We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 29 February 2016

Bài Học Giữ Nước Giữ Đất Của Người Pháp : Verdun


http://cdn.history.com/sites/2/2013/11/history-battle-site-verdun-H.jpeg

Đôi lời kính thưa quý bà con :
Tối thứ sáu 19 tháng 02 qua, Hội Sư tử-Lions Club của thành phố bạn Loudun, một thành phố nhỏ, cùng tỉnh Vienne của chúng tôi, chỉ cách nhà khoảng 130 cây số, mời chúng tôi Phan Văn Song, dự buổi tiệc gây quỹ xã hôi truyền thống hằng năm của Hội bạn, la Soirée Tête de Veau-Tiệc Thủ Bê (một món ăn rất bình dân Pháp - đầu con bê luộc với sốt chua-sauce gribiche một loại sốt có  vị  chua, nhậu  rất bắt rượu ! Cựu Thổng Thống Chirac rất mê món ăn bình dân nầy ! Hôm nay, vì tiệc gây quỹ, nên giá tuy khá mắc - 30€, nhưng chỉ độc nhứt một món nầy với rượu đỏ thôi - ai ăn không được đành chỉ bít-tếch khoai chiên thay thế). Phan Văn Song, chúng tôi được mời nói chuyện để đóng góp cho thêm phần xôm tụ. May quá, đầu đề tự do : Chúng tôi bèn xin phép cử tọa nói chuyện thời sự. Thời sự nóng là di dân tỵ nạn, chúng tôi bèn giới thiệu gốc gác tỵ nạn của gia đình chúng tôi nói riêng và của người Việt Nam nói chung. Thời sự nóng là khủng bố, chúng tôi bèn kể chuyện dân Miền Nam Việt Nam đấu tranh chống khủng bố cộng sản (mà giới truyền thông Âu-Mỹ đã và vẫn tiếp tục tước đoạt xuyên tạc mạ lỵ dưới tên Chiến tranh Việt Nam). Chúng tôi kể ngắn gọn qua những trận điển hình giữ nước của Mùa Hè Đỏ Lửa : từ An Lộc đến Quảng Trị. Lại càng thời sự hơn cũng là cùng dịp với ngày kỷ niệm 100 năm của Trận Verdun hào hùng của quân dân Pháp-ngày 21 tháng 02. Cơ hội để, mình so sánh Verdun Pháp, với cuộc chiến của quân dân cán chánh Việt Nam Cộng Hòa để giữ đất nước miền Nam Việt Nam. Mình nói chuyện không giấy và chỉ có 15 phút thôi. Sau đây mình xin kể với quý bà con chuyện Verdun. Riêng Bình Long Anh Dũng, Kontum Oai Hùng, Quảng Trị Vùng Lên mọi chúng ta ai ai cũng biết và trân quý cả rồi ! Xin khoe bà con tấm hình kỷ niệm với Bà Hội Trưởng dưới đây :
C:UsersPhan Van SongDesktopLion PVS à Loudun 2016-02-19.JPG

