We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 31 August 2016

Vẫn Rắc Rối?: Một nửa dân Mỹ ủng hộ ông “khùng”, nửa còn lại ủng hộ bà “gian”.đại cao thủ...

Bà Hillary: Vẫn Rắc Rối?


...hợp pháp nhưng mờ ám, thì ông bà Clinton thuộc loại đại cao thủ...

Có một hiện tượng khá đặc biệt đánh dấu cuộc bầu tổng thống năm nay: ứng viên CH, Donald Trump, là một chính khách tay mơ, bất nhất, ăn nói vung vít, cử chỉ thô lỗ, có vẻ thiếu tư cách, chẳng biết chính chị chính em là gì, bị cả nước coi thường hay coi là khùng, bị bà Hillary và đảng DC đánh hội đồng với cả trăm triệu tiền quảng cáo, lại còn bị toàn thể khối truyền thông dòng chính (TTDC) xúm lại đập. Ấy vậy mà cái ông này vẫn… dai như điả, vẫn sống nhăn. Thăm dò mới nhất của báo phe ta Los Angeles Times cho thấy tỷ lệ hậu thuẫn của cái ông này vẫn lảng vảng trên dưới bà Hillary đâu một hai điểm.

http://media3.s-nbcnews.com/j/msnbc/components/video/201608/f_trump_rally_160823.nbcnews-ux-1080-600.jpg
Nói ra nhiều người buồn: một nửa dân Mỹ ủng hộ ông “khùng”, nửa còn lại ủng hộ bà “gian”. Một lựa chọn thật … không mấy hấp dẫn!

Câu hỏi là tại sao bà Hillary vẫn lận đận mãi vậy? Câu trả lời giản dị nhất: tại bà có quá nhiều tỳ vết, cho dù bà bỏ bao nhiêu tiền ra mua quảng cáo, cho dù TTDC bao che cỡ nào, thì mấy cái con chí rận này vẫn bò lổn ngổn ra đầy đường, xịt thuốc DDT bao nhiêu cũng vô hiệu.

Trong thời gian vài tuần qua, hàng loạt tin xấu lại xuất hiện.

VỤ EMAILS

https://ec.yimg.com/ec?url=https%3A%2F%2Fnyoobserver.files.wordpress.com%2F2016%2F08%2Fgettyimages-455924644.jpg%3Fquality%3D80%26amp%3Bw%3D635&t=1472677082&sig=de.YJ0MG4.6Gi.PM9r6mNg--~C
FBI bỏ ra hơn một năm trời điều tra, kết luận bà Hillary vi phạm cả triệu luật lệ, nhưng vì bà là bà Hillary đang đại diện cho một chính đảng đang cầm quyền ra tranh cử tổng thống nên FBI lạnh cẳng không dám đề nghị truy tố, và bà đồng nghiệp bộ trưởng Tư Pháp không thể nào muối mặt truy tố bà đồng nghiệp bộ trưởng Ngoại Giao, nên câu chuyện bị... xù. Tưởng thế là xong, nhưng cuối cùng, vẫn... chưa xong.

Trả lời một phỏng vấn của đài FOX News, bà Hillary tỉnh bơ tuyên bố “chính FBI đã xác nhận tôi đã khai hoàn toàn trung thực mà”. Hơn 300 triệu dân Mỹ vội vã đi lục báo cũ, xem lại coi ông giám đốc FBI đã nói gì. Kết quả, báo phe ta Washington Post tặng cho bà 4 “cái mũi Pinocchio”. [Xin giải thích thêm cho quý độc giả rõ: Pinocchio là một nhân vật trong truyện thần thoại của trẻ con Mỹ. Anh này có bệnh, mỗi lần nói láo là mũi lại dài ra. Washington Post có mục đánh giá tính xác thực của các tuyên bố của chính khách Mỹ qua mũi anh Pinocchio. Nói láo ít được cho điểm một anh Pinocchio, nói láo tuyệt đối là được tối đa bốn cái mũi anh Pinocchios. Trong câu chuyện này, bà Hillary được Washington Post tặng huy chương vàng: 4 Pinocchios]

Cũng trong câu chuyện emails này, lại có tin mới: bà Hillary tìm cách núp sau lưng tướng Colin Powell. Bà kể lại khi mới lên Ngoại Trưởng, bà tổ chức một bữa ăn tối, có nửa tá cựu ngoại trưởng tham dự, trong đó có bà Condolizza Rice và ông Powell của nội các Bush. Theo bà thì trong bữa ăn đó, ông Powell “khuyên bà nên dùng email cá nhân”, sau đó bà đã sử dụng hệ thống email cá nhân theo lời khuyên này.

Tin này tung ra, ông Powell nổi đoá: “Tôi không nhớ đã có cuộc trao đổi này trong bữa ăn tối đó, chỉ nhớ một năm sau khi bà Hillary đã sử dụng hệ thống email riêng [VL: “một năm sau…”] thì bà mới hỏi ý kiến, và tôi có nói nếu không phải là email có tin mật, thì việc sử dụng email riêng cũng tốt cho những trao đổi thông tin với nhân viên. Bà Hillary cố tình bán cái vụ lộn xộn này lên đầu tôi”.

Được hỏi về vụ này, bà Condolizza Rice cho biết bà không hề nghe thấy bà Hillary và ông Powell nói chuyện gì về emails trong bữa ăn tối đó.

Một tin rất lạ: Tổng Thanh Tra Văn Phòng Giám Đốc An Ninh Quốc Gia –Inspector General for the Office of the Director of National Intelligence- bị gọi ra điều trần trước quốc hội. Được hỏi về chi tiết các emails của bà Ngoại Trưởng, ông nói “tôi không được biết hết vì một số lớn bị xếp loại mật cao cấp mà tôi chưa được phép đọc”. Emails có tin mật đến mức độ ông Tổng Thanh Tra An Ninh không được đọc mà lại được trao đổi trên hệ thống tư không có biện pháp bảo vệ? Trong khi bà Hillary luôn khẳng định bà không hề trao đổi tin mật nào qua hệ thống emails riêng. Thế nghiã là gì? Mật hay không mật?

Thêm một tin nữa. Bộ Ngoại Giao cho biết FBI mới khám phá ra thêm 15.000 emails của bà Hillary bị xóa không kỹ. Toà án thụ lý vụ emails của bà Hillary đã ra hạn bộ Ngoại Giao cho đến 22/9 để kiểm tra và công khai hoá những emails này. Chưa ai biết có gì trong đó.

TIỀN BẠC


Nếu định nghiã “tham nhũng” là lợi dụng vị thế của mình để kiếm tiền, bình thường là hoàn toàn hợp pháp nhưng mờ ám, thì ông bà Clinton thuộc loại đại cao thủ chí tôn.

Hai ông bà Clinton trên căn bản có ba cách kiếm tiền:

1.Đọc diễn văn.

TT Clinton về hưu trước, đi tiên phong. Chỉ vài tháng sau khi rời Nhà Trắng là bắt đầu đi đọc diễn văn khắp thế giới. Giá cả “phải chăng” trong khi bà vợ làm thượng nghị sĩ không có quyền thế gì nhiều, cỡ 100.000-200.000 đô một bài, so với các quan lớn khác như PTT Al Gore (100.000), TT Carter (50.000-100.000), TT Bush (100.000), PTT Cheney (75.000-100.000). Năm 2009, bà vợ được bổ nhiệm Ngoại Trưởng. Giá biểu của TT Clinton tăng vọt ngay lên tối thiểu 250.000 đến 750.000. Sau khi bà vợ thành Ngoại Trưởng, ông chồng tự nhiên nói chuyện “hay” hơn, đáng trả nhiều tiền hơn. Đã vậy, ông lại trở nên bận rộn cùng cực, gần như mỗi tháng hai ba lần bị bắt đọc một bài, trong khi các vị khác một năm được mời đọc hai ba bài diễn văn là mừng hết lớn rồi.

Năm 2013, bà Ngoại Trưởng từ chức, gọi là nghỉ hưu về lo cho chồng con dù ai cũng biết là để chuẩn bị tranh cử tổng thống. Đến phiên bà “bị bắt” đi đọc diễn văn. Giá cả từ 200.000 tới 500.000 một bài cỡ chừng 45 phút, cộng thêm ít phút chào hỏi, kể chuyện diễu và cám ơn. Cả hai ôb đều than vãn “đời sống quá khó khăn, phải làm việc quá vất vả, cần tiền lo cho con đi học và trả tiền sinh sống, “we need money to pay bills” theo lời TT Clinton, còn theo bà vợ thì “sau khi rời Nhà Trắng, chúng tôi gần phá sản”. Từ sau khi từ chức ngoại trưởng, trong 3 năm 2013-2015, bà Hillary kiếm được 22 triệu qua hơn 90 diễn văn, ông chồng hơn 200 triệu tiền diễn văn từ ngày rời Nhà Trắng.

2. Làm “tư vấn”.

Vua tiểu quốc Dubai mời cựu TT Clinton làm đối tác –partner với chính phủ Dubai. Ông được trả công tổng cộng 15 triệu trong 6 năm hợp tác. Trong thời gian đó, 2006 cũng là lúc Dubai trúng thầu quản lý 6 hải cảng lớn nhất của Mỹ và 16 hải cảng nhỏ hơn [sau khi quốc hội biểu quyết không chấp nhận vì lý do an ninh, công ty trúng thầu Dubai bán quyền quản lý tất cả các hải cảng cho một công ty Mỹ]. Không ai rõ TT Clinton có vai trò gì trong vụ trúng thầu khổng lồ này. Năm 2008, ông từ chức khi bà vợ nhận làm Ngoại Trưởng, nhận 20 triệu tiền trả ơn đặc biệt.

TT Clinton cũng là “Chủ Tịch Danh Dự” một tổ chức giáo dục Dubai tên là GEMS Education, được trả thù lao 5,6 triệu một năm.

Năm 2010, ông Clinton được “bổ nhiệm” làm “Chủ Tịch Danh Dự” tổ chức Laureate International Education, là tổ chức mẹ của cả chục đại học trên nhiều nước trên thế giới, hầu hết là tại các nước chậm tiến Phi Châu và Nam Mỹ. Đến năm 2015, khi bà vợ chuẩn bị tranh cử tổng thống thì ông từ chức. Trong 5 năm “làm việc” ông nhận lương 17,6 triệu đô. Trong thời gian đó, bà Ngoại Trưởng Hillary đã ký giấy cho bộ Ngoại Giao yểm trợ tài chánh đâu 90 triệu cho Laureate để “hỗ trợ Laureate trong công tác phát triển giáo dục tại các nước đang mở mang”.

