We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 16 January 2016

TỔ QUỐC GHI ƠN :Quần Đảo Hoàng Sa,19.1.1974

Quần Đảo Hoàng Sa
(Paracel Islands)


Quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam với nhiều chứng cứ lịch sử, được các nhà hàng hải quốc tế ghi lại trên các tấm bản đồ cổ từ thế kỷ 17-18, và liên tục đến sau này. Tại Đà Nẵng có viện bảo tàng lưu trử và chưng bày hàng trăm bản đồ cổ và tài liệu xác định chủ quyền Việt Nam trên 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 1930, lúc đó VN bị Pháp thuộc, người Pháp xây dựng bia chủ quyền, trạm khí tượng, hải đăng và doanh trại quân đội đồn trú tại đảo Hoàng Sa. Đến Thế chiến thứ II, quân đội Nhật chiếm quần đảo Hoàng Sa từ tay quân Pháp. Sau Thế chiến thứ II, quân Nhật đầu thua trận nên rút bỏ khỏi đảo Hoàng Sa. Tháng 12 năm 1946 quân đội Trung Hoa Dân Quốc do Tưởng Giới Thạch lãnh đạo cử chiến hạm ra chiếm đóng một số đảo thuộc nhóm Tuyên Đức, phần phía đông quần đảo Hoàng Sa. Nhóm đảo Nguyệt Thiềm phía tây quần đảo Hoàng Sa vẫn còn quân Pháp chiếm giữ.
Bia chủ quyền do hải quân VNCH xây dựng
Bia chủ quyền do hải quân VNCH xây dựng
Sắc Lệnh ngày 13-7-1961 của TT Ngô Đình Diệm
Sắc Lệnh ngày 13-7-1961 của TT Ngô Đình Diệm
Đến năm 1954, quân Pháp giao nhóm đảo Nguyệt Thiềm lại cho chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 13 tháng 07 năm 1961, Tổng thống Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh đặt tên các đảo ở Hoàng Sa là xã Định Hải, trực thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, trước đây dưới triều các vua nhà Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Thừa Thiên.
Đầu năm 1956, quân đội Trung Hoa Dân Quốc rút khỏi các đảo trong nhóm Tuyên Đức đưa quân xuống chiếm đảo Ba Bình là đảo lớn nhất trong quần đảo Trường Sa. Thừa cơ hội này TQ đưa quân đổ bộ lên chiếm đảo Phú Lâm là đảo quan trọng nhất thuộc nhóm Tuyên Đức ở quần đảo Hoàng Sa. Quân TQ thiết lập trạm kiểm soát, truyền tin, xây dựng bến cảng và nhiều cơ sở cho quân đội đồn trú.
Ngày 19 tháng 01 năm 1974, hải quân Trung Quốc đưa quân tấn công chiếm đảo Cam Tuyền (Robert Island) và đảo Hoàng Sa (Pattle Island), là hai đảo có quân đội Việt Nam Cộng Hòa trú đóng gìn giữ đảo tại Hoàng Sa, trong nhóm đảo Nguyệt Thiềm. Kể từ ngày 20-01-1974 toàn bộ các đảo trong quần đảo Hoàng Sa đều lọt vào tay Trung Quốc.
Quần đảo Hoàng Sa là tên gọi theo người Việt Nam, tên quốc tế Paracel Islands, tên TQ là Xisha Chuntao. Chữ Paracel khởi đầu từ tiếng Pracel theo tiếng Portugal (Bồ Đào Nha), có nghĩa là đá ngầm. Theo một bản đồ cổ năm 1703 do Thornton vẽ thì quần đảo Hoàng Sa có tên là Pracell.
Quần đảo Hoàng Sa nằm trong vùng biển Đông, về phía đông Trung Phần VN, có vĩ độ ngang với tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng. Tính từ đảo Hoàng Sa (Pattle Island) cách Đà Nẵng 200 hải lý, cù lao Ré 163 hải lý, cách đảo Hải Nam 150 hải lý về phía nam, nằm về phía tây Philippine khoảng 450 hải lý. Cách quần đảo Trường Sa ở phía nam khoảng 500 hải lý, có diện tích khoảng 15.000 km2. Tính từ đảo Tri Tôn (cực tây) đến đảo Linh Côn (cực đông) từ kinh độ 111o E đến 113o E , và từ đảo Tri Tôn (cực nam) đến bãi Đá Bắc (cực bắc) từ vĩ độ 15o45’ N đến 17o00’.
Quần đảo Hoàng Sa gồm khoảng 130 đảo, đá, bãi cát, bãi ngầm, trong số này có khoảng hơn 30 đảo, đá, bãi ngầm được đo đạt và đặt tên. Năm 2012, TQ tuyên bố tất cả gần 1600 các đảo, đá, bãi ngầm trong vùng biển Đông đều được xác định tọa độ và đặt tên.
Các nhà địa lý dựa theo hai nhóm đảo để phân chia thành hai nhóm, lấy kinh độ 112o làm chuẩn thì nhóm Tuyên Đức về phía đông và nhóm Nguyệt Thiềm về phía tây.
Bản đồ quần đảo Hoàng Sa (Paracell Islands)
Bản đồ quần đảo Hoàng Sa (Paracell Islands)
Nhóm Nguyệt Thiềm (Crescent Group – Yongle Qundao)
Chiến xa TQ trên quần đảo Hoàng Sa
Chiến xa TQ trên quần đảo Hoàng Sa
Nhóm đảo Nguyệt Thiềm được cấu thành từ miệng núi lửa có hình dạng giống như vành trăng lưỡi liềm, trên mặt đảo thường có đá tảng và những bãi cát. Nhóm Nguyệt Thiềm có 3 hòn đảo quan trọng là Hoàng Sa (Pattle Island), Duy Mộng (Drunmond Island) và Quang Hoà (Duncan Island), cả 3 đảo này đều có giếng nước ngọt trồng nhiều dừa, thông và cây dương xỉ. Sau khi đánh chiếm Hoàng Sa tháng 01-1974, TQ xây dựng trên các đảo này nhiều cơ sở hạ tầng, hiện nay trong nhóm đảo Nguyệt Thiềm có đông đảo binh lính TQ đồn trú. Bố trí nhiều vũ khí nặng như pháo binh, chiến xa và hỏa tiển. Xây dựng 5 căn cứ quân sự trên các đảo Hoàng Sa, Duy Mộng, Quang Hoà, Vĩnh Lạc và Tri Tôn.
Đá Bắc (North Reef – Bai Jiao), tọa độ 111o30’ E – 17o06’ N, là bãi đá nằm riêng lẻ phía bắc quần đảo Hoàng Sa, bãi ngầm Đá Bắc dài khoảng 7 dậm, rất nguy hiểm cho tàu thuyền qua lại nơi đây, còn tồn tại dấu vết của một số tàu thuyền bị đắm, có ngọn hải đăng xây dựng trên một cồn cát nhỏ.
Bãi Sa Cừ (Observation Bank – Yinyumen), là một bãi cát ngầm, tọa độ 111o42 E – 16o35’ N. còn có tên là Cồn Quan Sát.
Đảo Duy Mộng (Drumond Island – Jinquin Dao)
Đảo Duy Mộng (Drumond Island – Jinquin Dao)
Đảo Duy Mộng (Drumond Island – Jinquin Dao), tọa độ 111o44’ E – 16o28’ N, đảo cao 4m, diện tích khoảng 0,3 km2 (823 m x 366 m), có nước ngọt, nhiều lùm bụi cây thấp là nơi sinh sống cho nhiều loài chim biển, trên bãi cát quanh đảo có nhiều con vít (một loại rùa biển). Có căn cứ hải quân TQ và doanh trại binh lính.
Đảo Quang Hoà (Duncan Island – Chenhang Dao)
Đảo Quang Hoà (Duncan Island – Chenhang Dao)