Trận Verdun : 303 Ngày Giữ Từng Tấc Đất.
Flanders
21 tháng 02 – 19 tháng 12 năm 1916 : 303 ngày.
2 triệu 300 ngàn quân nhơn tham gia : 2,2 triệu quân Đức, 1,1 triệu quân Pháp.
Tổn thất hai bên : 700 ngàn thương vong và mất tích. 306 ngàn tử vong : 163 ngàn quân Pháp, 143 ngàn quân Đức.
53 triệu quả pháo, 30 triệu pháo Đức, 23 triệu pháo Pháp trên một chiến tuyến rộng chỉ vài chục cây số vuông.
Kết cuộc : trở về vị trí chiến tuyến cũ trước trận đánh.
21 tháng 02, 1916 : 7 giờ 30, Đức mở đầu, bất ngờ, tấn công, mưa pháo liên tục: 1 triệu quả.   17 giờ 30 : tắt pháo, bộ binh Đức xung phong tiến công. Tàn quân tiền phương Pháp sống sót của Đại Tá Driant cầm cự tử thủ. Đoàn xung phong Đức dậm chơn tại chổ.
25 tháng 02 : Chiến lủy Douaumont thất thủ. Pháp lui mất 7 cây số và cũng cố thế thủ.
24 tháng 10 : Quân Pháp phản công, tái chiếm lại chiến lủy Douaumont. Sau  8 tháng đánh nhau hằng ngày : Pháp chết trên 100 ngàn quân. Nhưng đã chuyển từ thế thủ qua thế công.
19 tháng 12, 1916 : quân Đức hoàn toàn bị đẩy lui về vị trí chiến tuyến của 10 tháng trước. Tổng Tư lệnh Quân Đội Đức Von Falkenhayn bị bãi nhiệm từ tháng 8.
Đôi Lời Cám Ơn Hai Tác Giả Hai Bài Viết :
Sáng Chúa Nhựt 21 tháng 2 năm 2016 : hai bài viết trên mạng đầu ngày đã thôi thúc chúng tôi tham gia kêu gọi thức tỉnh đồng bào Việt Nam cảnh giác nguy hiểm do ngoại xâm.
Một bài của anh nhà báo Bùi Bảo Trúc tựa đề là « Cám ơn ông giáo Nguyễn Duy Khánh » và một bài của chị nhà báo Lê Phan tựa đề là « Thừa nước đục thả câu ».
Chúng tôi xin phép, với bài tường thuật trận đánh Verdun của Pháp trong Đệ nhứt Thế chiến, được cùng góp một ý kiến, kêu gọi và cảnh giác mọi người Việt chúng ta phải tỏ thái độ đối với ngoại xâm Tàu.  Sau đây, xin phép nhị vị nhà báo được trích những giòng đã gây sự chú ý cho chúng tôi :
Với bài « Cám ơn nhà giáo Nguyễn Duy Khánh », anh Bùi Bảo Trúc kể cho chúng ta biết :
« …Hôm 17 tháng 2 vừa qua, trước khi giảng bài thường lệ, ông hỏi các học sinh trong lớp rằng trong tháng 2, có một ngày quan trọng nào trong lịch sử Việt Nam đáng ghi nhớ không, thì tất cả các học sinh của ông đều trả lời là không biết…
Nhưng ông thấy rất đau khi tất cả các học sinh của ông đều không biết ngày 17 tháng 2 năm 1979ngày đã diễn ra một cuộc chiến ngắn ngủi nhưng vô cùng tàn khốc ở vùng địa đầu của Việt Nam, nơi tiếp giáp với Trung Quốc. Trong ngày 17 tháng 2 năm 1979 đó, đã bùng nổ một loạt những trận đánh khốc liệt của quân đội Trung Quốc nhắm vào, không phải một, mà là nhiều thành phố của Việt Nam. Những loạt tấn công này kéo dài trong một thời gian tương đối ngắn, khoảng một tháng, nhưng sau đó vẫn còn những trận giao tranh lẻ tẻ giữa hai bên trong suốt 10 năm kế tiếp. Con số thương vong lên đến hai ba chục ngàn người...  Nhà cầm quyền Việt Nam đã ém nhẹm mọi chuyện, không hề nhắc tới cuộc chiến này trong rất nhiều năm. Bằng cớ là các học sinh trong lớp của ông giáo Nguyễn Duy Khánh, những em ở những lớp tương đối là khá lớn (lớp 9 và lớp 10) đều chưa một lần nghe nói về cuộc chiến ấy...
Các binh sĩ Trung Quốc, mà theo chính những tài liệu của họ, được lệnh là giết hết những người Việt Nam mà họ gặp trên lãnh thổ Việt Nam. Và các binh sĩ này đã làm đúng các chỉ thị đó. Mục tiêu tàn sát ấy không phải chỉ là các binh sĩ Việt Nam, mà còn là những thường dân tại các khu vực Trung Quốc tấn công. Giải phóng quân Trung Quốc không chỉ bắn giết những người lính và các thường dân Việt Nam các vùng này, mà bọn chúng còn thực hiện những hành vi vô cùng thâm độc khác. Chúng hãm hiếp tất cả các phụ nữ mà chúng gặp. Hãm hiếp xong, lính Trung quốc còn đâm chém giết các phụ nữ Việt, cắt vú, mổ bụng, phanh thây các nạn nhân rồi quăng xuống những giếng nước trước khi đổ thuốc độc xuống các nguồn nước này và rút đi... Những cảnh thương tâm và dã man ấy đã được nhà cầm quyền Việt Nam tìm đủ mọi cách để lấp liếm che dấu, xóa hết khiến cho hơn một thế hệ người Việt không hề biết tới những hành vi bạo ngược của bọn xâm lăng Trung Quốc…. »
Và nhà báo kết luận :
« Ông giáo Khánh là một người can đảm. Một người yêu nước can đảm. Ở Việt Nam ngày nay yêu nước cũng phải can đảm. Phải can đảm mới dám yêu nước. Ông đã phải ngó trước, ngó sau mới dám kể cho các học sinh của ông về cuộc chiến tranh biên giới năm 1979. Ngay việc tưởng niệm những người đã khuất đó cũng bị ngăn cấm, cũng bị phá hoại thì việc làm của ông giáo Khánh cần phải được ghi nhớ và cảm tạ…. »
Với bài viết « Thừa nước đục thả câu », Chị nhà báo Lê Phan báo cho chúng ta rõ rằng:
« Bộ Quốc Phòng Đài Loan tuyên bố hôm Thứ Tư là Trung Cộng đã cho đặt hai giàn hỏa tiễn địa không trên đảo Phú Lâm (Woody Island), vốn hiện nay dưới quyền kiểm soát của Trung Cộng nhưng đã được cả Đài Loan lẫn Việt Nam dành chủ quyền…
Hai giàn hỏa tiễn HQ-9 này được biết có khả năng tấn công cách bờ khoảng 125 km và có thể phá hủy phi cơ, hỏa tiễn tuần du, và hỏa tiễn đạn đạo...
Mục tiêu của Bắc Kinh là để xóa bỏ những dành chủ quyền ở nhiều quốc gia kể cả Việt Nam, Philippines, Indonesia và Malaysia. Và một phần trong cố gắng này của họ, họ đã biến ngay cả những bãi cạn mà bình thường không đáng kể thành những hòn đảo nhân tạo, đủ lớn để có một căn cứ quân sự trong khi dành chủ quyền trên các vùng biển quanh đó…. »
Và Chị Lê Phan rút kết luận :
« Đặt các giàn hỏa tiễn trên đảo Phú Lâm rõ ràng là làm gia tăng quan ngại. Những căn cứ mới này đã giúp Bắc Kinh thành lập một hệ thống vùng bảo vệ phòng không Adiz trên quần đảo Hoàng Sa….».
Cùng ngày 21 tháng 02 năm 2016 nầy, cũng là ngày nước Pháp, quốc gia cư ngụ của chúng tôi làm lễ kỷ niệm 100 năm ngày khởi đầu trận đánh Verdun, trận đánh khốc liệt, đẩm máu nhứt của Đệ Nhứt Thế Chiến.
Quý vị cùng thế hệ chúng tôi, sanh và lớn ở Sàigòn của chúng ta, khoảng những năm 1950, đều biết Công trường Chiến sĩ Trận vong Pháp của Đệ Nhứt Thế chiến. Với hình ảnh hai anh lính Pháp thời chiến ấy, tên Pháp gọi là Poilus (Dân râu xồm) nằm đầu đường Blansubé. Sau nầy, thời Cộng Hòa chúng ta, Công trường Chiến Sĩ Pháp bị đập bỏ thay bằng Công trường Con Rùa, đường Blansubé thành đường Duy Tân - cây dài bóng mát – với Đại học Luật Khoa, ngây ngất chờ em. Riêng phần gia đình chúng tôi, phía bên ngoại bầy con chúng tôi, dân bản địa Pháp, có lịch sử gia đình gắn bó với đệ nhứt thế chiến. Ông ngoại bà xã chúng tôi trong thế chiến 1  là một tuyên úy Tin lành có mặt tại nhiều mặt trận. Năm 1916, ông bị thương ngay trong tuần đầu tiên của trận Verdun. Suốt thời gian tham chiến, ông viết nhựt ký. Ngày nay, bà xã tôi, nhơn dịp 100 năm tưởng niệm cuộc thế chiến 1 đã sao chép vào blog kỷ niệm, mỗi ngày đúng trăm năm trước, những trang nhựt ký mô tả diễn biến cùng tâm trạng của ông cụ. Vì lẽ đó, chúng tôi  xin được viết về trận Verdun. Một trận đánh quyết liệt, tàn khốc, phung phí, hao tốn tài lực và nhơn sự, nhưng rút cuộc không làm thay đổi bộ mặt của cuộc chiến. Có chăng, và đó là bài học, là tấm gương, của tinh thần yêu nước của hai dân tộc Đức và Pháp. Và cái quan trọng là, với một giá rất đắt, dân quân Pháp đã một lòng yêu nước hy sanh, dám chết, đã bám đất giữ nước, không để mất một tấc đất.  
Viết cho Verdun gương sáng của quân dân Pháp một lòng giữ đất giữ nước, để trân quý tưởng nhớ gương sáng An Lộc, Quảng Trị của quân dân Việt Nam Cộng Hòa muôn thuở !
Đệ nhứt Thế chiến :
Bắt đầu ngày 28 tháng 06 năm 1914, tại Sarajevo, ngày nay là thủ phủ của quốc gia Bosnie-Herzégovine, thuở xưa ấy, nằm trong đất của Đế quốc Áo Hung, Đại công tước François-Ferdinand, Thái tử Habsbourg trị vì Đế quốc Áo Hung, bị một kháng chiến quân người serbe ám sát. Thế chiến 1 bắt đầu do Liên Minh ba Đế quốc : Đức, Áo Hung, và Ottoman-Thổ khai chiến chống Liên Minh Nga, Anh, Pháp, Ý và Serbie.
Suốt những năm 1914/1915, cuộc chiến cù cưa. Những trận chiến hoặc bằng những tấn công, khi tiến lúc thối, di chuyển đều thất bại. Nay, chuyển qua cuộc chiến giành đất chiếm chổ. Năm 1915, trên mặt trận miền Tây (biên giới Đức/ Pháp Bỉ, còn miền Đông, biên giới Đức Áo/Nga), các trận do quân Anh Pháp tạo ra như  những trận ở Champagne, ở Artois vào tháng 5 tháng 6 hay trận đánh vào mùa thu cũng ở Champagne cũng chỉ giành tới giành lui vài trăm thước đất, có khi còn ít hơn nữa mà rất hao hụt binh sĩ, nướng quân, giết tướng.
Verdun : về mặt chiến lược, thành phố Verdun một công sự chiến đấu khá vững chắc, với hai chiến lủy kiên cố, Douaumont và Vaux tiền phương trấn mặt, cùng với những đồi cao chiến lược ngự thành một chiến tuyến. Tuy kiên cố với thành trì xây chắc, nhưng lại để trống ba mặt dễ bị tấn công, nhưng cũng dễ phòng vệ. Về mặt tiếp vận, Verdun rất yếu, một thiết lộ dễ dàng bị cắt đứt, một con đường huyết mạch - về sau nầy được Tướng Pétain biến thành là con đường Thánh Lộ-La Voie Sacrée, liên tục tiếp liệu mặt trận, thoạt đầu chỉ là một con đường liên tỉnh chật hẹp.
Tướng Von Falkenhayn, Tổng Tư lệnh Liên quân Đức Áo của  mặt trận miền Tây, là một Tướng pháo binh, nghĩ rằng pháo kích sẽ làm hao binh tổn lính của Pháp, về cả tinh thần lẫn nhơn sự và sẽ phá vỡ sức kiên cố của Verdun, mở cửa ngõ để vào Paris. Cả Tướng Joffre, Tổng Tư Lệnh Quân đội Pháp cũng lơ là Verdun, nghĩ rằng Verdun với những thành trì đồi núi kiên cố tự nhiên sẽ là những cản trở cho sức tiến công của địch. Và nghĩ rằng nếu Đức tấn công, thì sẽ xua qua sông ở phía bắc chiến tuyến, vượt sông Somme, thẳng đồng bằng đi Paris. Do đó, Joffres dồn binh và gom quân họp lực cùng lực lượng của hoàng gia Anh bên tả  ngạn sông Somme, bỏ ngõ Verdun, cho rằng Verdun với những đồn lủy Douaumont, Vaux và những đồi núi sẽ đủ sức cản mủi bộ binh Đức. Quên rằng Đức cay cú, muốn chiếm lại Verdun, vì trong cuộc chiến Đức Pháp năm 1870, Đức đã sở hữu Verdun rồi, nhưng phải trao lại cho Pháp năm 1973 theo hoà ước 1870. (Pháp thua chiến 1870, và Đức được chiếm trọn hai vùng Alsace và Lorraine của Pháp, nhưng phải trả những chổ chiếm khác).
Trận Verdun : Von Falkenhayn hứa với Hoàng đế Đức, Guillaume II chỉ sử dụng rất ít bộ binh, chỉ dùng pháo thôi !  Đối với Von Falkenhayn, pháo kích sẽ nãn lòng quân dân Pháp, sẽ phá nát thành Verdun, đường đến Paris sẽ rộng mở sau một tuần pháo kích. Cuộc tấn công được Thái tử Đức Kronpritz lãnh đạo. (An Lộc cũng vậy! Pháo sẽ mở đường Việt Cộng vào Sàigòn!).
7 giờ 30 ngày 21 tháng 02, 1916 đột kích bất ngờ bằng mưa pháo ! 1 triệu quả liên tục trong 10 tiếng ! 17 giờ 30, tắt pháo, bộ binh xung phong tiến công với súng phun lửa.
Vì bất ngờ, trong vài ngày, quân Pháp thiệt hại nặng nề, mất 25 ngàn quân, lui quân 7 cây số. Nhưng với lòng quyết tử, với lòng yêu nước, cùng sức đề kháng chiến đấu của quân Râu xồm – les Poilus (tên thân mật của binh sĩ Pháp) như ngay ngày đầu, nhóm quân tiền phương của Đại tá Driant, tuy bị bất ngờ, tuy bị tiêu hao nặng sau trận mưa pháo, vẫn suốt tối 21, và nguyên ngày hôm sau, ngày 22, trên ngọn đồi của rừng Caures, nhóm sống sót nầy, đã quần thảo, đánh du kích, làm chậm lại cuộc tiến công của quân Đức. Sức cản trở, làm dặm chưn tại chổ của quân Đức, giúp cho phòng tuyến Verdun có thời gian tổ chức tử thủ. Ngày 25, tuy chiến lủy Douaumont mất, nhưng sức tiến của quân Đức cũng khựng hẳn lại. Pháp phải mất 9 ngày để tái phối trí. Nhưng nhờ sức đế kháng của nhóm cảm tử tiền quân, quân Pháp đã cho 9 ngày quý giá ấy để Verdun đủ thời gian tổ chức phòng thủ.  
Ngày 25, Tướng Pétain được Tướng Joffres bồ nhiệm làm Tư lệnh mặt trận. Tướng Pétain, là Bộ binh, nên đám Bộ binh Pháp lên tinh thần. Pétain cho cũng cố những thành trì, công sự còn lại và cho xây con lộ huyết mạch tiếp vận. Con đường Thánh Lộ-La Voie Sacrée, con đường tiếp tế dài 56 cây số, được Pétain ra lệnh bằng mọi giá, phải mở rộng, sửa sang, làm sao cho 3 ngàn chiếc vận tải (1 chiếc mỗi 15 giây) liên tục ngày đêm tiếp tế đạn dược (50 ngàn tấn một tuần), lương thực, thuốc men, tải thương và quân viện (90 ngàn quân một tuần). Văn hào Maurice Barrès đặt tên con đường huyết mạch tiếp vận nầy là Thánh Lộ-La Voie Sacrée.
Ngày 6 tháng 03, Von Falkenhayn tung một cuộc tấn công quy mô thứ hai, vào phía trái chiến tuyến. Quân Pháp, thiệt hại nặng, nhưng co cụm, giữ được độ cao 304 và đồi Mort Homme.
Ngày 10 tháng 04, quân Đức tung tất cả lực lượng đánh cả hai mặt chiến tuyến. Pétain vẫn giữ thế thủ. Joffres không hiểu ý Pétain - hay ganh tỵ ? Vì Pétain rất được quân dân mến chuộng, Joffres bèn tước quyền Pétain, thay bằng Tướng Nivelle, thăng chức Pétain thêm một sao và phong lênTư Lệnh Quân đội Miền Trung. Được lệnh Joffres tấn công, Nivelle ra lệnh cho Phó Tướng là Tướng Mangin tái chiếm Douaumont : 3 ngày : 22 đến 24  tháng 05, thất bại. Và mất luôn chiến lủy Vaux. Sau 5 ngày tử chiến, từ 2 đến 7 tháng sáu. Quân phòng thủ, do Thiếu tá Raynal cầm đầu, hết đạn, hết lương, buông súng. Quân Đức thắng trận, quân tử, bái phục, lập giàn chào quân Pháp đầu hàng. Ngày hôm sau, ngày 8, Tướng Nivelle tổ chức tái chiếm Vaux, Vẫn thất bại ! (Chiến lủy Vaux được tái chiếm đêm 2 rạng 3 tháng 11, không một phát súng. Đức bỏ ngõ, vì giữ Vaux vô ích !)
Nhưng trái lại từ ngày 23 tháng 06 đến ngày 11 tháng 07, Đức tung toàn hết lực lượng quyết chiếm Verdun. Chiến lủy Souville, sức cản cuối cùng của Verdun cầm cự, tử thủ, quân Đức bị chận đứng hẳn ngày 12.
Lý do là quân Anh Pháp đã mở mặt trận thứ hai ngày 01 tháng 07 ở phía Bắc chiến tuyến, tràn qua sông Somme tấn công cánh mặt quân Đức Áo. Và từ đó Pháp Anh lấy lại chủ động và phản công. Von Falkenhayn, thất bại, chủ quan,  bị cách chức vào tháng 08.
Douaumont được tái chiếm ngày 24 tháng 10. Mất ngày 25 tháng 02. Tái chiếm ngày 24 tháng 10. Tám tháng ròng rã chiến đấu, trên 100 ngàn quân thiệt mạng, quân Pháp lấy lại gần hết những phần đất đã mất. Ngày 19 tháng 12, quân Pháp tái chiếm toàn bộ chiến tuyến đầu năm 1916, trận Verdun chấm dứt.
Và Việt Nam ?:

1
Chừng nào Việt Nam mới dám làm lễ tưởng niệm và truy điệu, ghi ơn các tất cả các chiến sĩ và người dân đã bỏ mình chống Tàu, giữ đất, giữ biển, giữ đảo chống ngoại xâm phương Bắc ?
Hãy tưởng nhớ, trân quý, tri ơn :
Các anh hùng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa tử tiết với Hoàng Sa tháng Giêng 1974 ? Các anh hùng tử sĩ Dân quân và Quân đội Nhân Dân Việt Nam đến nợ nước để giữ đất biên giới  Hoa Việt từ 1979 đến 1989 ? Các anh hùng Hải Quân Nhân Dân Việt Nam bị bức tử để giữ Trường Sa năm 1988 ? Các ngư phủ tiếp tục  bị tàu lạ, đâm chìm, bỏ mình để giữ biển giữ đảo choViệt Nam ?
Chừng nào ?
Hãy nhớ, nên nhớ, để toàn dân sẳn sàng giữ đất giữ biển, lấy lại Hoàng Sa và Trường Sa và Biển Đông đã mất !  
Hồi Nhơn Sơn, ngày 21 tháng 02 năm 2016,
Ngày tưởng niệm 100 năm ngày khai chiến Trận Verdun
Phan Văn Song

Tiến Lên XHCN:Dân trí Việt có thấp?

Dân trí Việt có thấp?

Hình minh họa.
Hình minh họa.

Cuối năm 2015 Google Search công bố một loạt các “từ khóa” (key word) được tìm kiếm nhiều nhất trong năm tại mỗi nước. Dựa vào đó, dân tình Việt khẳng định rằng dân trí nước mình là vô cùng thấp, khi mà từ khóa đứng đầu là tên bài hát Vợ người ta, tiếp đến là hàng loạt các bài hát khác của ca sĩ trẻ Sơn Tùng MT-P và một số chương trình phim truyện truyền hình khác. Kết luận trên được rút ra vì đa số người so sánh với từ khóa tìm kiếm tại các nước khác như Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản… và hầu hết dân chúng các nước đó tập trung vào các vấn đề thời sự nóng hổi như ISIS, MERS hoặc ô nhiễm môi trường đất, nước. Thực ra thì bản thân tôi cho rằng những kết quả công bố như vậy chỉ mang tính chất “cho vui” chứ khó có thể rút ra được kế luận dân trí các nước thấp hay cao. Bởi vì cao/thấp thế nào thì cứ nhìn tổng thể sự phát triển của mỗi đất nước là quyết định được liền, không cần đến Google.

Tuy nhiên, tôi cho rằng đất nước mình là một đất nước rất hạnh phúc, khi mà người người nhà nhà quan tâm cực kỳ sát sao đến ăn chơi nhảy múa, ngắn gọn lại là “showbiz”. Họ cũng có một mối đoàn kết lạ lùng khi bàn tán về showbiz Việt. Có một sự việc mà  bất cứ ai ở Việt Nam cũng biết đó là cô ca sĩ, được mệnh danh là “Nữ hoàng giải trí Việt”, Hồ Ngọc Hà, đang bị lên án kịch liệt vì tội danh “cướp chồng.” Tôi cá rằng tên cô ca sĩ này cũng sẽ nằm ở top bảng xếp hạng tìm kiếm năm 2016. Phải nói thêm rằng, đa số người Việt rất “hóng” các vụ việc vợ chồng ghen tuông. Các bộ phim, clip, video về việc đánh ghen cướp chồng của các nhân vật vô danh được chia sẻ với tần số cực nhanh và mạnh, huống chi sự việc này liên quan đến một người nổi tiếng. Một ngày lướt facebook, báo mạng, trang tin thì 80% là về Hồ Ngọc Hà.

Đọc thì thấy vui lắm, các tay viết mổ xẻ dọc ngang, từ trong ra ngoài, từng chi tiết về các nhân vật trong cuộc, update tình hình trang mạng cá nhân còn hơn các sự kiện kinh tế chính trị trong, ngoài nước. Người đọc click vào xem càng nhiều, bài viết mới càng ra nhanh như điện. Ý kiến chung thì đa số dân tình xúm vào lên án cô ca sĩ, một số blogger có tiếng nói một chút thì thường nhân danh công lý xã hội đạo đức cổ xúy mọi người tẩy chay các nhãn hàng mời cô làm đại diện quảng cáo. Có kẻ “dửng mỡ” nhắn tin cho cả các cấp lãnh đạo, ban trung ương, văn hóa để “phế truất” cô ca sĩ khỏi thị trường âm nhạc Việt… Chung chung hiện trạng thì xã hội đang tán loạn nháo nhào với vô số các nhà đạo đức học hoạt động tích cực vì một xã hội “xanh-sạch-đẹp.”

