We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 31 March 2016

LÃO XÀ ÍCH VÀ CON NGỰA GIÀ


Xe ngựa trên đường phố Sài Gòn xưaCon đường đất nứt nẻ lồi lõm sống trâu trải dài trên cánh đồng hoang làm xe xóc lên xóc xuống, người ngồi ngắc ngư nghiêng ngả. Lọc cà lọc cọc, hai bánh xe có niền sắt quay vòng đều đều chậm rãi. Lục lạc đeo cổ ngựa phát tiếng kêu leng keng leng keng như tiếng nhạc buồn tấu mãi một điệp khúc.
 
Lão xà ích nằm trằn trọc mãi trên tấm ván ngựa nhỏ cũ kỹ không tài nào ngủ nổi. Đôi mắt cứ mở thao láo trong bụng. Bao năm tháng trôi qua tàn lụi trên cuộc đời lão. Hết nằm nghiêng bên phải tới nằm nghiêng bên trái, hết duỗi tay lại duỗi chân, thở ngắn than dài. Bao nhiêu hình ảnh, bao nhiêu sự việc vui có buồn có từ đâu ào ào kéo tới, xuất hiện trong trí nhớ lờ mờ của lão như một cuốn phim quay chậm thoáng ẩn thoáng hiện, chợt đến chợt đi. Lão cố xua đuổi nhưng nào xua được. Càng đuổi nó càng thi nhau ùa đến. Lão bực mình nhỏm dậy lấy gói thuốc rê vấn hút. Bây giờ có lẽ đã quá nửa đêm. Bầu trời tối đen như mực. Tiếng cú kêu từ xa vẳng lại. Người ta bảo cú kêu là điềm xấu đấy. Lão tự nhủ, nhổ nước bọt, rời ván ngựa bước ra ngoài tới bên chái lều nơi trú của con ngựa. Căn lều nhỏ lợp lá dừa chia hai: một cho chủ một cho ngựa. Chỗ dành cho ngựa thấp tè, cao hơn nó chút đỉnh. Ngựa nghe tiếng động biết chủ uể oải đứng lên, cái đuôi phất phất nhẹ hai bên mông. À thì ra mày cũng như tao không ngủ được. Tao thương mày lắm ngựa ơi. Tao đâu muốn làm khổ mày, chẳng qua tại cái số tao mạt rệp. Tao cũng chẳng còn nhớ thầy trò mình bao nhiêu tuổi đời, tất nhiên mày nhỏ hơn tao nhiều. Tao không vợ con họ hàng thân thích, mày cũng vậy. À không, tao có bồ. Cô bồ tao xinh đẹp lắm. Bữa nào rãnh rỗi tao kể mày nghe. Hôm nay thầy trò mình xui tận mạng. Thôi ráng ngủ đi nghe con. Ngủ lấy sức mai thầy trò mình lại đi kiếm ăn. Hừ, ngày chỉ cần hai bữa ăn mà cũng vô cùng vất vả lao đao lận đận.
**
Một buổi sáng giữa mùa nắng miền Nam, mặt trời mới lên đã oi ả nóng nực. Như mọi ngày lão xà ích rời túp lều nhỏ thắng bộ giây cương vào mình ngựa rồi đánh cỗ xe thổ mộ cũ kỹ ra chợ đón khách. Mới khoảng bẩy giờ chợ đã đông người các nơi qua lại. Một bà tuổi trung niên đến bên lão hỏi: "Đi không?". Lão không trả lời, hỏi lại: "Gần hay xa?". Bà khách lườm buông tiếng: "Xa". Vì quốc lộ bây giờ không an toàn, người ta di chuyển bằng xe ngựa nhiều hơn trên những con đường đất xấu để giữ mạng sống. Tuy chiến sự chưa lan tới, vùng quê này luôn xẩy ra việc "mấy ảnh" đêm đêm từ bưng mò về xóm làng cùng bọn nằm vùng, khi thu gom lương thực, khi bắt nộp thuế, khi hội họp dân làng giải thích đường lối chính sách của "Mặt trận", khi ra quốc lộ đào đường đắp ụ đặt mìn nổ xe quân đội Cộng hòa đi qua. Lúc đầu xe đò tư nhân trúng mìn làm nhiều người bị thương và chết. Còn xe quân đội trước khi đi họ cho rà mìn nên chẳng có gì xẩy ra. Nhờ việc phá đường và đặt mìn này lão xà ích có khách hơn trước, không kể mùa mưa. Tiếng người khách hỏi tiếp:"Có đi không thì nói?". "Đi chớ nhưng đi đâu?". "Núi Ông". "Núi Ông?". Từ đây tới đó xa quá đường lại khó đi, lão xà ích ngần ngại, nói: "Đây tới đó cũng mất cả buổi, thôi hổng đi đâu". Bà khách ra giá: "Một ngàn chịu không?". "Phải hai ngàn". "Mắc dữ vậy cha!". Tuy nói thế nhưng cả gia đình họ vẫn lên xe, sau mấy phút kỳ kèo trả giá. Họ phải đến nơi đúng ngày giờ kịp dự giỗ tổ, nhất là xum họp bà con họ hàng mỗi năm có một lần. Mặc dầu chiến tranh làm gia tộc phân tán nhiều nơi họ vẫn giữ lệ cũ. Gia đình sáu người ngồi lên cỗ xe thổ mộ ọp ẹp, chật ních. Lão xà ích  đánh lưỡi chặc chặc, đưa roi quất khẽ vào mông con ngựa già ra lệnh cất vó.
 
Con đường đất nứt nẻ lồi lõm sống trâu trải dài trên cánh đồng hoang làm xe xóc lên xóc xuống, người ngồi ngắc ngư nghiêng ngả. Lọc cà lọc cọc, hai bánh xe có niền sắt quay vòng đều đều chậm rãi. Lục lạc đeo cổ ngựa phát tiếng kêu leng keng leng keng như tiếng nhạc buồn tấu mãi một điệp khúc. Con ngựa mới chạy ít cây số đã thở phì phì mệt nhọc. Nó già rồi, hơn mười năm theo chủ chạy xe chưa một ngày ngơi nghỉ. Ôi cái thời oanh liệt xa xưa khi người và ngựa còn tràn đầy sinh lực nơi trường đua với những thành tích lừng lẫy.                                                                                                                                 
Hai đứa trẻ kêu đói, bà khách mở bọc vải lấy ra mấy ổ bánh mì mềm xèo như nhúng nước. Nghe hai đứa nhai nhóp nhép làm lão xà ích phát thèm. Lão nuốt nước bọt đánh ực. Đã lâu, từ khi rời bỏ thành phố lão không được ăn thứ thực phẩm này. Sáng nào cũng chỉ vài củ khoai lang hay một hai khúc khoai mì luộc. Hơn năm nay xẩy ra tổng công kích, tổng nổi dậy gì đó toàn vùng bao trùm không khí loạn lạc. Ban đêm "mấy ảnh" về bắt người, ám sát, ban ngày lính cộng hòa hành quân tảo thanh làm dân hoang mang sợ hãi, chẳng còn bình tâm lo việc canh tác. Ruộng vườn bỏ phế, nhiều người bỏ đi nơi khác tìm nghề kiếm ăn làm lão xà ích mất khách. Lão cũng muốn lên thành phố nhưng nghe nói bây giờ người ta di chuyển bằng xe lam xe buýt vừa nhanh lẹ vừa tiện lợi, chẳng còn mấy ai đi xe ngựa. Thôi đành "gà què ăn quẩn cối xay" vậy. Lão xà ích tự an ủi và lão cũng không muốn trở lại thành thị sống nữa, đâu còn có nghề gì cho lão. 
 
Buổi trưa trời nóng hầm hập như đổ lửa, mọi người mồ hôi nhễ nhại mệt mỏi, chẳng còn ai nói cười chuyện trò như lúc mới lên xe. Tất cả có lẽ đang dõi theo vòng bánh xe lăn hoặc nhắm mắt ngủ gà ngủ gật. Xe chạy khoảng mươi cây số rời cánh đồng nhập vào hương lộ. Có một quán lá nhỏ bên đường, theo yêu cầu của khách, xe dừng lại nghỉ. Nhìn mồ hôi toát nhễ nhại trên mình ngựa, lão xà ích có nén thở dài vỗ vỗ vào mông nó, nói như nói với người: "Mệt lắm hả? Thôi ráng đi rồi tao kiếm đồ bồi dưỡng cho mày". Thực ra là lão dụ khị con ngựa chứ kiếm đâu ra đồ bồi dưỡng giữa mùa đồng khô cỏ cháy. Nhưng thật may, lão chợt nhìn thấy sau quán có bụi mía nhỏ liền săm săm bước tới bẻ một hai cây đem cho ngựa, mặc bà chủ quán la lối. Con ngựa già ve vẩy đuôi ra điều biết ơn chủ. Bà khách thuê xe có vẻ thương tình lấy trong bọc một vắt cơm đưa lão xà ích. Lão cảm động lắm, một miếng khi đói bằng một gói khi no mà! Lão nhủ thầm khi nhận tiền sẽ bớt cho "bả" một trăm. Ăn uống nghỉ ngơi chốc lát họ lên xe đi tiếp. Con ngựa già uể oải cất vó. Lão xà ích không ngờ đường lại xa và khó đi đến thế. Ngày trước lão có đưa khách đến nơi này một lần. Vì khi đó lão trẻ sức trai còn mạnh, nhất là con ngựa còn phong độ nên không thấy đường xa. Lão mệt mỏi cất tiếng phàn nàn với khách tỏ ý muốn bỏ cuộc, trả tiền hay không cũng được. Bà khách tưởng lão giở trò vòi vĩnh muốn đòi thêm tiền làm lão bực mình gắt: "Không phải vậy. Tui mệt lắm rồi!". Tuy nói thế nhưng lão vẫn tiếp tục cho ngựa rong ruổi. Mãi xế chiều mới tới nơi - một xóm nhỏ những cây dừa cao nghệu xác xơ già cỗi bao quanh. Bà khách tặng thêm tiền nhưng lão khẳng khái từ chối và chủ nhà giữ lại đãi bữa ăn cũng từ chối luôn. Lão không muốn người ta thương hại bố thí, nại lý do trời đã ngả sang chiều. Cầm mấy tờ giấy bạc tiền công, uống ly nước trà, còn ngựa được bồi dưỡng vài tán đường thô, lão xà ích đánh cỗ xe thổ mộ quay về. Đi vài cây số lão chợt nhớ ra một con đường tắt có thể về nhà sớm hơn, lão quay xe nói an ủi ngựa: "Thôi ráng đi con, về nhà cha con mình nghỉ ngơi thoải mái. Tao sẽ cho mày ăn một bữa thật no. Lâu lắm mới vớ một món bở con ạ". Ngựa gục gặc đầu biểu đồng tình.
 