Chỉ ba cái jobs “danh dự” này không cũng đã mang lại cho TT Clinton xấp xỉ 10 triệu một năm, cho dù chẳng ai rõ ông làm cái việc gì trong tư thế “danh dự” trong cả ba jobs.

3. Quỹ Clinton Foundation

Quỹ này được thành lập năm 1997 với mục đích gây quỹ làm công tác từ thiện, đặc biệt là trong phạm vi y tế và bảo vệ phụ nữ tại các nước chậm tiến. Cho đến nay, quỹ đã thu được hơn hai tỷ tiền đô. Trong lịch sử làm chuyện phước thiện ở Mỹ, chưa có tổ chức nào, kể cả Hội Hồng Thập Tự lại thu được nhiều tiền dễ dàng như vậy.

Mà điều lạ lùng là hơn một nửa (53%) số tiền nhận được có nguồn gốc ngoài nước Mỹ, từ các đại công ty và đại tài phiệt không phải Mỹ, cũng như từ ít nhất 16 chính phủ, hầu hết là của các nước chậm tiến, đầu sổ là các nước Ả Rập, các xứ độc tài tham nhũng khét tiếng như Haiti, Kazakhstan, Nigeria, Congo, và cả Trung Cộng.

Muốn nhận định Quỹ này cho chính xác, quý độc giả chỉ cần đặt đúng vài câu hỏi: Tại sao ông tổng thống Nigeria chẳng hạn, không bỏ một triệu đô ra xây nhà thương ngay tại Nigeria cho dân Nigeria, mà lại phải mất công gửi số tiền đó cho một tổ chức phước thiện của cái xứ Mỹ giàu xụ? Hay tại sao các xứ Ả Rập ủng hộ tiền cho công tác “giải phóng” phụ nữ của bà Clinton trong khi tại chính những nước này, phụ nữ vẫn bị coi là công dân hạng hai?

Trong phần đóng góp quốc nội, đại đa số là từ các đại tài phiệt và đại công ty, nhất là các đại ngân hàng Wall Street, bất thình lình lên cơn sốt nhân đạo, gửi cả triệu nhờ bà Hillary giúp chữa bệnh cho dân nghèo Phi Châu.

Rất nhiều đóng góp tanh như cá ươn. Một vài ví dụ.

Khi bà Hillary còn làm Ngoại Trưởng, bộ này có một Hội Đồng Cố Vấn An Ninh đặc biệt, mà chỉ những quan chức cao cấp nhất của bộ hay chuyên gia an ninh lâu đời mới được tham gia. Bất ngờ, có một ông tên là Rajiv K. Fernando được đích thân bà Ngoại Trưởng bổ nhiệm vào. Cả hội đồng không ai biết ông này là ai, quá trình như thế nào mà lại được bổ nhiệm là thành viên.

Hóa ra ông Fernando là dân Mỹ gốc Sri Lanka, chủ nhiều công ty tài chánh quốc tế, là người đã đóng góp 100.000 cho bà Hillary khi bà tranh cử năm 2008, mới đây đóng 250.000 cho cuộc vận động năm nay, cũng là người đã đóng góp “từ một triệu đến năm triệu đô” cho Quỹ Clinton Foundation [theo luật, Quỹ này không bắt buộc phải khai rõ số tiền nhận, chỉ cần khai khung tiền, chẳng hạn từ 100.000 đến 1.000.000, từ 1T đến 5T,…]. Việc ông hiện diện trong Hội Đồng chẳng có lợi gì cho bộ Ngoại Giao, nhưng lại giúp ông hiểu được chính sách và biết trước những biện pháp tài chánh quốc tế của chính phủ Mỹ, rất cần thiết cho các hoạt động tài chánh quốc tế của ông. Nói cách khác, ông này đã mua cái ghế này để biết tin tức kinh doanh có lợi cho ông.

Năm 2014, sau vụ động đất kinh thiên tại Haiti, TT Clinton và TT Bush cha được TT Obama bổ nhiệm đồng chủ tịch chương trình vận động tài chánh giúp tái thiết Haiti.

TT Clinton hợp tác với ông Frank Giustra tung ra một chương trình giúp 12.000 tiểu doanh gia Haiti phục hồi ngành trồng đậu phộng tại đây. Từ đó, bắt đầu một mối quan hệ mật thiết giữa hai người qua Quỹ Clinton Foundation. Đại khái ông Giustra yểm trợ hơn 30 triệu cho quỹ và hứa sẽ yểm trợ thêm 100 triệu nữa, trong khi TT Clinton dùng máy bay riêng của ông Giustra “cho mượn đi công tác” khắp thế giới, gần 30 lần. Phần lớn đi đọc diễn văn, hay đi phân phát tiền của quỹ cho các tổ chức y tế địa phương. Và dĩ nhiên, một số lớn những lần mượn tàu bay đều có ông Giustra đi chung, và mỗi lần, ông này lại trúng thầu một vố làm ăn lớn với cái xứ đó, qua sự “giới thiệu” của cựu tổng thống, chồng của đương kim ngoại trưởng Mỹ.

Ông Giustra, quốc tịch Canada, là một đại tài phiệt về ngành địa chất, hầm mỏ, qua trung gian TT Clinton dành được độc quyền sản xuất uranium tại Kazachstan, cũng như mua được công ty dầu ăn lớn nhất Colombia do chính phủ bán ra.

Cũng trong vụ email này, tổ chức Judicial Watch kiện ra tòa và được toà bắt bộ Ngoại Giao nộp hơn 700 emails của bà Huma Abedin, Chánh Văn Phòng của bà Hillary, là những emails đã không được bộ Ngoại Giao công bố cho công chúng. Một phần ba những emails đó bị bộ Ngoại Giao kiểm duyệt, bôi đen vì liên quan đến tin mật. Một phần ba emails của bà phụ tá bị bộ Ngoại Giao coi là tin mật không phổ biến được trong khi bà Hillary lại xác nhận không có một emails nào của bà mang tính mật. Thế nghiã là gì? Mật hay không mật?

Judicial Watch cho phổ biến một số, trong đó lòi ra quan hệ giữa bộ Ngoại Giao và hàng loạt “mạnh thường quân” đại tài phiệt Mỹ, cũng như quốc tịch khác, đóng bạc triệu cho Quỹ Clinton Foundation. Đại khái thì họ đều được thu xếp ưu tiên gặp bà Ngoại trưởng, hay được bổ nhiệm vào những trách nhiệm quan trọng trong chính quyền, hay được bộ Ngoại Giao “giới thiệu” cho các cơ quan chính quyền để “bôi trơn” các giao dịch của họ. Việc đổi chác “tiền mua ảnh hưởng” và “tiền mở cửa công quyền”, mà báo Mỹ gọi là “pay-for-play” không thể nào rõ ràng hơn.

Hãng thông tấn AP cũng khám phá ra trong cả trăm nhân sĩ và tập đoàn không phải là nhân viên công quyền Mỹ hay của chính phủ nào khác, được bà Ngoại Trưởng đặc biệt tiếp kiến, thì hơn một nửa đã đóng góp tổng cộng cả trăm triệu cho Quỹ. Họ đóng góp từ mấy chục ngàn tới mấy triệu để được gặp bà Hillary trong vài chục phút, để làm gì? Chào hỏi xã giao? Hỏi thăm cháu ngoại bà? Điều lý thú là cho dù đây là bài điều tra rất chi tiết của AP, một hãng thông tấn nổi tiếng từ cả trăm năm nay, cả New York Times lẫn CNN tảng lờ không hề đăng tin này, trong khi Washington Post đăng vài giòng.

Tất cả đều... hợp pháp vì tất cả đều chùi mồm mép sạch sẽ. Khi đó bà Hillary chỉ mới là Ngoại Trưởng thôi. Khi bà là tổng thống thì sao?

TT Clinton đã rình ràng loan tin nếu bà Hillary đắc cử tổng thống thì cả hai ôb sẽ từ chức khỏi Hội Đồng Quản Trị của Quỹ, và Quỹ sẽ không nhận tiền từ ngoài nước Mỹ nữa để tránh xung khắc quyền lợi –conflict of interest. Tại sao khi bà Hillary còn làm Ngoại Trưởng thì nhận tiền không có xung khắc quyền lợi mà khi làm tổng thống mới bị? Thật ra thì cũng như không, chứ không lẽ cả hai vẫn tiếp tục đi gây quỹ? Vẫn nhận tiền của mấy xứ Phi Châu? Hiến Pháp nào cho phép tổng thống làm chuyện này?

Khối emails này cũng cho thấy hai bà phụ tá Huma Abedin và Cheryl Mills đã làm việc chặt chẽ với bà Laura Graham, TGĐ Quỹ, và ông Doug Band GĐ Quỹ, một bằng chứng Quỹ Clinton Foundation và bộ Ngoại Giao hợp tác chặt chẽ suốt thời gian bà Hillary làm Ngoại Trưởng.

Bà Chánh Văn Phòng Abedin bây giờ là đồng chủ tịch Ủy Ban Vận Động Tranh Cử, là cánh tay mặt của bà Hillary, vợ của một dân biểu DC của Florida bị ép từ chức vì xì-căng-đan, chuyên gửi hình ở trần [không phải ở truồng!] của mình cho các bà quen biết. Bà Abedin cũng theo gương bà Hillary, không ly dị chồng, đóng vai hiền thê nạn nhân đáng thương. Bà Abedin gốc Pakistan, theo Hồi giáo, đã từng hợp tác chặt chẽ trong 10 năm với một tờ báo Ả Rập Hồi giáo cực đoan, suốt ngày sỉ vả Mỹ, ca tụng luật Sharia Hồi giáo, do mẹ bà làm chủ nhiệm. Bà Abedin sẽ là Chánh Văn Phòng cực kỳ quyền thế nếu bà Hillary đắc cử tổng thống.

Bà Mills, cánh tay trái của bà Hillary, là luật sư da đen nổi tiếng từ ngày bà bào chữa cho TT Clinton trước quốc hội khi ông này bị đàn hạch.

SỨC KHOẺ

Sau khi phe ta nhất loạt ca bài “ông Trump điên”, thì dĩ nhiên cái ông thần Trương Phi phản pháo, lôi ra chuyện bà Hillary dường như sức khoẻ không được tốt lắm.

