We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 31 October 2016

Tà Áo Bay Bên Trời Quê Đất Khách




 Nơi tôi sống trời đang vào tháng tư. Tháng của những ngày thu vương vấn nhuộm chút bâng quơ để cho những con đường chong chanh trong bộ áo vàng hoe của lá chẳng mấy chốc chuyển sang một màu đỏ tía, thẫm lịm lối đi. Màu đỏ của lá chợt hừng lên dưới trời chiều hanh hanh chút nắng, vội vàng ẩn mình khi hoàng hôn xuống vội. Và cơn gió sang mùa không ngần ngại cuốn nhanh những chiếc lá vàng đỏ xào xạc cuống quít bước chân.
Tôi thả bộ dọc theo con đường ra bãi đậu xe. Tiếng gió rì rào ve vãn bên tai như niềm vui đang hiện hữu nơi tôi. Tôi đưa một bàn tay lùa nhẹ mái tóc còn bàn tay kia níu vội tà áo chực tung bay theo gió về một khoảng không vô định. Áo dài và tôi. Áo dài và gió. Sự dằng co giữa tôi và gió tạo thành một niềm vui bưng bít trong lòng.
Xa quê hương người ta thường nhớ đủ thứ. Nhớ những người thân yêu. Nhớ nhà cửa, nhớ con đường xưa đã bao lần đi qua, nhớ bạn bè của thời đánh đinh, đánh đáo. Và trong tôi cũng vậy. Một khi cơn nhớ cuộn lên như sóng lớp thủy triều thì ôi thôi bao nhiêu là nỗi nhớ ồ ạt trở về. Từ những ngày ấu thơ đến những ngày mới lớn. Từ những hàng phượng đầu mùa đầy ắp nụ non đến những con đường hiu hắt ánh đèn đêm. Biết bao hình ảnh lần lượt lướt qua ký ức. Thật vậy! Bất cứ cái gì của Sài Gòn, của những ngày xa xưa tôi đều nhớ cả. Càng nhớ bao nhiêu, tôi lại càng yêu Sài Gòn bấy nhiêu. Mà yêu Sài Gòn bao nhiêu thì tôi lại càng trân quý chiếc áo dài bấy nhiêu. Thế là tôi trở về tìm kiếm trong tôi hình ảnh cố hữu của chiếc áo mà xa quê hương rồi tôi mới thấy quý nó thật sự.
Mỗi quốc gia trên thế giới, kể cả những bộ lạc ở những nơi thâm sơn cùng cốc đều có sắc phục riêng của họ. Đối với phụ nữ Việt Nam, chiếc áo dài là một trang phục và cũng là một sắc phục thật độc đáo vì nó mang đủ các tính chất: kín đáo, sang trọng, trữ tình, lãng mạn, thanh nhã, thướt tha, dịu dàng mà chị em phụ nữ Việt hẳn phải hãnh diện mỗi khi mặc. Chiếc áo dài mà ngày nay mỗi lần được dịp mặc là mỗi lần tôi thấy cả một khoảng trời xanh của thời con gái, của lứa tuổi đôi mươi, của quãng đời xuân sắc được dịp sống lại trong tôi.
Tôi nhớ lúc còn nhỏ, lúc ấy chắc tôi chỉ chừng sáu hoặc bảy tuổi, mỗi lần thấy người chị họ của tôi ghé chơi sau buổi chiều tan học, tha thướt dáng nét yêu kiều trên chiếc xe Velo Solex là tôi cũng lục đục bày trò chơi mặc áo dài và lái xe sắt. Tôi lấy hai chiếc ghế lùn, bằng sắt, cao khoảng ba tấc, đặt nối đuôi nhau và gác một chiếc ghế con bằng gỗ mà mẹ tôi vẫn ngồi nhặt rau, vào giữa hai chiếc ghế sắt làm yên xe. Rồi tôi lấy hai chiếc khăn tắm, một quàng vào trước ngực và một quàng vào sau lưng để làm áo dài. Thế là tôi có được chiếc áo dài làm bằng khăn lông với hai tà áo lết phết dưới đất. Tuy hơi dài quá khổ nhưng tôi cũng có được chiếc áo dài như ai. Sau vườn nhà tôi có một cây chuỗi ngọc, quanh năm lá luôn xanh và hoa nhỏ màu tím thẫm từng chùm bốn mùa nở rộ. Mùi hoa thơm thoang thoảng như mùi bánh khảo luôn mời gọi những chú ong bướm say tình bay lượn. Về phía con gái, tôi là nhỏ nhất nhà nên ba tôi thương tôi lắm. Cứ mỗi lần chơi mặc áo dài là ba tôi lại hái một cụm hoa chuỗi ngọc cài lên tóc tôi. Thế là tôi được mặc áo dài, được cài hoa trên tóc và lái xe yểu điệu giống người chị họ tôi.
Có phải tôi và chiếc áo dài có duyên có nợ nên chiếc áo dài luôn quấn quít bên tôi? Và có phải tôi và màu tím hoa chuỗi ngọc có nợ có duyên? Nên nền tím thẫm luôn sống mãi nơi tôi trên tà áo dài qua bao tháng năm trôi giạt dòng đời.
Lúc còn sống ở quê nhà không bao giờ tôi quan tâm đến giá trị cũng như chẳng bao giờ tôi tìm hiểu về cội nguồn của chiếc áo. Giờ đây nhớ trời quê khi sống trên đất khách, tôi mới nhận được chân giá trị của chiếc áo và cảm thấy thật hãnh diện mỗi khi mặc, dù ngày xưa nơi quê nhà tôi đã từng mặc nó hằng bao nhiêu năm trời.
Nơi tôi định cư không có phép nghỉ lễ Tết Nguyên Đán hằng năm như ở quê nhà. Và những ngày Tết đến thường xảy ra trong tuần nên năm nào cũng vậy, nếu đi làm trong ngày mùng Một Tết tôi đều mặc áo dài. Đây là dịp mà những người bạn đồng nghiệp của tôi được dịp ngắm nghía và trầm trồ chiếc áo dài tôi đang mặc.
Nhớ một lần tôi phải đi tham dự một buổi họp lớn tổ chức tại hội trường của một khách sạn lớn nằm ven bờ biển Glenelg tại Adelaide, thành phố nơi tôi đang sống. Buổi sáng hôm ấy, thấy trời đẹp thế là tôi nẩy ý mặc áo dài. Tôi chọn chiếc áo màu tím thẫm. Khi đến nơi tôi định đậu trong nhà đậu xe của khách sạn. Nhưng nhìn thấy trời đẹp, nắng nhè nhẹ nên tôi đậu xe bên đường để được dịp đi bộ.
Vâng! Hôm ấy trời ban mai nắng dịu. Cái nắng của một ngày cuối hạ. Nắng thoi thóp không gay gắt như những tháng về trước lại có một chút gì hanh hanh của những ngày chớm thu. Từng sợi nắng đổ ngập lối đi, đổ dài trên tôi, tóc và áo. Gió ban mai gợn mùi nước biển thoảng nhẹ thổi về đẩy đưa hai tà áo nhẹ bay bay, để lộ chiếc quần sa tanh lụa trắng muốt. Tôi thanh thản bước đi trong nắng. Còn nắng quấn quít bên tôi theo từng bước chân ngập ngừng trên con đường đá dăm rệu rạo. Và đằng sau cặp kính râm, tôi chừng thấy được những đôi mắt tò mò, những gương mặt nhìn theo, những nụ cười cảm nhận. Khi tôi sắp đến nơi, một người đàn bà 'tóc vàng' đi ngược chiều dừng lại hỏi tôi với một cung cách nhã nhặn, lịch sự, bằng tiếng Anh,:
- Cô đi đám cưới phải không? . . . . Chiếc áo cô đang mặc đẹp quá. Rất lịch sự và rất đẹp.
