We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 9 December 2015

Pope Francis opens Holy Door to begin Jubilee of Mercy: Thánh lễ và lễ nghi mở Cửa Năm Thánh Lòng Thương Xót

Pope Francis opens Holy Door to begin Jubilee of Mercy

Tường thuật Thánh lễ và lễ nghi mở Cửa Năm Thánh Lòng Thương Xót

ĐTC Phanxicô mở Cửa Năm Thánh Lòng Thương Xót tại đền thờ thánh Phêrô - AP
08/12/2015 16:02
Tường thuật thánh lễ và lễ nghi mở cửa Năm Thánh Lòng Thương Xót, do ĐTC Phanxicô chủ sự sáng mừng 8 tháng 12 năm 2015
Lúc 9 giờ rưỡi sáng hôm qua, lễ trọng kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, ĐTC Phanxicô đã chủ sự thánh lễ và lễ nghi mở cửa Năm Thánh khai mạc Năm Thánh Lòng Thương Xót. Cùng đồng tế thánh lễ có 60 Hồng Y, 100 Tổng Giám Mục và Giám Mục, 200 Linh Mục nhân viên các cơ quan trung uơng Toà Thánh và khoảng 2.000 Linh Mục, kể cả 200 vị giúp ĐTC cho tín hữu rước lễ, trong đó có 100 Linh Mục thuộc dòng Đạo Binh Chúa Kitô và 60 Phó tế đem Mình và Máu Thánh Chúa tới cho các Linh Mục đồng tế.  Đứng hai bên ĐTC là ĐHY Angelo Sodano, nguyên Quốc Vụ Khanh Toà Thánh và ĐHY Giovanni Battista Re, nguyên Tổng trưởng Bộ Giám Mục.
Huy hiệu của Năm Thánh Lòng Thương Xót được treo trên bao lơn chính giữa Đền thờ Thánh Phêrô. Huy hiệu do linh mục Marko Rupnik dòng Tên vẽ, là một tiểu luận thần học về lòng thương xót. Huy hiệu cho thấy Chúa Con vác trên vai con người bị lạc đường. Đây là một hình ảnh rất thân thiết đối với Giáo Hội cổ xưa, bởi vì nó ám chỉ tình yêu của Chúa Kitô, là Đấng thành toàn màu nhiệm nhập thể của Người với việc cứu chuộc.
Hình vẽ nêu bật vị Mục Tử Nhân Lành đụng chạm thịt xác con người trong sự sâu thẳm của nó, và Người làm điều đó với tình yêu đến độ thay đổi cuộc sống con người. Mục Tử Nhân Lành mang nhân loại trên mình với  lòng thương xót tột độ,  nhưng đôi mắt tan hòa với đôi mắt của con người.  Chúa Kitô nhìn với con mắt của Ađam,  và Adam nhìn với con mắt của Chúa Kitô. Như thế, mỗi người khám phá ra nơi Chúa Kitô Ađam mới, nhân tính của mình và tương lai chờ đón mình, bằng cách chiêm ngưỡng trong cái nhìn của Người tình yêu của Thiên Chúa Cha.
 Tất cả cảnh này ở bên trong một hạt hạnh nhân, rất thân thiết với nghệ thuật vẽ hình trên gỗ icône cổ xưa và vào thời Trung Cổ, diễn tả sự đồng hiện diện của thiên tính và nhân tính nơi Chúa Kitô. Ba vòng tròn bầu dục đồng tâm có mầu từ từ sáng hơn hướng về phía bên ngoài gợi nhớ động thái của Chúa Kitô đem con người ra khỏi đêm tối của tội lỗi và cái chết. Đàng khác, mầu đậm hơn cũng gợi lên tính cách khôn dò trong tình yêu của Thiên Chúa Cha, là Đấng tha thứ mọi sự.
Nhân dịp này hình vẽ Icône cổ kính “Đức Mẹ Cửa của Lòng Thương Xót” cũng được mang về Roma từ đền thánh công giáo hy lạp Chúa Hiển Dung ở Jaroslaw bên Ba Lan. Bức hình Đức Mẹ đã được vẽ năm 1640. Năm 1779 ĐGH Piô VI đã coi hình vẽ này là ảnh Đức Mẹ làm phép lạ. Và năm 1996 ĐHY Achille Silvestrini đã được ĐGH Gioan Phaolô II cử làm đặc sứ đội triều thiên cho Đức Mẹ. Một bản chụp của hình này cũng được tín hữu Ucraina tôn kính tại Buenos Aires, bên Argentina.
Lúc 8 giờ 20 tất cả các chuông Đền Thờ Thánh Phêrô đã đổ hồi rộn rã.  Để chuẩn bị tinh thần mọi người cho buổi cử hành long trọng này lúc 8 giờ 45 vài đoạn của 6 tài liệu của Công Đồng Chung Vaticăng II đã được tuyên đọc: Hiến chế tín lý về mạc khải của Thiên Chúa Dei Verbum; Hiến chế tín lý về Giáo Hội Lumen Gentium; Hiến chế về Phụng Vụ Thánh Sacrosanctum Concilium;  Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong thế giới ngày nay Gaudium et Spes; Sắc lệnh về hiệp nhất Unitatis Redintegratio; và Tuyên ngôn về Tự do tôn giáo Dignitatis Humanae. Ngày mùng 8 tháng 12 cũng là kỷ niệm 50 năm kết thúc Công Đồng Chung Vaticăng II. Việc tuyên đọc các tài liệu nói trên nhằm giúp mọi người duyệt lại vài giáo huấn sâu sắc của Công Đồng và ý thức được tính cách thời sự của các giáo huấn này đối với cuộc sống của Giáo Hội. Công Đồng đã được suy tư và nhóm họp  trong ba năm, và đã kết thúc dưới ánh sáng lòng thương xót Chúa.
Lúc 9 giờ 5 phút mọi người đã lần hạt kính Đức Mẹ. Tham dự thánh lễ mở Cửa Năm Thánh đã có khoảng 60.000 tín hữu và du khách hành hương năm châu, trong đó cũng có mấy nhóm tín hữu Việt Nam. Tham dự thánh lễ và lễ nghi mở Cửa Thánh cũng có phái đoàn của các nước Italia, Bỉ, Cộng hoà thánh Marino, Cộng hoà Tchèques và Cộng hoà Liên bang Đức. Bên phải khán đài có nhiều nhân vật của chính quyền Italia cũng như của Hội hiệp sĩ Malta, tu huynh Alois của cộng đoàn đại kết Taizé. Cũng có 100 người câm điếc tham dự thánh lễ được diễn giải bằng ngôn ngữ dấu chỉ.
Bài đọc một bằng viếng Tây Ban Nha trích từ chưong 3 sách Sáng Thế, kể lại cảnh Thiên Chúa phán xử loài người sau khi con người phạm tội. Thánh vịnh 97 “Hãy hát lên một bài tân ca chúc tụng Chúa” được hát bằng tiếng Ý. Bài đọc bằng tiếng Anh trích từ thư thánh Phaolô gửi tín hữu Êphêxô, tạ ơn Thiên  Chúa vì qua Đức Giêsu Kitô Ngài đã ban cho chúng ta mọi phước lành, đã chọn chúng ta từ đời đời để chúng ta tinh tuyền thánh thiện, và đã tiền định cho chúng ta trở nên nghĩa tử qua Chúa Giêsu Kitô và đồng thừa tự với Chúa Kitô.