Sức khỏe bà Hillary có vấn đề khi bà bị xiủ năm 2012. Bị máu tụ tại não, phải điều trị mấy tháng. Cho đến nay, vẫn uống thuốc loãng máu.

TTDC bây giờ tự cho mình trách nhiệm bảo vệ bà Hillary. CNN dĩ nhiên, đã có ngay bài bình luận dài lê thê, đả kích việc bàn đến sức khoẻ của bà Hillary. Ngoài CNN ra thì cũng đã có bài của Newsweek, Washington Post, New York Times và nhiều tiếng nói khác. Đại khái, thì họ đả kích ông Trump và phe CH chơi trò bẩn thiủ, hạ cấp khi nêu vấn đề sức khoẻ của bà Hillary.

Phải nói cho rõ, kẻ viết này không muốn bàn vấn đề sức khỏe của bà Hillary. Những chuyện như nơi sanh hay tôn giáo của TT Obama, hình bà vợ ông Trump, hay bà Hillary vấp ngã,... là những chuyện vớ vẩn không liên quan gì đến trách nhiệm tổng thống nên kẻ này không bàn tới. Chỉ thắc mắc tại sao TTDC có quyền công khai chất vấn bệnh đầu óc của ông Trump, nhưng bàn về sức khoẻ bà Hillary thì đó lại là chơi bẩn?

Tất cả những chuyện trên chỉ phơi bày ra những quan hệ mánh mung mờ ám, khiến hai phần ba dân Mỹ đánh giá bà Hillary là người không lương thiện, không thể tin được. Do đó cũng giải thích sao trước ông đối thủ yếu như ông Trump mà bà vẫn lẹt đẹt, không dìm ông này luôn được. Dù muốn hay không, những rắc rối lem nhem của bà Hillary càng ngày càng làm những người ủng hộ bà nghĩ lại.

Trong tình trạng hiện tại, ai muốn đánh cá ai thắng, xin cứ tự nhiên, miễn đừng mang nhà cửa ra đánh cá, mất như chơi. (28-08-16)

Vũ Linh

Đọc “Một góc ký ức và bây giờ” của Vũ Thế Thành

Đọc “Một góc ký ức và bây giờ” của Vũ Thế Thành
Người Pháp có Paris, Người Anh có Luân Đôn, người Tàu có Thượng Hải, người Bắc có thể có Hà Nội! Chỉ có người Sài Gòn là không có Sài Gòn. Hoặc giả vay mượn mà muôn đời vẫn xa lạ!
Chấp bút vài dòng về cuốn “Một góc ký ức và bây giờ”, tác giả Vũ Thế Thành
Cho đến bây giờ, tuổi đã hạc, tôi vẫn chưa hiểu rõ cái ý của cái anh Chí Phèo, làng Vũ Đại, nói: ‘Ở đâu có này thì ở đó có kia’ là nghĩa lý làm sao?Phải chăng đó là một chủ trương sống huề cả làng? Nếu thật sự, anh Chí Phèo của tôi chủ trương như vậy thì tôi coi thường anh lắm!
Nhưng tôi biết chắc một điều, anh Chí Phèo là người radical, chơi tới bến, thường hướng dẫn và gợi hứng cho tôi nhiều điều; ngay cả cái nhân cách Chí Phèo, ngay cả cách chửi của anh cũng là một triết lý sống. Này nhé, cả làng Vũ Đại đã có một ai dám chửi quan chức từ trên xuống dưới? Anh chửi tuốt. Phải đấy, dám chửi điều xấu phải là một người có nhân cách lắm chứ! Hơn nhiều người. Muôn người mới có một.
Tôi theo anh không kịp. Anh chỉ khác tôi một điều. Anh sống bằng chửi còn tôi sống để cầm bút. Mà cầm bút như tôi thì quả thực: giấy bút lầm than. Tôi nói thật.
Trong thời đại này, một thời đại mà mọi giá trị đều mất giá. Viết tử tế là một điều khó lắm vì người tử tế không còn nữa.
Nguồn: NXB Hội Nhà Văn
Vậy mà tôi được đọc một nhà văn trong nước, Vũ Thế Thành, hiện ẩn cư tại Đà Lạt, viết một cuốn truyện mà như một làn gió thoảng giữa cơn bão táp thời cuộc. Ông viết nhẹ nhàng như chuyện đời thường, đọc như uống một ly chanh đường giữa cái nắng Sài Gòn; ông viết về chuyện bây giờ mà như thể viết về ở một nơi nào khác, viết như một hồi ức nhắc nhở, đọc chơi.
Nhưng, đọc anh, tôi thấy tôi trong đó: Cái tôi di cư thời Phú Thọ lều, cái tôi Đà Lạt thời sinh viên, cái tôi Sài Gòn nhớ nhớ quên quên. Nhất là cái tôi sau 1975 trong tâm trạng người Sài Gòn trong cuộc đổi đời.
Chỉ khác tôi một điều là những chuyện anh viết đều là chuyện xem ra nhỏ và không quan trọng. Nhưng chuyện nào cũng gợi ý một cách kín đáo về một cái gì khác. Nó không đến lộ liểu như câu chuyện “Chiếc bình vôi” hay “Con ngựa già của Chúa Trịnh” thuở nào.
Sự việc viết ra chỉ là cái cớ để nói về một điều không phải là cái ấy. Và phải chăng đó là chủ đích của người câm bút?
Như đã nói, đọc anh, tôi rất dễ chia xẻ vì có một mẫu số chung nào đó. Mẫu số chung ấy trong cùng một hoàn cảnh, càng cắm rễ sâu, khi phát tán càng có cơ hội gắn bó, gần gũi. Mỗi người một phương mà tấm lòng vẫn là một.
Cái tâm trạng chung là nhớ về. Không ngờ cái tâm trạng từ mỗi cá thể trở thành cái chung trong cái riêng. Nó sẽ tự phát trở thành một thứ ký ức tập thể (collective memory).
Cái nhớ của tác giả cũng là cái nhớ của tôi và của nhiều người khác đã từng một cội nguồn, đã từ đó mà lớn lên. Và chỉ cần một cái click nhẹ mọi sự sẽ như một cảnh trí quay lại của một câi đèn kéo quân.
Thật vậy, trong trí nhớ của tôi Đà Lạt là một thành phố quanh năm là mùa xuân.
Chỉ cần ngồi trên chiếc xe đò Minh Trung, qua khỏi Định Quán, đi qua Blao là như hít thở không khí Đà Lạt rồi. Một Đà Lạt còn giữ được vẻ nguyên sơ với những người Thượng từ một triền núi nào đó xuất hiện bất ngờ, trên vai gù một vài củ măng.
Vắng bóng người sơn cước, Đà Lạt mất cái căn cước của mình.
Phụ nữ miền sơn cước.  Nguồn:  pierredeloubresse.wordpress.comPhụ nữ miền sơn cước.
Đà Lạt cũng lộ cho thấy đó là một thành phố tiêu biểu cho phong cách thuộc địa với những biệt thự ẩn hiện dưới các triền đồi thơ mộng. Sân cù, thảm cỏ xanh mướt, đồi thông, tháp chuông trường Yersin màu gạch đỏ. Đẹp làm sao.
Nhà của dân chúng thì thường bàng gỗ sơn đủ mầu, có cửa kính, trước khi nó trở thành một thành phố của các đám cưới với tuần trăng mật.
Và dĩ nhiên, Đà Lạt của tôi cũng như của tác giả, không phải là thứ Đà Lạt với:
Hide message history
“nhà hàng, nhà cao tầng, các vạt đồi đã đốn cây xanh, còn trơ đất đỏ sẵn sàng cho những dự án hoành tráng, xứng tầm với thành phố du lịch, xứ sở ngàn hoa như có người nói` Người ta cắt một mảnh Sài Gòn lên, đem dán vào Đà Lạt và bảo rằng Đà Lạt đang phát triển trong quy hoạch.”
(trích bài “Kiều Lão Đà Lạt” của tác giả).
Một Đà lạt mà tác giả tự hỏi còn cái hồn ra sao?
Theo tôi, ký vãng cũ lúc nào không hay trở thành cái lẽ sống ở đời (La raison d’être)ở những người như tác giả.
Cho nên, từ một miếng ăn, dù tầm thường như nước măm tĩn Phan Thiết, trứng vịt lộn, miếng chả lụa với hương vị riêng của nó, mùi cà cuống, v.v., tất cả những thứ đó với vốn liếng chuyên môn khoa học về thực phẩm của tác giả trong sự phân tích hóa học, nó gợi nhớ người đọc đến Vũ Bằng, khi sống ở Sài Gòn cũng gợi nhớ về Hà Nội trong “Miếng ngon Hà Nội” với Cốm vòng, Rươi, Ngô rang, Khoai lùi, Gỏi, Chả cá, Thịt cầy thời trước 1975.
Nhưng tính chất khoa học của món ăn thì hẳn không tìm thấy trong “Miếng ngon Hà Nội” của Vũ Bằng được.
Những phần viết về món ăn này chiếm một tỉ lệ ưu thế trong số bài viết của tác giả mà khéo sắp xếp và trình bầy, nó có cơ may trở thành như một thứ chủ thuyết phồn thực.
Nhưng trong tất cả các bài viết ấy, dù là một cảnh trí bên Pháp hay Đức như: Một chút Sài Gòn trong lòng Hamburg, Trăm nghìn nỗi khổ, Cà cuống, Con gián và đàn bà, Hồi đó tụi mày ở đâu, Ai hột vịt lộn.. hôn, Sài Gòn, Cà phê và nhạc sến, Món ăn dĩ vãng, Chuyện của một thời, Phút cuối trong tầm tay, tất cả đều kín đáo gửi đi một thông điệp.
Trong bài “Một chút Sài Gòn trong lòng Hamburg”, tác giả viết:
“Nửa đêm về sáng khi viết những dòng chữ này từ Hamburg, tôi chợt thấy nhớ và thương Sài Gòn lận đận, nơi tôi sinh ra, lớn lên và sống gần hết đời mình. Người ta cứ tiến, còn mình đứng yên, người bán buôn những hứa hẹn hoa mỹ, nhưng rất nhiều người vẫn nuôi hy vọng đổi đời qua những tấm vé số.”
Tìm trong đổ nát trên phố Berg, Hamburg tháng 7 năm 1943, Nguồn: www.johndenugent.com
Tìm trong đổ nát trên phố Berg, Altona, Hamburg tháng 7 năm 1943,
Tâm trạng ấy là có thật và chỉ khi xa nhà mới thấy thấm thía.
Phải đi xa, ở xa có khi nửa vòng trái đất mới xót thương, tội nghiệp cho Sài Gòn. Sài Gòn đau đáu trong giấc ngủ muộn mỗi khi nghĩ về.
Bản thân tôi, đã từng nhiều đêm thao thức, đôi khi phẫn nộ mỗi khi đọc những tin tức xấu về đất nước mình. Có một thứ giao cảm rất gần gũi ở một không gian xa cách mịt mù mới cảm nhận được. Thật đến lạ. Người Sài Gòn mí nhau có thể chèn lách, vượt, đạp lên nhau để có thể lấn lên trước bất kể sinh mạng người khác. Rồi cảnh tượng xấu nhất có thể xảy ra là thây người nằm chết, máu me lênh láng đầy đường trước con mắt bàng quang của nhiều người.
Cái đó chỉ có thể xẩy ra ở Việt Nam.
Phần người ở xa không sao hiểu được! Đã có không biết bao nhiêu điều như thế của Sài Gòn, nay không hiểu được.
Sự chia xẻ của tôi với tác giả có thể còn trở nên căn thiết hơn khi tôi đọc bài Chuyện của một thời! Những kinh nghiệm của tác giả với 6 tháng đạp xích lô ghi lại những khoảnh khắc sống cũng như những nghịch cảnh khi Sài Gòn không còn có tên là Sài Gòn nữa là những kinh nghiệm đắt giá, của một người trong cuộc.
Tôi xin phép tác giả và độc giả ghi lại vài cảm nghĩ của tôi về một Sai Gòn thân thương, một Sài Gòn:
Thóc thơm
Gạo trắng
Gió hiền
Miền Nam phì nhiêu nắng ấm.
(Trích bài thơ của Dương Như Nguyện.)
Một Sài Gòn chỉ tóm gọn trong có một câu:
Sài Gòn đẹp lắm, Sài Gòn ơi!
Sài Gòn, 1969. NGuồn: OntheNet
Sài Gòn, 1969.
Phải thú thực với lòng mình-thú thực với tác giả và những ai đọc những dòng này là khi về, đặt chân đến Sài Gòn, tôi có một cảm giác xa lạ và có cảm tưởng cuộc sống ở nơi đây như thể có gì đổi khác.
Mọi sự như không còn như trước nữa, một cuộc sống như thể ở một nơi nào khác.
Nó không phải là một Sài Gòn của tôi như thuở nào. Mà mục đích về là đi tìm cái Sài Gòn của tôi.
Vẫn đường phố ấy, vẫn con đường Duy Tân nhưng nay nhà cửa xây dựng san sát như chen chúc nhau để nhô lên. Nhộn nhịp hơn, nhưng cũng xô bồ hơn.
Đi dọc đường Lê Văn Duỵệt cũ, nơi tôi đã lớn lên, tôi kịp nhận ra, dọc hai bên đường, những sợi giây điện đủ loại, từng bó, từng chùm, chúng xoắn vào nhau hằng trăm sợi, quấn chằng chịt lấy nhau, len lỏi vào tầng hai của balcon mỗi nhà, chui vào ngõ hẻm, làm chĩu nặng nghiêng đổ các cột điện gỗ dưới sự trì kéo của chúng.
Tôi có một cảm giác sợ hãi không cắt nghĩa được. Chúng là những sợi gì? Tên chúng là gì? Chúng là ai?
Có thể là những sợi gian đối, lừa phỉnh! Sợi vu oan! Sợi tô hồng! Sợi gian tham! Sợi bóc lột! Sợi giam hãm tù tội. Sợi trói buộc trói tay! Sợi làm mất nhân phẩm con người!
Còn đâu là những sợi tơ trời, giăng mắc ràng buộc nhau trong thân phân phận lứa đôi?
Sài Gòn bây giờ còn là những tiếng động miên tục, ngày đêm, chu kỳ tần số âm thanh đập vào màng nhĩ trong lúc sống, lúc ăn nhậu, lúc tranh cãi, lúc làm hùng hục, lúc yêu đương phiền muộn cũng như trong lúc ngủ.
Tôi chỉ thực sự thấy Sài Gòn im ắng có một lần, một lần duy nhất mà thôi, trong cả năm. Đó là khoảng 5,6 giờ chiều ngày 30 tết.
Nhưng độ 10 giờ tối, nó lại trở về cơn mê điên cuồng của tiếng động. Trong cơn mê của tiếng động,con người không còn có dịp để nghe tiếng của con người cũng như tiếng động của thiên nhiên.
Đó là một cuộc sống vong thân của con người trong tiếng động. Tiếng động đã trấn áp tất cả!!
Đến gà không thể gáy, chó không còn sủa. Nào có ai nghe được tiếng chó tru ban đêm gọi đực. Tiếng u hờ bên sông.
Nói chi đến tiếng cựa mình của đài nụ nở hoa. Tiếng mưa rơi âm thầm hoặc lộp bộp trên tàu lá chuối.
Hết rồi tiếng chim líu lo trên cành! Tôi chưa từng hiếm hoi nghe được tiếng chim hót buổi sáng.
Giã từ tiếng gà gáy o o buổi sáng hay sau khi đạp mái.
Không bao giờ nữa còn nghe tiếng chuông nhà thờ buổi sáng cũng như tiếng lục lạc của trâu về chuồng.
Một đất nước của những kẻ thâm niên làm lịch sử mà tên tuổi giăng mắc đầy đường phố lại mâu thuẫn thay vắng bóng con người.
Người Pháp có Paris, Người Anh có Luân Đôn, người Tàu có Thượng Hải, người Bắc có thể có Hà Nội! Chỉ có người Sài Gòn là không có Sài Gòn. Hoặc giả vay mượn mà muôn đời vẫn xa lạ!
Cám ơn tác giả đã cho tôi mượn đất viết đôi dòng ở trên để ghi lại một chút về Sài Gòn, của tác giả, cũng là của tôi, cũng là của những người miền Nam, của những kẻ đã ra đi và của những kẻ còn ở lại.
Trước khi kết thúc bài viết, tôi chỉ thấy có một điều khác biệt giữa tôi và tác giả. Đó là sự khác biệt về tâm trạng.
Là mỗi khi kết thúc một bài viết, tác giả thường bày tỏ một tâm trạng buồn. Một cái buồn như thể một triết lý sống trong nỗi bất lực, buông xuôi. Buồn là một thái độ và không bao giờ là một giải pháp, một cựa mình.
Nỗi buồn của tác giả làm tôi nghĩ đến cuốn sách mỏng, xuất bản năm 2013 của Amai B’Lan: Nước mắt của Rừng. Nỗi buồn và nước mắt có giải quyết được gì không?
Tôi ở xa. Tôi luôn luôn phẫn nộ. Chúa trước khi về cõi, chỉ nhắc các đệ tử: Các con phải tỉnh thức và cầu nguyện. Đó là cách nói của Chúa, cách nói của bậc thánh nhân.
Phần tôi, tôi có cách nói của tôi! Đất nước của chúng ta vốn trước đây muốn vượt qua sông, qua ngòi, phương tiện duy nhất của chúng ta là đi qua các cây cầu khỉ (monkey bridge)!
Đừng vội quên quá khứ của mình, đừng vội quên cha ông mình. Đừng vội quên cội nguồn. Vì thế, trước những sai trái làm tác hại đến đất nước, con người. Tôi bày tỏ sự phẫn nộ. Biết nói không, biết chối từ, biết lên tiếng khi cần lên tiếng. Cách nói ấy động não và bắt phải cựa mình. Đối với tôi, trên tất cả mọi thứ, vẫn là con người.
Phần tác giả, xin bạn đọc hoan hỉ cầm lấy và đọc tác giả, như tôi đã đọc.


