We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 29 January 2016

Gởi về quê hương và dân tộc Việt Nam: XUÂN HÀ NỘI

XUÂN HÀ NỘI
(Gởi về quê hương và dân tộc Việt Nam - Riêng tặng các bạn  một thời thân quen Hà Nội)
 

Hình ảnh
Tôi sẽ mời em thăm Xuân Hà Nội
Khi hoa vàng rực rỡ khắp non sông
Có mẹ bên con, vợ sánh vai chồng
Vui ca bản Việt Nam ngày phục quốc
Cùng với đồng bào, ta cao ngọn đuốc
Làm lễ thượng kỳ ở giữa Thăng Long
Lá cờ vàng bay rợp khắp non sông
Trong nắng mới chào mùa Xuân rất mới
Có toàn quốc hân hoan hồn trống nổi
Trước đền Hùng thắp lại nén nhang thiêng
Trẻ đứng sau già lễ tạ Tổ Tiên
Mừng đất nước thoát qua ngày khốn khó
Ơi Hà Nội, khoảng trời tôi thương nhớ
Năm cửa Ô thân mến qúa trong lòng
Quan Trưởng, Cửa Nam, Cầu Giấy, Cửa Đông
Và Cửa Bắc, nơi anh hùng Hoàng Diệu
Đã tuẫn tiết vì quân thưa, lực yếu
Vũ khí thô sơ không giữ nổi thành
Nhưng tướng hùng không để thẹn sử xanh
Đem mạng sống chứng minh tình sông núi
Nào, mời em, đường hoa, xin bước tới
Đến Hồ Gươm tìm lại tuổi trăng đầy
Ngắm bóng rùa thần trôi giữa bóng mây
Mà hãnh diện từng trang hùng quốc sử
Cầu Thê Húc đợi tình người viễn xứ
Về tìm màu áo lụa thuở hoa niên
Đến Hồ Tây tìm thanh khiết hương sen
Tiếng guốc mẹ tìm vang đường Quan Thánh
Qua Trấn Quốc, rẽ vào hồ Trúc Bạch
Ngắm liễu gầy tay hứng lá bàng rơi
Con đường kia là Phố Hiến em ơi
Đôi nhẫn cưới chờ ai nơi Hàng Bạc
Nửa thế kỷ hơn người ta tàn ác
Nước dân đau, Hà Nội đã kinh hoàng
Nhưng ngày ta về với Mẹ Việt Nam
Thì Hà Nội phải  là mùa xuân ngát
Bởi trong đất, trưởng thành muôn dòng thác
Đang tìm về với biển, dựng mùa hoa
Như ta về với Mẹ Việt Nam ta
Bằng chính nghĩa, bằng cờ vàng dân tộc!
Mẹ Việt mừng con xanh dòng lệ ngọc
Tôi mừng đời, hôn đất mẹ rưng rưng
Pháo nổ, cờ bay, toàn quốc tưng bừng
Quê tôi đấy, thưa em,  Xuân Hà Nội !
Ngô Minh Hằng
--


Nỗi buồn thầm kín: Vẫn Chỉ Là Một Lời Hứa Suông

                          
Mỗi năm cứ vào dịp cận Tết ta, tôi hay vương vấn một nỗi buồn thầm kín khi một số người thân quen quanh tôi chộn rộn sửa soạn lên đường về quê nhà Việt Nam để đón chào năm mới và vui xuân với họ hàng thân thuộc. Và như thông lệ, tôi nhờ họ mang về cho thân nhân chúng tôi một món tiền lì xì nho nhỏ. Kèm những lời cám ơn của thân nhân sau đó là thắc mắc bao giờ tôi về thăm. Và đã bốn mươi năm qua, câu trả lời của tôi vẫn chỉ là một lời hứa suông. Tâm hồn tôi vương vấn mãi một nỗi buồn là vì lẽ đó.
 
Năm 1991, đầu niên học mới vào Tháng Chín, tôi bỏ tiền túi ghi danh theo học hai khóa Anh ngữ Dự Bị Ðại Học và viết văn sáng tác (Creative Writing) tại Trường Cao Ðẳng Centennial College, trụ sở Warden Woods (Warden Woods campus). Tôi học part-time lớp đêm mỗi tuần hai buổi tối Thứ Ba và Thứ Năm từ 7 giờ đến 10 giờ vì ban ngày còn phải đi cày kiếm cơm.
 
Năm ấy tôi đã trên 47 tuổi, đầu óc nhụt cùn với lo toan bận bịu, không còn bén nhạy như thời còn trai trẻ, vậy mà tôi cũng liều cắp sách đến trường. Hơn nữa, công việc làm kiếm cơm của tôi, một người thợ trưởng cho một nhà in, không đòi hỏi khả năng viết lách chi nhiều ngoài những báo cáo công tác và báo cáo bảo trì định kỳ. Như vậy, tôi học những khóa học này để làm gì? Lý do sâu xa là tôi muốn chuộc lại lỗi lầm của tuổi thơ ham chơi và lười học. Tôi muốn tự bắt mình phải đi học lại như là để trả một món nợ tôi còn thiếu chính mình.
 
Bài tập giáo sư đưa ra cho sinh viên thường là những đề tài chỉ định sẵn sau khi đã học qua trong lớp một truyện ngắn hoặc một tùy bút của một tác giả Anh Mỹ nào đó. Sinh viên phải viết phần giải thích, phân tích, nhận định và phê bình tác phẩm vừa học. Dĩ nhiên tôi rất sợ những bài tập kiểu nầy. Nhiều khi tôi chỉ bình loạn vì không nắm vững đề tài.
 
Nhưng cũng có những bài tập với đề tài do thí sinh tự chọn. Và đối với tôi, không gì thoải mái bằng viết những gì mình biết, nhất là điều mình viết ra chính là những kinh nghiệm của bản thân. Tôi viết và nạp bài đúng hạn. Thuở ấy, giá tiền một máy điện toán còn đắt lắm. Tôi mua một cái máy Apple MacIntosh II với bộ nhớ chỉ có 8 megabites đã dùng rồi mà cũng mất toi ba ngàn đồng.
 
Các bài tập với đề tài tự chọn của tôi đều được điểm cao và được giáo sư phụ trách đích thân khen ngợi, không phải vì văn của tôi viết hay, nếu không muốn nói là còn dở lắm, nhưng vì những câu chuyện tôi kể đó rất xa lạ và thương tâm, dĩ nhiên chỉ đối với vị giáo sư người Canada chưa hề sống ở Việt Nam bao giờ đó. Bà ngỏ ý đề nghị hãy cho đăng một số bài viết của tôi lên hai tờ báo nội san của trường là tờ "The Oracle" và tờ "The Siren". Tôi sợ quá, lắc đầu. Hai hôm sau, một cô chủ bút đến lớp xin gặp tôi. Chẳng biết nghe cô nói êm tai thế nào mà tôi ưng thuận đưa các bài viết cho cô.
 
