We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 24 December 2015

BA QUẢ TÁO LỄ GIÁNG SINH



Một bạn giáo lý viên mới mua điện thoại iphone, đến khoe và hỏi tôi: tại sao quả táo trên iphone bị khuyết mất một góc? Tôi lên google tìm câu trả lời và thú vị biết thêm mấy quả táo đặc biệt nữa.

Trong lịch sử nhân loại có ba quả táo nổi tiếng liên quan đến đời sống con người. Đó là quả táo của bà Evà trong trình thuật sách Sáng thế, quả táo của Newton trong định luật vạn vật hấp dẫn và quả táo của hãng Apple qua ứng dụng ipad iphone không ngừng cải tiến.

1. Quả táo Newton
Isaac Newton (1642-1727) là nhà vật lý, toán học nước Anh, người được thế giới tôn là "người sáng lập ra vật lý học cổ điển". Ông đã khám phá ra "Nguyên lý vạn vật hấp dẫn". Đây là nguyên lý cơ sở cho những phát minh vật lý học, cơ học, thiên văn học trong nhiều thế kỷ.

Vào một ngày mùa thu, Newton ngồi trên chiếc ghế trong vườn hoa đọc sách, bỗng nhiên một quả táo từ cây rơi xuống "bịch" một tiếng trúng đầu Newton. Ông xoa đầu, nhìn quả táo chín lăn xuống vũng bùn. Quả táo đã cho ông một gợi ý làm ông nghĩ miên man.Quả táo chín rồi, tại sao lại rơi xuống đất? Tại vì gió thổi chăng? Không phải, khoảng không rộng mênh mông, tại sao lại phải rơi xuống mà không bay lên trời chứ? Như vậy trái đất có cái gì hút nó sao? Mọi vật trên trái đất đều có sức nặng, hòn đá đã ném đi rốt cuộc lại rơi xuống đất, trọng lượng của mọi vật có phải là kết quả của lực hút trái đất không?

Sau này Newton nêu ra: mọi vật trên trái đất đều chịu sức hút của trái đất, mặt trăng cũng chịu sức hút của trái đất, đồng thời trái đất cũng chịu sức hút của mặt trăng; trái đất chịu sức hút của mặt trời, mặt trời đồng thời cũng chịu sức hút của trái đất. Nói một cách khác là vạn vật trong vũ trụ đều có lực hấp dẫn lẫn nhau. Vì có loại lực hấp dẫn này mà mặt trăng mới quay quanh trái đất, trái đất mới quay quanh mặt trời.

Chuyện quả táo rơi xuống đất chứng tỏ trái đất có lực hút quả táo, đương nhiên quả táo cũng có lực hút của trái đất, nhưng lực hút của trái đất đối với quả táo lớn nên quả táo rơi xuống đất. Nếu ta coi mặt trăng là một quả táo khổng lồ, như vậy trái đất cũng có lực hút nó, vậy tại sao nó không rơi xuống mặt đất? Vì mặt trăng là một quả táo lớn, sức hút của trái đất đối với nó không đủ để làm nó rơi xuống đất, chỉ có thể làm nó quay quanh trái đất mà thôi. Đối với mặt trời thì trái đất cũng là một quả táo khổng lồ, nó quay quanh mặt trời.

Vào buổi tối khi nhìn lên bầu trời thấy vô vàn những vì sao đang nhấp nháy, giữa chúng đều có lực hút lẫn nhau. Đây chính là định luật "Vạn vật hấp dẫn" nổi tiếng của Newton.

2. Quả táo Steve Jobs
Apple Inc là tập đoàn công nghệ máy tính của Hoa Kỳ.Theo số liệu khảo sát đầu năm 2013 của IDC, Apple đã trở thành hãng điện thoại lớn thứ nhất thế giới, đứng trước Nokia và Samsung. Hàng của Apple nổi tiếng là đẹp, vừa toát lên vẻ hiện đại, kỹ nghệ cao, vừa tiện dụng. Logo đầu tiên của hãng do Steve and Wayne thiết kế năm 1976 vẽ hình nhà vật lý Isaac Newton ngồi dưới gốc cây táo và có dòng chữ Apple Computer Co quấn quanh.Sau đó, logo đã được thay đổi bởi nhà thiết kế Rob Janoff với một quả táo màu cầu vồng (vì nó có nhiều màu sắc) và bị cắn một bên phải được cho là để kỷ niệm sự kiện khám phá lực hút trái đất và sự tán sắc ánh sáng của Isaac Newton.Qua vài năm, logo Apple xuất hiện với nhiều màu sắc khác nhau và đến giờ thì chỉ sử dụng màu trắng hoặc màu crôm bạc.Theo quan niệm của người phương Tây thì táo tượng trưng cho sức mạnh, sự khám phá và cái đẹp cao quý.Còn về chi tiết quả táo bị cắn mất một miếng phía bên phải cũng có một cách lý giải khác là xuất phát từ một quả táo nguyên vẹn, nhưng Steve Jobs cho là Apple chưa thực sự hoàn hảo, và ông luôn muốn đi tìm kiếm sự hoàn hảo, coi như là một thông điệp để nhắc nhở các nhân viên phải luôn sáng tạo.
3. Quả táo Evà

Sách Sáng Thế kể về công trình sáng tạo tốt đẹp, vũ trụ chào đời, mùa xuân về theo gió, nắng phủ cho rừng lá xanh, muôn hoa xinh tươi vẫy gọi. Thiên Chúa chúc lành trao quyền làm chủ muôn loài cho Nguyên Tổ với một điều kiện duy nhất là phải tuân phục: “Mọi cây trong vườn ngươi đều được ăn. Nhưng cây ‘sự biết tốt xấu’ ngươi không được ăn, vì chưng ngày nào ngươi ăn nó, tất ngươi phải chết” (St 2,16-17).

Ađam, Evà phơi phới trong hạnh phúc mùa xuân địa đàng.Thế rồi một hôm, Evà đi dạo một mình trong vườn Eđen, ngang qua cây biết lành biết dữ. Không may gặp phải Satan quyến rũ. Lời Satan đường mật: Evà, Evà ơi, cô có muốn giữ mãi nhan sắc tuyệt vời này không? hay cô có muốn bằng Đức Chúa Trời không? Evà phản kháng: không dám đâu, không dám đâu, đừng dụ dỗ tôi, Thiên Chúa đã dặn kỹ lắm rồi. Sau một hồi đôi co lý sự, con rắn ngọt ngào: “Chẳng chết chóc gì đâu, Thiên Chúa biết ngày nào người hái quả táo ấy mà ăn mắt các ngươi sẽ mở ra và các ngươi sẽ nên như Thiên Chúa, biết cả tốt xấu” (St 3, 4-5).Người thiếu nữ thấy giấc mơ đẹp như màu hồng của quả táo “nhìn thì đã thấy sướng mắt” (St 3,6). Nàng đã hái. Nàng đã ăn. Nàng chia cho chồng với ước mơ hão huyền là chồng được thông minh như Thiên Chúa.
Còn Ađam thì sao? Một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa tiếng lương tâm và lời nài nỉ của người yêu: ăn đi anh, ăn đi, đây là cơ hội ngàn vàng, cơ hội chúng ta bằng Đức Chúa Trời đó anh; Ađam đừng ăn, nếu ăn sẽ vi phạm luật Chúa truyền, đừng, xin đừng…“Và ông đã ăn” (St 3,6). Lời Thánh Kinh ngắn gọn diễn tả sự yếu đuối, nhu nhược đến sa ngã của Ađam trước cám dỗ quá ư dịu ngọt. Thôi rồi, xong hết cả rồi, còn đâu địa đàng, còn đâu ân nghĩa Thiên Chúa dành cho ngươi, Ađam ơi !

Nguyên Tổ cắn vào quả táo “Mắt họ liền mở ra và họ thấy mình trần truồng nên kết lá vả che thân” (St 3,7). Kể từ đó Địa Đàng đóng ngõ cài then. Xuân Địa Đàng đã thành mùa đông ảm đạm cho trần thế. Kinh Thánh viết về một nổi đớn đau làm sao: “Những gai cùng góc nó sẽ mọc lên cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ lả ngoài đồng nội. Mồ hôi đẫm mặt, ngươi mới có bánh ăn cho đến lúc ngươi về lại với bụi đất” (St 3,18-19).

4. Giáng sinh đất trời giao duyên

Trong ba quả táo đó thì quả táo của bà Evà có tầm vóc và mức độ ảnh hưởng sâu rộng hơn cả, không chỉ ghi dấu trên một thế hệ mà còn “gây hậu quả nghiêm trọng” đến sự tồn vong của cả nhân loại gọi là “Tội Tổ Tông”.

Nhưng cũng từ ngày quả táo Eva nhiễm nộc độc Satan, nhân loại lại được nghe vang lên lời hứa của Thiên Chúa: một người thuộc dòng giống người nữ sẽ đến giải cứu “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà,giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy;dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó" (St 3,15). Một người trong dòng giống người nữ, đó là Đấng Cứu Thế (Gl 4,4). Người nữ ấy chính là Đức Maria (Lc 1,30-33). Thiên Chúa không bỏ rơi con người dưới quyền lực sự dữ.Người hứa sẽ thực hiện cứu độ con người và nhân loại. Niềm tin đó đi liền với niềm hy vọng. Nên từ đó, lời kinh cầu luôn vang vọng qua các thế hệ: “Trời cao hãy đổ sương xuống và ngàn mây hãy mưa Đấng Chuộc Tội. Trời cao hãy đổ sương xuống và ngàn mây hãy mưa Đấng cứu đời”.

Thiên Chúa đã nghe tiếng vọng cầu kinh. Ngài đã sai Con Một của Ngài xuống thế làm người để cứu rỗi nhân loại. Con Thiên Chúa vào đời nối lại tình người với tình thánh, làm nhịp cầu liên kết con người với Thiên Chúa và nối kết con người với nhau. Bởi vậy, Mầu nhiệm Nhập Thể chính là Mầu nhiệm Tình Yêu. Thiên Chúa yêu thương nhân loại nên đã ban chính Con Một của mình đến trần gian làm người để cứu nhân loại khỏi tội lỗi, để đem ơn bình an cho con người.Thánh Luca ghi lại dấu chỉ để nhận ra Tình Yêu Thiên Chúa, đó là “một Hài Nhi bọc tã, nằm trong máng cỏ”.

Trong đêm Đấng Cứu Thế Giáng Sinh, Sứ thần loan báo cho các mục đồng: “Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng sẽ là tin mừng cho toàn dân: Hôm nay, Đấng Cứu Thế đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đavít, Người là Đấng Kitô, là Đức Chúa“ (Lc 2, 11). Khung cảnh thật đơn sơ, thanh bạch, nghèo hèn: “Anh em cứ dấu này mà nhận ra Người: anh em sẽ gặp thấy một trẻ sơ sinh bọc tã, nằm trong máng cỏ” (Lc 2,12). Dấu chỉ quá bình thường, chẳng có gì đặc biệt.

Mẹ Maria và Thánh Giuse vất vả một hành trình xa xôi từ Nadarét về Bêlem để kê khai nhân hộ khẩu.Các quán trọ khinh người nghèo hất hủi. Hài Nhi Giêsu chào đời nơi đồng hoang giá lạnh. Chẳng có ai thân thích. Chỉ có các mục đồng và bò lừa sưởi ấm.

Chẳng có gì kỳ diệu, không có gì ngoại thường, không có gì huy hoàng được trưng dẫn như một dấu chỉ cho những mục đồng.Tất cả những gì họ thấy chỉ là một Hài Nhi bọc tã, một hài nhi như bao hài nhi khác, cần sự chăm sóc của người mẹ; một Hài Nhi sinh ra trong chuồng súc vật, và như thế, không nằm trong nôi nhưng là trong máng cỏ. Dấu chỉ của Thiên Chúa là một hài nhi cần sự trợ giúp và đang sống trong nghèo khó. Chỉ bằng con tim, những mục đồng mới có thể thấy nơi Hài Nhi này sự viên mãn lời hứa của tiên tri Isaia: “Một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai” (Is 9,5).

