We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 24 November 2015

Bản Lên Tiếng Của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ về cuốn phim “Terror In Little Saigon”



CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT QUỐC GIA HOA KỲ
The Vietnamese American Community of the USA
 16204 Viki Lynn Pl., Pflugerville, TX 78660
Websites: http://tienggoicongdan.com, vacusa.wordpress.com 

Bản Lên Tiếng Của Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ
về cuốn phim “Terror In Little Saigon”
Diễn biến:
Đài truyền hình PBS trình chiếu phim “ Terror In Little Saigon” vào ngày 3/11/2015. Sau đó, đã có nhiều ý kiến và phản ứng khác nhau trong cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản khắp nơi trên khắp thế giới.
Tổng quát, có những ý kiến chống đối sau đây:
·         Tựa đề cuốn phim và danh từ “ Little Saigon” đã làm mất danh dự của cộng đồng người Việt tị nạn.
·         Những đoạn video sinh hoạt của cựu quân nhân Việt Nam Cộng Hòa ghép vào cuốn phim đã làm mất danh dự của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
·         Đã có một vài tổ chức chính trị dùng lý luận trên nhằm đánh đồng cộng đồng Việt Nam và các cựu quân nhân với bọn sát nhân khủng bố cho mưu đồ chính trị của họ.
·         Do đó, đã có những sự phản đối đài truyền hình PBS và ký giả Thompson như: đề nghị biểu tình, yêu cầu nhà sản xuất cuốn phim và ký giả Thompson phải bỏ đi những hình ảnh sinh hoạt đó ra khỏi cuốn phim và phải chính thức xin lỗi.
Bên cạnh sự chống đối trên đây, cũng có những ý kiến đồng thuận và hoan nghênh cuốn phim:
·         Nội dung cuốn phim không làm mất danh dự của cộng đồng người Việt tị nạn cũng như Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, vì nội dung cuốn phim đã hướng về một tổ chức duy nhất có tên là Mặt Trận bị nghi ngờ là thủ phạm của các vụ sát nhân khủng bố đó. Nhiều vị đánh giá những lý luận đánh đồng cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản và Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa với các tổ chức hay cá nhân nêu trong phim là sự mập mờ có gian ý.
·         Từ đó, một thỉnh nguyện thư đã được thiết lập, yêu cầu Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ mở lại các hồ sơ sát nhân khủng bố các ký giả được liệt kê trong cuốn phim “Terror In Little Saigon” để làm sáng tỏ công lý.
Trước những sự kiện vừa kể trên,
Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ minh định:
1.      Tổ chức thực hiện các vụ sát nhân khủng bố và đại đa số người Việt tị nạn cộng sản là hai thành phần khác biệt, không thể trộn lẫn. Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ nói riêng và tuyệt đại đa số người Việt tị nạn cộng sản nói chung không có liên hệ hay dính dáng đến các hoạt động được đề cập trong phim “Terror In Little Saigon”.
2.      Cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản vốn là nạn nhân của cộng sản khủng bố, vì không thể sống chung với bọn khủng bố nên phải đi tìm Tự Do. Do đó, chúng ta chống lại và lên án mọi hình thức khủng bố.
3.      Cộng Đồng Người Việt Quốc Hoa Kỳ cũng nhận thấy vài chi tiết trong phim có cách nhìn không phù hợp với nguyện vọng của chúng ta trong cuộc đấu tranh chống ngụy quyền Cộng Sản nhưng đồng ý về ước muốn rằng công lý phải được thực thi  đối với các nạn nhân, đem lại an bình cho gia đình họ sau một thời gian đã quá lâu.
4.      Cộng Đồng Người Việt Quốc Hoa Kỳ kêu gọi quý đồng hương sáng suốt và đề cao cảnh giác trước các âm mưu nhằm lôi kéo cộng đồng người Việt tị nạn cộng sản để hỗ trợ cho những kẻ từng có hành động khủng bố.
Làm tại Hoa Kỳ ngày 21 tháng 11, năm 2015
TM Hội Đồng Đại Diện Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ
Nguyễn Văn Tần,                                Đỗ Văn Phúc                          Nguyễn Văn Tiên
Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị    Chủ Tịch Hội Đồng Chấp Hành      Chủ Tịch Hội Đồng Giám Sát
Michael Do (Do Van Phuc)
Chairman of the Board of Executives.
The Vietnamese American Community of the USA


Anh Bằng Người Nhạc Sĩ Của Dân Tộc Việt Nam


Người Nhạc Sĩ Của Dân Tộc Việt Nam

Buổi tối thứ Năm ngày 12 tháng 11, khi trời vào cuối mùa Thu đã bắt đầu se lạnh, tin buồn về Nhạc sĩ Anh Bằng đã vĩnh viễn ra đi làm bàng hoàng những ai đã từng biết và yêu mến ông. Vậy là người nhạc sĩ tài hoa đã trở về với quê hương Việt Nam thân yêu, nơi có một huyện nhỏ tên Nga Sơn nằm trong tỉnh Thanh Hóa. Vậy là từ nay, người nhạc sĩ mà cuộc đời và sự nghiệp đã gắn liền với vận mệnh của dân tộc Việt Nam đã vĩnh viễn ra đi. Người nhạc sĩ với bản tình ca "Nỗi Lòng Người Đi", một nhạc phẩm đã đưa tên tuổi của ông trở thành một trong những cây đại thụ của nền âm nhạc Việt Nam vì bài hát chất chứa tâm tình của hàng triệu người di cư từ Bắc vào Nam khỏi chế độ cộng sản. Rồi cũng bài hát này, dường như lại tiếp tục là nỗi lòng của những người Việt phải từ bỏ quê hương sau biến cố năm 1975.

Dòng nhạc của nhạc sĩ Anh Bằng thật đa dạng, dường như ông dùng nốt nhạc để viết thay cho tâm tư của tất cả mọi người. Từ những lời tâm sự của những đôi tình nhân, nỗi nhớ nhung của những người yêu của những anh lính chiến xa nhà, đến những ca khúc kêu gọi những người lính bên kia chiến tuyến trở về với chính nghĩa quốc gia, v.v. Dòng nhạc của ông cũng là tiếng nói của người anh viết thay cho những thân phận của những đứa em mồ côi trong xã hội, của những người mẹ chết vì đạn bom chiến tranh do cộng sàn gây ra, v.v...Và sau hết, dòng nhạc của ông là tiếng nói đấu tranh mạnh mẽ cho quê hương Việt Nam mà ông đã viết lên nhiều ca khúc trong những năm tháng cuối đời. Có thể nói những nhạc phẩm của ông đã đi vào lòng dân tộc vì chính ông là người nhạc sĩ của dân tộc với một trái tim luôn dành cho quê hương, đất nước và dân tộc Việt Nam.

Nhắc đến kho tàng âm nhạc mà nhạc sĩ Anh Bằng để lại cho đời, khán giả ái mộ hầu hết đều biết đến qua những bản nhạc tình ca nổi tiếng từ nhiều thập niên qua của ông, như trước năm 1975 với những nhạc phẩm như "Nỗi Lòng Người Đi", "Nếu Vắng Anh", "Hoa Học Trò", "Người Thợ Săn và Đàn Chim Nhỏ", v.v. và sau năm 1975, khi ông định cư ở Hoa Kỳ với những nhạc phẩm như "Anh Còn Nợ Em", "Căn Gác Lưu Đày", "Chuyện Hoa Sim", "Chuyện Giàn Thiên Lý", "Khúc Thụy Du", "Kỳ Diệu", "Mai Tôi Đi", v.v. mà không ít những ca sĩ đã thành danh với những ca khúc bất hủ này. Và sau cùng, chúng ta không thể không nhắc đến dòng nhạc đấu tranh của ông với  những ca khúc như "Đừng Im Tiếng Mà Hãy Lên Tiếng", "Cả Nước Đấu Tranh", v.v.  Điểm đặc biệt ở dòng nhạc đấu tranh của ông là mặc dầu ông đã từng là tù nhân của cộng sản trong trại Lý Bá Sơ, mang bản án tử hình và có người anh trai bị cộng sản sát hại, nhưng nét nhạc của ông dù hùng tráng nhưng không có tính sắt máu. Những ca khúc đánh động vào lòng người nghe với những lời hát mạnh mẽ, ngắn gọn và súc tích.

Chúng tôi đến thăm ông trong những ngày cuối cùng trong căn nhà trên đồi Orange lộng gió, khi những nhận thức cuối cùng về thế giới xung quanh đang từ từ rời bỏ ông ra đi. Dù biết rằng sớm hay muộn, ngày đó cũng sẽ đến, nhưng tôi vẫn đón nhận tin về sự ra đi của ông với một cảm giác hụt hẫng, bàng hoàng và không muốn tin dù đó là sự thật. Chú đã thật sự ra đi rồi sao?

Trước đây, tôi đã có dự định sẽ góp nhặt những kỷ niệm trong suốt 6 năm có dịp gần gũi và sinh hoạt với nhạc sĩ Anh Bằng để viết một bài nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 90 của ông vào tháng 5 năm 2016. Tuy nhiên, ngày kỷ niệm sinh nhật đó sẽ không bao giờ thực hiện được như dự tính của chúng tôi và thay vào đó là bài viết hôm nay như một lời chia tay với nhạc sĩ Anh Bằng.

Sáu năm có dịp gần gũi với Nhạc sĩ Anh Bằng là một khoảng thời gian tuy không dài so với tuổi đời gần 90 năm của ông, cũng như so với khoảng thời gian hơn sáu thập niên mà nhạc sĩ Anh Bằng đã gắn bó với nền âm nhạc Việt Nam. Tuy nhiên, tôi cảm thấy thật may mắn vì đó là khoảng thời gian mà tôi được biết thêm nhiều điều về quá trình sinh hoạt trong âm nhạc của ông từ trong nước ra đến hải ngoại cũng như có dịp học hỏi thêm nhiều điều từ ông.