Con đường tắt này xuyên qua một khu rừng lâu nay ít người đi lại, cây dại nhiều chỗ cành lá chìa ra che lấp mặt đường làm ngựa cất bước khó khăn chậm chạp kéo lê cỗ xe. Người ngựa đều mệt. Đến một khúc quẹo lão xà ích vừa giật cương ngựa thì trước mặt lão xuất hiện một gã cao to mặc bộ bà ba đen bạc mầu, râu ria xồm xoàm, tay cầm con dao rừng. Nhìn mặt mũi bậm trợn dữ dằn của nó, lão xà ích biết ngay là tên bất lương. Nó nhìn lão chằm chằm, cất tiếng nói ồm ồm: "Cho đi nhờ một quãng nghe lão già". Chẳng cần đợi lão đồng ý hay không nó nhẩy phốc lên xe ngồi nhe hàm răng to vàng khè nham nhở cười. Thân mình to lớn nặng nề của nó đặt mạnh xuống băng ghế gỗ làm xe phát tiếng rên cót két. Đi một quãng nó cất tiếng hỏi lão: "Thế nào, hồi này làm ăn có khá không?". Lão xà ích nhổ bọt xuống đường: "Không chết đói là may. Sức mấy mà khá". "Sao biểu người chạy loạn đông, lão đánh xe suốt buổi không hết việc?". Lão xà ích đưa mắt lừ nó: "Thế còn anh? Anh mần chi ở đây?". Tên bặm trợn cất tiếng cười giả lả: "Tui ở đây đón đường khách". Lão xà ích có vẻ nghi ngờ: "Đón đường khách? Để mần chi?  "Thì cướp của chớ mần chi!". "E hè". Lão xà ích trừng mắt nhìn nó gằn giọng: "Cướp của?". "Đúng vậy. Thôi, nói thật với lão từ sáng tới giờ đứng chờ ở đây, lão là người khách đầu tiên đó. Hồi này mần ăn khó khăn. Lão đưa tui mượn chút tiền, khi nào trúng mánh lớn trả lại". Lão xà ích quắc mắt nhìn tên cướp cạn, thằng khốn này thiệt to gan. Lão nói như rít: "Tao làm gì có tiền đưa mày!". Thằng cướp cạn cất tiếng cười nham nhở: "Tui biết lão vừa đưa khách về. Thôi nể mặt già lão đưa tiền tui, êm mọi việc. Nếu không chịu thì mất cả xe lẫn ngựa đó. Con ngựa này tuy gầy nhom đem xẻ thịt cũng no bụng ít bữa. Tui nhân từ nên để đường lão mần ăn". Dứt lời nó đưa hai cánh tay hộ pháp đặt lên hai vai lão giật mạnh làm lão suýt té xuống đất. Lão bắt buộc ngừng xe tìm cách đối phó. Thằng cướp cạn liền lật ngửa lão và đưa tay bóp cổ, ra lệnh:  "Đưa tiền đây!". Trong lúc lão xà ích chưa biết phản ứng sao tên cướp đã giật cái túi áo trước ngực của lão lôi ra mấy tờ giấy bạc, cất tiếng cười khè khè khả ố: "À hà, khá đây".  Nó cầm tiền nhẩy khỏi xe bước đi. Lão xà ích giương đôi mắt căm hờn nhìn tên cướp cạn xa dần. Trước khi khuất nẻo nó còn giơ tay vẫy vẫy chào biệt lão. "Thằng trời đánh! Quân lưu manh! Đồ cướp cạn bất lương!". Lão xà ích cất tiếng nguyền rủa, nhìn theo bóng tên cướp nhổ nước miếng. Thế là hết công lao một ngày cực nhọc vất vả. Lão than thầm, nheo nheo đôi mắt mệt mỏi nhìn quãng đường chiều heo hút còn lại chút ánh sáng, nhìn con ngựa già đang đứng cúi đầu thở dốc. Nó như thông cảm nỗi bực tức căm phẫn của chủ, đưa hai vó trước cào cào mặt đất. Lão xà ích rời xe đến trước đầu ngựa, tay gãi gãi nhẹ vào cổ nó an ủi. Lão nói như rên: "Tao thương mày lắm. Mày mệt đói hả? Tao cũng vậy. Số phận cha con mình thật hẩm hiu mạt rệp. Đã nghèo còn mắc cái eo. Có tiền bỏ vào túi vẫn bị cướp mất. Cả một ngày thầy trò mình vất vả cực nhọc trở thành công cốc lại còn suýt bị thằng bất lương hãm hại. Lão xà ích thở dài buồn bã chán nản ngồi bệt xuống vệ đường mở gói thuốc rê vấn hút.
 
Giờ lâu người ngựa lại đi. Đánh vật mãi với con đường đất, chợp tối mới về căn lều tồi tàn đã che mưa nắng cho người và ngựa bao năm đằng đẵng. Xóm nghèo im lìm trong bóng đêm lặng lẽ vắng ngắt. Lão xà ích vét hết cám trộn nước trong máng gỗ cho ngựa ăn, còn lão nuốt xong chút cơm nguội bữa trước để lại rồi thả mình trên tấm ván ngựa. Nhưng cả đêm đó lão không tài nào nhắm mắt ngủ nổi. Dĩ vãng hiện tại quay mòng mòng vật lộn nhau trong cái đầu chất phác của lão. Than ôi, mới đấy đã quá nửa đời người! Biết bao vật đổi sao rời mà tại sao lão vẫn là lão, vẫn là thằng xà ích nghèo rớt mồng tơi. Người ta bảo "Mặt trận" đánh Mỹ Ngụy dành cơm no áo ấm cho dân nghèo nên nhiều người theo vô bưng. Lão có hai thằng cháu họ xa, một thằng nghe tuyên truyền vô bưng làm bộ đội giải phóng, một thằng tới tuổi đi lính quốc gia. Lão không biết hai thằng này có đụng trận nhau không. Với lão những ngày đầu cũng như thiên hạ "hồ hởi phấn khởi" lắm. Lão chờ mãi cuộc đổi đời ấy. 
**
Năm đó thằng Ba - mọi người quen gọi là "thằng Ba trời ơi" vì nó hay kêu trời, vui cũng kêu buồn cũng kêu - đúng 13 tuổi mẹ mất. Bà con lối xóm thương tình mỗi người góp một ít đủ cho thằng Ba chôn cất mẹ. Nó không cha từ năm hai tuổi. Trong lúc chưa biết mưu sinh bằng cách nào thật may mắn cho nó: chú Sáu từ Saigon về quê chơi. Nghe bà con kể hoàn cảnh thằng Ba, chú Sáu vui vẻ nói: "Tui có việc cho nó đây. Chẳng là ông bạn tui ở Saigon làm chủ mấy con ngựa đua, tháng vừa rồi một thằng nài bị té ngựa gẫy cẳng sao đó nên đang thiếu một đứa thay thế". Quan sát thằng Ba từ đầu đến chân, chú Sáu gật gù: "Nhỏ con, mặt mũi có vẻ lanh lợi, được đấy! ?". Thế là thằng Ba được đưa lên Saigon "mần việc". Sau khi hỏi tên tuổi lai lịch và cân nặng nhẹ xem đủ tiêu chuẩn làm nài không, ông chủ ưng liền. Cuộc đời thằng Ba bắt đầu "sự nghiệp" từ đây. Qua mấy tháng vất vả tập tành với con ngựa ô có tên là Phi Long, thằng Ba được đưa ra trường đua tham dự cuộc đua đầu tiên trong đời. Ông chủ không trông mong gì nó thắng, chỉ muốn cho nó quen với đấu trường. Biết nài mới ngựa mới ra quân, các tay tổ và dân mê cá ngựa không ai "bắt" con Phi Long. Thật bất ngờ, con Phi Long vào những giây phút chót phi nước kiệu về hạng ba. Ông chủ thằng Ba thắng lớn. Từ đấy các tay chơi cá độ bắt đầu chú ý tới con Phi Long và thằng nài Ba. Lúc dắt ngựa ra mấy thằng nài cũ - cũng là đệ tử của ông chủ ngựa - nhìn thằng Ba với vẻ mặt tức tối. Có thằng còn giơ nắm đấm dứ dứ trước mặt nó. Thằng Ba ngạc nhiên lắm. Mình có làm gì đâu mà bọn nó lại có vẻ giận dữ vậy. Về nhà, thằng Ba vẫn ở nhờ nhà chú Sáu, được chú giải thích nó mới biết bài học vỡ lòng đầu đời: hơn người thì người ghét tìm cách hãm hại, thua người thì người khinh dìm cho chết luôn. "Trời ơi, sự đời sao mà lí lách vậy!". Thằng Ba kêu thầm trong bụng.
 
Kể từ buổi đạt chiến thắng không mong đợi, thằng Ba được ông chủ tận tình rèn luyện và chỉ bảo tất cả mánh khóe nơi trường đua. Những đứa trẻ con nhà nghèo mồ côi cha mẹ thường khôn lanh hơn những đứa cùng lứa tuổi. Thằng Ba chẳng bao lâu trở thành gà nòi của ông chủ ngựa đua Rô Be Bẩy. Ông này là dân Tây (quốc tịch Pháp) nổi tiếng ăn chơi và cũng rất chịu chơi. Ông cho thằng Ba về sống trong ngôi biệt thự của mình, ở chung phòng với anh bếp nơi góc vườn. Căn biệt thự của ông Rô Be Bẩy rất sang trọng đồ sộ, sau vườn hoa là một dẫy chuồng ngựa, có tất cả 5 con. Từ trước tới nay ngựa của ông chưa được một giải thưởng nào. Con ngựa Phi Long ông mới mua về mấy tháng tuy không to lớn nhưng đang độ trưởng thành. Người ta bảo con ngựa này có 4 vòng trắng nơi cổ chân tức tứ túc mai hoa thuộc loại ngựa quý, rất cao giá. Ngày hai buổi thằng Ba cùng các bạn đồng nghề dắt ngựa ra trường đua tập dượt. Mấy thằng kia không được ông chủ ưu đãi nên căm ghét thằng Ba tìm mọi cách "chơi"nó. Thằng Ba thản nhiên không quan tâm tới sự kèn cựa này, như lời anh bếp khuyên "mày được ông chủ cưng thì đách sợ thằng nào". Một hôm trong lúc tập dượt một thằng nài cố tình chèn ép cho thằng Ba ngã làm con ngựa bị thương nhẹ, còn nó may không việc gì. Anh bếp xui nó méc với chủ nhưng nó không nói. Chính vì "nghĩa khí quân tử" này thằng Ba và thằng nọ trở thành đôi bạn thân kết nghĩa anh em. Con đường sự nghiệp của thằng Ba cứ thế thăng tiến. Trong cuộc đua sau đó con Phi Long về nhất giữa tiếng hò hét hoan hô vang trời của dân cá độ trường đua. Ông chủ Rô Be Bẩy được một số tiền lớn và tên tuổi ông cũng như thằng Ba trở thành đề tài bình luận sôi nổi của các tờ "nhựt trình". Tất nhiên "thằng nài Ba" trở nên đắt giá được ông chủ biệt đãi về tiền bạc cũng như đời sống. Nhiều chủ đua ngựa muốn níu kéo mua chuộc nó nhưng nó một mực trung thành với chủ. Cứ thế thời gian trôi qua, thằng Ba và con Phi Long thường xuyên ra trường đấu lúc thắng lúc thua, nhưng khi nào cũng ở các hạng nhất, nhì, ba. Sau mấy năm lăn lộn trong nghề thằng Ba bị xếp vào hạng tuổi bắt đầu "già"sắp về vườn theo quy định trường đua - nó được ông chủ ra lệnh cuộc đua tới bằng mọi cách phải thua. Nhưng lúc vào cuộc đua không biết vì nó hiếu thắng hay vì quên lời chủ dặn, đã thúc ngựa phi nước đại về nhất. Ông chủ Rô Be Bẩy hầm hầm tức giận. Về nhà, ông đấm đá đánh đập chửi bới thằng Ba thậm tệ rồi đuổi nó khỏi nhà. Nó chẳng hiểu chuyện gì xẩy ra nông nổi này, khóc nức nở van xin ông chủ nhưng không xong. Sau đó nó được một chủ ngựa đua khác thương tình đem về nuôi. Trong một cuộc đua nó đang dẫn đầu thì bị chính thằng bạn - mà nó kết nghĩa anh em nơi chủ cũ - chèn ngang một cách nhà nghề làm nó ngã ngựa. Con ngựa bị trật móng bong khớp sau này thành tật, còn thằng Ba bị dập xương vai bắt buộc phải giải nghệ. Nó nghe nói ông chủ nó thưa kiện vụ này. Còn nó được ông  bán cho con ngựa bị thương tật với giá rẻ. Ông khuyên nó về quê đánh xe thổ mộ chở khách mưu sinh. Thế là chấm dứt chuỗi ngày tháng "mần" nài đua ngựa của "thằng  Ba trời ơi" nơi chốn phồn hoa đô hội.
**
Về quê thằng Ba dựng một cái lều lá trên miếng đất nhỏ của ông bà để lại nơi cuối làng.
 
