We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Saturday, 2 April 2016

Chủ đề không quên :LAO TÙ và VƯỢT BIỂN

LAO TÙ và VƯỢT BIỂN
 


Sài Gòn những năm cuối thập niên 70, nhà nhà vượt biển, người người tìm đường vượt biên. Dân Sài Gòn những năm đó có câu “Cây cột đèn có chân nó cũng đã đi rồi.” Đường biển thì đi bằng tàu, đường bộ thì vượt biên giới qua Cămbốt, Lào để đến Thái Lan. Những câu chuyện vượt biên vượt biển được truyền nhau bí mật, truyền cho nhau kinh nghiệm trong chỗ bạn bè, thân nhân ruột thịt. Nhưng cũng có những câu chuyện thương tâm bị cướp biển Thái Lan hãm hiếp, bắt về bán cho các động mãi dâm ở Thái. Năm 1979 có những chuyến đi “bán chánh thức”, người Hoa bị xua đuổi về Tàu. Người ta đóng ghe công khai, có những nguời dắt mối, mỗi đầu người 9 cây…những từ ngữ trở thành quen thuộc “Yanma Đầu Bạc” “ba lốc, bốn lốc” (block). Rạch Chanh ở Long An là một trong nhiều chỗ đóng ghe đi bán chánh thức. Có người bị gạt, cũng có người đi được, cũng có những chuyến bị “bán” và bể khi ra khỏi cửa sông làm mồi cho cá. Một dạo, có một chuyến đi bán chánh thức từ BiênHòa, đến khi vào sông Lòng Tảo bị bể tàu và người chết, xác nổi lên tấp vào bến phà Cát Lái, Nhơn Trạch, người ta đi vớt xác cũng có, mà người ta đi vớt của cũng không thiếu. SàiGòn vượt biên…những câu chuyện vượt biên không kém phần hấp dẫn như tiểu thuyết.
*
 Trốn tù ra trong những ngày cuối tháng sáu 1979. Đã hơn 4 năm cách ly thế giới bên ngoài, tinh thần tôi khủng hoảng và sợ sệt, tôi về tịnh dưỡng dưới quê nhà anh rể tôi vùng Rạch Kiến. Được vài tháng quen cách sống bình dân, tôi trở lên lại Saigon liên lạc được một số bạn bè cũ, biết được Phan văn Đuông thằng bạn cùng khóa chung TD5/TQLC, cũng lỳ đòn trốn trại tù như tôi nên tìm nhau để dựa lưng vào nhau, có tình đồng đội thì dù tiền tuyến hay hậu phương, dù trong lòng địch thì chúng tôi vẫn thấy an tâm hơn.
 
Len lỏi sống qua ngày, Đuông thi bơm hộp quẹt ga chợ Sai Gòn, tôi vá bánh xe đạp khu Hải Quân Công Xưởng, kiếm ăn, đồng thời nghe ngóng tin tức để tìm đường vượt biển. 
 
Vài tháng sau, gặp được Nguyễn văn Phải cũng khóa 4/71 bên Binh Chủng Nhảy Dù được VC thả về trước ba năm, bà mẹ già về quê để lại căn nhà nhỏ bên hông trường “Đại Học Sư Phạm”, thấy bạn bè không nơi nương tựa, Phải kéo một đám về cho tá túc hằng đêm, sau này có thêm Sơn, Lâm BĐQ tất cả độ khoảng trên dưới năm bảy thằng toàn là SQ trong 3 binh chủng TQLC,ND,BQĐ.
 
Ban ngày tủa ra đường kiếm ăn, đêm thì ghé lưng được vài ba tiếng, chúng tôi thường giành nhau chỗ ngủ trên gác gần máng xối, để khi đêm về có động tỉnh thì hồn ai nấy giữ, trổ máng xối chui ra mà chạy.
 
Tháng ngày trôi qua, ngoài cái đói và phập phòng lo sợ hàng đêm, những thằng trốn tù như tôi và Đuông phải nổ lực ráo riết tìm đường vượt biển.
 
Nghe Phải nói về tổ chức vượt biên của anh Sáu (Khoái Th/tá ND). Đuông và tôi thì trên răng dưới vế tìm đâu ra một, hai cây vàng mà đi? Nhưng tôi cũng bậm gan nhờ Phải hỏi dùm “đi trước trả sau” may ra thì anh Sáu đồng ý. Vài tuần sau, nghe được trả lời, còn một chỗ cho tôi đi trong chuyến “Chín Thu” 
 
Tôi không biết mặt anh Sáu nhưng tôi thằm phục môt vị đàn anh, cảm thông và giúp đỡ đàn em trong cảnh khốn cùng, như một tia sáng vươn lên hòa lẫn trong niềm hy vong. Vài hôm sau, ngày đổ bãi đã đến, tôi được anh Hai Nhất tới dẫn đi về Vĩnh Long. Trên xe đò, tôi tò mò hỏi:
 
- “Hai Nhất có phải tên thật của anh không? Và “Chín Thu” là ai? Mấy anh gọi nhau bằng ám danh tôi không hiểu ra tên ai hết”.
- Tôi là HSQ đàn em của anh Sáu, tôi thường hay đi trước nên mệnh danh Hai Nhất.
 