Phúc Âm đã tả lại cảnh thiên thần Gabriel truyền tin cho Đúc Maria được hát bằng tiếng Ý. Các lời nguyện giáo dân được tuyên đọc bằng các thứ tiếng: Tầu, A rập, Pháp, Swahili và Malayalam: xin Chúa Thánh Thần làm cho Giáo Hội luôn là mẹ sự thật và lòng thương xót, và là cung lòng cưu mang các người con mới của Thiên Chúa; xin Chúa Thánh Thần làm nảy sinh ra nơi các nhà làm luật và hàng lãnh đạo ước muốn phục vụ mọi người, say mê công lý và hòa bình; xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn lương tâm những người tội lỗi và bạo lực để họ hiểu biết thảm cảnh và sự trầm trọng của sự dữ họ đã gây ra, và cho con tim của họ nhận được ơn chữa lành và lòng thương xót; xin Chúa Thánh Thần dấy lên trong tâm trí những người không tín ngưỡng ước muốn chân lý, và trong ý chí của họ lòng can đảm gắn bó với sự thiện; xin Chúa Thánh Thần làm cho môi miệng các thừa sai và các cha giải tội tươi vui và thẳng thắn loan báo Tin Mừng, và nói lên các lời của hy vọng và tha thứ.
Phần thánh Ca đã được ba ca đoàn đảm trách: Ca đoàn Sistina, ca đoàn của Học viện giáo hoàng Thánh Nhạc,  và ca đoàn Mater Ecclesiae.
Năm Thánh ngoại thường này cũng là một món quà của ân sủng. Bước vào Cửa đó có nghĩa là khám phá ra sự sâu thẳm lòng thương xót của Thiên Chúa Cha tiếp đón tất cả mọi người và đến gặp gỡ từng người một
Giảng trong thánh lễ ĐTC đã quảng diễn ý nghĩa các bài đọc phụng vụ và Năm Thánh Lòng Thương Xót dưới ánh sáng các ơn Thiên Chúa ban cho Đức Maria, Mẹ Chúa Cứu Thế, cũng như dưới ánh sáng của Công Đồng Chung Vaticăng II kết thúc cách đây đúng 50 năm. Mở đầu bài giảng ĐTC nói:
Trong chốc lát nữa đây tôi sẽ vui sướng mở Cửa Thánh Lòng Thương Xót. Chúng ta chu toàn cử chỉ này,  đơn sơ biết bao nhưng cũng biểu tượng một cách mạnh mẽ, dưới ánh sáng của Lời Chúa mà chúng ta vừa lắng nghe, và nó nêu bật quyền tối thượng của ân sủng. Thật thế, điều trở lại  nhiều lần trong các bài đọc hướng chúng ta về kiểu diễn tả, mà sứ thần Gabriel đã nói với một thiếu nữ trẻ tuổi, kinh ngạc và bị khuấy động, ám chỉ mầu nhiệm sẽ bao bọc nàng: “Hãy vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng” (Lc 1,28).
Đức Trinh Nữ Maria được mời gọi trước tiên vui lên vì những gì Chúa đã thành toàn nơi Mẹ. Ơn thánh của Thiên Chúa đã bao phủ Mẹ, khiến cho Mẹ có khả năng trở thành Mẹ Chúa Kitô. Khi sứ thần Gabriel bước vào trong nhà Người, cả mầu nhiệm sâu  thẳm nhất vượt qúa mọi khả năng của lý trí, đối với Mẹ cũng trở thành lý do của niềm vui, của lòng tin và sự phó thác cho lời được mạc khải cho Mẹ. Sự tràn đầy ơn phước là một mức độ của việc biến đổi con tim, và làm cho nó có khả năng thành toàn một cử chỉ cao cả tới độ thay đổi lịch sử của nhân loại.
Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội diễn tả tình yêu vĩ đại của Thiên Chúa. Ngài không chỉ là Đấng tha tội, nhưng nơi Mẹ Maria Ngài đạt tới chỗ đề phòng tội nguyên tổ, mà mỗi người mang trong mình, khi bước vào thế giới này. Chính tình yêu của Thiên Chúa đề phòng, thực hiện trước và cứu rỗi. Việc bắt đầu lịch sử của tội lỗi trong vườn Eden được giải quyết trong dự án của một tình yêu cứu rỗi. Các lời của sách Sáng Thế  kể lại kinh nghiệm thường ngày, mà chúng ta khám phá ra trong cuộc sống cá nhân. Luôn luôn có cám dỗ  bất tuân phục, được diễn tả ra trong việc dự phóng cuộc sống chúng ta một cách độc lập với ý muốn của Thiên Chúa. Và chính sự không thân hữu đó liên tục mưu sát cuộc sống của con người để làm cho họ chống lại chương trình của Thiên Chúa. Tuy nhiên, cả lịch sử của tội lỗi cũng chỉ có thể hiểu được dưới ánh sáng của tình yêu tha thứ. Nếu mọi sự bị cột buộc với án đầy ải của tội lỗi,  thì chúng ta sẽ là những người tuyệt vọng nhất trong các loài thụ tạo, trong khi lời hứa chiến thắng tình yêu của Chúa Kitô gói ghém tất cả trong lòng thương xót của Thiên Chúa Cha. Lời Chúa mà chúng ta vừa mới lắng nghe không để cho chúng ta nghi ngờ về điều này. Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm Nguyên Tội trước chúng ta  là chứng nhân đặc tuyển của lời hứa và sự thành toàn lời hứa đó.
Đề cập  tới Năm Thánh Lòng Thương Xót ĐTC nói:
Năm Thánh ngoại thường này cũng là một món quà của ân sủng. Bước vào Cửa đó có nghĩa là khám phá ra sự sâu thẳm lòng thương xót của Thiên Chúa Cha tiếp đón tất cả mọi người và đến gặp gỡ từng người một. Đây sẽ là một Năm trong đó chúng ta lớn lên trong xác tín về lòng thương xót. Biết bao nhiêu sai lạc đã được gán cho Thiên Chúa và ơn thánh của Ngài, khi người ta khẳng định rằng tôi lỗi bị phạt bởi sự phán xử của Chúa, mà trái lại không đặt để trước rằng chúng được thứ tha bởi lòng thương xót của Ngài. (x. Agostino, De praedestinatione sanctorum 12, 24). Vâng, đúng thế. Chúng ta phải đặt để lòng thương xót trưóc sự phán xử, và trong mọi trường hợp sự phán xử của Thiên Chúa sẽ luôn luôn trong ánh sáng lòng thương xót của Ngài. Như thế, bước qua Cửa Thánh khiến cho chúng ta cảm thấy được chia sẻ mầu nhiệm tình yêu ấy. Chúng ta hãy từ bỏ mọi hình thức sợ hãi và lo lắng, bởi vì người ta không chỉ tay tố cáo người được yêu. Trái lại, chúng ta hãy sống niềm vui của cuộc gặp gỡ với ơn thánh biến đổi mọi sự.
Bước qua Cửa Thánh là sống tinh thần của Công Đồng Chung Vaticăng II là tinh thần của ngưởi Samaritano nhân lành
Nhắc đến kỷ niệm 50 năm ngày kết thúc Công Đồng Chung Vaticăng II ĐTC nói:
