu số không cộng sản làm sao đương đầu với thành phần đa số CS trong các vấn đề quan trọng, như biểu quyết về lá quốc kỳ chẳng hạn?
Trở lại thực trạng hiện nay, những lời phê bình, chống đối suông từ cửa miệng của những cán bộ CS thuần thành như trên, ngẫm lại nó có tác dụng tương tự  như những lời mật ngọt của Hồ Chí Minh khi mô tả một nền dân chủ-tự do- độc lập- hạnh phúc. Nó là cái bánh vẽ đã từng được sử dụng trong thời kỳ kháng Pháp. Và bây giờ cũng thế, chỉ là bánh vẽ, không bao giờ  trở thành hiện thực.
Bởi vì, thực chất của những lời chống đối này nó nằm trong khuôn khổ "phê và tự phê" để xây dựng đảng, để củng cố đảng! Nhưng tai hại thay, nó lại trở thành khuôn vàng thước ngọc, là kim chỉ nam cho một số tổ chức chính trị của người Việt "quốc gia" đang đấu tranh vì dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam . Đây là một điều nguy hại khôn
 lường.
II- Việc không công bố ông Minh đã hy sinh là chuyện nội bộ của MT
 Quý báo viết rằng việc MT chưa công bố sự hy sinh của Tướng Hoàng Cơ Minh là vì lý do chiến lược, chiến thuật, tâm lý, do di huấn của ông Minh hay vì một lý do nào khác và đó là chuyện nội bộ của MT. Và quý báo cũng viết rằng MT phải tôn trọng ý kiến của người khác và chấp nhận sự dị nghị trong tinh thần dân chủ.
Chúng tôi xin lần lượt góp ý về những điểm kể trên:
1. Có phải đây là chuyện nội bộ của MT?
Để giản lược, chúng tôi xin phép được lấy trường hợp "Quỹ Pháp Lý" của quý báo để phân định thế nào là chuyện nội bộ và thế nào là chuyện của công chúng.
Làng Văn lập ra Quỹ Pháp Lý để có đủ tài chánh trang trải cho vụ kiện B-40. Khi kêu gọi mọi người đóng góp, quý báo có nêu rõ các điều kiện mà luật sư của quý báo cố vấn, như nếu Làng Văn thắng kiện,  thì những người đóng góp không được chia phần. Đó là tinh thần ngay thẳng của quý báo, và những người đóng góp sẽ không có một thắc mắc nào khi quý báo thắng kiện mà không chia phần với họ. Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng quý báo có bổn phận phải thông báo trên mặt báo Làng Văn diễn tiến của vụ kiện sau khi kết thúc, cũng như liệt kê chi tiết về các khoản chi thu của Quỹ Pháp Lỳ như quý báo đang làm hiện nay.
Quý báo có thấy rằng đến giai đoạn này, thì vụ kiện tụng giữa B-40 và Làng Văn không còn tính cách nội bộ của báo Làng Văn nữa, vì nó không chỉ giới hạn trong phạm vi của tờ báo mà đã đi vào công chúng, được quý báo công khai hóa vì có sự đóng góp của công chúng, cho dù sự đóng gióp không có tầm rộng lớn như trường hợp của MT quyên góp tiền Yểm Trơ Kháng Chiến từ đồng bào hải ngoại.
Từ đó, suy ra vấn đề sống chết của ông Hoàng Cơ Minh không phải chỉ là chuyện nội bộ của MT, mà là một vấn đề  thuộc về công chúng, công chúng có quyền biết đến nội vụ và MT có bổn phận phải làm sáng tỏ.
Cũng cần nói cho rõ, không phải vì công chúng đóng góp tài chánh nên MT có bổn phận phải bạch hoá vấn đề, mà vì  bên cạnh tiền bạc, công chúng còn đóng góp cả công lao, thời giờ, tâm huyết, đóng góp hết cà tấm lòng vào công cuộc đấu tranh chung mà MT đã công khai đứng ra nhận lãnh trách nhiệm, đem mạng sống của đoàn viên- xuất thân từ công chúng, là đồng bào- để thực hiện trách nhiệm ấy.
Đây mới chính là yếu tố quan trọng, có thể nói là món nợ tinh thần vô giá mà MT và đồng bào đã cùng cưu mang với nhau.