 Có được chút tiền dành dụm khi làm nài đua, thằng "Ba trời ơi" mua một cỗ xe thổ mộ tàng tàng cũ kỹ và bắt đầu hành nghề chở khách chở hàng. Cuộc mưu sinh tuy vất vả chật vật nhưng cũng đủ sống qua ngày. Với bản tính hiền lành - nhất là giá tiền nào nó cũng sẵn lòng đưa đón khách - nên được mọi người thương đi đâu cũng "ới" thằng Ba. Rồi năm 19, 20 tuổi (Ba không nhớ rõ) một cuộc tình đến với Ba: cô gái bán hàng rong, khách thường xuyên của Ba. "Con nhỏ" theo nhận xét của Ba xinh đẹp, hiền lành. Hai đứa thương nhau được khoảng nửa năm sắp đi tới việc cưới xin ăn ở vợ chồng chính thức, cô gái bất thần biệt tăm tích. Ba đau khổ một thời gian khi nghe tin cô ta bỏ đồng quê lên Saigon mần nghề "bán ba". Tình nghĩa thời buổi nay sao mà tệ bạc. Ba rủa thầm. Lão thầy Chín trong làng chuyên bói toán tử vi nói thằng Ba năm nay gặp sao la hầu la hán gì đó xấu lắm. Quả đúng vậy. Vừa bị bồ bỏ ít ngày thằng Ba bị công an xã bắt giải lên huyện giam giữ tra xét về "tội" làm liên lạc cho "mặt trận". Sự thực buổi đó có người trong xóm nhờ Ba đưa giúp một gói đồ cho bà con ở thị xã. Ba đâu biết gói đó có gì bên trong nên cứ thành thật khai báo. Bị nhốt vài tháng được tha. Con ngựa may có bà con lối xóm trông coi giúp. Một buổi tối đi mần về tới lều chưa kịp nghỉ ngơi ăn uống, mấy người vận đồ bà ba đen mang súng nhỏ xông vào bắt trói Ba dẫn đi mãi trong rừng sâu. Trong số này Ba thấy có gã gửi đồ bữa trước. Thì ra đó là "mấy ảnh" trong bưng ra bắt Ba về "tội" chỉ điểm cho "ngụy" phá vỡ cơ sở hạ tầng. Bị giam giữ hơn năm, trải qua bao lần tra khảo thêm đói ăn bệnh hoạn, Ba mới được tha về, người chỉ còn da bọc xương. Tù quốc gia ăn cơm no có thịt cá rau, còn tù "mặt trận" trong bưng ăn toàn thứ khoai mì có lớp vỏ bên trong trắng lấy giống từ Ấn Độ, vừa đắng vừa độc (người ta bảo loại khoai mì này chỉ dùng chế biến trong công nghệ làm thức ăn gia súc) với rau tầu bay mà cũng không được no. Hôm thả hai mắt Ba bị bịt kín, tay bị trói và thòng giây kéo đi, Ba sợ hãi tưởng họ mang đi bắn. Lội bộ cả buổi tới bìa rừng "mấy ảnh" mới cởi trói bỏ miếng vải bịt mắt ra nói thả cho về. Hú hồn viá, Ba như người sống lại. Những đêm nằm tù Ba nhớ lại câu chuyện các cụ bô lão trong xóm kể, mấy mươi năm trước ông già của Ba cũng bị các quan Tây bắt tù vì "tội" nghèo quá không có tiền đóng thuế thân thuế thổ gì đó, khi được tha phải bỏ xứ đi xa mần ăn rồi biệt tăm tích luôn. Cũng những ngày này Ba lo cho mình ít hơn lo cho con ngựa ở nhà. Ba chỉ sợ nó chết vì đói hoặc bị người ta làm thịt. Thời buổi này cuộc sống mọi người đều vất vả khó khăn, để tồn tại người ta có thể làm tất cả mọi việc dù biết đó là bất nhân bất 
 
Về tới đầu xóm Ba nhìn thấy con ngựa của mình đang gặm cỏ. Nó vốn đã gầy giờ càng thêm gầy xác xơ tiều tụy, một thằng nhỏ cưỡi trên lưng. Ba mừng rỡ. Thì ra ông Tư lão niên trong xóm cho cháu chăn nuôi giúp con ngựa. Gặp lại chủ nó mừng rỡ hí vang và hai cẳng trước cứ thế chồm lên quơ lia lịa trên không. Ba ôm đầu nó vuốt ve an ủi. Nó liếm láp hít hít khắp mặt mũi tay chân Ba. Cả chủ và tớ đều chẩy nước mắt. Từ đó Ba lại tiếp tục hành nghề cũ. Một mình một ngựa, sửa lại cỗ xe thổ mộ bỏ phế từ ngày bị giam tù, cùng nhau chạy vạy bươn trải cuộc mưu sinh, mặc cho thế sự thăng trầm biến chuyển. Vì quá "phong trần" đánh vật trong cuộc mưu sinh, Ba đã biến hình đổi dạng. Năm tháng nặng nề trôi in hằn nét khắc khổ già nua trên mặt và thân mình gầy quắt của Ba. Mới đấy còn là "thằng Ba trời ơi", "thằng Ba nài đua" rồi "anh Ba xe ngựa" giờ đã trở thành "lão xà ích" với con ngựa già!
**
Lão xà ích nằm liệt trên đám cỏ dại héo hắt xen lẫn đất cát đá vụn hỗn độn bên đường. Trước mặt lão không xa, cỗ xe thổ mộ tan banh, mui tôn rách thành từng mảnh, hai bánh xe mỗi cái một nơi, niền sắt rời ra cong queo. Gần đó con ngựa già nằm nghiêng bốn vó buông thõng rã rời, sùi bọt trắng hai bên mép. Thân mình nó gầy đét lởm chởm lông đen, cái bụng lộ những xương sườn thảm hại và máu từ đây chẩy xuống đất. Hình như nó đang thoi thóp thở. Đôi mắt đờ đẫn không hồn của nó mở to ướt nhèm, nước mắt tuôn dàn dụa. Nó khóc, có lẽ vì không chịu đựng nổi sự đau đớn hành hạ do vết thương gây ra. Môt vó trước của nó, vốn thương tật kinh niên, bị đứt lìa lòi cả xương. Cạnh nó vung vãi vài bông hoa bắt đầu héo. Lão xà ích hết nhìn cỗ xe thổ mộ, nhìn con ngựa già rồi nhìn con đường nhựa lam nham đen đủi trải dài trong chiều nắng đang tắt.  
 
 Hôm trước có người trong xóm đến thuê bao lão xà ích một ngày để đi rước dâu. Có tất cả ba xe thổ mộ chở nhà trai. Nhà gái không xa nhưng đường đi hơi khó khăn vì phải băng qua một con dốc cao. Xe của lão xà ích được vinh dự chở chú rể và ba cậu phù rể. Ba người này đều áo sơ mi trắng thắt cà vặt đỏ, chỉ mình chú rể  mang cái áo vét rộng quá khổ. Cha mẹ chú rể khăn đóng áo dài theo cổ lệ. Hai bên thành xe dán nhiều tờ giấy đỏ dài có những hàng chữ viết như "loan phụng kỳ duyên", "bách niên giai lão", "trăm năm hạnh phúc"...  Còn ngựa của lão xà ích có một vòng hoa đủ mầu sắc choàng quanh cổ và trên đầu "cắm" một bó hoa tươi nhỏ. Lão xà ích được chi trả  món tiền kha khá. Chật vật mãi mới vượt qua con dốc, đến trưa nhà trai tới nhà gái đúng giờ ấn định. Lễ lạc và ăn uống tiệc tùng xong xuôi nhà trai rước dâu về. Lần này xe lão xà ích đi giữa chỉ chở riêng cô dâu chú rể. Xe chở mấy ông bà già và họ nhà trai dẫn đầu. Xe sau chót là các cô cậu phù dâu rể.              
                                                                                                                                    
Buổi chiều đang êm đềm trôi bất thần một trận  cuồng phong dữ dằn nổi lên, khối mây đen vần vũ che lấp mặt trời, ào ào kéo về phía lão. Ba cỗ xe thổ mộ hối hả đánh vật với con đường đổ dốc đầy hiểm trở để kịp về nhà trước khi giông tố ùa tới. Người ta nói, mà lão xà ích thấy thiệt đúng, là lên dốc tuy vất vả nhưng vẫn hơn xuống dốc, sơ hở tí chút xe tan người chết liền. May mắn ba cỗ xe thổ mộ xuống hết dốc an toàn nhập vào quốc lộ vừa lúc một đoàn xe nhà binh cộng hòa rầm rộ chạy tới.Trong lúc lão xà ích đưa tay quệt mồ hôi trán khoan khoái thở ra nhẹ nhõm bỗng tiếng súng từ phía trước phía sau đồng loạt nổ, đạn bay chi chít rít lên rùng rợn. Chắc là phục kích đây. Nơi này tuy thuộc vùng "xôi đậu" nhưng lâu nay chưa xẩy ra chiến trận. Lão xà ích nghĩ bụng và chưa kịp định thần, một tiếng nổ lớn sát bên lão làm hai lỗ tai lão muốn vỡ màng tang. Người lão cùng đất đá bị hất tung lên. Khói đạn khét lẹt.Tiếng người kêu la rên rỉ. Súng đạn lớn nhỏ cứ thế nổ liên hồi. Lão xà ích thấy đau nhói toàn thân rồi ngất đi. Không biết bao lâu lão mới hồi tỉnh, nơi bả vai và chân lão máu chẩy ướt đẫm bộ bà ba mầu vàng mỡ gà, mua hồi tết bữa nay diện đi rước dâu, rách tơi tả. Lão biết mình bị thương nặng, đưa mắt nhìn quanh nghe ngóng. Gần bên lão chú rể nằm dài dưới đất hai tay ôm chặt cô dâu với chiếc áo cưới đỏ thấm máu. Hình như trong cơn hoạn nạn đau đớn và trước cái chết họ vẫn nhất quyết không rời xa nhau. Hồi lâu tiếng súng ngưng. Có lẽ hai bên đã rút để lại nơi trận đánh đám người rước dâu và ba con ngựa nằm bẹp dưới đất cùng ba cỗ xe thổ mộ chổng trơ tan tành. Lão xà ích thấy mờ mờ, cách chỗ lão hơi xa một chút, hai xe nhà binh bị đạn phá nát nằm ụ trên đường, không bóng người nào quanh đó. Chẳng lẽ họ mải mê bắn giết nhau không nhìn thấy những nạn nhân quằn quại trên vũng máu vì súng đạn của họ?              
                                                                                                             
Trong lúc bàng hoàng hoang mang lão xà ích chẳng biết mình bị trúng mìn hay bị đạn bắn phải. Thì ra bọn lão bỗng dưng mắc kẹt giữa lằn đạn của hai bên quốc cộng. Lão thấy thương quá đôi trai gái trẻ tuổi trong ngày vui đẹp nhất đời mình mang họa. Họ đâu có thù hận với ai, với phe này phe nọ, với bên này bên kia? Họ cũng như lão, chỉ là những công dân bình thường có làm gì nên tội mà phải hứng chịu tai nạn thê thảm thế này! Chợt mặt lão đanh lại, hai hàm răng nghiến chặt, đôi mắt trợn trừng. Lão muốn bước tới bên con ngựa vuốt ve an ủi nó nhưng không tài nào nhấc nổi hai chân. Lão thở dài thườn thượt đưa mắt nhìn bầu trời chạng vạng  tối với những khối mây đen khổng lồ hình thù quái dị đang vần vũ rời bỏ mặt trời trôi nhanh về phía lão. Rồi những khối mây đen bị gió lộng cuốn, tách ra chẳng khác gì vòi những con bạch tuộc sà xuống thấp như muốn chụp vồ lão. Lão rùng mình hoảng hốt. Lão nhìn lại những nạn nhân  nằm sóng soài trên mặt đường bê bết máu, không biết còn sống hay chết. "Trời ơi!" lão xà ích thốt tiếng kêu ai oán: "Chẳng lẽ ta chết nơi đây! Chẳng lẽ ta tới ngày tận số!". Rồi lão hét lớn: "Đúng là trời hại ta, đúng là đời hại ta! Trời ơi, ta làm gì nên tội để đến nông nỗi này!". Lão chống hai tay gắng gượng cố đứng lên lần nữa nhưng hoàn toàn vô vọng. Toàn thân lão đau đớn tột cùng, chẳng còn chút sức lực. Lão đành nằm buông xuôi ngửa mặt nhìn trời. Mặt trời bây giờ chỉ còn là một khối tròn mầu máu đỏ lòm nhòe nhọet tung tóe. Hai hàng nước mắt lão xà ích cứ thế tuôn trào trên khuôn mặt nhăn nhúm già nua. Thoáng chốc mặt trời chìm đắm mất hút nơi phương tây chẳng còn để lại dấu tích. Bóng tối đang phủ xuống vạn vật. Những lằn chớp lóe liên tục xé rách từng mảng trời và  những tiếng sấm tiếng sét như tiếng súng đại bác  rung chuyển muốn phá tan mặt đất. Hết nhân tai đến thiên tai. Hết tai họa này đến tai họa kia cứ thế chồng chất. Biết đến bao giờ...Lão xà ích nhắm đôi mắt lại.  
                                                          
Trong sấm sét gió gào, lão xà ích vẫn nghe thấy tiếng con ngựa già của lão rên rỉ từng hồi não nề thảm thiết. 
Truyện ngắn THANH THƯƠNG HOÀNG

NGƯỜI VIỆT ĐỘC ÁC VỚI NHAU TỪ BAO GIỜ VÀ BAO GIỜ SẼ THÔI?