Hôm nay, tại Roma này cũng như trong mọi nhà thờ chính toà trên thế giới, khi bước qua Cửa Thánh chúng ta cũng muốn nhớ tới một cánh cửa khác, mà các Nghị Phụ Công Đồng Chung Vaticăng II mở toang ra với thế giới cách đây 50 năm. Dịp kỷ niệm này không chỉ được nhớ tới vì sự phong phú của các tài liệu được biên soạn, mà cho tới ngày nay cho phép chúng ta kiểm thực sự tiến bộ lớn lao đã được thành toàn trong đức tin. Tuy nhiên, trước hết Công Đồng đã là một cuộc gặp gỡ. Một cuộc gặp gỡ đích thật giữa Giáo Hội và con người thời đại chúng ta. Một cuộc gặp gỡ  được ghi dấu bởi sức mạnh của Chúa Thánh Thần, thúc đẩy Giáo Hội Người ra khỏi các tù túng từ bao nhiêu năm đã khép kín nó trong chính mình, để hăng say đi lại con đường truyền giáo. Đó đã là việc lấy lại một lộ trình để đi gặp gỡ mỗi người ở nơi họ sinh sống: trong thành phố, trong nhà, trong nơi họ làm việc… ở khắp mọi nơi đâu có một người, ớ đó Giáo Hội được mời gọi đến với họ để đem niềm vui Phúc Âm tới cho họ. Như vậy, đó một thúc đẩy truyền giáo mà sau các thập niên này chúng ta lấy lại với cùng sức mạnh và lòng hăng say. Năm Thánh khiêu khích chúng ta cho sự rộng mở này, và bắt buộc chúng ta không được lơ là với tinh thần được dấy lên bởi Công Đồng Chung Vaticăng II, đó là tinh thần của người Samaritano nhân lành, như chân phước Phaolô VI đã nhắc tới, khi kết thúc Công Đồng. Hôm nay việc bước qua Cửa Thánh khiến cho chúng ta dấn thân biến lòng thương xót của người Samaritano nhân hậu thành của mình.
Sau lời nguyện kết lễ, ĐTC đã chủ sự nghi lễ mở Cửa Thánh. Phó tế loan báo lễ nghi và nói:
Anh chị em thân mến, được linh hoạt bởi đức tin nơi Chúa Giêsu, Đấng cứu độ chúng ta, mà chúng ta đã canh tân trong buổi cử hành thánh thể và được giữ gìn bởi Đức Trinh Nữ Diễm Phúc Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng ta khai mạc Năm Thánh Ngoại Thường của Lòng Thương Xót.
Cửa Thánh mở ra trước chúng ta, chính Chúa Kitô, qua lòng thương xót của Giáo Hội dẫn chúng ta vào trong mầu nhiệm ủi an của tình yêu Thiên Chúa, tình yêu vô bờ ấp ủ toàn nhân loại.
Chúng ta hãy chuẩn bị con tim cho hành động của Chúa Thánh Thần, ước mong đáp ứng ơn gọi kitô chung là nên thánh với sự tuơi vui sẵn sàng. Chúng ta hãy bắt đầu trong bình an nhân danh Chúa Kitô.”
Đức nguyên Giáo Hoàng Biển Đức XVI cũng hiện diện trong lễ nghi mở Cửa Thánh. ĐTC Phanxicô đã hôn chào vị tiền nhiệm của mình, trước khi đọc lời nguyện khai mạc lễ nghi mở Cửa Thánh.
Đến trước Cửa Thánh ĐTC đọc lời nguyện sau đây:
“Lậy Thiên Chúa, là Đấng mạc khải sự toàn năng của Ngài, nhất là với lòng thương xót, xin ban cho chúng con sống một năm ơn thánh, là thời gian thuận tiện để yêu Chúa và các anh chị em trong niềm vui Phúc Âm.
Xin tiếp tục đổ Thánh Thần trên chúng con, để chúng con không mệt mỏi tin tưởng hướng cái nhìn của chúng con tới Đấng chúng con đã đâm thâu, là Con Chúa nhập thể làm người, gương mặt rạng ngời của lòng thương xót vô biên của Chúa, là nơi nương ẩn chắc chắn cho mọi người tội lỗi, cần ơn tha thứ và bình an, chân lý giải thoát và cứu rỗi.
Người là Cửa, qua đó chúng con đến với Chúa , suối nguồn bất tận của ủi an cho tất cả mọi người, vẻ đẹp không tàn phai, niềm vui toàn vẹn trong cuộc sống không cùng.
Xin Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm Nguyên Tội bầu cử cho chúng con, Người là hoa trái đầu tiên và rạng ngời của chiến thắng phục sinh, bình minh sáng ngời của trời mới đất mới, bến bờ cuộc lữ hành trần thế của chúng con.
Dâng lên Ngài, lậy Thiên Chúa Cha chí thánh, và Con Chúa là Đấng Cứu Độ chúng con và Chúa Thánh Thần, Đấng Ủi An mọi danh dự và vinh quang muôn đời Amen.”
Tiếp đến ĐTC xướng: “Đây là cửa của Chúa”. Cộng đoàn thưa: “Qua đó người công chính bước vào“. “Hãy mở các cửa của sự công chính” -  “Tôi sẽ vào để tạ ơn Chúa” – “Vì lòng thương xót lớn lao của Chúa con sẽ vào nhà Chúa, Lậy Chúa” – “Con sẽ phủ phục hướng về đền thánh Ngài”.
Trong thinh lặng ĐTC bước lên mở Cửa Thánh và cầu nguyện trên ngưỡng cửa, rồi bước vào bên trong, theo sau là Đức Thánh Cha Biển Đức XVI. Hai vị hôn và bắt tay nhau lần nữa. Tiếp đến là các vị đồng tế và vài đại diện các tu sĩ và giáo dân nam nữ, và mọi người đi về Bàn thờ tuyên xưng Đức Tin. Trong khi đó ca đoàn hát bài Thánh Ca của Năm Thánh: “Chúng ta hãy cảm tạ Chúa Cha vì Ngài nhân lành, lòng thương xót của Ngài tồn tại đến muôn đời.”
Khi đến trước Bàn thờ tuyên xưng Đức Tin, ĐTC đọc lời nguyện sau đây:
“Lậy Cha rất thánh, giầu lòng thương xót và cao cả trong tình yêu, chúng con chúc tụng Cha với tất cả tâm lòng và chúng con cảm tạ Cha vì các ơn tràn đầy Cha đã ban cho chúng con. Xin hãy đoái nhìn chúng con, trong ngày hôm nay đã mở Cửa Thánh và vui mừng khai mào thời gian năm thánh. Chúng con xin Cha ban cho tất cả những ai đi qua Cửa của Lòng Thương Xót với tâm hồn thống hối, với dấn thân canh tân và lòng tín thác con thảo, được sống kinh nghiệm sống động sự dịu hiền phụ tử của Cha và nhận được on tha tội để làm chứng, bằng lời nói và việc làm, cho gương mặt lòng thương xót của Chúa, là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng con, Đấng hằng sống và hiển trị cùng Chúa đến muôn thuở muôn đời. Amen”.
