We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 27 February 2016

Nhớ đến Bà Ngô Đình Nhu


 
Bà Ngô Đình Nhu
 
Mùa Phục Sinh lại đến.  Chúa sống lại trong niềm hoan lạc của con cái Chúa và vì Chúa sống lại cũng để cho chúng con được sống lại trong vinh quang.  Buổi sáng lễ Phục Sinh năm 2011, Bà Ngô Đình Nhu đã trút hơi thở cuối cùng tại một bệnh viện ở La Mã trong khi mọi người đang rộn ràng mừng lễ Chúa Phục Sinh.  Bà đã chết đi trong ánh sáng của Chúa Phục Sinh.  Bà đã âm thầm và lặng lẽ trên đường đi về Nhà Cha như mỗi buổi sáng bà lủi thủi đơn côi đi dâng thánh lễ bắt đầu cho một ngày mới.  Bà đã sống lại trong niềm tin yêu vô cùng nơi Thiên Chúa là nơi bà đã ngày đêm cậy trông và nương tựa trong những tháng ngày đau khổ nơi trần gian.
.
Rất nhiều người đặt câu hỏi rằng trước khi lìa trần bà Ngô Đình Nhu có trăng trối qua tiếng nói hay bút tích không.  Câu trả lời là có và đây là lời trăng trối ngắn gọn được bà viết bằng tiếng Pháp:
.
"Tôi Trần Lệ Xuân, Dân biểu lập Hiến Pháp,  Dân biểu quốc Hội, Chủ tịch Phong trào Phụ Nữ Liên Đới, Vâng lệnh Tổng Thống Ngô Đình Diệm,với sự đồng ý của chồng tôi, ông cố vấn Ngô Đình Nhu, rời Viêt Nam sang các nước Tây Phuơng tranh đấu cho sự thật và độc lập của đất nước tôi, trong lúc tôi rời đất nước các thế lực Tây Phương đã dùng nhóm phản loạn, phản bội lại chính quyền Dân Chủ và Độc Lập Việt Nam Cộng Hoà, đã sát hại Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Gia tộc của Tổng Thống và chồng tôi,  sứ mệnh của tôi càng trở nên khó khăn hơn, khi con gái của tôi Ngô Đình Lệ Thủy bị sát hại vì muốn nói lên tiếng nói sự thật, sứ mệnh của tôi chưa hoàn tất, tôi vẫn là con dân Việt Nam Cộng Hoà, vẫn là Sứ Giả của nước Việt đến hơi thở cuối cùng với Sự Vụ Lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm... "
.
Bà Ngô Đình Nhu được Tổng Thống Ngô Đình Diệm trao phó một sứ vụ vô cùng khó khăn và nặng nề. Thân nhi nữ cô độc  gánh vác sứ vụ đội đá vá trời chống đỡ lại những mưu mô và kế hoạch thâm độc của Hoa Kỳ và các tổ chức quốc tế được sự thông đồng của Mỹ để triệt hạ chính thể Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà.  Bà đã vẫy vùng trong một vũng lầy của những gian manh xảo quyệt của các hệ thống truyền thông quốc tế và ác tâm của một đường lối vô nhân đạo mà chánh quyền Hoa Kỳ đương thời chỉ với một mục đích phục vụ quyền lợi của một nhóm tư bản đứng sau toà Bạch Cung đã tàn nhẫn xuống tay đưa cả dân tộc Việt Nam vào vòng điêu linh thống khổ.  Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người đặt quyền lợi và danh dự quốc gia hơn cả mạng sống mình đã bị thảm sát vô cùng dã man. Bà Ngô Đình Nhu cũng bị tắt tiếng sau cái chết đau thương của vị nguyên thủ quốc gia.
.
Bà Nhu được giao phó nhiệm vụ “tranh đấu cho sự thật và độc lập của đất nước”.  Bà lên đường với một sự vụ lệnh của Tổng thống và bà đã vô cùng dũng mãnh quyết liệt chống chọi với bọn truyền thông gian manh quốc tế và những xảo quyệt của chính quyền Hoa Kỳ.  Mùa Thu năm 1963 cả thế giới đã kinh ngạc nghe và nhìn bà Nhu mạt sát và lên án những người được gọi là bạn, là đồng minh Hoa Kỳ ngay tại một địa điểm chỉ cách Toà Bạch Cung mấy con đường. Nhiều người cho đó là một hành vi thiếu khôn ngoan nhưng có ai thấu hiểu đó chỉ là những tiếng kêu tuyệt vọng của một người lương thiện trước khi bị bọn gian manh thổ phỉ hành quyết!
 
.Đọc những dòng chữ trăng trối của bà Nhu thì không ai có thể phủ nhận được tâm huyết của bà với non sông đất nước.  Năm trên giường bệnh trong giờ phút lâm chung nhưng bà không nghĩ đến những oan cừu khổ nạn mà bà và cả gia đình bà phải thống khổ chịu đựng.  Bà không thù oán những người đã cầm súng bắn vào chồng bà bởi vì bà nói “đó là một bọn ngu dốt” không đáng đếm xỉa đến.  Nhưng hơi thở cuối cùng của bà vẫn trông về quê hương yêu dấu mà bà đã can đảm dự phần trong công trình xây dựng một quốc gia thanh bình thịnh vượng,toàn dân sống trong tự do no ấm.  Bà tiếc nuối vì sứ mạng đã bị trù dập và không hoàn thành nhiệm vụ được giao phó. Bà vẫn tự gánh vác trọng trách đó cho đến hơi thở cuối cùng trong đơn côi lặng lẽ cho dù đó chỉ là những ước vọng của những giây phút tàn hơi.  Một "lãnh tụ chánh trị" khoe đã gặp bà Nhu và nghe than thở “thời của tôi đã hết rồi”.  Đây cũng chỉ là một tưởng tượng nghèo nàn của vị "lãnh tụ" này mà thôi.  Bởi vì những giây phút cuối đời thì bà Nhu khẳng định: vẫn là Sứ Giả của nước Việt đến hơi thở cuôi cùng với Sự Vụ Lệnh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm...
 
.
Bài viết này đến tay độc gỉả nhân ngày giỗ thứ năm bà Ngô Đình Nhu.  Từ sau ngày Đệ Nhất VNCH sụp đổ, bà Nhu  sống đơn độc nơi đất khách quê người gần như hoàn toàn cách biệt với những sinh hoạt chộn rộn của một con người.  Người yêu kẻ ghét với những lời khen tiếng chê đã không lọt qua bức tường căn phòng nhỏ hẹp của một người muốn rũ bỏ tất cả những oan cừu trần gian. Bà sống khổ hạnh như một nữ tu ngong ngóng trông chờ giây phút “đoàn tụ” với ông chồng mà bà hết lòng yêu thương và kính phục.
.
Gần đây có một quyển sách viết về bà Nhu bằng tiếng Anh với tựa đề FINDING THE DRAGON LADY của tác giả Monique Demery và vừa được dịch sang tiếng Việt Nam với một loại chữ nghĩa văn thể rất kệch cỡm : MADAM NHU TRẦN LỆ XUÂN QUYỀN LỰC BÀ RỒNG. Tác giả Demery đã có một thời gian “học tập” ở Hà Nội, nói tiếng Việt thành thạo giọng đặc Hà Nội. Tôi có xem qua quyển sách này, không có gì gọi là tư liệu hay lịch sử.  Từ đầu đến cuối chỉ là những sao chép vụng về  chẳng có một giá trị nào dù rất nhỏ nhoi. Vào Google đánh chữ Bà Ngô Đình Nhu thì có đến gần 4 triệu tài liệu và bài viết nói về bà Nhu được đăng tải rải rác trên nhiều mạng lưới vi tính từ nhiều quan điểm khác nhau đã được bà Demery vơ vét làm của riêng mình rồi nặn óc sáng chế ra một cái tựa sách nghe ra cũng độc mồm độc miệng. Bà Demery viết và đọc tiếng Việt Nam thành thạo nên đa số những cái gọi là “tài liệu hiếm qúy” trong quyển sách này đã từ lâu xuất hiện trên các mạng lưới vi tính Việt ngữ. Tựa đề của cuốn sách trong bản dịch tiếng Việt với mấy chữ QUYỀN LỰC BÀ RỒNG có thể làm người đọc hình dung ra hình ảnh của một “bà rồng” mặt sắt đen xì dữ tợn hung ác nhưng trong cả cuốn sách chỉ toàn là những nhai đi nhai lại nhàm chán trên các mạng lưới vi tính Việt ngữ chứ chẳng thấy “bà rồng” đâu.
 