Dấu chỉ của Thiên Chúa thật là đơn sơ. Đó là một Hài Nhi mới sinh. Dấu chỉ của Thiên Chúa là Ngài trở nên bé nhỏ vì chúng ta. Ngài không đến với quyền lực và một bề ngoài xa hoa. Ngài đến như một hài nhi cần sự giúp đỡ của chúng ta. Ngài không muốn choáng ngợp chúng ta với sức mạnh của Ngài. Vì thế, Ngài đã hóa chính mình thành nhỏ bé. Ngài không muốn điều gì khác nơi chúng ta ngoại trừ tình yêu, qua đó chúng ta phải học biết cách tiếp cận với cảm giác, tư duy và ý chí của Ngài. Chúng ta học biết sống với Ngài và thực hành với Ngài sự khiêm hạ từ bỏ mình là điều tinh túy nhất của tình yêu. Ngài đã hóa thành nhỏ bé để chúng ta có thể hiểu Ngài, chào đón Ngài, và yêu thương Ngài.

Theo Thánh Kinh, biến cố lớn nhất đánh dấu lịch sử nhân loại là Thiên Chúa làm người vì tình yêu. Hài Nhi Giêsu ra đời trong cảnh nghèo hèn chính là một vị Thiên sai. Ngài đã cắt đôi dòng lịch sử loài người thành hai phần: trước công nguyên và sau công nguyên. Em bé ấy không phải là một nhà bác học, không phải là một nhạc sĩ mà chính là Thiên Chúa, là Ngôi Lời vĩnh cửu của Chúa Cha, Đấng cao sang, quyền năng, Đấng sáng tạo vũ trụ, hôm nay đã làm người. Ngài giáng sinh làm người trong thân phận một em bé yếu ớt nằm trong máng cỏ hang lừa chứ không phải trong một cung điện sang trọng lầu son gác tía.

Thiên Chúa làm người trong thân phận một bé thơ yếu ớt nhưng chất chứa một tình yêu lớn lao. Một trẻ thơ sinh ra vào một đêm đông giá rét trong hang đá bò lừa ngoài đồng hoang nghèo hèn. Dưới con mắt người đương thời không những bình thường mà còn tầm thường hơn những trẻ thơ khác. Nhưng sự chào đời của Hài Nhi Giêsu là một niềm vui cao cả, trọng đại, đặc biệt. Một niềm vui khởi điểm cho mọi niềm vui và vượt lên trên mọi niềm vui.

Hài Nhi giáng sinh là một sự kiện đặc biệt của lịch sử nhân loại, là sự “hoàn tất” Lời Hứa của Thiên Chúa, là trung tâm của nhiệm cuộc cứu độ của Thiên Chúa, là đỉnh cao và là chủ đích của Thánh Kinh.

Chính nơi Ngôi Lời Nhập Thể, Thiên Chúa đã hoàn toàn tỏ mình và ban chính mình cho nhân loại. Ngôi Lời Nhập Thể là tuyệt đỉnh thời gian viên mãn đối với Ba Ngôi Thiên Chúa.

Hài Nhi Giêsu đã trở nên một sự tái tạo mới. Tái tạo khởi đi từ tha thứ và yêu thương của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Mầu nhiệm Nhập Thể và mầu nhiệm Cứu Độ làm nên trọng tâm sứ điệp của đức tin Kitô giáo. Từ thế kỷ này đến thế kỷ khác, Giáo Hội công bố niềm tin ấy dọc dài thời gian giữa những thách đố của thế giới. Giáo Hội uỷ thác cho con cái mình như kho tàng quí giá để gìn giữ và chia sẻ cho người khác. Nơi Đức Giêsu Kitô, Đấng sinh ra tại Bêlem, Thiên Chúa nhận lấy thân phận con người để chúng ta có thể đến được với Thiên Chúa và để thiết lập giao ước với loài người và con người giao ước liên đới với nhau.

Giáng Sinh trở thành một đại lễ của nhân loại. Giáng Sinh là ngày hội lớn duy nhất trên trái đất được đón mừng bởi mọi quốc gia, mọi sắc tộc, mọi tầng lớp xã hội. Từ núi cao, trong rừng sâu, xuống đồng bằng, vào thị tứ giàu sang…. Qua đủ mọi hình thức: nhóm vài cây củi trên rừng, thắp ngọn nến đơn sơ trong ngôi nhà thờ bé nhỏ nghèo nàn vùng quê hẻo lánh, hay trăm ngàn ánh đèn muôn màu rực rỡ chốn đô hội văn minh tráng lệ, khắp nơi đón mừng và cùng hát lên tâm tình:“Vinh danh Thiên Chúa trên trời

Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương” (Lc 2,14)

Giáng Sinh, đất trời giao duyên trong hôn phối nhiệm mầu của tình yêu cứu độ.Thiên Chúa làm người, nối nhịp cầu tương giao giữa Thiên Chúa và nhân loại, bắc nhịp cầu nối liền giữa con người với nhau.Thiên Chúa yêu thương con người và muốn mọi người đáp lại bằng lòng yêu mến Ngài và yêu thương nhau. Dấu chỉ của tình yêu nằm nơi sự đơn sơ của tấm khăn bọc Hài Nhi, đó là sự chân tình không lừa lọc giả dối.Dấu chỉ của tình yêu ở nơi sự nghèo hèn của máng cỏ, đó là sự phó thác hoàn toàn nơi Thiên Chúa không cậy dựa vào vật chất thế gian.

Nguyện xin Chúa Giêsu Hài Đồng ban cho mỗi người chan chứa ân sủng và bình an của Tình Yêu Thiên Chúa.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An


----------
 



Nguyện cầu Đêm Giáng Sinh
Christmas Eve Prayers

Lạy Cha Thánh Chúa của con !

Quỳ ở nơi đây với cả tâm hồn,

Ngay trước bàn thờ mang hình Thánh Chúa,

Con thấy như Ngài đang đến gần hơn.

*

Đường đi của Chúa cao cả, sáng ngời,

Rực rỡ, huy hoàng nhưng cũng xa xôi,

Không phải con đường phủ đầy hoa gấm,

Mà đầy gian khổ, tràn ngập khắp nơi.

*

Chúng con quyết tâm một lòng theo Chúa,

Góp công xây dựng, biến đổi tương lai,

Xoá đi cuộc đời còn lắm đớn đau khốn khổ,

Nghèo khó, chiến tranh, tội ác ngập đầy.

*

Đường đi sao nhiều vất vả gian lao !

Chúa đừng bỏ con, con biết ngả nào

Một mình tìm đi theo dường của Chúa,

Lòng con nguyện cầu ân sủng trên cao :

Xin chúa cho con thêm nhiều can đảm,

Lòng tin, kiên nhẫn, sức mạnh mà đi.

Trên thế gian này còn nhiều hỗn loạn,

Hạnh phúc, thương yêu, bao kẻ đâu có biết gì ?

*

Lạy Chúa, Chúa của con ơi !

Tương lai nhân loại ửng sáng lên rồi.

Bóng dáng Thương Yêu, Hòa Bình, Hạnh Phúc

Đến với bình minh nhờ ơn Thánh Chúa,

Chan hòa, rực rỡ nắng ấm đầy vơi…

*

Giáo xứ Chúa Chiên Lành – San Diego


Phạm Ngọc Nhiễm

Cộng đồng Việt trên đất Mỹ để đánh dấu 40 năm tị nạn và hội nhập của người Việt Nam tại Hoa Kỳ.


Nhà xuất bản Người Việt Books vừa cho ra mắt tập sách 700 trang nhan đề Hành trình Cộng đồng Việt trên đất Mỹ để đánh dấu 40 năm tị nạn và hội nhập của người Việt Nam tại Hoa Kỳ. Đây là một tập hợp trên 70 bài viết của nhiều tác giả ghi lại những cảm nghĩ và kinh nghiệm cá nhân trong những hoàn cảnh khác nhau, tử ngày ra đi tị nạn cho đến ngày trở thành công dân của một nước tự do, dân chủ hàng đầu trên thế giới. Như nhận xét của Thị trưởng Tạ Đức Trí của thành phố Westminster, Califorrnia, trong bài Tựa: “Bốn mươi năm về trước, trong những ngày định mệnh tháng Tư 1975, trong cái hỗn loạn của Sái Gòn, giữa những ly tan và mất mát, có lẽ chúng ta khó hình dung được sự phát triển nhanh chóng và lớn mạnh của cộng đồng Việt tại Hoa Kỳ, 40 năm về sau.”  Những câu chuyện cá nhân sống động trong cuốn sách được nhà báo Ngô Nhân Dụng gọi là “ký ức tập thể”, dù chưa đầy đủ, đều là những đóng góp cần thiết cho lịch sử cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ để cho các thế hệ sau này có thể hiểu được nguồn gốc chủng tộc của họ và lý do tại sao có sự hiện diện của người Mỹ gốc Việt bên cạnh những người Mỹ gốc ngoại quốc khác trong một xã hội đa chủng, đa văn hóa như Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

Đã có rất nhiều sách vở, phim ảnh, văn khố, đài kỷ niệm, bia tưởng niệm và nhà bảo tàng lưu giữ những tài liệu và chứng tích của một phong trào tị nạn dài nhất và bi thảm nhất trong lịch sử Việt Nam (gọi tắt là tị nạn 1975) kể cả những công trình biên khảo có giá trị bằng tiếng Việt và tiếng Anh của nhiều tác giả, nhưng dường như vẫn còn thiếu một cuốn lịch sử tổng hợp những sự kiện chính yếu trong cuộc hành trình 20 năm tìm tự do của hơn một triệu người Việt Nam. Đó là những sự kiện nổi bật từ những ngày hoảng loạn cuối tháng Tư, những ngày khổ nhục dưới chế độ cộng sản sau ngày thống nhất, những cuộc vượt thoát nguy hiểm bằng đường biển hay đường bộ, đời sống khổ cực và lo lắng cho tương lai trong các trại cấm ở những quốc gia tạm dung, những ngày định cư đầu tiên đầy bỡ ngỡ cho đến khi trở thành công dân Hoa Kỳ với những trường hợp hội nhập thành công đáng thán phục. Cũng cần phải phân tích và nhận định về chính sách của các quốc gia tạm dung, những chính sách và chương trình định cư tị nạn của Hoa Kỳ, sau hết là những giải pháp quốc tế tại Geneva đưa đến kế hoạch 5 điểm giải quyết toàn diện vấn đề tị nạn Việt Nam. Hai điểm chủ yếu là gia tăng số người tham gia chương trình ra đi trật tự ODP, và thực hiện chương trình thanh lọc tị nạn và hồi hương những người không được xét là tị nạn. Đáng lưu ý là chính sách và vai trò của chính quyền cộng sản Việt Nam từ việc “xuất cảng” người tị nạn đến các chương trình “Ra đi Trật tự” (Orderly Departure Program, ODP) năm 1979 và “Trở về Trật tự” (Orderly Return Program, ORP) năm 1991. Rốt cuộc giải pháp thật sự cho vấn đề tị nạn Việt Nam không hẳn là Kế hoạch Hành động Toàn diện (Comprehensive Plan of Action, CPA) của quốc tế tại Geneva năm 1989 mà chính là giải pháp chính trị, tức là thỏa hiệp bang giao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam năm 1995.