Trước khi ban phép lành cho mọi người ĐTC nói: “Lậy Chúa, xin chúc lành cho dân Ngài đang chờ đợi các ơn của lòng thương xót Chúa, và hoàn thành các ước mong sự thiện, mà chính Chúa đã gợi hứng cho. Nhờ Chúa Kitô Chúa chúng con.”
Sau khi ĐTC ban phép lành cho mọi người, Phó tế kết thúc và nói: “Anh chị em hãy thương xót như Cha anh chị em là Đấng xót thương.”. Mọi người thưa: Tạ ơn  Chúa.
Tiếp nhận ơn thánh thương xót của Ngài trong cuộc sống chúng ta; và đến lượt mình trở thành là những người thực hành lòng thương xót
Lúc 12 giờ trưa ĐTC đã ra cửa sổ Dinh Tông Toà để đọc kinh Truyền Tin chung với tín hữu. Trong bài huấn dụ ngài đã nhắc lại ý nghĩa của lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và nhấn mạnh như sau:
Cử hành ngày lễ này bao gồm hai điều: tiếp nhận Thiên Chúa một cách tràn đầy và tiếp nhận ơn thánh thương xót của Ngài trong cuộc sống chúng ta; và đến lượt mình trở thành là những người thực hành lòng thương xót qua một con đường phúc âm đích thực. Như thế, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội trở thành lễ của tất cả chúng ta, nếu với các tiếng “xin vâng” mỗi ngày của mình chúng ta chiến thắng được tính ích kỷ của mình, và khiến cho cuộc sống của các anh chị em khác được tươi vui hơn, trao ban cho họ niềm hy vọng, lau khô vài giọt nước mắt, và trao ban cho họ một chút tươi vui. Noi gương Mẹ Maria chúng ta được mời gợi  trở thành những người đem Chúa Kitô đến cho tha nhân, và là các chứng nhân tình yêu của Ngài, trước hết bằng cách nhìn đến những người được coi là ưu tiên trong đôi mắt của Chúa Giêsu. Đó là những người mà chính Ngài đã chỉ cho thấy: “Ta đói các con đã cho Ta ăn, Ta khát các con đã cho Ta uống, Ta là khách lạ các con đã tiếp rước, Ta trần truồng các con đã cho Ta mặc, Ta đau yếu các con đã viếng thăm, Ta bị tù các con đã đến tìm Ta” (Mt 25,35-36).
Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm khiến cho chúng ta nghiêm ngưỡng Mẹ, là Đấng, do đặc ân riêng biệt, đã được giữ gìn khỏi tội tổ tông từ khi được thụ thai. Tuy sống trong thế giới bị ghi dấu bởi tội lỗi, nhưng Mẹ không bị đụng chạm tới. Mẹ là chị chúng ta trong khổ đau, nhưng không trong sự dữ và tội lỗi. Trái lại, nơi Mẹ sự dữ đã bị đánh bại, trước khi nó đụng chạm tới Mẹ, bởi vì Mẹ được tràn đầy ân sủng (x. Lc 1,28). Vô Nhiễm Nguyên Tội  có nghĩa là Đức Maria là người đầu tiên đã được cứu rỗi bởi lòng thương xót vô bờ của Thiên Chúa Cha, là của đầu mùa của ơn cứu rỗi mà Thiên Chúa muốn trao ban cho từng người nam nữ, trong Chúa Kitô. Vì thế Đẫng Vô Nhiễm đã trở thành hình ảnh tột đỉnh lòng thương xót của Thiên Chúa, là Đấng đã chiến thắng tội lỗi. Và hôm nay chúng ta bắt đầu Năm Thánh Lòng Thương Xót, chúng ta muốn nhìn lên hình ảnh này với tình yêu thương tin tưởng và chiêm ngưỡng Mẹ trong tất cả vẻ rạng ngời của Mẹ và noi gương lòng tin của Mẹ.
Trong biến cố được thụ thai vỗ nhiễm của Đức Maria chúng ta được mời gọi  nhận ra bình minh của thế giới mới, được biến đổi bời công trình cứu chuộc của Thiên Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Bình minh của việc tạo dựng mới, được thực hiện bởi lòng thương xót Chúa. Chính vì thế Đức Trinh Nữ Maria đã không bao giờ bị nhiễm tội lỗi và luôn luôn đuợc tràn đầy Thiên Chúa, là Mẹ của một nhân loại mới.
Tiếp tục bài huấn dụ ĐTC nhấn mạnh sứ điệp ngày lễ như sau: Ngày lễ Vô Nhiễm Nguyên Tội hôm nay thông truyền cho chúng ta một sứ điệp đặc biệt: Nó nhắc nhớ chúng ta rằng trong cuộc sống tất cả đều là ơn, tất cả đều là lòng thương xót. Xin Đức Trinh Nữ Thánh, là hoa trái đầu mùa của những người được cứu rỗi, mẫu gương của Giáo Hội, Hiền Thê thánh thiện và vô nhiễm, được Chúa yêu thương, giúp chúng ta ngày càng tái khám phá ra lòng thương xót Chúa hơn như là huy hiệu của kitô hữu. Không thể hiểu được một kitô hữu mà không có lòng thương xót. Thương xót là từ tổng hợp của Tin Mừng. Nó là nét nền tảng nơi gương mặt của Chúa Kitô: gương mặt mà chúng ta nhận ra trong các khía cạnh khác nhau của cuộc sống: khi Ngài đi gặp gỡ tất cả mọi người, khi ngài chữa lành người bệnh tật, khi Ngài ngồi cùng bàn với các người tội lỗi, và nhất là khi bị đóng đanh trên thập giá Ngài tha thứ: ở đó chúng ta trông thấy gương mặt lòng thương xót của Thiên Chúa.
Nhờ lời bầu cử của Mẹ Maria Vô Nhiễm ước chi lòng thương xót chiếm hữu con tim chúng ta và biến đổi cuộc sống chúng ta.
Tiếp đến ĐTC đã đọc kinh Truyền  Tin và ban phép lành toà thánh cho mọi người.
Sau Kinh Truyền Tin ĐTC đã chào các gia đình, các nhóm giáo xứ các hội đoàn, đặc biệt là các thành viên Công Giáo Tiến Hành Italia đang canh tân sự gắn bó với hội. ĐTC cầu chúc họ tiến bước trên lộ trình đào tạo và phục vụ, luôn luôn được linh hoạt bởi lời cầu nguyện.
ĐTC cũng báo cho mọi người biết ban chiều ngài sẽ đến cầu nguyện dưới tượng Đức Mẹ Vô Nhiễm tại quảng trường Tây Ban Nha, và hành hương Đền Thờ Đức Bà Cả. Ngài xin mọi người hiệp ý với ngài trong cử chỉ tôn sùng con thảo này đối với Mẹ Maria, Mẹ của lòng thương xót. Ngài đặc biệt phó thác cho Mẹ Giáo Hội, toàn thế giới và cách riêng thành phố Roma. ĐTC cầu chúc mọi người ngày lễ tốt lành và Năm Thánh giầu hoa trái thiêng liêng với sự dìu dắt và bầu cử của Mẹ. Và ngài cũng tha thiết xin mọi người cầu nguyện cho ngài.
Linh Tiến Khải