Theo tổng kết của WHO được báo chí đăng lại, mỗi năm, Việt Nam có thêm 200.000 người mắc ung thư và trong số đó 70.000 phải chết. Theo tỉ lên dân số, Việt Nam trở thành một trong những quốc gia hàng đầu thế giới về tỉ lệ mắc và chết vì ung thư. Nguyên nhân chính đến từ thực phẩm nhiễm độc. Người Việt đầu độc nhau.

Hai câu hỏi, đúng ra là hai câu than thở thường nghe: “Bao giờ người Việt mới thôi độc ác với nhau?” và “Người Việt bắt đầu độc ác với nhau từ lúc nào?”
Thật ra, người Việt cũng giống như bất cứ giống dân nào trên thế giới, khi sinh ra có cả tốt lẫn xấu trong người chứ không chỉ biết độc ác với nhau mà thôi. Chính các điều kiện xã hội, cơ chế chính trị đã khơi mầm tội ác và ngăn chận những mầm tốt được sản sinh.
Nhật Bản là một ví dụ. Trước 1946, Nhật không phải là một nước hiền hậu, nhân bản như ngày nay. Bước chân của đạo quân Nhật đi qua cũng để lại những điêu tàn, thảm khốc không khác gì vó ngựa của đạo quân Mông Cổ đi qua trong nhiều trăm năm trước. Chính sách chinh phục và cai trị tàn bạo của Nhật đối với dân tộc Triều Tiên chẳng hạn là một bằng chứng tội ác khó mà quên. Ăn cướp tài sản của người dân trong vùng bị quân đội Nhật chiếm là hành vi phổ biến. Nạn đói tại Việt Nam năm 1945 với hàng triệu đồng bào miền Bắc chết một phần là do chính sách ác độc tịch thu thóc để nuôi ngựa của quân đội Nhật.

Thế nhưng điều kiện xã hội thay đổi sau hiến pháp dân chủ 1946, đã làm cho con người Nhật tốt hơn, thương yêu nhau hơn, kính trọng nhau hơn và tôn trọng luật pháp mà chính họ đặt ra chứ không do ai gán ghép. Phần nhập đề của Hiến Pháp Nhật 1946 khẳng định Nhật Bản dứt khoát từ bỏ quá khứ và xây dựng một Nhật Bản dân chủ thịnh vượng do dân và vì dân.
Trong giải túc cầu thế giới trên sân vận động Johannesburg ở Nam Phi 2010, khi tàn trận đấu, các hàng ghế đầy rác rến, lon, ly v.v. ngoại trừ khu người Nhật. Họ đứng lên và dọn rác của mình trước khi ra về dù đang rất buồn vì hôm đó đội Nhật thua. Nước Nhật là một quốc gia được cả thế giới kính trọng không phải chỉ về mặt kinh tế mà nhất là văn hóa.

Những hiện tượng bất nhân, độc ác đang thấy tại Việt Nam chỉ là quả chứ không phải là cây và do đó hái dăm trái thối hay thậm chí hái hết trái trên cây đi nữa sang mùa khác chúng sẽ được sinh ra.
Tội ác sẽ không bao giờ xóa được khi các nguyên nhân gây ra tội ác vẫn còn tồn tại.
Người Việt sẽ không bao giờ bằng người Nhật? Tại sao không. Người Việt có khả năng vươn lên như bất cứ dân tộc, quốc gia nào trên thế giới nếu có cơ hội, và cơ hội đó không do ai ban phát mà phải tự tạo cho chính mình.
Trần Trung Đạo

Tuesday, 29 March 2016

Tệ nạn xhcn:Tiến sĩ Giấy tại Việt Nam ngày nay.

Theo dư luận tại Việt Nam hiện nay:„Ở Hà Nội ra khỏi ngõ gặp tiến sĩ“ gợi cho chúng ta nhớ đến bài thơ „vịnh tiến sĩ giấy“ của Nguyễn Khuyến, những người mang danh tiến sĩ, nhưng thật sự chẳng có chút tài đức, trình độ học vấn kém cỏi, nghèo nàn kiến thức tổng quát, thiếu tài kinh bang tế thế, sau khi bái tổ vinh quy, chỉ tìm cách lợi dụng chức quyền, tham nhũng, hối lộ, đục khoét người dân, để lo cho bản thân và gia đình mình mà chẳng đếm xỉa đến việc nước, việc dân…

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai.

Cũng gọi ông nghè có kém ai.

Mảnh giấy làm nên thân giáp bảng, (1)

Nét son điểm rõ mặt văn khôi. (2)

Tấm thân xiêm áo sao mà nhẹ?

Cái giá khoa danh thế mới hời! (3)

Ghế tréo, lọng xanh ngồi bảnh choẹ,

Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!

Thời xa xưa với giấc mơ đi học dù theo lối từ chương, thi phú để ra kinh đô ứng thí, đỗ đạt được làm quan, áo gấm về làng bái tổ vinh quy „võng anh đi trước, võng nàng theo sau,“. Truyền thống đó vẫn còn ảnh hưởng đến xã hội ngày nay. Nhìn lại 40 năm dưới chế độ CS con người có quá nhiều thói hư tật xấu: kiêu ngạo, ham tiền, ghen ghét oán thù, hưởng thụ, ưa thành tích, không biết trọng dùng người tài đức, trí thức yêu nước để canh tân đất nước. Giới trẻ tại Việt Nam nhiều người có tài, có đức nhưng phần lớn không được giữ những chức vụ quan trọng vì không phải „con ông cháu cha“ như ca dao truyền tụng trong dân gian :

Con quan thì lại làm quan

Con sãi ở chùa thì quét lá đa

Đặng Tiểu Bình/ Deng Xiaoping là kẻ thù của dân tộc Việt Nam, nhưng chúng ta chỉ xét về việc đổi mới của ông ta đưa nước Tàu từ nghèo đói lạc hậu trở thành cường quốc. Từ năm 1978 ông Đặng được phục hồi quyền lực, đã khởi xướng công cuộc cải cách kinh tế, mở cửa bình thường hoá quan hệ với các nước Tây phương, gởi hàng trăm ngàn sinh viên du học, học xong đều trở về nước làm việc, ông biết trọng dụng người tài: “Mèo đen hay mèo trắng không quan trọng miễn là nó bắt được chuột”.

Trong thời gian đó Trung Cộng mở cửa, thì CSVN đóng cửa thần phục Nga, các nước cộng sản Đông Âu... Dân miền Nam trước 1975 sống sung túc, trù phú, khi Việt Nam thống nhất đất nước đời sống người dân thụt lùi trở thành nghèo đói. Đến năm 1986 CSVN bắt đầu chập chửng đổi mới, nhờ học được những bài học sơ đẳng về kinh tế thị trường. Năm 1993 bình thường hóa quan hệ tài chính với các tổ chức tài chính quốc tế...

Dù đổi mới nhưng đảng CSVN vẫn giữ độc quyền lãnh đạo, nên hệ thống giáo dục còn nặng giáo điều, đào tạo thường chú trọng đến bằng cấp học vị, thích hư danh, bổng lộc, quyền lực, không chú tâm về học thuật, phát triển tài năng đúng trình độ. Nhiều bài viết phê bình từ trong nước nói lên tệ trạng giáo dục tại Việt Nam, thật tai hạị bằng giả, bằng mua… nhiều ông, bà là cán bộ trước đây học bổ túc văn hoá, nay cũng có bằng cữ nhân, tiến sĩ…

Theo các tài liệu thống kê hiện nay số người có bằng tiến sĩ ở Việt Nam nhiều nhất Đông Nam Á. Trong lúc không có một trường đại học Việt Nam có tên trong bảng xếp hạng 500 trường đại học đứng đầu thế giới. Số lượng các đề tài phát minh nghiên cứu khoa học công bố quốc tế của người Việt trong một năm thua xa các đại học ở Đông Nam Á Châu (thấp hơn cả một trường của Thái Lan). Nhiều trường Đại học Việt Nam đào tạo sinh viên thiếu khả năng chuyên môn nên sau khi tốt nghiệp, ra trường khó có việc làm, Hãng Intel tại Sài Gòn tuyển nhân viên, người có bằng đại học đủ loại nộp đơn xin việc, nhưng lúc mời phỏng vấn chỉ chọn được 1%, chứng tỏ trình độ học tại Việt Nam còn quá thấp! Phần lớn bằng tốt nghiệp tại đaị học VN ra nước ngoài không được công nhận, tuy nhiên cũng có rất ít trường hợp ngoại lệ.

Báo trong nước đăng tải việc học tại Việt Nam, „nếu có bằng tốt nghiệp đại học (thật hay giả) có thể làm tiến sĩ mà chỉ cần có 2 giáo sư giới thiệu và có đề cương cộng với tiêu chuẩn ngoại ngữ là xong“. Tình trạng đổi tình lấy điểm, đạo luận văn, người ghi danh nhiều tiền, thuê người học …Có nơi công khai quảng cáo viết thuê luận án tiến sĩ „khoảng 300 triệu đồng, khoán trắng toàn luận án 500 triệu đồng...“. Ngày nay ở Việt Nam “có tiền mua tiên cũng được“. Sinh viên ở các đại học Đức tốt nghiệp cữ nhân, kỹ sư muốn học cao học Master, phải hội đủ điều kiện điểm 1, điểm 2. học chuyên cần hai năm trình luôn luận án ra trường. Làm tiến sĩ phải 3 năm...

Bằng tốt nghiệp đại học trong nước không có giá trị, thì một số bằng đại học quốc tế luôn là niềm mơ ước của giới trẻ. Bởi vậy „Đại học quốc tế“ (1) của Mỹ lợi dụng thời cơ „nước dục thả câu“, những năm trước hoạt động và cấp bằng “quốc tế” tại Việt Nam đó là các đại học “ma“, những ĐH dỏm thượng vàng hạ cám đủ loại… Học viên ghi danh đóng tiền học on line thì được cấp các loại bằng cao học, tiến sĩ chỉ là những mảnh giấy vụn không có giá trị. Các loại bằng đó giúp được gì cho đời? Đi làm để thăng quan tiến chức, tiền bạc đầy túi ăn tiền thuế của dân. Theo báo tuổi trẻ online ở VN „Nhiều giảng viên của một số trường ÐH, CÐ vẫn sử dụng bằng tiến sĩ “ma”, bằng chưa được thẩm định hoặc không được công nhận tại VN“. Giáo sư như vậy dạy sinh viên ra trường trình độ như thế nào?

Chuyện bằng cấp thẩm định giá trị ở nước Đức, trường hợp bằng thật của ông Karl-Theodor zu Guttenberg cựu bộ trưởng quốc phòng/ Bundesminister Verteidigung từ (2009–2011), ông phải từ chức tháng ba năm 2011. Ngày 23 tháng hai năm 2011 vì các cơ quan truyền thông loan báo: năm 2007 ông trình luận án tiến sĩ luật „Verfassung und Verfassungsvertrag“ tại đại học Bayreuth trong luận án dày 500 trang của ông đã có một số ít trang trích dẫn tài liệu của tác giả khác. Ông không ghi rõ xuất xứ bị kết án là đạo văn. Vì dư luận, ông phải từ chức và trả bằng lại cho đại học, không được phép dùng danh xưng tiến sĩ. Đức là quốc gia tự do, dân chủ có nền văn hóa cao, ý kiến phê bình của người dân luôn được lắng nghe. Ông ta tự trọng từ chức mất tất cả danh vọng, sư nghiệp chính trị, Ở Việt Nam nếu số cán bộ làm lớn bị phát hiện đạo văn, bằng giả, bằng dỏm thì có bao nhiều người dám từ chức ra đi?

Hệ thống giáo dục đào tạo con người của xã hội CSVN là một thứ văn hóa ích kỷ, hẹp hòi, vọng ngoại, bảo thủ, nghèo nàn cả về kiến thức lẫn tư tưởng, tạo nên một giai cấp thích đề cao danh lợi, trọng tiền bạc hơn nhân cách, lừa dối và vô cảm...

“Bệnh háo danh không mua nổi trí khôn

Dịch thành tích chẳng làm nên thương hiệu.

Biển bạc rừng vàng, mà nghìn năm vẫn mang ách đói nghèo

Tài giỏi thông minh, mà vạn kiếp chưa thoát vòng lạc hậu.”