Lịch sử tị nạn 1975 cũng sẽ thiếu sót nếu không nói đến những nỗ lực phi thường của những người Việt tị nạn đã định cư ở nước ngoài, qua các hội đoàn tương trợ, đã hoạt động cứu vớt thuyền nhân và chống nạn hải tặc, thực hiện các chương trình y tế, giáo dục và giúp đỡ pháp lý cho người tị nạn trong các trại tạm trú, những cuộc vận động chính phủ Hoa Kỳ và quốc tế về chính sách và chương trinh tị nạn. Tiếng nói của những công dân Mỹ gốc Việt trong những cuộc vận động trực tiếp với các đại diện Bộ Ngoại giao và Hội đồng An ninh Quốc gia, những buổi điều trần tại quốc hội Hoa Kỳ, hội họp với đại diện Cao ủy Tị nạn LHQ (UNHCR) và chính phủ các nước tạm dung. Tất cả những nỗ lực không mệt mỏi đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến những nhà làm chính sách của Hoa Kỳ và quốc tế, như có thể thấy rõ qua việc người tị nạn tổ chức được hội nghị 15 nước ở Washington DC năm 1988, tham gia vào tiến trình thương thuyết giữa Hoa Kỳ và Việt Nam đưa đến thỏa thuận về chương trình H.O., và đặc biệt là cuộc vận động kiên trì trong ba năm cho sáng kiến định cư “khu vực xám” mà kết quả là chương trình ROVR tức “Cơ hội định cư cho người Việt hồi hương” (Resettlement Opportunities for Vietnamese Returnees) năm 1996. Kinh nghiệm về các chính sách và chương trình định cư cũng như các phương thức giải quyết vấn đề tị nạn Việt Nam đều rất có ích cho những nhà làm chính sách của Hoa Kỳ hiện đang phải đối mặt với tình hình tị nạn trầm trọng tại nhiều nơi trên thế giới.


Trong khi chờ đợi một cuốn lịch sử tị nạn toàn diện như vậy, nhân dịp kỷ niệm 40 năm tị nạn ở Hoa Kỳ, bài này tóm lược một số điểm chính trong lịch sử tị nạn 1975, nhấn mạnh vào chính sách và chương trình tị nạn của chính phủ Mỹ, sự tham gia của người tị nạn đã định cư ở Mỹ vào các hoạt động cứu trợ và bảo vệ thuyền nhân trên biển hay ở các trại tạm trú, vận động Hoa Kỳ và quốc tế chấp thuận định cư người tị nạn, và đóng góp với các nhà làm chính sách về những giải pháp nhân đạo và lâu dài cho vấn đề tị nạn Việt Nam. Dưới đây là bản tóm lược 5 điểm quan trọng cần lưu ý trong lịch sử tị nạn 1975. Những sự kiện được nói đến trong bài này đều lấy từ nguồn tài liệu đã được tác giả lưu giữ để dẫn chứng khi viết sách.


  1. Nguyên nhân tị nạn và những chuyến ra đi đầu tiên


Trong quá khứ, Việt Nam không phải không có những nhóm đi tị nạn chính trị ở nước ngoài. Có hai lý do chính: nguy cơ bị tiêu diệt bởi các đối thủ đang cầm quyền nên phải bỏ nước đến định cư ở một nước khác, như trường hợp các hoàng tử Lý Dương Côn và Lý Long Tường ở cuối triều nhà Lý, cách nhau 76 năm, đã mạo hiểm vượt biển sang tận Triều Tiên; hoặc chỉ lánh nạn tạm thời để chuẩn bị trở về quê hương giành lại chính quyền như Gia Long Nguyễn Phúc Ánh chống Tây Sơn Nguyễn Huệ từ Thái Lan, hay trường hợp Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng chống Đảng Cộng sản Việt Nam từ Trung Quốc. Trường hợp tị nạn của trên một triệu người Việt Nam năm 1975 và nhiều năm sau đó thì phức tạp hơn vì đây là sự ra đi của nhiều thành phần nhân dân với nhiều thái độ và chủ trương chính trị khác nhau, dù cùng có một lý do tị nạn là chống chế độ độc tài cộng sản.


Nói chung, nhân dân Việt Nam ở cả hai miền Nam, Bắc đều hiểu biết ít nhiều về cuộc xung đột ý   thức hệ giữa các đảng phái quốc gia và cộng sản từ trước 1945, và các chính sách cai trị độc đoán và tàn nhẫn của nhà cầm quyền miền Bắc từ 1954, điển hình là chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất và vụ án Nhân Văn Giai Phẩm. Sau 1954 thì dân miền Nam lại chứng kiến những hành động khủng bố của cộng sản nhằm làm suy yếu chế độ Việt Nam Cộng Hòa, kinh hoàng nhất là vụ giết hại tập thể trên 5,000 người ở Huế trong trận Tết Mậu Thân (1968), những cuộc truy kích sát hại 100,000 thường dân trên đường di tản vào các tỉnh phía nam sau khi cộng sản chiếm được Ban-mê-thuột. Ngay sau đó, quân cộng sản lại tấn công ba tỉnh Quảng Trị, Huế và Đà Nẵng khiến số dân bỏ chạy còn đông đảo và hỗn loạn hơn cuộc triệt thoái Cao nguyên. Những trận đánh này, chỉ hai tháng sau khi Hiệp định hòa bình Paris được ký kết vào tháng Giêng 1973 là những bằng chứng vi phạm trắng trợn hiệp định Paris của cộng sản Việt Nam, lợi dụng tình trạng VNCH bị Hoa Kỳ bỏ rơi, không còn viện trợ kinh tế và quân sự. Đó cũng là bằng chứng cho thấy khi cộng sản tới nơi nào thì nhân dân nơi đó phải bỏ chạy. Đến khi VNCH hoàn toàn sụp đổ năm 1975 thì dân chúng miền Nam không chạy kịp phải chịu đựng những chính sách hà khắc và bóc lột tàn nhẫn của một chế độ độc tài toàn trị chưa từng thấy. Chính sách tước đoạt tài sản của người dân qua những biện pháp đánh tư sản, đổi tiền, đẩy dân tới những vùng kinh tế mới, và nhất là giam giữ và hành hạ mấy trăm ngàn quân nhân, công chức, trí thức và văn nghệ sĩ VNCH trong các trại tù được gọi là trại học tập cải tạo, phân biệt và kỳ thị đối với những gia đình bị coi là có tội khiến con em họ không có tương lai vì bị gián đoạn việc học. Đó là những lý do trực tiếp của phong trào tị nạn 1975, bất chấp mọi hiểm nguy của cuộc hành trình. Nhiều đợt người tị nạn đã ra đi ròng rã trong gần 20 năm, ngay cả sau khi quốc tế đã quyết định chấm dứt chương trình tị nạn năm 1989.
Những chuyến ra đi đầu tiên là do chương trình di tản của chính phủ Hoa Kỳ, được Quốc hội chấp thuận con số 200,000 dành cho những người thuộc ba nước Đông Dương có quan hệ với nước Mỹ.  Chuyến di tản đầu tiên ngày 4.4.1975 thuộc chiến dịch nhân đạo Babylift (Bốc Trẻ thơ) chở hơn 300 trẻ mồ côi trên phi cơ vận tải Lockheed C-5A Galaxy, nhưng vừa lên khỏi phi trường thì máy bay bị trục trặc và gặp tai nạn khi đáp xuống khẩn cấp khiến quá nửa số hành khách bị thiệt mạng gồm cả một phần phi hành đoàn và người tháp tùng. Chiến dịch được tiếp tục đến chuyến bay cuối cùng ngày 26.4, tổng cộng chở được khoảng 3,000 trẻ trong đó gần 2/3 được các gia đình Mỹ nhận nuôi và số còn lại được đưa sang Canada, Úc và Âu châu. Chỉ mấy ngày sau chuyến Babylift đầu tiên là bắt đầu cuộc di tản gia đình những người có quan hệ với Hoa Kỳ gồm một số viên chức cao cấp trong chính phủ, một số tướng tá trong quân đội, và những người làm việc hay hợp tác với các cơ quan chính phủ hay tư nhân Hoa Kỳ. Khi đã di tản được khoảng 60,000 người trong đó 55,000 là Việt Nam, chiều 28.4 phi trường Tân Sơn Nhất bị pháo kích, máy bay không thể cất cánh được. Lập tức, một chiến dịch di tản khẩn cấp bằng trực thăng mang tên Frequent Wind (Gió Thường xuyên, có lẽ để tả cánh quạt trực thăng hoạt động không ngừng) được thực hiện trong hai ngày 29 và 30 tháng Tư, chở được khoảng 7,000 người, trong đó gần 6,000 là người Việt. Một trong những người di tản cuối cùng là Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin.


Một trường hợp tị nạn bất thường trong chương trình di tản của Mỹ là việc đón nhận chuyến bay tị nạn của thiếu tá phi công Lý Bửng. Ngày 29.4, phi công Lý Bửng chở vợ và 5 con trên chiếc máy bay “bà già” L-19, bay từ Tân Sơn Nhất tới Phú Quốc để lên tàu hải quân nhưng khi đến nơi thì tàu thuyền đã đi hết nên ông tiếp tục bay ra Biển Đông kiếm tàu Mỹ. Khi nhìn thấy hàng không mẫu hạm USS Midway đang chờ đón các máy bay trực thăng chở người từ Saigon, ông muốn đáp xuống phi đạo trên tàu nhưng máy bay của ông không có radio nên không thể liên lạc được với đài kiểm soát không lưu xin dẹp mấy chiếc trực thăng nằm cản trên phi đạo. Lý Bửng viết mấy chữ lên giấy cho hay có vợ và 5 con xin đáp và tìm cách ném xuống sân tàu nhưng mấy  lần giấy đều bay xuống biển. Cuối cùng, ông nhét lời nhắn vào nòng khẩu súng lục mang theo rồi ném được xuống sân tàu, được thuyền trưởng Larry Chambers cho dọn dẹp phi đạo để phi cơ đáp xuống. Dù máy bay của ông không có trang bị cần thiết để được lưới và móc trên phi đạo hãm bớt tốc lực của máy bay khi đáp xuống, phi công Lý Bửng vẫn có thể hạ cánh an toàn giữa tiếng hò reo của mọi người.


Cũng phải nói thêm là ngày 30.4, trong lúc xe tăng quân đội cộng sản tiến vào Saigon tìm đường đến Dinh Độc Lập thì nhân dân và binh sĩ VNCH đổ xô ra bến Bạch Đằng ở Saigon và nhiều bến cảng khác ở miền Nam để lên hàng trăm tàu, thuyền lớn nhỏ của hải quân và dân sự chạy ra khơi. Con số bỏ chạy này lớn nhất vì chỉ trong một ngày đã có gần 70,000 người, trong đó một số nhỏ được tàu của Hạm đội 7 vớt, còn phần lớn lênh đênh trên biển vài ngày rồi gặp được những tàu tiếp vận của Mỹ cho lên tàu và chở thẳng sang đảo Guam. Như vậy, tổng số người Việt Nam được chính phủ Mỹ chính thức di tản trong suốt tháng Tư và đón nhận trên biển vào ngày 30 tháng Tư lên tới khoảng 130,000. Tất cả số người này đều được đưa từ Guam sang bốn trại tạm trú ở Mỹ làm thủ tục định cư ở các tiểu bang hay ở những quốc gia tiếp nhận khác.


  1. Vượt thoát nguy hiểm và cứu trợ nhân đạo


Chỉ sau mấy tháng sống dưới chế độ cộng sản, những người dân miền Nam không kịp bỏ chạy vào những ngày cuối tháng Tư, hoặc những người ở lại vì nhiều lý do đã thấy rõ chính sách bóc lột và đối xử tàn ác của chính quyền mới mang tên là “Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa.” Họ bắt đầu tìm mọi cách ra đi. Ngay cả một số đảng viên và những người đã bí mật hợp tác hay có thiện cảm với cộng sản, nhất là những thành viên của Mặt trận Giải phóng miền Nam, cũng đều nhận thấy mình bị lừa một cách trắng trợn, và một số đã quyết định bỏ Đảng và chỉ trích chế độ kịch liệt như Bộ trưởng Y tế Dương Quỳnh Hoa hay trở thành thuyền nhân tìm tự do như Bộ trưởng Tư pháp Trương Như Tảng và Giáo sư Tiến sĩ Châu Tâm Luân.   