Tôi xin dịch lại một bài có tựa đề "One Day I Shall Return: My Naked Lie" đăng trên báo "The Siren" ngày Thứ Ba 12 Tháng Mười Một, 1991 như sau:
 
"Một Ngày Kia Con Sẽ Về", Lời Nói Dối Trân Tráo Của Tôi..."
 
Khi tôi rời quê mẹ ra đi mười sáu năm trước đây, tôi không nghĩ là sẽ gặp lại cha tôi bao giờ nữa. Cách nửa vòng trái đất, tại một trong những nước nghèo nhất thế giới, cha tôi đang hấp hối vì một chứng bệnh ngặt nghèo với một nỗi muộn phiền day dứt và ông đang thầm thì trăn trối lời nguyện ước cuối cùng được nhìn tận mặt lại đứa con trai đầu lòng trước khi từ giã kiếp sống khốn cùng hiện tại.
 
Còn tôi ở Canada, lòng hối hận đau xé vì đã hứa với cha một lời mà tôi biết tôi không bao giờ có thể thực hiện. "Một ngày kia con sẽ về", tôi lập đi lập lại trong những bức thư tôi viết cho cha tôi. Nhưng làm sao tôi có thể trở về Việt Nam khi mà chính quyền Cộng sản ở đấy vẫn còn áp bức người dân bằng sự cai trị khắc nghiệt của họ.
 
Hiện giờ cha tôi có thể đang chờ chết, nhưng một nửa hồn tôi đã chết kể từ ngày 30 Tháng Tư năm 1975, ngày mà quân đội Cộng sản từ phương Bắc rầm rộ bước vào Saigon, thủ đô của một quốc gia độc lập ở miền Nam với tên gọi là Việt Nam Cộng Hòa. Sự kiện này đã kết thúc cuộc chiến được tranh cãi gay gắt nhất, cay đắng nhất đã kéo dài hơn hai mươi năm và giết đi hàng nhiều triệu người từ cả hai bên chiến tuyến.
 
Tôi còn sống sau chiến tranh. Tôi thoát khỏi hỏa ngục đỏ của "Ngày Tận Thế", cách gọi của tôi ngày định mệnh đó theo tựa đề một cuốn phim nói về khía cạnh tàn nhẫn và xấu xa của cuộc chiến Việt Nam.
 
Phải, tôi là một trong những kẻ may mắn trong khi cha mẹ tôi, những thân nhân trong gia đình tôi và bạn bè đồng đội tôi không được may mắn như thế. Họ đã trở thành nạn nhân của một chế độ bất nhân man rợ và một chủ thuyết cuồng tín điên rồ.
 
Tôi đã từng nghe kể nhiều mẫu chuyện quặn lòng về những người tôi thương mến. Có người tự kết liễu đời mình. Họ cảm thấy thà chết còn hơn là sống chung với Cộng sản. Có người cố tìm cách trốn đi bằng những con thuyền mong manh. Có người trong số họ đến được bến bờ tự do. Có người bỏ thây nơi biển cả. Hành trình di cư của những người tìm tự do chưa hề dứt trong mười sáu năm qua. Bức màn sắt không giam hãm được ý chí của con người.
 
Tôi là một người di tản được Canada chấp nhận cho tị nạn chính trị. Tôi không muốn phản bội lý tưởng chính đáng của những người tị nạn khác bằng hành động về thăm Việt Nam Cộng sản, một chế độ mà tôi e ngại có thể sẽ hành hạ ngược đãi tôi như là một kẻ cựu thù.
 
Ngày kỷ niệm Tháng Tư Ðen năm nay rơi vào ngày Thứ Ba, một ngày mà tôi phải làm việc. Ðối với phần lớn người dân Canada, ngày đó cũng như bất cứ ngày nào khác. Ngày hôm đó tôi đi làm với một huy hiệu gắn trên ngực áo nơi tim. Biểu tượng đó rất đơn giản là ba sọc đỏ trên nền vàng. Ðó là màu quốc kỳ của quê hương đánh mất của chúng tôi; và chúng tôi sẽ không bao giờ quên màu cờ đó. Cũng giống như hoa poppy người Canada mang trong ngày tưởng niệm Chiến Sĩ Trận Vong, nó nhắc nhở cho tôi tưởng niệm những anh hùng gục ngã đã chết cho quê hương tôi.
 
Khi nghĩ đến những gì đã xảy ra cho Việt Nam, tôi cảm thấy như có một vết thương cắt sâu trong tim tôi không bao giờ lành. Tôi luôn để tang trong ngày tưởng niệm ấy với những ý nghĩ thương tiếc và buồn đau chờn vờn trong tâm trí. Năm nay tôi nằm thức trong đêm đen tĩnh lặng như một sự kinh cầu cho cố quốc.
 
Năm nay nỗi đau buồn của tôi dường như có phần quặn thắt hơn vì một bức thư đặc biệt. Trở về nhà hôm đó sau một ngày làm việc và nhận được một bức thư dài của em gái tôi tiết lộ cho tôi biết lý do tại sao cha tôi không viết thư cho tôi trong thời gian gần đây. Cô ấy nói mắt của cha tôi đã mờ, bệnh viêm khớp của ông tệ hại hơn và ông rất xuống tinh thần vì làm gánh nặng của thân nhân.
 
Tôi có thể nhớ nét chữ viết của cha tôi rất uốn nắn đẹp đẽ; điều đó chứng tỏ ông rất cẩn trọng với những gì ông viết cho tôi, gián tiếp cho thấy ông quan tâm đến tôi biết chừng nào. Ông đối xử với tôi như một người ngang hàng, một người bạn trao đổi thư tín với nhau. Ông kèm theo thư các bài thơ của ông sáng tác, và ít khi ông đòi hỏi ở tôi một điều ân huệ gì. Ông cũng chẳng bao giờ nói trắng ra là ông thương tôi.
 
Phần nhiều những bức thư của ông chuyên chở thông điệp của những giá trị luân lý, đức hạnh đáng quí trọng, những bài học của trí khôn ngoan, lòng từ bi và bác ái. Tôi để ý càng về già ông càng thuận theo giáo lý của nhà Phật. Ông đơn giản hóa nhu cầu vật chất, đồng thời trau giồi các hoạt động tâm linh. Tôi biết đó là dấu hiệu của sự chuẩn bị sẵn sàng để từ giã cõi thế gian này.
 