Sáu năm chất chứa quá nhiều kỷ niệm với những câu chuyện buồn vui mà hai chú cháu đã có dịp chia sẻ với nhau để tôi có thể ghi lại hết trong một bài viết, nhưng tôi sẽ cố gắng ghi lại những chi tiết chính để tỏ lòng tri ân đến người nhạc sĩ tài hoa của nền âm nhạc Việt Nam và cũng là vị Thầy, bậc Niên Trưởng của chúng tôi. Trong khuôn khổ của bài viết này, tôi không muốn lập lại nhiều những điều mà các bài viết, các tài liệu trên các báo chí, các đài truyền thanh, các trang mạng đã viết hay đăng tải rất nhiều về tiều sử của nhạc sĩ Anh Bằng. Tôi chỉ xin chia sẻ những gì cá nhân tôi được biết về Chú.

Trước hết, tôi xin phép được giải thích về chữ "Chú" mà tôi vì thói quen vẫn thỉnh thoảng dùng trong bài viết khi nhắc đến nhạc sĩ Anh Bằng. Lần đầu tiên tôi gặp nhạc sĩ Anh Bằng trong buổi ra mắt sách "Kỷ Niệm về Nhạc Sĩ Anh Bằng - Dòng Nhạc Trong Lòng Dân Tộc" do Văn Đàn Đồng Tâm thực hiện vào năm 2009. Không hiểu sao, tôi đã gọi nhạc sĩ Anh Bằng bằng "Chú". Có lẽ do cách cư xử rất gần gũi như đã thân quen từ lâu của Chú dành cho tôi trong lần đầu gặp mặt. Sau này, tôi thấy các anh chị em ca nhạc sĩ thường gọi nhạc sĩ Anh Bằng là "Ông" hay "Bác", nên tôi ngỏ ý muốn đổi sang cách gọi như vậy. Tuy nhiên, khi nghe tôi nói đến chuyện thay đổi trong cách xưng hô, nhạc sĩ Anh Bằng nhìn tôi với nụ cười hiền hòa và cho biết rằng đó là cách xưng hô mà ông thích và cứ gọi ông như thế. Kể từ đó, tôi dùng chữ "Chú" trong những email mà Chú và tôi trao đổi với nhau. Ngược lại, Chú cũng thường dùng cụm từ "CCM", viết tắt cho chữ "chú cháu mình" trong những email mà Chú gửi cho tôi.

Trong một bài viết trước đây về sự ra đời của Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ (CLB TNS), tôi đã có dịp kể về cơ duyên mà tôi có dịp được cùng với Chú và nhà văn Việt Hải thành lập Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ. Lý do tôi nhắc lại chi tiết này trong bài viết vì nhờ vào sự ra đời của CLB TNS mà tôi có dịp gần gũi với nhạc sĩ Anh Bằng hơn và đã để lại trong tôi nhiều kỷ niệm đẹp về Chú mà tôi xin được chia sẻ một số kỷ niệm trong bài viết này.

Trong những năm tháng được quen biết nhạc sĩ Anh Bằng, một trong những điều tôi rất quý mến ở ông là tinh thần lạc quan. Trong khoảng thời gian mặc dầu biết rằng mình mang trong mình căn bệnh ung thư quái ác, nhưng ông vẫn giữ một tinh thần lạc quan, vui vẻ với nụ cười hiền hòa luôn nở trên môi.  Có những lúc chúng tôi gặp những chuyện rắc rối trong sinh hoạt nội bộ, ông là người luôn khuyên Ngọc Bích và tôi cố gắng giữ tin thần lạc quan, vui vẻ và đừng để những sự lo lắng ảnh hưởng đến sức khoẻ. Có những lúc đến thăm ông, tôi vẫn nhớ ông lộ vẻ lo lắng nếu như ông chợt bắt gặp nét u buồn trên khuôn mặt của Ngọc Bích và ông luôn khuyên Ngọc Bích đừng buồn. Ông cũng từng tâm sự với chúng tôi là chính vì tạo cho mình được cách sống vui vẻ, lạc quan đó đã giúp ông vượt qua rất nhiều trở ngại, khó khăn trong cuộc sống cũng như chiến đấu với bệnh tật.

Chính vì lối sống yêu đời, luôn lạc quan này mà có lẽ trong số những nhạc sĩ gạo cội của nền âm nhạc Việt Nam, nhạc sĩ Anh Bằng là một trong những người được công chúng yêu mến nhất.  Những ai đã từng có dịp gặp gỡ và tiếp xúc với ông, cũng dễ dàng cảm nhận được điều đó và hình như ông cũng chưa làm buồn lòng ai bao giờ.

Vì bị trở ngại về thính giác, nên mỗi lần gặp ông, chúng tôi thường phải ngồi sát cạnh bên và cố nói đúng "tần số" để ông có thể nghe được. Nếu nói to quá hoặc nói nhanh quá, ông cũng không thể nghe rõ. Đối với những vấn đề gì quan trọng mà chúng tôi cần trao đổi với ông, chúng tôi thường viết xuống giấy để ông có thể hiểu rõ hơn. Mỗi khi bước vào những tiệm ăn, điều làm ông lo lắng là khi gặp người quen chào hỏi vì ông không hiểu họ muốn nói điều gì với ông. Những lúc đó, trông ông thật tội nghiệp vì ông cứ lo lắng sợ làm phật lòng người đến chào hỏi vì ông không biết họ nói gì để trả lời.

Đối với các anh chị em nghệ sĩ trong nhóm, dù tuổi cao, ông vẫn nhớ đến tên của một số người và luôn quan tâm hỏi thăm nếu như ông không thấy anh chị đó xuất hiện trong một vài lần trình diễn. Tôi cũng có dịp thấy sự quan tâm của ông dành cho mọi người. Ví dụ như nếu như có người nào ông nhận được thư và hồi âm cho họ, nhưng sau đó không thấy người nhận trả lời, ông lo lắng hỏi tôi là không biết người mà ông gửi có nhận được không hay có buồn lòng gì về ông không.

Với hoài bão muốn thành lập một tổ chức cho các ca nhạc sĩ đoàn kết để cùng giúp đỡ lẫn nhau trong sáng tác và nâng đỡ những tài năng mới, nhạc sĩ Anh Bằng đã email chia sẻ ý nguyện này của ông và mong muốn tôi sẽ cùng ông đứng ra thành lập một tổ chức quy tụ các anh chị em nghệ sĩ đến cùng sinh hoạt và tương trợ lẫn nhau. Lúc đầu, tôi e ngại vì không có nhiều thời gian do bận rộn với công việc và gia đình, nên tôi phải từ chối lời mời của ông. Tuy nhiên, đứng trước sự nhiệt tình và tấm lòng thiết tha của ông cho việc bảo tồn và phát triển nền văn hóa Việt Nam ở hải ngoại dù tuổi đời của ông đã cao đã làm tôi thay đổi quyết định và nhận lời. Vào tháng 3 năm 2010, Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ đã được chính thức ra mắt và bản nhạc đầu tiên mà tôi có dịp hân hạnh sáng tác chung với nhạc sĩ Anh Bằng là bài "Tình Nghệ Sĩ Hành Khúc" đã ra đời sau đó.

Nhắc đến ca khúc đầu tiên mà tôi được hân hạnh viết chung với nhạc sĩ Anh Bằng, tôi có một vài kỷ niệm khó quên. Khoảng hơn 7 tháng sau khi CLB Tình Nghệ Sĩ được thành lập, trong một buổi gặp gỡ với nhạc sĩ Anh Bằng, ông đề nghị tôi viết bản nhạc hành khúc cho CLB TNS rồi sau đó ông sẽ xem và cho biết thêm ý kiến sửa đổi. Thú thật lúc đó tôi chỉ nghĩ là ông nói đùa vì không nghĩ rằng mình có cái hân hạnh được sáng tác chung với ông. Tên tuổi của nhóm Lê Minh Bằng với ba vị nhạc sĩ tiền bối là nhạc sĩ Anh Bằng, nhạc sĩ Lê Dinh và nhạc sĩ Minh Kỳ đã đi vào huyền thoại của nền âm nhạc Việt Nam từ năm 1966 với nhiều ca khúc nổi tiếng như Đêm Nguyện Cầu, Linh Hồn Tượng Đá, Chuyện Tình Lan và Điệp, v.v. Vì vậy, tôi không nghĩ mình có cơ may để hân hạnh đứng tên chung trong một sáng tác với nhạc sĩ Anh Bằng. Tôi cũng đã có dự định sáng tác một bản hành khúc cho CLB TNS như trước đó tôi đã viết bản "Hành Khúc Viết Về Nước Mỹ" cho một giải thưởng mà tôi đã tham gia và rất ngưỡng mộ. Sau đó ít lâu, một biến cố đau buồn đã xảy đến cho gia đình nhạc sĩ Anh Bằng. Người con trai của ông qua đời khi tuổi đời còn rất trẻ. Chắc chắn nỗi đau mất con này của người cha khó có thể nguôi ngoai, đặc biệt là ở một người giàu tình cảm và luôn quan tâm đến gia đình như nhạc sĩ Anh Bằng. Vài tuần sau đó, khi có dịp gặp lại ông, tôi hết sức ngạc nhiên khi nghe ông hỏi tôi đã viết xong bản nhạc chưa vì ông muốn bài hát được thực hiện cho xong để kịp trình diễn trong ngày kỷ niệm Đệ Nhất Chu Niên.  Thế là tôi gấp rút bắt tay vào viết xong bản nhạc để gửi cho ông xem và cho ý kiến sửa đổi.  Bản nhạc "Tình Nghệ Sĩ Hành Khúc" sau này đã được các anh chị em hát trong ngày kỷ niệm Đệ Nhất Chu Niên và trong những chương trình của CLB TNS tổ chức sau đó như bản nhạc hiệu. "Tình nghệ sĩ từ bốn phương trời, về nơi đây cùng hát vang lời..." Đó cũng là hoài bão mà người nhạc sĩ kính yêu của chúng ta mong muốn thực hiện trong việc kết chặt tình thân giữa các anh chị em nghệ sĩ từ khắp bốn phương trời.