2. Vì lý do chiến thuật, chiến lược.
Nếu MT viện dẫn lý do chiến thuật, chiến lược ; thì vấn đề sống chết của ông Minh nếu được bạch hoá bây giờ nó sẽ gây "nguy hiểm" cho MT ở điểm nào? Cho đến bây giờ, MT vẫn chỉ lặp lại những luận điệu cách đây 12 năm. (Chú thích: thời điểm viết bài này là tháng 7 năm 1999)
Nhân đề cập đến vấn đề chiến lược, chúng tôi cũng xin đóng góp một vài ý kiến. Cũng xin MT đừng chụp mũ là chúng tôi "đánh hôi" , vì thật ra chúng tôi đã đề cập đến vấn đề này cách đây khoảng một năm, trước khi ông Hoàng Duy Hùng lên tiếng vế cái chết của ông Hoàng Cơ Minh.
Trong khi góp ý về Bản Văn Kiện Dân Chủ Hoá Việt Nam do Liên Minh Việt Nam Tự Do ra mắt tại vùng Hoa Thịnh Đốn vào tháng 7 năm 1998, chúng tôi có đối thoại với Bác Sĩ Đặng Vũ Chấn - cơ sở trưởng của MT tại vùng HTĐ - trên tuần báo Văn Nghệ số 55 phát hành ngày 4 tháng 9 năm 1998, về những vấn đề Lợi - Hại trong công cuộc đấu tranh chung, trong đó có đề cập đến cái chết của ông Hoàng Cơ Minh, nay xin trích lại:
Thưa bác sĩ,
Vấn đề lợi hại chúng tôi đã đề cập trong phần “ Kiến Tiểu Lợi “ của bài “ Những Suy Tư Về Bản Văn Kiện ”, ở đây chúng tôi sẽ không lặp lại những ý kiến đã  viết, chỉ xin trưng dẫn một trường hợp rất điển hình về hậu quả của cái lợi nhỏ dẫn dắt đến cái hại to.
Khi ông Hoàng Cơ Minh và toàn bộ tham mưu bị hy sinh, MT không công bố cái chết của ông mà nói rằng ông Minh vẫn còn sống. Những lập luận sau đây được đưa ra :
- Trước hết, MT hiện có đầy đủ những dữ kiện minh chứng là bản tin đài phát thanh Lào cộng loan đi là một tin ngụy tạo, không có thật. Nhưng công bố những dữ kiện này cũng có thể đưa tới một hậu quả gián tiếp là cho kẻ thù biết về hệ thống và khả năng thông tin liên lạc giữa các đơn vị kháng chiến, giữa quốc nội với hải ngoại. Trong điều kiện đấu tranh hiện tại, MT chưa thể công bố những dữ kiện này, chắc quý vị cũng thông cảm cho
- Chúng tôi nghĩ là không lẽ mỗi khi VC loan báo một tin gì là mình phải minh chứng điều ngược lại, trong khi kinh nghiệm của người mình với nhau cho thấy là VC có bao giờ nói thật
- Nếu chúng ta không có niềm tin và sự tín nhiệm giữa những người cùng chung lý tưởng, chúng ta luôn luôn bị đặt vào thế bị động, kẻ thù luôn luôn được chủ động, gây hoang mang trong tinh thần chúng ta
- MT không bao giờ có nhu cầu chứng minh sức mạnh bằng những tổn thất, nhất là những tổn thất do bạo quyền ngụy tạo để trấn an cán binh của chúng. MT cũng không bao giờ đem xương máu của đồng đội hay đồng bào làm thành quả chứng minh sức mạnh của mình
- Một điều căn bản mà các đoàn viên MT phải tuân theo, đó là nhu cầu bảo vệ tổ chức, chúng tôi không bao giờ tiết lộ chủ tịch Hoàng Cơ Minh hiện giờ ở đâu, hay lần chót gặp nhau ở đâu, khi nào. Chúng ta đang tranh đấu chống lại một kẻ thù gian manh hung hiễm và vô cùng tàn bạo. Nhưng điều chắc chắn mà quí vị có thể tin tưởng được , đó là chiến hữu chủ tịch Hoàng Cơ Minh hiện vẫn bình an và đang tiếp tục lãnh đạo công cuôc giải phóng đất nước  ( trích báo Kháng Chiến số 70, tháng 12 năm 1987- trang 14,15,16 )
Nhưng sau một thời gian dài, khi thắc mắc về cái chết của ông Hoàng Cơ Minh không được MT giải đáp thẳng thắn, thì quần chúng nhìn thấy MT là một tổ chức không thể tin tưởng được, nói thẳng ra là MT có chủ tâm lừa dối đồng bào, sự lừa dối này đã gây ảnh hưởng không tốt đẹp chẳng những đối với quần chúng mà còn tác hại đến tinh thần của đoàn viên. Chắc Bác sĩ cũng biết riêng tại địa phương HTĐ có bao nhiêu đoàn viên và thân hữu đã rời bỏ MT ? Đây là một điều rất “ cụ thể ” về cái điều mà Bác sĩ gọi là “ làm cho người quốc gia bị mất khả tín” ( loose credibility ), nó không do sự ‘đánh phá ’ từ bên ngoài mà chính do MT tự hủy hoại ( self- destruction ). Hành động tự hủy hoại này có nhiều lý do để giải thích, trong đó có giả thuyết bị địch xâm nhập và nắm được đầu não của tổ chức đã từng được công luận đề cập đến, công luận cũng đã nêu đích danh thành phần bị nghi ngờ. Phải nói đây là một tiến trình triệt hạ MT rất tinh vi, dùng cái lợi nhỏ ngắn hạn trước mắt để dẫn dụ đến cái tai hại to tát về sau trên con đường dài đấu tranh, mà chủ đích tối hậu của CS là biến MT thành ‘một tổ chức lừa gạt đồng bào ’.