Rồi bà đưa tay vuốt lớp vải mềm mịn trên cánh tay tôi. Tôi mỉm cười nhìn xuống chiếc áo tôi đang mặc. Chiếc áo dài màu tím than, đơn giản không trang hoàng sặc sỡ. Tôi lắc đầu trả lời:
- Tôi đi tham dự buổi khánh thành đổi tên của cơ quan Uniting Care.
Bà lập lại:
- Cái áo đẹp quá. Rất là lịch sự.
Rồi bà hỏi tiếp:
- Cô đến từ nước nào ?
Sau khi nghe tôi trả lời, người đàn bà lạ bên đường còn nấn ná hỏi thêm về văn hóa Việt, điều mà tôi rất hãnh diện để nói, để ca tụng mỗi khi có ai hỏi đến. Thấy không còn đủ thì giờ để lan man câu chuyện tôi chỉ nói sơ và xin lỗi khiếu từ bà khách lạ rồi vội vã bước đi. Khi đến cổng khách sạn tôi quay đầu nhìn lại. Người đàn bà 'tóc vàng' lạ mặt vẫn còn trông theo. Tôi cảm động và thấy vui trong lòng làm sao. Khi bước vào hội trường, rất nhiều cặp mắt hướng về phía tôi. Tôi đoán là họ đang ngưỡng mộ chiếc áo tôi đang mặc, chiếc áo mang tính chất truyền thống của dân tộc Việt. Điều đó làm tôi cảm thấy thật hãnh diện và thích thú.
Thật vậy, chiếc áo với phần trên ôm sát tấm thân thon thả của phụ nữ để hai tà bay lửng lơ cuốn quít theo làn gió trông thật thơ mộng, thật trữ tình đã là nguồn cảm hứng cho biết bao tâm hồn nghệ sĩ, phong phú hóa kho tàng thơ, văn, nhạc, họa, nhiếp ảnh trong nền văn học nghệ thuật Việt Nam như cố thi sĩ Nguyên Sa đã ngất ngây gửi hồn trong hai tà áo người tình:
Show message history
Dù những tà áo dài trắng được ca ngợi nhiều trong thi văn thật sâu đậm nhưng điều này đã không làm xóa mờ nét dáng thanh dịu của tà áo dài xanh biêng biếc mà bao thi nhân, nhạc sĩ cũng đã hoà tiếng lòng của mình trong từng cõi thi tứ diệu vợi như nhà thơ Mường Mán đã thố lộ tâm tình khi nhớ về những ngày xưa cũ.
 
Mùa cốm xa rồi hương còn đây
Sâm cầm về đâu cánh nghiêng trời
Biếc xanh tà áo em qua ngõ
Gói cả sông hồ thương nhớ ai.
                        Mường Mán
                       ('Với Xuân Hà Nộí)

Thử vòng quanh thế giới âm nhạc, qua những nhạc phẩm Áo Lụa Hà Đông (Ngô Thụy Miên), Ngàn Thu Áo Tím (Hoàng Trọng), Tà Áo Cưới (Hoàng Thi Thơ), Tà Áo Tím (Hoàng Nguyên), Tà Áo Trắng (Trần Ngọc Lân), Tà Áo Đêm Noel (Tuấn Lê), Tà Áo Em Bay (Nguyễn Dũng) v.v. chúng ta hẳn sẽ thấy một số nhạc sĩ đã chuyên chở lòng mình qua hình ảnh tà áo dài trong dòng nhạc của họ. Đặc biệt nhạc sĩ Đoàn Chuẫn đã đưa hình ảnh 'tà áo xanh' vào cung phím rất nhiều. Đối với nhạc sĩ, màu xanh biểu tượng cho những ước mơ, cho những đợi chờ, cho từng gợi nhớ chấp chới trong từng tiết điệu âm giai.
Anh mong chờ mùa Thu
Tà áo xanh nào về với giấc mơ
Mầu áo xanh là mầu Anh trót yêu
Người mơ không đến bao giờ
                      Đoàn Chuẩn- Từ Linh
                      ('Thu Quyến Rũ')
Với bao tà áo xanh, đây mùa thu,
Hoa lá tàn, hàng cây đứng hững hờ,
Lá vàng, từng cánh, rơi từng cánh,
Rơi xuống âm thầm trên đất xưa..
                     Đoàn Chuẩn-Từ Linh
                     ( 'Gửi Gió Cho Mây Ngàn Bay')
Em còn nhớ, anh nói rằng:
Khi nào em đến với anh,
Xin đừng quên chiếc áo xanh ...
                      Đoàn Chuẩn- Từ Linh
                       ('Tà Áo Xanh')
Thật vậy, kể từ khi trôi giạt xứ người tôi mới thấy trân quý và lưu tâm đến giá trị của chiếc áo dài Việt Nam. Chiếc áo tiềm ẩn sắc thái quê hương mà những ngày còn lê lết ở mái trường Trung học tôi nào để ý đến. Ngày ấy, đã rất nhiều lần vì ham nhảy dây tôi đã cột vạt trước, vạt sau thành nắm tay để không bị vướng mắc lúc chơi nên bị cha Tổng Giám Thị quở phạt khi thấy tà áo của tôi nhăn nhúm trông thật thảm thương lúc đứng chào cờ.
Đi tìm cội nguồn của chiếc áo dài Việt Nam thật khó mà khẳng định được là chiếc áo dài thân thương của chúng ta có từ bao giờ. Nhưng dựa vào sự mô tả của chiếc áo dài đầu tiên với dáng hình tương tự như chúng ta thấy ngày nay, có người cho rằng áo dài có từ thập niên 30 của thế kỷ thứ XX do họa sĩ Cát Tường tạo kiểu.
Theo tài liệu thì trong quyển "Relation de la Nouvelle Mission des Péres de la Compagnie de Jesus au Royaume de la Cochinchine", xuất bản tại Lille năm 1631, giáo sĩ Cristoforo Borri đã mô tả cách trang phục của người Việt vào đầu thế kỷ thứ XVII qua chiếc áo dài rằng, mặc dù sống trong vùng nhiệt đới những người Việt ăn mặc rất kín đáo. Họ mặc năm, sáu cái áo dài, áo nọ phủ lên áo kia, mỗi cái một màu. Cái thứ nhất dài đến mắt cá chân, còn những cái khác từng lớp và từng lớp khoác ở ngoài, ngắn dần và ngắn dần. Đó chính là chiếc áo mớ ba, mớ bảy của phụ nữ Việt còn thấy ở các làng quê Việt Nam như ở Quan Họ / Bắc Ninh. Đàn ông cũng mặc năm, sáu lớp áo dài lụa. Phần dưới thắt lưng của mấy lớp áo ngoài được cắt thành những dải dài gọi là các dải cánh sen. Lúc đi lại, các dải áo quyện vào nhau khi gió thổi bay tung lên trông thật đẹp mắt.
Ngún ngỡn như anh thuyền chài
Áo ngắn mặc ngoài áo dài mặc trong.(*)
Có giả thuyết cho rằng áo dài Việt Nam xuất phát từ phương Bắc khi chúa Nguyễn Phúc Khoát ở Đàng Trong xưng là Vũ Vương vào năm 1744 đã bắt quan, dân phải mặc lễ phục lấy mẫu từ "Tam Tài Đồ Hội" của nhà Minh, Trung Hoa. Tuy nhiên, áo dài không phải là lễ phục mà chỉ là một loại thường phục trang trọng có thể mặc để tiếp khách hay đi chơi.