Người tị nạn ra đi bằng đường bộ hay đường biển. Số người bỏ trốn bằng đường bộ ít hơn, xuyên qua Cam-bốt hay Lào tới Thái Lan. Phần lớn vượt biển tới Hong Kong hoặc các nước Đông Nam Á dưới hình thức đi chui, bán công khai hay công khai. Trừ vài chục ngàn người Hoa giàu có (với một số người Việt làm căn cước giả người Hoa) được chính quyền tổ chức đi công khai trên tàu lớn chứa cả ngàn người, hầu hết thuyền nhân đều vượt biển bằng những tàu, thuyền nhỏ, nhiều khi quá nhỏ và không đủ khả năng đi trên biển. Cả hai ngả đường biển và đường bộ đều vô cùng nguy hiểm. Không biết bao nhiêu “bộ nhân” đã bị lính cộng sản Lào hay Khmer bắt giữ, giết chết, hay mất tích trong rừng sâu. Cũng không biết bao nhiêu “thuyền nhân” đã bỏ mình vì đắm thuyền, đói khát, bệnh tật hay bị hải tặc sát hại.  Hàng chục ngàn trang sách và báo đã được nhiều tác giả Việt Nam và ngoại quốc viết ra để mô tả những hành động cực kỳ man rợ của hải tặc và tình trạng vô cùng bi thảm của các nạn nhân nam nữ đủ mọi lớp tuổi.
Michel Moussalli, Giám đốc Bảo vệ Tị nạn Quốc tế của Liên Hiệp Quốc, trong bản báo cáo ngày 14.11.1983, đã nêu ra một số trường hợp được nhận định là “quá sức tưởng tượng của con người.” Đây là một trường hợp do Moussalli thuật lại theo lời khai của một tên hải tặc bị bắt   trong một cuộc điều tra: “Mười tám người trên một chiếc thuyền nhỏ khi tới Vịnh Thái Lan thì bị hải tặc tấn công. Chúng cướp sạch vàng bạc của mọi người và hãm hiếp phụ nữ. Một cô gái kháng cự bị chúng giết chết sau khi hiếp, một cô gái khác 15 tuổi bị bắt đem đi.  Sau đó, chiếc thuyền chở 16 người còn lại bị tàu của chúng đâm nát và mọi người chết hết trên biển.”  Câu chuyện chỉ vắn tắt mấy dòng nhưng đã có đủ hành động của hải tặc: cướp bóc, hãm hiếp, bắt cóc phụ nữ và giết người. Theo một báo cáo khác của Liên Hiệp Quốc, riêng trong năm 1981 đã có 77%  thuyền tị nạn bị hải tặc tấn công, trung bình mỗi thuyền bị ba lần, có 578 phụ nữ bị hãm hiếp, 228 bị bắt mang đi và 881 người bị chết hay mất tích. Cuốn sách được viết sớm nhất về nạn          hải tặc là cuốn Hải tặc trong Vịnh Thái Lan của Nhật Tiến, Dương Phục và Vũ Thanh Thủy, được xuất bản trong năm 1981. Cuốn này đã được James Banarian dịch sang Anh ngữ.
Trong ba năm đầu, số thuyền nhân còn ít nên khi gặp tàu của các công ty tư nhân họ đều được cứu vớt và đưa tới các nước cho tị nạn tạm trú đầu tiên (first asylum country) gọi tắt là quốc gia tạm dung. Tính đến cuối 1978 có 186 thuyền tị nạn được cứu bởi tàu buôn từ 31 nước khác nhau. Nhưng trong bảy tháng đầu năm 1979, chỉ có 47 thuyền được tiếp cứu dù số thuyền và số người tị nạn tăng lên rất nhiều. Một lý do khác khiến các thuyền trưởng tàu buôn bỏ mặc thuyền tị nạn là vì việc cứu giúp thuyền nhân làm mất rất nhiều thì giờ và tiền bạc của công ty, nhất là khi các nước tạm dung không chịu cho người tị nạn lên bờ. Trong khi đó, số ngư phủ Thái trở thành hải tặc càng ngày càng nhiều hơn vì thuyền nhân Việt Nam đã trở thành mồi ngon cho chúng thỏa mãn thú tính và dễ dàng trở nên giàu có.
Trước tình trạng bi thảm ấy, sau hội nghị quốc tế tại Geneva tháng Bảy 1979, LHQ đã thiết lập  chương trình DISERO (Disembarcation Resettlement Offers) và sau này thêm RASRO (Rescue at Sea Resettlement Offers) với sự đồng ý của 8 quốc gia Tây phương gồm cả Hoa Kỳ là sẽ nhận định cư những thuyền nhân được các tàu buôn mang cờ của những nước không định cư người tị        nạn. Trong năm tháng cuối năm 1979, chương trình DISERO đã giúp định cư được 4,031 thuyền nhân từ 81 chiếc thuyền lâm nạn ở ngoài khơi. Nhiều tổ chức quốc tế của tư nhân cũng tổ chức cứu vớt thuyền nhân, đặc biệt là những con tàu Ile de Lumière, Jean Charcot, Cap Anamur, Rose Schiaffino và Mary Kingstown. Tính đến 1990, tổng số thuyền nhân được cứu trên biển là 67,000 người. Sau khi hội nghị quốc tế Geneva về tị nạn lần 2 (1989) quyết định thi hành Kế hoạch Hành động Toàn diện (Comprehensive Plan of Action, CPA,) số người vượt biển giảm xuống hẳn và các chương trình cứu vớt thuyền nhân đều chấm dứt năm 1990.
Trong các hoạt động cứu vớt thuyền nhân, cần phải nói đến những nỗ lực phi thường của Ủy Ban Báo Nguy Cứu Người Vượt Biển (Boat People SOS Committee, BPSOS,) một tổ chức nhân đạo do Giáo sư Nguyễn Hữu Xương, cựu sĩ quan hải quân Phan Lạc Tiếp và một số nhân sĩ ở San Diego thành lập năm 1980. Trong mấy năm đầu, tổ chức này cung cấp tin tức về thảm trạng của thuyền nhân và kêu gọi quốc tế khẩn cấp cứu trợ, đồng thời trực tiếp giúp đỡ cho những trường hợp khó khăn được đi định cư. Những cuộc vận động thành công đáng kể là giúp được 157 nạn nhân trôi dạt vào đảo Kra ở Thái Lan năm 1980; tranh đấu cho 300 thiếu niên bị cộng sản cưỡng bách đi chiến đấu ở Cam-bốt nhưng bị Thái Lan giam giữ như những “tù nhân chiến tranh” vì tội đào ngũ; 19 thanh niên tị nạn chống bọn hải tặc nhưng bị chúng vu cáo tội giết người và bị an ninh Thái bắt đem ra tòa xử; 700 trẻ em không có người đi kèm bị nhốt riêng chờ ngày hồi hương. Kết quả là tất cả những thanh thiếu niên này đều được chính phủ Thái cho phép chuyển vào các trại tạm cư để làm thủ tục đi các quốc gia đệ tam.
Năm 1985, BPSOS hợp tác với tổ chức Médecins du Monde của Pháp mướn con tàu Jean Charcot tham gia công tác cứu người ở ngoài khơi. Trong vòng hai tháng, tàu Jean Charcot cứu được 520 thuyền nhân, tất cả đều được định cư ở các nước Tây phương. Trong các năm sau, BPSOS tiếp tục hợp tác với các tàu nhân đạo quốc tế: năm 1986, hợp tác với tàu Cap Anamur của Đức cứu được 888 người; năm 1987, hợp tác với tàu Rose Schiaffino cứu 905 người; năm 1988 với tàu Mary Kingstown cứu 494 người. Sang năm 1989, tàu Mary Kingstown chỉ hoạt động được nửa năm, cứu được 259 người, vì hội nghị quốc tế quyết định chấm dứt các hoạt động giúp đỡ tị nạn vào tháng Sáu 1989. Nhờ sự ủng hộ mạnh mẽ của cộng đồng, BPSOS đã có thể giúp đỡ tài chánh cho các con tàu kể trên, đồng thời gửi người tình nguyện đi theo tàu cứu thuyền nhân trong đó có hai nhà báo Vũ Thanh Thủy và Dương Phục cùng một số bác sĩ từ Hoa Kỳ, Pháp và Canada. Năm 1990, do quyết định của quốc tế, các tàu nhân đạo đều ngưng hoạt động nên BPSOS cũng tuyên bố chấm dứt chương trình cứu người vượt biển. Sau đó, BPSOS được chi nhánh ở Virginia tiếp thu để hoạt động tại thủ đô. Chủ tịch mới là nhà thơ Trương Anh Thụy và Giám đốc điều hành là kỹ sư Nguyễn Đình Thắng.
Ngoài BPSOS ở San Diego cũng cần nhắc đến Project Ngọc do một nhóm tình nguyện trẻ tại Đại học UC Irvine thành lập năm 1987. Mục đích của Project Ngọc là thức tỉnh ý thức của các bạn sinh viên về tình trạng tuyệt vọng của những người tị nạn bị kẹt quá lâu ở các trại tạm trú, nhất là nhu cầu giáo dục của trẻ em. Họ quyên góp phẩm vật cứu trợ mang sang các trại và thay phiên nhau tham gia dạy học cho trẻ em ở trong trại. Những năm đầu, Project Ngọc tập trung giúp đỡ người tị nạn ở Hong Kong, về sau cũng có tình nguyện viên làm việc ở các trại bên Thái Lan và Phi-líp-pin. Ngoài các hoạt động xã hội, Project Ngọc còn tìm hiểu các vấn đề của người tị nạn qua những cuộc phỏng vấn được minh chứng bằng hình ảnh, từ đó vận động chính phủ Hong Kong và Cao Ủy Tị nạn LHQ đối xử nhân đạo hơn với người tị nạn. Bản phúc trình của Project Ngọc mang tựa đề The Forgotten People: Vietnamese Refugees in Hong Kong (Những người bị bỏ quên: Tị nạn Việt Nam ở Hong Kong) kèm theo những cuộc biểu tình và vận động ở Hoa Kỳ đã gây được tiếng vang trước dư luận quốc tế.  Project Ngọc ngưng hoạt động năm 1997 khi các trại tị nạn đã hoàn toàn đóng cửa.
Một cá nhân có nhiểu uy tín lâu năm ở Hong Kong đã lặng lẽ hỗ trợ mạnh mẽ cho các tổ chức giúp người tị nạn ở Hong Kong là bà Tuyết Nguyệt Markbreiter, chủ nhiệm tập san nổi tiếng quốc tế Arts of Asia. Bà Tuyết Nguyệt cũng đặc biệt tài trợ cho IRAC xuất bàn cuốn sách In Search of Asylum:Vietnamese Boat People in Hong Kong và thu xếp cho chủ tịch IRAC đích thân gặp Thống đốc Hong Kong Sir David Wilson tháng 12 năm 1988 để tìm hiểu chính sách tị nạn của Hong Kong và đề nghị đối xử nhân đạo với người tị nạn Việt Nam. Cuốn sách 150 trang này là kết quả của hai tuần điều tra tại chỗ các trại tị nạn ở Hong Kong của luật sư Janelle Diller, cố vấn pháp lý của IRAC, với những đề nghị giải quyết thích hợp. Cuốn sách này là một đóng góp quan trọng cho Ủy ban tổ chức Hội nghị quốc tế của LHQ tại Geneva năm 1989 (xem mục 3.c dưới đây). Ngay sau cuộc hội kiến với Thống đốc Hong Kong, bà Tuyết Nguyệt cũng giúp tổ chức cho chủ tịch IRAC một buổi họp báo với các báo chí Anh và Hoa ngữ tại Hong Kong để cập nhật tình hình tị nạn và cuộc vận động với Thống đốc Wilson. Tất cả các báo tham dự đều tường thuật sự kiện này, đặc biệt tờ South China Morning Post đăng đầy đủ chi tiết trên trang nhất với hình ành bản Kiến nghị của trên 200 người tị nạn ký tên bằng máu mà chủ tịch IRAC đã nộp bàn sao cho Thống đốc Wilson.   
Bên cạnh Project Ngọc còn phải kể thêm LAVAS (Legal Assistance for Vietnamese Asylum Seekers) là tổ chức chuyên trợ giúp pháp lý cho tị nạn tạm trú ở Hong Kong và các nước Đông Nam Á. Tổ chức này do luật sư Daniel Wolf cùng một nhóm chuyên gia trẻ người Mỹ gốc Việt thành lập vào đầu thập kỷ 1990 khi những cuộc thanh lọc tị nạn đang tiến hành ráo riết tại các trại và nhiều trường hợp bất công đã xảy ra do người tạm trú làm hồ sơ không đúng cách hoặc do quyết định độc đoán của nhân viên phỏng vấn. (Dan Wolf cũng là người tham gia khai triển sáng kiến “khu vực xám” thành dự án Track II và cuối cùng thành chương trình định cư người hồi hương ROVR sẽ được nói đến dưới đây.) LAVAS được sự hợp tác của nhiều luật sư và tình nguyện viên trẻ người Việt từ các nước Mỹ, Anh, Úc và Canada trong đó có Trịnh Hội từ bên Úc. Một thành tích nổi bật của Dan Wolf và LAVAS là vụ kiện Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã phạm luật khi quyết định không cứu xét các đơn xin đoàn tụ gia đình nộp từ các trại tị nạn mà buộc các đương đơn phải trở về Việt Nam trước khi đơn xin được cứu xét. Và LAVAS đã thắng kiện.  
Cùng với nạn hải tặc, vô số chuyện rùng rợn “quá sức tưởng tượng” trong những hoàn cảnh khác nhau đã được ghi lại, điển hình là cuốn Kể lại hành trình Biển Đông của nhiều tác giả và gần đây nhất là cuốn Thuyền nhân: Nước mắt Biển Đông dịch từ bản tiếng Anh Boat People: Personal Stories from the Vietnamese Exodus 1975-1996 của tác giả Carina Hoàng (xem bài viết của ký giả Hà Giang trong tập Hành trình Cộng đồng Việt trên đất Mỹ.)  Một cuốn phim tài liệu cần được nhắc đến là Bolinao 52 của đạo diễn Nguyễn Đức, một cựu thành viên của Project Ngọc, kể chuyện 110 thuyền nhân lênh đênh trên biển, sau 37 ngày chỉ còn 52 người sống sót. Kinh hoàng nhất là câu chuyện thuyền nhân quá đói có một lần phải ăn thịt trẻ em đã chết. Về thảm trạng của người tị nạn đường bộ, điển hình nhất là Bản Tường trình hơn 70 trang của Kim Hà năm 1981 (được James Banarian dịch sang Anh văn) mô tả chi tiết những trường hợp tị nạn bị cướp bóc, hãm hiếp và giết người của ba loại ác nhân: lính Việt cộng chiếm đóng Cam-bốt, lính du kích Khmer Đỏ đang chống quân Việt cộng, và tàn quân Para của Som San đang chống cả hai quân Khmer Đỏ và Việt cộng. Khi tới được Thái Lan, họ còn phải sống nhiều tháng khổ cực trong trại tị nạn ở biên giới. Tác giả Kim Hà cũng đóng góp một bài hồi ức, Tôi vượt biên bằng đường bộ trong tập sách kỷ niệm 40 năm tị nạn nói trên đây.
  1. Khủng hoảng tị nạn và giải pháp quốc tế