Đảo Quang Hòa (Duncan Island – Chenhang Dao), tọa độ 111o42’ E – 16o27’ N, cao khỏi mặt nước khoảng 4 m, diện tích khoảng 0,3 km2, là đảo Quang Hòa Đông, một đảo nhỏ nối liền bởi một doi cát là đảo Quang Hòa Tây diện tích nhỏ hơn chỉ bằng 1/10 đảo Quang Hòa Tây. Trên đảo có nước ngọt, trồng nhiều dừa và cây dương xỉ. Ngày nay TQ xây dựng trên đảo căn cứ hải quân gồm âu tàu, bến cảng và nhiều cơ sở hậu cần cho hải quân.
Đá Hải Sâm (Antetope Reef – Lingyang Jiao), tọa độ 111o34’ E và 16o28’ N. Bãi đá và cồn cát cao khoảng 2 m, bao phủ các lùm bụi cây thấp.
Bãi cát rộng lớn trên đảo Vĩnh Lạc
Bãi cát rộng lớn trên đảo Vĩnh Lạc
Đảo Vĩnh Lạc/Quang Ảnh (Money Island – Jinyin Dao), tọa độ 111o30’ E, 16o27’N. Còn có tên là đảo Quang Ảnh, để ghi nhớ Cai đội Phạm Quang Ảnh đã được vua Gia Long phái ra Hoàng Sa đo đạt thủy trình năm 1815 và ra đi mà không bao giờ trở lại, hiện có đền tưởng niệm tại đảo Cù Lao Ré. Đảo có nhiều chim hải âu, cao khoảng 6 m, diện tích 0,23 km2 (732 m x 320 m). TQ xây dựng doanh trại trên đảo cho binh lính trú đóng.
Giếng nước trên đảo Cam Tuyền
Giếng nước trên đảo Cam Tuyền
Đảo Cam Tuyền/Hữu Nhật (Robert Island – Ganquan Dao), tọa độ 111o34’ E, 16o31 N. Còn có tên là Hữu Nhật để ghi nhớ Cai đội Phạm Hữu Nhật đã được vua Minh Mạng cử đi ra Hoàng Sa đo đạt, cắm cột mốc và dựng bia chủ quyền, trồng thêm cây xanh, thu lượm hải vật. Ông bỏ mình ngoài biển khơi trong chuyến công tác sau cùng. Đảo có hình dạng dĩa xôi vun lên cao 8m, chung quanh đảo là bải cát rộng từ 20 m – 50 m, diện tích 0,22 km2 (700 m x 500 m), trên đảo có giếng nước ngọt, gần đây giếng bị cạn vào mùa khô và có vị pha mặn chút ít nhưng cũng có thể dùng được.
Đảo Hoàng Sa (Pattle Island – Shanhu Dao)
Đảo Hoàng Sa (Pattle Island – Shanhu Dao)
Đảo Hoàng Sa (Pattle Island – Shanhu Dao), tọa độ 111o36’ E – 16o32’ N. Đảo do san hô tạo thành, điểm cao nhất khoảng 9 m, diện tích 0,3 km2 (805 m x 274 m). Đây là đảo quan trọng nhất thời VNCH có bia chủ quyền, đài quan sát, đài khí tượng, trạm chuyển nhận tín hiệu, hải đăng và doanh trại quân đội cho một đại độ lính Địa Phương Quân đồn trú gìn giử đảo, có lúc tăng cường binh lính lên đến 1 tiểu đoàn. Trên đảo có giếng nước ngọt, nhiều dừa, cây dương và lùm bụi cây xanh. Năm 1932 vua Minh Mạng cho xây dựng ngôi chùa nhỏ trên đảo. Năm 1967, VNCH có dự định xây dựng sân bay nhưng kế hoạch không thành. Năm 1974, Tiểu đoàn 8 Công binh Kiến tạo ra Hoàng Sa với nhiệm vụ thiết lập dự án xây dựng cầu tàu.
Chúng ta cần phân biệt đảo Hoàng Sa (Pattle Island) là một đảo trong nhóm Nguyệt Thiềm khác với quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands) là toàn thể quần đảo gồm 2 nhóm đảo Tuyên Đức và Nguyệt Thiềm.
Đá Chim Yến (Vuladdore Reef – Yuzhuo Jiao), tọa độ 112o01’ E – 16o20’ N, là bãi ngầm dài khoảng 8 dậm, ngang khoảng 2 dậm, có vài mõm đá nhô lên khỏi mặt nước.
Đá Lồi (Discovery – Huaguang Jiao), tọa độ 111o41’ E – 16o14’ N, là bãi ngầm lớn nhất trong quần đảo Hoàng sa, dài khoảng 15 dậm, ngang khoảng 8 dậm. Có vài mõm đá cao chừng vài feet.
Bãi cát trên đảo Bạch Qui (Passu Keah Island – Penshi Yu)
Bãi cát trên đảo Bạch Qui (Passu Keah Island – Penshi Yu)
Đảo Bạch Qui (Passu Keah Island – Penshi Yu), tọa độ 111o47’ E – 16o03’ N, diện tích 0,2 km2 (1200m x 200 m).
Đảo Tri Tôn (Triton Island – Zhongjian Dao) nhìn từ trên cao
Đảo Tri Tôn (Triton Island – Zhongjian Dao) nhìn từ trên cao
Đảo Tri Tôn (Triton Island – Zhongjian Dao), tọa độ 111o12’ E – 15o47’ N, là đảo nằm gần bờ biển VN nhất, cách Cù Lao Ré khoảng 130 miles, đảo có độ cao rất thấp có nơi chỉ có 3 m so với mặt nước biển nên radar tàu biển chỉ phát hiện khi đến gần khoảng 1 mile, khó nhận ra từ xa. Tháng 6-2001 tình báo Hoa Kỳ cho biết trên đảo Tri Tôn có bố trí pháo binh và dàn hỏa tiển chống hạm HY-2, loại hỏa tiển đối hạm này này có thể đánh chìm chiến hạm 3000 tấn. HY-2 có thông số kỷ thuật dài 7,48 m, đường kính 0,76 m, sãi cánh 2,4 m. Nặng 2998 kg, đầu đạn 513 kg, tốc độ 0,8 Mach, tầm bắm 200 km.
Nhóm Tuyên Đức (Amphitrite Group – Xuande Qundao)
Nhóm đảo Tuyên Đức còn có tên là An Vĩnh, tên Amphitrite là tên chiến hạm của Pháp vào năm 1701 chở các nhà truyền giáo ngang qua vùng biển này để đi đến Trung Hoa. Vùng đá ngầm về hướng cực bắc đang cạn dần nhô lên khỏi mặt nước. Nhóm đảo Tuyên Đức cũng được trồng nhiều dừa, cây tùng, dương xỉ và cây thanh trà (loquat), riêng trên đảo Phú Lâm năm 2000 TQ tuyên bố đã trồng được 90.000 cây dừa. Xây dựng rải rác trong quần đảo những trạm Radar tầm xa, truyền tin, trinh sát (Signals Intelligent), trạm liên lạc với vệ tinh, vũ khí nặng, chiến xa, hỏa tiển phòng không và chống hạm. Trên các đảo trong quần đảo Hoàng Sa có khoảng 1 trung đoàn binh lính TQ đồn trú.
Cồn cát Tây (West Sand – Xi Shazhu), còn gọi là đảo Tây, tọa độ 112o12’ E – 16o58’ N, là cồn cát lớn nhất trong quần đảo Hoàng Sa.
Đảo Cây (Tree Island – Zhaoshu Dao), còn có tên là đảo Cù Mộc, tọa độ 112o16’ E – 16o59’ N, diện tích khoảng 0,12 km2 (400 m x 300 m).
Đảo Bắc (North Island – Pei Tao), tọa độ 112o18’ E – 16o58’ N, diện tích 0,13 km2 (914 m x 137 m).
Đảo Trung hay đảo Giửa (Midle Island – Zhong Dao), tọa độ 112o19’ E – 16o57’ N, diện tích 0.05 km2 (366 m x 137 m).
Đảo Nam (South Island – Nan Dao), tọa độ 112o19’ E – 16o57’ N, diện tích khoảng 0,18 km2 (640 m x 183 m).
Cồn Cát Nam hay Gành Nam (South Sand – Nansha Shou), tọa độ 112o20’ E – 16o56’ N, diện tích khoảng 0,8 km2 (366 m x 229 m).
Đảo Phú Lâm (Woody Island – Yongxing Dao) nhìn từ vệ tinh)