Tác giả Demery sẽ biện minh như thế nào khi gán ghép cho “bà rồng” một giai thoại như sau:
 
When her brother-in-law, President Ngo Dinh Diem, had once questioned the modesty of Madame Nhu’s slim-fitting tunics, referring to their décolletage, she is said to have silenced him with a withering reply: “It’s not your neck that sticks out, it’s mine. So shut up” (P.18)
 
Một dịch giả dễ tính có thể chuyển dịch những dòng chữ này một cách giản lược như sau:
Tổng Thống Ngô Đình Diệm tỏ vẻ không được hài lòng vì cái áo dài hở cổ của bà Nhu.  Nhưng bà em dâu đã xấc xược trả lời ông anh chồng: “Cái cổ tôi hở ra chứ không phải cổ của ông.  Vậy thì ông câm mồm đi.”
 
Đọc những dòng chữ bặm trợn này thì ai cũng có thể lượng giá được khả năng viết lách của tác giả và giá trị của quyển sách.
 
Đã rất lâu tôi có xem một phim tài liệu của hai nhà nữ nhân chủng học người Mỹ làm công việc khám phá một bộ lạc gần như tuyệt chủng ở trong rừng rậm Phi châu và chưa hề có bất cứ một tiếp xúc dưới bất cứ hình thức nào với thế giới bên ngoài.  Hai nhà nữ nhân chủng học này đã lặn lội trong những điều kiện vô cùng gian khổ và đã đến được nơi muốn đến.  Hai cô gái xinh đẹp này đã sống với hai người đàn ông hiếm hoi còn lại của bộ tộc này như vợ chồng trong thời gian một năm.  Họ học tiếng nói cũng như ăn uống sinh hoạt như một thành viên của bộ tộc và như là những người vợ của hai người đàn ông còn lại của bộ tộc trước ngày bị hoàn toàn diệt chủng.  Hai cô gái trở về Mỹ đã cống hiến cho thế giới một tài liệu phong phú và những thước phim chân thực sống động vô cùng qúy giá. Họ đã tự mang cả thân mình ra để làm một công việc mà họ say mê và bằng mọi cách phải đạt đến mục tiêu tuy rằng phương cách làm việc của họ không đáng được khuyến khích và đề cao.
.
Tác giả Demery cũng chỉ nghe và biết đến bà Nhu qua báo chí và những bài viết trên các mạng lươí vi tính mà thôi.  Trong cuốn sách, bà Demery xác nhận có hẹn gặp bà Nhu hai lần nhưng cả hai lần bà Nhu đều thất hẹn.  Mặc dù bà Nhu sống đời ẩn dật tự giam hãm mình trong một căn phòng nhỏ nhưng bà Nhu cũng có những chọn lựa và suy tính trong các giao tiếp rất hiếm hoi.  Bà Demery hẹn gặp bà Nhu ở nhà thờ Saint Leon là nơi bà Nhu đi lễ hàng ngày.  Thế nhưng đến ngày giờ hẹn thì bà Nhu lại không đến.  Lần sau thì bà Nhu hẹn gặp tại nhà, bà Demery đến đúng hẹn nhưng bà Nhu lại không mở cửa. Bà Nhu cũng chẳng mặn mà gì với những gặp gỡ này và cố tình hủy bỏ cuộc hẹn.
 
Vậy thì ngoài những sao chép trên các mạng lưới vi tính và chưa một lần được gặp bà Nhu thì bà Demery lấy gì và biết gì để viết về cả một cuộc đời cay đắng nghiệt ngã của bà Nhu.
.
Rất nhiều người có chung một quan điểm là nếu bà Nhu có mặt tại dinh Gia Long vào ngày 1 tháng 11 năm 1963 thì cục diện của vụ phản loạn chắc chắn đã không xẩy ra như vậy.  Là thân nữ nhi nhưng bà Nhu lại có một dũng chí và rất quyết liệt trong những tình huống dầu sôi lửa bỏng.  Thưở sinh thời, Đại Tá Nguyễn Hữu Duệ nhiều lần tiếc nuối nói nếu như bà Nhu không đi ra nước ngoài thì chắc là vụ phản loạn đã bị dẹp tắt ngay từ những tiếng súng lạch cạch của mấy chú tân binh quân dịch từ trung tâm huấn luyện Quang Trung.  Ông Duệ nói rằng bà Nhu rất kính trọng và phải nói là rất sợ ông anh chồng Tổng Thống nhưng lúc cần phải lên tiếng thì bà cũng rất mạnh bạo.  Nhiều người truyền miệng câu chuyện bà Nhu bị Tổng Thống Ngô Đình Diệm giận dữ ném cái gạt tàn thuốc lá vào người thì đó cũng chỉ là một bịa đặt nhảm nhí.  Nghị sĩ Lê Châu Lộc nguyên là tùy viên của Tổng Thống Diệm xác nhận là bà Nhu cũng như tất cả những người khác muốn gặp Tổng Thống thì đều phải đi qua một lịch trình xếp đặt của Chánh văn phòng Phủ Tổng Thống. Rất ít khi bà Nhu xin gặp Tổng Thống và những lần diện kiến ngắn ngủi dăm ba phút đó thì bà Nhu ăn mặc rất chỉnh tề, cánh cửa văn phòng Tổng Thống mở rộng và bên ngoài là các sĩ quan tùy viên và nhân viên văn phòng.  Nếu bà Nhu là một loại đàn bà đanh quánh hỗn láo thì chắc hẳn là thiên hạ sẽ được nghe và nhìn thấy những hoạt cảnh ồn ào chợ búa trong những ngày tháng nơi xứ lạ quê người.
.
Tổng Thống Diệm đặc biệt qúy mến bà Nhu vì đã mạnh bạo hoàn thành bộ luật gia đình và nhất là bà Nhu đã sinh ra hai người con trai để nối tiếp dòng họ Ngô Đình.  Ông Ngô Đình Luyện có hai đời vợ nhưng cũng chỉ có một binh đội đến mười cô con gái, mãi đến người con út mới được một mống con trai. Con trai lớn của bà Nhu là Ngô Đình Trác lấy vợ người Ý và bây giờ cũng có cháu gọi là ông nội rồi.  Người con trai nhỏ là Ngô Đình Quỳnh làm việc ở nước Bỉ và không lập gia đình cũng đã trên sáu mươi tuổi.  Từ sau năm 1963, ông Ngô Đình Trác sống ở Roma và chưa một lần đi ra khỏi nước Ý.  Câu chuyện đồn thổi "bà Nhu cho ông Trác sang Mỹ để xin lỗi" người này người kia cũng chỉ là một bịa đặt láo khoét mà thôi.
.
Các tài liệu về vụ phản loạn 1 tháng 11 năm 1963 do Hoa Kỳ điều động đã được hoàn toàn giải mã.  Đám quân nhân và các tổ chức liên hệ chỉ thi hành những mệnh lệnh từ một bọn kiêu binh tác oai tác quái lợi dụng sự nhu nhược của một ông tổng thống tồi tệ nhất trong lịch sử Hoa Kỳ.  Bà Nhu biết và hiểu rõ phương cách điều hành của các cơ chế chánh trị Mỹ.  Tất cả đều bị sai khiến bởi các thế lực đứng sau toà Bạch Cung. Nói một cách rõ ràng là những thế lực đó được điều hành và nhận chỉ thị từ những nhóm Do Thái có thực lực nắm giữ huyết mạch chánh trị và tài chánh của nước Mỹ.  Cũng chính những thế lực này, qua bàn tay của Henry Kissinger đã dâng hiến nước Việt Nam Cộng Hoà cho khối cộng sản quốc tế..
 