Trích một đọan trên Facebook của ông TQK tại Sài Gòn

Việt Nam cần phải cải cách phương pháp giáo dục, mới có thể hy vọng nâng cao trình độ dân trí, văn hoá phát triển lành mạnh để theo kịp văn minh của thế giới. Hơn 40 năm ngày nay nhìn bề ngoải Việt Nam phát triển, nhờ tiền vay nợ ODA/ Official development assistance. (Trợ giúp Phát triển Chính thức) Là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với thời gian vay dài. Trong nguồn vốn ODA luôn có một phần viện trợ không hoàn lại giúp phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở các nước nghèo được viện trợ.

Tin BBC: „ngày 21/3 tại kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa XIII cho thấy nợ chính phủ đã vượt giới hạn quy định, chiếm 50,3% GDP (Gross Domestic Product/Tổng sản phẩm nội địa“. Các chuyên gia kinh tế, tài chánh ước lượng nợ của Việt Nam trên 300 tỷ USD. Nhà nước tiếp tục đi vay nước ngoài thì nợ công tăng lên, có thể vở nợ hoặc số nợ nần nầy đến đời cháu, chắt cũng trả chưa xong!

Số tiền vay mượn trên bị những người có quyền thế tham nhũng chia nhau bỏ túi, làm láo, báo cáo hay…Trong lúc phúc lợi của người dân còn thấp, thiếu trường học, thiếu bệnh viện, bệnh nhân không đủ giường nằm…Nhiều gia đình không đủ tiền đóng học phí cho con đi học, nhiều bệnh nhân chiu chết không có tiền để điều trị...

Nếu con người thiếu nhân cách, đời sống thiếu đạo đức thì xã hội sẽ bị băng hoại. Hiện nay Việt Nam bị suy thoái trầm trọng về nhiều phương diện: Giáo dục, chính trị, kinh tế, môi trường, y tế, giao thông...

Đất nước VN muốn phát triển, không thể để bộ chính trị đảng CSVN quyết định, Quốc hội theo chủ trương bảo thủ “đảng cử dân bầu” tạo nên những ông bà nghị gật hơn là đại diện cho dân. Phải trưng cầu dân ý như Hội Nghị Diên Hồng là một bài học quý giá trong lịch sử của dân tộc Việt Nam, cần tôn trọng nguyện vọng và sự đóng góp ý kiến xây dựng của toàn dân. Trước trình trạng kém phát triển, chậm tiến ngày nay, VN phải biết trọng dụng người tài ra giúp nước, loại bỏ những ông tiến sĩ giấy, càng sớm càng tốt … Nếu nước Việt Nam giàu mạnh có tự do, dân chủ và toàn dân đoàn kết mới có thể đánh đuổi bọn Tàu cướp biển đảo của chúng ta.

Nguyễn Quý Đại

Tệ nạn bạo hành trong trường học tại Việt Nam ngày nay

https://www.facebook.com/video.php?v=511630302322272

- hình trên internet

chú thích các từ của bài thơ

1. Giáp bảng: bảng đề tên từ học vị tiến sĩ trở lên.

2. Văn khôi: đầu làng văn. chỉ người có đỗ đạt cao.

3. Hời: giá rẻ.

1/ Danh sách 21 trường ĐH từng hoạt động tại VN không được công nhận bởi các cơ quan kiểm định giáo dục có thẩm quyền từ Hoa Kỳ. Danh sách nầy được công bố của TS Mark A.Ashwill - nguyên giám đốc Viện Giáo dục quốc tế Hoa Kỳ):

1. ĐH quốc tế Adam (Adam International University) ở Georgia.

2. ĐH Akamai (Akamai University) ở Hawaii.

3. ĐH American City (American City University) ở California.

4. ĐH Di sản Mỹ (American Heritage University) nằm ở phía nam California.

5. ĐH American Pacific (American Pacific University). Đây là ĐH được đặt tại Saigon

6. ĐH quốc tế American Pacific (American Pacific University- International) ở New Mexico/ CA.

7. ĐH Apollo (Apollo University) ở California.

8. ĐH quốc tế Đại Tây Dương (Alantic International University) ở Hawaii.

9. ĐH Capstone (Capstone University) ở California.

10. ĐH Cosmopolitan (Cosmopolitan University).

11. ĐH Frederick Taylor (Frederick Taylor University) ở California.

12 - ĐH Honolulu (Honolulu University) ở Hawaii,

13 - ĐH Irvine (Irvine University) ở California.

14 - ĐH Quốc tế Mỹ (International American University), ở California.

15 - ĐH Kỹ thuật Paramount (Paramount University of Technology) ở California.

16 - ĐH Pebble Hills (Pebble Hills University) ở Pennsylvania.

17 - ĐH Preston (Preston University) ở California.

18 - ĐH Tây Nam Mỹ (Southwest American University) ở California.

19 - ĐH Nam Thái Bình Dương (Southern Pacific University) ở Delaware.

20 - ĐH quốc tế Washington (Washington International University) ở Pennsylvania.

21 - ĐH quốc tế Berkeley (Berkeley International University), ở Delaware.

------------------

Việt Tỵ Nạn cứ tưởng là Việt Kiều về thăm quê.

Việt Kiều về thăm quê

Mấy người? Mấy người?
– Bốn, hai Việt Kiều với hai Việt Cộng!
Đó là câu đối đáp giữa nhóm người vừa bước vào tiệm phở với ông chủ tiệm. Cách ăn nói ở Việt Nam bây giờ coi mòi tự nhiên và hình như họ không còn e dè gì nữa.
Về nước, mặc bộ đồ lao động, da được phơi nắng hai ba tuần nám đen cho giống người trong nước, tôi ung dung ngoắc chiếc xe ôm và oách như người di cư 54:
– Đi Thủ Đức!
Gió chiều lồng lộng trên xa lộ Biên Hòa, tôi mỉm cười đắc chí, lẩm bẩm ca bài “Từ bắc vô nam tay cầm bó rau…. đay, còn tay kia… chúng ông dắt con cầy…”
Chạy ngang khoảng Cát Lái, chú xe ôm bắt chuyện:
– Anh ở lước lào về?
Ô hay, sao lại “lước lào về” xế lày?
Tôi hỏi: – Anh tưởng tôi là Việt Kiều à? Tôi quê ở ngoài Hà Lam Linh đấy.
Anh nhất định tôi chẳng lừa được anh.

Có đời nào người trong “lước” mà lại ra đường đứng ngẩn ngơ ngó trời ngó đất, ngó cái bảng hiệu, ngó lùm cây bông giấy và ngó… con gái đi đường, y hệt đám bộ đội hồi mới vô Nam năm 75!
Anh giải thích thêm:
– Ra đường, cứ thấy ai băng qua lộ mà thập thò như con nít, nắm tay nhau hai ba người như dân quê lần đầu ra tỉnh, chắc trăm phần trăm họ là Việt Kiều đấy.
Hôm về quê, vợ chồng tôi ra chợ, cũng được chào đón một câu rất niềm nở:
– Mời anh chị Việt Kiều mua cho em ít rau.
Tôi ngạc nhiên, nhưng con em giải thích:
– Ai đời vào chợ mà mặt mày ngơ ngáo, chợ quê có ai đi cả hai vợ chồng như thế, mà có đi chăng nữa cũng người đầu chợ kẻ cuối chợ lo mua đồ mà về cho sớm, chứ có đâu dẫn nhau đi vô hàng rau, nhìn quả khổ qua, ngó thúng cà pháo, ngó cả bó rau dền.
Nhớ lúc mới bước xuống phi trường, tôi mắc cười ngay cái bảng ghi hàng chữ “Tổ Lái”, người đi bên cạnh hỏi nhỏ:
– Cười gì thế?
– Cái bảng ghi Tổ Lái.
– Kệ họ, đó là lối đi dành riêng cho tiếp viên và phi công, mình đi lối bên này.
Khi về tới đò Vàm Cống gần Long Xuyên, vợ tôi lại chúm chím cười với hàng chữ: Cụm Phà Vàm Cống.
Thằng em tôi thấy thế nói rằng:
– Ăn thua gì, ở Sài gòn còn có một cơ quan đề là Cụm Cảng Hàng Không nữa kìa.
Từ đường lộ vào nhà Má tôi còn hai cây số nữa, khi bước xuống đò, tôi thấy hàng chữ sơn trên một tấm tôn treo toòng teng: Đừng cột ghe xập nhà.
Em tôi lại phải giải thích là nhà làm de ra phía trên sông, nếu người ta cột ghe vào mấy cây chống sàn nhà, khi tàu lớn chạy ngang sẽ tạo ra sóng nhồi xóc chiếc ghe, thì nó sẽ giật tung lên và đổ nhà là cái chắc.
Bao nhiêu năm xa nhà, về lại thì cái gì cũng lạ và dễ tức cười, mà người ở nhà họ cũng cười cái lạ của mình. Tôi ra phố chợ, đặt tiệm da giầy một cái bao điện thoại theo ý mình, đeo vào, thằng bạn lắc đầu cười:
– Y như cái bao đựng đạn súng lục.
Mặc cái áo sơ mi kiểu Hawaii định ra phố, bà chị nói:
– Trông cậu y như phường tuồng!

Tôi ở Garden City, Kansas, muốn về VN phải lên Wichita để đón máy bay, lái xe hơn ba tiếng đồng hồ. Khi đi, mùa hè oi ả, mặc chiếc quần ngắn cho nó mát, lên đến nơi, gặp bạn bè nói chuyện đến khuya, gần nửa đêm chuẩn bị áo quần để sáng mai ra phi trường sớm mà về VN, lục quần áo mới thấy “sự cố” là không có cái quần dài nào cả, vội vàng ra chợ Walmart kiếm cái quần vào lúc nửa đêm. Walmart bán đủ mọi cỡ áo quần, duy chỉ có cỡ của tôi nó lại không bán, cuối cùng cũng lựa được một cái tạm hài lòng: lưng rộng hơn hai số, bù lại, chiều dài ngắn đi một số.

Hôm sau tôi mặc vào cảm thấy nó làm sao ấy, nhưng lỡ rồi, mặc đại, đi đường cứ lâu lâu lại phải ôm nó mà xốc lên vì dây lưng cũng quên tuốt ở nhà.
Về đến SG, bà chị tôi nhìn em thương hại quá, cứ xuýt xoa hoài, tội nghiệp nó ở Mỹ mà quần áo xốc xếch, xộc xệch!

Trời mùa hè VN nóng thật, con tôi không muốn đi giầy nên tôi dẫn nó ra chợ Thái Bình mua đôi dép Nhật, tôi định tập cho nó trả giá cho quen. Hỏi giá thì bà hàng nói 4,500 đồng, thằng bé ngơ ngác không hiểu nên tôi phải thông dịch từ tiếng Việt qua tiếng Việt:

– Giá bốn mươi lăm trăm đó con, trả giá đi.

Thằng bé nói:

– Đâu cần trả đâu, được rồi, rẻ quá mà.
Những người chung quanh cười um lên, xúm lại coi thằng Việt Kiều con mua đồ.

Có bữa kia ngồi ở quán cóc đầu ngõ uống cà phê, đứa em thò cổ vô gọi: – Anh ra đây xem Việt Kiều Con bị đày.
Tôi ngạc nhiên không hiểu nó nói gì, ra xem thì thấy một bà già kè hai đứa nhỏ khoảng dưới sáu tuổi, ăn mặc có vẻ tươm tất lắm, không biết là đi nhà trẻ hay ra công viên chơi nhưng mặt tụi nó ỉu xìu.
Thì ra hai đứa bé đó có cha mẹ làm Nail ở Mỹ, không hiểu sao lại giao chúng về cho bà ngoại nuôi, cả xóm này gọi tụi nó là hai thằng Việt Kiều Con Bị Đày!
 Đổi mới của vn trong 3 tuần thăm quê
Xe đò nằm
Hồi này có một loại xe đò (xe khách) gọi là xe đò nằm. Đi xe này hành khách không ngồi ghế như xe đò thường, mà được nằm dài ra. Xe có ba dãy giường, mỗi dãy ba chiếc giường sắt và lại còn chồng lên một tầng nữa, vị chi là 24 cái giường.
Đây là loại giường hiện đại điều chỉnh được, tựa như giường ở trong bệnh viện.
Xe có máy lạnh và mở nhạc vàng nghe thoải mái. Mỗi người lên xe đều được phát một chiếc mền để đắp vì xe mở máy lạnh.
Hành khách mua vé qua điện thoại, tài xế sẽ bốc khách hẹn trước tại bất cứ khúc đường nào trên tuyến xe sẽ chạy qua.