Đảo Phú Lâm (Woody Island – Yongxing Dao) nhìn từ vệ tinh)
TQ xây dựng nhiều hạ tầng cơ sở trên đảo Phú Lâm
TQ xây dựng nhiều hạ tầng cơ sở trên đảo Phú Lâm
Đảo Phú Lâm (Woody Island – Yongxing Dao), là đảo quang trọng nhất từ khi Trung Cộng chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa, tọa độ 112o20’15” E – 16o50’03” N, cách đảo Hải Nam 162 miles. Diện tích hơn 2,13 km2 (1850 m x 1160 m), không rỏ độ cao nhất của đảo chỉ biết nơi sân bay cao khoảng 14 m. Trên đảo có nhiều bụi rậm, trồng hàng chục ngàn cây dừa, xây dựng nhiều hạ tầng cơ sở, phát triển đảo trở thành thành phố Tam Sa (Xisha) quản trị các đảo trên toàn vùng biển Đông bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Không chỉ phát triển về mặt hành chính mà còn phát triển về kinh tế như xây dựng âu tàu, cảng cá, đưa cư dân ra đảo, cất chợ, lập ngân hàng, bưu điện, trường học, khách sạn, khu nghĩ dưỡng (Resort), đường bay dân dụng, tàu chở khách du lịch (Cruise) Coconut Princess, .v.v.. Theo thống kê Jun 2014 dân số trên đảo là 1443 người, đều là người TQ.
</span>
Cruise Coconut Princess đưa du khách ra Hoàng Sa
Cư dân trên các đảo ở Hoàng Sa
Cư dân trên các đảo ở Hoàng Sa
Đảo Phú Lâm hiện nay là căn cứ quân sự quan trọng nhất của TQ trong vùng biển Đông. Sân bay Hoàng Sa có đường băng dài 2,700 m, rộng 52 m, có thể dùng cho máy bay chiến đấu hạng nặng Su-30MKK và máy bay ném bom H-6. Xây dựng nhiều khu quân sự, kho tồn trử nhiên liệu cung cấp cho tàu chiến và máy bay chiến đấu, là căn cứ tiếp liệu cho hạm đội Nam Hải. Có 3 âu tàu dành cho tàu cá, tàu dân dụng và đặc biệt 1 âu tàu dành cho Hải Quân và lực lượng tàu Hải Giám với bến cảng dành cho tàu chiến có trọng tải lớn lên đến 5000 tấn. Thiết lập đài tiếp vận tín hiệu từ vệ tinh, và các dàn radar tầm xa bao phủ cả vùng biển Đông.
Đảo Đá (Rocky Island – Shi Dao)
Đảo Đá (Rocky Island – Shi Dao)
Đảo Đá (Rocky Island – Shi Dao), còn gọi là Hòn Đá, tọa độ 112o21’ E – 16o51’ N, diện tích 0,13 km2 (457 m x 274 m), nơi cao nhất đến 15 m, có cây cầu bằng đất dài khoảng 1/2 mile nối liền đảo Phú Lâm. Hiện nay TQ xây dựng một số cơ sở phục vụ du lịch. Trên đảo có xây dựng đài dò tìm tín hiệu SIGINT (Signals Intelligent) trao đổi giữa các phi cơ và chiến hạm trong vùng biển Đông.
Iltis Bank, tọa độ 112o15’ E – 16o45’ N, bãi san hô ngầm Iltis Bank dài khoảng 3 miles, rộng 1,5 miles.
Bãi Gò Nổi (Dido Bank – Xidu Tan), tọa độ 112o54’ E – 16o49’ N, nằm về hướng đông bắc đảo Linh Côn khoảng 13 miles.
Đảo Linh Côn (Lincoln Island – Dong Dao), tọa độ 112o44’ E – 16o40’ N, là đảo lớn thứ nhì trong quần đảo Hoàng Sa, diện tích 2,11 km2 (2560 m x 823 m), độ cao 4,5 m, có ngọn hải đăng, giếng nước ngọt, tháp canh và cư dân.
Đá Tháp (Dynamid Rock – Gaojianshi), tọa độ 112o38’ E – 16o34’ N, điểm cao nhất 5 m, nhìn giống như cái Kim Tự Tháp nhỏ.
Bãi Thủy Tề (Neptuna Bank – Baibianang), tọa độ 112o31’ E – 16o30’ N, bãi ngầm dài khoảng 10 miles, ngang khoảng 1 mile.
Bãi Quãng Nghĩa (Jehangire Reef Bank – Shanhan Tan)
Bãi Quãng Nghĩa (Jehangire Reef Bank – Shanhan Tan)
Đá (Bãi) Quảng Nghĩa (Jehangire Reef Bank – Shanhan Tan), tọa độ 112o41’ E – 16o22’ N, bãi ngầm Quảng Nghĩa dài khoảng 6 miles, rộng khoảng 4 miles.
Bãi Châu Nhai (Bremen Bank – Binmei Tan), tọa độ 112o27’ E – 16o20’ N, bãi cạn này dài khoảng 15 miles, rộng 4 miles.
Đá Bông Bay (Bombay Reef – Langhua Jiao), tọa độ 112o32’ E – 16o02’ N, bãi cát hình bầu dục dài khoảng 10 miles, rộng khoảng 3 miles. Trên bãi có đảo nhỏ chừng 190 mẩu bao phủ bằng nhiều bụi rậm, có xây dựng ngọn hải đăng.
Bãi Ốc Tai Voi (Harold Bank – Songtao Tan), tọa độ 112o15’ E – 15o44’ N, là một bãi ngầm cùng vĩ độ với đảo Tri Tôn trong nhóm Nguyệt Thiềm.
Đảo Hoàng Sa là một căn cứ quân sự quan trọng nhất của TQ tại biển Đông, án ngữ cửa ngõ từ Thái Bình Dương đi vào biển Đông, hoặc từ Ấn Độ Dương qua eo biển Malacca vào biển Đông để đến Đông Bắc Á hay Bắc Mỹ. Từ Hoàng Sa TQ có thể kiểm soát tuyến hàng hải quan trọng nhộn nhịp nhất thế giới, hàng năm có khoảng 50.000 tàu thuyền ngang qua đây. TQ dùng căn cứ hải quân và tàu hải giám ở đảo Phú Lâm để làm bàn đạp lấn chiếm xuống quần đảo Trường Sa ở phía nam.
Phi trường Hoàng Sa có thể dùng cho các chiến đấu cơ hạng nặng và máy bay ném bom H-6, từ đó áp lực quân sự của TQ tăng lên đáng kể đối với Việt Nam và Philippine.
Bản đồ 9 đoạn +1 áp đặt chủ quyền hơn 80% biển Đông của TQ
Bản đồ 9 đoạn +1 áp đặt chủ quyền hơn 80% biển Đông của TQ
TQ chủ trương thành lập thành phố Tam Sa để quản lý toàn vùng biển Đông bao gồm quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhằm mục đích độc quyền thâu tóm nguồn tài phong phú về hải sản cũng như dầu khí trong vùng biển Đông. Và cũng dựa vào yếu tố thành phố Tam Sa là một thực thể có nền kinh tế riêng để đòi hỏi chủ quyền biển chung quanh quần đảo ra xa 200 miles một khi có cuộc họp phân định chủ quyền trên biển giửa các quốc gia đang tranh chấp tại biên Đông, đồng thời củng cố cho tuyên bố chủ quyền trên 80% diện tích biển Đông theo đường 9 đoạn, cuối năm 2014 TQ bổ túc thêm 1 đoạn nữa gần đảo Đài Loan thành 10 đoạn.
Trong phạm vi bài viết, chúng tôi chỉ nêu lên vài nét thực trạng tại quần đảo Hoàng Sa hiện đang bị TQ chiếm đóng, còn việc phản ứng như thế nào của VN và các quốc gia có tranh chấp chủ quyền biển đảo với TQ xin được trình bày trong một bài viết khác.
Lê Hữu Uy
(Tài liệu tổng hợp, hình ảnh từ Google – Arizona, Feb 04-2015)
 (nguồn: http://langhue.org/)