Khi nói về cái chết thảm thương của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và ông Cố Vấn thì bà Nhu cũng chỉ nhỏ nhẹ nói “ Tổng thống của nó mà nó còn giết thì tổng thống của mình nó coi ra gì”.  Chữ “nó” đây bà Nhu cố ý nói về các thế lực Do Thái trong chính trường Hoa Kỳ.  Tổng Thống Kennedy đã bị bắn chết trước mắt hàng triệu dân Mỹ mà cho đến nay hơn một nửa thế kỷ sau vẫn không một cá nhân hay tổ chức nào dám phanh phui ra tên tuổi của đứa đã cầm súng bắn vào đầu Tổng Thống Kennedy.  Những thế lực này mạnh đến nỗi ngay khi ông Obama được đảng Dân Chủ đề cử cũng đã vội vàng bay sang Do Thái “trình diện”.  Trong suốt gần hai nhiệm kỳ tổng thống, ông Obama chưa hề có một lời nói hay hành động nào làm mích lòng Do Thái.  Đôi khi cũng có tiếng bấc tiếng chì nhưng đó chỉ là những trình diễn có xếp đặt mà thôi.  Bà Nhu rất căm thù những nhóm quyền lực Do Thái đứng sau toà Bạch Ốc.  Cũng chính bọn này đã mua chuộc được hầu như tất cả giới truyền thông quốc tế để cùng toa rập với nhau triệt hạ Đệ Nhất Việt Nam Cộng Hoà rồi sau đó dâng hiến cho cộng sản quốc tế.  Khi nói về cái chết của cô trưởng nữ Ngô Đình Lệ Thủy, bà Nhu vẫn có những câu hỏi về vai trò của tổ chức tình báo Do Thái trong tai nạn giao thông thảm khốc này.
 
Ai cũng biết là từ ngày tủi nhục vất vưởng nơi quê người, bà Nhu sống rất nghèo khổ, nhiều năm sống trong cơ hàn.
 
Trong một bài viết, tôi có đề cập đến nhà bà Nhu là một đơn vị gia cư trong một chung cư bề thế ở thủ đô Paris.  Địa chỉ của chung cư đó là số 24 Rue du Suffrene, Paris 15.  Tôi viết một cách lập lững rằng một tỷ phú người Ý vì thương cảm nên đã cho bà Nhu một số tiền kếch xù để mua một lúc hai đơn vị gia cư, một để ở và cái khác cho thuê lấy tiền sinh sống.  Sự thật không phải như vậy.  Vị tỷ phú này có lòng từ tâm và rất thương cảm hoàn cảnh của bà Nhu. Tuy nhiên vị tỷ phú này biết sử dụng và đầu tư đồng tiền một cách rất khôn ngoan bên cạnh lòng nhân ái cứu giúp người hoạn nạn.  Bà Nhu được vị tỷ phú này nhờ mua một lúc hai đơn vị gia cư của một chung cư ở vị trí rất đẹp ở thủ đô Paris bởi vì bà Nhu vẫn còn những liên lạc với một số chính khách Pháp và có thể nhờ cậy các vị này trong việc thương thảo mua bán.  Bà Nhu đã nhờ một vị cựu bộ trưởng thời chính phủ De Gaulle giúp mua hai đơn vị gia cư.  Không ai biết những cam kết và hợp đồng giữa bà Nhu và vị tỷ phú người Ý như thế nào nhưng ai cũng biết là lúc còn sống thì bà Nhu sinh sống ở một đơn vị và cái khác cho một nhà ngoại giao Nhật Bản thuê mướn để có tiền chi tiêu. Chỉ một thời gian ngắn sau khi bà Nhu từ trần thì các con của vị tỷ phú này đã tiến hành thủ tục pháp lý lấy lại hai đơn vị gia cư này.  Việc chuyển giao đã tiến hành một cách âm thầm và êm đẹp.  Tất nhiên trị giá của hai đơn vị gia cư này đã cao hơn nhiều lần lúc mua.
 
Trong một lần tôi đang nói chuyện với bà Nhu thì chuông điện thoại reo, bà Nhu đứng lên cầm ống điện thoại nhờ người gọi lấy dùm cái chụp đèn ở ngoài tiệm về.  Bà Nhu nói với tôi là rất thích cái chụp đèn bằng vải này nhưng vì quá cũ nên có chỗ bị rách.  Bà nhờ người mang ra tiệm sửa lại nhưng tiền công sửa quá đắt, đến cả gần một trăm euros nên thôi không sửa nữa.  Nếu bà Nhu có mười bẩy tỷ Mỹ kim như một vài “sử liệu” tiết lộ thì đâu có phải tính toán đắn đo gì với số tiền công sửa cái chụp đèn này.
 
Sau ngày phản loạn 1-11-1963, để lấy điểm với một vài phe nhóm và bọn tay sai nằm vùng của cộng sản Bắc Việt thì những người nắm quyền đương thời cũng trình diễn ra những cái gọi là "ủy ban điều tra tội ác và tài sản nhà Ngô".  Cuối cùng thì những ủy ban này với bao nhiêu hận thù và điêu ngoa gian dối sau khi vắt cạn kiệt ác tâm cũng đã chế tạo ra được hai cái “sử liệu” rất "hoành tráng" để đưa vào “chính sử”.  Thứ nhất là "bà Nhu có mười bẩy tỷ Mỹ kim, hai thương xá ở Paris và một đồn điền ở Ba Tây". Thứ nhì là "Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã tàn sát ba trăm ngàn Phật tử ở miền Trung".  Các “sử gia chân chính” đã xác nhận như vậy thì chắc hẳn phải là “chính sử”.!!!
.
Chung cư 24 Rue du Suffren Paris 15
 
Nói và viết về bà Ngô Đình Nhu thì toàn là những chuyện buồn phiền đau khổ.  Vậy xin kể một chuyện vui vui.  Một thanh niên người Ý bảnh trai con nhà gia thế cùng cha mẹ thưa chuyện với bà Nhu xin cưới cô con gái út Ngô Đình Lệ Quyên, tiến sĩ Luật Khoa Roma.  Trong lúc vui vẻ chuyện trò thì bà Nhu nói với chàng rể tương lai rằng mỗi tuần lễ bà chỉ ăn hai hay ba lần thôi,nếu anh có thể ăn uống được như vậy thì tôi sẽ gả út cưng cho. Anh chàng này vẫn có lòng kính phục bà mẹ vợ tương lai nên xin hai tháng để thử thách.  Sau hai tháng nhịn ăn nhịn uống, rồi cũng quen dần.  Bởi vậy anh chàng gầy đét như con mắm khô, chỉ thấy da bọc xương. Cho đến bây giờ, mặc dầu cô vợ yêu qúy đã chết vì một tai nạn xe cộ nhưng anh này vẫn giữ thói quen ăn uống như vậy.
.
Con người ta ai rồi cũng sẽ trở về cát bụi.  Nhớ bà Ngô Đình Nhu với hình ảnh của một người phụ nữ xinh đẹp, tài giỏi, đức hạnh và hết lòng vì quê hương đất nước.  Nguyện cầu hương hồn bà an vui nơi cõi Hằng Sống...
 