Họ nói người nổi tiếng dính vào “scandal” có quá nhiều người hâm mộ, trong đó có các con nhỏ, chúng sẽ nhìn vào đó để học tập, gia đình xã hội sẽ đi về đâu? Các giá trị đạo đức tốt đẹp, thuần phong mỹ tục sẽ đi về đâu? Nên học tập nước Hàn khi các ca sĩ chỉ cần dính đến một scandal thì ngay lập tức sẽ bị tẩy chay chỉ trong một đêm. Việc họ quỳ xuống xin lỗi khán giả một cách thành khẩn còn chưa chắc đã nhận được sự thứ lỗi. Tôi công nhận đó là một luận điểm rất dân chủ, rất có trách nhiệm. Tuy nhiên nói một phải biết đến hai, thái độ như vậy ở người Hàn đã là một hệ thống văn hóa, không chỉ các ca sĩ diễn viên, mà các chính trị gia còn cúi đầu xin lỗi. Cũng cần phải nói rõ ràng, nếu cô Hồ Ngọc Hà có nói lời xin lỗi, thì người cô xin lỗi là fan của cô ấy, cứ không phải những kẻ đang ganh ghét chửi bới mình. Bởi hành động của cô, nếu có lỗi, là có lỗi với sự ủng hộ lâu dài của những khán giả luôn bên cạnh và yêu mến cô.

Nhưng trên hết, nếu các bạn tìm hiểu, sự gay gắt từ phía dân chúng tại nước Hàn Quốc không chỉ dừng lại ở vấn đề giải trí showbiz. Người trẻ, họ tham gia bất cứ cuộc tranh cãi lên án nào về mọi vấn đề của đất nước, kinh tế chính trị giáo dục. Và tất cả vì mục đích, quyền lợi của tương lai. Như tôi đã từng nhắc đến việc hàng ngàn sinh viên Hàn Quốc xuống đường giơ biển phản đối tổng thống vì ra chính sách “độc quyền” bộ môn lịch sử. Hay mới đây họ tập trung tại bức tượng “Thiếu nữ hòa bình”, tượng trưng cho các cô gái Hàn bị ép mua vui, làm nô lệ tình dục cho lính Hàn những năm Thế chiến thứ hai, để phản đối việc di dời tượng của chính phủ Hàn Quốc.

Vì thế tôi cứ mong, giá mà cái tinh thần nhiệt huyết hừng hực như vụ cô Hồ Ngọc Hà được thể hiện ở những vấn đề khác quan trọng hơn thế.  Gần gũi như kịch liệt nói “không” với thực phẩm, quán ăn bẩn tràn lan khắp đường phố, xa hơn chút nữa là nạn tham nhũng đang gặm nhấm từng cá thể, hay trong tương lai không xa, một cuộc cách mạng xanh, đỏ nào đó đòi quyền tự do dân chủ? Chợt nghĩ về một bộ phim tài liệu quay những hình ảnh xác thực nhất về cuộc cách mạng Cam tại Ukraine năm 2014 Winter on Fire: Ukraine’s Fight for Freedom. Người trẻ, già xuống đường ròng rã cả mùa đông không về nhà để thương thuyết bằng được với chính phủ thân Nga về những chính sách độc quyền, độc tài. Nhưng thật lòng mà nói, khi sự quan tâm của phần lớn tri thức trẻ tại đất Việt vẫn còn vẩn vơ ở những câu chuyện vô thưởng vô phạt như thế, thì hy vọng về một đất nước có sự đổi mới mãnh liệt vẫn còn là quá xa vời.

Chuyện Tình Tết Mậu Thân Quảng Ngãi



krigeundliebe


Tiếng súng nổ từ xa, dù lớn dù nhỏ, vẫn là chuyện thông thường không thắc mắc đối với dân Quảng Ngãi trong thời chiến tranh. Nhưng đêm nay, đêm mồng một Tết, tiếng súng nổ bên tai làm cả nhà tôi bàng hoàng. Không ai bảo ai đều giật mình thức giấc rồi chạy ào xuống nhà núp dưới chân cầu thang. Tiếng súng nổ gần quá, tôi nghe cả tiếng hô hoán: “Tiến lên!” giọng Bắc rặc của một người chỉ huy nào đó. Trời! Không lẽ mặt trận đang diễn ra trong thành phố? Tim tôi đập loạn xạ, dù mồ hôi vã ra, răng tôi vẫn đánh bò cạp. Tôi rúc vào lòng năm chị em gái và ba má của tôi. Tiếng khóc thút thít vì sợ hãi muốn oà ra nhưng tôi cố dằn lòng sợ địch quân nghe thấy.

Ầm! Một trái pháo kích rớt trúng nhà phía sau của tôi. Ngói bể rơi loảng xoảng, khói đạn bay mịt mù. Tôi chỉ kịp thét lên, ôm cứng lấy má tôi, hồn như bay khỏi xác. Đó là năm Mậu Thân 1968, lúc tôi 14 tuổi.

Sáng hôm sau, trời tỏ dần. Tiếng súng lớn đã vơi đi, nhưng tiếng trực thăng lại vần vũ trên bầu trời như ráo riết rót từng tràng đại liên vào mục tiêu nào đó. Dường như mặt trận đang dồn về một góc thành phố? Khu Cống Kiểu? Sông Trà Khúc? Hay toà  Hành Chánh tỉnh? Không ai đoán được chính xác, nhưng chắc chắn một điều là cộng quân đã rút lui và quân đội quốc gia đang làm chủ tình hình.

Cả nhà tôi hoàn hồn, cùng lên lầu xem căn phòng bị trúng đạn tối qua.

Đó là căn phòng sau, cách phòng khách phía trước một khoảng sân thượng, dành cho anh trai và chị đâu của tôi. Cũng may đêm đó anh đưa chị về thăm nhà, đi vắng, nên tránh được điều đáng tiếc có thể xảy ra. Đồ đạc trong phòng không hư hại bao nhiêu. Trái đạn đã xuyên thủng mái ngói, để lại một khoảng trống lớn và những vết lỗ chỗ trên trần nhà. Nắng buổi sáng xuyên qua chiếu những tia thẳng tắp trông như hào quang.

Sáng đó, cả nhà tôi chả ai thiết điểm tâm. Chồng bánh chưng, thẩu dưa hành củ kiệu vẫn im lìm nằm trên kệ tủ. Hộp bánh mứt mớ hạt dưa chị em tôi cũng không màng để ý. Cả nhà dồn hết về phía trước, lấp ló nơi cửa sắt lao xao nhìn thiên hạ tản cư. Người tay bế tay bồng, kẻ tay xách nách mang. Nét mặt ai nấy hằn nỗi kinh hoàng, mệt mỏi. Họ từ đâu tới vậy? Tại sao phải bỏ nhà đi? Đó là những câu hỏi tới tấp, dồn dập của đồng bào hai bên đường. Đang đánh lớn ở khu Võ Tánh? Dãy công chức gần trường Kim Thông? Có người còn quả quyết trường Kim Thông là nơi ẩn nấu của cộng quân khiến mọi người cùng túa ra bao con mắt đổ dồn về hướng đó.

Trường Kim Thông không xa lạ gì với những người trong tỉnh. Trường toạ lạc gần trung tâm thành phố, cách nhà tôi 15 phút đi bộ. Ngôi trường hai tầng lầu, kiến trúc vững chắc bằng xi măng cốt sắt, đã là nơi bị cộng quân chiếu cố làm bàn đạp tấn công toà Hành Chánh tỉnh. Nhưng sự việc đã không thành. Chúng rút về cố thủ chờ tiếp viện. Cuối cùng vẫn thất bại, bị kẹt khoảng mười lăm hai mươi tên trong đó.

Trực thăng của quân đội quốc gia liên tục hoạt động trên bầu trời trừng trị kẻ phá hoại sự an lành của đồng bào trong những ngày Tết. Đại liên, lựu đạn thi nhau nổ liên hồi. Nếu không có đoàn người tản cư, người ta có thể tưởng đó là tiếng pháo Xuân rộn ràng mừng năm mới.

Đoàn người càng lúc càng đông. Họ dắt dìu nhau đi tìm nơi ẩn trú. Có những người thân và ngay cả những người chưa quen, ba má tôi mời một số vào nhà. Chả mấy chốc nhà tôi đông nghẹt. Vừa người lớn cả trẻ em kể tới gần một trăm. Có hai em bé sinh đôi mới chào đời trong ngày giáp Tết cũng được mẹ bế chạy tản cư, ba má tôi ưu tiên dành căn phòng nhỏ ngay kế chân cầu thang cho gia đình của bé.