Áo dài chớ tưởng là sang
Bởi không áo ngắn phải mang áo dài (*)
Trong quyển "Chín Chúa - Mười Ba Vua Triều Nguyễn" xuất bản năm 1997 ông Tôn Thất Bình cũng viết là chiếc áo dài được hình thành từ đời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Nguyên chúa Nguyễn Phúc Khoát nghe người Nghệ-An truyền câu sấm: "Bát đại thời hoàn trung nguyên" (tám đời trở về trung nguyên), thấy từ Đoan Quốc Công đến nay vừa đúng tám đời bèn xưng hiệu lấy thể chế áo mũ trong Tam Tài Đồ Hội làm kiểu mà tạo ra chiếc áo dài. Thế là do tinh thần độc lập, muốn dân chúng trong địa phận mình cai trị mang y phục riêng để phân biệt với miền Bắc. Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên cũng có chép sự kiện chúa Vũ Vương ở phương Nam bắt dân gian cải cách y phục vào khoảng năm 1744.
Giả thuyết vừa nêu trên trái ngược với một bằng chứng cho thấy là chiếc áo dài đã có trước khi chúa Nguyễn Phúc Khoát xưng Vương. Đó là bức tượng Ngọc Nữ tạc từ thế kỷ XVII ở chùa Dâu, Thuận Thành, Bắc Ninh. Qua bức tượng này chúng ta có thể thấy là chiếc áo dài phụ nữ mặc thời đó cùng với các dải cánh sen, giống mấy lớp áo bên ngoài bị cắt thành các dải dài bên dưới thắt lưng như giáo sĩ Borri đã mô tả. Tuy nhiên, nếu dựa theo truyền thuyết thì tiền thân của chiếc áo dài ngày nay đã có từ thời Hai Bà Trưng. Năm 39 sau Công nguyên, Hai Bà khởi quân đánh đuổi quan Thái thú Tô Định và quân nhà Hán. Khi cưỡi voi lâm trận Hai Bà Trưng đã mặc áo dài hai tà giáp vàng, che lọng vàng và trang sức thật lộng lẫy.
Chiếc áo dài đã trải qua nhiều gian truân theo cùng mệnh nước. Vấn nạn thứ nhất là bao nhiêu mưu toan đồng hóa dân ta của bọn ngoại xâm phương Bắc qua một nghìn năm bị Trung Hoa cai trị. Thứ đến là ảnh hưởng của thực dân Pháp trong ngót một thế kỷ bị đô hộ.
Và gần đây nhất, chiếc áo dài thân thương của chúng ta đã chịu sự dập vùi cùng chung với thân phận con người theo hoàn cảnh chính trị và xã hội trên phần đất quê hương Việt Nam. Vì áo dài không thích hợp với công việc lao động cho nên sau năm 1954, chiếc áo dài đã biến mất trên nửa phần đất tổ quốc nơi miền Bắc trong khi tại miền Nam Việt Nam hai tà áo dài vẫn tiếp tục tung bay nơi công sở, trong học đường hay ngoài đường phố. Khi cuộc chiến chấm dứt trên quê hương vào cuối tháng Tư năm 1975 thì chiếc áo dài cũng cùng chịu chung phận số với người dân miền Nam và chỉ được phục hồi từ dạo cuối thập niên 80 sau khi đất nước được cởi mở dần.
Mặc dù đã nổi trôi theo dòng lịch sử nhưng chiếc áo dài của phụ nữ Việt Nam ta không những vẫn trường tồn mà còn được hoàn mỹ thêm ra. Điều đó chứng tỏ là tinh thần bất khuất của dân tộc Việt đã được thể hiện qua chiếc áo dài.
Nói đến trang phục phụ nữ đặc thù của những quốc gia Á châu, chúng ta có thể kể đến chiếc Kimono của người Nhật hoặc chiếc áo Sường Xám của người Trung Hoa. Về thẩm mỹ, chiếc Kimono quá kín đáo, quá gò bó thân hình người phụ nữ, còn chiếc áo Sường Xám mặc dù có phần khêu gợi nhưng thiếu phần thanh tao, dịu dàng của phụ nữ. Trong khi đó, chiếc áo dài của ta vừa kín đáo, vừa gợi cảm lại vừa thướt tha, vừa uyển chuyển. Thân áo bó sát lấy thân hình, tôn vinh những đường cong mềm mại của vóc dáng người phụ nữ Việt Nam. Thêm vào đó, thân áo xẻ hơi cao, để lộ một chút thân mình phía trên cạp quần. Hai tà áo dài xuống ngang nửa ống chân, quấn quít từng bước đi theo làn gió thoảng. Nói chung, áo dài của ta vượt trội hơn những trang phục Á châu khác, bằng chứng là tại hội chợ quốc tế Osaka, năm 1970 tại Nhật Bản, chiếc áo dài phụ nữ Việt Nam với các vạt áo bay lượn trong gió đã được quan khách quốc tế trầm trồ khen ngợi và đem lại vinh dự cho phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa và chiếc áo dài của Trương Quỳnh Mai được chọn là trang phục dân tộc đẹp nhất tại Tokyo vào năm 1995.
Có phải em mang trên áo bay
hai phần gió thổi một phần mây
hay là em gói mây trong áo
rồi thở cho làn áo trắng bay ?
                        Nguyên Sa
                        ('TươngTư')
Về hình dạng, chiếc áo dài đã thay đổi rất nhiều qua bao thế kỷ để có được dáng nét mỹ miều như ngày nay. Sau đây ta thử nhìn qua những dạng chính theo thứ tự thời gian.
Trước hết, ngoại trừ truyền thuyết về Hai Bà Trưng mặc áo hai tà, theo một số nhà nghiên cứu chiếc áo dài đầu tiên là áo Giao Lãnh. Áo gồm bốn thân, mặc phủ ngoài yếm lót; nhưng khi mặc, hai thân trước để giao nhau chứ không buộc lại, với thêm một thắt lưng mầu buông thả. Vì chiếc áo này tương tự áo tứ thân về dáng hình cho nên có người cho rằng hai loại áo này là một. Vậy ta hãy xét kỹ về chiếc áo tứ thân xem sao, vì đây là chiếc áo đã tồn tại cả mấy nghìn năm, mặc cho bao thăng trầm của lịch sử.
Ngày xưa, vì kỹ thuật còn thô sơ nên vải được dệt thành khổ hẹp. Muốn may thành một cái áo, phải ráp bốn mảnh lại với nhau. Do đó mới có cái tên 'áo tứ thân'. Áo gồm hai mảnh đằng sau khâu lại giữa sống lưng làm thành sống áo, với mép nối của hai thân áo được dấu vào phía trong. Hai thân trước được buộc lại với nhau và để thõng xuống thành hai tà áo ở giữa, nên không cần cài khuy khi mặc. Bình thường, gấu áo được vén lên, chỉ khi có đại tang, như tang chồng hay tang cha mẹ, mới thả xuống và mép vải để lộ ra ngoài thay vì dấu vào trong. Áo tứ thân thường được mặc với áo yếm, với một dải vải thắt ngang lưng, đầu vấn khăn và đội nón quai thao.
Tùy theo mục đích, chiếc áo tứ thân mang màu sắc khác nhau. Ngoài đồng ruộng hay trong những phiên chợ, chiếc áo tứ thân có màu nâu non, nâu già hoặc đen, mặc với váy vải thô nhuộm bùn. Nhưng trong những dịp hội hè đình đám, cưới hỏi, áo được may bằng hàng the, nhiễu, thao, lụa, khoác bên ngoài chiếc yếm đỏ thắm hay hồng đào và phủ lên chiếc váy lĩnh hoa chanh hoặc váy sồi có thắt lưng màu lá mạ hay màu cánh chả bay lượn trong gió. Còn về yếm, ngoài những màu vừa kể còn có màu nâu để mặc đi làm thường ngày ở nông thôn và yếm trắng mặc thường ngày ở thành thị.
Về ý nghĩa, ta có thể tìm thấy trong các bài tham khảo những lời giải thích là bốn thân của chiếc áo tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu của hai vợ chồng, và buộc hai tà trước lại với nhau tượng trưng cho tình nghĩa vợ chồng âu yếm, quấn quít bên nhau.