Em gái tôi giải thích thêm là cha tôi đã phản ứng như thế nào về cuốn băng thu hình mà tôi đã gởi về tháng trước đó. Tôi và con trai tôi đã bỏ ra rất nhiều công sức để làm ra một cuốn video nói về gia đình tôi ở Toronto. Em gái tôi nói cha tôi khóc nức nở khi ông nghe giọng nói của tôi. Cô ấy viết, "Trông thấy hình ảnh anh di động trên màn ảnh và tiếng nói của anh là một trải nghiệm khốn khổ cho một người già yếu như Ba. Và ngay sau đó thì mọi người khóc theo…". Bức thư kết thúc bằng giòng chữ là, "Ba sợ là sẽ không bao giờ thấy lại anh bằng xương bằng thịt nữa trước khi Ba nhắm mắt; và điều đó thật quá đau lòng cho Ba lắm đó anh…."
 
Ðối với tôi thì nào có khác gì. Lời hứa thối thác của tôi là sẽ về cứ lập đi lập lại mãi nên nó đã trở thành đồng nghĩa với một lời nói dối trắng trợn làm tan nát lòng tôi.
 
Tôi hy vọng có một ngày tôi trở về quê nhà dù chỉ để chết giống như loài cá hồi lội ngược suối nguồn để về nơi sinh ra trong ngày cuối Tháng Tư. Trong khi chờ đến ngày ấy, trả lời thư em gái, tôi viết,"Một ngày kia anh sễ về", mặc dù tôi biết đó vẫn chỉ là một lời hứa suông thôi."
 
Bài báo chấm dứt ở đấy. Ðáng lẽ tôi cũng có thể chấm dứt câu chuyện ở đây vì thật tình ngồi gõ lại những dòng chữ này, tôi không khỏi cảm thấy rung động trong lòng. Nhưng tôi lại muốn viết thêm về vài biến cố quan trọng xảy ra từ năm ấy cho đến nay. Thêm ba mươi năm nữa đã trôi qua rồi còn gì. Khoảng thời gian dài đó mang theo biết bao thăng trầm đổi thay với một lần đổi việc làm, hai lần dọn nhà và ba lần mua máy điện toán khác.
 
Cha tôi kéo dài thêm cuộc sống trong đau bệnh được hơn một năm mới vĩnh viễn ra đi. Mấy năm sau nữa, em gái tôi được gia đình bên chồng bảo lãnh sang Mỹ. Những tưởng đâu cô ấy được ấm êm với cuộc đời mới nơi xứ người, nào ngờ lễ tuyên thệ vào công dân phải được đặc biệt tổ chức trang nghiêm trong phòng bệnh của em tôi trong bệnh viện. Tôi không bao giờ có thể quên hình ảnh em tôi với cái đầu cạo trọc vẫn ngồi trên giường bệnh gắng gượng đưa cánh tay mặt lên tuyên thệ trung thành với đất nước mới đã cưu mang em. Chỉ vài ngày sau, em tôi đầu hàng định mệnh và ra đi vì chứng bệnh ung thư quái ác.
 
Có lẽ nỗi khổ đau đớn nhất của tôi là phải giấu tin em mất với mẹ tôi trong mấy năm liền. Mỗi lần phải gọi điện thoại về Saigon thăm mẹ, tôi chỉ nói qua loa vắn tắt được mấy câu rồi chuyền máy cho vợ tôi. Tôi sợ rằng tôi không thể nói dối được nữa. Mẹ tôi hỏi sau lâu quá mà không thấy em tôi gọi về. Mọi người giấu quanh, cố tìm đủ mọi lý do để dối gạt mẹ tôi vì sức khoẻ của bà cũng đã suy yếu vì tuổi già lại thêm bệnh tật. Vợ tôi và em rể tôi đều là những người bình tĩnh hơn tôi nên đã giữ được bí mật khá lâu.
 
Thế rồi một lần tôi gọi về, mẹ tôi hỏi, "Em con nó chết lâu rồi phải hôn?". Chúng tôi ngẩn ngơ. Bà tiếp lời, "Bấy lâu nay Má cứ nằm chiêm bao thấy nó hoài..."
 
Cha tôi mất, em gái tôi mất, rồi Má tôi cũng đã từ giã cuộc đời. Về gặp lại cha mẹ và quê cũ mãi mãi vẫn chỉ là một lời hứa suông cho đến ngày tôi nhắm mắt. Và ngày ấy chắc cũng không xa…
 
 Phan Hạnh.

 http://dsdatlanh.blogspot.co.uk/2014/01/van-chi-la-mot-loi-hua-suong.html

Thursday, 28 January 2016

GIÁ TRỊ CỦA HIỆP ÐỊNH PARIS VỀ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH LẬP LẠI HOÀ BÌNH Ở VIỆT NAM NGÀY 27-1-1973.



         Vào ngày 27-1 của 43 năm về trước (1973-2016) Hiệp Ðịnh Paris  về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình cho việt nam, từng được bốn bên trong cuộc chiến ký kết là Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hoà, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (tức Cộng sản Bắc Việt) và Chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam (con đẻ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, công cụ xâm lăng Miền Nam Việt Nam của Cộng Sản Bắc Việt).
        Nhân dịp này, chúng tôi muốn đưa ra một số  nhận định về giá trị của bàn hiệp định này để cùng rút ra bài học kinh nghiệm. Giá trị ấy là gì?
      Xin thưa, câu trả lời tổng quát, đó là tập giấy lộn, có giá trị như một bản án tử hình chế độ Việt Nam Cộng Hoà, được Ngoại trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger và Lê Ðức Thọ của Cộng sản Bắc Việt hợp soạn, để rồi hai năm sau đó đã cưỡng tử Việt Nam Cộng Hoà vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, trước sự phủi tay không thương tiếc của người bạn đồng minh Hoa kỳ, và sự làm ngơ của những cam kết quốc tế bảo đảm cho việc thực thi hiệp định này.
     