Buổi trưa, chảo lớn thường để nấu đường làm bánh mì được bắc xuống, ba má tôi đặt một chảo cơm. Chảo cơm dã chiến, nấu vội vàng, thiếu kinh nghiệm, lại dùng hai bao tải làm nắp nồi nên dở sống dở khê, nhưng cũng nói lên được tấm lòng mộc mạc của ba má tôi:

“Thương người như thể thương thân.

Người ta gặp lúc khó khăn đến nhà.

Đồng tiền bát gạo đem ra.

Rằng đây cần kiệm gọi là làm duyên”.

(Cũng chính ngay ngày này, lần đầu tiên tôi gặp một người về sau này trở thành đấng        lang quân của tôi. Tôi sẽ kể ở phần sau).

Buổi chiều, tình hình lắng dịu. Tiếng trực thăng, tiếng súng nổ đã ngưng bặt. Thỉnh thoảng lắm mới có vài tiếng lẻ tẻ thị oai. Lệnh giới nghiêm được ban hành nhưng vẫn không cản được một số người hiếu kỳ tò mò kéo nhau về trường Kim Thông xem xác cộng quân nằm xếp lớp dọc đường Võ Tánh. Những xác chết hầu hết còn non choẹt, mới mười sáu, mười bảy tuổi đầu đã bị đẩy vào miền Nam làm vật tế thần cho chủ nghĩa Cộng Sản. Bốn chữ: “Sinh Bắc Tử Nam” xăm lên những cánh tay quân cộng phải chăng là tự nguyện, hay đó chính là bảng án tử hình chụp lên những nạn nhân của chế độ? Ta hãy nghe những tiếng rên la đau đớn của những bộ đội bị thương cùng lời phân trần của tù binh xin tha sự chết. Tự nguyện ư? Chắc chắn là không! Chúng ta không lạ gì những danh từ hoa mỹ mà cộng sản thường dùng để che đậy dã tâm của họ. Mặt nạ cộng sản đã rớt xuống rồi sau biến cố 30.4.1975. “Tình nguyện thanh niên xung phong”, “Tình nguyện đi vùng kinh tế mới”, “Tình nguyện thi hành nghĩa vụ quân sự”,…v.v. và v.v….Còn bao thứ tình nguyện nữa, nhưng trên thực tế, chúng ta chỉ thấy một sự “tình nguyện” duy nhất là liều chết xông pha ra biển khơi, rừng sâu để thoát vòng kèm kẹp bạo tàn của cộng sản.

Buổi tối, mới chạng vạng, phố xá đã vắng hoe. Cuộc tấn công của cộng quân kể như hoàn toàn thất bại. Những mũi dùi đánh chiếm phi trường, sông Trà Khúc, đài phát thanh, toà Hành Chánh tỉnh cũng bị thua. Cộng quân bỏ lại hằng trăm xác chết. Giao tranh tạm kết thúc nhưng tình hình không bớt khẩn trương. Tất cả cùng đề cao cảnh giác, lo sợ một sự trả thù tối nay. Nhà tôi nhốn nháo đầy người nằm la liệt từ lầu trên cho đến nhà dưới. Tuy nhà chưa có hầm vững chắc, nhưng thấy đông người và vị trí nhà an ninh, không ảnh hưởng nhiều với chiến tranh, lòng tôi cũng an tâm.

Sáng ra, cái không khí nhộn nhịp của thành phố lại trở về. Nhưng không còn là sự rộn ràng hân hoan của những ngày Xuân. Mùi chiến tranh đã tràn ngập trong thành phố thể hiện rõ ràng qua những bao cát đen, đống cát cao ngất ngưỡng, những thanh gỗ và khung sắt trước sân nhà. Mọi người đang thi đua xây hầm chống đạn. Những căn hầm kiên cố, đen xì nằm vô duyên trong buồng ngủ, trong phòng khách, bên những cành mai vàng rực rỡ trổ hoa. Năm đó, mùa Xuân đã thực sự không đến với mọi nhà. Có người bực tức nói: “Trời đánh còn tránh bữa ăn. Sao ông Hồ nỡ đánh dân miền  Nam trong ngày trọng đại?!” Và có lẽ vì vậy ông bị trời phạt nên ông đã bị thua, rồi sau đó đau buồn và chết năm 1969.

Riêng nhà tôi, ba má tôi sống bằng nghề sản xuất bánh mì, bánh ngọt nên trong nhà luôn có sẵn hằng tấn bột. Những bao bột đó đã là cái bia chống đạn vững vàng kiên cố nhất. Ba má tôi chỉ mua gỗ, sắt kê trên những thùng phi làm sườn rồi chất bột lên trên. Nửa cửa tiệm nhà trước làm thành hai cái hầm rộng lớn. Xây hầm như vậy, mùa Đông, ba má tôi tránh được cơn lụt hằng năm làm ướt bột, và trước mắt là nơi trú ẩn an toàn nếu giao tranh tái diễn.

Nhưng cuối cùng mọi sự đã chẳng xảy ra như mọi người lo ngại. Thiên hạ chỉ thấp thỏm chờ đợi điều không bao giờ đến nữa. Mãi tới mùng 5, những khách tản cư tá túc trong nhà tôi đều lần lượt trở về. Một vài gia đình lo xa và mến cái không khí vui vẻ cởi mở của nhà tôi, ban ngày đi về, tối xin trở lại.

Trong số những người còn lưu luyến đó, dù không chú ý, tôi vẫn bị lôi cuốn bởi cái vẻ là lạ khác người của bà Liên và hai bố con ông cựu quận trưởng.

Bà Liên béo và tròn. Tuy không đẹp lắm nhưng tướng bà rất sang. Bà có nước da trắng ngần, đôi mắt sáng và làn môi mọng đỏ. Có lẽ nhờ cái miệng tươi nên bà ăn nói gây chú ý người xung quanh. Buổi tối, sau hôm thứ hai bà đến nhà tôi, bà tỏ ra thân tình với mọi người như quen từ lâu lắm. Bà đang cùng với các bà khác ngồi cạnh cửa hầm để bàn về bí quyết hạ những con tình địch. Bí quyết xỏ mũi các ông chồng. Câu chuyện dường như hào hứng lắm, nên lâu lâu tôi lại nghe các bà cười rủ ra. Tôi mon men lại gần rồi lắng nghe bà nói:

– Này, các chị biết không, tục ngữ Việt Nam có câu: “Dạy con từ thuở còn thơ. Dạy vợ từ lúc ban sơ mới về”. Câu tục ngữ này lời lẽ tuy hàm ý nhắc nhở các đấng mày râu, nhưng chúng ta là đàn bà, nếu biết khôn ngoan, tại sao không lợi dụng tục ngữ đó để áp dụng với chồng ta chứ?!

Mọi người nhao nhao cười:

– Áp dụng cách nào hở bà?

Bà Liên lấy giọng tiếp:

– Mới về nhà chồng, cùng lúc chồng muốn dạy dỗ ta, thì ta cũng khéo léo nên ra tay trước, áp đảo tinh thần chồng, “dạy” cho chồng phải răm rắp tuân theo ý ta.

Nhiều bà tặc lưỡi:

– Eo ơi cái đó mới khó đa!

Bà Liên trợn mắt:

– Khó gì mà khó. Tôi đã áp dụng rồi và tôi đã thành công.

Rồi và hạ giọng:

– Chị em có biết vũ khí sắc bén vô cùng lợi hại của người đàn bà là ở chỗ nào không?

– Là nấu ăn giỏi?

– Không đúng lắm.

– Là sắc đẹp?

– Cũng không hẳn vậy.

– Là ăn nói dịu dàng mềm mỏng?

– Cũng không phải thế.

– Là đức hạnh đoan trang?

Bà Liên vẫn lắc đầu. Đợi mọi người im hơi lặng tiếng, có vẻ sốt ruột, trông ngóng, bà mới phán một câu:

– Đó là nước mắt!

Mọi người “à” một tiếng ngạc nhiên. Bà Liên giải thích:

– Xưa nay đàn ông con trai ai cũng sợ nước mắt đàn bà. Tục ngữ có câu:”Một trăm roi của người bố, không bằng một giọt nước mắt của người mẹ”, như thế đủ biết sức mạnh của nước mắt vô cùng. Ngay khi về nhà chồng, bí quyết chinh phục chồng chỉ nên bằng nước mắt. Gặp chuyện bất bình, đừng nói nhiều, đừng la lối, chỉ ứa hai giọt nước mắt thôi là chồng mềm lòng ngay. Muốn gì chả được!

Có người phản đối:

– Thôi bà ơi, “nước mắt giai nhân mới mềm lòng khanh tướng”, chứ nước mắt…”gia nhân” xấu xí như con ở của tôi đây, chỉ làm ổng bực mình thêm.

Mọi người cùng biểu đồng tình:

– Chị Hai nói có lý, có lý.