Nguyễn văn Lục

Nhìn lại đống rác lịch sử ”đánh Mỹ cứu nước” của csvn



Ngày nay qua những khai quật của lịch sử trong núi kho tàng dữ liệu từ Pháp,  Mỹ tới khối đệ tam cộng sản quốc tế và VNCH, cho thấy những chiến thắng của Lê Duẩn, Võ nguyên Giáp, Văn tiến Dũng.. tại miền Nam trong suốt 20 năm đối mặt với QLVNCH, thật ra cũng không có gì là vĩ đại như đảng tuyên truyền. Những trận Ấp Bắc, Ðầm Dơi, Hiệp Hoà, Suối Ðá,An Lão, Bình Giã… cho tới cuộc đại chiến hồi Tết Mậu Thân (1968), những trận đánh long trời trên đất Cao Miên, Hạ Lào, rồi Vũng Rô, Ba Gia, Phụng Dư, Ðồng Xoài, Ðức Cơ, Bố Ðức,Cồn Tiên, Làng Vây, Cô Tô, Trí Pháp.. và mùa hè đỏ lửa 1972 cho đến hồi gần kết cuộc tại Dục Mỹ, Phan Rang, PhanThiết, Xuân Lộc, Biên Hòa, Phước Tuy, Long An, Sài Gòn... Mọi nơi, khắp chốn, từ trong núi cho tới thị thành, lúc nào VC cũng lơi dụng thời gian hưu chiến để đánh lén, hồi nào cũng biển người, khi nào cũng có hỏa lực hùng hậu đưọc viện trợ hay mua chịu trả sau từ Nga, Tàu, Ðông Âu, Ðông Ðức.. nhưng đâu có lần nào thây không phơi xác đầy bãi, đánh nhanh, rút vội quay về rừng, bỏ lại xác “đồng chí đồng đội” cho  QLVNCH chôn cất?!

Và khi chiến thắng gần kề thì thảm kịch VN chính thức thành hình ngày 27-1-1973, qua cái gọi là ‘ hiệp định chấm dứt chiến tranh ‘ sau 4 năm 9 tháng, Mỹ và khối CS quốc tế cò kè bán mua cái thân xác nhưọc tiểu VNCH. Rốt cục Mỹ rút bỏ VN bắt đầu từ thập niên 70 qua chương trình VN hoá chiến tranh. Nhưng điều làm cho cả thế giới ngạc nhiên và các chóp bu Hà Nôi hoảng sợ là không có Mỹ chiến đấu bên cạnh, Nam VN chẳng những không ‘sụp đổ như Kissinger tiên đoán ‘, trái lại những năm 1970-1973, QLVNCH qua những Sĩ quan trung cấp phục vụ trong mọi quân binh chủng từ Nhảy Dù, TQLC, LLÐB,BÐQ, Thiết Kỵ, cho tới các Sư đoàn bộ binh 1,2,3,5,7,9, 18,21, 22,23, 25 kể cả các đơn vị Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân, Cảnh Sát Dã Chiến, Bình Ðịnh Xây Dựng Nông Thôn.. luôn cả Nhân Dân Tự Vệ.. đưọc các nhà quân sử xếp loại Lính thiện chiến nhất thế giới.
 