 http://vi.radiovaticana.va/news/2015/12/08/t%C6%B0%E1%BB%9Dng_thu%E1%BA%ADt_th%C3%A1nh_l%E1%BB%85_v%C3%A0_l%E1%BB%85_nghi_m%E1%BB%9F_c%E1%BB%ADa_n%C4%83m_th%C3%A1nh_l%C3%B2ng_th%C6%B0%C6%A1ng_x%C3%B3t/1192914
 

Cộng Đồng Hồi Và Khủng Bố


Cộng Đồng Hồi Và Khủng Bố

…Tổng thống nghĩ cấm bán súng sẽ hết khủng bố sao?

Với cuộc khủng hoảng di dân nghiêm trọng nhất trong lịch sử Âu Châu, và với cuộc tranh cãi hiện nay tại Mỹ về việc nhận dân tỵ nạn Syria, cộng với biến cố San Bernardino bên Cali, ta cần nhìn qua cuộc sống của khối di dân Hồi giáo trên thế giới. Đó có phải là một cái lò nung đúc khủng bố không?

Tại Mỹ, có ít nhất 4 triệu dân theo đạo Hồi, hơn 1% dân số Mỹ, một con số rất nhỏ. Những tiểu bang có nhiều dân Hồi nhất là Michigan, New Jersey, New York và Massachusetts. Tập trung lớn nhất là tại thành phố New York với khoảng 80.000 người, thua xa khu Bolsa của ta.

Tại Âu Châu, khối dân Hồi giáo, tuyệt đại đa số cũng là di dân chứ không phải là dân tỵ nạn chính trị hay tỵ nạn chiến tranh. Đến từ nhiều đời cũng có do việc nhận dân thuộc địa cũ, mà mới qua cũng có, qua các làn sóng tỵ nạn chiến tranh từ vài năm gần đây. Nói chung, tổng số di dân Hồi tại Âu Châu cao hơn Mỹ rất nhiều, khoảng 40 triệu người, từ 3% tới 20% tùy theo quốc gia. Mà mỗi quốc gia cũng có thành phần di dân Hồi khác nhau. Tại Anh, đa số là dân Pakistan và Bangladesh, tại Pháp là dân Bắc Phi, tại Ý là dân Libya và Ethiopia, tại Đức và Đan Mạch là dân Thổ Nhĩ Kỳ, tại Thụy Sỹ là dân Nam Tư trước đây, tại Thụy Điển, Na Uy là dân Iraq và Iran mới qua sau này. Paris có lẽ là thành phố đông dân Hồi nhất, hơn một triệu người sống trong các vùng ngoại ô.

Bài này chỉ bàn đến khối di dân Hồi, không bàn đến những dân địa phương, Mỹ hay Âu Châu, đã theo đạo Hồi từ lâu đời rồi, như Albania, Kosovo, Herzegovina, hay những vùng dân Hồi phiá Nam của Nga.

Tại các thành phố lớn của Mỹ có dân Tàu nhiều, ta thấy có Chinatown. Ngoài ra ta cũng thấy Little Saigon, Little Havana, Little Italy, Little Tokyo, Koreantown, v.v… Tức là khối di dân thường tụ tập sống chung với nhau trong vài khu phố. Lý do hiển nhiên là để có thể liên lạc với nhau, tìm bạn bè thân thuộc, sống trong hương vị quê hương, ăn uống mua sắm sản phẩm quen thuộc,…


Các cộng đồng Hồi giáo trên khắp thế giới cũng vậy, thường tập trung trong vài khu phố rõ rệt, phần lớn là trong vùng ngoại ô các thủ đô hay thành phố lớn.

Hầu hết các khối di dân tìm cách dung hoà nếp sống truyền thống với nếp sống của dân địa phương, đặc biệt là khối di dân thế hệ hai và ba thì đã hoà nhập một cách rất tích cực. Chẳng hạn như ở Mỹ, ta đã thấy không thiếu gì dân biểu, nghị sĩ gốc Cuba, gốc Tầu, Nhật,… Ngay cả trong quân đội, cũng không thiếu gì tướng tá gốc Á Châu, kể cả một ông tướng gốc Việt. Trẻ con gốc Việt, Tàu, Nhật,… không khác gì trẻ con Mỹ trắng hay Mỹ đen, nói tiếng Anh như gió, thuộc làu lịch sử Mỹ, mê hamburger hơn phở mì, líu lo nhạc rap chứ không rên rỉ những bài tình ca của Chế Linh, quần jean, áo t-shirt, mũ baseball,… Mấy cô chắc cả đời chỉ mặc áo dài một hai lần khi đám cưới, hay khi lên sân khấu ca hát quốc ca hay nhạc Việt. Giới trẻ Việt lấy Mỹ là chuyện bình thường.

Làn ranh phân chia với dân bản xứ ở Mỹ hay Âu Châu ngày càng phai nhạt tuy sẽ không bao giờ bị xoá hẳn.

Trong khi đó thì làn ranh chia cắt khối di dân Hồi với dân bản xứ thì trái lại, ngày càng lớn rộng, nhất là tại Âu Châu. Vì dân Hồi không chịu hội nhập.