      Thật vậy, như mọi người đều biết, sau biến cố Tết Mậu Thân 1968 ít lâu, Hội Nghị tại Paris Pháp Quốc để tìm giải pháp chấm dứt chiến tranh Việt Nam được khởi sự. Thất thế đầu tiên là Việt Nam Cộng Hoà duới áp lực của Mỹ đã phải ngồi vào bàn hội nghị bốn bên(thay vì chỉ có hai bên), dù biết rằng bị đặt ngang hàng với một bên là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, vốn là công cụ thôn tính Miền Nam của Cộng Sản Bắc Việt.
      Kế đến, nhiều ngày tháng sau đó, trong khi bề ngoài các bên tranh cãi nhau về  hình dạng bàn họp hội nghị là bàn vuông hay bàn tròn, để sau cùng đi đến bàn bầu dục, thì Kissinger và Lê Ðức Thọ đã bí mật và chủ động soạn thảo ra văn kiện Hiệp Ðịnh Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại Hoà Bình ở Việt Nam, với nhiều điều khoản bất lợi, không chút bảo đảm gì cho sinh mạng chính trị chế độ Việt Nam Cộng Hoà.
       Vậy mà Ngoại Trưởng Henry Kissinger của Hoa Kỳ đã ép buộc chính phủ Việt Nam Cộng Hoà phải ký vào. Chính phủ của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lúc đó đã quyết liệt chối từ và lập tức bị Kissinger làm áp lực, đe dọa đủ điều. Sau vài sửa đổi một số điều khoản theo đòi hỏi của Việt Nam Cộng Hoà có tính nguyên tắc hơn là giá trị thực thi, cùng với sự gia tăng áp lực nặng nề lên chính phủ Thiệu, kèm theo những lá thư phủ dụ trong quan hệ riêng tư của Tổng Thống Richard Nixon gửi cho Tổng Thống Thiệu, chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã không có sự chọn lựa nào khác là phải ký vào bản Hiệp Ðịnh Paris ngày 27-1-1973.
         Hệ quả là: Hoa Kỳ đã rút chân ra khỏi cuộc chiến một cách danh dự, sau khi đã đạt được ý đồ chiến lược trong vùng thông qua cuộc chiến (với Thông cáo chung Thượng Hải 1972 ký với Trung Cộng), bỏ rơi Việt Nam Cộng Hoà và thả nổi cho Cộng Sản Bắc việt thôn tính Miền Nam Việt Nam, trước sự phủi tay không thương tiếc của Hoa Kỳ và đồng minh, và sự làm lơ của những cam kết quốc tế bảo đảm cho việc thực thi hiệp định.
      Trong 9 chương, 23 điều của bản Hiệp Ðịnh Paris, chúng ta hãy đọc lại những điều mật ngọt nơi khoản (b) điều 9  Chương IV quy định “Việc thực hiện quyền tự quyết của nhân dân Miền Nam Việt Nam” như sau:
 “ b) Nhân dân Miền Nam Việt Nam tự quyết định tương lai chính trị của Miền Nam Việt Nam thông qua tổng tuyển cử thực sự tự do và dân chủ, có giám sát quốc tế.”
      Khoản (a) điều 11 thì ghi “Ngay sau khi ngưng bắn, hai bên Miền Nam Việt Nam sẽ hiệp thương trên tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau và không thôn tính lẫn nhau để thành lập Hội Ðồng Quốc Gia Hoà Giải và Hoà Hợp Dân Tộc gồm ba thành phần ngang nhau...”.
      
     Vẫn chưa hết những điều mật ngọt, đây là điều 15 của chương V Hiệp Ðịnh Paris quy định rất rõ ràng: “Việc thống nhất nước Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng phương pháp hoà bình trên cơ sở bàn bạc và thoả thuận giữa Miền Bắc và Miền Nam Việt Nam, không bên nào cưỡng ép hoặc thôn tính bên nào...Thời gian thống nhất sẽ do Miền Bắc và Miền Nam thoả thuận...”
     Đến đây thì ai cũng thấy rõ ràng là thực tế hoàn toàn trái ngược với những quy định, cam kết bảo đảm quốc tế và giá trị thực sự của bản Hiệp Định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình cho Việt Nam do bốn bên ký kết ngày 27-1-1975, chỉ là tập giấy lộn, như trò đùa, ký mà chơi, có giá trị như một bản án tử hình chế độ Việt Nam Cộng Hoà được thi hành hai năm sau đó.
     Bởi vì, mọi bảo đảm, giám sát quốc tế, ghi trong bản Hiệp Định này đã không được thực thi, mọi biện pháp chế tài kẻ vi phạm vẫn không được thực hiện, trước sự vi phạm của cả hai mà  là một: Cộng sản Bắc việt và công cụ xâm lược là Mặt Trận Giải Phóng Miến Nam Việt Nam.
     Đến đây thì bài học kinh nghiệm cần rút ra sau 43 năm tiếp tục chống cộng vì mục tiêu dân chủ hóa cho Quê Mẹ Việt Nam vẫn là câu nói đúng của cố Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà Nguyễn Văn Thiệu, rằng “ Đừng nghe những gì cộng sản nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cộng sản làm”.
    Đối với ngoại bang, bài học kinh nghiệm cần rút ra cho người Việt quốc gia yêu nước, là trong bất cứ hoàn cảnh nào, chiến tranh hay hoà bình, đừng quá tin vào đồng minh, những cam kết quốc tế liên quan đến số phận dân tộc, đất nước mình, mà hãy tự tin vào chính mình và luôn luôn phải tự lực tự cường, dựa trên sức mình là chính để giải quyết mọi vấn đề có lợi cho dân tộc và đất nước./.

Thiện Ý

     
 Ngày 27 tháng 1 năm  2016

Tuesday, 26 January 2016

Đại Hội XII - Chỉ có quái vật mới thờ “quái vật”



Phong tục và tập quán, trong nhà người dân Việt, nơi tôn nghiêm trên cao nhất tất yếu là chỗ thờ tự gia tiên tổ tông họ hàng, không thể khác được, ngoài xã hội nơi trang trọng nhất thường là nơi đặt biểu tượng quốc huy, tiền nhân lập quốc, hồn thiêng dân tộc. Đó là tư duy đạo lý, nguyên tắc trong phạm trù đạo đức của con người, không chỉ riêng Việt Nam mà ở cả các quốc gia khác cũng vậy - Trừ trường hợp, một nhà nước, “vong bản”.

Theo từ điển Việt, động từ “vong bản” nghĩa là: Vô tình hay hữu ý quên mất cội nguồn gốc rễ của mình, không nghĩ gì đến tổ tiên, nòi giống. Chúng ta lướt qua các hình ảnh dưới đây để cùng một thoáng nghiệm suy về từ ngữ “vong bản”…
Đại Hội Đảng CS Trung Quốc chưa bao giờ có bóng dáng “Mác-Lenin”.
Đại hội Đảng Cộng sản Cuba. Thậm chí không búa liềm không Mác-Lenin.
Đại Hội Đảng CS Bắc Triều Tiên hoàn toàn đặc trưng “dân tộc tính”.
Đại hội Đảng csVN thờ hình hai con "Quái vật" Mác - Lê-Nin"
Chỉ riêng Đảng CSVN tại Hà Nội suốt 12 lần Đại Hội hơn 70 năm với 2 con “quái vật râu xồm” ngoại tộc Mac-Lenin ngự trị trên đầu, soán ngôi tại vị trí bắt buộc phải là biểu tượng của Tiền nhân lập quốc: “Hùng Vương Âu Lạc Việt Nam Muôn Năm” hiện diện.