Đêm hè gió mát trăng thanh
Em ngồi canh cửi còn anh vá chài
Nhất thương là cái hoa lài
Nhì thương ai đó áo dài tấm thân
Gặp người sao có một lần
Để em thương nhớ tần ngần suốt năm (*)
Áo tứ thân vẫn còn tồn tại ở một số địa phương, nhất là ở thôn quê, cho đến ngày hôm nay.
Đến đời vua Gia Long, vào đầu thế kỷ XIX, kiểu áo ngũ thân bắt đầu phổ biến trong giới phụ nữ quyền quý. Kiểu này giống như áo tứ thân, nhưng kín thân vì hai vạt trước được may liền thành một vạt lớn dọc theo sống áo như vạt sau; cộng thêm một vạt con nằm dưới vạt trước về phía bên phải. Vạt con nối với hai vạt trước nhờ cổ áo có bâu đệm, và cài kín lại bằng năm chiếc khuy. Tay áo may nối phía dưới khuỷu tay cũng vì cùng một lý do như thân áo, đó là vì ngày xưa các loại vải tốt như gấm, lụa chỉ dệt được rộng nhất là 40 cm. Cổ, tay và thân trên áo thường ôm sát người, trong khi tà áo may rộng ra từ sườn đến gấu và không chiết eo. Gấu áo may võng, vạt rất rộng, trung bình là 80 cm ở gấu, cổ áo chỉ cao khoảng 2-3 cm.
Về ý nghĩa thì ngoài ý nghĩa của bốn thân áo chính như đã nêu trong phần áo tứ thân, thân thứ năm hay vạt con tượng trưng cho người mặc áo. Năm chiếc khuy áo tượng trưng cho Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí và Tín, năm đạo làm người theo Khổng Giáo.
Áo dài năm nút hở bâu
Để coi người nghĩa làm dâu thế nào (*)
Từ chiếc áo ngũ thân, chiếc áo dài biến dạng với vạt con được thu gọn lại để trở thành chiếc áo dài mà chúng ta thấy ngày nay. Và dĩ nhiên, hai thân trước và sau không còn phải nối sống nữa. Tuy nhiên, nhiều phần của chiếc áo dài đã thay hình đổi dạng trong thế kỷ XX. Cho đến đầu thế kỷ XX, phần đông áo dài phụ nữ thành thị đều may theo kiểu ngũ thân.
Khi thực dân Pháp bắt đầu đô hộ nước ta vào cuối thế kỷ XIX, văn hóa Tây Phương cũng bắt đầu du nhập vào Việt Nam, đưa đến việc thay chữ Nho bằng chữ Quốc Ngữ và những đua đòi theo văn hóa Tây Phương mà điển hình là ở Hà Nội. Vì là một phần của văn hóa Việt Nam cho nên chiếc áo dài truyền thống cũng là đề tài của sự đổi mới. Các màu thông dụng như nâu, đen được thay bằng các sắc màu tươi sáng hơn, gây sôi nổi trong dư luận quần chúng thời ấy.
Đến khoảng thập niên 1930, chiếc áo dài có một số thay đổi, mà nổi tiếng nhất phải kể đến kiểu áo Lemur của họa sĩ Nguyễn Cát Tường, một thành viên của Tư. Lực Văn Đoàn. (Chữ Lemur viết trại theo danh từ Pháp 'le mur' có nghĩa là 'cái tường', tương tự như tên 'Cát Tường'). Nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã dùng hai tờ báo Ngày Nay và Phong-Hóa để truyền bá tư tưởng cải cách văn hóa, xã hội của nhóm. Cũng trong tờ Phong-Hóa họa sĩ Cát Tường đã cổ võ cho sự thay đổi về quan niệm trong cách ăn mặc: "Các nhà đạo đức thường nói: Quần áo chỉ là những vật dụng để che thân thể ta khỏi gió mưa, nắng lạnh, ta chẳng nên để ý đến cái đẹp, cái sang của nó làm gì. Theo ý tôi, quần áo tuy dùng để che thân thể, song nó có thể là tấm gương phản chiếu ra ngoài cái trình độ trí thức của một nước. Muốn biết nước nào có tiến bộ, có mỹ thuật hay không, cứ xem y phục của người nước họ, ta cũng đủ hiểu". Kiểu áo Lemur cho thấy ảnh hưởng của Âu châu, mặc dù áo vẫn giữ nguyên phần áo dài với cổ cao, không có eo. Những thay đổi gồm cổ áo khoét hình trái tim, cổ bẻ và một cái nơ ở trước cổ; vai bồng; tay nối ở vai, tay măng-sét; gấu áo cắt kiểu sóng lượn nối vải khác màu hay đính ren diêm dúa; khuy áo may dọc trên vai và sườn bên phải. Vì những đặc tính táo bạo như vậy cho nên có giới nghệ sĩ hay giới ăn chơi thời đó mới dám mặc. Và cũng vì lý do đó chiếc áo Lemur đã sớm đi vào quên lãng vào khoảng năm 1934. Một điểm khác biệt nữa so với áo dài thời trước đó là vạt áo không còn phải nối sống nữa vì hàng vải nhập cảng có khổ rộng hơn hàng nội hóa thời đó.
Khi kiểu Lemur lan đến thủ đô Huế, một số các cô tân thời đã chạy theo kiểu này, làm đề tài cho bài vè sau đây:
Vè vẻ vè ve
Nghe vè 'mốt' áo
Bận áo lơ-muya
Đi giày cao gót
Xách bóp-tờ-phơi
Che dù cánh dơi
Đi chơi Cụ Ngáo
Ăn cháo không tiền
Cởi liền lơ-muya!
Đi đôi với chiếc áo dài mới là một vài cải cách khác, đó là nhiều phụ nữ tân thời không còn nhuộm răng đen nữa, tóc vấn trần hoặc búi lỏng và rẽ ngôi lệch. Đây là cơ hội để nhà thơ Tú Mỡ ở Hà Nội nhại bài Mười Thương để châm biếm:
Một thương tóc lệch đường ngôi
Hai thương quần trắng, áo mùi, khăn 'san'
Ba thương hôm sớm điểm trang
Bốn thương răng mọc hai hàng trắng phau
Năm thương lược Huế cài đầu
Sáu thương ô lụa ngả màu thanh thiên
Bảy thương lắm bạc nhiều tiền
Tám thương động tí 'nữ quyền' giở ra
Chín thương cô vẫn ở nhà
Mười thương... thôi để mình ta thương mình!
Một cải cách táo bạo khác cần được lưu ý đó là kiểu áo dài nhấn eo, khiến chiếc áo ôm sát theo các đường cong tuyệt mỹ của phái nữ, do bà Trịnh Thục Oanh, một hiệu-trưởng của trường nữ Trung-học Hà-Nội, sáng tạo.
Vào năm 1934, sau khi áo Lemur đến rồi đi, họa sĩ Lê Phổ đã cải tiến kiểu Lemur bằng cách dung hòa với kiểu áo ngũ thân cũ, bỏ đi những nét Tây phương như không tay phồng, cổ hở, không viền tròn vạt dài v.v. nhưng ôm sát thân người để hai tà áo mềm mại tự do bay lượn. Đây là kiểu áo rất gần với chiếc áo dài tân thời ngày nay. Những thay đổi từ chiếc áo dài Lê Phổ cho đến ngày nay được tóm tắt như sau:
- Cuối thập niên 1950, bà Trần Lê. Xuân, vợ ông Ngô Đình Nhu, xuất hiện trước công chúng trong kiểu áo dài cổ khoét kiểu thuyền và tay ngắn. Kiểu áo không được ưa chuộng mấy và rồi biến mất cùng với nền Đệ Nhất Cộng Hòa.