TỔ QUỐC GHI ƠN 74 Chiến Sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh trong trận chiến chống quân Tàu xâm lược tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.

Tin vui cho cộng đồng: Dựng Tượng Đức Thánh Trần Tại Mile Square Park,USA

Dựng Tượng Đức Thánh Trần Tại Mile Square Park. 
Tượng Đức Thánh Trần đã về đến công viên Mile Square Park, Fountain Valley, lúc 9 giờ sáng Thứ Năm, 7 Tháng Giêng, kịp để chuẩn bị cho đại lễ an vị tượng và tưởng niệm các chiến sĩ Hải Quân VNCH anh hùng, hy sinh trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974, do văn phòng Giám Sát Viên Andrew Đỗ và Hoàng Sa Trường Sa Foundation, phối hợp tổ chức vào đúng 11 giờ sáng Chủ Nhật, 17 Tháng Giêng, tại công viên này (Người Việt TV). 

Luật mới :Bà nội cha tụi bây! Bình chữa cháy ở VN,made in China


Trích bài:

Bình chữa cháy có thể nổ khi để trong ôtô dưới trời nắng nóng?


Ôtô đỗ ở ngoài trời nắng không có mái che, nhiệt độ bên trong có thể lên tới 60 độ C trong khi nhiệt độ phù hợp với các bình chữa cháy là âm 10 đến 55 độ C.
  • Xe máy bốc cháy nhưng không dừng lại vì sợ bị cướp
Trong Thông tư hướng dẫn của Bộ Công an, từ ngày 6/1, phương tiện giao thông cơ giới đường bộ từ 4 chỗ ngồi trở lên phải trang bị phương tiện PCCC. Theo đó, cảnh sát PCCC được phép phối hợp với cảnh sát giao thông dừng ôtô để kiểm tra, xử lý nếu phương tiện không lắp bình cứu hỏa. 
Tôi chưa rõ với quy định này thì cái bình chữa cháy 5lít, hoặc 4kg để ở đâu cho tài xế thuận tiện? Vì gầm ghế thì thấp, gầm chân thì vướng chân ga. Lắp ở cửa thì chắc gãy bản lề, lắp đằng sau thì không cơ động. 
Thêm nữa, nhiệt độ phù hợp cho các loại bình chữa cháy là âm 10 đến 55 độ C, nếu quá có thể gây nổ. Với điều kiện sân bãi hiện nay ở TP HCM, Hà Nội thì ôtô không phải lúc nào cũng tìm được chỗ mát mẻ để đỗ, mà phải đỗ ngoài trời dưới cái nắng 40 độ C. Thậm chí, ở Hà Nội mùa hè có thể lên đến 45-47 độ C, lúc đó nhiệt độ trong xe sẽ rất cao, có thể lên đến hơn 60 độ C. Như vậy đặt bình chữa cháy trong xe có an toàn?
------
ĐM! Không biết thằng đầu tôm nào quá rảnh háng ,ngồi nghĩ ra cái luật bắt dân phải mang bình chữa cháy theo trong xe.