Bà Liên vẫn cương quyết:

– Nước mắt nào cũng giá trị tương xứng với đối tượng của nó. Giai nhân lẽ dĩ nhiên phải đi liền với khanh tướng. Còn gia nhân thì tương xứng với… với… gia nhân! Xin lỗi chị nhá, tôi không ám chỉ chị, nhưng tôi nói nước mắt người xấu thì mềm lòng chồng xấu. Có điều chị em mình có khóc, nên khóc cho đúng lúc đúng chỗ, chứ cứ…mè nheo khóc hoài thành nước mắt cá sấu cũng nhàm lắm, chồng chả sợ đâu.

Có người thắc mắc:

– Khóc thế nào gọi là đúng lúc đúng chỗ hở bà?

– Lúc là lúc chỉ có hai người với nhau. Còn chỗ thì không chỗ nào tác động mạnh bằng nơi buồng riêng của hai người.

Có tiếng thở dài:

– Cái kiểu nhõng nhẽo, quyến rũ này tui thấy xí xọn quá!

Bà Liên trợn mắt:

– Quyến rũ nhõng nhẽo gì! Đây là bí quyết để chồng chiều, chồng cưng mà.

Rồi lặng im một lúc, bà tiếp:

– Nhưng sau khi khóc xong, tức tốc phải nở ngay nụ cười. Chớ để cái mặt chằm dằm hãm tài trong nhà, không người chồng nào chịu nổi đâu.

Một người nhún vai:

– Bà làm như chúng tôi là kịch sĩ Kim Cương không bằng!

Bà Liên nhăn nhó:

– Việc đơn giản dễ dàng như thế, có gì phải nhờ tài Kim Cương?!

Nói xong, mặt mày bà đỏ hoe, rồi từ hai khoé mắt ứa ra hai giọt lệ lăn dài xuống má. Mọi người trố mắt ngạc nhiên, chưa rõ chuyện gì xảy ra, bà liền nhoẻn miệng cười, làm ai nấy cười lăn cười lóc…

Rồi câu chuyện chuyển sang đề tài mới: Chuyện những con tình địch!

Bà Liên tóm tắt:

– Nói chung, đối với chồng, mình phải là nàng tiên hiền dịu. Chỉ với con tình địch mình mới là ác quỷ.

Mọi người lại nhao nhao:

– Phải trị nó bằng cách nào hỡ bà?

Bà Liên từ tốn:

– Vào trận tình cũng như vào trận giặc. Trước tiên, mình phải tìm hiểu đối phương. Tri kỷ tri bỉ, biết mình biết người, trăm trận trăm thắng…

Mọi người sốt ruột, chăm chú đợi bà nói tiếp.

– Nếu nó là loại nai vàng ngơ ngác, con nhà tử tế bị chồng mình gạt, mình phải kín đáo cho nó biết để tự nó rút lui.

– Nếu nó không tự rút lui? Một người hỏi.

– Nếu nó không tự rút lui, tức là nó đang tuổi khát tình, phải nhờ anh hoặc em trai mình nhảy vô cua nó. Nhớ bố trí cho chồng mình thấy nó lăng nhăng để ổng chán mà bỏ nó.

– Nếu ổng không chịu bỏ nó?

– Ổng không chịu bỏ nó, nó cũng không chịu rút lui, thì mình thẳng tay tàn phá nhan sắc nó!

Nói đến đây, mặt bà Liên đằng đằng sát khí. Mắt bà mở to, môi bà mím lại, bà nghiến răng trèo trẹo:

– Phải xăng, nhớt, dầu hôi trộn với tiêu, tỏi, ớt, pha với chút a-xit thôi, tạt thẳng vào mặt nó. Sau một ngày, cái mặt rỗ chằng rỗ chịt như ác quỷ của nó có húc vào chồng mình, thì ổng cũng chạy thôi. Nhưng phải nhớ một điều, là mọi hành động của mình đều thuê du đãng hay người khác làm, tuyệt đối đừng để cho chồng biết. Với chồng, mình phải luôn là nàng tiên mới được.

Một người tặc lưỡi:

– Làm vậy ác quá, tui không làm được!

Kẻ khác:

– Bà bình tĩnh sử dụng kế tài tình còn hơn cả Hoạn Thư. Chứ tui chỉ nghe ổng có mèo là xỉu rồi!

Bà Liên như vậy đó. Tuổi sồn sồn trên dưới 50 nhưng cách nói chuyện ồn ào vui nhộn như trẻ con, vô tình làm nổi bật ông Long, cựu quận trưởng, tuy mới 28, 29 tuổi lại đi đứng ăn nói đĩnh đạc như ông già. Ông tản cư đến nhà tôi cùng lúc với cụ Điển, thân phụ ông. Cả hai đều có chiều cao khá đặc biệt, luôn đập vào mắt tôi. Thật ra, cái chiều cao 1 mét 73 đối với người đàn ông không lấy gì là cao lắm, nhưng chính cái độ quá ốm của hai bố con làm chiều cao của họ tăng lên. Nhất là cụ Điển, chân tay cụ lều khều. Nếu có dịp để ý lúc cụ vén quần lội nước lụt, hai ống chân cụ ốm nhách như hai ống tre. Tuy nhiên, nhờ có hàm râu bạc dài, sắc diện hồng hào tươi nhuận, nên trông cụ quắc thước như một tiên ông. Phong độ cụ thư thái nhàn hạ, khác hẳn với “ông con” lại có nét phong trần gian khổ. Quanh năm suốt tháng ông con luôn mặt bộ bà ba đen bạc màu, đôi giày nhựa và cây súng rouleau luôn máng ở bên hông. Tuy tuổi chỉ hơn tôi trên một con giáp, nhưng cử chỉ điệu bộ của ông trang nghiêm chững chạc quá, nên chị em tôi coi ông như bậc cha chú, chẳng ai muốn gọi ông bằng “anh”, kể cả chị Thanh, chị lớn nhất của tôi, chỉ thua ông chừng dăm bảy tuổi.

Thực ra, cụ Điển không xa lạ gì với gia đình tôi. Cụ là hội trưởng Hiếu Hữu Hội những người Bắc di cư. Còn ba tôi làm thủ quỹ. Thỉnh thoảng tôi vẫn thấy cụ đến nhà tôi họp hành, bàn với ba tôi những điều của hội. Ngoài ra, cụ còn là thầy thuốc Đông Y từng bắt mạch kê đơn chữa trị những chứng bệnh phụ nữ cho chị em tôi. Sự đi lại khá thường xuyên đó khiến cụ để ý chị Thanh, rồi đánh tiếng với ba má tôi nhắm chị Thanh cho ông con của cụ, mặc dù chị em tôi chưa hề biết mặt Long bao giờ. Vào dịp Tết Mậu Thân tản cư đến nhà tôi là cơ hội thuận tiện nhất để cụ và chàng Long “nằm vùng” theo dõi tính nết chị Thanh.

Chị Thanh vốn ít nói. Tuy dung nhan không thuộc loại sắc nước hương trời, nhưng nhờ cặp mắt đẹp, tròn to, đen láy, và làn da trắng mịn màng, nên chị trông dễ thương. Chị Thanh nấu ăn giỏi. Tính tình đoan trang hiền hậu. Nếu cần một người vợ hết lòng hy sinh phục vụ chồng con, thì chị Thanh là số một. Oái oăm thay, cũng bởi chị hiền quá, lại hay rụt rè e lệ nên khi nghe có người để ý mình, chị mắc cỡ tránh né và không chịu tiếp xúc với “chú” Long. Còn chú Long cũng không phải là kẻ nói nhiều. Mỗi lần chú đến nhà tôi, trong khi cụ Điển cùng ba má tôi hàn huyên trò chuyện, chú chỉ mở sách ra đọc rồi lẳng lặng bỏ đi. Chú Long rất mê đọc sách.

Sau cuộc tổng tấn công của cộng quân, chú Long bị gọi tái ngũ. Chú phục vụ cho nhân dân tự vệ một thời gian rồi biệt phái làm Tỉnh Đoàn Trưởng Tỉnh Đoàn Cán bộ Phát triển Nông thôn Quảng Ngãi. Cứ mỗi tối, sau khi cơm nước xong, khoảng 8 giờ tối, chú hay đưa cụ Điển đến ngủ nhà tôi. Chú ngồi chơi một lát rồi lại lên cơ quan.

Hồi đó tôi chỉ mới 14 tuổi, còn quá nhỏ để hiểu chuyện giữa chị Thanh và chú. Nhưng một lần má tôi vô tình hỏi tôi:

– Cậu Long có ý hỏi chị Thanh làm vợ. Con nhận thấy cậu Long thế nào?

Tôi lè lưỡi, đáp không cần suy nghĩ:

– Thôi má ơi, đừng gả chị Thanh cho ông đó. Quanh năm suốt tháng ổng chỉ mặc một bộ bà ba đen dơ hầy!

Má tôi chỉ mỉm cười:

– Mầy biết gì mà nói!

Tôi phụng phịu:

– Con không biết sao má lại hỏi con?