- Khoảng thập niên 1960, nhà may Dung Dakao ở Sài Gòn tung ra kiểu áo dài tay Raglan, ráp tay xéo vai do đó bớt được những đường nhăn hai bên nách và đùn vải nơi vai. Đây là một cải tiến quan trọng và được ưa chuộng cho đến ngày nay. Đi với kiểu tay Raglan là nhiều kiểu biến chế lạ mắt như thân áo may bằng hàng dày, nhưng phía ngực và tay lại bằng hàng hàng mỏng; hoặc thân áo và hai tay là hai màu tương phản.
- Đầu thập niên 70 -75 là thời kỳ của áo dài mini-Raglan. Đó là áo dài raglan may với tà áo cao và gọn. Kiểu này rất được giới trẻ, nhất là các nữ sinh Sài Gòn ưa chuộng mãi cho đến ngày miền Nam thất thủ. Đối lại với kiểu mini-Raglan là kiểu maxi-Raglan tha thướt, dịu dàng, rất hợp với các bà.
Ngoài ra, một số nhà may tại Sài Gòn còn tung ra thị trường kiểu áo dài ba tà gồm một vạt sau và hai vạt trước, với nút gài từ cổ xuống eo. Áo ba tà được mặc với quần ống voi, và không được ưa chuộng cho lắm vì không thích hợp với bản chất nhẹ nhàng của phụ nữ Việt Nam.
Thỉnh thoảng chúng ta vẫn thấy chiếc áo dài có những canh tân quá đáng như hở ngực, hở cổ hoặc chỉ có một tay v.v. như các kiểu áo Tây phương. Những 'phát minh' loại này đã và sẽ bị đào thải nhanh chóng.
Mong rằng những cải tiến, nếu có, sẽ nhắm vào việc duy trì phẩm chất thuần túy của chiếc áo dài quốc hồn quốc túy, vương mang linh hồn dân tộc Việt, cũng như làm tăng thêm giá trị mỹ thuật độc đáo, để cho chiếc áo dài thân thương của chúng ta mãi mãi không bao giờ bị lấn át bởi các trào lưu thời trang Tây phương, và sẽ giữ vững ngôi vị độc tôn với dáng nét kiêu sa không những ở quê nhà mà còn ở bất kỳ nơi nào trên thế giới.
Nói tóm lại, trải qua mấy nghìn năm biển dâu chiếc áo dài Việt Nam đã được biến cải từ chiếc áo Giao Lãnh mộc mạc thành chiếc áo dài trang nhã, đài các, không những đã chiếm một địa vị quan trọng trong lịch sử lẫn trong văn hóa Việt; một thứ di sản văn hóa mang đủ tính chất nghệ thuật vừa thướt tha, vừa dịu dàng, vừa sang trọng, vừa lãng mạn, tôn vinh nét đẹp của phụ nữ Việt, không còn chỉ loanh quanh ẩn núp bên các đường phố Việt Nam, mà còn tự hào vươn mình tung bay trên nhiều phố phường dưới bầu trời thế giới hôm nay. Đó là nhờ công lao gìn giữ của cả dân tộc cũng như công sáng tạo của bao nhà họa kiểu.
Hoàng hôn đang xuống chậm. Lãng đãng các sắc màu tím hồng hỗn hợp thấm đẫm chân trời. Thấp thoáng dưới bóng chiều bảng lảng, những tà áo dài nhẹ bay trong chiều nắng thu phai.
Hoàng Huy Giang
Tài liệu tham khảo:"Việt Nam Phong Tục", Phan Kế Bính, Phong Trào Văn Hóa.
"Việt Nam Sử Lược", Trần Trọng Kim, Đại Nam.
"Phong Tục Việt Nam", Toan Ánh, Xuân Thu.
"Đất Lề Quê Thói", Nhất Thanh, Sống Mới.
"Những Hình Ảnh Xưa", Nguyễn Khắc Ngữ, Nhóm Nghiên Cứu Sử Địa.
"Relation de la Nouvelle Mission des Péres de la Compagnie de Jesus au Royaume de la Cochinchine", Cristoforo Borri, 1631, Lille
"Phong-Hóa", số 86, 1934.
"Chín Chúa - Mười Ba Vua Triều Nguyễn", Tôn Thất Bình, 1997, Nhà Xuất Bản Đà-Nẵng.
"Chiếc Áo Dài Việt-Nam và Đạo Làm Người", Nguyễn Huỳnh.
(*) Ca dao Việt Nam

Việt cộng ân ái (SEX): Dại ơi là dại!

Dại ơi là dại!


 Dại ơi là dại!
 Hình ân ái trong clip của ông V. do cô N.H quay.
Chuyện vợ tung clip sex của chồng lên mạng
Ngày 26 tháng 09 năm 2016, vụ phó giám đốc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký Đất đai huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng Nguyễn Văn Viễn bị phát tán clip “nóng” giữa ông với nữ kế toán trường Tiểu học Xuân Hòa 4 (huyện Kế Sách, Sóc Trăng) khiến dư luận xôn xao.
 Quyết “triệt” tình địch!
Chiều ngày 25/9/2016, đến xã Xuân Hòa huyện Kế Sách tỉnh Sóc Trăng, các phóng viên được dân chúng ở đây cho biết, người nhận trách nhiệm tung clip “nóng” lên mạng internet chính là vợ ông Nguyễn Văn Viễn. Bà này hiện là chủ một tiệm cho thuê áo cưới ở huyện Phụng Hiệp tỉnh Hậu Giang. (Phụng Hiệp tuy thuộc tỉnh mới Hậu Giang nhưng rất gần TP.Sóc Trăng vì trước đây thuộc tỉnh Sóc Trăng- ĐD).
Một giáo viên trường tiểu học Xuân Hòa 4 (ấp Hòa An, xã Xuân Hòa) cho biết, vào khoảng 13 giờ ngày 17/8, có một phụ nữ đến trường và tự giới thiệu mình là vợ ông Viễn, hiện là chủ tiệm áo cưới N.P ở Phụng Hiệp. Trên tay người này cầm chiếc điện thoại di động đã mở sẵn, đưa cho mọi người cùng xem những đoạn clip “nóng” mà theo bà này là cảnh giữa chồng bà với cô Ng.Th.N.H. (thư ký kế toán trường tiểu học Xuân Hòa 4).
Thấy vậy, nhiều người chăm chú xem và nhận thấy nhân vật nam trong clip đúng là ông Viễn, còn nhân vật nữ đúng là cô H. Người đàn bà chủ tiệm cho thuê áo cưới còn cho biết, lúc 4 giờ sáng ngày 17/8, những đoạn clip trên đây đã được bà đưa lên Facebook với tài khoản mang tên tiệm áo cưới N.P của bà, ai muốn xem thì cứ mở ra mà xem. Nhiều người mở ngay Facebook của bà thì quả nhiên thấy có clip đúng như lời bà nói. Có người đã tải vào cell-phone của mình và chuyền cho nhiều người khác cùng xem.
Bà Nguyễn Thị Hải, một người dân ở xã Xuân Hòa cho biết thêm: “Bà vợ ông Viễn không phải chỉ đến trường tiểu học Xuân Hòa 4 mà còn đến các quán cà phê, quán giải khát và các nhà ở chung quanh khu vực gần trường để cho mọi người cùng xem, khiến nhiều người rất bất ngờ”.
Một trong các hình “ân ái” khác
Một trong các hình “ân ái” khác
Theo một nam giáo viên trường tiểu học Xuân Hòa 4, sau khi bà chủ tiệm tự nhận là vợ ông Viễn ra về, đến cuối buổi chiều thì những đoạn clip nóng đó đã được gỡ xuống.