Mới đây, nhà văn Bruce Bawer đã phát hành một cuốn sách với tựa là “Trong Khi Âu Châu Ngủ” –While Europe Slept-. Trong cuốn sách, ông Bawer tự giới thiệu như là người Mỹ, thành phần bảo thủ về chính trị, nhưng cấp tiến trong các vấn đề xã hội. Là người đồng tính, ông từ bỏ Mỹ, cùng “ông vợ” qua sống tại Amsterdam, bên Hoà Lan, vì cho rằng xứ Hoà Lan tiến bộ, cởi mở, nhất là chấp nhận đồng tính, yêu chuộng hoà bình, dễ sống, không có bắn giết loạn đả như Mỹ, không kỳ thị như dân Mỹ,… Rất nhiều lý do. Toàn là những lý do phản ảnh tư tưởng phóng khoáng cởi mở.


Ông qua Amsterdam. Sau một thời gian, di cư qua Na Uy mà ông cho là còn cởi mở hơn nữa vì tại đây ông được chính thức thành hôn cùng “ông chồng”.

Chẳng bao lâu sau, ông ngã ngửa về lối sống của khối di dân Hồi và quyết định viết sách. Quyển sách của ông, ngoài cái tựa trên, còn được phụ đề thêm “Hồi giáo cực đoan đã phá tan Tây Phương từ bên trong như thế nào” –How Radical Islam Is Destroying the West From Inside.

Kẻ viết xin tóm lược vài điểm chính của ông Bawer để quý độc giả có thể hiểu biết hơn về khối di dân Hồi giáo.

Như đã viết, các khối di dân Hồi tại Âu Châu tuyệt đối không chấp nhận hội nhập, tìm đủ cách sống tách biệt, nếu không muốn nói là tích cực chống lại mọi nếp sống và văn hoá địa phương. Việc không hội nhập đó lại được các chính quyền Tây Phương tích cực khuyến khích nhân danh việc tôn trọng và bảo tồn văn hoá khác biệt, theo đúng thuyết phải đạo chính trị. Ông Bawer nghi ngờ đó chỉ phản ánh tính kỳ thị của dân Tây Âu. Dân Hồi được cho vào sinh sống, nhưng không được nhìn nhận hay chấp nhận như dân địa phương thật.

Không hội nhập cũng được thể hiện qua việc không tham gia các sinh hoạt hay nếp sống và văn hoá, hay chính trị địa phương. Các bà vẫn mặc áo dài đen chùm kín cả người chừa hai con mắt hay cái mặt là tối đa. Vẫn không đi làm nhưng không quên đi xin trợ cấp, không ra đường một mình, lúc nào cũng đi cùng một đám bạn bè hay chị em, hay đi với một người đàn ông, là chồng hay anh em, chú bác gì đó. Lạng quạng vẫn bị chồng đánh, nhẹ thì một bạt tai, nặng thì vô nhà thương, nhưng chính quyền không can thiệp mặc dù có luật bảo vệ phụ nữ đàng hoàng. Những luật này chỉ áp dụng cho dân địa phương mà không được thi hành một cách triệt để đối với dân Hồi vì “tôn trọng văn hoá Hồi”. Một nghiên cứu cho thấy 90% phụ nữ Hồi bị ăn đòn thường xuyên.

Trẻ con chỉ một số nhỏ theo học tại các trường công bình thường. Đa số còn lại được đi học theo hai cách. Một là theo học các trường 100% Hồi giáo, cũng là trường công do Nhà Nước Tây Âu đài thọ, nhưng trong đó, dạy những môn khác, phần lớn liên quan đến tôn giáo, văn hoá và lịch sử Hồi (giống như trường tiểu học Hồi mà anh bé con Barack Obama đã theo học tại Indonesia trong bốn năm từ năm 6 tuổi), ít chú trọng đến những môn khoa học, văn hoá, lịch sử Âu Tây.

Cách thứ hai là nếu gia đình có tiền, thì gửi con về quê nhà, các nước Hồi giáo, cho học nội trú tại các trường giống như các chủng viện Thiên Chúa giáo, thường là bắt đầu từ khi 12-13 tuổi cho đến trưởng thành.

Tất cả trẻ con đều được dạy dỗ ngay từ nhỏ là văn minh Tây Phương và Thiên Chúa giáo là văn minh của ma quỷ, phản đạo, phải triệt để truy diệt. Ngày xưa Tiên Tri Mohammed chủ trương giết hết những kẻ ngoại đạo, bây giờ dĩ nhiên không còn giết ai được nữa, nhưng vẫn còn bổn phận chống đến cùng, dưới đủ mọi hình thức. Đặc biệt là học sinh nam phái, luôn luôn được khuyến khích phải dám dùng bạo lực. Tại các “chủng viện” dành cho nam phái bên Trung Đông, chúng thường được huấn luyện xài súng, xài dao. Để chúng làm quen, không sợ máu, chúng được huấn luyện giết dê giết cừu còn sống bằng dao, cắt cổ, lột da, mổ lấy tim gan, moi ruột, máu me be bét.

Phần lớn con gái ngay từ nhỏ đã phải chịu mổ, cắt một bộ phận nơi âm hộ. Với lý do phụ nữ không thể biết được cảm giác “khoái lạc” để bảo đảm sau này không lăng nhăng. Dĩ nhiên mổ chẳng theo tiêu chuẩn y khoa gì, chẳng thuốc mê, chẳng thuốc khử trùng, nạn nhân đau đớn khủng khiếp đến cả tháng sau cũng ráng chịu, thậm chí bị nhiễm độc nặng, bất đắc dĩ lắm mới cho đi nhà thương.

Những đứa trẻ đó, cho dù là lớn lên bên Tây Âu hay trong các chủng viện bên Trung Đông, đến tuổi lập gia thất thì đều phải lấy người đồng chủng, đồng tôn giáo, một số lớn là họ hàng xa gần với nhau, hay người cùng làng. Thanh niên, thanh nữ mà cặp với dân địa phương thì bị cả nhà sỉ vả, coi như nỗi nhục quốc thể. Sẽ bị bố mẹ và cả họ xúm lại sỉ vả, đánh đập là chuyện bình thường, thậm chí bị chính người thân như anh em, hay chú bác, hay ngay cả ông bố giết chết. Thông thường thì khi khám phá ra có con cặp với dân địa phương, đại gia đình có buổi họp với đầy đủ chú bác, thảo luận biện pháp trừng phạt. Lấy biểu quyết xem phải từ bỏ, hay đánh đòn, hay giết. Điều lạ lùng là đối với những vụ này, người có quan điểm sắt máu nhất thường chính là ông bố.

Đàn bà con gái lỡ ra đường bị hãm hiếp sẽ bị giết vì đã trở thành vết nhơ cho gia đình. Nhà Nước không truy lùng thủ phạm. Nếu thủ phạm bị bắt tại trận, thì chỉ bị phạt vạ tượng trưng.