Tuy ngoài miệng tôi phản đối, nhưng thâm tâm tôi vẫn thích bất cứ người nào khả dĩ trông đàng hoàng theo đuổi các chị tôi. Cái tính ranh mãnh của tôi đủ cho tôi…khôn ngoan không bỏ lỡ cơ hội vòi vĩnh các ông anh rễ tương lai chiều chuộng những điều tôi thích. Đó là lý do tôi ở bên cạnh chú Long nhiều và hết sức tự nhiên hơn chị Thanh. Ai cấm tôi đu cổ chú? Chú “dám” la rầy hoặc lớn tiếng với tôi không khi tôi trèo lên phá xe chú? Tất cả… tất cả… tôi được chú chiều chuộng. Còn gì thích bằng những ngày cuối tuần, dù thỉnh thoảng, được chú làm “tài xế” chở tôi, em tôi (tôi còn rủ thêm vài cô bạn hàng xóm đi chơi. Đi chơi mà được sự chấp thuận một cách vui vẻ của gia đình, được ăn mì Sông Vệ, được ngắm núi Cống Ông Nghè, được xa lánh thành phố đầy bụi bặm, được hít thở không khí trong lành từ những đồng ruộng bát ngát ở miền quê… Ừ, mà sao tôi không thấy chị Thanh đi chơi với chú Long? Tại chị mắc cỡ? Hay tại tôi đã đi giùm? Tôi cũng không biết nữa. Lắm lúc tôi thấy tình của chị và chú Long cứ như làm sao ấy, lạt hơn ao nước lã.

Rồi tôi lớn lên, tới cái tuổi dậy thì của người con gái, là lúc chị Thanh cất bước lên xe hoa về nhà chồng, nhưng không phải về nhà chú Long. Tôi không thắc mắc, cũng không tìm hiểu tại sao.

Chị Thanh đi rồi, chú Long vẫn cứ thường xuyên lui tới nhà tôi như thuở nào. Nhưng từ đó, tôi cũng bớt đi chơi với chú Long. Tôi e dè từng cái đụng chạm, ý tứ từng lời nói đến cái nhìn. Khoảng cách của tôi và chú như xa hơn, nhưng tư tưởng và cách suy nghĩ lại gần hơn. Tôi đương nhiên trở thành…người lớn để nói chuyện “người lớn” với chú. Cái khoảng cách trên một con giáp lần lần như xích lại, để một hôm trời thật đẹp, nắng rực sáng tràn ngập khắp vạn vật,  tôi còn nhớ rõ là buổi trưa hè. Cả nhà tôi đang say giấc ngủ, còn tôi đang cặm cụi bên chiếc bàn ngoài sân thượng giải quyết những bài tập toán cho kỳ thi Tú Tài phần một sắp đến. Chú Long xuất hiện, ngồi nhìn tôi thật lâu, rồi bạo dạn nắm tay tôi, nói nhỏ:

– Từ nay “em” đừng gọi “anh” bằng…chú nhé!

Tôi cười, đưa mắt nhìn vạt nắng đang trải dài trên sân thượng, vờ lắng nghe tiếng chim sẻ ríu rít trên mái nhà hàng xóm, hỏi lại:

– Ơ… Không gọi bằng… chú thì gọi bằng… bác nhé?

Chú Long lắc đầu cười ý nhị:

– Sau này em sẽ là…vợ anh, xưng hô như thế đâu có được!

. . . . .

Và bây giờ tôi đã là vợ chàng, chia sẻ cùng chàng bao đắng cay ngọt bùi trong cuộc sống. Thời gian xa cách hơn mười ba năm sau biến cố đau thương 30.4.75 của đất nước, ngày đoàn tụ lại tại Thuỵ Sĩ, những lúc nhàn rỗi ngồi nghĩ lại chuyện đã qua, tôi hay đùa với chàng, nói một câu hết sức cải lương:

– Tình của mình rõ như là tình trong khói lửa. Phải không… ch…à…a…ng ?

Trần thị Nhật Hưng

Đau lòng :Lại tiếng Việt ở hải ngoại

Lại tiếng Việt ở hải ngoại
Bùi Bảo Trúc

Tờ Herald Sun, một nhật báo ở Melbourne, trong số phát hành đề ngày 22 tháng 2 vừa qua cho biết trên các chuyến xe điện chạy giữa các trạm Victoria Gardens và St Kilda tức là trên tuyến 12, và tuyến 109 chạy giữa ga Box Hill và Port Melbourne, kể từ tuần trước, tiếng Việt đã được dùng trong các thông báo gắn trên các toa xe. Tuyến đường này chạy ngang qua khu Abbotsford, một khu có đông đảo người Việt sinh sống mà theo một tài liệu, thì cứ 10 người dân sinh sống ở đó thì có 1 người Việt. Đây là một tỉ số rất lớn.
Phải như bản tin này được đọc thấy trên báo trước năm 1975 khi chúng tôi còn đang du học ở Úc, Tân Tây Lan thèm nói, thèm đọc tiếng Việt, thèm nghe tiếng Việt, thèm gặp người Việt, thuở xa quê hương nhớ mẹ hiền... thì chúng tôi đã mừng vui biết là bao. Nhưng hôm nay, đọc bản tin này tôi giật bắn mình lên, vừa hoảng hốt, vừa lo sợ. Tôi nghĩ đến những tấm bảng viết bằng tiếng Việt ở Thái, ở Đài Loan, Hàn quốc, ở Nhật... với nội dung mang đầy nét nhục mạ người Việt. Nhẹ thì nhắc khi ăn buffet dừng lấy quá nhiều, ăn bao nhiêu lấy bấy nhiêu, đừng xả rác, khạc nhổ, nặng thì cảnh cáo máy thu hình chống trộm cắp đang hoạt động, tội ăn cắp sẽ bị nghiêm trị. Nặng hơn nữa thì nói thẳng người Việt hay ăn cắp trong siêu thị như tại một cửa tiệm ở Đài Loan. Tất cả đều được viết bằng tiếng Việt, bằng thứ chữ (quốc ngữ) do cố Alexandre de Rhodes góp công sáng chế và được các ông Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh,Tản Đà... nâng niu gìn giữ.
Chao ơi là thảm thương cho cái tiếng Việt, “chữ quốc ngữ, chữ nước ta, con cái nhà đều phải học, miệng thì đọc, tai thì nghe...” Cái tiếng Việt mà các cảnh sát viên Nhật ở thị trấn Yoshikawa và Saitama phải phái người sang tận Việt Nam để học, nhưng không phải là để đọc và thưởng thức văn chương của Đoàn Thị Điểm, Cao Bá Quát, Trần Tế Xương, Nguyễn Công Trứ, Phan Huy Vịnh, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng... mà là để thông dịch trong những cuộc điều tra những vụ trộm cắp mà những người Việt chiếm đa số những vụ phạm pháp ở Nhật hiện nay. Theo báo chí, trong số 1197 vụ trộm cắp ở Nhật trong năm qua thì có 814 là do người Việt phạm phải, tức là 68%.
Hỡi ơi, hình ảnh tốt đẹp mà các cụ Phan Bội Châu, Tăng Bạt Hổ, Cường Để... trong phong trào Đông Du trước đây, rồi mấy thế hệ du học sinh Việt Nam tạo được trong lòng người dân Nhật trong những năm 50, 60 và 70 đã trở nên tồi tệ như vậy rồi sao?
Tôi hốt hoảng và lo sợ, nghĩ là những tấm bảng trên những toa xe điện ở Melbourne nội dung cũng như những tấm bảng ở Nam Hàn, Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan... thì đau biết là bao nhiêu.
Tưởng tượng trên những toa xe điện, xe bus ấy xuất hiện những tấm bảng song ngữ Anh Việt nhắc nhở các hành khách một số chuyện mà người ta không thấy ở một ngôn ngữ nào khác thì chúng ta thấy thế nào? Không bằng tiếng Tây Ban Nha, không bằng tiếng Hàn, không bằng tiếng Nhật, không bằng tiếng Hoa... tất cả đều là những tiếng được rất nhiều người sử dụng.
Đó là những câu tiếng Việt như thế nào?
Những câu hỏi thăm đường tôi viết cho mẹ tôi hồi năm 1976 trong những tấm flashcards để mỗi khi ra đường ở Canada khỏi phải nói tiếng Anh bằng phương pháp... Trần Ra Hiệu?
Hay là những tấm bảng nội dung làm tởn hồn cả những người lăn lộn khắp ngang cùng ngõ hẻm của Sài Gòn năm xưa ?
Thí dụ đừng xả rác, đừng khạc nhổ, đừng phóng uế, đừng nói to, đừng nói chuyện về Việt Nam kiếm mối đem bạch phiến trở lại Úc kiếm tí tiền du lịch, buôn bán ma túy để đầu độc thanh niên Úc trả ơn cho quốc gia này đã cưu mang những người đến Úc tị nạn... biết bao nhiêu điều có thể viết trên những tấm bảng gắn trên những tấm biển gắn trên những toa xe điện và xe bus ở Melbourne.
Ở khu town house tôi ở có một tấm bảng viết bằng tiếng Việt cảnh cáo đừng đem những chiếc shopping carts vào trong khu. Đọc những dòng chữ Việt đó là thấy máu sôi lên. Tại sao không là những dòng chữ viết bằng tiếng Tây Ban Nha mà phải bằng “tiếng nước tôi, tiếng mẹ sinh từ lúc nằm nôi?”
Tôi chưa đọc được những tấm bảng trên những toa xe điện ở Melbourne nhưng vẫn mong nội dung của nó chỉ là để chỉ đường, lên xuống các ga, ấm ớ như mấy câu tôi viết cho mẹ tôi ở Toronto hồi mấy chục năm trước.
Chứ nếu không thì... đau lòng cò con lắm!