Bà Nguyễn Thị Kim Xoa, hiệu trưởng trường tiểu học Xuân Hòa 4 xác nhận, trường biết thông tin về clip “nóng” vào ngày 17/8 thì ba hôm sau, ngày 20/8 cô Ng.Th. N.H. đã làm đơn xin nghỉ với lý do đi xin việc làm ở một nơi khác xa nhà. Ngày 1/9, cô H. đã nhận được quyết định cho nghỉ việc theo nguyện vọng. Từ ngày xin nghỉ việc, cô H. không trở lại trường nữa.
Tung clip “sex” lên mạng có vi phạm pháp luật hay không?
Theo LS Nguyễn Viết Chinh thuộc Đoàn luật sư Sóc Trăng, cần xác định rõ động cơ, mục đích của bà chủ tiệm đã tung clip “nóng” để có hướng xử trí theo pháp luật. Theo qui định của luật pháp, dù với bất cứ lý do gì, không ai được quyền đưa hình ảnh khỏa thân của bất kỳ ai cho người khác xem, chỉ cá nhân đó mới có quyền đối với hình ảnh của mình. Việc sử dụng hình ảnh cá nhân phải được sự đồng ý của người đó. Nếu có đủ cơ sở chứng minh một người phát tán clip nhằm vào người khác để bêu riếu nhân phẩm, danh dự… thì có thể bị kết tội làm nhục người khác và tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy. Hành vi làm nhục người khác tức là có hành vi xúc phạm nghiêm trọng tới nhân phẩm và danh dự của một người khác.
Cũng theo LS Chinh, trong trường hợp clip do người phụ nữ nói trên đưa cho người khác xem không phải là văn hóa phẩm đồi trụy mà chỉ là hình ảnh do chồng bà và người tình của ông ta tự thực hiện, bị người vợ phát hiện nhưng không nắm được người trong clip là ai nên đưa clip cho nhiều người xem với mục đích tìm “tác giả” để làm rõ hành vi ngoại tình của người này thì không phải có mục đích làm nhục người khác, do đó họ chỉ có thể bị phạt hành chính tức là phạt tiền mà thôi. (Chỗ này ông LS Chính nói sai, vì không phải bà vợ ông Viễn không biết người trong clip là ai nên đem đến trường để hỏi xem có ai biết cô này là ai không. Bà biết thừa nên mới cố tình đem đến trường và các tiệm chung quanh trường đấy chứ !.- ĐD).
Tự nhận kỷ luật 
Sáng 24/9, Chi bộ Đảng của Phòng Tài nguyên-Môi trường huyện Kế Sách tổ chức kiểm điểm ông Nguyễn Văn Viễn. Ông Viễn thừa nhận đã vào khách sạn với người tình và quay clip, sau đó ông chép vào máy vi tính nhưng không hiểu vì sao lại bị rò rỉ ra ngoài. Ông Viễn tự nhận hình thức cảnh cáo về mặt Đảng và được các đảng viên trong chi bộ biểu quyết thống nhất.
Ông Trương Hoàng Bảy – phó chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra huyện ủy Kế Sách cho biết, hiện hồ sơ về việc kiểm điểm ông Viễn của Chi bộ Đảng Phòng Tài nguyên-Môi trường huyện Kế Sách đã được chuyển lên Ủy ban kiểm tra huyện ủy nhưng hình thức xử lý chưa được công bố.
Ngày 23/9, lãnh đạo Ủy ban Kiểm tra huyện ủy Kế Sách cho biết, cơ quan này đã chỉ đạo xác minh vụ cán bộ ở địa phương xuất hiện trong clip sex quay lại cảnh ân ái của một người đàn ông trung niên và một phụ nữ không một mảnh vải che thân bị phát tán ra ngoài lan truyền trên mạng internet. Nhân vật nữ là người chủ động đặt máy quay, còn người đàn ông biết có máy quay, thỉnh thoảng quay về phía máy quay để… cười.
Ý kiến của chuyên viên tâm lý Đỗ Bích Thủy
Quá uất hận khi phát hiện đoạn clip ân ái của chồng với người tình được lưu trong computer của chồng, người vợ đã chép vào điện thoại di động của mình rồi mang đến tận cổng trường, nơi tình địch làm việc, cho mọi cùng người cùng xem. Và sau những hả hê khi sự việc tanh banh sẽ là gì? Kẻ mất mặt, nhục nhã, người bẽ bàng, đau khổ…
Ý kiến của các luật sư hiện đang có những mâu thuẫn. Có người cho rằng hành vi đưa clip phòng the cho nhiều người xem của vợ ông Viễn chưa cấu thành tội “làm nhục người khác” theo điều 253 Bộ luật Hình sự sửa đổi và bổ sung năm 2009. Việc làm của bà này có thể được xem là vô ý, chỉ muốn mọi người xem có phải là cô nữ kế toán trong trường tiểu học hay không mà thôi.
Nhưng ý kiến trái chiều lại cho rằng “dù với bất cứ lý do nào, không ai được quyền đưa hình ảnh khỏa thân của bất kỳ ai cho người khác xem”, và hình ảnh nhạy cảm trong lúc hai người đang ân ái là riêng tư, không ai được lợi dụng để khống chế, phát tán, bôi nhọ hoặc xúc phạm danh dự của họ. Thậm chí, có luật sư còn cho rằng có thể khởi tố vụ án đối với người đã phát tán đoạn phim “mát mẻ” của ông Viễn và người tình.
Khoan hãy nói về mặt pháp lý, ở đây tôi (chuyên viên Đỗ Bích Thủy – ĐD) là một phụ nữ, một người vợ, một người mẹ, tôi chỉ bàn về cuộc sống của vợ chồng ông Viễn sau vụ việc tày đình này mà thôi.
Tôi thực sự không hình dung nổi vợ chồng họ sẽ nhìn nhau như thế nào sau khi mọi việc bung bét cả ra. Tôi thử đặt mình vào trường hợp của người vợ:
Bất kỳ người đàn bà nào khi nhìn thấy cái clip mà chồng mình giữ làm “kỷ niệm” trong máy vi tính với nội dung nhạy cảm quá mức như vậy cũng khó mà bình tĩnh được. Chỉ có điều, xử sự thế nào thì nhất thiết không thể hồ đồ. Và việc đem chuyện phòng the của chồng mình đi rêu rao, bêu riếu khắp nơi như vậy tôi cho rằng đó là hành động hồ đồ.
Tại sao lại hồ đồ? Rõ ràng là chị đã không đủ bình tĩnh để suy nghĩ thấu đáo, đồng thời không biết rằng mình có thể đang làm một việc vi phạm pháp luật. Không có ai đủ thân thiết, đủ hiểu biết để làm “cố vấn” cho chị trong vụ việc này. Điều duy nhất mà chị có được sau khi làm việc đó, tôi cho rằng chỉ là sự hả hê, nỗi căm giận sôi trào đã được trút ra. Nhưng nỗi đau đớn thì chắc chắn không hề thuyên giảm, thậm chí còn đau đớn hơn.
Ông bà ta xưa có câu: “Xấu chàng hổ ai”, nghĩa là chồng làm việc xấu thì vợ cũng chẳng có gì đẹp mặt. Vì vậy, khi chồng trót lỡ làm việc xấu, các cụ thường khuyên nên “đóng cửa bảo nhau”. Đóng cửa bảo nhau mà vẫn không giải quyết được thì mới nói với cha mẹ, chú bác, cô dì để xin ý kiến giải quyết, chứ không phải cứ hễ vớ được bằng chứng là ngay lập tức phải tung ra cho thiên hạ biết hết để “kẻ địch” thấy rằng bà đây không phải tay vừa!
Bây giờ thì vợ chồng sẽ sống với nhau ra sao? Tôi thực tình cứ quẩn quanh với cái câu hỏi ấy mãi. Sống với nhau ra sao khi một người thì làm một việc vi phạm đạo đức nghiêm trọng đến như vậy, trên dưới trong ngoài đều biết, ảnh hưởng đến con cái, gia đình, bố mẹ hai bên, đi một bước xấu hổ một bước; đi hai bước xấu hổ hai bước. Một người thì góp phần đưa cái hình ảnh xấu ấy ra trước bàn dân thiên hạ.