 
Thật vậy, có là lính chiến đấu ngoài mặt trận, mới cảm nhận được lòng hy sinh vô bờ bến cùng với sự can đảm phi thường của QLVNCH trong các mặt trận long trời lở đất tại An Lộc, Kon Tum, Quảng Trị, Bình Ðịnh, Thưọng Ðức, Sa Huỳnh, Tống Lê Chân, Xuân Lộc và những ngày hấp hối tại Phan Thiết, Tây Ninh, Củ Chi, Long An, Biên Hoà, Sài Gòn.. Sự chiến đấu dũng mãnh của những người lính lãnh một năm lương, không bằng một trận cười, tiệc vui hay đêm dạ vũ của các me tây, vợ Mỹ, gái điếm... Trong đỉnh cao thời thượng này, đã có không ít người vừa sống ký sinh gửi mạng cho lính bảo vệ, lại vừa ăn cơm ta, mang lon quân đội, sử dụng công xa chính phủ nhưng thờ ma Hồ hay như thị Bình khoe là theo VC từ lúc còn ở trong đền thờ ông ngoại là Phan chu Trinh tại Ða Kao, Sài Gòn.

Hiệp định Paris 1973 là vết dao trí mạng của Kissinger đâm đúng hồng tim của VNCH, khi Mỹ và CS quốc tế hiệp đồng, hợp thức hoá sự có mặt của bộ đội Bắc Việt trên lãnh thổ miền Nam, cắt và ngưng viện trợ cho QLVNCH như đã từng ký hứa để tháo chạy trong danh dự trên nóc nhà trong đêm tối qua sự bảo vệ của QLVNCH còn đang chiến đấu dưới đất. Tóm lại người Mỹ chỉ vì theo đuổi chính sách tự trói, một giải pháp chính trị cho Ðông Dương nên đã tự tháo chạy và đóng kịch sa lầy.. Ngay cả trên bàn cờ chính trị CS đã thắng gì, dù có gây đưọc vài ba phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ, nhưng đây là sản phẩm của bọn đạo tặc truyền thông da trắng, chứ không phải công của VC. Sau này mới biết được, người Mỹ đã dự liệu trước sự vi phạm trắng trợn hiệp định 1973 và bản tuyên cáo của La Cell St. Cloud vào tháng 6/1973 của Bắc Việt, nên đã căn cứ vào ‘giấy trắng mực đen‘ để có lý do và công pháp quốc tế, từ chối viện trợ tái thiết cả chục tỷ đô la, đồng thời được quyền pháp định theo Liên Hiệp Quốc, phong tỏa kinh tế và cấm vận VC dài hạn cho tới đầu năm 1990 mới hủy bỏ.
 

Nên cuộc chiến Ðông Dường lần thứ ba 1955-1975, dù cho có gọi bằng thứ danh từ gì chăng nữa như chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh giải phóng dân tộc, nội chiến Nam-Bắc.. thì tựu trung cũng là Bắc Việt xâm lăng Việt Nam Cộng Hòa. Cái đa dạng và phức tạp từ trong định nghĩa ra tới thực chất, đều thoát thai qua lớp hỏa mù tuyên truyền và đống núi tài liệu tả bánh lù, đối chọi tréo cẳng ngỗng làm cho lớp trẻ trong và ngoài nước, cũng như những kẻ bàng quan hôm trước, hôm qua cho tới bây giờ, vẫn không biết đâu mà mò. Ðây cũng là cơ hội để những người có trách nhiệm, hoặc vô tình hay cố ý, ở ngoài hay thực sự có mặt trong cuộc chiến, đổ hết tội lỗi vào Chính Phủ VNCH, bằng tội danh “Tham Nhũng, Bất Tài, Bè Phái, Ðộc Tài, Quân Phiệt...” Trong lúc đó, thật sự những người này cũng có mặt tại hiện trường và cũng có trách nhiệm nhưng đã không làm gì hết.

Rồi  bốn mươi năm sau, chính những người này hay lớp trẻ, lớp mới, gần như không làm được gì để giúp giải quyết tình trạng thảm thê của đồng bào đang sống trong địa ngục đó. Buồn hơn họ lại quay vào chửi bới moi móc VNCH, chà đạp ‘Lá Cờ Vàng ba Sọc Ðỏ của Quốc Dân VN‘ tới độ vẽ trong bồn rữa chân.. Thì ra suốt mấy chục năm qua, CSVN tìm đủ trăm phương ngàn kế, tận dụng hết tất cả thủ đoạn, xô lệnh sơn hà, gây cảnh máu sông, xương núi, để làm chủ cho đưọc VN. Cuối cùng đem hết giang sơn cẩm tú và sinh mệnh của dân tộc Việt bán nhượng cho giặc Tàu phương Bắc, là kẻ thù truyền tiếp của giòng giống Lạc Hồng.


Ðất nước xơ xác tiêu điều vì tập đoàn lãnh đạo đảng tham nhũng từ trên xuống dưới. Dân chúng từ nông thôn tới thành thị đói khổ lâm than bởi nạn cướp bóc của công an cán bộ và thiên tai bảo lụt nhưng trên hết là nạn hải tặc Trung Cộng đang hoành hành tác quái cướp của giết hại ngư dân khắp biển Ðông. Tất cả im re lặng ngắt, coi đó là chuyện nhỏ.. Tất cả những bí mật vừa kể trên, là một trong nhiều nguyên nhân đưa tới sự sụp đổ của VNCH chỉ trong 55 ngày đêm tháo chạy, dẫn tới sự mất nước vào tay Tàu đỏ ngày nay.


* Tất cả đều là đảng ta đó:

Trong cuốn ‘Ðại thắng mùa xuân’, Văn tiến Dũng đã nói một cách huỵch toẹt là nhiều người có liên quan tới cuộc chiến VN, vào những giờ phút cuối cùng từ Tổng thống Pháp Giscard d’Estaing, Ðại sứ Pháp tại VNCH Mérillon, Ðại sứ Mỹ Martin, cho tới TT Dương văn Minh cùng với nhóm thân cộng Chân Tín, Lý quý Chung, Dương văn Ba, Châu tâm Luân.. đều bị cọng sản gạt một cách cay cú về chuyện hòa đàm. Nhưng chính sự lưu manh xảo trá này, đã khiến cho cọng sản Hà Nội sau ngày 30-4-1975, phải trả một giá đích đáng, là không còn ai tin nữa. Câu tục ngữ dân gian ‘nói láo như vẹm’ đã phát xuất từ đó.

Trong lúc TT Dương văn Minh và nội các của ông đặt hết tin tưởng vào thiện chí ‘hòa bình’ của Bắc Việt, thì theo lời Trần văn Trà viết trong KTNN số 34 năm 1990, lúc 24 giờ ngày 29-4-1975, đưọc Lê Duẩn chọn làm giờ G cho 5 quân đoàn Bắc Việt, từ 5 hướng tổng tấn công vào Sài Gòn. Ðây cũng là thời gian để cán bộ nằm vùng lộ mặt, xách động dân chúng nổi dậy diệt chính quyền. Lúc này Mỹ cũng đã kết thúc cuộc di tản theo kế hoạch Frequent Wind vào mờ sáng ngày 30-4-1975, đại sứ cũng bay tới soái hạm Blue Ridge của hạm đội 7, sau đó là toán TQLC, kết thúc sự hiện diện của người Mỹ tại VN từ 1954 Từ sau hiệp định ngưng bắn Ba Lê đưọc thi hành năm 1973, Trần văn Danh chỉ huy trưởng quân báo Bắc Việt, kiêm phó tham mưu trưởng Miền coi về tình báo chiến lược, đặc công và biệt động, được cài trong phái đoàn bốn bên, công khai ngồi chình ình nơi phòng có gắn máy lạnh tại trại David, Tân Sơn Nhất, Sài Gòn. Nhờ đặc quyền, đặc sủng này mà Danh đã thu thập đưọc gần như tất cả bí mật trong ngoài của VNCH.

Danh được lệnh vào Nam qua ngã đường mòn HCM, từ tháng 12/1960 ngay khi MTGPMN được Hà Nội thành lập, hợp tác vói Mười Cúc Nguyễn văn Linh đang nằm vùng tại đây. Rồi Ban quân sự Miền của Bắc Việt đưọc thành lập do Trần văn Quang chỉ huy, Danh phụ trách tình báo, đặc công. Theo Danh thú nhận, thời gian từ 1955-1963 hầu hết các cơ sở nằm vùng của cọng sản tại miền Nam gần như bị tiêu diệt và thất bại nặng nề. Số lớn còn sống hoặc ra chiêu hồi hay bị bắt cầm tù. Nhân dịp này, miền Bắc đã đem cán bộ cộng gộc vào làm tình báo và bọn này đã nằm vùng khắp các cơ quan đầu nảo từ Tòa đại sứ Mỹ cho tới dinh độc lập, bộ, nha, sở.. tới các tỉnh, thị như trường hợp Ðinh Văn Ðệ tại Bình Thận.

Theo Danh, trước khi tổng tấn công miền Nam năm 1975, Lê Duẩn chơi trước ván cờ thấu cáy bằng cách đánh Phước Long và các vùng lân cận do Danh (Ba Trần), Năm Thạch (Hoàng Cầm) và Năm Ngà (Nguyễn minh Châu) chỉ huy. Chiến dịch Phước Long để Hà Nội chắc chắn là Mỹ đã thật sự phủi tay, không can thiệp vào miền Nam, vì vậy Trung ương đảng mới quyết định công khai xé bỏ hiệp ưóc, đánh chiếm Giữa lúc trong dinh độc lập mê mãi chuyện thay ngựa, đổi vua để đưọc VC chấm cho hòa hợp, hòa giải trong chính quyền liên hiệp cuội, thì Danh cho biết ngay ngày 24-4-1975, quân ủy miền Bắc đã ra lệnh chiếm Sài Gòn do Văn tiến Dũng, Phạm Hùng chỉ huy đầu nảo cùng với Trần văn Trà, Lê trọng Tấn, Lê Ðức Anh, Ðinh Ðức Thiện coi các lộ quân. Danh lo tình báo, Mười Cúc phụ trách sư đòan 304 nằm vùng và Võ văn Kiệt chuẩn bị ngựa xe, trà nước và người phe ta, chầu đón giặc bắc vào thành. Danh đưọc Phạm Hùng phong tướng ngay đêm miền nam sụp đổ.