25/02/2016
Luật sư Trương Phú Thứ

Tập Cận Bình chủ trương độc chiếm Biển Đông

 
...Tập Cận Bình thúc đẩy ‘status quo’ mới không chỉ bằng số lượng đảo chiếm được hay mở rộng vùng biển rộng mà còn qua mức độ của việc xây dựng các đảo nhân tạo, phi trường, công trình dân sự, quân sự. Những khai triển này bị Mỹ kết án là vi phạm ‘status quo’. Lãnh đạo Trung Cộng lý luận việc xây dựng các phương tiện dù dân sự hay quân sự cũng chỉ xây dựng trên ‘lãnh thổ’ Trung Quốc như họ đã làm từ nhiều năm nay chứ không xâm phạm lãnh thổ của quốc gia nào và lập đi lập lai sẽ không dùng các phương tiện này để xâm lược các quốc gia khác...



*



Người viết xin lỗi sẽ dùng chữ La Tinh ‘status quo’ nhiều lần trong bài viết chỉ vì mục đích chính là để bàn về khái niệm này trong chủ trương quân sự hóa Biển Đông của Tập Cận Bình. ‘Status quo’ chỉ tình trạng của các điều kiện thực tế trước khi có sự thay đổi. 



Vào thế kỷ thứ 14, danh từ này dùng để chỉ tình trạng hòa bình trước khi chiến tranh bùng nổ giữa hai nước nhưng dần dần được áp dụng trong hầu hết các lãnh vực. Trong các cuộc thảo luận hay tranh luận các bên thường có khuynh hướng chấp nhận một ‘status quo’ và đôi khi còn được xem đó như là một giới hạn mà nếu bị vượt qua sẽ tạo nên nhiều bất trắc. Khi hai bên đồng ý duy trì ‘status quo’ có nghĩa là hai bên chấp nhận tình trạng hiện đang là của một điều kiện về quân sự, địa lý, xã hội hay chính trị. 



‘status quo’ về lãnh thổ trong hai cuộc chiến tranh thế giới





Việc chấp nhận ‘status quo’ thường diễn ra trong các cuộc tranh chấp lãnh thổ. Lý do, các bên tranh chấp đều muốn phần lợi về mình nhưng đều không đủ bằng chứng thuyết phục bên kia hay quốc tế và cuối cùng chấp nhận tình trạng thực tế và chỉ thảo luận vào các điểm mới thôi.



Trong thế kỷ hai mươi, trải dài suốt hai thế chiến, ‘status quo’ được sử dụng nhiều nhất trong tranh chấp lãnh thổ tại Châu Âu. Sau thế chiến thứ nhất, các quốc gia bại trận trong đó có Đức mất phần lớn lãnh thổ chiếm được trong các cuộc chiến tranh trước đó, bao gồm chiến tranh Pháp Phổ. Sau khi lên nắm quyền, mục đích đầu tiên của Hitler là phục hồi lãnh thổ mà ông ta cho rằng vốn thuộc Đức. 



Các nước mạnh, tự mình hay qua hình thức liên minh, đều nhắm tới việc hủy bỏ các ‘status quo’ và thiết lập các ‘status quo’ mới có lợi cho họ. Đức chiếm Tiệp Khắc. Ý chiếm Albany. Liên Xô tìm cơ hội mở rộng vùng ảnh hưởng phía Tây. Hiệp ước bí mật Bất Tương Xâm (German-USSR Non-Aggression Pact) giữa Đức Quốc Xã và Liên Xô năm 1939 âm mưu chấm dứt ‘status quo’ lãnh thổ và xẻ châu Âu làm hai, mỗi bên chiếm một phần. Đức chiếm Tiệp Khắc, Ba Lan, Liên Xô chiếm một phần Ba Lan và các quốc gia Baltic (Estonia, Latvia, Lithuania). Sau Thế chiến Thứ hai, Stalin lẽ ra phải bị xử như một tội phạm chiến tranh, tuy nhiên, kẻ thắng trận bao giờ cũng đóng vai quan tòa và tội ác của quan tòa thường bị bỏ qua hay che lấp.



Anh và Pháp muốn bảo vệ ‘status quo’ của Châu Âu nên đã nhiều lần lên tiếng phản đối hành động của Đức, Ý khi vi phạm một cách trắng trợn chủ quyền lãnh thổ của các quốc gia nhỏ yếu bị xâm lược. Tuy nhiên, Anh và Pháp, ngoài những lời tuyên bố và biểu dương lực lượng qua vài cuộc tập trận nhỏ, không có một hành động quân sự cụ thể nào chứng tỏ quyết tâm bảo vệ nguyên trạng lãnh thổ Châu Âu như đã phân định trong hiệp ước Versaille. 



Chính sách của các lãnh đạo CSTQ trước Tập Cận Bình



Mặc dù bộ máy tuyên truyền Trung Cộng luôn rêu rao chủ quyền Biển Đông không thể tranh cãi của Trung Cộng và đã chứng minh qua hai ngàn năm lịch sử, giới lãnh đạo CSTQ cũng biết những lý luận đó chỉ để đun nồi nước sôi dân tộc cực đoan Đại Hán chứ không thể dùng để thuyết phục các quan tòa một khi cuộc tranh chấp được đưa ra trước một tòa án quốc tế. 



Bằng chứng, tháng 1 năm 2013, chính phủ Philippines chính thức đệ trình hồ sơ kiện Trung Cộng trước Tòa Án Quốc Tế. Hồ sơ của Philippines nộp lên gồm mười bộ với gần bốn ngàn trang tài liệu chứng minh chủ quyền của Philippines và phản bác các luận cứ cũng như quan điểm đường lưỡi bò chín đoạn của Trung Cộng. Trung Cộng từ chối tranh tụng trước tòa. 



Chính sách truyền thống của Trung Cộng là gặm nhắm từng phần của Biển Đông. Sau Hoàng Sa, tháng 8 năm 1988 lần đầu tiên Trung Cộng đặt chân lên quần đảo Trường Sa sau trận Gạc Ma. Từ năm 1989 đến năm 1992 Trung Cộng chiếm một số đảo nhỏ khác của Trường Sa. Tháng 2 năm 1995 Trung Cộng chiếm đảo Vành Khăn (Mischief Reef) và một đảo khác do quân đội Philippines đóng.



Tập Cận Bình chủ trương độc chiếm Biển Đông



- Tập trung quyền lực 



Nhà bình luận Doug Bandow của Newsweek đưa ra câu hỏi liệu Tập Cận Bình sẽ trở thành một Mao thứ hai không phải là không có lý do. Khác với các lãnh tụ CSTQ sau Mao, Tập Cận Bình là nhà độc tài đầy tham vọng quyền lực. Nạn sùng bái cá nhân tại Trung Cộng tạm lắng trong ba chục năm qua đã bắt đầu tái phát. Bộ máy tuyên truyền CSTQ đang đánh bóng họ Tập như một lãnh tụ có quyền hạn tối thượng và tuyệt đối trong tập thể lãnh đạo Trung Cộng. Báo chi bắt đầu gọi y là ‘Lãnh tụ Trung tâm’ (The CORE), một danh hiệu chỉ dành để chỉ Đặng Tiểu Bình. 



Trong một bài bình luận đầu tháng Hai năm 2016 trên New York Times, nhà bình luận Chris Buckley nhắc đến sự kiện ngày càng đông các lãnh đạo địa phương tuyên bố trung thành với họ Tập. Vai trò lãnh đạo tập thể của Ban chấp hành Trung ương Đảng, của Bộ Chính trị và Ban Thường trực Bộ Chính trị bị đặt qua bên. Lãnh đạo mới được hiểu theo hình tháp và trên đỉnh là duy nhất Tập Cận Bình giống như trước đây chỉ có Mao.



Quách Kim Long (Guo Jinlong) tân bí thư thành ủy Bắc Kinh vừa tuyên bố một câu đầy đe dọa trên Bắc Kinh Nhật Báo “Trật tự thế giới mà chúng ta sống đang tiến hành một sự điều chỉnh và về đối nội, đây là giai đoạn quan trọng của những thay đổi sâu sắc. Hơn bao giờ hết, chúng tôi cần một lãnh đạo tối cao”. Cho đến nay, ít nhất 14 trong số các lãnh đạo cao cấp của đảng tuyên thệ trung thành trước họ Tập. 