SỰ THẬT MẤT LÒNG :Dù có phải chết trở về VN "Bính Thân" 2016


Di Tản 1975 versus Trở Về 2016
Những người này bỏ nước ra đi dù có phải chết trên biển cả hơn là phải sống với VC.
Việc này chứng tỏ điều gì ???

Di Tản 1975

Trở Về Bính Thân 2016

 

Nguoi Viet ti nan CS, hay mo mat that to ma doc bai ngan duoi day: that tham thia va dau long !

      

HÃY MỞ MẮT TO MÀ ĐỌC - SỰ THẬT MẤT LÒNG


Một nhân viên chánh phủ liên bang cấp cao người Mỹ da trắng, y nói rằng:

Một mặt các người Mỹ gốc Việt hợp tác khăng khít (closely co-operate) về kinh tế và tài chánh với chế độ “kẻ thù” của các anh qua việc các anh đổ 18 tỷ đô la về Vietnam hàng năm qua ngã du lịch, chuyển ngân, du hí, và đầu tư (Note: Wells Fargo Bank có đủ tài liệu cấp cho GAO).

Mặt khác, một số tổ chức cộng đồng (a certain number of your community organizations) các anh nộp thỉnh cầu (petition) chánh phủ Mỹ xin dùng áp lực kinh tế với Vietnam để đòi cho các anh vài điều mà các anh có thể tự làm lấy, nhưng chính hành động của các anh (hợp tác kinh tế với chế độ thù nghịch) rồi các anh phản lại thỉnh cầu của các anh. Các anh là lũ hề (you, bunch of comedians)

Ông hỏi: "Trả lời tôi, các anh là loại người gì”? (Please answer me, what kind of people are you?)

Qua 2 tuần tôi mong đợi hồi âm của các bậc cao minh, uyên bác, nhưng không thấy. Tuyệt vọng! Tôi không còn tin người Việt nào đủ thông minh uyên bác có thể đối đáp lại người chửi xéo dân Việt tỵ nạn ta.

Như thế có nghĩa là toàn thể cộng đồng người Mỹ gốc Việt không có một ai cao minh uyên bác cả. Đau buồn thay hơn 4 ngàn năm văn hiến!!!. Tôi chỉ đọc thấy một vài bài chửi thề vô học thức, hạ cấp (low life, uneducated) và tất cả đều LẠC ĐỀ, không ai trả lời đúng câu hỏi. Bài nào lạc đề, tôi xóa bỏ ngay không thèm đọc cho là rác rưởi không đáng mất thì giờ.

Tiện đây tôi kể lại toàn bộ cuộc mạn đàm tại bữa cơm chung hôm nớ:

Cũng trong dịp Monthly-Neighborhood-Get-Together-Buffet Dinner này, một bà bác sĩ Sue (OB GYN) da màu chĩa vô “Chính BS Martin Luther King là người đã đấu tranh cho chúng tôi có nhân quyền, tự do, bình đẳng.Chúng tôi phải tự dành lấy bằng mạng sống.Chúng tôi không nộp thỉnh cầu tới chánh phủ như bản chất ỷ lại của các anh vừa làm. Các anh biết việc làm nào bẩn thỉu, các anh muốn người khác làm cho mình (Your dirty job you want somebody else doing it for you)”. Nếu không có BS King, người Mỹ gốc Việt các anh ngày nay chẳng khác gì người Tàu qua đây lao động đường xe lửa hoặc giặt ủi. Ai muốn có gì, phải tự tranh đấu dành lấy.

Ở Mỹ có câu nói không ai cho ai ăn cơm thí (There is no free lunch). Những người dân ở Việt Nam ươn hèn (coward rats) không dám tự mình dành lấy bình đẳng, tự do, nhân quyền. Nước Mỹ không thể cứu giúp một dân tộc ươn hèn (a nation full of coward rats) nếu họ không tự cứu họ trước (we only help those who help themselves)

Một ông khác là sĩ quan hải quân về hưu, nói:

“Tôi muốn nói cho các người bạn Mỹ gốc Việt các anh biết rằng chánh phủ Mỹ không đóng vai trò cảnh sát quốc tế (policeman of the world). Nước Vietnam bắt bớ giam cầm những người đối kháng là việc nội bộ của riêng họ. Các anh không thể thỉnh cầu chánh phủ Mỹ làm cảnh sát hoặc quan tòa buộc một nước có chủ quyền (a sovereign nation in power) thả những người đối kháng mà, ai có thể biết được, chính phủ nước đó cho họ là tội phạm.Các anh quá lạm dụng (abusive) quyền công dân Mỹ. Nhân đây tôi cho các anh biết, các người Cuba nói riêng hoặc Latinos nói chung, lực luợng cử tri, chánh trị và kinh tế của họ to lớn hơn các anh nhiều lần. Các chánh trị gia đều tiến sát gần (approach) họ. Họ chưa hề thỉnh cầu (petition) chánh phủ điều gì. Vì họ thông minh và thực tế hơn người Mỹ gốc Việt các anh (they are smarter and more realistic than you folks)--tức là chúng ta ngu hơn bọn xì--quả vậy.

Ngồi cùng bàn, ông Tom chủ văn phòng bất động sản Century 21, phát biểu: "Cũng như mọi cộng đồng thiểu số khác. Họ (người Việt) có 3 loại người:

* - Loại 1: loại cực kỳ thông minh đóng góp rất nhiều cho xứ sở này (their adopted land). Tôi biết có tới hàng ngàn người Việt là quân đội Mỹ cấp tá, BS, Kỹ Sư, Giáo Sư, Bác Học. Điển hình (a case in point) cách nay 6-7 năm tôi đã đọc Newsweek Magazine, ký giả lão thành (renowned journalist) George Wills viết 1 bài dài về 1 bà bác học Vietnam--ý ông nói Mme. Dương Nguyệt Ánh (Click here)

Nói rằng món nợ của bà đã trả cho nước Mỹ hoàn toàn đầy đủ, kể cả tiền lời (Your debt to America has been paid in full, with interest).

* - Loại 2: là bọn ích kỷ, cơ hội chủ nghĩa (selfish opportunists) những người dễ ghét--đáng khinh bỉ-- (despicable folks). Loại người này sẵn sàng bán linh hồn cho qủy dữ (they are ready to sell their souls to devils) trục lợi cá nhơn. 18 tỷ dollars Dr. George vừa nói là từ loại người này đổ vào Vietnam. Họ là những con cừu đen.

*- Loại 3: là loại ngu xuẩn nói nhiều làm ít (All-talk idiots). Họ ngu xuẩn tới nỗi không có lý trí. Họ nhu nhược ươn hèn, ỷ lại, lạm dụng quyền công dân. Họ ngu xuẩn đến nỗi không biết được rằng chánh phủ và nhơn dân Mỹ chỉ hành động việc gì có lợi chung cho đất nướcfr va nhơn dân Mỹ (common interest of America and the American people). Các thỉnh cầu của loại người này, nếu là tôi (Ông Tom) tôi ném ngay vào thùng rác.

Vợ chồng tôi nói với nhau: Ờ nhỉ. Người mình ngu thật đấy. Dinner Buffet đầu tháng 4 ni, mình không nên góp đồ ăn đến dự nữa. Làm người Việt nhục lắm. Chỉ muốn độn thổ thôi. Nghĩ thấy dại. Ghi tên vào Thỉnh Nguyện Thư làm dek gì! Thì tại mình ngu chúng biểu ăn cứt mình cũng ăn. Rồi mới hôm rầy có tên nào trong ban tổ chức dụ con nít ăn cứt gà còn tuyên bố rằng "Nếu ông Obama không có phản ứng hay hành động nào thích đáng (no reaction or appropriate action) cho bản thỉnh cầu, chúng ta sẽ đem 135,000 chữ ký cho đảng đối lập. À ra thế, mình chỉ là công cụ búp bế (puppets) của lũ idiots. Bi chừ chúng biểu 135,000 người có tên trong bản thỉnh cầu làm theo lời chúng dạy. Bút sa gà chết mà.

Ta là người chịu ơn chánh phủ và nhơn dân Mỹ quá nhơn đạo cưu mang chúng ta qua đây, gíúp đỡ ta bước đầu, tìm nơi ăn chốn ở, làm ăn gây dựng sự nghiệp. Khi có đủ lông cánh ta đem tiền bạc về bơm cho những kẻ mà do chính chúng đã gây ra cho chúng ta phải bỏ nước ra đi. Giờ đây ta còn để cho những người (Mỹ bình thường) nhìn ta như những con vật ghẻ lở, loài sâu bọ.

Hải Nguyễn

Bài Xem Nhiều