* Từ đường mòn HCM tới địa đạo Củ Chi: Những huyền thoại đã cháy sau tháng 5/1975:

Ðọc trường thiên ký sự ‘ Ðưòng đi không tới ‘ của Xuân Vũ và những năm gót lính lội rừng, mới thấm thía đưọc sự tàn khốc của chiến tranh. Trường Sơn trong suốt cuộc chiến là mồ chôn hằng vạn tử sỉ của cả hai phía. Những địa danh như đồi không tên, dốc pháo cụt, sông A Vương, Lũng Giằng, Khe Sanh, Dakto, A Shau,Ia-Drang, Pleime, Ðức Cơ.. ra tới tận miền bắc, càng lúc trở nên khốc liệt khi chính thức là con đường chiến lược tải người và quân dụng vào xâm lăng miền Nam.

Tháng 11-1997, Võ nguyên Giáp nhắc lại đường Trường Sơn 559 do Ðinh đức  Thiện và Ðồng sĩ Nguyên chỉ huy, nối Bắc bộ phủ đến tận các chiến trường Nam ruột thịt, có kèm theo ống dẫn xăng dầu, dùng cho cơ giới và đoàn vận tải xuyên sơn. Theo Nguyên, bắt đầu chỉ huy binh đoàn 559 từ tháng 12-1966 với 750 xe vận tải, bốn binh trạm có nhiệm vụ chuyển tải người, quân dụng vào Nam. Một phần đường mòn chạy trên đất Lào và Kampuchia mà Hà Nội bảo là họ cho phép.

Ðưòng chính thức ra đời vào ngày 19-5-1959 do công lao phác họa của Võ Bẩm, trải qua ba giai đoạn đường bộ, gùi thồ và xa lộ đất từ năm 1964 bằng xe cộ. Từ năm 1971,đường đưọc mở rộng đồng thời với tuyến biển 759 nhưng hoạt động kém hiệu quả vì lực lưọng Hải quân/QLVNCH quá hùng hậu. Binh đoàn 559 có quân số trên 120.000 người, gồm 10.000 thanh niên xung phong, 1 sư đoàn cao xạ phòng không tăng phái và tám sư đoàn chiến đấu vận tải.

Sau ngày ký hiệp định 1973, Hà Nội bỏ binh trạm và đưa quân thẳng vào Nam một cách công khai mỗi lần từ sư đoàn lên tới quân đoàn, kể cả cơ giới, pháo, tăng chỉ mất 12 ngày, thay vì 4 tháng như trước. Hai sư doàn quân xa dọc ngang xuôi ngược hết đông qua tây Trường Sơn, trước sự bất lực của Việt Nam Cộng Hòa vì không có hỏa lực để bắn hạ, còn Mỹ thì phủi tay khi ôm hết tù binh và cốt lính về nước. Tóm lại trong suốt cuộc chiến, Trường Sơn là bãi chiến trường đẳm máu nhất từ năm 1965 trở về sau. Nhưng hy sinh máu xương để được gì cho đất nước? hay chỉ là sự tưởng tiếc của những kẻ mắn may sống sót, những cô gái Trường Sơn mõi ngóng các chàng lính của cả hai bên, cho tới ngày tuổi xuân tháp cánh mà bóng ai vẫn biền biệt theo cái huyền thoại Trường Sơn đã hết héo trong tâm khảm của đồng bào sơn cước bị cướp bóc, khinh rẻ từ lúc có hòa bình.

Mấy lúc gần đây thấy đảng quảng cáo rầm rộ về cái địa đạo Củ Chi dài tới 250 km, mà bẽ bàng, dù sao cũng đã ăn ngủ với Củ Chi hơn năm, khi Trung đòan 43 biệt lập tăng phái hành quân cho tỉnh Hậu Nghĩa, mà tiểu đoàn 1/43 lại đóng thường xuyên ở thành đồng vách cát, gần như không sót một chổ nào.

Trước tháng 4/1975, quận Củ Chi mười lăm xã Phú Mỹ Hưng, An Phú, An Nhơn Tây, Nhuận Ðức, Trung Lập, Phú Hòa Ðông, Tân Thạnh Ðông, Trung An, Phước Vĩnh Ninh, Phước Thạnh, Phước Hiệp, Thái Mỹ, Tân Phú Trung và Tân Thông Hội, lính 43 không bỏ sót một chốn nào, nhưng đâu thấy địa đạo. 

Củ Chi nằm sát nách Sài Gòn, trên lãnh thổ có rất nhiều đường giao thông ngang dọc như quốc lộ 1, tỉnh lộ 15 chạy cặp sông Sài Gòn, tỉnh lộ 7A và 8A nối liền Bầu Trai, tỉnh lỵ Hậu Nghiã, qua Củ Chi, thông với Thủ Dầu Một. Suót cuộc chiến, Củ Chi là giao điểm của tất cả hỏa lực của VNCH và Hoa Kỳ nhắm vào từ Sư doàn 25 HK, tới SD5,25 VNCH.. vậy làm sao mà Củ Chi có thể trở thành địa đạo dài tới 250 km?
 
Ðịa đạo Củ Chi như lời giải thích của các bô lão trong vùng, được thành hình vào thời gian khi chính phủ VNCH tiếp thu từ năm 1955, do các cựu kháng chiến Việt Minh, không đi tập kết mà cũng chẳng về tề đào để phòng thân, cho nên xã nào cũng có. Sau đó tình hình khả quan, số lớn ra hợp tác với chính quyền hoặc trở thành người dân thường nên hầm thành hoang phế.
 
Từ năm 1959 về sau Hà Nội lại gây chiến, lập mặt trận GPMN đóng đô trong địa bàn quanh quẩn Tây Ninh, Hậu Nghĩa sát Củ Chi. Thế là du kích tìm các hầm hố, địa đạo cũ moi dất để làm chổ trốn khi bị săn đuổi. Vì Củ Chi mưa nhiều, đất sốt, nên hầm hố sau một mùa mưa rừng là xập nếu không tu bổ, trong hầm là hang ổ của các loại rắn, bò cạp, rít, chuột.. nên không mấy ai thích vào, trừ phi giây phút tử thần réo gọi. Số du kích, cán bộ bị rắn rít, bò cạp hạ sát, cũng không thua số thưong vong bom đạn là mấy. Ðó là mặt thật của địa đạo 250 km trong tưởng tượng.

Ðịa đạo Củ Chi qua cuộc chiến thường được nhắc tới bằng các tên làng xóm quanh vùng như Hố Bò, Bến Ðình, Bến Dưọc.. một vùng đồn điền cao su, giữa các mật khu nổi tiếng như Bời Lời, Trảng Bàng, Dương minh Châu, Tam giác Sắt. Mật khu Hố Bò, Củ Chi được Hà Nội gọi là Phân khu Sài Gòn - Chợ Lớn giao cho Mười Cúc và Võ văn Kiệt cai quản, có Trung đoàn 1012 (Thủ đô) và 2 Tiểu đoàn Quyết Thắng 1, 2 nhưng gần như chết hết qua nhiều lần đụng độ triền miên với Hoa Kỳ và SD25/VNCH. Từ sau Tết Mậu Thân 1968, quân số các đơn vị trên được bổ sung từ miền Bắc vào.
 
Củ Chi tê liệt từ khi SD 25 Mỹ vào đóng tại Ðồng Dù, sau đó là SD 101 Không Vận Hoa Kỳ, thường dùng chiến dịch trực thăng bay vào tận ổ, nên sau này cán gộc cỡ Cúc, Kiệt thường ở dưới hầm cho chắc mạng. Ngoài ra ta còn mở CHIẾN DỊCH ROM-PLOW ỦI XẬP ÐỊA ÐẠO CỦ CHI, sử dụng 12 chiếc xe ủi đất loại lớn, đưọc tướng Wayan, cố vấn trưởng của Ðại Tướng Ðỗ cao Trí, Tư lệnh QÐ3 lúc đó, biệt phái cho TK/Hậu Nghĩa.
 
Chiến dịch ủi quang khu Hố Bò, Củ Chi làm Hà Nội điên tiết. Ðể bảo đảm doàn xe cơ giới trong lúc khai quang, một thiết đoàn gồm M48 và M113 của Hoa Kỳ yểm trợ, bảo vệ an ninh, xe ủi đưọc bọc bằng lưới chông B40 và bao cát, nên đã hoàn thành nhanh chóng công tác sau 15 ngày làm việc, địa đạo Củ Chi đã biến thành một vùng đất rộng thoáng quang, hầm xập người cũng biến mất. Hết Hố Bò tới Bời Lời, sau đó là đường Trảng Mít, Dầu Tiếng cuối cùng tới các căn cứ lõm của du kích ấp xã trong các quận Củ Chi, Trảng Bàng, Ðức Hòa, Ðức Huệ.. Tình hình an ninh đưọc vãn hồi, huyền thoại địa đạo Củ Chi chỉ còn trong các sách giáo khoa và tài liệu tuyên truyền của đảng mà thôi.

Tóm lại địa đạo Củ Chi, Hố Bò, Bời Lòi đã bị đoàn cơ giới HoaKỳ hủy diệt năm 1970 như bình địa. Hầu hết cán bộ cán binh vưọt trốn qua đất Miên. Vậy mà vẫn có người tin, điều này làm cho thế giới phải nể sợ sự nói láo không ngọng của người CSVN khi mà mọi bí mật của lịch sử và chân tướng của đảng đã bị bật mí và lộ diện.
 
Như Lê Ðức Thọ đã tuyên bố ngày 1-5-1975 ‘cái gì là “Mặt Trận GPMN”, tất cả đều là đảng ta đó’. Nên việc CSVN rục rịch chống Tàu nói là để bảo vệ ngư dân và chủ quyền QG hay gì gì đó, thì cuối cùng cũng ‘là phe ta cả’ nên làm sao mà đánh cho được? Cuối năm nhìn lại đống rác lịch sử cận đại do CSVN dàn dựng vẽ vời, trong đó có chuyện dài “đánh Mỹ cứu nước” mà thêm đau lòng thương cảm cho thanh niên nam nữ đất Bắc, đã hy sinh oan uổng làm tôi mọi cho bọn chóp bu Hà Nội. Rốt cục vẫn sống kiếp nô lệ tồi tàn còn thua thời Pháp thuộc.