Trở lại những góp ý về Bản Văn Kiện Dân Chủ Hóa, chúng tôi hoàn toàn đồng ý với Hội Người Việt Quốc Gia Vùng HTĐ về giả thuyết xâm nhập của địch. Dưới nhận xét của chúng tôi, thì triệu chứng bị xâm nhập đang tái diễn trong tổ chức Liên Minh Việt NamTự Do hiện nay, căn cứ vào sự kiện LM đang áp dụng những phương sách chỉ đem những điều lợi nhỏ trong hiện tại nhưng nó sẽ gây ra những tai hại rất lớn về sau….
Thưa quý báo,
Đó là những ý kiến của chúng tôi cách đây một năm về cái chết của ông Hoàng Cơ Minh, cũng như những nghi vấn về nhân vật xâm nhập nằm ngay trong đầu não của tổ chức, đóng vai trò chỉ đạo, nắm chức Vụ Trưởng Vụ Tuyên Vận , Vụ Trưởng Vụ Kế Hoạch của Tổng Vụ Hải Ngoại, một trong những người đã đưa ra những chiến lược chiến thuật khiến cho MT đi từ thất bại này đến thất bại khác: từ cái chết của toàn thể bộ chỉ huy tại quốc nội cho đến sự hủy hoại uy tín của MT tại hải ngoại, trong đó phải kể đến vụ kiện báo chí mà kết quả là MT bị thua .
3 - Lý do Tâm lý
MT cho rằng nếu công bố vị lãnh tụ của mình đã chết, thì sẽ gây bất lợi về mặt tâm lý cho các đoàn viên cũng như đồng bào. Lập luận này hoàn toàn sai, vì chính hành động che dấu cái chết của ông Hoàng Cơ Minh mới gây ra nhiều bất lợi về mặt tâm lý.
Như quý báo đã có ý kiến về phản ứng tâm lý của mọi người đối với cái chết của ông Hoàng Cơ Minh, rằng :
Đối với dân tộc Việt Nam , và nhất là với tất cả những người dấn thân đấu tranh giải thể chế độ độc tài CS, đây là một cái tang lớn….. Đau buồn, nhưng không vì thế mà thối chí ngã lòng; ngược lại, đó là những tấm gương sáng, là ngọn hải đăng để mọi người noi dấu, khích lệ nhau……
 Nếu MT là những người thuộc lịch s và am hiểu tâm lý quần chúng trong công cuộc đấu tranh chung, thì MT cũng phải nhớ đến cái chết của Liệt Sĩ Phạm Hồng Thái, cái chết của Nguyễn Thái Học và 12 thành viên của Việt Nam Quốc Dân Đảng,  đã khích động tinh thần tranh đấu của quần chúng như thế nào ? 