Việc các viên chức cao cấp Trung Cộng tuyên thệ trung thành, thoạt nhìn chỉ là chuyện nội bộ của Trung Cộng, tuy nhiên, điều này cũng nhắc lại sự kiện các viên chức cao cấp và tướng lãnh Đức phải tuyên thệ trung thành với Hitler khi ông ta vừa nhậm chức Quốc Trưởng Đức và sau đó phát động chiến tranh thế giới. Không phải nhân dân Trung Hoa mà nhân dân các nước nhỏ láng giềng như Việt Nam, Philippines sẽ là những nạn nhân đầu tiên của ‘Lãnh tụ Trung tâm’ này. 



Giống như ý định của Mao khi gởi một triệu quân sang Triều Tiên năm 1950 hay của Đặng Tiểu Bình khi xua gần nửa triệu sang xâm lăng Việt Nam năm 1979, Tập Cận Bình cũng đang cố tình tạo một không khí chiến tranh chống kẻ thù của Trung Cộng để củng cố quyền lực nội địa. 



- Quân sự hóa Biển Đông



Việc Trung Cộng quân sự hóa những vùng chiếm được trên Biển Đông đã quá rõ ràng. Đô Đốc Harry Harris, Tư Lệnh Bộ Tư Lịnh Thái Bình Dương của Mỹ xác nhận ‘Điều đó quá rõ, trừ phi bạn nghĩ rằng trái đất nầy là một mặt bằng, bạn mới nói là là không’. Đô Đốc Harry Harris cũng tin rằng Trung Cộng đã đặt các giàn hỏa tiễn địa không trên đảo Woody (Phú Lâm). Sau hỏa tiễn, Trung Cộng phối trí các phi cơ chiến đấu cũng trên đảo Phú Lâm. Khác với những lần trước, lần này có vẻ các chiến đấu cơ này sẽ là phần của căn cứ không quân thường trực. 



Sự hiện diện quân sự của Trung Cộng hiện nay trên Biển Đông chưa phải là một đe dọa trực tiếp đối với an ninh và quyền tự do hàng hải của Mỹ. Với sự chênh lệch còn quá xa về kỹ thuật và phương tiện chiến tranh nghiêng về phía Mỹ, nếu một xung đột quân sự xảy ra, những giàn hỏa tiễn và vài chiến đấu cơ đó sẽ nằm trong đáy biển trong vòng vài phút. 



Tuy nhiên, với các quốc gia nhỏ trong vùng sự hiện diện của chúng là những đe dọa trực tiếp. Sự ràng buộc và phụ thuộc vào nhau trong quan hệ kinh tế thương mại vô cùng sâu sắc và phức tạp giữa các cường quốc trong giai đoạn toàn cầu hóa như hiện nay, khả năng rất thấp để Mỹ có thể can thiệp vào các xung đột giữa hai nước. 



Biết điều đó nên lập trường giải quyết xung đột của Trung Cộng từ trước đến nay vẫn là giải quyết song phương thay vì đa phương để nếu có leo thang cũng chỉ leo thang giữa hai nước. Không có liên minh quân sự, Việt Nam hay Philippines đều không phải là đối thủ của Trung Cộng. 



- Thiết lập một ‘status quo’ mới trên Biển Đông



Theo Andrew Chubb trong một phân tích khá chi tiết trên The Diplomat, The South China Sea: Defining the 'Status Quo', trước 2013, khái niệm ‘status quo’ rất ít được sử dụng. Phía Trung Cộng chẳng những không dùng mà còn kết án. 



Lý do? Trong tình trạng hiện nay của quần đảo Trường Sa, số lượng đơn vị đảo do Trung Cộng chiếm (5 đơn vị) vẫn còn ít hơn số đảo Việt Nam đang giữ (21 đơn vị). Đơn vị được xác định theo tiêu chuẩn đảo, vùng đá nổi hay vùng đá chìm. Nếu một ‘status quo’ chỉ dựa trong tình trạng hiện nay, chắc chắn không phải là một hiện trạng mà Trung Cộng muốn. 



Trung Cộng có ý định phá vỡ ‘status quo’ đang có để thiết lập một ‘status quo’ mới phù hợp với quan điểm bành trướng đã phác họa trong’đường lưỡi bò 9 đoạn’ và sau đó vào tháng 6 năm 2014 lại tự ý bổ sung thêm một đoạn nữa. Trung Cộng tuyên bố khoảng 90% Biển Đông thuộc về Trung Cộng và đó cũng là ‘status quo’ mới mà Tập Cận Bình đang nhắm tới.



Để thiết lập được ‘status quo’ mới đó, Tập Cận Bình đưa ra chủ trương gồm hai mặt. Mặt đối ngoại, Tập Cận Bình kêu gọi các bên tranh chấp tự chế các hành động quân sự và giải quyết mọi xung đột bằng các phương tiện hòa bình; mặt đối nội, họ Tập chỉ thị cấp tốc quân sự hóa các vùng đã chiếm được. 



Thoạt nghe, hai mặt, vừa thảo luận hòa bình mà vừa lại quân sự hóa, dường như mâu thuẫn. Không, với họ Tập chủ trương hai mặt lại hổ trợ cho nhau một cách hữu hiệu. Các cường quốc cũng như các nước đang tranh chấp khó có một phản ứng thích hợp trước các hành động bành trướng ngang ngược của Trung Cộng.



Tập Cận Bình thúc đẩy ‘status quo’ mới không chỉ bằng số lượng đảo chiếm được hay mở rộng vùng biển rộng mà còn qua mức độ của việc xây dựng các đảo nhân tạo, phi trường, công trình dân sự, quân sự. Những khai triển này bị Mỹ kết án là vi phạm ‘status quo’. Lãnh đạo Trung Cộng lý luận việc xây dựng các phương tiện dù dân sự hay quân sự cũng chỉ xây dựng trên ‘lãnh thổ’ Trung Quốc như họ đã làm từ nhiều năm nay chứ không xâm phạm lãnh thổ của quốc gia nào và lập đi lập lai sẽ không dùng các phương tiện này để xâm lược các quốc gia khác. 



Kết luận



Đáp lai những phê bình của Ngoại Trưởng Mỹ John Kerry, Ngoại Trưởng Trung Quốc Vương Nghị mới đây nói rằng việc Trung Quốc phối trí quân sự trên Biển Đông cũng không khác gì Mỹ phối trí quân sự trong khu vực Hawaii. Câu nói ngang ngược và ngu xuẩn vì không có nước nào tranh chấp chủ quyền với một tiểu bang của Mỹ, nhưng phản ảnh chủ trương của Tập Cận Bình không chỉ lấn chiếm mà còn dân sự hóa, quân sự hóa lâu dài, nói rõ hơn để thiết lập một ‘status quo’ mới trên Biển Đông và đặt không chỉ riêng Mỹ mà cả thế giới trước một tình trạng đã rồi. 



Rất tiếc, như lịch sử thế giới đã chứng minh, các thay đổi ‘status quo’ về lãnh thổ đều dẫn đến chiến tranh. Con đường thoát duy nhất mà một nước nhỏ, trong trường hợp này là Việt Nam, phải chọn là thực hiện cho bằng được các điểm mà Trung Cộng né tránh và khai thác tối đa các điểm yếu của Trung Cộng, trong đó có (1) dân chủ và hiện đại hóa đất nước, (2) tập trung sức mạnh đoàn kết dân tộc, (3) nhanh chóng chiến lược hóa vị trí Việt Nam, (4) liên kết với các nước bất đồng quyền lợi với Trung Cộng, và (5) chuẩn bị chiến tranh bảo vệ tổ quốc.