Sao bằng Nam Việt Nam đã đánh một trận để đời. Nay dù có tan hàng rã ngũ vẫn ngẩng cao mặt với thế giới vì đã hoàn thành bổn phận cứu nước giúp dân, danh thơm muôn thuở.

Cám ơn các Anh: Người Lính Việt Nam Cộng Hòa!
 

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Mường Giang

Tóm tắt quan điểm của Mao Trạch Đông về chiến tranh Việt Nam và "mặt trận giải phóng Miền Nam"

Tóm tắt quan điểm của Mao Trạch Đông về chiến tranh Việt Nam và "mặt trận giải phóng Miền Nam" 

Trong suốt cuộc chiến Việt Nam, quan điểm chính trị và quân sự của Mao Trạch Đông thay đổi nhiều lần. Từ một Mao chủ hòa sau hiệp định Geneva trở thành một Mao chủ chiến trong giai đoạn đầu của cuộc chiến vào thập niên 1960 và lần nữa trở về với Mao chủ hòa sau Thông Cáo Chung Thượng Hải ngày 27 tháng Hai 1972.

Ngày cướp nước 2-9
Mao và lý luận “chiến tranh giải phóng dân tộc”

Phát xuất từ quan điểm cố hữu “lấy nông thôn bao vây thành thị” và cũng vì không đủ khả năng để trực tiếp đương đầu với Mỹ, Mao chủ trương gây khó khăn cho Mỹ, kẻ thù chính của Trung Cộng trong giai đoạn từ 1949 đến 1972, qua hình thức chiến tranh cách mạng tại bất cứ quốc gia nào Mỹ đang có quyền lợi hay có thể tạo ảnh hưởng. 

Trong dịp tiếp phái đoàn báo chí Chile ngày 23 tháng Sáu 1964, Mao tuyên bố: “Chúng tôi chống chiến tranh, nhưng chúng tôi ủng hộ các cuộc chiến chống chủ nghĩa đế quốc do các dân tộc bị áp bức phát động”. Từ Phi Châu, Nam Mỹ, và Á Châu, Mao tích cực yểm trợ võ khí và cơ sở lý luận cho các phong trào “giải phóng dân tộc”, chống “đế quốc thực dân”. Các phong trào Maoist lan rộng khắp nơi, từ Nepal bên rặng Hy Mã Lạp Sơn ở Á Châu cho đến tận những cánh đồng ở Ecuador, Nam Mỹ. 

Trong mắt Mao, ba “anh hùng” được xem là những lãnh tụ tiêu biểu của phong trào “giải phóng dân tộc” là Hồ Chí Minh tại Á Châu, Fidel Castro tại Nam Mỹ, và Ben Bella tại Phi Châu. Trong số ba “anh hùng” đó, Hồ Chí Minh và đảng CSVN vì lý do ý thức hệ và địa lý chính trị, được Mao quan tâm nhất và bằng mọi giá phải nắm chặt trong tay. 

Khi phong trào giải thực bước vào giai đoạn chót vào cuối thập niên 1960, hầu hết các nước thuộc địa đã được trao trả quyền độc lập hoàn toàn hay độc lập trong khuôn khổ thịnh vượng chung. Hai trong số ba nước tiên phong gồm Algeria và Cuba nghiêng về phía Liên Xô, Mao chỉ còn lại một đàn em trung thành duy nhất ở Á Châu là CS Bắc Việt. Mao tìm mọi cách để kiểm soát CSVN về mọi mặt từ giáo dục tuyên truyền, đường lối lãnh đạo cho đến kinh tế, văn hóa, xã hội. 

Mao và quan điểm về chiến tranh Việt Nam 

- Sau hiệp định Geneva 1954 đến 1964: Trung Cộng là nguồn cung cấp duy nhất cho CS Bắc Việt, không chỉ từ chén cơm manh áo mà cả lý luận tư tưởng. Nói chung đời sống từ vật chất đến tinh thần của đảng CSVN lệ thuộc sâu xa vào đảng CSTQ. Khắp miền Bắc, từ công sở đến gia đình, hình ảnh của Mao được đặt trên mức linh thiêng. 

Hồ Chí Minh và lãnh đạo CSVN đã thi hành một cách nghiêm chỉnh hầu hết các mệnh lệnh đầy tai họa từ Mao và các chính sách phi nhân này đã dẫn đến cái chết oan uổng của nhiều trăm ngàn người dân Việt Nam vô tội qua các chiến dịch Cải Cách Ruộng Đất. Sau tổn thất nặng nề trong chiến tranh Triều Tiên, Mao có ý định tập trung vào các chính sách đối nội, và cũng muốn CSVN đặt thứ tự ưu tiên vào việc CS hóa xã hội miền Bắc trước. Tuy nhiên, để đồng thuận với đảng CSVN anh em, Mao cũng đã tích cực yểm trợ quân sự trong chủ trương CS hóa Việt Nam bằng võ lực. Tổng số viện trợ quân sự của Trung Cộng trong giai đoạn này gồm 320 triệu yuan, 270 ngàn súng ngắn, 10 ngàn pháo, 200 triệu viên đạn, 2.02 triệu đạn pháo, 1 ngàn xe tải, 25 máy bay, 1.18 triệu bộ quân phục. 

- 1964 đến 1965: Thái độ của Mao đối với chiến tranh trở nên kiên quyết hơn. Cuối năm 1964, Hồ Chí Minh chủ trương cân bằng ảnh hưởng giữa Liên Xô và Trung Cộng mong nhận được viện trợ của cả hai để theo đuổi mục tiêu CS hóa toàn cõi Việt Nam. Điều này làm Mao lo lắng. Mao sai Đặng Tiểu Bình, lúc đó là Tổng Bí Thư đảng CSTQ, bí mật thăm Hà Nội và hứa viện trợ Hà Nội một tỉ yuan nếu Hà Nội từ chối viện trợ của Liên Xô. Ngoài ra, Mao cũng cứng rắn chống lại mọi sáng kiến chấm dứt chiến tranh Việt Nam bằng phương tiện đàm phán. Mao nói thẳng với Kosygin, Chủ tịch Hội Đồng Bộ Trưởng Liên Xô, trong chuyến viếng thăm của ông ta tới Bắc Kinh ngày 11 tháng Hai, 1965, “Liên Xô không được dùng Việt Nam để mặc cả với Mỹ”. Mao cũng từ chối đề nghị của Liên Xô về một phiên họp thượng đỉnh giữa ba đảng CS để thảo luận về đường lối chiến tranh Việt Nam. Mao xem đảng CSVN chẳng khác gì một xứ bộ của đảng CSTQ. 

- 1965 đến 1972: Khi chiến tranh Việt Nam gia tăng cường độ, Lê Duẩn, trưởng phái đoàn đại diện đảng CSVN, trong chuyến viếng thăm Trung Cộng tháng Tư 1965, đã chính thức yêu cầu Mao gởi quân sang Việt Nam. Đáp lại lời thỉnh cầu của Lê Duẩn, Mao gia tăng hàng loạt viện trợ quân sự cho CS Bắc Việt. Tháng Sáu 1965, các sư đoàn Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tiến vào miền Bắc Việt Nam. Đến tháng Ba 1968, tổng số quân Trung Cộng có mặt tại miền Bắc là 320 ngàn quân với tất cả phương tiện yểm trợ và trang bị vũ khí đầy đủ. 

Các cuộc dội bom ồ ạt của Mỹ lên miền Bắc gây tổn hại trầm trọng trong mọi lãnh vực kinh tế, quốc phòng của CS Bắc Việt. Cùng lúc đó, Liên Xô, các nước CS Đông Âu, và đồng minh của Mỹ Tây Âu khuyến khích CS Bắc Việt và Mỹ ngồi vào bàn hội nghị để tìm cách giải quyết chiến tranh Việt Nam. CS Bắc Việt đồng ý. Chủ trương của lãnh đạo CS Bắc Việt lúc đó là vừa đánh vừa đàm để tận dụng mọi cơ hội có lợi nhất cho mục đích tối hậu CS hóa Việt Nam và đồng thời dùng bàn hội nghị để mặc cả Mỹ giảm mức độ ném bom. Ngoài ra, Hồ Chí Minh lo ngại Mỹ sẽ tăng cường thêm 100 ngàn quân tại miền Nam như y đã trao đổi với Mao vào tháng Sáu 1965. 

Mao thì khác. Mao chống đối phương pháp thương thuyết và chủ trương kéo dài chiến tranh càng lâu càng tốt. Chủ trương kéo dài chiến tranh của Mao phát xuất từ ba lý do: (1) Mao muốn tiếp tục làm tiêu hao khả năng của Mỹ, (2) chứng tỏ vai trò lãnh đạo của Mao trong thế giới thứ ba, (3) dùng chiêu bài chống đế quốc xâm lược để củng cố vai trò cai trị của Mao tại lục địa Trung Quốc. 

- Thông Cáo Chung Thượng Hải 1972 đến 30-4-1975: Quan hệ giữa Trung Cộng và Liên Xô ngày càng xấu và khó có cơ hội hòa giải giữa hai nước CS hàng đầu. Chỉ riêng năm 1969, đã có tới 400 vụ đụng độ dọc biên giới. Đáp lại ý định rút lui khỏi Việt Nam của TT Richard Nixon, Mao nghĩ đã đến lúc phải bắt tay với Mỹ để tránh bị bao vây cả hai mặt bằng hai kẻ thù mạnh nhất nhì trên thế giới. Sau chuyến viếng thăm Trung Cộng của TT Richard Nixon cuối tháng Hai 1972, tới phiên Mao cổ võ một giải pháp hòa bình cho cuộc chiến Việt Nam mà trước đó không lâu ông ta đã chống lại. 

Mao và “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam” 

Hôm nay cả thế giới đều biết những tổ chức được gọi là “Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam” hay “Chính phủ Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam” đều chỉ là các bộ phận thuộc đảng bộ miền Nam do Trung Ương Cục Miền Nam, tên mới của Xứ ủy Nam Bộ đảng Lao Động, lãnh đạo. 