Dù là những nước “đ/c CS” anh em nhưng nhìn một CS Triều Tiên ngạo nghễ không muốn lai tạp, một CS Cuba nghèo khó nhưng dứt khoát độc lập và CS Tàu là “CS Tàu” chứ không có chủ nghĩa “râu xồm” nào cả thì mới thấy hết sự “vong bản” của HCM và đảng CSVN.

Gọi 2 con “quái vật” là vì chủ nghĩa Mác (Marx) như một sản phẩm của tội ác nhân loại có quá nhiều khuyết tật nghiêm trọng. Nhiều nhà phê bình tên tuổi quốc tế nhận xét rằng lý thuyết Karl Marx gây nên nhiều chết chóc, nghèo khổ, suy thoái và thất vọng cho nhân loại nhiều hơn tất cả các nhà tư tưởng khác cộng lại. Chủ nghĩa Mác + Lênin ngự trị trên quả đất này cho đến khi nó bị loài người văn minh tiến bộ loại bỏ vào sọt rác thì nó đã giết hại trên 100 triệu người.

Mới đây trang tin “jjmccullough.com” có Bảng liệt kê: History's greatest monsters (Những quái vật vĩ đại nhất lịch sử) . Nằm ở hàng đầu là 3 tên độc tài Stalin - Hitle - Mao, giết trên 20 triệu người, kế tiếp, phần thứ hai, liệt kê những tên độc tài giết chết trên 1 triệu người. Lê Nin (thứ 8) Hồ Chí Minh (thứ 13) nằm trong danh sách những “quái vật” giết người vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại.
 
History's greatest monsters (Những quái vật vĩ đại nhất lịch sử)

Lenin hỏi Các Mác: Mình cùng đi Việt Nam, Bác mang cái gì đấy?
Các Mác trả lời: Không nhẽ đi tay không? Tìm mãi bới ra được cuốn “Tư Bản Luận” trong sọt rác bảo tàng, mang theo làm quà cho Đại Hội XII CSVN.

Một nguyên lý không thể phủ nhận, đất nước tạo nên con người chứ không phải ngược lại. Tự thân Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mac-Lenin không thể làm nên một Việt Nam - 80 năm CNXH/CS chẳng là gì so với 4000 năm lịch sử Việt, nếu không muốn nói CNCS chính là gánh nặng của cả dân tộc.

Bước theo dấu chân Stalin - Lê Nin (Vladimir Lenin) đã thực tiễn hành động hóa những ý tưởng căn bản của Các Mác trong một cuộc hôn phối Mác-Lê (Marxism-Leninism) sản sinh ra Bạo Lực Cách Mạng mưu toan khuynh đảo tất cả các chế độ chính trị trên thế giới, nhằm tiếm đoạt quyền lực cho một đảng cộng sản độc tài cai trị.
Các hình ảnh trên là trình tự:
Tại nước Nga - Ukraine - Mông Cổ - Đức, Các quốc gia SNG và Đông Âu.
V.I.Lênin và Đảng Bônsêvích,CS Nga- là chế độ đầu tiên trên thế giới, mở ra một thời đại “khát máu” nhất lịch sử... Năm 1924, Lênin chết. Tổng kết lại sự nghiệp của Lênin tại Liên Bang Sô Viết, số người bị giết chết (trực tiếp và gián tiếp) khoảng 4 triệu người (thời báo Balan)
Ông Vladimir Bukovsky- một nhà văn tên tuổi Liên xô, đồng thời là người chuyên nghiên cứu về tội ác của chính quyền cộng sản, kể lại trong “Câu chuyện Sô Viết”: Họ giết khoảng 10% dân số, họ chọn lựa rất kỹ lưỡng. Họ làm việc này không chỉ để tiêu diệt kẻ thù. Họ giết người để thiết lập lại cơ cấu xã hội theo chủ nghĩa Mác. Tất cả trí thức, những công dân tốt nhất, các kỹ sư tốt nhất đều bị họ giết hết… và sau đó họ cố gắng xây dựng một xã CS mới.
“Sau một thời gian dài nghiên cứu, thống kê, giới sử gia ước tính, nỗ lực xây dựng những xã hội mới quen được gọi là xã hội Xã hội chủ nghĩa của các chính quyền cộng sản ở Liên Xô, Đông Âu, Cuba, Trung quốc, Bắc Triều Tiên, Việt Nam, Campuchia (dưới thời Polpot)… suốt giai đoạn từ cuối thế kỷ 19 đến hết thế kỷ 20 đã tước đoạt sinh mạng 100 triệu người”. (RFA online )
Cách mạng xã hội chủ nghĩa không những không tiêu diệt được nhà nước mà còn tạo ra một nhà nước khác chuyên chế bạo ngược nhất từ xưa đến nay.

Những tiên đoán của lý thuyết Marx đã bị chứng minh là hoàn toàn sai trái, bởi vì sau khi chế độ cộng sản lan tràn tại nước Nga và tại phần Đông Âu sau Thế Chiến Thứ Hai, Tập thể đảng viên Cộng Sản đã khéo léo bóc lột nhân dân hơn cả tư bản, đã hưởng thụ mọi đặc quyền đặc lợi một cách kín đáo qua tuyên truyền bịp bợm khoác lác về sự công bằng trong khi ngoài xã hội, hai tầng lớp “công nhân và nông dân” thực sự vẫn nghèo khổ, vẫn bị bóc lột và khai thác tàn tệ mà không được phép kêu than bởi vì mọi tổ chức xã hội do Đảng Cộng Sản độc quyền nắm giữ, mọi sinh hoạt xã hội do bọn Công An mật vụ canh chừng và theo dõi nghiêm ngặt.