Tuy có tấm lòng vị tha và đức tính hiền hòa, nhưng nhạc sĩ Anh Bằng lại rất cương quyết trước bọn cộng sản trong nước cũng như lòng căm phẩn cao độ đối với quân xâm lược Trung cộng.  Có những hành động nho nhỏ của ông mà tôi để ý thấy, như có những lần đi ăn trưa với nhạc sĩ Anh Bằng, ông nhất quyết không bao giờ dùng những đôi đũa làm từ Trung quốc thường được bọc sẵn trong giấy. Có lần đến một nhà hàng chỉ có loại đũa này, nhạc sĩ Anh Bằng đã dùng nĩa để ăn thay vì ăn bằng đũa.  Trong một dịp khác, chúng tôi được nhạc sĩ Anh Bằng kể cho nghe là ông muốn mua một cái chậu để trồng hoa.  Công việc tưởng chừng như đơn giản, tuy nhiên, những cái chậu bày bán trong những ngôi chợ gần nhà toàn dán hàng nhãn hiệu "Made in China". Ông phải lặn lội đi tìm một cái chậu không được chế biến từ Trung cộng dù phải đi xa và mua với giá đắt hơn rất nhiều.

Riêng đối với tôi, chúng tôi bắt đầu quen biết Nhạc sĩ Anh Bằng ở thời điểm mà quê hương Việt Nam ngày càng bị sự xâm lấn và ức hiếp của Trung cộng và mọi người ngày càng thấy rõ sự yếu hèn của nhà cầm quyền cộng sản. Với tình yêu quê hương đất nước và luôn trăn trở trước sự tồn vong của quê hương trước hiểm họa ngoại xâm, nhạc sĩ Anh Bằng đã sáng tác một số ca khúc đấu tranh như "Đừng Im Tiếng Mà Hãy Lên Tiếng", "Cả Nước Đấu Tranh", v.v. Khi Ban Hợp Ca của Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ ra đời và bắt đầu tham gia hát trong những chương trình văn nghệ tranh đấu cho quê hương Việt Nam, ông khuyên tôi tiếp tục sáng tác những bài hùng ca cho các anh chị em trong ban hợp ca hát.  Song song với đó, ông cũng khuyến khích tôi cùng sáng tác với ông những bản nhạc đấu tranh. Với sự khích lệ của ông, bài hát "Thắp Sáng Việt Nam" và sau đó là bài "Việt Nam Ơi! Việt Nam Ơi!" đã ra đời.

**Đêm nhạc Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Anh Bằng**

Ngày 12 tháng 11, năm 2015, nền âm nhạc Việt Nam của chúng ta mãi mãi mất đi một thiên tài đã cống hiến một kho tàng âm nhạc vô giá với hơn 600 ca khúc ông đã để lại. Riêng đối với Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ, chúng tôi mất đi một người Sáng Lập Viên, một người Thầy, một vị Niên Trưởng khả kính luôn quan tâm, hướng dẫn và hỗ trợ tinh thần cho các anh chị em trong Ban Văn Nghệ của CLB TNS.

Trong niềm thương tiếc và để tưởng nhớ đến ông, chúng tôi dự định sẽ tổ chức một chương trình Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Anh Bằng. Lúc đầu, chương trình tưởng niệm được dự định sẽ tổ chức sau khi tang lễ của Nhạc sĩ Anh Bằng đã xong và mọi người đã nguôi ngoa phần nào nỗi đau thương. Tuy nhiên, khi tôi liên lạc với anh Lê Hoan để hỏi thăm về việc tổ chức chương trình trên đài của anh như chúng tôi đã từng tổ chức Đại Nhạc Hội live show "Hát Cho Quê Hương Việt Nam" vào tháng Tư vừa qua, anh Giám đốc của Đài TV đề nghị là chúng tôi nên thực hiện chương trình sớm trong khi mọi người vẫn còn trong niềm thương tiếc nhạc sĩ Anh Bằng. Anh đề nghị tổ chức chương trình vào ngay ngày hôm sau, tức là vào ngày thứ Bảy 14 tháng 11.

Trong một khoảng thời gian chỉ hơn 24  tiếng đồng hồ, chúng tôi bắt tay ngay vào công việc chuẩn bị.  Sau một thông báo ngắn gọn được gửi ra cho các thành viên trong Ban Văn Nghệ, chỉ trong một thời gian ngắn, đã có hơn 20 anh chị em ghi tên tham dự.

Khi ngồi soạn lời giới thiệu cho các bản nhạc, lòng tôi cứ dâng lên niềm xúc động vì cứ mỗi bản nhạc mà tôi dự định đưa vào chương trình thì làm tôi lại nhớ đến một vài kỷ niệm của riêng cá nhân tôi với ông lúc còn sinh tiền.

Bản nhạc mở màn do Ban Hợp ca của CLB Tình Nghệ Sĩ trình diễn là ca khúc "Tình Nghệ Sĩ Hành Khúc" với những kỷ niệm mà tôi đã chia sẻ ở phần trên khi có dịp sáng tác chung với  nhạc sĩ Anh Bằng. Chúng tôi chọn bài hát này để mở đầu cho chương trình tưởng niệm như một lời chia tay gửi đến ông, người nhạc sĩ kính mến với hoài bão thành lập một tổ chức nhằm đoàn kết các anh chị em ca nhạc sĩ ở hải ngoại để khuyến khích và hỗ trợ nhau trong việc sáng tác, ca hát đồng thời nâng đỡ những tài năng mới trong mục đích bảo tồn và phát huy nền văn hoá Việt Nam ở hải ngoại. Đài TV đã trích một đoạn ngắn lời phát biểu rất mộc mạc và chân tình của Chú về lòng yêu quê hương, đất nước qua những ca khúc đấu tranh bất bạo động, kêu gọi mọi người ý thức và tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc, đứng lên bảo vệ quê hương nên không có lý do gì mà những người cầm quyền cộng sản phải cấm cản. Các anh chị em trong Ban Văn Nghệ đã quen thuộc với giọng nói của ông trong những buổi sinh hoạt văn nghệ trước đây, mà lần cuối cùng khi ông đến tham dự chương trình khi Ban Văn Nghệ CLB TNS đến hát ở đài SBTN để yểm trợ cho chương trình gây quỹ cho đài phát thanh Đáp Lời Sông Núi. Lần đó, mặc dầu sức khoẻ của nhạc sĩ Anh Bằng đã bắt đầu có những triệu chứng bất ổn, nhưng ông vẫn cố gắng đến và chụp chung tấm hình kỷ niệm với các anh chị em.

Không ai có thể ngờ rằng đó cũng là tấm hình cuối cùng mà tất cả mọi người trong Ban Văn Nghệ có dịp chụp chung với ông. Lần đó, ông cho biết rất vui khi thấy sự lớn mạnh và phát triển của CLB Tình Nghệ Sĩ theo thời gian. Giờ đây, khi nghe lại giọng nói thân quen mà các anh chị em trong ban văn nghệ biết rằng sẽ vĩnh viễn không bao giờ còn có dịp được thấy ông, một vài người không ngăn được những dòng nước mắt. Từ station của chỗ dành cho MC điều khiển chương trình cùng với Mỹ Linh, tôi nhìn qua sân khấu và thấy lòng mình như chùn xuống khi nghe những tiếng sụt sùi và thấy những giọt nước mắt của các anh chị em...

Một bản nhạc đầu tay của nhạc sĩ Anh Bằng được chọn để trình diễn trong chương trình là nhạc phẩm "Nỗi Lòng Người Đi".  Chắc chắn nhiều độc giả còn nhớ câu chuyện mạo nhận bài hát này từ một nhạc sĩ trong nước.  Tôi còn nhớ lúc đó, chúng tôi rất lo lắng vì sợ việc này sẽ ảnh hưởng đến tinh thần và sức khoẻ của nhạc sĩ Anh Bằng. Tuy nhiên, khi chúng tôi đến gặp, ông vẫn giữ một thái độ rất điềm nhiên,  khuyên chúng tôi không nên nao núng và giữ bình tỉnh trước sự việc này. Cũng qua sự việc mạo nhận bài hát này mà tôi biết thêm nhiều chi tiết do ông kể liên quan đến bài hát để tôi có thể dùng làm tài liệu viết bài phản biện bài viết của nhà báo Nguyễn Thụy Kha khi ông ta đưa ra những chi tiết không đúng sự thật. Bài viết "Cảm Nghĩ Sau Khi Đọc Bài Tôi Xa Hà Nội" của tôi viết đã được đăng và còn lưu lại trên một số báo và các trang website.

Một vài chi tiết lịch sử mà tôi được ông kể lại, ví dụ  như những chiếc tàu há mồm chở người di cư từ Bắc vào Nam thường đậu sát bến cảng, chứ không đậu xa ở ngoài cửa biển để chàng nhạc sĩ mạo nhận bài hát và cô người yêu có dịp ngồi trên con thuyền nhỏ chèo ra cửa biển trong khi anh nhạc sĩ hát và dạy người yêu bài "Tôi Xa Hà Nội" như bài viết nhắc tới. Một chi tiết khác trong bản nhạc "Nỗi Lòng Người Đi" mà có lẽ ít ai biết đến khi ở đoạn cuối, nhạc sĩ Anh Bằng cho biết hình ảnh "tôi hái hoa tiên cho đời" đã được ông dựa vào một câu chuyện truyền thuyết là có một bông hoa trên trời và nếu ai hát được để tặng người yêu, thì tình yêu của họ sẽ được bền vững. Khi biết được chi tiết này qua lời ông kể, người đọc sẽ thấy sự thêu dệt khi ông Khúc Ngọc Chân cho rằng ông ta liên tưởng đến hình ảnh cánh tay giơ tay lên cao của Nữ Thần Tự Do của Hoa Kỳ để viết thành câu "tôi hái hoa tiên cho đời"! Trong thời điểm lịch sử năm 1954,  quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam chưa có sự hiện diện ở Việt Nam và chắc chắn hình ảnh về nữ Thần Tự Do của Hoa Kỳ còn là một hình ảnh rất xa lạ vào thời gian đó. Sau này, bản nhạc "Nỗi Lòng Người Đi" cũng đã được trả lại cho tác giả của nó, là nhạc sĩ Anh Bằng, nhưng qua sự việc này, tôi học được tính điềm tỉnh của ông khi đối phó với việc mạo nhận này cũng như những bài viết "thừa nước đục thả câu" của một số người khác có ý tấn công cá nhân ông do sự ganh tị từ trước.