Tổ chức gọi là “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam” (MTDTGPMNVN) hay thường được gọi tắt là “Mặt trận Giải phóng Miền Nam” được thành lập ngày 20 tháng 12, 1960 với mục đích: “Đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai đế quốc Mỹ; thành lập một chính quyền liên minh dân tộc dân chủ rộng rãi ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hòa bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hòa bình thống nhất Tổ quốc, tích cực góp phần bảo vệ hòa bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới." 

Bí thư Trung Ương Cục đầu tiên là Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Bộ chính tri đảng Lao Động Việt Nam. Tháng 10 năm 1964, nhu cầu quân sự gia tăng, Nguyễn Chí Thanh được điều vào Nam làm Bí thư Trung ương Cục kiêm Bí thư Quân ủy Miền. Từ 1967 đến 1975, Trung ương Cục miền Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Phạm Hùng, Ủy viên Bộ chính trị kiêm Chính ủy các lực lượng vũ trang miền Nam. Đầu năm 1961, “Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam” cũng được Trung Ương Cục Miền Nam thành lập. Dù chỉ trên danh nghĩa, “quân giải phóng” này lẽ ra phải trực thuộc “MTDTGPMNVN”, tuy nhiên, theo nội dung chỉ thị của Tổng Quân ủy CSVN tháng 1 năm 1961 nhấn mạnh: "Quân giải phóng miền Nam Việt Nam là một bộ phận của Quân đội nhân dân Việt Nam, do Đảng sáng lập và xây dựng, giáo dục và lãnh đạo". 

Đáp ứng nhu cầu tạo thế đối trọng với chính phủ VNCH, ngày 8 tháng 6, 1969, Trung Ương Cục thành lập thêm một tổ chức mới gọi là “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam” do Huỳnh Tấn Phát, đảng viên CS từ thời 1945 làm Chủ tịch và Nguyễn Thị Bình làm Bộ trưởng Ngoại Giao. 

Nhân dịp đánh dấu 40 năm hiệp định Paris, các cơ quan tuyên truyền của đảng ca ngợi bà Bình là "nhà ngoại giao sáng tạo linh hoạt". Điều đó không đúng. Về nguyên tắc lãnh đạo, vai trò của “Chính phủ Lâm thời” trong đó có “Bộ trưởng Ngoại Giao Nguyễn Thị Bình” chỉ là mặt nổi đối ngoại, tất cả lời ăn tiếng nói của bà đều được chỉ thị từ đảng ủy bên trong, đứng đầu là Lê Đức Thọ. Chắc bà Bình cũng phải thừa nhận, dưới sự lãnh đạo của đảng CS, mọi "sáng tạo linh hoạt" cá nhân là những điều cấm kỵ. 

Dù sao, trước 1975, nhờ che đậy dưới mục đích rất nhân bản và lương thiện “dân tộc dân chủ rộng rãi ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hòa bình, thi hành chính sách trung lập”, “MTDTGPMNVN” đã thu hút khá đông “trí thức” miền Nam về phía họ và nhanh chóng làm suy yếu cơ chế chính trị dân chủ còn rất non trẻ ở miền Nam. 

- Mao ve vãn các lãnh đạo “Mặt trận Giải phóng miền Nam Việt Nam”: Không ai hiểu con bằng cha mẹ, tác giả của sách vở mà CSVN dùng là của Mao và đường lối CSVN dùng cũng là của Mao đã từng áp dụng tại Trung Quốc như trường hợp Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, gọi tắt là Chính Hiệp sau 1949. Chủ tịch của các Hiệp Chính này không ai khác hơn là những lãnh đạo tối cao của đảng. Mao Trạch Đông chủ tịch khóa I (1949 - 1954), Chu Ân Lai chủ tịch các khóa II, III, IV (1954 - 1976), Đặng Tiểu Bình chủ tịch khóa V (1978 -1983) Đặng Dĩnh Siêu chủ tịch khóa VI (1983 - 1988), Lý Tiên Niệm chủ tịch khóa VII (1988 - 1992) v.v… 

Qua kinh nghiệm lãnh đạo Chính Hiệp tại Trung Quốc, Mao biết dù sao vẫn còn tồn tại một thành phần ngây thơ trong hàng ngũ “MTDTGPMNVN” nên sau Thông Cáo Chung Thượng Hải, Mao tìm cách khai thác và ve vãn hàng ngũ này. Điều Mao dự đoán không sai nhưng không đủ thế và lực để tạo ra ảnh hưởng lớn. Sau 1975 các thành phần ngây thơ này tập trung dưới hình thức Câu Lạc Bộ Kháng Chiến và nhiều trong số họ đã bị bắt. 

Mao tiếp Nguyễn Thị Bình tại Bắc Kinh ngày 29 tháng Hai 1972 và nói với bà Bình “Chúng ta thuộc vào một gia đình. Bắc Việt, Nam Việt, Đông Dương, Triều Tiên cùng một gia đình và chúng ta ủng hộ lẫn nhau. Nếu các bạn thành công tại hội nghị Paris, không chỉ Nam Việt mà Bắc Việt cũng đạt đến mức bình thường hóa với Mỹ ở mức độ nào đó”. 

Tháng 11, 1973, Nguyễn Hữu Thọ và phái đoàn MTDTGPMNVN thăm Bắc Kinh. Phái đoàn của y được Mao tiếp đón nồng nhiệt và hứa các khoản viện trợ không hoàn trả. Các thành viên trong phái đoàn MTDTGPMNVN ngạc nhiên trước cách đối xử khác biệt của Mao. Trương Như Tảng, Bộ trưởng Tư Pháp của “Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam”, kể lại trong vài ngày đầu thăm viếng Bắc Kinh, các lãnh đạo Bắc Kinh tưởng Trương Như Tảng là người của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa nên tỏ ra lạnh nhạt, nhưng khi biết y là thành phần của phái đoàn Nguyễn Hữu Thọ, họ đã trở nên niềm nở. 

- Mao và chủ trương hai nước CS Việt Nam: Chiều ngày 11 tháng 8, 1975, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc Daniel P. Moynihan, hai lần đưa tay phủ quyết đơn xin gia nhập Liên Hiệp Quốc của cả Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lẫn Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam sau khi đơn gia nhập của Nam Hàn bị bác bỏ tuần trước đó. Với lãnh đạo CSVN, việc hai miền CS Việt Nam cùng tham gia vào LHQ chỉ là một chiến thuật đối ngoại về mặt nhà nước, nhằm “hợp thức hóa” việc cưỡng chiếm miền Nam của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và gia tăng áp lực buộc Hoa Kỳ phải viện trợ để “tái thiết Việt Nam”. Về mặt lãnh đạo, chỉ do một đảng CSVN mà thôi. 

Mao biết khuynh hướng thân Liên Xô trong lãnh đạo CSVN và hy vọng lãnh đạo CSVN tại miền Nam hay gốc miền Nam sẽ có một khuynh hướng khác. Những ve vãn của Mao đối với MTDTGPMNVN cũng chỉ là hành động “còn nước còn tát”. Bắt được ý định đó, Hoa Kỳ đưa ra một “giải pháp trọn gói” tức cả bốn nước Đông Nam Á gồm Bắc Hàn, Nam Hàn, Bắc Việt, Nam Việt cùng vào LHQ. Trung Cộng không chấp nhận. Mao, vào thời gian đó, sức khỏe yếu dần nhưng đã đóng vai trò quyết định trong “giải pháp trọn gói” của Mỹ. 

Mao và lãnh đạo Trung Cộng khi ủng hộ chủ trương hai Việt Nam không phải phát xuất từ lòng thương xót Việt Nam Cộng Hòa hay người dân miền Nam mà chỉ muốn tiếp tục chi phối chính trị Việt Nam qua vai trò của Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên để trả giá cho chính sách đó bằng việc chấp nhận Nam Hàn vào LHQ, Mao cho rằng không tương xứng. Vì Mao không đồng ý “giải pháp trọn gói” tức cả bốn nước cùng vào LHQ nên chiều ngày 11 tháng 8, 1975, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc Daniel P. Moynihan Mỹ phủ quyết CS Bắc Việt và CS Nam Việt. 

Tìm hiểu quan điểm của Mao qua các giai đoạn của cuộc chiến để thấy phía sau những khẩu hiệu tuyên truyền đường mật, dã tâm của Mao vẫn là khống chế Việt Nam bằng mọi cách. Tập Cận Bình hãnh diện là truyền nhân của Mao, do đó, đọc lại Mao để có thể đo lường những bước đi tới của họ Tập. Ngoài các đặc điểm kế thừa từ Mao, Tập Cận Bình còn đi xa hơn khi tham vọng bành trướng cả Á Châu. 

CSVN ngày nay không còn chọn lựa nào khác hơn là quy phục Trung Cộng để tiếp tục tồn tại và duy trì quyền cai trị đất nước. Chọn lựa duy nhất của các tầng lớp người Việt Nam yêu nước hiện nay là đóng góp hết sức mình vào cuộc vận động dân chủ tại Việt Nam. Dân chủ hóa Việt Nam là phương cách “thoát Trung” đúng đắn và phù hợp với sự phát triển văn minh thời đại nhất. Mục tiêu đầu tiên trong tiến trình dân chủ hóa là tháo gỡ cho được cơ chế chính trị xã hội độc tài CS hiện nay. 


Trần Trung Đạo

_____________________________________

Tham khảo: 

- Discussion between Mao Zedong and Nguyen Thi Binh. December 29, 1972. Wilson Center. 
- Chen Jian (1995), China's Involvement in the Vietnam War, 1964-69, Cambridge University Press. 

- Rosemary Foot, John Gaddis, Andrew Hurrell (2002). Order and Justice in International Relations. Oxford. 

- Yang Kuisong (2002). Changes in Mao Zedong’s Attitude toward the Indochina War, 1949-1973. Woodrow Wilson International Center for Scholars. 

- Qiang Zhai (2002). China & The Vietnam Wars, 1950-1975. University of North Carolina Press. 

- Eric J Ladley (2007) Balancing Act: How Nixon Went to China and Remained a Conservative. iUniverse. 
- Trương Quảng Hoa. Hồi kí cố vấn Trung Quốc. Diendan.org. 

- New York Times, August 7, 1975 và August 12, 1975 

- Trần Gia Phụng (2016). Lịch Sử Sẽ Phán Xét, Nhà xuất bản Non Nuoc, Toronto, Canada.

Bài Xem Nhiều