Hôn nhân tuyệt đại đa số vẫn là do gia đình hai bên dàn xếp mà cô dâu chú rể không có tiếng nói. Cô dâu ngay từ ngày làm đám cưới và đêm động phòng đã là một nô lệ sex của chồng, chồng muốn làm gì thì phải chiều ý. Khiếu nại hay than phiền sẽ bị cả họ nhiếc mắng, kể cả mẹ ruột. Luật pháp Tây Âu không cho có bốn vợ nữa, nhưng nếu ông chồng có vài bà cô đào nhí thì cũng là chuyện bình thường, vợ cấm khiếu nại. Ngược lại, vợ mà dám ra đường một mình hay liếc nhìn một anh nào thì có thể bị đòn hội đồng, cả nhà xúm vào đánh, kể cả bố mẹ và các anh chị em. Bị bắt ngủ với trai sẽ bị ném đá đến chết.

Đối với những tệ nạn bất nhân trên, Tây Âu nhắm một mắt, phần lớn cố tình lờ đi, hay xử phạt rất nhẹ, cũng chỉ vì lý do phải đạo chính trị, tôn trọng văn hoá Hồi, trong khi các lãnh đạo cộng đồng cực lực cổ võ.

Phần lớn là di dân đã qua Tây Âu trước sẽ làm đám cưới với người hôn phối vẫn còn bên quê nhà. Sau đám cưới, người hôn phối qua Tây Âu, được bảo lãnh, mang theo cả đại gia đình, kể cả chú bác, anh chị em họ.


Các cộng đồng Hồi giáo lớn rất nhanh. Vì lý do “nhân đạo”, cởi mở trong tinh thần hoà đồng, di dân được nhận vào Tây Âu rất dễ dàng. Nhưng lý do quan trọng hơn là nạn nhân mãn. Dân Tây Âu ham vui, không chịu đẻ, dân số ngày càng tuột dốc mau lẹ. Các nước Tây Âu rất cần nhân công để nuôi dưỡng kinh tế. Nhất là các đại cường kinh tế Đức, Anh và Pháp, do đó việc nhận di dân rất dễ dàng. Đây cũng là lý do quan trọng khiến Âu Châu đang nhận cả trăm ngàn dân Syria tỵ nạn.

Các cộng đồng Hồi, đại đa số là những dân nghèo từ các tỉnh nhỏ hay làng mạc, ít học, không có tay nghề, mà lại không chịu hội nhập, không đi học nghề để đi làm. Do đó là một gánh nặng vĩ đại cho các nước theo chủ trương xã hội Tây Âu. Tại Đan Mạch, di dân Hồi chỉ khoảng chưa tới 5% tổng dân số, nhưng họ lãnh tới 40% trợ cấp của Nhà Nước.

Trợ cấp là một vấn đề lớn mà Tây Âu đang bối rối, nhất là các nước Bắc Âu, nơi mà trợ cấp rất dễ dãi và rất nhiều. Một gia đình hai vợ chồng và hai con, có thể có trợ cấp xấp xỉ 5.000 đô một tháng dễ dàng. Từ trước đến nay, các chế độ bao cấp này tồn tại được vì dựa trên tinh thần tự trọng và trách nhiệm của người dân. Bình thường, họ rất ngại đi xin trợ cấp và chỉ xin trong tình trạng miễn cưỡng. Bây giờ, đối với khối dân Hồi, lấy trợ cấp là chuyện phải làm, không làm là ngu. Họ tìm đủ cách gian trá để có trợ cấp đủ loại. Họ quan niệm tìm đủ cách kể cả gian lận để lấy tiền của tụi ngoại đạo là chuyện tuyệt đối chính đáng được kinh Kuran khuyến khích. Đám ngoại đạo chưa bị giết hết là may cho chúng lắm rồi.

Những người lãnh đạo cộng đồng Hồi không phải là những chính trị gia kiểu như thị trưởng, hội đồng tỉnh, dân biểu, v.v… Cũng chẳng phải những vị lãnh đạo các hội đoàn như trong cộng đồng Việt chúng ta. Dân số Hồi tại Tây Âu khoảng từ 5% đến 20% dân số quốc gia họ sinh sống, nhưng không có dân biểu, nghị sĩ, hay bộ trưởng, thủ tướng, hay tướng lãnh nào. Không phải di dân Hồi không có người giỏi, mà chỉ vì họ từ chối hội nhập, nhất là trên phương diện chính trị.

Lãnh đạo các cộng đồng Hồi là các giáo sĩ, imams gì đó. Đại đa số rao giảng tôn giáo Hồi trong khi sỉ vả văn minh, văn hoá và tôn giáo Tây Âu. Họ tự cho có trách nhiệm phải bảo vệ văn hoá, văn minh và tôn giáo Hồi, bằng mọi cách chống sa đọa của Âu Châu. Họ toàn quyền tự do sỉ nhục tất cả những gì hay những ai họ chống lại, mà không có chính quyền nào đụng tới, nhân danh tự do tín ngưỡng và tự do ngôn luận. Chẳng có gì lạ khi trong các cộng đồng đó, sinh xôi nẩy nở ra những tên khủng bố máu lạnh nhất vì đã sống và lớn lên trong cái không khí thù hận đó. Chẳng những chống Tây phương không, mà còn quyết tâm không ngại sử dụng bạo lực tàn ác nhất như súng bom để giết người, chẳng cần biết già trẻ lớn bé, vì tất cả dân ngoại đạo đều có tội hết.

Phản ứng của các cộng đồng Hồi đối với các vụ khủng bố tấn công rất ý nghiã. Thế giới có hơn một tỷ dân Hồi, nhưng mỗi khi có khủng bố đánh, chỉ có vài nhúm lẻ tẻ vài chục hay vài trăm người phản đối. Ngược lại, một số không nhỏ biểu tình hoan hô khủng bố, và tuyệt đại đa số im lặng. Sau vụ San Bernardino, một lãnh tụ Hồi tại Los Angeles lên TV, khẳng định khủng bố đánh một phần lớn do lỗi Tây Phương vì đã ủng hộ các chế độ độc tài tại Trung Đông.

Cuốn sách khá dầy và có rất nhiều mẫu chuyện nhỏ phản ánh lối sống trong các cộng đồng Hồi giáo. Ta thấy đây là những ổ nuôi dưỡng tinh thần chống Tây Phương, mặc dù anh chị di dân nào cũng tìm đủ cách chạy qua những vùng đất ngoại đạo đáng phỉ nhổ đó để sống. Tại sao có cái mâu thuẫn đó? Một số không nhỏ qua Tây Âu sống vì lý do sinh kế và an toàn, nhưng một phần lớn được các giáo sĩ khuyến khích như đây là cách chiếm và trừng phạt thế giới, phát huy Hồi giáo mà không cần đến mấy chục sư đoàn lính.

Điều hiển nhiên nhất là muốn chống đỡ có hiệu quả nạn khủng bố, thì phải nhìn ngay vào bên trong những cộng đồng Hồi đó, không cần nhìn xa hơn, không cần nhìn vào khối tỵ nạn đang chờ được chấp nhận vào. Và điều kiện tiên quyết dĩ nhiên là phải nhìn nhận khủng bố hiện nay chính là từ trong khối Hồi giáo cuồng tín, phải dám nói đến danh từ “Hồi giáo”.