Xe chạy khá đúng giờ, giá vé cũng tương đối hạp với túi tiền, thí dụ tuyến Rạch Giá-Vũng Tàu là 125,000 một lượt (chưa tới 8 đô la). Lơ xe rất điệu nghệ, phục vụ hành khách rất lịch sự và tận tình.
Hôm đó, nằm kế tôi là một cô nhìn dễ thương lắm, nhưng hai giường lại cách nhau đến nửa thước. Tôi ước ao lần sau họ ghép giường gần nhau hơn, để hành khách có thể nằm mà dòm nhau, âu cũng là cách rút ngắn thời gian trên đường dài.
Ai cũng biết xe đò VN có cái tật là hễ thấy khách đón xe thì không cần biết họ muốn đi tới đâu, anh lơ nhảy xuống kéo ào lên xe, miệng la “Tới luôn bác tài”.
Chuyến tôi đi, có hai cha con ông kia lên xe, xe chạy một quãng thì lơ xe mới khám phá ra “có vấn đề”. Ông già có tính tiết kiệm, đặt mua vé có một giường, mà lại dẫn theo cô con gái. Ông cãi với lơ xe:
– Hai người ngồi trên giường thì cũng choán chỗ y như một người nằm chớ gì.
Mặt nạ lịch sự của anh lơ xe bèn rớt xuống, anh ta với ông già xổ tiếng Đức với nhau một hồi, rồi sau cùng ông già nhượng bộ trả thêm 20,000 để cô con có thể ngồi ké ở phía cuối giường.
Tôi rất tội nghiệp mà không thể mời cô ngồi qua phía giường tôi, hoặc là mua cho cô một vé, vì hôm đó tôi đang đi chung với “con gấu yêu dấu” của tôi!
Ăn uống
Nghệ thuật ẩm thực VN thì quá siêu đẳng rồi, tôi xin không đề cập đến những chuyện uống máu rắn, ăn bò cạp hoặc trích mật gấu…, mình chỉ làm một người bình thường ăn những món ăn bình thường.
Bạn muốn xài tiền triệu?
Mời vào tiệm C. Steak House ở đường Đinh Công Tráng (chợ Tân Định), một miếng T Bone 6oz… giá rất nhẹ nhàng là 250,000 (tiệm này có vẻ kỳ thị nặng, trên bảng giá đề: Thịt bò Mỹ: 250.000 thịt bò Úc: 225.000, thịt bò nội địa :180.000)..
Miếng steak ăn vào, nuốt đến đâu, thấy nó nghẹn nghẹn đến đó, vì giá cả là một, nhưng cũng tại vì nó giống như miếng thịt được bỏ trong Microwave!
Bạn muốn xài tiền lẻ?
Mời bạn đi ăn cháo lòng bình dân với tôi.
Tôi biết cô bán cháo lòng ở quê, trước 1975 cô thuộc loại sắc nước hương trời, nhưng hồng nhan đa truân, cô đã kẹt lại. Quán cô chỉ là một cái bàn làm bằng gỗ tạp nho nhỏ, trên để mấy chai lọ lỉnh kỉnh như muỗng đũa, nước mắm, ớt… ngang chỗ cô ngồi là một nồi cháo đang sôi ọc ạch đặt trên cái cà ràng lửa liu riu.
Là khách đặc biệt nên tôi được cô vồn vã hỏi thăm và ân cần đưa cho một đôi đũa không nằm trên ống đũa “dân gian” trên bàn, cô lau cẩn thận bằng một miếng giẻ và nói:
– Anh dùng đũa này sạch hơn.
(Đũa của cô có nhiều loại: Sạch, sạch vừa, sạch hơn)
Cháo bán giá từ 3 ngàn một tô, dĩ nhiên khách muốn thêm thịt, thêm lòng thì sẽ tính thêm tiền.
Tôi ngồi ăn cháo mà ái ngại cho cuộc đời cô, vì cách đây hơn hai mươi năm, thấy cô đi ngoài đường thì tôi “chỉ nhìn mà không dám nói” vì nghĩ tới cái thân phận “quản chế” của mình.
Chợt một bà đi ngang phía trước, bà bước bỗng một chân và né sang phía trái, tôi ngạc nhiên khi thấy động tác của bà nên chú ý nhìn xuống mặt đường thì – eo ơi một đống phân chó nằm thù lù ở đó. Khiếp đảm, tôi bèn gài tờ giấy bạc vào dưới tô rồi cám ơn cô chủ quán để dzọt gấp. Dợm đứng lên thì cũng vừa lúc cánh cửa sắt phía sau lưng cô hàng mở ra, một mùi nồng nặc xộc vào mũi tôi, thì ra đây là cửa hàng bán phân bón và thuốc trừ sâu rầy, mà cô hàng chỉ thuê phía trước chái hiên để bán buổi sáng. Khách hàng của cô cứ tự nhiên ăn uống kề bên những bao phân và những chai thuốc sâu độc hại, có điều mỗi lần xe đò chạy ngang, bụi tung lên mù mịt nên mùi phân bón cũng vì thế mà bớt đi phần nào!
Cuộc sống xã hội
Hồi thời kỳ “chống Mỹ cứu nước”, cứ “ra ngõ là gặp anh hùng”, còn bây giờ đến quán cà phê, vô tiệm phở hay lúc đến thăm người quen, đều nghe người ta nói về những tỷ phú!
Hầu hết là chuyện nhà cửa đất đai, nào là giá một mét vuông đất từ một triệu vọt lên năm triệu, mà có người sở hữu đến dăm ngàn mét vuông; lại nghe ông kia mua một miếng đất năm bảy chục ngàn cách đây mấy năm, bây giờ nếu bán cũng được ít nhất hai ba tỷ!
Tôi đang ngồi ở quán cà phê, một anh cò đất xề tới gạ:
– Bên kia có miếng đất 3 ngàn mét, nếu anh trả chừng 500 ngàn một mét (một tỷ rưỡi) nó bán ngay, bảo đảm với anh, chỉ tháng sau là anh sẽ bán được 3 tỷ, nếu không dô mánh như vậy, thằng này xin làm con anh.
Trời ơi, nhìn cặp mắt láo liên của nó, tôi đã ngán rồi, nó lại còn xin làm con tôi nữa thì xin chạy mất dép.
Cứ chỉ nghe nói không thôi, thì tiền ở VN sao dễ kiếm quá.
Vậy mà hễ cứ “giúp vốn” cho đứa cháu nào, thì cứ y như rằng năm sau cụt vốn, nó nói “Làm ăn ở VN bây giờ khó lắm chú ơi! Chú ở xa không biết …”. Tôi quát lên:
– Làm ăn ở đâu không khó? Chỉ có nằm ngửa ăn sẵn mới dễ thôi.
Hôm tôi lại nhà người thân, anh đã đặt cọc để mua một miếng đất 40 ngàn đô, thì có một anh bá vơ chạy xe tới đưa cho coi một bản đồ qui hoạch, mà trong đó chỉ rõ miếng đất kia đã bị qui hoạch làm công viên và nhà thể thao. Anh ta nói:
– Thấy anh tính mua thì thương mà báo cho biết vậy, mai mốt có mất đất thì đừng trách là thằng em không báo trước.
Trời ạ, bây giờ còn biết tin ai ? Lên hỏi Địa Chính thì họ cũng trả lời mờ ớ. Hay là thằng cò kia nói thế để mình nản, đi mua miếng đất của nó ở chỗ khác (?).
Bên cạnh những người nói chuyện tiền tỷ, thì lại có những cảnh lầm than quá sức.
Gia đình tôi có làm bữa tiệc đãi bà con họ hàng lối xóm nhân dịp chúc thọ mẹ tôi được 90 tuổi. Sau bữa tiệc, có một số lon bia bán ve chai. Tôi thấy con cháu gọi chị mua đồ nhôm vô, hai người nói gì đó rồi chị ta tất tả ra đi, và khoảng hai giờ sau trở lại. Chị nhờ tôi phụ đếm số lon bia đã uống hết, chứa trong mấy cái thùng giấy. Tôi hỏi:
– Chị tính đếm từng lon hay sao?
– Dạ, vì mỗi lon giá đến 200, nếu lộn thì lỗ.
Tôi nhìn đống lon bên trong chứa lẫn lộn tàn thuốc lá lẫn xương gà.
– Con cháu tôi nói với chị là bao nhiêu lon?
– Dạ cô nói là 24 két, mỗi két 24 lon, nhưng chắc không còn đủ vì có nhiều người uống rồi lấy luôn lon.
– Hồi nãy thấy chị vô rồi đi luôn, tưởng chị không mua.
– Dạ không có, tại không đủ tiền nên phải về vựa vay thêm.
– Vựa ở đâu? Vay như thế nào?
– Dạ cũng gần, cách đây 5 cây số, đi xe ôm có ba ngàn đồng hà, vay rồi chiều về bán lại, trả họ tiền lời.
– Sao hồi sáng chị không đem về bán cho họ rồi mai đem tiền vô trả?
– Dạ sợ cô nhỏ không chịu.
Tôi thấy chán đời cho cô quá, tính ra số tiền chưa tới trăm ngàn, nếu không ngồi đếm với cô thì có vẻ bất nhẫn, mà ngồi đếm đống lon hôi rình đó thì tôi chẳng hào hứng tí nào. Tôi nói:
– Thôi, khỏi đếm nữa, cô cứ đưa cho con nhỏ 20 ngàn thôi, thiếu bao nhiêu tôi bù.
Cô ngước lên nhìn tôi rồi ứa nước mắt nói nhỏ:
– Cám ơn anh.
Vừa lúc đó mẹ tôi bước ra hàng hiên vì có tiếng người đàn bà la chói lói ở phía trước bờ sông, rồi một người chạy như bay vô sân:
– Cứu mạng! Cứu mạng! Bà ngoại ơi, ngoại có thuốc gì cho đứa con của con mấy viên, không thôi nó chết.
Mẹ tôi hỏi:
– Con chị bị đau gì mà đến nỗi chết? Mà tôi đâu biết thuốc gì mà cho.
– Dạ, nó đang giựt đùng đùng dưới ghe kìa, hông có thuốc chắc nó chết.
Tôi xen vào:
– Ở nhà chỉ có thuốc cảm thôi chứ có thuốc gì mà cho, sao chị không đưa nó lại Trạm Y tế coi.
– Dạ thuốc cảm cũng được chú Hai, ở Trạm Y Tế họ đâu có cho cái gì đâu.
– Tôi chỉ có thuốc cảm người lớn thôi chứ không có thuốc con nít.
– Dạ chú Hai cho con đi, con dìa bẻ làm hai cho thằng nhỏ uống cũng được mà.
Tôi vô lục túi lấy chai thuốc Tylenol đưa cho chị nhưng vẫn ngần ngại nói:
– Thuốc này là thuốc người lớn, tôi sợ con chị uống không hạp.
Chị ta sợ tôi đổi ý nên chụp vội chai thuốc trên tay tôi rồi nói:
– Dạ không sao đâu, con cho nó uống mỗi lần nửa viên.
Những người thợ gặt mướn tạm trú bên bờ kinh, hay ngủ dưới ghe, họ ra ruộng từ khi còn tối trời, mang theo cả đứa con mới sanh chưa đầy tháng, thằng bé nằm chổng chân ngọ ngoạy trong cái thúng, phơi nắng cả ngày mặc dù có tấm mủ cao su che phất phơ trên đầu, chắc là đang tập làm Chúa Hài Đồng nằm trong máng cỏ ngày xưa. Thỉnh thoảng nó khóc ré lên thì bà mẹ chép miệng:
– Chắc thằng nhỏ bị kiến lửa chích!
Cô em gái tôi kể một chuyện khó tin nhưng có thật:
Thằng bé mười ba tuổi vào nhà bà ngoại với chiếc giỏ đeo toòng teng trên ghi đông xe. Bà già hỏi:
– Mày có cái gì đem vô cho tao đó Tèo?
– Dạ không có gì cho ngoại hết, má con nói đem em con vô nhờ ngoại chôn giùm!
Thì ra má nó nghèo quá không có đất chôn con, nên mới bỏ đứa nhỏ vô cái bị cói, kêu nó đem vô nhờ bà ngoại chôn.
Thương quá em bé Việt Nam
Ăn sáng ở lề đường Phan Thanh Giản, một em bé chừng mười hai mười ba tuổi cứ quẩn quanh mời tôi mua vé số, gương mặt và ánh mắt trông rất tội nghiệp. Tôi từ chối vài lần vì biết nếu mình mua của em này, thì vô khối người khác sẽ đổ xô vào mời mua thì rất kẹt, nhưng khi nhìn đến ánh mắt van lơn của em, lòng thương người rất hiếm hoi của tôi nổi dậy, tôi muốn mua giúp em để hôm nay em có thể về sớm một bữa. Tôi hỏi:
– Bình thường em bán đến mấy giờ thì hết xấp vé số này?
– Dạ thường thì ít khi hết lắm, nhưng nếu còn dư thì em phải đem về trả cho đại lý trước 3g chiều, nghĩa là trước khi xổ số.
Em nói từ sáng tới giờ mới bán được có 3 tấm, còn lại 97 tấm. Tôi kêu em đếm lại coi còn bao nhiêu tấm tôi mua hết cho, để hôm nay có thể về nhà nghỉ. Trong lúc tôi ăn thì em ngồi đếm từng tờ và nói còn đúng 97 tấm, giá 5 ngàn 1 tấm, vị chi là 485 ngàn. Tôi móc 500 ngàn ra đưa luôn, nói khỏi thối.
Thằng bé sung sướng nói cám ơn rồi lách vào dòng người xuôi ngược trên phố đông nghẹt những xe và người.
Đúng là: Sáng nay tươi hồng, trời không có mây… tôi tiếp tục bữa ăn sáng tuyệt vời.
Ở Mỹ mỗi lần mua vé số dĩ nhiên tôi mong mình trúng, mà trúng là trúng lớn để tôi có thể điềm nhiên lật ngửa cái xe cà tàng của tôi lên mà đốt, tuy nó có vẻ hơi bạc bẽo, nhưng để giã từ cái sự không sung sướng của kiếp nghèo, nếu không trúng đi nữa thì âu cũng là mua một niềm vui trong chốc lát, vì đời chỉ vui khi có hy vọng.
Đọc bài essay của một sinh viên nói về mua vé số, tôi thấy cũng có lý, vé số giúp cho mọi người trúng.
Này nhé: Ngân sách nhà nước hưởng 40%, người bán lẻ và giới quảng cáo 20%, người trúng hưởng 40% .. và ngay cả chúng ta cũng trúng luôn vì ta chỉ bỏ ra có mấy đồng, mà mua được niềm hy vọng, rẻ quá đi ấy chứ.
Những tín đồ các tôn giáo đã bỏ ra bao nhiêu tiền của, cũng chỉ là mua lấy một hy vọng mai sau có về cõi trời được hơn người khác, mà niềm hy vọng này chưa được ai kiểm chứng cụ thể cả, còn mua vé số thì có người trúng thật rồi.
Hoan hô những người mua số như tôi là những người thông minh.
Lần này mua số ở VN, tôi lại thêm được cái lợi nữa là làm cho một em bé dễ thương vui được một ngày.
Ông Trương Quang Nhơn viết bài kể chuyện ông bị thằng đánh giầy lấy đinh đục cho thủng giầy rồi đòi tiền vá. Tôi nghi ông này vẫn còn thù Cộng Sản nên đặt chuyện viết “linh tinh”.
Buổi chiều về nhà, tôi móc xấp vé số ra cho các cháu, tụi nó đang ồn ào chia chác thì có đứa hỏi:
– Bác mua bao nhiêu tấm?
– Thằng nhỏ biểu là 97 tấm.
– Bác có đếm không?
– Đếm làm gì?
– Thế thì bác bị nó lừa rồi, chỉ có 75 tờ thôi bác ạ.
Tôi suy nghĩ và tội nghiệp cho thiếu niên VN bị thất học, ngần ấy tuổi rồi mà đếm có mấy chục tấm vé số hãy còn sai.
Bọn nhóc trong nhà vừa cười vừa la:
– Ê, bác Việt Kiều bị thằng bán vé số nó lừa!
Tôi phân vân: Không lẽ thằng nhỏ đó nó nỡ lừa tôi, mà sao nó nghĩ cái kế lừa tôi mau như vậy được. Có lẽ nó đã lừa nhiều quả như vậy rồi.
Người xưa lối cũ
Có người về VN thăm thắng cảnh quê hương, có người về kiếm thế hưởng thụ ăn chơi, cũng có người về vì tình cảm sâu đậm đối với thân nhân bạn bè năm cũ, thoáng đâu đó, có người tìm về để ôn lại một mối tình xưa.
Tôi theo người bạn đi đến nhà người xưa của nó. Bước chân vào con hẻm cụt có bóng mấy cây khế rợp mát, chân nó bước líu ríu như lê không nổi. Đến trước căn nhà có cây ngọc lan tỏa bóng, thấy có người đàn bà đang quét lá, tôi với tay bấm chuông, chứ thằng Thịnh như người mất hồn. Người đàn bà hỏi:
– Hai ông kiếm ai?
Thịnh buột miệng nói liền:
– Thưa bác, cô Hằng có ở nhà không ạ?
Người đàn bà vừa mở cổng vừa ngờ ngợ:
– Anh là ai mà biết Hằng?
– Trời ơi, bác không nhớ cháu hay sao? Cháu là thằng Thịnh hồi trước đây có kèm cho Hằng lúc cô thi Tú Tài đó.
Cây chổi rớt xuống đất cái xẹp, hai tay bà ôm chầm lấy Thịnh và tiếng khóc oà ra:
– Trời ơi anh Thịnh, em là Hằng đây mà.
Thì ra qua hơn 30 năm, Hằng ngày xưa nay đã hơn 50 rồi. Thời gian nó tàn phá chẳng chừa một ai.
Hôm tôi về Rạch Giá, vừa bước xuống con đò ngang thì đã có cả hơn chục người đứng ngồi dưới đò, ai cũng đưa mắt nhìn tôi, miệng cười cười như chào hỏi, nhưng tôi không nhận ra mặt ai quen, bỗng có một người đàn ông chừng 50 tuổi nhưng tóc còn loe hoe có mấy sợi phất phơ trước gió, vồn vã:
– Anh mới về chơi ạ, anh còn nhớ em không?