Số người Việt Nam tị nạn đường biển và đường bộ trong năm đầu rất nhỏ, tăng lên gấp bội trong những năm kế tiếp. Từ 377 người vào cuối 1975, số thuyền nhân tới Hong Kong và các nước Đông Nam Á vào cuối 1978 đã lên đến 62,000. Năm 1979, số người ra đi tăng cao nhất, chỉ riêng tháng Sáu đã có thêm 54,000 người.  Nhiều vụ đẩy lui thuyền ra biển đã diễn ra từ tháng Tư và đến cuối tháng Sáu, 5 nước ASEAN ra tuyên bố chung là “đã quá sức chịu đựng nên sẽ không chấp nhận người mới tới nữa.” Tổng Thư ký LHQ phải cấp tốc triệu tập hội nghị quốc tế để tìm giải pháp cho cuộc khủng hoảng về tị nạn tạm trú.


  1. Hội nghị quốc tế về tị nạn Đông Dương 1979  


Vấn đề quan tâm chính của Hội nghị Quốc tế về Tị nạn Đông Dương 1979 là cuộc khủng hoảng về tạm trú của tị nạn Việt Nam do quyết định của 5 nước Đông Nam Á không nhận thêm tị nạn tạm trú và họ đã đẩy thuyền nhân ra biển. Hôi nghị họp tại Geneva ngày 20-21 tháng Bảy, 1979 với 65 quốc gia tham dự. Giải pháp được chấp thuận dựa trên nguyên tắc quid pro quo (có đi có lại) giữa các nước tạm dung và các nước định cư, tức là bên này nhận cho tị nạn tạm trú thì bên kia phải cho họ đi định cư. Cao Ủy Tị nạn Liên Hiệp Quốc (UN High Commissioner for Refugees, UNHCR) đóng vai trò trung gian, điều hòa con số mới tới và con số ra đi. Ngoài ra, để giảm bớt những chuyến đi chui nguy hiểm, UNHCR đã thuyết phục được Việt Nam chấp thuận chương trình “Ra Đi Trật Tự” (Orderly Departure Program, ODP) từ hai tháng trước. Nhờ quyết định của Hoa Kỳ và các nước phương Tây gia tăng số người đi định cư và thái độ hợp tác của Việt Nam ngăn chặn số người ra đi bất hợp pháp và xúc tiến mau chóng chương trình ODP, các nước tạm dung mới đồng ý tiếp tục cho tị nạn tạm trú.


Giải pháp quid pro quo có kết quả tốt nhưng đến năm thứ tư thì Hoa Kỳ và các nước định cư tỏ ra mất kiên nhẫn khi phải tiếp tục giữ mức thâu nhận cao hơn số người tới các nước tạm dung. Thượng Nghị sĩ Alan K. Simpson, chủ tịch Tiểu ban Di dân và Tị nạn, tuyên bố nước Mỹ đã “mệt mỏi tình thương” (compassion fatigue) và năm 1985 đòi sửa đổi luật tị nạn để chỉ nhận những người có quan hệ hợp tác với Hoa Kỳ và bị ngược đãi vì sự hợp tác đó. Ngoài ra chỉ những người có thân nhân ở Mỹ mới được nhận và đều phải qua các thủ tục di dân thông thường. Số người được các nước Tây phương nhận cho định cư cũng giảm dần. Vào giữa năm 1987, số thuyền nhân tới các nước tạm dung bất ngờ lại gia tăng, kể cả số ra đi từ các tỉnh miền Bắc tới Hong Kong, gây nên một cuộc khủng hoảng tạm trú lần thứ hai. Thái Lan và Malaysia lại cấm người tị nạn và đẩy thuyền ra biển. Ngày 15 tháng Sáu 1988, Hong Kong tuyên bố thi hành chính sách thanh lọc tị nạn (refugee screening) đối với những người tới sau 12 giờ đêm hôm đó.


  1. Hội nghị quốc tế không chính thức 1988


Ngoài 10 năm tham gia cứu người vượt biển của BPSOS ở San Diego, Califorrnia, còn một số nỗ lực đáng kể khác của những người tị nạn từ ba nước Đông Dương định cư ở Hoa Kỳ đã trở thành công dân Mỹ. Tháng Hai 1987, một phái đoàn 5 người (3 Việt, 1 Cam-bốt, 1 Lào) của Trung tâm Tác Vụ Đông Dương (Indochina Resource Action Center, IRAC)—sau đổi tên là Trung Tâm Tác Vụ Đông Nam Á (Southeast Asia Resource Action Center, SEARAC)—thực hiện một chuyến đi khảo sát tình hình các trại tị nạn ở Hong Kong và các nước Đông Nam Á. Nhờ sự ủng hộ của Quốc Hội, phái đoàn được Bộ Ngoại Giao Mỹ và UNHCR thu xếp với chính phủ các nước tạm dung, kết quả là “phái đoàn tị nạn” được ban giám đốc các trại tiếp đón, thuyết trình và hướng dẫn đi thăm trại. Phái đoàn được tự do quan sát và trực tiếp thăm hỏi người tị nạn. Trở về Mỹ, phái đoàn mở một cuộc họp báo ngày 2 tháng Ba tại Thượng Viện trình bày tình hình bi đát ở các trại tị nạn về cả ba mặt an ninh, cứu trợ và thủ tục định cư. Trước ngày phái đoàn tới Thái Lan, một người tị nạn Việt Nam đã treo cổ tự tử. Phái đoàn đề nghị những biện pháp cải thiện khẩn cấp đời sống trong trại và nhấn mạnh sự cần thiết phải có một hội nghị quốc tế để giải quyết tận gốc tình trạng khủng hoảng trầm trọng về tị nạn ở các nước tạm trú. Don Oberdorfer, nguyên đặc phái viên ngoại giao tại Việt Nam của tờ The Washington Post, giáo sư Đại học Johns Hopkins và tác giả cuốn Tet: The Turning Point in the Vietnam War, viết bài tường thuật cuộc họp báo của phái đoàn IRAC, nhấn mạnh lời tuyên bố của chủ tịch IRAC: “Trong nhiều năm qua, chúng tôi (người tị nạn) đã bị coi là vấn đề. Ngày nay, chúng tôi nhất quyết là một phần của giải pháp.”     


Sau cuộc họp báo tại Quốc hội, IRAC làm kế hoạch tổ chức một hội nghị quốc tế không chính thức tại thủ đô Hoa Kỳ, nhằm tìm cách giải quyết cuộc khủng hoảng về tị nạn tạm trú. Hội nghị này diễn ra tại khách sạn Mariott Key Bridge từ 6 đến 8 tháng Sáu 1988, với sự tham gia của đại diện LHQ và 15 quốc gia tạm dung và quốc gia định cư. Đặc biệt có đại diện của Cộng hòa Nhân dân Trung Quốc là Sứ thần Tiền Vĩnh Niệm (Qian Yongnian.)  Sứ thần họ Tiền cho hay có 260,000 người Hoa bị Việt Nam đẩy về Trung Quốc trước và sau cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung. Họ không những được nhận vào trại tạm trú mà còn được Trung Quốc giúp cho định cư. Ông không quên mượn diễn đàn hội nghị để tố cáo Hà Nội có chính sách bành trướng và hành động xâm lược Cam-bốt. (Nếu Tiền Vĩnh Niệm còn làm việc, ông sẽ nói sao về “chính sách bành trướng và hành động xâm lược” của Trung Quốc đối với Việt Nam ngày nay?) Đáng chú ý nữa là Đại Sứ quán Nga Xô-viết cũng đòi tham dự hội nghị nhưng vì Nga không có tị nạn Việt Nam nên chỉ được mời với tư cách quan sát viên. Một điều mà cộng đồng người Việt có thể tự hào là hội nghị Washington 1988 là hội nghị quốc tế đầu tiên ở nước Mỹ do người tị nạn tổ chức với sự tham gia của hầu hết các quốc gia tạm dung và quốc gia định cư. Tất cả chi phí cho hội nghị hoàn toàn do sự đóng góp của các cá nhân và tổ chức tị nạn, không kể công lao và thì giờ của trên một trăm người tình nguyện trong hơn một năm chuẩn bị. Tổ chức ủng hộ đầu tiên và đóng góp nhiều nhất là BPSOS ở San Diego do GS Nguyễn Hữu Xương làm chủ tịch.


Để có uy tín với quốc tế, IRAC thành lập một Hội đồng Cố vấn Danh dự cho Hội nghị gồm 40 dân biểu và nghị sĩ có liên quan đến chính sách di dân và tị nạn cùng một số nhân vật nổi tiếng về quyền tị nạn như Leo Cherne, nhà sáng lập International Rescue Committee (IRC), tổ chức cứu người tị nạn lớn nhất thế giới; Liv Ullmann, nữ diễn viên điện ảnh khi đó đang làm Đại sứ lưu động của LHQ; Elie Wiesel, tác giả sống sót của holocaust được giải Nobel về hòa bình năm 1986.  Liv Ullmann thâu video một thông điệp chiếu trên màn ảnh tại hội nghị kêu gọi các quốc gia tiếp tục cứu giúp và đối xử nhân đạo đối với người tị nạn. Elie Wiesel phát biểu một câu rất đáng ghi nhớ: “Khi xảy ra khủng hoảng, khi con người gặp thảm họa, im lặng là đồng lõa, trung lập là tội ác.”