Trong số nhiều ca khúc nổi tiếng được nhạc sĩ Anh Bằng phổ nhạc, chúng ta không thể không nhắc đến ca khúc "Chuyện Hoa Sim". Đây là một bài hát được phổ từ bài thơ "Màu Tím Hoa Sim" do thi sĩ Hữu Loan sáng tác từ năm 1949. Bài thơ đã được một vài nhạc sĩ khác phổ nhạc như nhạc sĩ Dzũng Chinh, nhạc sĩ Phạm Duy, nhưng qua cách phổ nhạc của nhạc sĩ Anh Bằng, bài hát mang một phong cách riêng, và đã được khán giả yêu thích khi lần đầu tiên được ca sĩ Như Quỳnh trình bày.  Đó là phong cách phổ nhạc của nhạc sĩ Anh Bằng mà khi chúng tôi có dịp nghe ông tâm tình là làm sao khi phổ nhạc, người nghe không biết đó là một bài hát được phổ từ thơ. Khi tôi tò mò hỏi bí quyết sáng tác nào để những nhạc phẩm của ông có thể đi vào lòng người, ông cho biết ông thích viết theo lối ngũ cung vì nó gần gũi với âm hưởng của dòng nhạc dân ca Việt Nam. Ông cũng chỉ cho tôi biết cách thức viết nhạc theo lối ngũ cung của ông. Nhìn ông cặm cụi với đôi tay run run ghi nốt minh họa xuống trên trang giấy, tôi cảm thấy thật cảm động trước tấm lòng của ông luôn mong muốn truyền lại những kinh nghiệm cho thế hệ tiếp nối. Theo ông, điều quan trọng nhất để cho bài hát dễ đi vào lòng người, không phải chỉ về phương pháp và cách thức sáng tác, mà làm sao cho bài nhạc "khi hát lên phải dễ hát, dễ nhớ và có hồn".

Điểm đặc biệt và đáng phục ở ông là để cho bản nhạc dễ đi vào lòng người và có "hồn", khi ông phổ nhạc những bài thơ của bạn bè, đôi khi ông chỉ dùng ý tưởng khoảng 30 phần trăm từ bài thơ, nhưng lúc nào ông cũng dành sự trân trọng bằng cách ghi tên của thi sĩ vào phần lời thơ mà không ghi tên mình vào. Đó là một đức tính rất khiêm nhượng rất đáng quý. 

Một bài hát khác được chọn để hát trong chương trình tưởng niệm là nhạc phẩm "Anh Còn Nợ Em".  Đây là một ca khúc đã trở nên rất quen thuộc đối với quần chúng, được ông phổ nhạc từ bài thơ của thi sĩ Phan Thành Tài. Tôi không muốn bàn đến khía cạnh nhạc hay nội dung của bài hát, mà xin được kể lại kỷ niệm vui với ông qua bài hát này.  Lần đó, chúng tôi có dịp đi ăn ở quán phở "Hoa Soan Bên Thềm Cũ" mà nhạc sĩ Tuấn Khanh vừa khai trương trước đó không lâu. Trong khi ăn, ông cho biết ông nấu phở cũng rất ngon và ông ước gì cũng mở một quán phở, cũng như nhạc sĩ Tuấn Khanh, và lấy tên từ một nhạc phẩm nổi tiếng của ông là bài "Anh Còn Nợ Em" để đặt tên cho tiệm phở.  Ông cười rất hồn nhiên và đùa rằng tiệm phở "Anh Còn Nợ Em" chắc chắn sẽ đông khách không thua gì tiệm phở "Hoa Soan Bên Thềm Cũ".  Tôi nhìn ông với ánh mắt ái ngại và lo là với sức khoẻ của ông và thời gian mà ông bận rộn không ngừng nghỉ với công việc sáng tác, thì làm sao ông có thể mở và trông coi một nhà hàng. Tuy nhiên, câu trả lời của ông đã làm cho tôi thật xúc động. Ông nói ông rất thương và tội nghiệp cho các anh chị em trong Ban Hợp Ca của CLB TNS đã hy sinh nhiều thời gian và công sức để tham gia các buổi tập dợt cũng như đi hát trong những chương trình cuối tuần hoàn toàn thiện nguyện, nên ông mong muốn nếu tiệm phở thành công, ông sẽ dùng tiền lời thu được để giúp cho các anh chị em. Ước mơ đó sẽ không còn thực hiện được, nhưng tấm lòng của ông dành cho các anh chị em trong CLB TNS chắc chắc sẽ mãi mãi để lại trong tim mọi người một hình ảnh thật đẹp về nhạc sĩ Anh Bằng.

Bài hát mà chúng tôi chọn để kết thúc chương trình Tưởng Niệm Nhạc Sĩ Anh Bằng là bản nhạc hợp ca mà chúng tôi đã có dịp giới thiệu trên các diễn đàn và được nhiều người ủng hộ trong vài tuần lễ trước đây. Đó là bài hát "Việt Nam Ơi! Việt Nam Ơi!". Một bản nhạc được sáng tác để ca ngợi lịch sử hào hùng, nét đẹp và điểm đặc trưng của ba miền Nam Trung Bắc với ba địa danh của quê hương là Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Khi hai Chú cháu ngồi sửa lại những nốt nhạc cuối cho bản nhạc này, tôi có linh cảm đây sẽ là bài hát cuối cùng mà tôi sẽ có dịp được sáng tác chung với nhạc sĩ Anh Bằng. Sức khoẻ của ông đã sa sút rất nhiều. Ông gần như ăn uống rất ít và luôn cảm thấy bị đau trong người. Lần cuối cùng là chứng đau tai làm ông khổ sở chịu đựng trong vài tuần lễ chữa trị. Tuy đau đớn về thể xác, nhưng tinh thần của ông vẫn luôn rất cao. Ông vẫn quan tâm thăm hỏi các anh chị em trong Ban Văn Nghệ của CLB TNS. Tình yêu quê hương, yêu dân tộc, yêu thương các anh chị em nghệ sĩ mà ông thường ưu ái gọi họ là những "chiến sĩ văn hóa" vẫn như ngọn lửa trong bản nhạc "Thắp Sáng Việt Nam", mãi mãi không bao giờ tắt trong ông.

Nhạc sĩ Anh Bằng đã vĩnh viễn ra đi, nhưng di sản âm nhạc đồ sộ mà ông đã để lại cho nền âm nhạc Việt Nam sẽ mãi mãi được trường tồn. Tấm lòng yêu thương quê hương, dân tộc và đấu tranh không ngừng nghỉ cho quê hương sớm có ngày được tự do, dân chủ qua những bản nhạc hùng ca đầy khí thế quật cường sẽ được sống mãi trong lòng mọi người. Riêng đối với chúng tôi, hình ảnh của ông sẽ mãi mãi là tấm gương sáng của một người Thầy, một vị Nhạc Sĩ Niên Trưởng, một Chiến Sĩ Văn Hoá đáng kính mà chúng tôi có may mắn được là một phần đời của ông; người Nhạc Sĩ Của Dân Tộc Việt Nam.

Cầu mong cho ông được yên nghỉ với nụ cười hiền hoà, không còn phải chịu đựng những nỗi đau về thể xác và chắc chắn linh hồn ông sẽ cùng với chúng ta trở về trên quê hương Việt Nam dân chủ, tự do, nhân quyền trong một ngày không xa.

---

Một số hình ảnh về NS Anh Bằng trong link bên dưới:



Cao Minh Hưng
11/16/2015




ĐỪNG SỢ BỌN VC HAY VGCS KIỆN VỀ TỘI PHỈ BÁNG HAY VU CÁO

Ảnh Thu Nhỏ
* Hãy vạch mặt chỉ tên bọn thân cộng và bọn Việt Gian Cộng Sản. Đừng sợ bị kiện về tôi Phỉ báng hay Vu cáo.
* Nhưng cũng đừng chụp mũ ai là Việt Cộng hay Cộng Sản nằm vùng nếu không có bằng chứng rõ ràng.
Năm 1975, sau khi cưỡng chiếm được toàn miền Nam, bọn Việt Cộng đã tìm mọi cách để bỏ tù cả trăm ngàn quân cán chính của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, đảng phái chính trị và văn nghệ sĩ cùng tất cả những ai mà chúng nghi là có thể chống đối chúng. Không những thế, bọn Việt Cộng còn tìm mọi cách để cướp đoạt tiền bạc, của cải và tài sản của người dân miền Nam bằng những chính sách mà chúng gọi là “đổi tiền”, “đánh tư sản mại bản”, “cải tạo công thương nghiệp”, “kinh tế mới”. Vì thế đã có cả triệu người phải tìm mọi cách để bỏ nước ra đi dù biết rằng có thể bỏ mạng trong rừng sâu hay trên biển cả. Do đó, tại hải ngoại, hễ cứ nghe nói tới hai chữ Việt Cộng, là người Việt tỵ nạn Cộng Sản lại nổi giận và liên tưởng tới một bọn người độc ác dã man, chuyên cướp của, giết người.
Chính vì thế vào thập niên 80, chúng ta không lấy làm lạ tại sao tên chủ báo Cái Đình Làng là Dương Trọng Lâm đã bị bắn chết tươi ở San Francisco vào năm 1980. Trần Khánh Vân cựu Tổng Cục Gia Cư thời Việt Nam Cộng Hòa đã bị thày giáo Trần Văn Bé Tư bắn trọng thương ở Nam Cali vào năm 1984. Và Đoàn Văn Toại tên thân Cộng thuộc thành phần thứ ba, đã bị bắn bể quai hàm ở Fresno, California vào năm 1989. Thực ra, những tên này không phải là Việt Cộng chính hiệu mà chỉ thuộc loại thân Cộng hoặc có những hành vi có lợi cho Việt Cộng mà thôi.
Từ khi Mỹ bỏ cấm vận đối với Việt Nam vào năm 1994 và ký bang giao với Việt Nam vào năm 1995 thì nhiều người Việt tỵ nạn Cộng Sản, vì nhớ thương người thân còn kẹt lại Việt Nam và mấy anh già mất nết đã kéo nhau về Việt Nam du hí mỗi ngày một nhiều khiến tinh thần chống Cộng sút giảm. Mấy anh thương gia (1) nghĩ chúng muốn Hòa Hợp, Hòa Giải nên đã quên hết thù hận xưa và bắt tay cộng tác làm ăn với chúng. Thực ra thì bọn Việt Cộng thực tâm cũng chẳng muốn Hòa Hợp Hòa Giải gì mà chúng chỉ muốn người Việt hải ngoại quên hận thù, đừng chống đối chúng nữa và đem tiền bạc về cùng chúng làm ăn.
Ngày nay, bọn Việt Cộng cũng chẳng còn chính nghĩa gì để bấu víu vào nên chúng muốn lợi dụng tình trạng này để xóa bỏ lằn ranh Quốc Cộng và hóa giải hết mọi sự chống đối. Nhưng nhiều người vẫn ngu muội, tưởng thật nên không những đã ngang nhiên về Việt Nam làm ăn buôn bán với Việt Cộng, họp hành, ăn uống, du hí với Việt Cộng mà còn công khai viết bài ca tụng bọn Việt Cộng, lập cả Hiệp Hội Doanh Nhân để hỗ trợ cho những người muốn làm ăn buôn bán với chúng. Trước sự ngang nhiên và thách đố này, nhiều người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản đã phải lên tiếng vạch mặt chỉ tên bọn người thân Cộng này trong đó có cả một số trí thức vô liêm sỉ ham danh, hám lợi như chúng ta đã biết.
Nhiều người qúa hăng say trong việc tố cáo này đã dùng những lời lẽ qúa đáng khiến bọn chúng đã có thể vin vào đó mà kiện về tội phỉ báng hay vu cáo để làm người khác sợ mà không dám vạch mặt chỉ tên bọn chúng. Thực ra đây chỉ là phương cách dùng tiền bạc để cả vú lấp miệng em, để áp đảo tinh thần người chống Cộng. Nếu chúng ta có chứng cớ rõ ràng thì không lý do gì phải lo sợ chúng thưa về tội phỉ báng hay vu cáo.
Phỉ báng là gì ?
Phỉ báng là việc đưa ra những lời lẽ tuyên bố sai sự thật về tư cách hay việc làm của một người khác làm người đó bị tổn hại về tinh thần hay vật chất. Phỉ báng cũng có thể là một một đoạn văn viết sai sự thật về một cá nhân hay đoàn thể nào đó được bản in ấn trong một tờ tạp chí hay trên một tờ báo.
I/ Thông thường, các yếu tố của một nguyên nhân gây nên hành động phỉ báng phải bao gồm (2):
1. Một lời nói xấu hay một báo cáo sai sự thật liên quan đến người khác.
2. Sự phổ biến lời tuyên bố về một người nào đó để cho đệ tam nhân biết đến trong các ấn phẩm mà không có đặc quyền (như báo chí).
3. Nếu sự phỉ báng thuộc lãnh vực quan tâm công cộng, thì ít nhất có thể quy lỗi một phần cho sự sơ xuất của nhà xuất bản.
4. Có gây thiệt hại cho đối phương.
Tội phỉ báng (defamation/libel) hay vu cáo (slander) theo luật pháp Hoa Kỳ, nó không phải là một tội hình sự như luật pháp của Việt Nam trước năm 1975. Ở Việt Nam trước năm 1975, một người bị truy tố về tội phỉ báng hay vu cáo, nếu có tội, có thể bị phạt vạ (tiền) hay phạt tù. Nhưng về bồi thường thiệt hại thì chỉ được bồi thường $1 danh dự mà thôi.
Trái lại ở Hoa Kỳ, như trên đã nói, tôi phỉ báng không phải là một tội thuộc về hình sự. Vì  không phải là một tội hình sự, nên không bị phạt vạ hay phạt tù mà chỉ phải bồi thường thiệt hại. Nhưng tiền bồi thường thiệt hại lại rất cao, có thể từ vài trăm ngàn tới vài chục triệu, tùy theo sự chứng minh của nguyên cáo (plaintiff) và được Toà chấp nhận ở mức độ nào.
II/ Tiến trình xử một vụ án về tội phỉ báng hay vu cáo, thường qua một quy trình tố tụng dân sự và hầu hết do bồi thẩm đoàn xét xử. Lời phỉ báng có thể căn cứ vào lời nói tại chốn công cộng như buổi họp công cộng hay tại bữa tiệc cộng cộng hay trên truyền thanh, truyền hình hoặc những bài viết trên báo chí, trên diễn đàn công cộng.
1/ Người đứng đơn kiện tức bên nguyên đơn (plaintiff) có bổn phận phải chứng minh những điều bị đơn (defendant) nói về mình là sai, là không đúng sự thật.
2/ Đối với những nhân vật được gọi là nhân vật của quần chứng (public figure) mà vác đơn đi kiện thì lại càng khó hơn chứ không như những người thường dân là những người được luật pháp bảo vệ nhiều hơn. Nguyên đơn không những phải chứng minh những lời nói đó là sai, là không đứng sự thật mà còn phải chứng minh là bị đơn (defendant) đã thiếu thận trọng và thực sự   có ác ý (3).
Để vạch mặt chỉ tên những tên trí thức vô liêm sỉ nhưng hám danh, những tên gian thương vô liêm sỉ nhưng hám lợi này, chúng ta thường dùng chữ thân Cộng. Nhưng nhiều người nghĩ rằng danh từ thân Cộng không đủ mạnh để chỉ những phần tử vô học, vô liêm sỉ này, nên thường dùng thêm những chữ khác như bưng bô hay nâng bi hay Việt gian.
Thực ra bưng bô hay nâng bi cũng chỉ có nghĩa là nịnh nọt, bợ đỡ (flatter) mà thôi. Viết một bài tâng bốc Việt Cộng là nịnh bợ Việt Cộng rồi. Pro-communist hay Communist flatterer hay Communist sympathizer thì cũng chẳng khác nhau gì. Còn dùng chữ Việt gian để gọi họ thì không đúng lắm. Chúng ta còn nhớ, khi chiến tranh Việt Pháp bùng nổ vào ngày 19/12/1946, tất cả những người không theo Việt Minh như các đảng viên Việt Cách, Việt Quốc đều bị Việt Minh gọi là Việt gian mặc dầu nhiều người chẳng hợp tác với Pháp ngày nào.
Ngày nay, một số người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản tự phủ nhận tư cách tỵ nạn Cộng Sản của mình bằng cách giao tiếp hoặc làm ăn buôn bán với Việt Cộng. Họ bị chúng ta gọi là Việt gian thì cũng chẳng khác gì trước kia bọn Việt Minh gọi những người quốc gia là Việt gian. Tuy nhiên, chúng ta không thể gọi những ai không đồng quan điểm chính trị với mình trong công việc chống Việt Cộng là Việt gian.
Tóm lại, dù dùng chữ gì, thì nó cũng chỉ có nghĩa là thân Cộng mà thôi. Bọn Việt Cộng là bọn độc ác, dã man và tàn bạo. Chúng chuyên cướp của giết người. Những kẻ thân thiết với bọn này thì tư cách của họ cũng chẳng khác gì bọn này. Vì thế, mỗi khi bị người khác bảo là thân Cộng, chúng rất lấy làm nhục nhã nên chúng phải bỏ tiền ra để đi kiện cho bớt nhục. Chứ thực ra chúng cũng thừa biết nếu có được bồi thường thì cũng Tết Congo mới đòi được. Thường thường những người dám ăn, dám nói lại là những người trên răng, dưới dế. Kiện những người này không những tốn tiền tốn bạc mà nhiều khi còn rước thêm nhục nhã vào thân vì đã tạo cơ hội để cho báo chí truyền thông khai thác, mỉa mai và đàm tiếu.
Tuy nhiên để phòng hờ những kẻ cậy tiền kiện tụng lôi thôi làm phiền hà chúng ta, chúng ta chỉ cần nói rõ những hành động bợ đỡ, nịnh nọt hay những hành vi giao tiếp của bọn chúng với bọn Việt Cộng và dùng chữ thân Cộng là đủ.
Hơn nữa, chữ thân Cộng là chữ chúng ta dễ chứng minh nhất. Muốn nói ai thân Cộng, chúng ta chỉ cần có những hình ảnh người đó đã đứng chụp chung với một tên Việt Cộng nào đó, những hình ảnh mà chúng đã tham dự những buổi liên hoan, tiếp tân của Việt Cộng tại đâu, vào ngày nào, những bài viết trên báo hay những bài diễn văn mà họ đã viết hay đã đọc để ca tụng Việt Cộng chứ không thể nói khơi khơi một cách vô bằng cớ.
Ngoài ra lại còn tùy người viết, người đọc là thành phần nào. Cùng một sự kiện, nhưng đối với người này, chúng ta có thể bảo họ là người thân Cộng, nhưng đối với người khác thì lại không. Thí dụ như trường hợp dân biểu liên bang Cao Quang Ánh cùng 2 dân biểu liên bang khác là Eni Faleomaega và Michael M. Honda trong chuyến công du Việt Nam đã tới thăm tên Thứ Trưởng Ngoại Giao Việt Cộng là Nguyễn Thanh Sơn và chụp hình chung với tên này và bị tên Việt Cộng này quàng cổ, bá vai cười toe toét, nhưng chúng ta cũng không thể nói là ông ta là người thân Cộng. Trái lại, nếu một người Việt tỵ nạn bình thường khác hay một ông Chủ Tịch Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn nào đó đã tới thăm chúng và được chúng tiếp đón như vậy thì  rõ ràng họ là người thân Cộng (pro-communist).
Thực ra thì bảo một người nào đó là thân Cộng thường thì chúng ta đã biết rõ những hoạt động hay những giao tiếp của họ với Việt Cộng, nên việc chứng minh thường không khó khăn. Nhưng chụp mũ ai là Việt Cộng hay là Cộng Sản nằm vùng là điều tuyệt đối nên tránh vì chúng ta không phải là CIA mà có thể kiếm được những bằng chứng cụ thể trừ phi chúng là những tên Việt Cộng có chức, có quyền rõ ràng như những tên bán nước Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Phan Văn Khải, Lê Khả Phiêu, Nguyễn Văn An, Nguyễn Chí Vịnh v.v…thì không kể. Tốt nhất chúng ta nên báo cho FBI biết nếu chúng ta biết chúng là Việt Cộng hay Việt Cộng nằm vùng nhưng không đủ bằng chứng.
Trong bài “Luật về tội phỉ báng ở Hoa Kỳ”, tác giả Steven Prerssman viết: “Floyd Adam, một luật sư ở New York, người chuyên đại diện cho các tổ chức truyền thông, ước tính trong các vụ kiện do bồi thẩm đoàn giải quyết những người khiếu kiện tội phỉ báng giành phần thắng trong khoảng 75% số vụ. Tuy nhiên, giới truyền thông luôn luôn đảo ngược được cáo trạng của bồi thẩm đoàn nếu họ kháng cáo lên tòa án cấp cao hơn. Abrams nói rằng nguyên nhân là do các bồi thẩm viên thường không hiểu đầy đủ hoặc không áp dụng các chuẩn mực pháp lý thích hợp liên quan đến vụ kiện. Do đó, nếu chẳng may thua kiện ở giai đoạn đầu chúng ta cũng đừng lo sợ, cứ bình tâm kháng cáo lên tòa phúc thẩm, chắc chắn sẽ thắng lợi.
Chú thích:
(1). Trong một bàn phú, cụ Nguyễn Công Trứ có viết: “Dân hữu tứ, sĩ vi chi tiên” Dân có bốn hạng, đó là Sĩ Nông Công Thương. Sĩ là hạng người đứng đầu và là hạng người được trong vọng nhất. Còn hạng người làm thương mại bị khinh thường nhất nên bị xếp vào hạng cuối cùng của bực thang xã hội. Ngày nay sống ở Hoa Kỳ, chúng ta thấy người Hoa Kỳ cũng coi những người trí thức như Bác Sỉ, Luật Sư v.v..nếu mở văn phòng riêng thì cũng thuộc vào giới business tức giới làm thương mại và không có giới nào đáng trọng hay đáng khinh hơn giới nào.
(2) Tham khảo “Defamation, Libel and Slander Law” của Aaron Larson.
(3) Xin thêm phần quyền tự do ngôn luận của báo chí (media).
(4) Tham khảo “Luật về tội phỉ bang ở Hoa Kỳ” của Steven Prerssman.
 LS Lê Duy San