Đầu óc tôi bây giờ tây ta lẫn lộn, chỉ nhớ mang máng hình như anh này là Khanh Khờ. Và để tỏ ra là người nhiều tình cảm, chẳng bao giờ quên anh em bạn bè, tôi tiến tới vỗ vai rồi cả quyết:

– Quên thế chó nào được, cậu là thằng Khanh Khờ đây mà!

Nguyên cả chuyến đò cười ngặt nghẹo, có người ôm bụng rũ xuống cười suýt rớt xuống sông. Tôi sượng trân, còn người đàn ông kia nói như than:

– Em là Đĩnh đây, nhưng mà thằng Khanh mới bị khờ, còn em thì bình thường mà anh.

Tôi chỉ còn biết xin lỗi anh ta vì cái tài nhớ dai của mình.

Về đi lại trên bờ con kinh xưa, tôi gặp một thiếu phụ bồng con trên tay, thôi đúng là người vợ của bạn tôi rồi, tôi xăng xái hỏi:
– Xin lỗi, chị là chị Độ phải không? Anh chị hồi này khoẻ chứ?

Cô ta ngơ ngác vài giây rồi lí nhí: – Dạ thưa, Độ là tên của bố mẹ cháu ạ.
Ôi! Từ Thức về trần, tôi quên béng đi là mình đã xa quê hương một thế hệ rồi.

Ngày còn nhỏ, thập niên 50, tôi thường nghe bản Gạo Trắng Trăng Thanh khi nghe tiếng cắc cụp đều đều ở quê tôi, vùng suối rừng Thủ Dầu Một. Người dân vần công giã gạo cho nhau, cũng là dịp trai gái hẹn hò gặp gỡ qua công việc và lời ru tiếng hát:

“Trong đêm trăng, tiếng chày khua, ta hát vang trong đêm trường mênh mang. Ai đang xay, chày buông lơi nghe tiếng vơi tiếng đầy “.

Bây giờ không còn cảnh giã gạo đêm trăng nữa, nhưng bạn tôi, một ông Pilot 69A – Ông Đông Nguyên (thi sĩ Điên Ngông) – cũng trong tâm trạng Từ Thức về trần như tôi, nặn ra được một bài thơ có thể làm Nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ phiền lòng:

Ta về giã lại cối xưa

 Nửa đêm trăng tỏ bóng dừa ngả nghiêng

 Thấy trong gạo trắng ưu phiền

 Thương em hạt gạo còn nguyên nỗi buồn

Vận nước xoay vần, có những người đi xa, có những người còn ở lại, bài Tình Già của Phan Khôi sao mà thấm thía quá thể:

Hai mươi bốn năm xưa

 Một đêm vừa gió lại vừa mưa

 Dưới ngọn đèn mờ trong gian nhà nhỏ
Hai mái đầu xanh kề nhau than thở…
Để rồi:
Hai mươi bốn năm sau

Tình cờ QUÊ CŨ gặp nhau
Đôi mái đầu đều bạc

Nếu chẳng quen lung, đố có nhìn ra được

Người ta nói “Quê hương là chùm khế ngọt”, ngọt như vần điệu ca dao và ngọt như nụ hôn người tình.

Vài vần thơ lạc điệu, xin gửi cho ai có những kỷ niệm khó quên của cây khế quê nhà:

Năm xưa có cây khế ngọt
 Quả non đeo nhẹ trên cành
 Tay trần anh đưa muốn hái
 Em cười: Khế hãy còn xanh
Hôm nay anh cầm trái khế
Muốn cắn vào năm cánh hồng

Nhưng rồi nâng niu tay khẽ

Ôm ấp chuyện xưa vào lòng

Nguyên Chân
-------------
Đã Quên Sao?



Tết qua đã hơn nửa tháng rồi mà những người Úc gốc Việt đi Việt Nam ăn tết vẫn chưa trở về. Chợ búa lưa thưa ế ẩm buồn hiu như chợ chiều 30. Tiếng rao hàng dẻo nhẹo có kèm theo câu pha trò của mấy anh bạn hàng bán trái cây thường khi vẫn vang inh ỏi gọi mời bây giờ im thin thít khiến người ta có cảm tưởng đây là một khu shop hết thời sắp closing down dẹp tiệm.

Đứng chờ mua bánh mì, tôi nghe hai bà Việt Nam nói chuyện với nhau rôm rả. Bà này hỏi bà nọ:
- Lâu quá không thấy bà đi chợ, bộ đi Việt Nam hả?
Bà nọ cười toe tóet trả lời:
- Ờ, tui về VN trước tết cả tháng lận. Đáng lẽ chưa trở qua đâu nhưng mới đây con nó kêu về nói bộ An sinh xã hội gởi giấy “hỏi thăm sức khỏe”. Tui về ló cái mặt ra cho nó thấy rồi vài bữa trở qua bển nữa. Ở đây buồn quá, về bển chơi cho vui cái tuổi già. Việt Nam bây giờ tiến bộ lắm, nhà cửa đầy đủ tiện nghi, xe cộ có máy lạnh, khách sạn 5 sao, sang còn hơn ở ngọai quốc, cái gì bên Úc có là ở bển cũng có. Ăn uống cũng vậy, nhà hàng lềnh khênh, đồ tây, đồ tàu, Mỹ, Úc, Hàn, Nhật, Thái, Ấn vv... không thiếu nước nào. Đặc biệt đồ biển tươi chong, tôm cá nhảy soi sói chớ không phải đông đá như bên này.

Nghe bà ta nói mà tôi cảm thấy bất mãn lẫn chua xót dùm cho chính phủ Úc ân nhân, đã làm ơn còn mắc oán. Tôi không hiểu sao bà lại có thể hiu hiu tự đắc nói như vậy mà không chút áy náy ngượng miệng.
Chẳng lẽ bà đã quên là bà từ đâu chạy tới đây rồi hay sao? Chẳng lẽ bà không còn nhớ tại vì sao, nguyên do nào bà có mặt ở nước Úc này?

Chẳng lẽ bà đã quên hết những kinh nghiệm xương máu dưới chế độ cộng sản phi nhân, những thống khổ đọa đày, những áp bức kềm kẹp, bóc lột tận cùng xương tủy của bọn độc tài đảng trị khiến bà không chịu đựng nổi nên phải liều mình vượt thoát ra đi bất kể sống chết thế nào.