Mục đích của hội nghị Washington 1988 là duyệt xét tình trạng khủng hoảng về tị nạn tạm trú và những biện pháp đang được các nước tạm dung chuẩn bị thi hành như thanh lọc và hồi hương tị nạn. Hơn 300 đại diện cộng đồng tị nạn Việt, Cam-bốt và Lào từ các tiểu bang và đại diện các tổ chức nhân quyền quốc tế tham gia thảo luận và đưa ra các đề nghị trên cơ sở Công ước LHQ năm 1951 liên quan đến qui chế tị nạn. Cuối cùng, các tham dự viên tại hội nghị kêu gọi lãnh đạo các quốc gia hội họp một lần nữa tại Geneva để tìm giải pháp nhân đạo và lâu dài cho vấn đề tị nạn Đông Dương. Như vậy, hội nghị 15 nước tại Washington, DC năm 1988 đã dọn đường cho hội nghị quốc tế về tị nạn Đông Dương lần thứ hai tại Geneva năm 1989.


  1. Hội nghị quốc tế về Tị nạn Đông Dương 1989


Dù vẫn mang tên là Hội nghị quốc tế về Tị nạn Đông Dương, hội nghị Geneva lần thứ hai (1989) không đề cập vấn đề người tị nạn Cam-bốt vì vấn đề này được gắn liền với những nỗ lực của LHQ và một số nước liên quan từ 1981 nhằm tìm giải pháp cho tình hình chính trị Cam-bốt. Kết quả là Việt Nam rút quân năm 1989 và 18 quốc gia họp tại Paris tìm giải pháp toàn diện nhưng phải hai năm sau quốc tế mới giải quyết xong vấn đề Cam-bốt. Vấn đề tị nạn Lào chỉ liên quan đến Thái Lan, vì vậy được hội nghị Geneva 1989 giải quyết chung với vấn đề tị nạn Việt Nam.


Trong suốt thời gian UNHCR chuẩn bị hội nghị từ 1988, IRAC thường xuyên liên lạc và góp ý với ban tổ chức tại Geneva, cuối cùng đã đúc kết các đề nghị trong một bản Tuyên bố 25 trang nhan đề Towards Humane and Durable Solutions to the Indochinese Refugee Problem với danh sách tham gia của 160 hội đoàn tị nạn Đông Dương ở Bắc Mỹ và Âu châu để gửi cho các phái đoàn tham dự hội nghị. Sergio Vieira de Mello, Chủ tịch Ủy ban Chỉ đạo Hội nghị, viết thư cho chủ tịch IRAC nhìn nhận “bản tuyên bố này được soạn thảo rất công phu và hữu ích cho công việc chuẩn bị hội nghị, chú trọng vào nhiều lãnh vực then chốt được UNHCR đặc biệt quan tâm và nỗ lực bảo vệ quyền của người tạm trú và của người tị nạn trong Kế hoạch Hành động Toàn diện.” (Sau này Sergio V. de MeIlo lên đến chức Cao Ủy LHQ về Nhân quyền, bị quân khủng bố Al Qaida đặt bom ám sát chết năm 2003 khi đang là Đại diện Đặc biệt của Tổng Thư ký LHQ công tác ngắn hạn tại Iraq.) Ngoài bản Tuyên bố của 160 hội đoàn tị nạn, chủ tịch IRAC còn phổ biến tại hội nghị quốc tế Geneva một thông cáo báo chí với tựa đề The Voice of Refugees at the International Conference (Tiếng nói của người tị nạn tại hội nghị quốc tế.) Ông cũng được đài truyền hình của BBC London phỏng vấn tại trụ sở của LHQ trong ngày đầu hội nghị.


Hội nghị Geneva họp trong hai ngày 13-14 tháng Sáu 1989 với sự tham dự của 70 quốc gia. Quyết định chung của quốc tế là chấm dứt vấn đề tị nạn Việt Nam và Lào bằng Kế hoạch Hành động Toàn diện (Comprehensive Plan of Action, CPA.) Kế hoạch này được công bố là “giải pháp nhân đạo và lâu dài” cho vấn đề tị nạn Đông Dương, gồm 5 điểm chính là: (1) giảm bớt số người đi chui bằng cách ngăn cấm tổ chức những chuyến đi bán chính thức trong khi gia tăng số người đi theo chương trình ODP; (2) các nước tạm dung tiếp tục nhận tị nạn tạm trú cho đến khi việc cứu xét qui chế tị nạn cho mọi người được hoàn tất; (3) cưu xét qui chế tị nạn cho tất cả những người tạm trú theo tiêu chuẩn quốc tế; (4) định cư tại các nước thứ ba những người đã được xác nhận là tị nạn cũng như những người đã tới trại trước ngày hạn định; và (5) hồi hương những người không được nhìn nhận là tị nạn và giúp họ tái hòa nhập vào đất nước của họ.


Mặc dù kế hoạch CPA được coi là giải pháp nhân đạo và lâu dài, việc thi hành kế hoạch ấy, nhất là điểm số 3 và số 5, có nhiều trường hợp bất công và vô nhân đạo.  Điểm số 3, “thanh lọc tị nạn” (refugee screening,) có vấn đề là nhiều người tị nạn đúng với tiêu chuẩn quốc tế nhưng bị người phỏng vấn loại bỏ vì không có đủ giấy tờ chứng minh trong lúc bỏ chạy, như căn cước, thẻ quân ngũ, khai sinh, hôn thú, hay lời khai về lý do tị nạn bị hiểu lầm hay dịch sai. Có một số trường hợp người tị nạn bị nhân viên UNHCR sách nhiễu về tiền bạc hay tình dục đã bị IRAC tố cáo với Sergio V. de Mello và được ông xác nhận khi thanh tra trại tạm trú ở Nam Dương và lập tức trừng phạt nhân viên phạm tội. Điểm số 5 về vấn đề hồi hương những người “rớt thanh lọc” thì có thể nói là thất bại vì rất ít người chịu hồi hương tình nguyện, dù được UNHCR trợ cấp tiền mặt cho mỗi đầu người là US $360. Nhiều cuộc bạo loạn đã xảy ra nhưng rốt cuộc, vì các trại tạm trú đều lần lượt đóng cửa (trừ Phi-lip-pin), tất cả những người rớt thanh lọc đều phải trở về Việt Nam, theo một chương trình được gọi là “Trở về trong Trật tự” (Orderly Return Program, ORP) mà đối tượng là “những người không tình nguyện nhưng cũng không chống đối hồi hương.” Chương trình ORP do các nước tạm dung thực hiện với sự đài thọ của UNHCR về chi phí chuyên chở nhưng không tham gia vào hành động cưỡng bách người tị nạn. Tổng số người Việt hồi hương do UNHCR phối trí và giúp tái hòa nhập là 110,000 người.


Kế hoạch CPA được dự liệu hoàn tất trong ba năm nhưng phải mất sáu năm, tức cho đến khi Hoa Kỳ và Việt Nam thiết lập quan hệ bình thường năm 1995 CPA mới thật sự chấm dứt. Đây cũng là một xảo thuật của Việt Nam dùng người tị nạn để thúc đẩy Hoa Kỳ bãi bỏ cấm vận (1994) và bình thường hóa quan hệ với Việt Nam (1995). Chính trong thời gian này mà IRAC nhận thấy cần vận động cho một “chuyến tàu vét” tập trung vào những người đích thực là tị nạn (bona fide refugees) đáng lẽ được chấp thuận cho định cư nhưng lại bị đánh rớt oan trong cuộc phỏng vấn thanh lọc. Việc xét lại cho định cư những trường hợp oan uổng này—được gọi là Khu Vực Xám (Grey area)—sẽ giúp giải quyết được tình trạng bế tắc của chương trình hồi hương tị nạn một cách công bằng và nhân đạo. Sáng kiến “khu vực xám” lần đầu tiên được chủ tịch IRAC đưa ra trong một buổi hội thảo về Kế hoạch CPA do sinh viên Đại học Stanford, California, tổ chức ngày 14 tháng 9, 1990, sau đó được thuyết trình tại Hội nghị đánh giá kết quả của kế hoạch CPA được tổ chức tại Đại học Ateneo de Manila vào tháng Mười 1992. Nhưng cuộc vận động chưa thể thực hiện vì IRAC cần phải theo dõi chương trình Trở về trong trật tự ORP và thu thập đầy đủ dữ kiện về những thành phần thuộc “khu vục xám” bị hồi hương.


Mãi đến tháng Ba 1993, IRAC mới chính thức trình bày đề nghị định cư “khu vực xám” trong cuộc Hội thảo Bàn tròn Quốc tế Refugees: A Challenge to Solidarity do Phái bộ Tòa Thánh Vatican tổ chức tại trụ sở LHQ ở New York. Đề nghị này được InterAction, một liên minh của trên 150 tổ chức thiện chí bất vụ lợi của Hoa Kỳ, ủng hộ và thành lập một Ủy ban Đặc nhiệm về CPA (Interaction CPA Task Force) với hai đồng chủ tịch cầm đầu hai tổ chức IRAC và RI (Refugees International.) Ủy ban này đã khai triển sáng kiến “khu vực xám” thành một dự án lấy tên là Track II (đường số 2, song song với đường số 1 là Refugee Screening) dành cho những người đã bị thanh lọc oan.


Cuộc vận động của InterAction CPA Task Force cho dự án Track II rất vất vả vì các nước tạm dung và các nước định cư đều chống đối, coi dự án này như một trở ngại cho chương trình Trở về trong Trật tự ORP. Đến khi dự án được Hoa Kỳ chấp thuận thì Việt Nam lại phản đối với lý do là việc đưa những người đã hồi hương sang Hoa Kỳ định cư sẽ làm cho Việt Nam bị mang tiếng là đã ngược đãi những người này. Cuối cùng, Việt Nam cũng chấp thuận chương trình Track II dưới một tên mới là Resettlement Opportunities for Vietnamese Returnees (Cơ hội định cư cho những người Việt hồi hương,) thường được gọi tắt là ROVR. Ngày 30.4.1996, chương trình ROVR được thông báo cho những người đã trở về Việt Nam hay đã ghi danh tình nguyện hồi hương để họ có thể nộp đơn trễ nhất là 30 tháng Sáu 1996. Tổng cộng có gần 9,000 đơn đã nhận được kịp thời hạn. ROVR là chương trình định cư thành công nhất với tỉ lệ trung bình trên 80 phần trăm được chấp thuận cùng với những người trong gia đình. Một số người chống đối sáng kiến “Khu vực Xám” của IRAC nay cũng nhìn nhận thành quả tốt đẹp này. Kế hoạch quốc tế CPA được chấm dứt ngày 30.6.1966 nhưng việc định cư tại Hoa Kỳ theo các chương trình ODP, HO và ROVR được tiếp tục cho đến những năm đầu của thế kỷ 21. Gần đây, còn có tu chính án của Thượng nghị sĩ John McCain triển hạn chương trình định cư nhân đạo (HR) tập trung vào con cái đã trưởng thành của những người đã sang Hoa Kỳ theo diện HO. Trước đó con cái họ nếu trên 21 tuổi thì không được theo cha mẹ sang Hoa Kỳ, nhưng theo tu chính án McCain, những người con này dù trên 21 tuổi nhưng chưa có gia đình sẽ được chấp thuận cho đoàn tụ với cha mẹ.