Công an muốn ăn bánh mì, bắt dân dừng xe khám có bình chữa cháy không?Bánh mì bị mốc, khó nuốt quá!FB Sakchai Pinkaew

Ái Nhĩ Lan : Hoang đảo và tu viện trong phim Star Wars có thật.

Hoang đảo và tu viện trong phim Star Wars có thật.
Ireland_Credit ash_crow via Flickr_CNA 1-11-16
Ireland 1_Credit Valerie Hinojosa via Flickr_CNA 1-11-16
Ireland 2_Credit Valerie Hinojosa via Flickr_CNA 1-11-16



Những ai đã coi bộ phim mới 'Star Wars: The Force Awaken's thì không khỏi sửng sốt với một quang cảnh thần tiên ở đoạn cuối cùng, khi mà nàng Rey (do Daisy Ridley thủ vai) tìm được vị cứu tinh là Luke Skywalker (do Mark Hamill thủ vai), cũng là người hiệp sĩ Jedi cuối cùng, đang sống ẩn dật trên một hoang đảo cao chót vót, nằm chơ vơ ở giữa biển, 'trong một hành tinh bí mật xa xôi, giữa những đám thiên hà mênh mang vô tận...'
Ireland_Credit Florian Christoph via Flickr_CNA 1-11-16
Ireland_Credit jpc.raleigh via Flickr_CNA 1-11-16
Ireland_Credit Mike Lorden via Flickr_CNA 1-11-16Ireland 4_Credit Mike Lorden via Flickr_CNA 1-11-16
Ireland 1_Credit ash_crow via Flickr_CNA 1-11-16
Hoang đảo đó là một sáng tác do trí tưởng tượng cuả Hollywood chăng? Không đâu, đó là một hoang đảo có thật, là một tu viện cổ, nay là di sản UNESCO (1996) cuả Thế giới, nằm ở miền nam biển Ái Nhĩ Lan có tên là Skellig Michael.

Các sử liệu cho biết tu viện được thành lập vào khoảng thế kỷ thứ 6 và bị bỏ hoang vào cuối thế kỷ thứ 12. Người thành lập tu viện là Thánh Finnian đệ Clonard, Ngài đã điều hành cuộc sống tu trì dựa theo tôn chỉ cuả một dòng cổ xưa chỉ có ở Ái Nhĩ Lan (Irish monasticism). Tu viện từng bị quân Viking tấn công vào năm 823, và sau khi thoát hiểm thì đã dâng kính cho Tổng Lãnh Thiên Thần Micae (năm 950), do đó có tên là Skellig Michael.

Ireland 1_Credit Mike Lorden via Flickr_CNA 1-11-16

Những tu sĩ sống trên đảo có một chế độ ăn chay khác thường, vì đảo không có đất trồng luá cho nên họ chỉ có rau, cá, thịt và trứng chim.

Vào cuối thế kỷ 12, khí hậu cuả vùng trở nên lạnh lẽo hơn và có bão tố triền miên, cho nên các tu sĩ đã phải dọn về đất liền và gia nhập đan viện dòng Phanxicô ở Ballinskelligs.

Ireland_Credit Valerie Hinojosa via Flickr_CNA 1-11-16
Ngày nay, những dấu tích cổ xưa vẩn còn nguyên vẹn, từ con đường, bậc đá, các căn 'lều' (cũng bằng đá,) bức tường bảo vệ con đường quanh co bên sườn núi và cả những ngôi mộ với những tấm bia. Đứng trước cảnh cũ mà không có người xưa, có lẽ câu thơ cuả Bà Huyện Thanh Quan là hợp thời hợp cảnh:

Ireland 2_Credit Mike Lorden via Flickr_CNA 1-11-16
Ireland_Credit Maureen via Flickr_CNA 1-11-16
'Dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Nền cũ lâu đài bóng tịch dương,

Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt,

Nước còn cau mặt với tang thương.'

Ireland_Credit Javier Rioja via Flickr_CNA 1-11-16
Ireland_Credit Paul Downey via Flickr_CNA 1-11-16...
Ireland 3_Credit Mike Lorden via Flickr_CNA 1-11-16
Sau biến cố phim Star Wars, nhu cầu du lịch có vẻ tăng cao và ngươì ta đã thấy hàng hàng lớp lớp những con tầu nhỏ tranh nhau cập bến nơi đây.

 Trần Mạnh Trác

Lam Phương, Người Nhạc Sĩ Của Khăn Tay Và Nước Mắt


Nhạc sĩ Lam Phương.

Nhạc sĩ Lam Phương.
Nhắc tới Lam Phương, ký ức tôi lại bồi hồi nhớ đến một nụ cười đôn hậu trên khuôn mặt thật dễ mến của người nhạc sĩ lão thành. Tôi đã có duyên gặp ông vài lần. Lần đầu tại nhà riêng ông nhân dịp Câu Lạc Bộ Tình Nghệ sĩ tổ chức một buổi tiệc mừng cho ông. Hình ảnh Lam Phương, người nhạc sĩ lừng lẫy một thời, ngồi bên cạnh cây đàn đã theo mình bao năm qua, khiến tôi xúc động. Ông trìu mến nhìn cây guitar của mình và tâm sự “Bây giờ đôi tay chú không còn chơi đàn được nữa...”. Sau những năm dài chưa hoàn toàn bình phục vì cơn tai biến mạch máu não, chắc cũng có lúc ông nhìn đôi tay, đôi chân mình một cách bất lực, như người thuyền trưởng gắng sức điều khiển con tàu ra khỏi trung tâm cơn bão mà con tàu cứ tiếp tục lao mình vào lốc xoáy.

Giọng ông đang buồn bã bỗng đổi thành tươi vui khi tôi hỏi han đến những tập nhạc của ông để trên bàn. Không có gì hạnh phúc bằng bàn luận về những đứa con tinh thần của mình “Chú có hơn hai trăm ca khúc..”. Ông ngập ngừng diễn tả một cách khó khăn vì đường lưỡi chưa chịu nghe lời mà uốn lượn. Tuy nhiên, lúc nhắc đến các ca khúc, tôi thấy dường như có những vì sao lấp lánh trong mắt ông. Đôi mắt ấy, có từng là chứng nhân của các cuộc chia ly lịch sử? Tôi tự hỏi người nhạc sĩ ấy đã viết bao ca khúc, có ca khúc nào không phải là những tự truyện cực ngắn đời mình? Con ong đã ngừng bay, bỏ chốn cũ thường đi về, lấy mật ngày xưa. Con tằm thôi nhả đường tơ bóng láng, dịu dàng. Tuy nhiên tổ ong đã ngọt ngào đủ mật, rổ tơ đã óng ánh những lọn tơ đầy. Lam Phương đã dừng lại trên luống cày đời mình, những hạt thóc ông gieo xuống đã thành lúa, thành gạo từ lâu. Chúng là một trong những thứ thực phẩm đã nuôi dưỡng, làm đầy cơn đói tinh thần con người.