Chẳng lẽ bà không còn nhớ gì đến chuyến vượt biển kinh hòang, những ngày đêm đói khát lênh đênh trên biển cả bao la mịt mùng vô tận, giữa bao hiểm nguy rình rập bủa vây, nào là sóng gió bão bùng, nào là hải tặc cướp bóc hết lần này đến lần nọ tưởng chừng như không còn mạng tới bờ.

Nhưng may mắn thay cho bà, cuối cùng bà đã cặp bến tự do. Nước Úc đã nhân đạo mở rộng vòng tay đón tiếp bà, đã cưu mang bà, cho bà hưởng mọi quyền lợi như người dân bản xứ, cho con cái bà có cơ hội phát triển, vươn lên và thành đạt như tất cả những con dân được sinh ra và lớn lên trong một thế giới tự do, một xã hội có luật pháp, có nhân quyền.

Và giờ đây khi bà tới tuổi hưu trí, chính phủ Úc lại còn tử tế phụng dưỡng bà trọn đạo như bà là mẹ già của họ bất kể bà có đóng góp gì cho nước Úc này hay không trong đời tị nạn của bà.

Quê hương ai chẳng nhớ chẳng muốn về, nhưng nếu về thăm thân nhân, bằng hữu, cảnh cũ làng xưa vì tình quê nung nấu trong lòng thì còn có thể hiểu được, thì còn rán dày mặt bấm bụng mà về một vài lần cho thỏa lòng thương nhớ đất tổ quê cha. Nhưng đàng này bà cứ đi đi về về như đi chợ, ở Việt Nam nhiều hơn ở Úc chỉ vì muốn du hí muốn hưởng thụ, vô hình chung bà đã tiếp tay làm đầy thêm túi tiền cho bọn chóp bu cộng sản vốn không thể đội trời chung với bà. Mỉa mai thay! một nơi mà ngày xưa bà cho là địa ngục trần gian không thể sống, bất cứ giá nào cũng phải cao bay xa chạy thì giờ đây bà lại hớn hở quay đầu về ca tụng, coi đó là thiên đường. Dĩ nhiên là thiên đường vì bà đang có đồng đô Úc trong tay. Nếu như chính phủ Úc cúp trợ cấp cho bà thì bà sẽ ra sao? Ở xứ này, bệnh họan vô nhà thương không tốn một đồng xu từ A tới Z. Còn thiên đường cộng sản từ A tới Z đều phải nộp thủ tục đầu tiên. Tội cho dân nghèo, tiền đâu mà làm thủ tục đầu tiên để được cứu chữa! Ngay cả bà, không khéo bà đổ bệnh thình lình, chắc chắn bà phải chạy bay về đây chữa bệnh thôi chớ ở đó chịu tiền sao cho thấu.

Nếu bà cho là Việt Nam ngày nay đáng cho bà sinh sống thì bà hãy ở hẳn bên đó đi và đừng lợi dụng quốc tịch Úc, dùng đồng tiền cấp dưỡng của chính phủ Úc để thủ lợi mua vui cho bà. Như vậy mới không hổ mặt bà và công bằng cho nước Úc.

Bà chỉ thấy cái vỏ hào nhoáng mị dân bề ngoài chớ có biết đâu thực chất bên trong trống rổng. Cả một bè lủ gọi là chính quyền, lãnh đạo chỉ giỏi đàn áp, tham nhũng vơ vét làm của riêng, mạnh ai nấy đầu tư ở nước ngoài thủ thân dọn đường chạy. Dân đói mặc dân. Chẳng ai có lòng thương nước thương dân, đặt lợi ích của tòan dân trên hết để cải thiện công bằng trật tự xã hội, ổn định đời sống cho dân nhờ. Dân giàu thì nước mới mạnh. Đàng này, cái nghèo đói đã khiến con người chỉ nghĩ đến làm sao kiếm miếng ăn, từ chỗ đó sinh ra lương lẹo mánh mung, trộm cướp, giựt giọc, giết người một cách ác độc vô cảm vô nhân tính. Xã hội càng ngày càng lọan, luân thường đạo lý càng xuống dốc thì đất nước càng sớm đi đến chỗ diệt vong nhứt là từ vua tới dân, mạnh ai có tiền cũng chỉ biết ăn chơi hưởng thụ mà không biết xây dựng, củng cố hay bảo vệ giữ gìn thì sớm muộn gì cũng vào tay ngọai bang thôi.

Người trong nước đã thấy vận mạt của Việt Nam cho nên ai có khả năng cũng tìm đủ mọi cách để ra khỏi nước thì tại sao bà lại lội ngược dòng. Cái vị thế của bà, một công dân Úc ai thấy cũng ao ước thèm thuồng nhưng sao bà không biết quý, có phải là nghịch lý lắm hay không?

Mỗi người có quyền tự do riêng, muốn làm gì thì làm nhưng cũng nên lựa chọn, lựa chọn đạo lý làm người hay lựa chọn vong ân bội nghĩa, vô ý thức!


Người Phương Nam

Khốn nạn nhất: Tiên học cái... củ gì?

Tiên học cái... củ gì?

Chuyện xưa tích cũ nhân ngày 2 tháng 9
Trong thời buổi này mà còn lôi “Nhị Thập Tứ Hiếu” của Lý Văn Phức ra để dạy và bắt các học sinh phải học và làm theo thì nhất định là không còn thích hợp nữa. Ấy là chưa nói tới một số những tấm gương đẹp ấy còn có thể bị hiểu là những trường hợp bạo hành, ngược đãi, gây nguy hiểm cho trẻ nhỏ là khác. Một số chuyện thì thấy có vẻ hề hơn là gương đạo đức. Như chuyện ông lão Lai nhẩy múa cho cha mẹ giải trí chẳng hạn. Thêm nữa, có cha mẹ nào nỡ để con ngồi cho muỗi cắn để muỗi tha cho cha mẹ, hay để cho con nằm trên băng đá để bắt cá cho mình ăn? Vậy thì đọc “Nhị Thập Tứ Hiếu” để giải trí, đọc cho biết là đúng nhất.
Nhưng “Gia Huấn Ca” của Nguyễn Trãi thì vẫn có thể đem ra dậy cho tuổi trẻ và đáng để cho tuổi trẻ noi theo. Phần lớn những điều dậy của Nguyễn Trãi dành cho nam cũng như nữ vẫn còn nguyên giá trị như khi Nguyễn Trãi đặt bút viết xuống hồi thế kỷ XV. Đó là những lời giáo huấn, răn dậy cho con trai, con gái lúc còn ở nhà với cha mẹ cho đến lúc trưởng thành, có vợ, có chồng, có con cái, những cách cư xử với vợ, với chồng, với các con... Những bài gia huấn viết bằng song thất lục bát ấy ngày nay vẫn có thể là những bài học hay và tốt đẹp cho tuổi trẻ.
Ở các lớp bậc tiểu học, ít nhất là trong những năm 1950 của tôi, trong số những bài học ở trường, có bài đức dục. Chúng tôi được dậy cách cư xử với anh em, bạn bè trong lớp, bổn phận đối với cha mẹ, ông bà ở nhà, thầy cô giáo ở trường, gặp người lớn phải thưa gửi, cung kính, thấy đám ma ngoài đường phải đứng lại, im lặng cúi đầu...
Ngày nay ở các trường học trong nước không dậy những điều như thế nữa. Nghe cách ăn nói xem cách cư xử, hành động của những thành phần được đặt cho một cái tên (khá mới đối với những người không ở Việt Nam đã lâu) là “trẻ trâu” hay “sửu nhi” thì người ta tin chắc là như thế.
Nhiều vụ xung đột có đánh nhau dữ dội xảy ra trong lớp, ngoài sân, cổng trường hay trên đường đi học. Những vụ như thế thường diễn ra giữa các thanh thiếu niên tuổi trạc từ 11, 12 tới 15, 17. Đa số đều ăn mặc sạch sẽ, một số còn thắt khăn quàng đỏ, giầy dép cũng rất kiểu cọ. Nhưng bọn chúng đánh nhau cũng rất dữ dội. Đấm, đạp, đá vào mặt, vào bụng, vào lưng, lên gối, túm, giật tóc, dùng giầy dép quật vào mặt, vào đầu... Những đòn hay nhất của Thai boxing đều được đem ra dùng rất hào hứng và ngoạn mục.
Không chỉ thượng cẳng chân, hạ cẳng tay mà thường chúng rất thích đánh hội đồng, có khi hai ba đứa đánh một, có khi là năm hay bẩy đứa đánh một như cảnh tố khổ thời cải cách ruộng đất, vừa đánh vừa chửi, dùng những thứ ngôn từ tục tĩu nhất, những câu chửi mà thường chỉ phát ra từ miệng của những người đàn ông hay lũ nam sinh vô giáo dục để xúc phạm tối đa mẹ của đối phương.
Mới đây có hai video clip (mà nhiều người trong nước gọi là “líp” hay “cơ líp”) thu cảnh hai trận giao chiến giữa hai toán nữ sinh của hai trường trung học ở Huế là trường Trần Phú và Bùi Thị Xuân. Tất cả đều là nữ sinh võ nghệ cao cường và ra toàn những đòn ác liệt nhất. Phải nói thêm một chi tiết nữa ở đây, đó là tuy hai trận đấu đều diễn ra ở Huế, nhưng nghe kỹ những câu chửi thề thì người ta thấy ngay không phải là giọng của sông Hương và núi Ngự, mà là giọng tục tĩu và thô bỉ nhất của miền Bắc. Chao ôi, cái giọng Bắc của tôi sau khi bị làm xấu đi vì bị pha với những giọng của vài ba miền khác thì nay lại được đưa tới những vùng khác của đất nước với những nét thô tục, khốn nạn và mất dạy nhất.
Vì những nét rất dã man của cả hai vụ đánh nhau nên những báo trong nước đều tường thuật kỹ và các giới chức giáo dục cũng vào cuộc để có biện pháp kỷ luật. Nhưng đáng ghi nhận nhất ở đây là những nhận xét của cô hiệu trưởng Phạm thị Ngọc Tâm trường Bùi Thị Xuân về vụ các học sinh của trường đánh nhau. Sau vài lời như để trốn trách nhiệm cho trường như đại khái chuyện đánh nhau diễn ra ở ngoài khuôn viên của trường và sau giờ học, cô hiệu trưởng còn đưa ra thêm nhận định nguyên văn như thế này: “Đây là tuổi mới lớn, nếu các em không đánh nhau, không xích mích nhau thì các em không bao giờ năng động được.”
Như thế, theo lời của cô hiệu trưởng, người có nhiệm vụ dậy dỗ các em, thì các em cần phải đánh nhau đều đều. Càng đánh nhau nhiều thì càng tốt. Không đánh nhau là không tốt. Các em đang tuổi lớn. Phải đánh nhau mới phát triển được, mới năng động được, mới trở thành những người khá trong xã hội được, mới nên người, mới hữu ích cho mai sau được.
Thì ra vậy. Nhưng các em không chỉ đánh nhau thôi, mà ngay cả thầy cô nếu lạng quạng, các em cũng ra tay, ngay ở trong lớp, trên bục giảng như một video clip thu được cách đây không lâu tại trường trung học phổ thông Nguyễn Huệ, Phú Phong, Tây Sơn, Bình Định. Một giáo sư trẻ tên là Trần Anh Tuấn, 23 tuổi, dậy môn hóa học đã nặng tay với một nam sinh bằng mấy cái tát. Lập tức, một nam sinh khác liền chạy lên bục và tấn công ông giáo sư trẻ đó bằng mấy đòn rất nặng. Nội vụ diễn ra ở ngay trong lớp trước tấm bảng xanh và dưới một khẩu hiệu nhắc nhở các học sinh bằng hàng chữ lớn mà video clip cũng ghi lại được rất rõ : “HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC HỒ CHÍ MINH.”
“Nhị Thập Tứ Hiếu” của Lý Văn Phức và luôn cả “Gia Huấn Ca” của Nguyễn Trãi là... cút xéo, là đi chỗ khác chơi cho được việc.
Đạo đức của Hồ Chí Minh mới đáng học tập và làm theo ở trong lớp cũng như ngoài đời! Bác đã dạy, cô đã bảo mà!
Vỡ lòng học lấy những nghề nghiệp hay! Tiên phải học lấy tất cả những trò mất dạy và khốn nạn nhất. Còn hậu học cái... củ gì thì có gì quan trọng đâu.
 Bùi Bảo Trúc

Bài Xem Nhiều