27.02.2016


Trần Trung Đạo

Bài Học Giữ Nước Giữ Đất Của Người Pháp : Verdun


http://cdn.history.com/sites/2/2013/11/history-battle-site-verdun-H.jpeg

Đôi lời kính thưa quý bà con :
Tối thứ sáu 19 tháng 02 qua, Hội Sư tử-Lions Club của thành phố bạn Loudun, một thành phố nhỏ, cùng tỉnh Vienne của chúng tôi, chỉ cách nhà khoảng 130 cây số, mời chúng tôi Phan Văn Song, dự buổi tiệc gây quỹ xã hôi truyền thống hằng năm của Hội bạn, la Soirée Tête de Veau-Tiệc Thủ Bê (một món ăn rất bình dân Pháp - đầu con bê luộc với sốt chua-sauce gribiche một loại sốt có  vị  chua, nhậu  rất bắt rượu ! Cựu Thổng Thống Chirac rất mê món ăn bình dân nầy ! Hôm nay, vì tiệc gây quỹ, nên giá tuy khá mắc - 30€, nhưng chỉ độc nhứt một món nầy với rượu đỏ thôi - ai ăn không được đành chỉ bít-tếch khoai chiên thay thế). Phan Văn Song, chúng tôi được mời nói chuyện để đóng góp cho thêm phần xôm tụ. May quá, đầu đề tự do : Chúng tôi bèn xin phép cử tọa nói chuyện thời sự. Thời sự nóng là di dân tỵ nạn, chúng tôi bèn giới thiệu gốc gác tỵ nạn của gia đình chúng tôi nói riêng và của người Việt Nam nói chung. Thời sự nóng là khủng bố, chúng tôi bèn kể chuyện dân Miền Nam Việt Nam đấu tranh chống khủng bố cộng sản (mà giới truyền thông Âu-Mỹ đã và vẫn tiếp tục tước đoạt xuyên tạc mạ lỵ dưới tên Chiến tranh Việt Nam). Chúng tôi kể ngắn gọn qua những trận điển hình giữ nước của Mùa Hè Đỏ Lửa : từ An Lộc đến Quảng Trị. Lại càng thời sự hơn cũng là cùng dịp với ngày kỷ niệm 100 năm của Trận Verdun hào hùng của quân dân Pháp-ngày 21 tháng 02. Cơ hội để, mình so sánh Verdun Pháp, với cuộc chiến của quân dân cán chánh Việt Nam Cộng Hòa để giữ đất nước miền Nam Việt Nam. Mình nói chuyện không giấy và chỉ có 15 phút thôi. Sau đây mình xin kể với quý bà con chuyện Verdun. Riêng Bình Long Anh Dũng, Kontum Oai Hùng, Quảng Trị Vùng Lên mọi chúng ta ai ai cũng biết và trân quý cả rồi ! Xin khoe bà con tấm hình kỷ niệm với Bà Hội Trưởng dưới đây :
C:UsersPhan Van SongDesktopLion PVS à Loudun 2016-02-19.JPG