Sự hy sinh của ông Hoàng Cơ Minh và các cánh quân Đông Tiến tự bản chất đã là một niềm khích động lớn lao , MT chỉ cần công bố sự thật mà không cần phải áp dụng đến bất cứ phương pháp tuyên vận nào hết cũng đạt được yếu tố thuận lợi trên phương diện tâm lý quần chúng, một yếu tố quan trọng rất có lợi cho đại cuộc. Công bố sự thật cũng không có nghĩa là “đem xương máu của đồng đội để chứng minh sức mạnh của mình” như  MT đã từng quan niệm  và đã viện dẫn quan niệm này như là một lý do để không công bố sự thật. Đây là một lối lập luận đầy tính mị dân và đạo đức giả, nhưng đồng thời lại là một hành động vô nhân đạo đối với đồng đội của mình, vì khi MT phủ nhận biến cố tại Nam Lào, MT cũng làm ngơ không can thiệp, không đấu tranh cho sự tự do của các kháng chiến quân đang bị VC giam cầm ỏ trong nước; trong khi đó thì MT và các tổ chức ngoại vi lúc nào cũng lớn tiếng đấu tranh, đòi hỏi tự do cho những người khác, kể cả  thành phần CS,  như tổ chức biểu tình cho Hà Sĩ Phu, vận động chính gii Hoa Kỳ ký tên vào văn thư yêu cầu Hà Nội trả tự do cho Nguyễn Thanh Giang, v.v…
Ngoài ra,  MT đã không lượng giá đúng mức một tác hại khác của thái độ che dấu sự thật,  là nó đã làm cho đồng bào liên tưởng đến chính sách bưng bít thông tin của VC mà MT và các tổ chức ngoại vi luôn luôn  cảnh giác đồng bào cũng như cực lực lên án, đả kích chính sách ấy.  Hơn nữa, MT phải biết ràng bưng bít thông tin tại hải ngoại là một điều rất khó thực hiện, vì rằng hải ngoại là một môi trường thông tin được mở rộng với tất cả mọi phương tiện truyền thông, không một phương pháp bưng bít nào có thể kéo dài được mãi, kể cả phương pháp chụp mũ những người nói lên sự thật là thành phần đánh phá,  là gây chia rẽ, là làm lợi cho VC v.v…Phương pháp chụp mũ này cũng nói lên cái tinh thần phản dân chủ của những người lúc nào cũng cao giọng lớn tiếng kêu gào đấu tranh cho dân chủ,  quả thật không còn gì mai mỉa cho bằng!
 4 - MT phải tôn trọng ý kiến của đồng bào.
Quý báo cho rằng MT phải tôn trọng ý kiến của đồng bào, vì ít ra đồng bào đã tỏ ra tôn trọng  quyết định của MT về cái chết của ông Hoàng Cơ Minh trong 12 năm nay.
Xin lưu ý, lúc nào MT cũng nói rằng luôn tôn trọng ý kiến của mọi người, nhưng khổ nỗi, khi công bố rằng “ chiến hữu chủ tịch Hoàng Cơ Minh vẫn bình an, khỏe mạnh và đang tiếp tục lãnh đạo cuộc kháng chiến trong nước ”, tức là MT đã tỏ ra khinh thường, không tôn trọng mọi người rồi còn đâu! Chúng tôi vẫn nhớ rõ, mỗi khi ông Nguyễn Kim có dịp tiếp xúc với cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ, câu đầu tiên của ông là : “ Chiến hữu chủ tịch Hoàng Cơ Minh gửi lời kính thăm đồng bào ”. Lúc đầu thì nghe không chối tai, nhưng với thời gian, câu nói này đã trở thành những lời nói dối trắng trợn mà người nói hình như không còn biết ngượng miệng, nó giống như là một cái tát vào mặt những người nghe, không thể nào chấp nhận được. Trong thông cáo gửi đến báo chí để phản đối LS Hoàng Duy Hùng, MT cũng nhắc lại là sẵn sàng đón nhận những ý kiến , nhưng khi có người lên tiếng thì lại làm lơ, hoặc nói vòng quanh , lặp lại những điều đã nói cách đây 12 năm, rơi vào cái vòng lẫn quẩn không có lối thoát và càng ngày càng lún sâu vào thái độ khinh thị xem thường đồng bào .
Đã không tôn trọng đồng bào, thì tại sao lại muốn đồng bào phải tôn trọng mình ?!
                               III - Sự cáo buộc không có lợi cho đại cuộc ?
Để biết sự cáo buộc của ông Hoàng Duy Hùng đối với MT có ảnh hưởng lợi hại thế nào đến đại cuộc, chúng tôi xin mạn phép đưa ra một vài khía cạnh của vấn đề.
Theo sự trình bày của ông Phạm Văn Thành thì nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông Hoàng Cơ Minh và các cánh quân Đông Tiến, tuy không trực tiếp kết luận, nhưng những dữ kiện được nêu lên trong bài viết gián tiếp cho biết quốc nội (Tổng Vụ Quốc Nội) đã bị địch xâm nhập.