Cả hai người đều mất mát quá nhiều sau chuyện này, và điều quan trọng nhất, là họ đã mất nhau. Sự thực là họ đã mất nhau. Làm sao họ có thể giữ người kia ở lại bên mình khi mà một chuyện tày đình như thế xảy ra? Hơn thế, người vợ sẽ phải đối diện với việc bị mời đến cơ quan pháp luật để làm việc, nếu người chồng, hoặc thậm chí là người tình của chồng khởi kiện về tội bôi nhọ, xúc phạm nhân phẩm của họ.
Bao nhiêu phiền toái sẽ xảy đến, bao nhiêu rắc rối sẽ phải giải quyết, còn gì lành lặn thì cũng có nguy cơ vỡ tan tành. Chưa kể, một điều tồi tệ hoàn toàn có thể diễn ra. Khi người phụ nữ kia, vì quá đau đớn, quá nhục nhã, ê chề, lỡ làm điều gì dại dột thì chị có ân hận về hành động của mình hay không?
Đành rằng họ đều đã có gia đình mà còn lằng nhằng, dan díu với nhau là họ vừa sai về đạo đức lại vừa vi phạm pháp luật. Nhưng không có nghĩa cứ phải bày ra cho tanh banh như vậy. Mà ngay cả khi chẳng có ai kiện cáo gì hết, cũng chẳng có chuyện gì tồi tệ hơn xảy ra, thì riêng cái sự đau khổ và bẽ bàng mà ông Viễn và cô nhân tình phải đối diện cũng đã hết mức chịu đựng rồi. Tóm lại, nói một cách thật lòng, tôi thấy người vợ bị mất mát quá nhiều sau vụ việc này, chứ chả được gì cả.
Tôi không rõ họ có con cái gì không. Nếu họ có con cái thì đây sẽ là một hành vi không thể không gây thương tổn nặng nề cho các con. Rồi bọn trẻ sẽ lớn lên thế nào trong ánh mắt nghi kị, giễu cợt, thậm chí là thương hại của những người xung quanh, của bạn bè cùng trang lứa?
Thôi thì người lớn sao cũng được, nhưng với con trẻ, để con cái tổn thương đích thị là một cái tội của bố mẹ. Không phải chỉ nuôi con khôn lớn, cho con một cuộc sống vật chất đầy đủ là đủ, mà điều quan trọng vô cùng là tạo cho con một môi trường sống lành mạnh, tốt đẹp, để con trẻ lớn lên với tâm hồn thỏai mái, tươi vui. Chẳng lẽ người mẹ không nghĩ đến điều đó hay sao?
Bởi thế tôi mới nói, chị hồ đồ rồi. Hành vi này của chị quá vội vã, thiếu kiềm chế, thiếu sáng suốt và hoàn toàn không tỉnh táo. Với một lỗi lầm nghiêm trọng của chồng như vậy chị có thể có những cách giải quyết khác, chặt chẽ hơn, hợp tình hợp lý hơn, kín đáo hơn, ít gây tổn thương hơn cho những người thân trong gia đình.
Đâu phải hễ chồng sai thì phải vạch cái sai đó ra cho tất cả mọi người cùng thấy. Đâu phải cứ hễ có mâu thuẫn thì phải đẩy đến tận cùng. Đâu phải người kia không tôn trọng mình thì mình nhất thiết phải dìm họ xuống tận bùn đen. Vợ chồng mà, đâu phải người dưng!
Ý kiến của… Đoàn Dự
Các cụ ta có câu: “Trai tơ, gái góa thì chơi. Đừng nơi có vợ, đừng nơi có chồng”. Theo Đoàn Dự tui hiểu, “trai tơ” là bachelor or unmarried young man, tức cậu thanh niên chưa có vợ. Còn “gái góa” là widow or single mom, tức người ở giá hay người mẹ sống độc thân. Ấy, các cụ ta cẩn thận như thế đấy, các cụ nói “trai tơ” chứ không nói “gái tơ” – virgin. Đụng vào “gái tơ” có khi nguy hiểm. Rồi các cụ cũng nói “gái góa” chứ không nói “gái chưa chồng”. Đã cẩn thận như vậy các cụ con dặn kỹ hơn: “Đừng nơi có vợ, đừng nơi có chồng”. Ông Viễn không phải là người độc thân. Còn cô N.H thì đã có chồng. Đã không phải là trai tơ hay gái góa mà họ dan díu với nhau, vậy là họ ăn vụng. Ăn vụng thì phải chùi mép. Đằng này đã không chùi mép, cô N.H lại còn tự mình đặt máy quay cảnh “nóng” của chính mình với ông V. ở trong khách sạn, còn ông V. thì lại đem clip đó copy vào trong computer thì chết rồi, hư bột hư đường hết trơn hết trọi. Quay làm chi vậy? Copy làm chi vậy? Phải biết sợ bà sư tử trong nhà chứ! Không biết sợ bà sư tử là hư hết, dễ đi vào con đường dại dột. Nói tóm lại, cả ông Viễn lẫn cô N.H. đều dại quá chừng chừng! Sau đây là câu chuyện dại dột thứ hai nhưng lại khác hẳn.
Vợ chưa cưới tạt axit người khác rồi ở tù vì… ghen!
Món “quà” từ vợ sắp cưới của người anh kết nghĩa
Thời gian đã trôi qua nhưng chưa một lần cô Bùi Thị Lý, cư ngụ tại phường 4, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long, thôi bị dằn vặt về nguyên nhân bi kịch xảy ra trong quá khứ.
Ngày ấy, cô đang ở tuổi 18, sắc nước hương trời, chung quanh có biết bao nhiêu chàng trai thầm thương trộm nhớ. Trong số đó có chàng bác sĩ trẻ tuổi, đẹp trai Nguyễn Văn Hải, làm việc tại bệnh viện Vĩnh Long, người luôn luôn đến quán uống cà phê, chuyện trò với cô.
Trong một lần vui chuyện, các bạn hỏi: “Bác sĩ Hải là bồ của Lý đấy hả?”. Lý cũng đùa lại, cười và trả lời: “Ừ, bồ đó” mặc dầu cô biết chàng bác sĩ bảnh trai, nổi tiếng hào hoa phong nhã trong tỉnh rất có cảm tình với mình, còn mình thì chỉ là con nhà nghèo, học hành dang dở, dù đẹp cách mấy cũng không thể hy vọng là “bồ” của anh chàng bác sĩ trẻ tuổi con nhà giàu, cao xa vời vợi đó được. Nghe nói anh ta đã có người yêu tên Linh cũng con nhà giàu, đẹp không kém gì Lý, là sinh viên Y khoa năm thứ 4 đang học ở trên Sài Gòn, sau khi ra trường sẽ làm đám cưới, mình làm sao mà so sánh với người ta được.
Lý không ngờ lời nói đùa của mình với bạn chỉ có bấy nhiêu nhưng nó đã đẩy cô tới nỗi khốn cùng, dở sống dở chết như ngày hôm nay.
Nói chuyện với các phóng viên, cô kể: “Em đau đớn khủng khiếp, lúc khỏi thì lại mù lòa, thân tàn ma dại, người không ra người, ngợm không ra ngợm mà nhà thì nghèo không đủ miếng ăn. Mấy lần em định tự tử nhưng anh trai em biết lại cứu, không thoát nổi nợ đời!”.