Kinh Tạ Ơn của một người bội bạc,Trả lại nhân tính cho sự chết


Trả lại nhân tính cho sự chết

http://dcvonline.net/wp-content/uploads/2015/11/xoadiu.jpg
Không ai biết được trong giờ lâm chung, những giây phút cuối cùng của đời người, con bệnh sẽ sợ hãi ghê gớm hay bằng an thanh thản sẵn sàng ra đi.
Trả lại nhân tính cho sự chết: Trách nhiệm của người thầy thuốc.
Nhưng khi con người phải ra đi, giã từ tất cả những gì thân yêu nhất của mình, không bao giờ trở lại, có thể có những bịn rịn, luyến tiếc, đôi khi hốt hoảng như mất mát một bảo vật mà biết chắc chắn mình chẳng bao giờ có lại được. Sự an ủi vỗ về cảm thông với con bệnh của người thầy thuốc bên cạnh bệnh nhân lúc đó thật quả là vô giá và cần thiết.
Y khoa tuyệt hảo có thay thế được tình cảm không?
Khoa học kỹ thuật tân kỳ hiện đại đã cho phép người y sĩ không cần phải ở bên cạnh bệnh nhân đang cơn hấp hối mà vẫn có thể điều khiển, kiểm soát thời gian và tình trạng sống chết của con bệnh. Hồi xưa, khi y khoa chưa đạt tới mức siêu đẳng như ngày nay, người y sĩ là trung gian giữa những hiện tượng tự nhiên như sống và chết. Ngày nay, họ trở thành trọng tài của những kỹ thuật nhân tạo. Sự chết do đó đã được quan niệm dưới những góc cạnh khác. Tử thần đã được y khoa hóa. Xã hội, người y sĩ và bệnh nhân đã bắt đầu nhận thấy có một giới hạn hay một khoảng cách giữa văn hóa và y đạo. Họ bắt đầu tìm kiếm một phương thức mới về trách nhiệm của người y sĩ đối với bệnh nhân trong khi hấp hối. Câu chuyện sau đây cho thấy hậu quả của việc y học hóa tử thần và những khuyết điểm của sự thay đổi ấy.
Bà M., 57 tuổi, bị ung thư vú ở thời kỳ cuối cùng, đã phải nhập viện nhiều lần vì tình trạng hô hấp bê bết. Bà ta chưa bao giờ chính thức ký giấy từ chối trị liệu để được chết, nhưng không rõ lý do tại sao bà lại từ chối nhập viện điều dưỡng để cho người ta dễ dàng săn sóc bà. Trị liệu hóa học đã thất bại, mà giải phẫu thì không thể được mặc dù gốc ung thư chưa chạy đi nơi khác (metastases). Bà vẫn sinh hoạt hàng ngày bình thường và không đau đớn nhiều. Tuy nhiên gia đình bà cảm thấy không còn có thể tiếp tục chăm sóc và phụng dưỡng cho bà được nữa, đã yêu cầu bác sĩ khuyên bà ký giấy “Đừng cứu sống/Do not resuscitate-DNR)” nếu bị nguy kịch hôn mê. Bà không hoàn toàn chấp nhận tình trạng hết thuốc chữa của bà. Bà vẫn muốn được cứu sống để nhìn ngắm con cháu bà càng lâu càng tốt.
Một hôm bà trở bệnh bất ngờ. Gia đình bà đưa bà vào bệnh viện cấp cứu. Con gái bà đã thảo luận với bác sĩ về tình trạng của bà và giấy yêu cầu “Đừng Cứu Sống” đã được ký. Nhưng khi tình trạng của bà sáng sủa trở lại, bà nhất mực xin hủy bỏ giấy đã ký. Bác sĩ nói cho bà hiểu bệnh trạng của bà vô phương cứu chữa, bà đang trong tình trạng coi như hấp hối. Chữa trị chỉ là tạm bợ và vô ích. Bác sĩ không có bổn phận phải cứu sống bà. Thế rồi tình trạng của bà M. tiếp tục khả quan, không có dấu hiệu gì chứng tỏ tử thần gần kề. Chuyên viên y đạo cũng đã được tham khảo ý kiến và cắt nghĩa cho bà hiểu rằng nếu có tiếp tục chữa trị cho bà cũng không thể cứu sống bà được, do đó mục đích của y khoa không còn ý nghĩa, vì vậy bác sĩ không buộc phải thi hành ước nguyện của bà. Sau đó bà được chuyển về phòng riêng và ngày hôm sau bà đã qua đời. Trong lúc hấp hối, bà luôn luôn lẩm bẩm yêu cầu: “Tôi biết bác sĩ không bắt buộc phải cứu sống tôi, nhưng làm ơn hãy để cho tôi sống.”
Những vấn đề khó giải quyết
Nguồn: Catholic Health Association of the United States.
Nguồn: Catholic Health Association of the United States.
Câu chuyện bà M. đặt ra rất nhiều thắc mắc nan giải liên quan đến ý niệm về sự chết gần kề trong phạm vi y khoa. Người ta tự hỏi “Cái gì đã xẩy ra lúc đó?” “Có điều gì sai quấy?” “Người thầy thuốc có phải làm cái gì khác thường không?”
Phần chia sẻ dưới đây chỉ là cố gắng giải đáp phần nào những câu hỏi khó giải quyết ấy. Hiểu rõ chuyện “y học hóa tử thần” trong y đạo là ta có thể thấy cái chết của bà M. quá ư thê thảm và mất hết tình người.
Y đạo là kim chỉ nam giúp người y sĩ làm sáng tỏ và giải quyết những vấn đề khó khăn của trường hợp bà M. Tuy nhiên, chính những khúc mắc về cái chết của bà lại cho ta thấy rằng những quan niệm y đạo như quyền được tự chết và những phương cách trị liệu bằng thuốc và khoa học kỹ thuật tân kỳ hiện đại cũng chẳng có thể giải quyết được những lý luận tranh cãi về giá trị của sự sống; ngay cả những nguyên tắc y đạo cũng không bảo đảm được phương cách trị liệu có tính nhân bản cho bệnh nhân trong những giờ phút lâm chung. Sự Sống, Đau Khổ và Sự Chết là những thắc mắc mà Dostoyevsky gọi là “Vấn đề muôn thuở” mà con người không bao giờ có thể giải quyết được một cách hoàn hảo. Có lẽ điều tốt nhất mà chúng ta có thể làm được là cố gắng giải đáp những vấn đề khó giải quyết với hết ý thiện, lòng trắc ẩn cảm thông và nhiệt tình nồng cháy của lương tâm, chấp nhận may rủi trong sai lầm, luôn luôn cởi mở sẵn sàng đón chờ những cảm nhận mới đến từ tâm tư khắc khoải về sự sống và sự chết. Người y sĩ thường không mấy thỏa mãn với những giải đáp với điều kiện rồi từ đó đi tìm những nguyên tắc luật lệ dựa trên những chỉ dẫn có sẵn để tạo ra những bó buộc y đạo đối với bệnh nhân. Trong những trường hợp như vậy, người ta thường nại cớ “luật bắt buộc thế” hay “luật cho phép làm”. Lúc đó thực ra người y sĩ đã vượt qua cái bổn phận mà người ta gọi là “luật cho phép”. Họ đã không phải chỉ dựa vào những chỉ dẫn của nhà thương mà còn nại cớ nguyên tắc y đạo biểu làm. Họ quên, trong trường hợp bà M., rằng chính họ đã vi phạm những nguyên tắc chỉ dẫn có sẵn là “phải tôn trọng ước nguyện trị liệu của người bệnh” trong những giờ phút cuối cùng của đời bà.
Y khoa tân kỳ, y đạo và luật pháp vẫn chưa đủ để giúp người bệnh ra đi một cách an lành với đầy đủ tình người
Bà M. đã được chữa trị một cách tuyệt hảo mà y khoa hiện đại đã có thể cung ứng hầu có thể đương đầu với tử thần. Đó là kỹ thuật, y đạo và luật pháp. Tuy nhiên cả ba cái đó đều thất bại, đã không thể giúp người bệnh chết một cách an lành với đầy đủ nhân cách của một con người nhân bản. Đem phân tích, chúng ta sẽ thấy những thiếu sót cơ bản:
Thứ nhất, sự chết thường được coi như một sự kiện (an event) trong khi thật sự nó là cả một tiến trình (progress) âm thầm và liên tục lâu dài. Theo E. Kubler-Ross trong “On Death and Dying” xuất bản năm 1969 thì chết là một tiến trình năng động xẩy ra một cách liên tục trong đời sống và có những giai đoạn rõ ràng. Đời người là sự sống đang đi lên, đồng thời cũng là sự chết đang đi xuống. Đa số những người săn sóc bệnh nhân không là chứng nhân của những giây phút của sự chết chóc ấy, nên họ không cảm nhận được giá trị của những tình cảm thắm thiết mà bấp bênh mơ hồ trong tiến trình sự chết. Do đó nếu không có sự giúp đỡ an ủi của người thầy thuốc, của gia đình, xã hội và tôn giáo thì phương cách trị liệu chưa được hoàn hảo. Gia đình bà M. đã mệt mỏi vì phải săn sóc bà quá lâu. Riêng bà cũng đã mất sự thân mật, tình liên đới với những người có trách nhiệm săn sóc bà vì họ phải làm việc quá cực nhọc trong một hoàn cảnh quá bận rộn, không phải một lần mà dòng dã năm này qua năm nọ. Do đó chẳng ai còn để ý đến ước vọng chối từ hoặc muốn sống của bà. Chính những giai đoạn trong tiến trình của sự chết đó lại có thể giúp họ cùng với bệnh nhân cảm nhận được bước đường dẫn đến sự chết một cách hữu lý và đầy tình nhân ái. Cũng chẳng ai thèm tìm hiểu lý do tại sao có lúc vì quá buồn nản, thất vọng, bà đã từ chối sự chăm sóc của mọi người trong khi bà vẫn còn muốn sống.
Thứ đến, phương pháp trị liệu hiên đại cho người bệnh trong cơn hấp hối nói lên sư đáp ứng cố tình và có sắp đặt một cách máy móc của người y sĩ mà không đếm xỉa đến mặt tình cảm. Khi được hỏi cái gì làm cho người sắp chết sợ hãi nhất thì người y sĩ thường trả lời là đau đớn.
Thiển nghĩ và theo Pearlman thì không phải là đau mà chính là sợ sẽ là gánh nặng cho gia đình xã hội, sợ vì mất chức năng, sự tự lập và tình liên đới. Ngoài ra bệnh nhân còn phải vật lộn với những lo lắng, thắc mắc về tình cảm và cuộc sống tinh thần đời sau, sự thất vọng và cuộc sống vô nghĩa của đời người trong những giây phút cuối cùng điên loạn hoặc vật vờ vô tri giác. Những vấn đề tâm lý xã hội này, kể cả sự đau đớn, có lẽ chẳng bao giờ có thể giải quyết một cách thỏa đáng và hữu lý tận gốc rễ.
Chính tính cách chủ quan về nhiều khía cạnh của sự chết đã tạo nên nền sinh-y-học khách quan để rồi chính nó lại không muốn hay không có thể đối đầu được với tử thần. Khi phân tích ý nghĩa uẩn khúc đằng sau những câu như: “Đừng Cứu Sống” (Do Not Resuscitate / DNR), “Chích cho một Mũi ân huệ” (Administer an Injection), “Hãy Cắt Đứt Hệ Thống Trợ Sinh / Rút ống” (Terminate Life Support), ta thấy rõ ràng là người y sĩ tiên khởi chỉ nhằm vào ý nghĩ và hành động tức thời hơn là ý nghĩ thầm kín trong câu nói hoặc những lý do thúc đẩy họ phải đương đầu với tử thần. Ngay cả khi người y sĩ thực sự muốn ở bên cạnh người bệnh để dìu họ đến gần sự chết một cách êm đềm thì thường cũng có những lẫn lộn giữa những điểm căn bản của y đạo, bởi vì chính những điều kiện và chỉ dẫn có sẵn cũng không được rõ ràng như đã xẩy ra trong trường hợp bà M.. Hơn nữa, hiển nhiên là sợ hãi, chán nản, mặc cảm tội lỗi, bối rối pha lẫn với hy vọng yêu thương là những động lực chính đi đến quyết định tự tạo ra cái gọi là y đạo của những người can dự vào nội vụ, kể cà người thấy thuốc và vị cố vấn. Dù vậy, những thúc đẩy và nhu cầu vô lý này cũng không bao giờ được đề cập đến và bàn luận một cách công khai và xây dựng. Hình như thái độ “Tôi vô can, thờ ơ và duy luật lệ” đó của người y sĩ đối với cái chết đã khiến họ dửng dưng không muốn hiểu và cảm thông những nỗi niềm của người bệnh trong cơn hấp hối.