Trận Verdun : 303 Ngày Giữ Từng Tấc Đất.
Flanders
21 tháng 02 – 19 tháng 12 năm 1916 : 303 ngày.
2 triệu 300 ngàn quân nhơn tham gia : 2,2 triệu quân Đức, 1,1 triệu quân Pháp.
Tổn thất hai bên : 700 ngàn thương vong và mất tích. 306 ngàn tử vong : 163 ngàn quân Pháp, 143 ngàn quân Đức.
53 triệu quả pháo, 30 triệu pháo Đức, 23 triệu pháo Pháp trên một chiến tuyến rộng chỉ vài chục cây số vuông.
Kết cuộc : trở về vị trí chiến tuyến cũ trước trận đánh.
21 tháng 02, 1916 : 7 giờ 30, Đức mở đầu, bất ngờ, tấn công, mưa pháo liên tục: 1 triệu quả.   17 giờ 30 : tắt pháo, bộ binh Đức xung phong tiến công. Tàn quân tiền phương Pháp sống sót của Đại Tá Driant cầm cự tử thủ. Đoàn xung phong Đức dậm chơn tại chổ.
25 tháng 02 : Chiến lủy Douaumont thất thủ. Pháp lui mất 7 cây số và cũng cố thế thủ.
24 tháng 10 : Quân Pháp phản công, tái chiếm lại chiến lủy Douaumont. Sau  8 tháng đánh nhau hằng ngày : Pháp chết trên 100 ngàn quân. Nhưng đã chuyển từ thế thủ qua thế công.
19 tháng 12, 1916 : quân Đức hoàn toàn bị đẩy lui về vị trí chiến tuyến của 10 tháng trước. Tổng Tư lệnh Quân Đội Đức Von Falkenhayn bị bãi nhiệm từ tháng 8.
Đôi Lời Cám Ơn Hai Tác Giả Hai Bài Viết :
Sáng Chúa Nhựt 21 tháng 2 năm 2016 : hai bài viết trên mạng đầu ngày đã thôi thúc chúng tôi tham gia kêu gọi thức tỉnh đồng bào Việt Nam cảnh giác nguy hiểm do ngoại xâm.
Một bài của anh nhà báo Bùi Bảo Trúc tựa đề là « Cám ơn ông giáo Nguyễn Duy Khánh » và một bài của chị nhà báo Lê Phan tựa đề là « Thừa nước đục thả câu ».
Chúng tôi xin phép, với bài tường thuật trận đánh Verdun của Pháp trong Đệ nhứt Thế chiến, được cùng góp một ý kiến, kêu gọi và cảnh giác mọi người Việt chúng ta phải tỏ thái độ đối với ngoại xâm Tàu.  Sau đây, xin phép nhị vị nhà báo được trích những giòng đã gây sự chú ý cho chúng tôi :
Với bài « Cám ơn nhà giáo Nguyễn Duy Khánh », anh Bùi Bảo Trúc kể cho chúng ta biết :
« …Hôm 17 tháng 2 vừa qua, trước khi giảng bài thường lệ, ông hỏi các học sinh trong lớp rằng trong tháng 2, có một ngày quan trọng nào trong lịch sử Việt Nam đáng ghi nhớ không, thì tất cả các học sinh của ông đều trả lời là không biết…
Nhưng ông thấy rất đau khi tất cả các học sinh của ông đều không biết ngày 17 tháng 2 năm 1979ngày đã diễn ra một cuộc chiến ngắn ngủi nhưng vô cùng tàn khốc ở vùng địa đầu của Việt Nam, nơi tiếp giáp với Trung Quốc. Trong ngày 17 tháng 2 năm 1979 đó, đã bùng nổ một loạt những trận đánh khốc liệt của quân đội Trung Quốc nhắm vào, không phải một, mà là nhiều thành phố của Việt Nam. Những loạt tấn công này kéo dài trong một thời gian tương đối ngắn, khoảng một tháng, nhưng sau đó vẫn còn những trận giao tranh lẻ tẻ giữa hai bên trong suốt 10 năm kế tiếp. Con số thương vong lên đến hai ba chục ngàn người...  Nhà cầm quyền Việt Nam đã ém nhẹm mọi chuyện, không hề nhắc tới cuộc chiến này trong rất nhiều năm. Bằng cớ là các học sinh trong lớp của ông giáo Nguyễn Duy Khánh, những em ở những lớp tương đối là khá lớn (lớp 9 và lớp 10) đều chưa một lần nghe nói về cuộc chiến ấy...
Các binh sĩ Trung Quốc, mà theo chính những tài liệu của họ, được lệnh là giết hết những người Việt Nam mà họ gặp trên lãnh thổ Việt Nam. Và các binh sĩ này đã làm đúng các chỉ thị đó. Mục tiêu tàn sát ấy không phải chỉ là các binh sĩ Việt Nam, mà còn là những thường dân tại các khu vực Trung Quốc tấn công. Giải phóng quân Trung Quốc không chỉ bắn giết những người lính và các thường dân Việt Nam các vùng này, mà bọn chúng còn thực hiện những hành vi vô cùng thâm độc khác. Chúng hãm hiếp tất cả các phụ nữ mà chúng gặp. Hãm hiếp xong, lính Trung quốc còn đâm chém giết các phụ nữ Việt, cắt vú, mổ bụng, phanh thây các nạn nhân rồi quăng xuống những giếng nước trước khi đổ thuốc độc xuống các nguồn nước này và rút đi... Những cảnh thương tâm và dã man ấy đã được nhà cầm quyền Việt Nam tìm đủ mọi cách để lấp liếm che dấu, xóa hết khiến cho hơn một thế hệ người Việt không hề biết tới những hành vi bạo ngược của bọn xâm lăng Trung Quốc…. »
Và nhà báo kết luận :
« Ông giáo Khánh là một người can đảm. Một người yêu nước can đảm. Ở Việt Nam ngày nay yêu nước cũng phải can đảm. Phải can đảm mới dám yêu nước. Ông đã phải ngó trước, ngó sau mới dám kể cho các học sinh của ông về cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Ngay việc tưởng niệm những người đã khuất đó cũng bị ngăn cấm, cũng bị phá hoại thì việc làm của ông giáo Khánh cần phải được ghi nhớ và cảm tạ…. »
Với bài viết « Thừa nước đục thả câu », Chị nhà báo Lê Phan báo cho chúng ta rõ rằng:
« Bộ Quốc Phòng Đài Loan tuyên bố hôm Thứ Tư là Trung Cộng đã cho đặt hai giàn hỏa tiễn địa không trên đảo Phú Lâm (Woody Island), vốn hiện nay dưới quyền kiểm soát của Trung Cộng nhưng đã được cả Đài Loan lẫn Việt Nam dành chủ quyền…
Hai giàn hỏa tiễn HQ-9 này được biết có khả năng tấn công cách bờ khoảng 125 km và có thể phá hủy phi cơ, hỏa tiễn tuần du, và hỏa tiễn đạn đạo...
Mục tiêu của Bắc Kinh là để xóa bỏ những dành chủ quyền ở nhiều quốc gia kể cả Việt Nam, Philippines, Indonesia và Malaysia. Và một phần trong cố gắng này của họ, họ đã biến ngay cả những bãi cạn mà bình thường không đáng kể thành những hòn đảo nhân tạo, đủ lớn để có một căn cứ quân sự trong khi dành chủ quyền trên các vùng biển quanh đó…. »
Và Chị Lê Phan rút kết luận :
« Đặt các giàn hỏa tiễn trên đảo Phú Lâm rõ ràng là làm gia tăng quan ngại. Những căn cứ mới này đã giúp Bắc Kinh thành lập một hệ thống vùng bảo vệ phòng không Adiz trên quần đảo Hoàng Sa….».
Cùng ngày 21 tháng 02 năm 2016 nầy, cũng là ngày nước Pháp, quốc gia cư ngụ của chúng tôi làm lễ kỷ niệm 100 năm ngày khởi đầu trận đánh Verdun, trận đánh khốc liệt, đẩm máu nhứt của Đệ Nhứt Thế Chiến.
Quý vị cùng thế hệ chúng tôi, sanh và lớn ở Sàigòn của chúng ta, khoảng những năm 1950, đều biết Công trường Chiến sĩ Trận vong Pháp của Đệ Nhứt Thế chiến. Với hình ảnh hai anh lính Pháp thời chiến ấy, tên Pháp gọi là Poilus (Dân râu xồm) nằm đầu đường Blansubé. Sau nầy, thời Cộng Hòa chúng ta, Công trường Chiến Sĩ Pháp bị đập bỏ thay bằng Công trường Con Rùa, đường Blansubé thành đường Duy Tân - cây dài bóng mát – với Đại học Luật Khoa, ngây ngất chờ em. Riêng phần gia đình chúng tôi, phía bên ngoại bầy con chúng tôi, dân bản địa Pháp, có lịch sử gia đình gắn bó với đệ nhứt thế chiến. Ông ngoại bà xã chúng tôi trong thế chiến 1  là một tuyên úy Tin lành có mặt tại nhiều mặt trận. Năm 1916, ông bị thương ngay trong tuần đầu tiên của trận Verdun. Suốt thời gian tham chiến, ông viết nhựt ký. Ngày nay, bà xã tôi, nhơn dịp 100 năm tưởng niệm cuộc thế chiến 1 đã sao chép vào blog kỷ niệm, mỗi ngày đúng trăm năm trước, những trang nhựt ký mô tả diễn biến cùng tâm trạng của ông cụ. Vì lẽ đó, chúng tôi  xin được viết về trận Verdun. Một trận đánh quyết liệt, tàn khốc, phung phí, hao tốn tài lực và nhơn sự, nhưng rút cuộc không làm thay đổi bộ mặt của cuộc chiến. Có chăng, và đó là bài học, là tấm gương, của tinh thần yêu nước của hai dân tộc Đức và Pháp. Và cái quan trọng là, với một giá rất đắt, dân quân Pháp đã một lòng yêu nước hy sanh, dám chết, đã bám đất giữ nước, không để mất một tấc đất.  
Viết cho Verdun gương sáng của quân dân Pháp một lòng giữ đất giữ nước, để trân quý tưởng nhớ gương sáng An Lộc, Quảng Trị của quân dân Việt Nam Cộng Hòa muôn thuở !
Đệ nhứt Thế chiến :
Bắt đầu ngày 28 tháng 06 năm 1914, tại Sarajevo, ngày nay là thủ phủ của quốc gia Bosnie-Herzégovine, thuở xưa ấy, nằm trong đất của Đế quốc Áo Hung, Đại công tước François-Ferdinand, Thái tử Habsbourg trị vì Đế quốc Áo Hung, bị một kháng chiến quân người serbe ám sát. Thế chiến 1 bắt đầu do Liên Minh ba Đế quốc : Đức, Áo Hung, và Ottoman-Thổ khai chiến chống Liên Minh Nga, Anh, Pháp, Ý và Serbie.
Suốt những năm 1914/1915, cuộc chiến cù cưa. Những trận chiến hoặc bằng những tấn công, khi tiến lúc thối, di chuyển đều thất bại. Nay, chuyển qua cuộc chiến giành đất chiếm chổ. Năm 1915, trên mặt trận miền Tây (biên giới Đức/ Pháp Bỉ, còn miền Đông, biên giới Đức Áo/Nga), các trận do quân Anh Pháp tạo ra như  những trận ở Champagne, ở Artois vào tháng 5 tháng 6 hay trận đánh vào mùa thu cũng ở Champagne cũng chỉ giành tới giành lui vài trăm thước đất, có khi còn ít hơn nữa mà rất hao hụt binh sĩ, nướng quân, giết tướng.
Verdun : về mặt chiến lược, thành phố Verdun một công sự chiến đấu khá vững chắc, với hai chiến lủy kiên cố, Douaumont và Vaux tiền phương trấn mặt, cùng với những đồi cao chiến lược ngự thành một chiến tuyến. Tuy kiên cố với thành trì xây chắc, nhưng lại để trống ba mặt dễ bị tấn công, nhưng cũng dễ phòng vệ. Về mặt tiếp vận, Verdun rất yếu, một thiết lộ dễ dàng bị cắt đứt, một con đường huyết mạch - về sau nầy được Tướng Pétain biến thành là con đường Thánh Lộ-La Voie Sacrée, liên tục tiếp liệu mặt trận, thoạt đầu chỉ là một con đường liên tỉnh chật hẹp.
Tướng Von Falkenhayn, Tổng Tư lệnh Liên quân Đức Áo của  mặt trận miền Tây, là một Tướng pháo binh, nghĩ rằng pháo kích sẽ làm hao binh tổn lính của Pháp, về cả tinh thần lẫn nhơn sự và sẽ phá vỡ sức kiên cố của Verdun, mở cửa ngõ để vào Paris. Cả Tướng Joffre, Tổng Tư Lệnh Quân đội Pháp cũng lơ là Verdun, nghĩ rằng Verdun với những thành trì đồi núi kiên cố tự nhiên sẽ là những cản trở cho sức tiến công của địch. Và nghĩ rằng nếu Đức tấn công, thì sẽ xua qua sông ở phía bắc chiến tuyến, vượt sông Somme, thẳng đồng bằng đi Paris. Do đó, Joffres dồn binh và gom quân họp lực cùng lực lượng của hoàng gia Anh bên tả  ngạn sông Somme, bỏ ngõ Verdun, cho rằng Verdun với những đồn lủy Douaumont, Vaux và những đồi núi sẽ đủ sức cản mủi bộ binh Đức. Quên rằng Đức cay cú, muốn chiếm lại Verdun, vì trong cuộc chiến Đức Pháp năm 1870, Đức đã sở hữu Verdun rồi, nhưng phải trao lại cho Pháp năm 1973 theo hoà ước 1870. (Pháp thua chiến 1870, và Đức được chiếm trọn hai vùng Alsace và Lorraine của Pháp, nhưng phải trả những chổ chiếm khác).
Trận Verdun : Von Falkenhayn hứa với Hoàng đế Đức, Guillaume II chỉ sử dụng rất ít bộ binh, chỉ dùng pháo thôi !  Đối với Von Falkenhayn, pháo kích sẽ nãn lòng quân dân Pháp, sẽ phá nát thành Verdun, đường đến Paris sẽ rộng mở sau một tuần pháo kích. Cuộc tấn công được Thái tử Đức Kronpritz lãnh đạo. (An Lộc cũng vậy! Pháo sẽ mở đường Việt Cộng vào Sàigòn!).
7 giờ 30 ngày 21 tháng 02, 1916 đột kích bất ngờ bằng mưa pháo ! 1 triệu quả liên tục trong 10 tiếng ! 17 giờ 30, tắt pháo, bộ binh xung phong tiến công với súng phun lửa.
Vì bất ngờ, trong vài ngày, quân Pháp thiệt hại nặng nề, mất 25 ngàn quân, lui quân 7 cây số. Nhưng với lòng quyết tử, với lòng yêu nước, cùng sức đề kháng chiến đấu của quân Râu xồm – les Poilus (tên thân mật của binh sĩ Pháp) như ngay ngày đầu, nhóm quân tiền phương của Đại tá Driant, tuy bị bất ngờ, tuy bị tiêu hao nặng sau trận mưa pháo, vẫn suốt tối 21, và nguyên ngày hôm sau, ngày 22, trên ngọn đồi của rừng Caures, nhóm sống sót nầy, đã quần thảo, đánh du kích, làm chậm lại cuộc tiến công của quân Đức. Sức cản trở, làm dặm chưn tại chổ của quân Đức, giúp cho phòng tuyến Verdun có thời gian tổ chức tử thủ. Ngày 25, tuy chiến lủy Douaumont mất, nhưng sức tiến của quân Đức cũng khựng hẳn lại. Pháp phải mất 9 ngày để tái phối trí. Nhưng nhờ sức đế kháng của nhóm cảm tử tiền quân, quân Pháp đã cho 9 ngày quý giá ấy để Verdun đủ thời gian tổ chức phòng thủ.  
Ngày 25, Tướng Pétain được Tướng Joffres bồ nhiệm làm Tư lệnh mặt trận. Tướng Pétain, là Bộ binh, nên đám Bộ binh Pháp lên tinh thần. Pétain cho cũng cố những thành trì, công sự còn lại và cho xây con lộ huyết mạch tiếp vận. Con đường Thánh Lộ-La Voie Sacrée, con đường tiếp tế dài 56 cây số, được Pétain ra lệnh bằng mọi giá, phải mở rộng, sửa sang, làm sao cho 3 ngàn chiếc vận tải (1 chiếc mỗi 15 giây) liên tục ngày đêm tiếp tế đạn dược (50 ngàn tấn một tuần), lương thực, thuốc men, tải thương và quân viện (90 ngàn quân một tuần). Văn hào Maurice Barrès đặt tên con đường huyết mạch tiếp vận nầy là Thánh Lộ-La Voie Sacrée.
Ngày 6 tháng 03, Von Falkenhayn tung một cuộc tấn công quy mô thứ hai, vào phía trái chiến tuyến. Quân Pháp, thiệt hại nặng, nhưng co cụm, giữ được độ cao 304 và đồi Mort Homme.
Ngày 10 tháng 04, quân Đức tung tất cả lực lượng đánh cả hai mặt chiến tuyến. Pétain vẫn giữ thế thủ. Joffres không hiểu ý Pétain - hay ganh tỵ ? Vì Pétain rất được quân dân mến chuộng, Joffres bèn tước quyền Pétain, thay bằng Tướng Nivelle, thăng chức Pétain thêm một sao và phong lênTư Lệnh Quân đội Miền Trung. Được lệnh Joffres tấn công, Nivelle ra lệnh cho Phó Tướng là Tướng Mangin tái chiếm Douaumont : 3 ngày : 22 đến 24  tháng 05, thất bại. Và mất luôn chiến lủy Vaux. Sau 5 ngày tử chiến, từ 2 đến 7 tháng sáu. Quân phòng thủ, do Thiếu tá Raynal cầm đầu, hết đạn, hết lương, buông súng. Quân Đức thắng trận, quân tử, bái phục, lập giàn chào quân Pháp đầu hàng. Ngày hôm sau, ngày 8, Tướng Nivelle tổ chức tái chiếm Vaux, Vẫn thất bại ! (Chiến lủy Vaux được tái chiếm đêm 2 rạng 3 tháng 11, không một phát súng. Đức bỏ ngõ, vì giữ Vaux vô ích !)
Nhưng trái lại từ ngày 23 tháng 06 đến ngày 11 tháng 07, Đức tung toàn hết lực lượng quyết chiếm Verdun. Chiến lủy Souville, sức cản cuối cùng của Verdun cầm cự, tử thủ, quân Đức bị chận đứng hẳn ngày 12.
Lý do là quân Anh Pháp đã mở mặt trận thứ hai ngày 01 tháng 07 ở phía Bắc chiến tuyến, tràn qua sông Somme tấn công cánh mặt quân Đức Áo. Và từ đó Pháp Anh lấy lại chủ động và phản công. Von Falkenhayn, thất bại, chủ quan,  bị cách chức vào tháng 08.
Douaumont được tái chiếm ngày 24 tháng 10. Mất ngày 25 tháng 02. Tái chiếm ngày 24 tháng 10. Tám tháng ròng rã chiến đấu, trên 100 ngàn quân thiệt mạng, quân Pháp lấy lại gần hết những phần đất đã mất. Ngày 19 tháng 12, quân Pháp tái chiếm toàn bộ chiến tuyến đầu năm 1916, trận Verdun chấm dứt.
Và Việt Nam ?:

1
Chừng nào Việt Nam mới dám làm lễ tưởng niệm và truy điệu, ghi ơn các tất cả các chiến sĩ và người dân đã bỏ mình chống Tàu, giữ đất, giữ biển, giữ đảo chống ngoại xâm phương Bắc ?
Hãy tưởng nhớ, trân quý, tri ơn :
Các anh hùng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa tử tiết với Hoàng Sa tháng Giêng 1974 ? Các anh hùng tử sĩ Dân quân và Quân đội Nhân Dân Việt Nam đến nợ nước để giữ đất biên giới  Hoa Việt từ 1979 đến 1989 ? Các anh hùng Hải Quân Nhân Dân Việt Nam bị bức tử để giữ Trường Sa năm 1988 ? Các ngư phủ tiếp tục  bị tàu lạ, đâm chìm, bỏ mình để giữ biển giữ đảo choViệt Nam ?
Chừng nào ?
Hãy nhớ, nên nhớ, để toàn dân sẳn sàng giữ đất giữ biển, lấy lại Hoàng Sa và Trường Sa và Biển Đông đã mất !  
Hồi Nhơn Sơn, ngày 21 tháng 02 năm 2016,
Ngày tưởng niệm 100 năm ngày khai chiến Trận Verdun
Phan Văn Song
 

Bài Xem Nhiều