  1. Số người tị nạn và chương trình định cư của Hoa Kỳ


Ngoài 130,000 người ra đi trước và trong ngày cuối cùng của tháng Tư 1975 được đương nhiên đưa thẳng sang Hoa Kỳ, những người thoát khỏi Việt Nam sau 30.4. 1975 đều tới các quốc gia tạm dung, gồm có: Hong Kong, Indonesia, Japan, Korea, Macau, Malaysia, Philippines, Singapore, Thailand, không kể  vài nước khác chỉ có từ vài chục đến vài ba trăm người tị nạn, như Brunei và Israel. Số người đến đông nhất là Hong Kong và 5 nước ASEAN, được chia làm bốn đợt từ 1975 đến 1995, gồm cả thuyền nhân và bộ nhân, được Cao ủy Tị nạn LHQ (UNHCR) tổng kết như sau:
Đợt I   (1975-1979) 311,426 thuyền nhân, 14,666 bộ nhân       Tổng cộng:  326,092
Đợt II  (1980-1984)     241,995 11,117     253,112
Đợt III (1985-1989)     186,498 10,467     196,965
Đợt IV (1990-1995)   56,391   6,668       63,059
   Tổng cộng 4 đợt 796,310 42,918     839,228    
Ngoài số tị nạn tới được các nước tạm dung và số người may mắn đi trước trong tháng Tư 1975 còn phải kể thêm số người phải thiệt mạng vì nhiều lý do hay bị lính biên phòng hay hải tặc bắt đi trên đường vượt thoát. Số người này không thể biết đích xác là bao nhiêu nhưng nhiều nhất là trong những năm 1980. Các chuyên gia tị nạn của LHQ và các quan sát viên quốc tế khác đã có nhiều ước tính rất xa nhau, từ 10% đến 70%, tùy theo mùa, thời tiết và đường đi. Tỉ lệ trung bình dè dặt nhất là 20% trên tổng số người ra đi sau tháng Tư 1975. Như vậy, nếu 80% tới các nước tạm dung được tính tròn là 840,000 thì tổng số ra đi (100%) là 1,050,000, và 20% trên tổng số này bị chết và mất tích là 210,000. Ngoài ra, phải tính thêm 260,000 người Việt gốc Hoa (cũng gọi là người Hoa) ở miền Bắc bị đẩy về Trung Quốc trước và sau cuộc chiến biên giới đầu năm 1979. Cộng tất cả những con số trên đây (130,000 được đưa thẳng sang Mỹ trong tháng Tư 1975; 840,000 tới các nước tạm dung; 210,000 chết hay mất tích; 260,000 bị đẩy về Trung Quốc,) tổng số người trốn khỏi chế độ cộng sản Việt Nam từ 1975 đến 1995 là 1,440,000 người.  Một kết quả hiển nhiên của gần một triệu rưỡi người phải bỏ nước ra đi là họ đã làm cho nhiều quan chức cộng sản trong chính quyền trung ương và địa phương trở nên rất giàu có do tài sản của họ để lại bị tịch thu, nhất là các cơ sở kinh doanh của người Hoa ở cả hai miền Nam, Bắc. Họ còn bị lột thêm một lần nữa khi phải nộp vàng và tiền trong những chuyến đi chui, mua bãi đi bán công khai hay khi được nhà chức trách Việt Nam tổ chức cho hàng ngàn người đi công khai trên những chiếc tàu lớn, liên tiếp trong những tháng cuối năm 1978, như tàu Southern Cross chở 1,252 người tới Nam Dương (tháng Chín,) tàu Hải Hồng chở 2.500 người đi Mã Lai (tháng Mười,) tàu Tung An chở 2,300 sang Phi-lip-pin (tháng Mười hai,) và tàu Huey Fong chở 3,300 người tới Hong Kong, cũng trong tháng Mười hai năm 1978.


Chính sách của Hoa Kỳ và các quốc gia Tây phương chấp nhận cho tị nạn từ các nước tạm dung tới định cư tương đối rộng rãi, không chỉ trong khoảng ba năm đầu khi số người ra đi còn ít mà còn cố gắng hơn nữa để giải quyết cuộc khủng hoảng tị nạn tạm trú, như đã thấy trong hội nghị quốc tế Geneva năm 1979. Cho đến giữa thập kỷ 1980 các nước định cư mới thật sự mất kiên nhẫn và “mệt mỏi tình thương” để phải cùng các nước tạm dung tìm cách chấm dứt chương trình tị nạn Việt Nam bằng Kế hoạch CPA.   


Hoa Kỳ là quốc gia nhận tị nạn định cư nhiều nhất và có nhiều chương trình nhất: trẻ mồ côi trong chiến dịch “babylift”; chương trình ODP gồm có đoàn tụ gia đình, trẻ con lai, trẻ em không người đi kèm, cựu nhân viên sở Mỹ; chương trình cựu tù nhân chính trị H.O và chương trình “khu vực xám” ROVR.  Điều đó cho thấy Hoa Kỳ có chính sách đặc biệt đối với tị nạn Việt Nam như một sự đền bù lỗi lầm đã bỏ rơi đồng minh VNCH trong cuộc chiến chống cộng. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là Hoa Kỳ không hạn chế số tị nạn được thâu nhận và không cắt giảm ngân sách định cư đối với tị nạn Việt Nam. Các hội đoàn tị nạn và tổ chức thiện nguyện Hoa kỳ đã phải rất vất vả trong những nỗ lực vận động chính phủ và Quốc hội Hoa Kỳ duy trì mức thâu nhận mỗi năm số tị nạn từ các trại tạm trú ở Hong Kong và Đông N

Bách hại Kitô hữu tại Á Châu


Các biến cố gần đây ở Trung Đông làm nhiều người không lưu ý tới hoàn cảnh bách hại bi đát của các Kitô hữu Á Châu nói chung, nhất là tại hai quốc gia đông dân nhất thế giới là Ấn Độ và Trung Quốc.




Tại Ấn Độ


Vụ tàn sát Kitô hữu ở quận Kandhamal, phía đông Ấn Độ, dù xẩy ra năm 2008, vẫn còn in những nét rất đậm trong ký ức ta vì tính man rợ khủng khiếp của nó. Theo ký giả John L. Allen Jr., cho tới nay, bà quả phụ Kanaka Rekha Nayak vẫn chưa có thể kể lại những điều xẩy ra cho chồng bà, Parikhit, mà nước mắt không giàn giụa.

Vì bị hiểu lầm là sát hại một nhà lãnh đạo Ấn Giáo, cả cộng đồng Kitô Giáo trong quận bị trở thành đích nhắm để người Ấn Giáo cực đoan trả thù. Gia đình Nayak vì thế trốn vào cánh rừng bên cạnh, nhưng hai ngày sau, bị bọn cực đoan Ấn Giáo phát hiện. Họ đánh đập Parikhit, lấy sợ dây xích xe đạp quàng vào cổ ông rồi lôi ông về thị trấn cách đó cả hơn một dặm.

Tại công trường thị trấn, họ buộc ông phải từ bỏ đức tin Kitô Giáo và theo Ấn Giáo. Nhà truyền đạo Baptist tự phong này từ khước, nên bị đánh bầm dập và bị thiêu sống. Chưa hả giận, bọn người man rợ còn cắt bộ phận sinh dục của ông, moi ruột ông ra, quàng vào cổ, thích thú coi như chiến lợi phẩm.

Bà Kanaka Nayak thuật lại “Họ xẻ chồng tôi ra từng mảnh ngay trước mặt tôi, rồi đổ dầu hỏa lên và thiêu sống anh ấy”.

Đám đông, sau đó, quay qua chính Kanaka với ý định hãm hiếp bà, nhưng bà chạy thoát vào rừng và ngày hôm sau tới một trại tị nạn gọi là Raika, một trong các trại được thiết lập trong vùng trong những tháng đầy bất ổn này, những tháng đã để lại 100 người chết, 300 nhà thờ và 6,000 nhà cửa bị phá hủy, và 50,000 người tản cư.

Bạo động có hệ thống chống lại các Kitô hữu vẫn tiếp diễn cho tới tận nay. Một trang mạng Ấn Độ chuyên theo dõi các vụ bách hại Kitô hữu ở đây, tên là Lên Tiếng Chống Kỳ Thị, cho biết trong năm 2015, trung bình mỗi tuần đều có một biến cố bạo động.

Các Kitô hữu cũng đang bị bách hại tại các nước Á Châu khác, nơi sự gia tăng của họ về con số đang khiến các tín ngưỡng khác hay các thẩm quyền chính trị lo âu. Tuy nhiên, không đâu đau lòng bằng Bắc Triều Tiên, nơi hàng chục ngàn Kitô hữu đang mòn mỏi trong các trại tập trung. Tuy nhiên từ Trung Quốc và Việt Nam tới Miến Điện và Pakistan, họ gặp đủ thứ đe dọa.

Nhưng suy cho cùng, Ấn Độ vẫn là vùng nguy hiểm nhất đối với các Kitô hữu Á Châu hiện nay. Sự kiện này làm nhiều người Tây Phương thấy khó tin vì nơi đây vốn sản sinh ra một con người vĩ đại là Mohandas K. Gandhi, một con người được coi là đồng nghĩa với lý tưởng bất bạo động của Ấn Giáo.

Đối với thiểu số Kitô hữu tại Ấn Độ hiện nay, đây là một méo mó tàn nhẫn. Hàng ngày, họ phải đương đầu với nhiều đe dọa bị bách hại và tàn sát, nhưng không ai trên thế giới lưu ý tới họ.

Tại đây, Kitô Giáo được coi lã lãnh địa của người Dalit, tức đẳng cấp hạ đẳng (untouchable) của hệ thống đẳng cấp vẫn còn rất mạnh tại Ấn Độ, và của người Bộ Tộc, tức con cháu các nhóm thổ dân Ấn Độ. Họ thường bị đối xử một cách khinh bỉ và bạo động. Gia đinh Nayak vốn là người Dalit.

Đối với những người Ấn Độ khác, họ sợ và ghét Kitô Giáo như là một tín ngưỡng chuyên cải đạo người khác, do đó, lấy mất tín hữu của Ấn Giáo, vốn được coi là tín ngưỡng của quốc gia. Đối với một số người, dùng sức mạnh chặn đứng sự đe dọa này là điều hoàn toàn thích đáng. Vì tuy Kitô hữu chỉ chiếm ít hơn 3 phần trăm dân số, nhưng con số 24 triệu người của họ không phải là chuyện nhỏ.

Những người Ấn Độ vốn tự hào về truyền thống đa nguyên của họ coi tình trạng bách hại trên quả là một điều ô danh. Ram Puniyani, một nhà tranh đấu hòa bình thuộc đẳng cấp cao nhất của xã hội Ấn Độ, nhận định rằng “Thời tôi mới lớn lên, tính đa dạng của chúng tôi là cơ sở để mừng vui mở hội. Nhưng rồi thay vì mừng vui tính đa dạng, chúng tôi đổi qua chỉ còn là khoan dung, và nay, chúng tôi rơi vào trũng sâu hơn của hận thù ra mặt. Xưa nay, chúng tôi quen tố cáo Tây Phương là bất khoan dung và cuồng tín vì di sản của chủ nghĩa thực dân. Nay, xem ra chúng tôi không hơn gì họ”.

Có sự đồng loã của cảnh sát

Tính cách bách hại càng hiển hiện với sự đồng loã của cảnh sát. Họ không những làm ngơ để các hành vi kỳ thị bất công xẩy ra mà nhiều khi còn góp phần vào các hành vi kỳ thị này nữa. Chiliasadu Nikham và vợ ông tên Getabail là những chứng từ rõ ràng nhất: Giận vì buộc em gái anh phải bỏ đức tin Kitô Giáo không được, họ tấn công anh đến đổ máu, bị thương. Khi đến báo cảnh sát, anh bị họ tống giam 6 ngày với lý do: phá rối an ninh.

Anh không phải là người duy nhất, tháng Ba năm nay, một nữ tu Công Giáo ở tuổi 70 bị hãm hiếp khi một nhóm quá khích tới tấn công tu viện của bà ở Tây Bengal. Biến cố này bị Đức Hồng Y Baselios Cleemis, Chủ Tịch Hội Đồng Giám Mục Ấn Độ, cực lực phản đối với chính phủ do người Ấn Giáo lãnh đạo, ngài cho rằng đất nước nên “bảo vệ không những các con bò, mà cả những con người nhân bản nữa”.