Trong khi đó tại hải ngoại, giả thuyết bị VC xâm nhập và tung hoành ngay ở đầu não của Tổng Vụ Hải Ngoại cũng đã được công luận đề cập đến.
Để biết giả thuyết xâm nhập vào Tổng Vụ Hải Ngoại có giá trị đến mức độ nào, chúng ta thử nhìn lại những khó khăn và thất bại của Mặt Trận tại hải ngoại.
1/ Sự rạn vỡ của Mặt Trận 

Hình Tướng Hoàng Cơ Minh ngồi cạnh Đại Tá Phạm Văn Liễu trong chiến khu.
Hình Tướng Hoàng Cơ Minh ngồi cạnh Đại Tá Phạm Văn Liễu trong chiến khu.
Đại Hội Chính Nghĩa diễn ra vào tháng tư năm 1983 với tinh thần đấu tranh sôi sục và khí thế chống cộng bừng bừng của người Việt tại hải ngoại, nhưng chỉ hơn một năm sau, vào tháng 12 năm 1984 thì MT bị rạn vỡ.
Vấn đề rạn vỡ của MT đã được báo chí Việt Nam hải ngoại thời ấy đề cập đến rất nhiều, ở đây, chúng tôi chỉ xin trích dẫn tài liệu của Cụ Phạm Ngọc Lũy trong " Hồi Ký Một Đời Người- Tập II". Cụ Phạm Ngọc Lũy, nguyên Chủ Tịch Phong Trào Quốc Gia Yểm Trợ Kháng Chiến, là một chứng nhân quan trọng về sự thành hình cũng như sự rạn vỡ của MTQGTNVN.
Theo nội dung của một số tài liệu trong " Hồi Ký Một Đời Người- Tập II", thì có nhiều nguyên nhân đưa đến sự rạn vỡ, trong đó tác nhân đáng kể nhất là nhân vật Nguyễn Xuân Nghĩa. Cụ Phạm Ngọc Lũy đã đề cập đến Nguyễn Xuân Nghĩa như sau:
- Người có nhiều sáng kiến nhất về Đại Hội ( Chính Nghĩa ) là Phạm Dương Hiển, cũng là người giới thiệu Nguyễn Xuân Nghĩa từ San Francisco sang giúp Đại Hội. ( tr. 110)
- Sau Đại Hội, Hoàng Cơ Minh đã lấy lại sức, không còn bị sốt rét như hôm tới Virginia, cho biết sẽ để Nghĩa giữ chức vụ Tuyên Vận. Quả thực, sau khi nghe lời này, tôi toát mồ hôi. Trực giác đã giúp tôi nhận ra có cái gì bất thường….( tr.120 )
- Khi Hoàng Cơ Minh cho biết đưa Nghĩa vào chức vụ Ủy Viên Tuyên Huấn, tôi đã nói : “ Nghĩa đã ở lại với CS năm năm, nên cần một thời gian để hiểu Nghĩa, để tìm hiểu công việc Nghĩa đã làm khi ở lại Sài Gòn. Nghĩa có rất nhiều khả năng, làm việc thâu đêm suốt sáng không biết mệt…nhưng càng tài giỏi bao nhiêu, một khi gây tai hại thì tai hại sẽ to lớn không lường được. Giữ một nhiệm vụ có ảnh hưởng đến sinh mệnh MT thì cần phải đắn đo , suy nghĩ…”.  Tuy ở cùng nhà 6604 Lee Highway gần hai tháng, không một lần nào tôi nói với Nghĩa về chi tiết công việc tôi đã làm ở các nơi, và cũng không hề hỏi Nghĩa những ngày Nghĩa ở lại Sài Gòn. ( tr. 139,140 )
- Mở đầu phiên họp, Liễu buộc tội Nghĩa từ khi vào MT luôn luôn gây bất hòa giữa người này với người kia, như công kích Đinh Mạnh Hùng, cư xử không tốt với Nguyễn Bích Mạc. Báo Kháng Chiến dưới sự trông coi của Nghĩa đã được xử dụng để gây chia rẽ, mượn lời Lê Hồng ( Đặng Quốc Hiền ) để mạt sát tập thể quân đội. Giới sinh viên, văn nghệ sĩ, Phật giáo … đều có lời than phiền. Thoạt đầu, Liễu cho rằng Nghĩa còn quá trẻ nên nông nổi, cho đến khi Ủy ban Phản Gián An Ninh khuyến cáo nên thay thế Nghĩa ở chức vụ Tuyên vận. Vì Nghĩa, sau 75 tiếp tục ở lại Việt Nam, đã cộng tác với Nguyễn văn Hảo, không hề phải đi học tập cải tạo, đó là chưa kể đến yếu tố Nghĩa là cháu của Tổng Bí Thư VC Nguyễn văn Linh đang gây nghi vấn trong dư luận. Vì sinh mệnh của MT, đây là vấn đề an ninh nên chỉ hội ý với Ủy Ban An Ninh mà không triệu tập phiên họp Tổng V ụ ( tr. 224 )