Những năm trước 1975, người dân miền nam Việt Nam, hầu như ai cũng đã từng nghe và biết tiếng nhạc sĩ Lam Phương. Ông viết nhạc từ rất sớm, năm 15 tuổi đã khởi đầu, nên sự nghiệp âm nhạc ông để lại khá nhiều. Trên 200 tác phẩm đa dạng, đủ thể loại, đủ sắc thái. Dường như ông có cảm hứng với tất cả những gì xảy ra quanh mình. Từ cuộc sống dân dã của thôn quê cho tới binh nghiệp của người lính chiến. Từ phút thăng trầm cơ cực của kiếp nghèo cho đến những giây hoan ca, hạnh phúc của tình yêu đôi lứa. Tiếng khóc của trẻ thơ, lời ru đại dương vỗ về tình mẹ, cho đến giọt nước mắt lấm tấm bịn rịn hay đầm đìa chất ngất thương đau, trong kết thúc một chuyện tình. Tất cả đều được các nốt nhạc mẫn cảm của ông ghi lại. Tuy nhiên theo tôi, so với dân ca, ông viết tình ca nhiều và thành công hơn. Có một ai đó nói, dân tộc Việt nam là một dân tộc lãng mạn. Cứ đọc ca dao, nghe dân ca, hò lơ, hò huế, ru con, chèo cổ hay sáu câu vọng cổ, để hiểu tại sao chúng ta không có anh hùng ca mà chỉ có tình ca. Lam Phương không ngoại lệ khi phần lớn ca khúc của ông là những bản tình ca.

Đất nước chúng ta liên tiếp bị chiến tranh tàn phá, hết ngoại xâm rồi nội chiến, tâm thần con người bị tổn thương đến nỗi cái lãng mạn, vui tươi, hạnh phúc đã tự nhiên biến dạng thành suối nguồn của niềm đau, nỗi buồn. Người dân miền Nam trước 75 lại bị đưa vào một cuộc chiến huynh đệ tương tàn bất đắc dĩ nên khi trải lòng. phơi mở những tâm sự, nội dung lãng đãng những biệt ly, nuối tiếc, nhớ nhung.

Lam Phương cũng vậy. Là người miền Nam, vốn có chút duyên với câu hò, vọng cổ, nên điệu buồn nhạc ông lên men sầu da diết hơn là hơi hướm của các tiết điệu vui tươi, nhộn nhịp. Ông đã chinh phục được một số rất đông người mến mộ. Nhạc ông dễ nghe, dễ hát. Ca từ giản dị, không kiểu cách, dễ hiểu, chân phương, có nhiều khi mộc mạc. Người nghe và hát, cảm được tiếng lòng của họ thổn thức, nhất là khi họ bị rơi vào hoàn cảnh trùng hợp với bài hát, thế là trái tim của họ lập tức bị đốn ngã. Hầu hết các ca từ, chữ dùng, chuyện kể, trong hơn 200 bản nhạc của ông phần lớn đều diễn đạt những cách ngăn, hoài niệm tiếc nuối kỷ niệm xưa của tình yêu đôi lứa, những buổi từ ly, sân ga, bến đò, vẫy biệt, khăn tay và nước mắt. Dường như sự chia cách đã thấm vào máu ông, lập đi lập lại trong tiềm thức như những nốt lặng, dừng lại, trùng điệp, rồi ngân vang, rất xa cho tới cuối cuộc đời, để tất cả chỉ còn là một khoảng trống tận cùng.

blank
Nhạc sĩ Lam Phương (ngồi) và nhà văn Trịnh Thanh Thủy.

Rất nhiều bài hát mang cùng chủ đề tôi không tiện kể ra hết nhưng chúng ta có thể tìm thấy trên mạng như: Duyên Kiếp, Thu sầu, Phút cuối, Nghẹn ngào, Chờ người, v.v…

Nhạc phẩm đầu tay của ông “Chiều thu ấy” đã mang mầm mống của ly tan. Nhưng bài hát chia ly đã làm vang danh ông từ ngày còn trẻ chính là bài “Chuyến đò vĩ tuyến”, vì nó mang một dấu ấn lịch sử của cuộc chia cắt đất nước Việt Nam vào năm 1954. Theo lời Cao Đắc Tuấn thì ": "Chuyến Đò Vĩ Tuyến" là một bài hát do nhạc sĩ Lam Phương viết vào năm 1955 sau khi hiệp định Geneva chia đôi đất nước năm 1954 tại vĩ tuyến 17 bên sông Bến Hải. Bài hát là lời một cô gái đang mong chờ người yêu trên con đò bên bờ sông để đưa chàng qua vĩ tuyến về miền Nam thanh bình trù phú. Qua lời cô gái, tác giả biểu lộ bản chất nhân bản, hiền hòa, yêu thương đồng bào và đất nước của người miền Nam". Trong Wikipidia thì ghi 1957.

Đêm nay trăng sáng quá anh ơi
Sao ta lìa cách bởi dòng sông bạc hai màu
Lênh đênh trên sóng nước mông mênh
Bao đêm lạnh lẽo em chờ mong gặp bóng chàng
Vượt rừng vượt núi đến đầu làng
Đò em trong đêm thâu sẽ đưa chàng sang vĩ tuyến
Phương Nam ta sống trong thanh bình
Tình ngát hương nồng thắm bên lúa vàng ngào ngạt dâng
……………

Chuyến đò vĩ tuyến-Hoàng Oanh
https://www.youtube.com/watch?v=4Wy83LXcwKM

Hình ảnh người con gái chờ đợi người yêu trên con đò để đưa chàng vượt tuyến trong một đêm trăng sáng là một bức hoạ có sắc sống, lung linh và lãng mạn. Nhưng chàng trai vì một lý do nào đó không bao giờ có cơ hội đến nơi hẹn đã làm vỡ tan giấc mơ sum họp của cô gái, của một mái ấm hạnh phúc trong tự do ở miền Nam cá đầy, gạo trắng.