Sau cùng, người y sĩ trong trường hợp này, đã chia sẻ nghề nghiệp chuyên môn của họ với bệnh nhân một cách lệch lạc. Họ nghĩ rằng họ chỉ thi hành những chỉ dẫn có sẵn của nhà thương và y đạo, và như vậy họ đã hoàn thành trách nhiệm luân lý của họ. Họ đã không nhận biết rằng chăm sóc bệnh nhân trong cơn hấp hối là bổn phận của người thầy thuốc, kỳ vọng của tình liên đới người với người, giữa bệnh nhân và người y sĩ. Thực ra mà nói, chính những chỉ dẫn có sẵn cũng có những thiếu sót như ngôn ngữ mơ hồ, quan niệm lệch lạc, nhất là thiếu tính cách uyển chuyển. Mỗi chỉ dẫn, mỗi câu nói có thể được hiểu một cách khác nhau tùy người, ngay cả những người trong cùng một gia đình như trường hợp bà M..
Sự tin tưởng vào những chỉ dẫn, nguyên tắc và tài liệu một cách máy móc đã làm giảm mất nhiệm vụ và cơ hội chữa lành con bệnh của người y sĩ.
Trong khi đó tử thần tự nó nói lên sự cấp bách của bệnh nhân là đòi hỏi người thấy thuốc phải hành động. Dĩ nhiên ước vọng khẩn thiết của người bệnh là muốn bác sĩ chú ý lắng nghe những ao ước của họ, tôn trọng lời hứa và giúp đỡ ủi an họ. Nếu những đòi hỏi này có thật trong đời sống con người thì chắc nó cũng cấp thiết khi con người đang trong cơn hấp hối. Có lẽ điều tuyệt hảo và dễ dàng nhất mà các bác sĩ có thể làm cho bà M. là đơn thuần hiện diện bên cạnh bà với tư cách người với người, biết cảm thông, thực tâm mong muốn chia sẻ tiến trình của tử thần và những nỗi niềm đớn đau của bệnh nhân và sự chết.
Lời bàn
Chăm sóc không chỉ bằng thuốc men. Nguồn: blogs.jpmsonline.com
Chăm sóc không chỉ bằng thuốc men. Nguồn: blogs.jpmsonline.com
Trường hợp bà M. cho ta thấy nếu chỉ đơn thuần đem khoa học kỹ thuật đến với bệnh nhân trong cơn hấp hối thì vô tình đã tạo ra một sự cách biệt giữa con người và khoa học, bởi vì khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi nó phối hợp liên kết với con người. Phải chăng khi người bệnh nói lên hoặc đòi hỏi “Quyền Được Chết / Right to Die” là chính lúc họ đang phản đối chống lại loại săn sóc trị liệu máy móc vô nhân tính ấy. Với nhãn quan đó, ý của Derek Humphry trong Final Exit (Delta Trade; 3rd edition November 26, 2002), và ý kiến của nhiều người cũng như của một số nhà lập pháp có khuynh hướng nghiêng về phía đồng ý để bác sĩ giúp bệnh nhân chết / tự tử (physician assisted suicide) thực ra không nhất thiết là muốn người thầy thuốc trở thành những kẻ sát nhân, mà điều thúc bách hơn cả là muốn người y sĩ và mọi người / xã hội hiểu rằng, có những lúc tâm trạng tình cảnh của người “đang chết” bê bết, tồi tệ, thảm thê hơn cả chính sự chết.
Con người là linh ư vạn vật, có xác có hồn và trí khôn. Do đó bản tính của những ước mơ, băn khoăn thắc mắc của người bệnh trong cơn hấp hối cũng là hỗn hợp của cả xác lẫn hồn và đặc thù cá biệt tùy theo từng người. Thời gian hấp hối có thể là lúc kinh hoàng bấn loạn nhất của kiếp người, sự hiện diện của người thầy thuốc bên cạnh bệnh nhân hiển nhiên sẽ là những an ủi vỗ về, là bảo đảm chắc chắn cho những giá trị tuyệt hảo thâm sâu cùng kín của người bệnh, và là người bạn chí thân đáng tin cậy nhất có khả năng dẫn đưa người bệnh về bên kia thế giới, cõi chết một cách an bình thư thái. Bệnh nhân có thể muốn tìm cái chết, nhưng có lẽ chỉ với một ý nghĩa tiêu cực nào đó. Họ chỉ không muốn phải liên tục bước qua ngưỡng cửa tử thần đầy gian nan khốn khổ ấy. Những thành công vượt bực trong phương pháp trị liệu của y khoa hiện đại với mục đích giúp người bệnh hết kinh hãi tinh thần đớn đau thể xác và giảm thiểu số người muốn tìm cái chết / tự tử hẳn cũng chỉ muốn hướng đến những viễn tượng thâm sâu đó mà thôi.
Chết là đi vào thế giới vô định vượt khỏi tầm tay của con người, cho nên người y sĩ sẽ cảm thấy thoải mái dễ chịu và tự tin vào những hiểu biết và phương cách trị liệu của mình. Hỏi những người bệnh đang hấp hối cảm tưởng về sự chết thì đa số cho rằng họ linh cảm là sẽ đi vào thế giới lỳ lạ chưa ai biết. Đi rồi sẽ chẳng bao giờ trở lại. Do đó thực sự chẳng có ai biết thế giới bên kia nó như thế nào.
Cũng chẳng ai trong chúng ta có thể biết được con bệnh phải chuẩn bị những hành trang gì trong những ngày cuối cùng của cuộc đời để sẵn sàng cho cuộc hành trình đó. Chúng ta là những người có niềm tin tôn giáo. Chúng ta tin vào Chúa / Phật. Chết là đi về thế giới đời sau, thế giới vĩnh cửu: Sinh ký tử qui. Thế giới đó là hiện thân và hậu quả của thế giới hữu hình phù du mà chúng ta đang sống. Làm tốt, sống thiện thì được hưởng lành. Sống độc làm ác thì phải chịu tội. Nhưng còn những người không có niềm tin tôn giáo, không tin vào đời sau thì sao? Thực vậy, không hiểu sao khi tử thần kề sát người bệnh thì ông bác sĩ thường hay tê cứng, mất hết cảm xúc? Chính lúc đó lại là lúc mà người bệnh cần có sự hiện diện của người thầy thuốc như sự hiện diện của linh mục linh hướng. Hình như là người y sĩ đã được huấn luyện hoặc tự tạo cho mình một sự cách biệt tình cảm đối với bệnh nhân, bởi vì nếu người y sĩ và bệnh nhân có những liên đới tình cảm với nhau thì khi người bệnh hấp hối qua đời người y sĩ sẽ khó tránh khỏi những xúc động hốt hoảng. Tuy nhiên đối với bệnh nhân thì lại khác, nhất là khi người bệnh trong cơn đau đớn khủng khiếp thì chính cái nhân tính con người tự nhiên của người y sĩ lúc đó lại là những liều thuốc có quyền năng vô hạn.
Khi mà sự chết không còn được coi như là một biến cố, một sự kiện có tính cách máy móc kỹ thuật như rút ống thở, ngừng trợ sinh (withdrawl of life support) hoặc chuyện thi hành ước nguyện của bệnh nhân có tính cách pháp luật (living will) mà được coi là một sự chuyển tiếp thần bí từ thế giới phù du sang thế giới đích thực thì lúc đó thần chết sẽ có sức chuyển thông trách nhiệm y đạo của người y sĩ đến cho người bệnh. Hiện nay người ta đang cố gắng giải quyết sự chết bằng phàp luật. Nhưng xét cho cùng lẽ lương tâm, chẳng có luật lệ khách quan nào lại có thể ngăn cản người thày thuốc trách nhiệm đến với người bệnh trong cơn hấp hối. Ý niệm đó đã được Kierkegaard , ông tổ của thuyết hiện sinh, gọi là “sự thật chủ quan”, trong đó người thầy thuốc và bệnh nhân gặp nhau với tư cách là những người khốn khổ cảm thông nhau mà không ai có thể chê trách hoặc làm tổn thương được; không có phương cách trị liệu nào, y học nào có thể ngăn cản cấm đoán nổi. Đó là sự tương phùng giữa con người với con người, không phải tương phùng y học kỹ thuật. Đó là nhiệm vụ chính của người thầy thuốc trong y khoa cổ điển. Hippocrates 400 năm trước thiên chúa, đã viết trong aphorism: “Nghệ thuật trị liệu gồm ba chủ điểm là bệnh tật, người y sĩ và bệnh nhân. Bệnh nhân và người thầy thuốc là những người bạn đồng hành luôn luôn cùng nhau sát cánh chống lại bệnh tật”.
Người thầy thuốc là chứng nhân và sứ giả của thần chết trong thời của Lương Y như Từ Mẫu trong Y Học Đông Phương.
Buồn thay, thời của tình người với người không còn nữa. Chính cái tình người đó mới là nhiệm vụ y đạo đích thực, ngàn đời và tối quan trọng của người thầy thuốc đối với bệnh nhân trong cơn hấp hối. Câu nói cuối cùng của bà M., “Tôi biết bác sĩ không buộc phải cứu tôi sống, nhưng làm ơn hãy để tôi sống”, rất đáng cho ta suy nghĩ. Sự sống là do Thượng đế ban cho con người, không ai có quyền hủy bỏ nó, kể cả chính bản thân mình.
“Lương Y như Từ Mẫu” – Một góp ý
Chăm sóc toàn diên. Nguồn: www.physio-pedia.com
Chăm sóc toàn diên. Nguồn: www.physio-pedia.com
Tôi đưa bài viết này cho một anh bạn đọc và xin ý kiến. Anh bạn này người công giáo, đồng đạo với tôi, nhưng chắc chắn anh ngoan đạo hơn tôi nhiều lắm. Anh rất kính trọng và nể vì các cha, nhất là giám mục. Anh không có ý kiến nhiều về những vấn đề chuyên môn y khoa, nhưng anh đặt nặng vấn đề tôn giáo, nhiệm vụ của linh mục. Anh nói:
“Những điều anh viết về bổn phận của người y sĩ đối với bệnh nhân lúc hấp hối, ngoài việc chữa trị chuyên môn, xem ra cũng rất cần thiết có linh mục bên cạnh người bệnh lúc sắp lìa đời. Phải chăng linh mục chỉ đến với người bệnh khi được mời và để làm vài phép bí tích cần thiết rồi ra đi? Các linh mục còn cần phải làm những gì đặc biệt khác hơn là những công việc thường lệ đó, như người thầy thuốc chỉ biết chữa cho bệnh nhân hết đau đớn thể xác?”
Người y sĩ là “Lương Y như Từ Mẫu” thì vị linh mục cũng phải là một “Chúa thứ hai / Alter Christus” sống với tâm lý, tâm tình, tâm tư, tậm trạng, nỗi lo sợ buồn vui và những khắc khoải lo lắng bấn loạn hãi hùng của người bệnh lúc lâm chung với lòng trắc ẩn cảm thông như “Sống” và “Chết” với người bệnh để dẫn đưa người bệnh đến gần thượng đế hơn, một cách êm đềm thanh thản và chấp nhận.