Khi một anh thiếu tá quân y Mỹ bắn chết một tá đồng ngũ, miệng la Allahuh Akbar, mà không dám coi đó như là khủng bố Hồi giáo cuồng tín, lại gọi đó là bạo động tại sở làm, thì hiển nhiên, đó là cách vùi đầu dưới cát để trốn tránh sự thật. Một khi chui đầu dưới cát để không nhìn thấy địch thủ thì làm sao đánh địch thủ được? Chưa đánh đã thấy từ bị thương đến chết thôi.

Vụ bắn tại San Bernardino cho thấy ngay cả Mỹ cũng có chính sách cho di dân Hồi vào rất dễ dưới TT Obama. Anh Farook, thủ phạm vụ bắn, qua Ả Rập Saudi làm đám cưới với vợ Malik tháng Bẩy, 2014, ngay sau đó, vợ được theo chồng về Mỹ bằng thông hành Pakistan, tháng Tám làm đám cưới Mỹ tại Los Angeles, tháng Chín bà vợ được cho ở lại Mỹ trong khi chờ đợi thẻ xanh được cấp tháng Bẩy 2015.

Dân tỵ nạn ta chắc sẽ có nhiều người thắc mắc sao dễ dàng như vậy trong khi dân Việt muốn bảo lãnh vợ hay chồng từ VN qua phải mất mấy năm. Có lẽ dưới TT Obama, chính sách di dân với dân Hồi được ưu tiên? Trong 5 năm qua, 680.000 di dân từ các xứ Hồi giáo, đặc biệt là Ai Cập, Iraq, và Pakistan, đã được lặng lẽ cấp thẻ xanh rất mau lẹ, trong khi thiên hạ không biết, chỉ lo tranh cãi về số 10.000 dân tỵ nạn Syria TT Obama muốn cho vào thêm.

Khi bài này được viết thì có tin bà vợ của Farook đã tuyên thệ trung thành với al Baghdadi, lãnh tụ ISIS, buổi sáng trước khi xẩy ra vụ bắn. Có nghĩa là ISIS đã tới Mỹ trái với tất cả những bảo đảm của TT Obama. Việc này sẽ đặt lại vấn đề hữu hiệu của những biện pháp thanh lọc dân tỵ nạn Syria mà TT Obama quảng bá.

Một phản ứng mang nhiều ý nghiã: sau vụ San Bernardino, TT Obama cho biết đây chưa rõ là khủng bố hay bạo động sở làm, trong khi kêu gọi phải siết chặt việc kiểm soát súng. Thưa tổng thống, cặp vợ chồng có hơn một tá “pipe bombs” và một kho đồ nghề làm “EID bombs”, để làm gì, mang vào sở làm đánh ông xếp? Tuyên thệ trung thành với ISIS trước khi đi bắn thiên hạ vẫn chưa là bằng chứng khủng bố? Tổng thống nghĩ cấm bán súng sẽ hết khủng bố sao? EID đâu có được bán ngoài chợ thiếc ở khu phố Tàu đâu, sao chúng vẫn có? Tổng thống cấm hay không cấm súng cũng chẳng có tác dụng gì hết.

Hiển nhiên, TT Obama cần phải rút đầu ra khỏi cát, trực diện vấn đề một cách nghiêm chỉnh hơn, và sáng tạo hơn mới có thể chống được khủng bố. (06-12-15)

Vũ Linh


----------
 Ngụy biện về Hồi Giáo
 


Những lời bào chữa của đạo Hồi rất hay lấy chuyện quá khứ để so sánh hiện tại. Thay vì tranh cãi quá khứ (mà thực chất chưa chắc đúng như những gì họ nói) thì hãy nhìn hiện tại:

1. Những quốc gia theo đạo Hồi đều có 2 xu hướng chính, một thần quyền, hai là độc tài. Chẳng có quốc gia nào dân chủ trọn vẹn, ngay cả quốc gia thế quyền cũng bị các xu hướng đòi Hồi giáo hóa chi phối như Thổ, Indonesia hay Mã Lai.
2. Các quốc gia có thiểu số Hồi giáo đều có xung đột tôn giáo trên quy mô lớn-phong trào ly khai màu sắc tôn giáo, điều không xảy ra ở Hàn Quốc hay Đài Loan dù có lượng Kito giáo đủ lớn bên cạnh Phật giáo và vô thần.
3. Hầu hết các hàn
h vi nhân danh tôn giáo để tiến hành phương pháp khủng bố hiện tại là người Hồi giáo.
4. Thánh địa của đạo Hồi là Saudi Arabia là một trong những lãnh thổ cực đoan, bài ngoại, phát xít nhất, khác xa hoàn toàn với Vatican.
5. Đến Lý Quang Diệu cũng…phải sợ dân Hồi giáo Mã Lai khi từng…lỡ miệng tuyên bố có thể hội nhập mọi sắc dân, tôn giáo trừ…đạo Hồi. Ông ta nói trên nhận định chủ quan hay có số liệu rõ ràng?
6. Dân đạo Hồi đến Tây phương đòi yêu sách thường xuyên, điều hiếm khi thấy ở các cộng
đồng khác với tỉ lệ dân số tương tự.

7. Ta có thể tìm kiếm hàng ngàn video tuyên truyền các chủ thuyết cực đoan, trích dân Qu’ran và Hadith của người Hồi tràn lan trên mạng. Hãy so sánh xem bao nhiên Video của Kito giáo, Ấn giáo hay Phật giáo có màu sắc cực đoan tương tự?
8. Tại sao chỉ có Hồi giáo mới được giới học giả (toàn hàng có cỡ) xếp vào loại khó hòa nhập và dễ mâu thuẫn với nền văn minh Tây phương nhất? Tại sao không phải là Phật Giáo hay Ấn Giáo?
9. Các quốc gia đông dân đạo Hồi là các quốc gia thù ghét người đồng tính, người vô thần, người bất khả tri nhất. Thậm chí còn có những luật lệ khắc khe đòi giết bỏ họ. Cộng đồng các blogger mà dám…chỉ ra cái sai của đạo Hồi là…bị chém chết ở Bangladesh, ở Indonesia… Điều này ta không hề thấy ở các quốc gia có đa số theo Phật giáo hay Kito giáo.
Có quá nhiều vấn đề với xã hội Hồi giáo, với tôn giáo Hồi giáo lẫn người Hồi giáo. Vậy làm sao người khác có thể tin tưởng được họ?
Người viết bài này là người vô thần, chẳng thiên vị bất cứ tôn giáo nào nhưng cũng không phải kẻ mù, điếu, câm mà không nhìn thấy, không nghe thấy đặc biệt không dám nói sự thật.


-Thịnh Thạm
-------------

Bài Xem Nhiều