Dòng sông Bến Hải, cây cầu Hiền Lương, vĩ tuyến 17, là điểm mốc lịch sử cuộc di cư vĩ đại của gần một triệu người dân miền Bắc đã rời quê cha đất tổ vào miền Nam. Bối cảnh lịch sử này là một dĩ vãng không bao giờ quên của những người di cư, bảo sao bài hát không chiếm được cảm tình của nhiều người Bắc thời bấy giờ. Cây đa, bến cũ, con đò, ánh trăng, năm xưa, luôn là biểu tượng gợi nhớ da diết, đưa trí tưởng người ta làm những cuộc viễn du, hành hương về miền đất cũ. Năm 1957, Lam Phương đã sáng tác vài bài hát cùng một chủ đề như thế “Chuyến tàu thống nhất”, “Đoàn người lữ thứ”, “Sầu ly hương,” v.v... Dù ông không là kẻ ly hương nhưng là chứng nhân, có lẽ biến cố này để lại trong hồn ông những xúc cảm chân thành nên các sáng tác thể loại này mới ra đời. Riêng bài “Sầu ly hương” đã dẫn dắt bước chân thời gian trở lại hiên nhà quá khứ của tấm lòng những người du mục tha hương, trong đó có tôi.

Nhạc sầu buông trầm lắng
Xa quê bao ngày tháng
Mang theo nỗi niềm đau xót chia phôi
Hà Nội xa vời lắm
Nơi quê hương chìm đắm
Ai ra đi mà không thương nhớ về
………………
Vì đâu ta điêu linh
Sống trong đêm mong manh
Nhớ nhung ôi đêm thâu buồn tàn canh
………………
Hà Nội đang hờn oán
Non sông đang lầm than
Đi ta nối bao tình Nam Bắc yêu thương
Hà Nội ơi buồn nhớ
Đêm nay ta sầu mơ
Gởi lòng theo ngàn cánh chim xa mờ

Sầu ly hương-Lệ Thu
https://www.youtube.com/watch?v=0VZR9huKlmc

Đây là lần đầu tiên tôi nghe cô Lệ Thu hát bài này của Lam Phương được thu âm trước 1975. Phải nói là cô hát bài này rất hay với một chất giọng nguyên thủy ngày còn trẻ khi chưa bị hư giọng. Bài Sầu Ly Hương có cấu trúc A-B-A vô cùng cân phương và tối giản, vì mỗi đoạn chỉ có hai câu với nhạc tố(motif) tiết tấu nhịp nhàng từ đầu đến cuối bài, là 5-5-8, tạo sự quen thuộc và dễ thuộc, như một bài dân ca vùng Almeria hay Seville nước Tây Ban Nha, nhạc sĩ Lam Phương đã sử dụng rất nhiều chuỗi (sequences) là một đặc điểm của nhạc tây phương luôn có kết cấu hoà âm chặt chẽ với giai điệu. Do đó ca từ và tiến trình giai điệu đã chuyên chở đủ được sự não nề, đau đớn, buồn bã của tâm thức người ly hương, sau chiến tranh.

Nhắc tới Lam Phương người ta liên tưởng ngay đến Túy Hồng và ban kịch Sống của cô. Lam Phương là người viết rất nhiều ca khúc (khoảng 10 ca khúc) cho các vở kịch của Túy Hồng. Tôi còn nhớ ngày tôi còn bé trước năm 75, rất thích coi kịch. Ngoài ban kịch Kim Cương, ban kịch Sống là một trong hai ban kịch lấy rất nhiều nước mắt của khán giả. Tôi ở trong một xóm nghèo, nhà không có TV, mỗi tối sau khi ăn cơm, làm bài tập xong, thường đi coi ké TV nhà hàng xóm. Trước năm 75, TV bên Việt Nam còn dùng trắng đen, kịch Sống thường diễn trên đài truyền hình VN số 9. Túy Hồng và Vân Hùng là nam diễn viên kịch nói đã làm say mê bao nhiêu khán giả trong đó có khán giả tí hon là tôi. Nhạc phẩm "Trăm Nhớ Ngàn Thương" trong một vở kịch của Túy Hồng đã làm thổn thức trái tim nhiều người khi xem kịch.

Mất em rồi, xa em rồi
Hoa đã tàn, nhụy đã phai
Chiều hôm nay trời thanh vắng em đi về, về với ai
Một người đi, một người sầu
Nhìn hoa úa buồn về mau
Đôi chân mòn tìm dư âm hè phố vắng
Lòng còn thương, tình còn nồng
Mà đêm nhớ, ngày chờ mong
Bao thu rồi nhìn lá chết rơi ngoài song
..........................

Trăm nhớ ngàn thương-Khánh Ly
https://www.youtube.com/watch?v=JkIcocZuOfE

Bài này cô Khánh Ly hát rất chân phương, kỹ thuật hoà âm đơn giản nhưng đủ chuyên chở được những ca từ mong nhớ, thương yêu, đậm sâu của nhân vật trong bài hát.

Trong kỹ thuật sáng tác, tôi thấy Lam Phương đã sử dụng nhiều nhạc country của Mỹ như nhạc blues, blues rock, như trong âm hưởng của bài này. Vào giữa thập niên 60, 70 nhạc blues rock (kết hợp giữa blues và rock) và các blues rock club Mỹ xuất hiện rất nhiều. Các nhạc sĩ Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng. Không riêng bài “Trăm nhớ ngàn thương”, nét nhạc này người ta tìm thấy rất nhiều trong dòng nhạc trữ tình được nhiều người nghe và yêu thích vào thập niên nói trên. Sau khi chế độ cộng hoà ở miền Nam sụp đổ tháng 4 năm 1975, nhà cầm quyền cộng sản đặt tên cho dòng nhạc trữ tình miền Nam là “nhạc vàng” và cấm hát, phổ biến, cũng như lưu hành. Thế mà “nhạc vàng” lại được người dân miền Bắc ưa chuộng vì nó chứa nhiều yếu tố cảm tính mà nhạc miền Bắc rất thiếu. Bây giờ rất nhiều bài hát trong kho “nhạc vàng” được cho phép hát, lưu hành và các ca sĩ rất thích hát.

Trong tiến trình sáng tác của ông, Lam Phương viết nhạc qua thời đại, cho mọi giới, mọi tầng lớp nhưng có lẽ tầng lớp bình dân là mục tiêu được ông chọn để tiếp cận vì đó là đáy của một kim tự tháp trong phương pháp tiếp thị. Phải nói rằng nhạc của ông thoả mãn thị hiếu người nghe và bán rất chạy. Khi ấy, vấn đề thương mại và nghệ thuật được đặt ra và có người chỉ trích nhạc của Lam Phương là nhạc thương mại, nhạc sến.