Nguyễn Tiến Cảnh, MD

--
Kinh Tạ Ơn của một người bội bạc
*Huy Phương(Ghi lại nhân ngày Lễ Tạ Ơn)
4a4338ca_3cf203f8_cda8dbd97a5c4daedfaeffbwo8
Tạ ơn mẹ đã đẻ đau mang nặng
Suốt đời con vẫn bên ướt mẹ nằm
Nước mắt mẹ nay vẫn còn xuôi chảy
Con vô ơn, tính những tháng cùng năm.

Tạ ơn cha đã cày sâu cuốc bẫm
Cho tuổi thơ con được bát cơm đầy
Nuôi con, cha muốn điều nhân nghĩa
Mà đời nay nhốn nháo biết sao đây.

Tạ ơn thầy đã cho con chữ viết
Lúc vỡ lòng những tiếng đọc a,b
Giữa chợ đời lố lăng con uốn bút
Trả cho xong nợ rượu thịt bạn bè.

Tạ ơn em cho đời anh bóng mát
Với tình yêu thường mộng mị thần tiên
Mà lòng anh còn sân si bạc bẽo
Chỉ cho em toàn những nỗi ưu phiền.

Tạ ơn mày, người bạn thời thơ ấu
Vẫn theo nhau thuở bắt dế ngoài đồng
Tao lớn lên thường mấy khi ngó lại
Có gặp thời cũng làm lạ quay lưng.

Tạ ơn bạn, người một thời chiến hữu
Ta bên nhau trong trận mạc mỗi ngày
Một miếng lương khô, một bình nước suối
Tôi bỏ đi lúc lửa cháy thành vây.

Tạ ơn anh, người bạn tù khốn khổ
Đã cho tôi hơi ấm chiếc lưng gầy
Đêm Hoàng Liên Sơn mùa Đông buốt giá
Tôi sợ lòng tôi nay đã đổi thay.

Tạ ơn chị, người thuyền nhân tủi nhục
Vùi tấm thân xuống đáy biển oan khiên
Tôi là kẻ chưa một lần say sóng
Vẫn vô tâm không một thoáng ưu phiền.

Tạ ơn em đọa đày trong trại cấm
Chết không lui vẫn tranh đấu kiên cường
Tôi dửng dưng như con người ngoại cuộc
Toan xênh xang chuyện y cẩm hồi hương.

Tạ ơn cháu đã lầm sinh chế độ
Đành đem thân kiếm cách sống qua ngày
Tôi như tên lái buôn vừa trúng mánh
Còn biết gì nhân nghĩa một đêm say.

Xin tạ ơn những người vì vận nước
Suốt một đời đày đọa dưới cùm gông
Tôi phàm phu như người quên đọc sách
Còn biết gì hổ thẹn lúc soi gương.

Tạ ơn tổ tiên đào kinh đắp lũy
Dựng giang sơn có liệt nữ anh hùng
Tôi thế hệ sau coi thường việc nước
Miễn sao đời có áo mũ xênh xang.

Tạ ơn tiền nhân, trống đồng Ngọc Lũ
Mái đình làng bay bướm nét hoa văn
Tôi như ngọn lá đầu cành xa gốc
Đâu như chim còn nhớ đậu cành Nam.

Tôi đấm ngực: Tôi là người có tội
Nghĩ phận mình đâu dám ngẩng nhìn ai
Đau lòng những lúc trước đèn đối diện
Hổ thẹn đêm về ngắm bóng trăng soi.
*(Chúc thư của một người lính chết già)

----



 


ໂທລະສັບແຕ່ລະຄົນ! ບໍ່ທຳມະດາເລີຍ
Posted by Lao-dd.com ເພຈ໌ດີດີຂອງຄົນລາວ on Thursday, 12 February 2015

Bài Xem Nhiều