Những sai lầm của Marx và tội ác Lenin (minh chứng ở đây: 
Tại Việt Nam, trong lòng chế độ CS, Giáo sư Hoàng Minh Chính, nguyên Viện trưởng viện Triết học Mác-LêNin của Đảng CSVN trả lời phỏng vấn của đài RFA:
“Cái đảng này (CSVN) nó đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin, mà bản thân chủ nghĩa Mác-Lênin đã sai từ gốc rễ và cái đảng này nó đang xây dựng một cơ chế độc tài, độc quyền toàn trị thì làm sao cải tổ được, tự đổi mới được…Liên xô đàn áp nhân dân như thế, Liên xô đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin xây dựng một chính đảng toàn trị, thì chính nhân dân đã nổi dậy lật đổ cái đảng CS đó rồi…” (http://www.rfa.org/vietnamese/ReadersOpinions/Communist-crimes-to-humanity-DNghia-05062010225903.html )

Tất cả đã rõ như ban ngày - Chủ nghĩa Mác-Lenin không còn ở thì tương lai nó đã thuộc về quá khứ so với hiện tại chứng minh 90% các quốc gia theo nó trước kia thì nay đã nguyền rủa từ bỏ, giai cấp công nhân (chủ thể lý thuyết Mác) phần đông trong thế giới Tư Bản chẳng những không bị bóc lột mà có cuộc sống ổng định tốt hơn bao giờ hết. Tại Việt Nam (dưới chế độ XHCN/CS) ngày nay tuyệt đại bộ phận công nhân đều hít thở không khí trong các mái vòm nhà máy xí nghiệp công ty Tư Bản.
Thường thì nhân loại chỉ tôn vinh thờ tự những biểu tượng tốt đẹp nhân bản đặc thù “chân thiện mỹ”. Không ai thờ tự, cúi đầu, trước những cái xấu xa vấy máu đồng loại mà cộng đồng phế bỏ coi như rác rưởi…

Chỉ có quái vật mới thờ tự “quái vật”.
Khi mà người ta gắn bó quá lâu với những tư tưởng sai trái nhưng được dối trá lừa bịp nhắc đi nhắc lại “quá” nhiều lần (ngay cả với chính mình) thì người ta rất khó khăn khi muốn rũ bỏ nó, càng khó khăn hơn khi nó vốn đi kèm với quyền bính và lợi lộc. Chủ nghĩa Mác-Lênin ngày nay như một món ăn hôi thối bẩn thỉu không còn ai dám động đến nó nữa, tuy nhiên đảng Cộng sản Việt Nam còn phải nhắm mắt cố nuốt, gượng gạo nói nó “thơm ngon” như là mượn nó để làm cái phao “nín thở qua sông” dù biết chủ nghĩa Mác-Lenin là con quái vật, mà tôn vinh thờ tự nó thì nghiễm nhiên mình cũng như nó là… quái vật.
Sách Đen về Tội ác CS Liên-Xô đã giết 20 Triệu dân Nga và các quốc trong Liên bang Xô-Viết
(
https://en.wikipedia.org/wiki/The_Black_Book_of_Communism)
Tuy nhiên, qui luật cuối cùng: “Hãy trả lại cho César những gì của César” Bởi vì một danh ngôn như chân lý mà ai cũng biết: “Anh có thể lừa dối một số người trong mọi lúc, lừa dối mọi người trong vài lúc, nhưng anh không thể mãi mãi lừa dối tất cả mọi người” - (Abraham Lincoln).
23/1/2015
Hoàng Thanh Trúc

danlambaovn.blogspot.com


Tuyên bố của các tổ chức chính trị và dân sự độc lập tại Việt Nam nhân đại hội đảng cộng sản lần thứ 12



Tuyên bố
của các tổ chức chính trị và dân sự độc lập tại Việt Nam
nhân đại hội đảng cộng sản lần thứ 12


          Kính gởi:
- Toàn thể Đồng bào Việt Nam trong và ngoài nước
- Các chính phủ dân chủ năm châu, các cơ quan nhân quyền quốc tế.
          Xét rằng
          1- Đảng cộng sản Việt Nam đang họp đại hội lần thứ 12 của mình. Các đảng viên sẽ có một việc chủ yếu là bầu ra tổng bí thư. Đó là vấn đề riêng của họ, đại đa số nhân dân không quan tâm ai sẽ giữ chức vụ này. Nếu có thì chỉ theo dõi cho biết những cuộc đấu đá giữa các phe nhóm trước và trong thời gian đại hội, với đủ chiêu trò vu khống, vạch trần, triệt hạ lẫn nhau, bằng đủ cách thức phi pháp, đê tiện hay thâm độc. Điều này cho thấy đại hội đảng chỉ là dịp để tranh giành quyền lực và chia chác quyền lợi, chứ chẳng hề vì lợi ích của đất nước (y như 11 kỳ đại hội đảng trước đây).
          2- Giả như có một tổng bí thư mới được bầu ra mà còn có chút lương tâm ngay chính, ý thức trách nhiệm và tình tự dân tộc, ông ta cũng chẳng có thể làm được gì tốt đẹp cho Tổ quốc, vì bị khống chế bởi nguyên tắc đảng trị, bị bó rọ trong thể chế độc tài, bị cột chặt vào mục tiêu quyền lực đảng hơn lợi ích nước. Trừ phi ông ta giải tán đảng cộng sản y như Mikhail Gorbachev ở Liên Xô.