Đã có nhiều người thắc mắc và cũng có người cố gắng định nghĩa và phân tích từ “sến là gì” và thế nào là “nhạc sến”? Đây là một đề tài gây nhiều tranh cãi. Theo tôi, “sến” là một từ ngữ được áp đặt, được sử dụng rộng rãi nhưng không có nguồn gốc, định nghĩa rõ rệt. Mỗi người hiểu “sến” theo một ý riêng và không có một tiêu chuẩn nhất định nào để phân loại nó. Người ta chỉ nghe người khác phê bình và bắt chước hùa theo để gọi một bài hát là “sến”, rồi tự mình phân loại một dòng nhạc là “sang” hay “sến”.

Có vài định nghĩa cho rằng “Sến” tượng trưng của những gì rẻ tiền, từ ngữ đến từ Mari sến hay con sen. "Sến" còn là một từ ám chỉ sự chê bai và miệt thị những gì thể hiện ở mức, hay dưới mức trung bình hoặc bình dân.

Nét “sến” trong âm nhạc, có người bảo nó xuất phát từ chữ “sentimental” nghĩa là ướt át, đa sầu, đa cảm. Ta có thể gọi yếu tố chính của “sến” là ngọt ngào, mùi mẫn, sướt mướt, dễ thấm, xuyên tim. Chữ "sến" ở đây có nghĩa là khi nghe người ta thấy “phê”, thấy tim bị đốn ngã.

Có người quy cho dòng nhạc hay các bài hát có thể điệu bolero là nhạc “sến”, điều này không đúng. Giai điệu, không làm cho một bài hát trở thành “sến”. Thể điệu bolero đơn điệu và sáo mòn dễ hát nên có một số ca sĩ thích hát bolero bị gán cho từ “sến”. Hoặc ngược lại, những bài hát được họ trình bày đều biến thành “nhạc sến”.

Vì người ta hiểu bình dân là “sến” mà nhạc Lam Phương được giới bình dân ưa chuộng nên hễ nói tới “nhạc sến”, người ta hay nhắc đến tên Lam Phương và đem các bài hát như “Duyên Kiếp”, hay “Thành phố buồn” ra làm ví dụ. Thực ra nhạc Lam Phương không quá bình dân đến nỗi bị quy là rẻ tiền, hoặc dành cho các cô bà gánh nước hay con sen gối đầu giường. Nhạc của ông cũng không quá hàn lâm như kiểu nhạc của Cung Tiến có nhiều ảnh hưởng của nhạc cổ điển Tây Phương. Biên giới giữa nhạc “sến” và “không sến” trong các nhạc phẩm của ông cũng mơ hồ.

Nếu bảo rằng nhạc Lam Phương "sến" vì ca từ của ông lãng mạn, mộc mạc, giản dị, chân phương, tôi càng không đồng ý. Trong những nhạc phẩm trữ tình của ông sáng tác vào thập niên 60, 70 có nhiều ca từ còn hay ho hơn vô số các bài nhạc bây giờ. Nhạc bây giờ trong nước, có bài bắt chước nhạc Hàn quốc chỉ ra vẻ văn minh thôi chứ lời thì rất ngô nghê, sự thể hiện lại rỗng. Xem ra nếu so sánh chúng với dòng nhạc ngày xưa bị cho là "nhạc sến", nó lại có ca từ văn vẻ hơn, mà không thô lỗ, như nhạc thương mại ngày nay.

Do đó khi một bài hát bị người ta cho nó là "sến" phần lớn do người ca sĩ thể hiện nó quá đà khiến nó trở nên quá ủy mị, rên rỉ, nỉ non, mùi mẫn cốt để lấy nước mắt, hay đốn ngã tim người nghe.

Ngày mới lớn, đi đâu, tôi cũng nghe thiên hạ hát “Thành phố buồn”(1970). Ngoài vỉa hè đại lộ, trong ngõ hẻm, đài phát thanh, truyền hình, đâu cũng có tiếng hát bài ấy vang vọng. Không biết cái thành phố buồn ấy nó hoang vắng, lạnh lẽo thế nào mà khi tiết tấu vừa trỗi lên, rót vào tai tôi, nỗi buồn liền đáp xuống, quất sụm cái trí tích cực con người liền. Nhất là khi nghe các nam ca sĩ thường hát nhạc sến, cất giọng nhừa nhựa, ngân nga, con sâu buồn liền ngóc đầu uốn éo, cào nhẹ trái tim người nghe, khiến tứ chi đột nhiên rũ rượi. Phải chăng cái chất giọng, lối thể hiện quá đà của người ca sĩ đã khiến bài hát tự nhiên “sến”. Mà cũng lạ, sau 75 và hiện nay một số ca sĩ xuất thân từ miền Bắc (thường hát nhạc hàn lâm hay “nhạc sang”) hát nhạc Lam Phương theo phong cách mới ai cũng công nhận là họ hát nhạc Lam Phương không thấy “sến” mà lại rất hay. Điều này khiến ta thấy rõ hơn sự thể hiện một bài hát của người ca sĩ rất quan trọng, nó có thể đưa bài hát của một nhạc sĩ vang danh hay biến nó thành “sến” chỉ trong mấy phút phù du.

Có một nghịch lý là, không phải một ca sĩ hay hát nhạc sến mà bài hát biến thành sến. Một bài hát trở nên sến, không do dòng nhạc đó sến mà khi người ca sĩ trình diễn một bài hát bị hư. Có bài hát được cho là sến, 1 người ca sĩ muốn hát cho nó khỏi sến, liền cố gắng đổi phong cách, khi hát cố thoát ra khỏi cái rên rỉ, ngọt, mùi, nhưng vì chú ý quá nhiều đến kỹ thuật, nên thiếu chiều sâu, cảm xúc, lại cố gồng lên, màu mè, luyến láy một cách máy móc, sáo mòn, khiến bài hát biến thành vô hồn thì tôi lại cho rằng người ca sĩ đó hát rất "sến".

Nói tóm lại, âm nhạc chuyên chở cảm xúc, người nhạc sĩ là người làm nên những chiếc thuyền với những kỹ thuật kết nối, diễn đạt, ràng buộc, ôm ấp cảm xúc. Người ca sĩ là người lái đò đưa chiếc thuyền cảm xúc về bến đậu. Chiếc thuyền có về bến an toàn hay lạc lối đều do tài điều khiển con thuyền nếu bị sa vào cơn bão táp.

Rev. Hugh Reginald Haweis có nói “Cảm tính, chứ không phải lý tính, đã làm cho âm nhạc thăng hoa”. Dòng nhạc Lam Phương với bao nhiêu là cảm xúc tràn bờ đã tạo cho ông một nét riêng trong những con thuyền ông thả xuống dòng sông âm nhạc Việt Nam. Cảm ơn ông đã vì âm nhạc mà tạo nên những con thuyền trôi lờ lững làm đẹp và giàu có thêm cho kho tàng âm nhạc Việt Nam.

(Trích Việt Tide-Thế Giới Nghệ Sĩ số 44)

Trịnh Thanh Thủy

Bài Xem Nhiều