Theo Lý cho biết, cô là con gái út trong một gia đình nghèo có 3 anh chị em. Gia cảnh khó khăn, học chưa hết lớp 9 thì phải bỏ dở, ở nhà phụ làm vườn với cha mẹ. Dù lam lũ cực nhọc nhưng khi lớn lên, cô trở thành một thiếu nữ xinh đẹp nức tiếng khắp vùng. Năm 17 tuổi, cô từ bỏ việc trồng trọt, vào trong thành phố xin làm người phục vụ tại một quán nhậu bình dân. Tại đây, cô gái trẻ trở thành tâm điểm của mọi sự chú ý. Đêm nào cô cũng được khách nhậu “bo” (tip) kha khá. Cô không phải chi xài đến đồng lương mà gửi hết về nhà cho cha mẹ. Cô được mọi người gọi là “hoa khôi miệt vườn”. Lúc này, một ông chủ quán bar lớn nhất thành phố Vĩnh Long trực tiếp xuống nhà cô, thuyết phục cha mẹ cô, nhờ nói giùm mời cô về làm việc tại quán của ông, ông sẽ đãi ngộ xứng đáng, lương lớn hơn làm tại quán nhậu bình dân nhiều.
Ở quán bar, cô gái trẻ quen biết với những vị khách giàu có sẵn sàng chi ra những khoản tiền lớn cho nhân viên phục vụ. Cô kể, khách nào gặp cô cũng xin số điện thoại, liên lạc mời đi chơi riêng. Không ít kẻ khiếm nhã đề nghị cô “phục vụ tới bến”. Những lúc như vậy cô nói thẳng vào mặt họ rằng cô không phải thứ gái làm tiền.
Biết Lý là cô gái quê hết sức trong sạch, những khách trí thức có sự hiểu biết càng quý trọng cánh hoa “hương đồng gió nội” đó hơn, trong số đó có chàng bác sĩ trẻ tuổi đẹp trai Nguyễn Văn Hải, làm việc tại bệnh viện Vĩnh Long, hai người rất thân thiết và Hải thường gọi đùa Lý là “cô em gái nhà quê bé nhỏ xinh đẹp”. Lý cũng rất có cảm tình với người thanh niên trí thức đó, trong cái cảm tình ấy có sự quý trọng, cô thường gọi anh là “anh Ba kết nghĩa”. Lần đầu tiên nghe cô em xinh đẹp gọi như vậy, Hải rất ngạc nhiên: “Anh thứ tư trong nhà, sao em lại anh là anh Ba?”. Lý cười: “Em đâu có biết. Tiếng “Ba” là em gọi tắt hai tiếng “Bác sĩ” đấy. Ở nhà em có anh Hai, vậy anh là anh Ba kết nghĩa”. Hải cũng cười: “Vậy thì tốt, anh rất hân hạnh có cô em gái xinh đẹp như em”.
Câu chuyện giữa hai người chỉ có thế thôi nhưng đối với bạn bè của Lý cùng làm trong quán, họ nghĩ đôi “trai tài gái sắc” đó phải có cái gì khác hơn nên Hải mới năng đến quán chuyện trò với Lý như vậy. Một hôm, họ hỏi đùa: “Bồ phải không?”. Trong lúc vui vẻ vì Hải mới đến uống cà phê và vừa ra về, Lý cũng đùa, cười trả lời: “Ừ, bồ đó”. Không ngờ câu nói đùa lại đến tai Linh.
Lúc ấy trong dịp nghỉ hè, Linh từ Sài Gòn về Vĩnh Long chơi. Mấy hôm sau, một buổi tối Lý bất ngờ nhận được một tin nhắn trong điện thoại: “Chị là vợ sắp cưới của anh Hải, cấm em không được dan díu với anh Hải nữa và phải về quê, không được làm tại bất cứ quán nào trong TP Vĩnh Long này, nếu không em sẽ chết”.
Lý thấy là mình bị oan nên nhắn tin trả lời: “Em với anh Hải không có gì cả nhưng em theo lời chị, sẽ không liên lạc với anh ấy nữa. Còn việc bỏ quán về quê, nhà em nghèo lắm, ông chủ đối với em rất tốt không thể bỏ được, xin chị thông cảm”.
Năm hôm sau, cũng vào một buổi tối đang làm việc trong quán, Lý bị hai thanh niên giả làm thực khách, chở nhau đến tạt thẳng vào mặt Lý một ca axít đậm đặc. Lý kêu rú lên, ôm mặt kêu gào, lăn lộn. Hai tên thanh niên lên xe bỏ chạy, tên ngồi phía sau bị bảo vệ quán kéo ngã, bắt được. Từ tên này, công an tra ra tên thứ hai. Chúng khai do “cô Linh” thuê chúng với giá 30 triệu đồng tạt axit Lý. Linh cũng bị bắt.
Về phần Lý, được mọi người dùng nước lạnh xối cho axit đỡ tác dụng rồi chở tới bệnh viện Vĩnh Long cứu cấp. Bệnh viện Vĩnh Long cũng như hầu hết các bệnh viện khác tại các tỉnh miền Nam, đều không có khoa Bỏng nên chỉ có thể cứu chữa tạm thời rồi cho xe cứu thương và y tá đi theo, chở gấp Lý lên bệnh viện Chợ Rẫy, Sài Gòn. Tại bệnh viện Chợ Rẫy, Lý phải nằm điều trị hơn 2 tháng trời, đau đớn tưởng chết, mặt mũi và từ cổ xuống tới ngực cháy đen, hai mắt bị mù, sâu hoắm không thấy gì nữa.
Cô Bùi Thị Lý mù lòa hiện nay.
Cô Bùi Thị Lý mù lòa hiện nay.
Bác sĩ Hải rất buồn và rất ân hận. Hôm Linh và hai tên côn đồ bị đưa ra tòa ông không có mặt. Ông đã bỏ nhà ra đi, lên Pleiku hay Ban Mê Thuột gì đó làm trong một bệnh viện huyện nghèo, phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số, không trở về Vĩnh Long nữa.
Kết quả, tòa tuyên án Linh 16 năm tù. Hai tên côn đồ, tên lái xe 12 băm tù; tên trực tiếp tạt axit 18 năm tù. Cả ba phải liên đới bồi thường cho nạn nhân 240 triệu đồng về tiền thuốc men và tiền tổn thương thân thể.
Nhiều người nói Tuyết Linh là người có học, sinh viên Y khoa chỉ một hai năm nữa ra trường mà quá dại dột. Với những điều kiện cả về gia đình lẫn học thức như vậy thì ghen với cô gái bán bar con nhà nghèo, học hành chẳng bao nhiêu làm gì để đến nỗi tự mình làm hại tương lai của mình.
Căn nhà nhỏ lợp tôn có bàn thờ Phật của cô Lý.
Căn nhà nhỏ lợp tôn có bàn thờ Phật của cô Lý.
Về phần Lý, nỗi đau đớn của cô càng tăng là sau khi xuất viện về nhà được ít lâu thì cha cô mất, rồi mẹ cô cũng qua đời. Cô quá đau khổ, ba lần tự tử nhưng người anh đã đề phòng nên cứu được. Anh cô khóc, nói ba má mất rồi, em lại chết nữa thì anh với con Ba dù nó làm công nhân mãi trên Bình Dương nhưng nghe tin em chết cũng thương xót em, làm sao sống được. Lý cũng khóc, cô hứa với anh sẽ không tự tử nữa và xin anh mua tôn dựng cho mình một căn chòi nho nhỏ ở bên cạnh nhà có bàn thờ Phật, hàng ngày cô sẽ ăn chay niệm Phật để quên chuyện đời.
Hiện nay Lý đang sống tại căn nhà nhỏ lợp tôn đó. Cơm chay hằng ngày đã có các con của người anh đem qua. Cô sống như người đã chết, hàng xóm láng giềng ai cũng thương xót và các nhà hảo tâm luôn luôn tìm cách giúp đỡ.

Đoàn dự ghi chép

Sunday, 30 October 2016

Hổ thẹn vì mang hộ chiếu VN

Cộng đồng nguời Việt phải quan tâm: SỨC MẠNH CỦA ĐỒNG TIỀN

Bài Xem Nhiều