          3- Điều đáng quan tâm là đại hội đảng cộng sản lại tự tiện bầu chọn ba chức vụ liên can trực tiếp tới việc quản lý quốc gia, điều hành đất nước: thủ tướng, chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội. Nghĩa là một nhóm nhỏ quan chức đảng (trên 1.500 người) lại độc quyền quyết định tương lai của hơn 90 triệu người dân Việt.
          4- Theo nền chính trị văn minh của nhân loại tại các nước dân chủ đích thực trên thế giới, ba chức vụ quan trọng này phải là kết quả của ý muốn toàn dân. Là chủ nhân của đất nước, toàn dân có toàn quyền bầu ra một cơ quan quyền lực cao nhất để đại diện cho mình, tức là một Quốc hội đa đảng và dân chủ sau một cuộc tranh cử công bằng và chân thực cũng như qua một cuộc bầu cử tự do và công minh. Để rồi do cuộc bầu cử này, 3 chức vụ nói trên được thành hình từ một quốc hội đúng nghĩa: của dân, do dân và vì dân.
          5- Thế nhưng, tại Việt Nam suốt hơn 70 năm qua, đảng cộng sản đã nắm được quyền lực chính trị không phải do toàn dân giao cho bằng lá phiếu tự do mà chỉ nhờ dùng vũ lực để chiếm đoạt (chính đảng cũng tự nhận đã “cướp chính quyền”). Và trong các kỳ đại hội của mình, đảng lại tự quyền chọn lựa ba chức vụ thủ tướng, chủ tịch nước, chủ tịch quốc hội, sau đó bày trò hợp thức hóa qua quốc hội gia nô, thuộc đảng, rồi bắt toàn dân phải thừa nhận.
          6- Ba nhân vật quan trọng này cũng như toàn thể quốc hội đều xuất phát từ đảng, tuân theo lệnh đảng, hành động vì đảng, chịu trách nhiệm trước đảng, thay vì xuất phát từ nhân dân, theo lệnh nhân dân, hành động vì nhân dân và chịu trách nhiệm trước nhân dân.
          Do đó
          1- 70 năm qua, đất nước trượt dài vào bế tắc chính trị, khủng hoảng kinh tế, suy đồi văn hóa, thoái biến môi trường, bất an xã hội, và nhất là yếu nhược quốc phòng, khiến Việt Nam có nguy cơ bị Trung Quốc nuốt chửng.
          2- Chúng tôi, các tổ chức chính trị và dân sự độc lập ký tên dưới đây, mạnh mẽ phản đối và cực lực lên án hành vi ngang ngược của đảng cộng sản nói trên. Đó là chà đạp các quyền chính trị cơ bản của toàn dân Việt Nam.
          3- Chúng tôi cũng vạch trần ý đồ tổ chức cuộc bầu cử Quốc hội khoá XIV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016–2021 vào ngày 22-05-2016 tới đây theo kiểu “đảng cử dân bầu”, mang tính cưỡng bức và dối trá như bao cuộc bầu cử trước.
          4- Cùng với toàn dân, các tổ chức chính trị và xã hội dân sự độc lập sẽ có những việc làm cần thiết, không để diễn lại màn kịch dân chủ giả hiệu mà đảng và giới cầm quyền đã dàn dựng mấy chục năm qua dưới chế độ độc tài, ngõ hầu tiếp tục làm mưa làm gió trên sân khấu chính trị.
          Tuyên bố tại Việt Nam ngày 26-01-2016, nhân đại hội đảng CS lần thứ 12.
          Các tổ chức chính trị và xã hội đồng ký tên
01- Bạch Đằng Giang Foundation. Đại diện: Thạc sĩ Phạm Bá Hải
02- Ban Đại diện  Khối Nhơn sanh Đạo Cao Đài. Đại diện: Các chánh trị sự HứaPhi, Nguyễn Kim Lân, Nguyễn Bạch Phụng
03- Cộng hòa Thời báo (Úc châu). Đại diện: Ông Nguyễn Quang Duy.
04- Đảng Dân chủ Nhân dân VN. Đại diện: Bác sĩ Lê Nguyên Sang
05- Đảng Việt Tân. Đại diện: Giáo sư Phạm Minh Hoàng
06- Giáo hội Liên hữu Lutheran Việt Nm-Hoa Kỳ. Đại diện: Mục sư Nguyễn Hoàng
Hoa.
07- Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo Thuần túy. Đại diện: Tổng thư ký Lê Quang Hiển.
08- Hội Anh em Dân chủ. Đại diện: Kỹ sư Phạm Văn Trội và Mục sư Nguyễn Trung Tôn.
09- Hội Cựu tù nhân Lương tâm. Đại diện: Bác sĩ Nguyễn Đan Quế và Linh mục Phan Văn Lợi
10- Hội Phụ nữ Nhân quyền VN. Đại diện: Bà Trần Thị Nga
11- Khối Tự do Dân chủ 8406. Đại diện: Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa.
12- Người Bảo vệ Nhân quyền. Đại diện: Ông Vũ Quốc Ngữ
13- Nhóm Linh mục Nguyễn Kim Điền. Đại diện: Linh mục Nguyễn Hữu Giải.
14- Sài Gòn báo. Đại diện: Linh mục Lê Ngọc Thanh
15- Tăng đoàn Giáo hội Phật giáo VN Thống nhất. Đại diện: Hòa thượng Thích Không Tánh