- Trần Xuân Ninh, sau khi nghe những lời nói đi đáp lại đã dằn từng tiếng : “ Tôi có cảm tưởng Nghĩa là nguyên nhân của mọi sự việc, Nghĩa đứng đầu lá thư nặc danh, Nghĩa gây ảnh hưởng với chiến hữu Chủ tịch, với chiến hữu Định. Vậy có phải đúng Nghĩa là nguyên nhân của mọi sự rắc rối, và như thế có đúng không ? ”. ( tr.226 )
- Ngày 23, Nguyễn tường Bá đã nói câu chót buổi họp : “ Nếu chiến hữu Định tiếp tục nghe và tin theo chiến hữu Nghĩa thì vấn đề còn nhiều khó khăn lắm ! ”. ( tr. 228 )
- Liễu không dằn được, nói tiếp : “ Tôi chưa hề làm gì để rung thang cả. Chiến hữu Chủ tịch đề cập đến vấn đề thay thế Tổng Vụ Trưởng, còn hải ngoại chưa hề bảo quốc nội phải từ chức dù công việc không tiến triễn. Không phải Nguyễn Nam viết lá thư gửi đi các nơi. Những người khác đã viết để Nguyễn Nam ký tên.. ” ( tr.236 )
- Hoàng Cơ Định ( Phan Vụ Quang ) vẫn giọng gay gắt : “ Không nên buộc tội người vắng mặt. Nếu bảo rằng không ai có quyền, chỉ là phân chia trách nhiệm thì Tổng vụ Trưởng có quyền gì giải nhiệm Vụ trưởng Nguyễn Đồng Sơn ( Nghĩa ) . Tôi đề nghị mời chiến hữu Đồng Sơn tham dự phiên họp. Phải để Đồng Sơn có tiếng nói..”( tr.237)
Qua những mẫu sự kiện rải rác trên đây, nếu ráp nối lại, chúng ta có thể nhìn ra một phần của lời giải đáp về nhân vật Nguyễn Xuân Nghĩa và mối tương quan của đương sự đối với sự rạn vỡ của MT.
Cũng theo tài liệu đã dẫn, trang 252- 253, vào ngày 29 tháng 12 năm 1984, MT có hai buổi họp cùng ngày cùng giờ, một tại Nam Cali do ông Trần Minh Công  triệu tập và một tại Bắc Cali do ông Hoàng Cơ Minh triệu tập. Trong khi mọi người tại Nam Cali đang tranh luận và mong muốn hai người có trách nhiệm lớn nhất là Hoàng Cơ Minh và Phạm Văn Liễu phải hòa giải với nhau, thì tại Bắc Cali ông Hoàng Cơ Minh tuyên bố cắt cử ông Nguyễn Kim vào chức vụ Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hải Ngoại để thay thế ông Phạm văn Liễu. Mọi người trong phiên họp tại Nam Cali đều ngỡ ngàng, thất vọng, đã bất ngờ đi đến một quyết nghị không nhìn nhận sự thay đổi mà ông Hoàng Cơ Minh vừa tuyên bố. Thế là MT  bị rạn vỡ !
Nguyễn Xuân Nghĩa ngay sau đó được phục hồi  chức  Vụ trưởng Vụ Tuyên Vận đã bị ông Liễu giải nhiệm. Một thời gian sau,  Nguyễn Xuân  Nghĩa đảm nhiệm chức Vụ Trưởng Vụ Kế Hoạch  của Tổng Vụ Hải Ngoại.
2/ Ngày Quốc Khánh
Một trong những kế hoạch tuyên vận trong thời gian Nguyễn Xuân Nghĩa làm Vụ trưởng Tuyên Vận và Vụ Trưởng Kế Hoạch là lấy ngày Giổ Quốc Tổ Hùng Vương làm ngày Quốc Khánh cho Việt Nam, kể từ năm 1986.
Phan Kim Điện
--------------

Bài Xem Nhiều