Tháng Sáu năm 2014, trong khi tín hữu của một nhà thờ Tin Lành ở Manor, cách Mumbai 60 dặm, đang cầu nguyện và ăn chay thì một đoàn chừng 50 người Ấn Giáo hầm hầm sát khí tràn vào, miệng hô lớn “Bọn tao sẽ giết bọn bay để ông Giêsu cho bọn bay sống lại!” và “Bọn tao không muốn chúa của người Kitô Giáo ở đây!”.

Rồi bọn họ túm lấy Rawte, vả và đánh đập anh. Chúng còn đe dọa lột trần các phụ nữ trong cộng đoàn và đem đi diễu phố. Cộng đoàn nộp đơn khiếu nại với cảnh sát, nhưng cảnh sát không bao giờ giải quyết cả. Thành thử dân Kitô Giáo ở đây sợ cảnh sát y hệt sợ các tên cuồng tín Ấn Giáo vậy.

Nhưng không trường hợp nào rõ bằng trường hợp hồi tháng Sáu vừa qua, 5 Kitô hữu nghèo phải leo lên đỉnh một ngọn đồi gần làng Pangalidar của họ, hy vọng tìm được sóng để gọi điện thoại di động cho mấy đứa con lúc ấy đang đi tìm việc làm. Gọi xong 3 người đi về còn 2 người kia ở lại. Trên đường về nhà, 3 người bị các thành viên của Lực Lượng Cảnh Sát Trừ Bị Quốc Gia dùng súng chặn lại điều tra. Biết còn hai người nữa trên đồi, họ để ba người đi thong thả. Ba người còn chưa tới nhà, đã nghe tiếng súng nổ trên hướng đỉnh đồi và 2 kitô hữu kia không bao giờ trở về nhà nữa. Cảnh Sát bảo họ mất tích!

Tại Trung Quốc và các quốc gia Á Châu khác

Tại Trung Quốc, các liên hệ của người Kitô hữu với Tây Phương vẫn còn bị lực lượng an ninh và Ban Tôn Giáo của Nhà Nước coi là một đe đọa.

Đức Cha James Su Zhimin, chẳng hạn, vị cầm đầu cộng đồng Công Giáo chính thức bị ngăn cấm của Bảo Định, nay đã gần 80 tuổi và bị cầm tù từ tháng Mười năm 1997, gần 18 năm trời. Nhưng tội danh dẫn tới việc bắt giam ngài cho tới nay vẫn chưa được công bố, ngày xử án cũng chưa được ấn định và bị giam ở đâu không ai biết.

Ở Việt Nam, linh mục Nguyễn Văn Lý vẫn tiếp tục ngồi tù và nhiều người Kitô Giáo khác vẫn liên tiếp bị xách nhiễu, làm khó dễ. Vụ nổi tiếng gần đây là luật sư Nguyễn Văn Đài. Trong bản thông cáo gửi báo chí ngày 10/12/2015 , Tổ chức Phóng Viên Không Biên Giới - RSF Reporters Sans Frontières, cho biết luật sư Nguyễn Văn Đài và nhiều nhà hoạt động khác trên đường về Hà Nội đã bị công an thường phục chận xe đánh đập gây thương tích nặng sau buổi nói chuyện về nhân quyền nhân ngày Quốc tế Nhân quyền 10 Tháng 12 tại tư gia của nhà hoạt động Trần Hữu Đức ở huyện Nam Đàn, Hà Tĩnh. Nhóm công an này đã lấy tiền bạc, điện thoại di động của luật sư Đài và bỏ ông xuống đường cách nơi hội thảo 50 km.

Việc trên khiến Văn Phòng Cao Ủy Liên Hiệp Quốc về Nhân Quyền ra thông cáo ngày 11/12 cho hay: vụ tấn công các nhà hoạt động nhân quyền tại Việt Nam đang ở mức báo động và rằng LHQ quan ngại về việc nhà chức trách dường như làm ngơ và không truy tố những kẻ gây ra những vụ hành hung này.

Rồi ngày 16-12-2015, Luật Sư Nguyễn Văn Đài một lần nữa bị khởi tố bị can, bắt tạm giam và khám xét về tội "Tuyên truyền chống Nhà nước", theo Điều 88 Bộ luật Hình sự.

Pakistan tự xếp mình vào hàng ngũ phong trào hoàn cầu chống chủ nghĩa khủng bố và năm 2008 đã có cử chỉ vô tiền khoáng hậu là đề cử một Kitô hữu vào hội đồng nội các. Nhưng rồi vì chống lại các luật lệ cấm phỉ báng, vị bộ trưởng ấy, Ông Shahbaz Bhatti, đã bị thảm sát tháng Ba, năm 2011 vì tội “phỉ báng Muhammed”. Chết đi lúc 42 tuổi, Bhatti chỉ để lại 3 món đồ trên chiếc bàn cạnh giường nằm: cuốn Thánh Kinh, tràng chuỗi Mân Côi và mẫu ảnh Đức Nữ Trinh Maria!

Dù Kitô Giáo chỉ chiếm chừng 7 phần trăm dân số Á Châu, vào khoảng 310 triệu người, nhưng con số này không hề nhỏ.

Các Kitô hữu chiếm đa số tại 2 quốc gia Á Châu là Phi Luật Tân và Đông Timor. Ở Việt Nam và Nam Hàn, Kitô Giáo là hai định chế tôn giáo lớn nhất và có tổ chức hơn cả, dù đa số dân chúng ở hai nước này không hẳn theo bất cứ tôn giáo nào. Ở các nơi khác, Kitô Giáo đang phát triển mạnh. Cách nay 20 năm, Mông Cổ chủ yếu không có người Kitô hữu, nhưng nay tại đó đã có tới 500 nhà thờ Thệ Phản và sự hiện diện đông đảo của Công Giáo.

Theo học giả Paul Feston của Đại Học Boston, hiện nay, Á Châu có con số tín hữu Ngũ Tuần đông nhất thế giới, hơn cả Bắc Mỹ và Âu Châu cộng lại. Cộng đoàn lớn nhất của phái này chính là Nhà Thờ Tin Mừng Trọn Vẹn ở Yoido, Hán Thành. Mỗi Chúa Nhật, vào khoảng 250,000 tín hữu tham dự 9 buổi thờ phượng được phiên dịch cùng một lúc sang 16 thứ tiếng khác nhau.

Ở Trung Quốc, cơ quan nghiên cứu Pew ước lượng: năm 2010, có khoảng 67 triệu Kitô hữu, trong khi vào năm 1949, lúc Cộng Sản tiếm quyền, con số này chỉ là non 1 triệu người.

Có lẽ một phần do sự tăng trưởng mau lẹ ấy mà người Á Châu bắt đầu tỏ ý lo ngại đối với Kitô Giáo. Nhưng hình thức bách hại Kitô Giáo của họ rất tinh vi và mang đủ mầu sắc khác nhau.

Mầu sắc nhà nước cảnh sát kiểu cũ như Bắc Triều Tiên và Miến Điện gần đây, coi Kitô Giáo như một đe dọa đối với quyền bá chủ của họ. Mầu sắc nhà nước độc đảng đang tranh đấu cổ vũ việc tự do hóa nền kinh tế nhưng không cải tổ chính trị, như Trung Quốc và Việt Nam, nơi người ta có cảm tưởng các Kitô hữu dễ bị ảnh hưởng bởi phong trào đấu tranh cho các quyền dân sự và chính trị.

Bắc Triều Tiên đã khiến các nhà quan sát nhân quyền thế giới coi là nơi nguy hiểm nhất đối với Kitô hữu: Gần 1 phần 4 số từ 200,000 tới 400,000 Kitô hữu của nước này hiện đang phải sống trong các trại lao động khổ sai vì đã không chịu tôn sùng lãnh tụ của chế độ. Chính sách bách hại Kitô hữu của họ cũng độc ác nhất ở điểm những người chỉ vì ông bà là Kitô hữu cũng không có việc làm xứng đáng, dù mẹ Kim Đại Thành, tức bà cố của “lãnh Tụ Vĩ Đại” hiện nay, là một nữ phó tế của Phái Trưởng Lão (Presbyterian).

Nổi tiếng không kém là trường hợp Aasiya Noreen Bibi của Pakistan, được biết nhiều hơn dưới tên Bibi Á Châu, một phụ nữ nông thôn mù chữ và là mẹ của 5 đứa con. Bibi được thế giới biết tới vào tháng Sáu năm 2009, khi bà bị bắt và bị kết tội phỉ báng theo luật nước này.

Như bà kể lại sau này, sự việc bắt đầu khi bà, một người Công Giáo, uống nước từ chiếc giếng trong làng, do đó bị các phụ nữ Hồi Giáo địa phương coi là làm dơ giếng nước. Thế là có chuyện lời qua tiếng lại chua cay về Chúa Giêsu và Đức Muhammed. Dù Bibi nhấn mạnh rằng bà không hề bất kính, nhưng các lời bà nói đã bị các phụ nữ Hồi Giáo dùng làm cớ thêm thắt khiến bà bị bắt. Kết quả: bà bị xử tử vào tháng Mười Một năm 2010, còn bị phạt 300,000 rúpi Pakistan, tương đương với 3,000 mỹ kim, một món tiền không nhỏ. Hiện bà vẫn ngồi tù và chờ ngày Tối Cao Pháp Viện nước này phán xử.

Trung Quốc cũng có một trường hợp điển hình. Đó là Đức Cha Phụ Tá của Thượng Hải Thaddeus Ma Daqin. Tháng Bẩy năm 2012, ngài được tấn phong giám mục với sự đồng ý của cả chính phủ Trung Quốc lẫn Tòa Thánh Vatican. Dĩ nhiên, chính phủ Trung Quốc mong vị giám mục này ngoan ngoãn theo chỉ thị của mình, cụ thể là phải để cho một giám mục do nhà nước chỉ định và không được Vatican nhìn nhận tham dự lễ tấn phong. Thế nhưng lúc vị giám mục quốc doanh này tiến lên tính đặt tay lên Đức Cha Ma, thì Đức Cha Ma đi bước trước bằng cách tiến ra ôm chầm lấy vị giám mục đó, cố tình ngăn chặn không để ngài thực hiện một hành vi có thể biến ngài thành một thành phần của bí tích.

Sau nghi thức tấn phong, Đức Cha Ma còn tuyên bố mình là giám mục của mọi người, cả những người Công Giáo trung thành với Vatican, do đó, ngài tuyên bố mình không còn là thành viên của “Hội Công Giáo Trung Hoa Ái Quốc “ nữa.

Lần đầu tiên trong lịch sử, một giám mục được nhà nước bảo trợ đã đưa ra một tuyên bố táo bạo như thế. Nhiều người trong cộng đoàn vỗ tay vang dội trong khi không thiếu người sụt sùi khóc vì cảm động.

Đức Cha Ma sau đó đã bị giam tại nhà, trong ba năm, gần đây đã được phép tiếp xúc với giáo dân và cử hành Thánh Lễ. Không những trừng phạt Đức Cha Ma, họ còn trừng phạt bất cứ ai ủng hộ ngài nữa, bắt họ đi học tập cải tạo.

Dù gần đây, nhà nước Trung Quốc có đưa ra một vài dấu hiệu hòa dịu như đầu tháng Tám năm nay, họ cho biết đã chấp thuận việc phong chức giám mục cho một vị được Đức Phanxicô chỉ định. Cuối tháng đó, cơ quan truyền thông nhà nước cho phổ biến thư ủy lạo của Đức Phanxicô với nạn nhân vụ nổ nhà máy hóa chất ở Tianjin khiến 100 người chết.

Nhưng các nhà chuyên môn tỏ ra thận trọng. Đức Hồng Y Joseph Zen Ze-kiun của Hồng Kông, chẳng hạn, giữa năm 2015 vừa qua, nhận định rằng “chúng tôi không thấy bất cứ dấu hiệu khuyến khích hy vọng nào rằng người cộng sản Trung Quốc sẽ thay đổi chính sách của họ về tôn giáo”.
Vũ Văn An

Bài Xem Nhiều