----


MÙA XUÂN 2016 BI KỊCH!Hôm nay các bạn đã xem 3 bài báo về Cảnh sát giao thông chưa sau khi tin ông Trọng nhận tái cử Tổ...
Posted by Lâm Ngân Mai on Wednesday, 27 January 2016

Tạp Ghi Huy Phương: Những chuyện “tầm phào”


 Những chuyện “tầm phào”
http://i0.wp.com/ww2.kqed.org/news/wp-content/uploads/sites/10/2013/01/abigail-van-buren.jpg
'Dear Abby' columnist Pauline Phillips
Quán rằng: “Ghét việc tầm phào,
Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm.”

Nguyễn Đình Chiểu (Lục Vân Tiên)
Một tờ nhật báo hay tuần báo, nhất là một tờ báo dành cho phụ nữ phải có ba mục quan trọng: “tử vi,” “tìm bạn tri âm” và “gỡ rối tơ lòng.” Ngày này truyền hình và phát thanh cũng vào cuộc.


Thật tình tôi không rõ tác giả mấy chữ “Gỡ Rối Tơ Lòng” trên báo chí này do ai sáng tác, nhưng nghe qua, bốn tiếng này ngân nga như một câu vọng cổ rất mùi. Thì ra lòng chúng ta kết hợp bằng những sợi nho nhỏ như tơ, khi êm đềm song suốt, mượt mà thì chẳng nói làm chi, khi lo lắng, rối nùi, gỡ chẳng ra như mớ bòng bong, hay như thành ngữ “rối như tơ vò,” không biết giải quyết cách nào, để cuối cùng phải nhờ đến một nhân vật lần mối gỡ giúp chúng ta.
Đã lâu lắm, miền Nam hồi thập niên 50, trên tuần báo Thẩm Mỹ, một tờ báo bán rất chạy trên toàn miền Nam, “Gỡ Rối Tơ Lòng” đã là một mục rất ăn khách. Phải chăng báo chí miền Nam Việt Nam đã có sáng kiến tiên phong, vì từ năm 1953 trên báo Saigon Mới đã có mặt mục “Gỡ Rối Tơ Lòng,” trong khi chuyên mục “Dear Abby“của bà Pauline Friedman Phillips chỉ mới xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1956 trên Chicago Sun-Times, và sau đó tràn lan trên hơn 1.000 tờ báo ở Hoa Kỳ, cả những nơi xa xôi như Brazil và Thái Lan. Có lúc, chính con gái bà là Jeanne đã thay thế vai trò của bà. Một người em song sinh của bà, Esther Friedman Lederer cũng giữ mục gỡ rối với bút hiệu“Ann Landers,” đã từng là địch thủ của bà.
Người phụ trách trang báo này thường được lòng tin ở độc giả, những người đã đem hết tâm tình, gan ruột của mình để bày tỏ cho một người qua đường chưa hề biết mặt, để câu chuyện riêng tư của mình có người quan tâm tới, có khi là tên tuổi mình được lên mặt báo, có khi với mục đích gián tiếp bày tỏ tâm sự với một đối tượng nào đó cũng đủ vui rồi.
Tôi nghĩ chỉ cần một chút thông minh và khôn ngoan, một chút tâm lý, một chút đạo đức, một ông hay một bà nào đó cũng có thể tham gia gỡ rối tơ lòng cho thiên hạ.
Tôi nói một chút đạo đức, là vì không lẽ khi một người đàn bà mới than thở chuyện chồng con, người gỡ rối đã vội vàng khuyên người ta ly dị, hay mới nghe gia đình bất hòa đã vội nói những lời chia rẽ.
Câu chuyện này làm tôi nhớ lại một câu ca dao ngày trước trách móc một ông thầy bói:
“Thầy ơi! thầy đạo đức chi, thầy coi quẻ bói cho đôi này xa nhau!”
Không phải là mấy bà chuyên gỡ rối cho người ta chuyện tình cảm, bồ bịch, vợ chồng mà cả chuyện giao tế, chuyện hùn hạp làm ăn, chuyện sex, chuyện xích mích trong gia đình, nói chung là đủ mọi mặt. Khi gặp những chuyện rắc rối, khó xử đáng lẽ chúng ta cần gặp các cố vấn tâm lý, cố vấn tài chánh, cố vấn pháp luật... thì chúng ta lại tìm đến các “cố vấn gỡ rối...” để làm cho câu chuyện càng rối thêm.
Đàn bà vẫn bị các cụ chúng ta ngày xưa dè bỉu: “Đàn ông nông cạn giếng khơi, đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu,” nhưng không hiểu sao, việc gỡ rối, cố vấn cho chuyện thiên hạ đều do quý bà đảm trách? Phải chăng phụ nữ nhiều... chuyện, thích ngóng chuyện của thiên hạ, và cũng thường muốn bày tỏ, than thở tâm sự của mình với người khác, kiểu “ba bà đi bán lợn sề,” nôm na là chuyện thị phi, nên có chuyện gì, tìm hỏi quý bà là phải! Nắm vào yếu tố này, quý bà trên mục “Gỡ Rối Tơ Lòng” của tất cả tờ tuần báo đều thường là phụ nữ.
Một nam ký giả cũng có thể “hóa thân” thành một bà, mang một cái tên phụ nữ, giữ mục “Gỡ Rối Tơ Lòng” cho một tờ báo. Đó là trường hợp bà Kiều Diễm Hồng ngày trước.
Các câu giải đáp trong mục “Dear Abby” thường ngắn gọn tóm tắt, hóm hỉnh chứ không kể lể dài dòng hay trả lời lê thê của các bà phụ trách trên báo Việt, có khi chỉ một chuyện đã choán hết một, hai trang báo.
Khi không có ai gửi tơ lòng về đòi gỡ rối, thì bổn phận người phụ trách phải “sáng tác” ra một câu chuyện lâm ly, ai oán, một tay hỏi, tay bên kia đáp. Nhiều tờ báo vô lương tâm lại phịa ra những chuyện “ăn khách” nhưng vô luân như chồng tôi ngủ với em gái tôi, hay vợ tôi ngủ với anh họ tôi, bây giờ tôi phải làm sao? Tâm lý của nhiều người là thích lắng nghe chuyện người khác, ví như chuyện nhà hàng xóm, nên trang “Gỡ Rối Tơ Lòng” là trang báo được nhiều người đọc nhất!
Tối nay trên đường về nhà tôi bật radio, tình cờ nghe một mục “Gỡ Rối...” Tôi đã nghe hết chương trình để có thể hoàn tất bài viết này. Mục này theo thông lệ, là người phụ trách chương trình đọc một bức thư tâm tình, éo le của một thính giả và yêu cầu những người đang nghe chương trình này góp ý. Đây là một hình thức không phải là chỉ có một người gỡ, mà cả chục ông bà xúm vào gỡ rối kiểu “bề hội đồng,” nhưng “ông nói gà bà nói vịt,” cuối cùng làm cho người trong cuộc đã rối lại càng rối thêm.
Người xướng ngôn viên phụ trách chương trình đã đọc một bức thư của một nữ độc giả nào đó, than thở được một chàng “Việt Kiều” về nước cưới làm vợ đem qua Mỹ. Nhưng qua đây rồi, cô nàng bất như ý vì chồng không giàu có, không có khả năng đùm bọc, lo lắng cho vợ, chỉ lo ăn chơi, đàn đúm bạn bè. Câu hỏi nhờ chư vị chỉ giáo: “Vậy bây giờ em phải làm sao?”
Trong vòng chưa đầy 20 phút đã có hàng chục thính giả, nam có nữ có, gọi vào phê bình, góp ý, bình luận loạn cả lên. Người thì khuyên cô nên đi kiếm “thằng” khác, người thì nhắc cô phải mang ơn ông chồng, người thì suy luận cô ả này lo làm tiền dành dụm để gửi về cho gia đình ở Việt Nam, bây giờ bắt đầu chán chồng. Hết giờ “tâm tình,” cũng chưa thấy ai gỡ rối được cho người trong cuộc, mà còn làm cho câu chuyện rối rắm thêm, trong khi người gọi điện thoại vào vẫn còn đông, đèn vẫn còn chớp, người phụ trách chương trình đành xin hẹn ký sau nhờ quý vụ “gỡ” tiếp.
Tôi nghĩ: “Làm gì có cô nào to gan đem chuyện riêng tư của mình gửi gắm lên đài phát thanh.” Đây rõ ràng là một câu chuyện phịa! Điều tôi thắc mắc, là vào giờ cao điểm, người ta đi làm về, giờ sửa soạn bữa cơm tối hay đang cùng nhau quây quần với gia đình, vì sao nhiều người “huỡn” để bao đồng lo góp ý cho thiên hạ quá vậy? Có người cho biết, kiên nhẫn gọi năm lần bảy lượt mới “dô” được đài.
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Đèn nhà ai nấy sáng!” và thiên hạ cũng nên cầm đuốc “rê” lại chân mình một chút coi, bớt chạy theo những chuyện tầm phào vô bổ! Người đời hay thích bàn tán, phê bình, tọc mạch nhiều lời về chuyện của người khác, gọi là chuyện “tào lao thiên địa” hay chuyện thị phi. Những người thích nói chuyện thị phi hay “hóng” chuyện thị phi là những người thích thú theo dõi chuyện người khác và luôn luôn tìm cách để loan truyền chuyện này với những người quen biết hay không quen biết. Đó là thói xấu “ngồi lê đôi mách.”
Việc đem chuyện gia đình người khác lên mặt báo hay đài phát thanh là khuyến khích những ông bà “rỗi việc” chồm vào đời sống riêng tư của người khác, thích làm “thầy đời,” “thầy bàn” hay cố vấn là một thói xấu rất... Việt Nam.

Tạp Ghi Huy Phương

Bài Xem Nhiều