Tôi hỏi tiếp, như vậy còn Chín Thu, anh hai Nhất trã lời:
 
- Chín Thu là anh Th/tá Mai B.T, chồng cũ ca sĩ K. L, hiện anh đang giữ con “cá Lớn”, là bạn thân của anh Sáu, yên chí đi. 
 
Tôi thầm nghỉ số tôi quá ư là may mắn, tên Mai B.T vang bóng một thời nổi tiếng dân chơi của Biệt Đoàn…, nay được anh tới đón là điều không thể tưởng.
Tới Vĩnh Long đã chiều, anh Hai Nhất và tôi ăn vội dĩa cơm lót dạ, rồi đón xe lôi chạy thẳng về điểm hẹn... Tôi không còn nhớ rõ nơi nào, một căn nhà nhỏ độ vài mươi mét vuông, cạnh bờ rạch nhỏ , vào bên trong nhà, tôi ngã lưng trên chiếc võng sau nhà. Anh hai Nhất đi tìm người liên lac. Giờ phút đến theo dự trù khoảng độ 10 giờ đêm, tôi hồi họp chờ đợi, rồi 11 giờ tôi thấy anh hai Nhất lầm lũi trở về trong bực tức anh chửi thề “ ĐM.. thằng Chín Thu chỉ rướt đám Ca sĩ Ngọc M.., bỏ lại bên cánh mình “ Lòng buồn vô hạn, nhưng cũng an ủi ,vì đâu đã mất tiền, có lẽ đây là cách chơi của bậc đàn anh... Trong khoảng gần cuối năm 1979, chuyến vượt biên đầu coi như hoàn toàn thất bại, tôi lểu thểu trở lại Saigon . 
 
Thời điểm bấy giờ, vượt biên, vượt biển là đề tài chính. Lường gạc, lừa đảo lẫn nhau là chuyện bình thường. Vợ tôi khi tới Úc cũng cực khổ, cố gắng làm gởi tiên về gia đình nhưng chỉ đủ cho thằng em trai tuổi nghĩa vụ đóng tiền vượt biển. 
 
Đầu năm 1980, tôi tình cờ gặp anh Phan Thành Nam trước kia anh là Đ/úy trưởng phòng truyền tin Phủ Tổng Thống ở chung trại tù lúc còn ở Trảng Lớn, anh bây giờ đồng cảnh ngộ như tôi, nhưng anh may mắn hơn có được Chị Thu người vợ rất lanh lẹ và quán xuyến công việc mọi đàng. 
 
Anh Nam cho biết đã đóng tiền một chỗ đi rất tin tưởng,chiếc ghe đang kéo lên ụ tàu Cầu Rạch Ong sửa chữa, sẽ được xuống nước trong thời gian ngắn. Làm cách nào tôi đào ra 2 cây vàng để đưa cho chủ ghe để được có phần trong chuyến đi cùng anh Nam sắm tới. 
 
Tôi liên lạc với má vợ tôi thường xuyên, bà rất thương tôi, chạy lòng vòng vài chỗ hỏi mượn cho tôi đến khi vợ tôi gởi tiền về thì hoàn trã lại, cũng may có người bạn cùng xóm của vợ tôi cho mượn.
 
Được 2 cây vàng lòng mừng không diễn tả được, nhưng bấy giờ lại sợ bị mất tiền. Tôi đòi hỏi thấy chiếc tàu đồng thời được làm thủy thủ. Người chủ tàu đồng ý lời tôi. Khi đưa xong vàng, đi sâu vào nội bộ thì biết ra có 2 phe cánh đang giành giựt nhau làm chủ, một bên chủ máy và một nửa của chủ vỏ ghe.
 
Cuối cùng bên bỏ tiền mua máy tàu làm chủ, vì chủ vỏ ghe đã lấy quá nhiếu vàng. Tôi và anh Nam cũng may được hai bên đồng ý cho làm thủy thủ đoàn vì họ đang cần người chăm sóc chiếc ghe. Với tôi thêm một chỗ ngủ mới cho tôi thay đổi, trong thời gian di động. Tôi thường phụ thợ máy mỗi khi làm hộp số. Khi rảnh rổi thì tới nhà Diệp Phi Hùng tìm anh Sơn để học hỏi lý thuyết về cách lái ghe, khi gặp sóng biển lớn, và những ký hiệu phao nỗi ngoài cửa biển. Anh Sơn chỉ vẽ rất tân tình vì trước kia anh là dân lái gian thuyền PCF, anh Sơn luôn căn dặn:
 
- Nhớ lúc nào cũng đi sóng 6/4 hay 7/3, không bao giờ chẽ sóng 5/5 
 
Những danh từ thường dùng cho dân HQ, tôi chưa bao giờ nghe, rồi anh giải thích.
 
- Sóng 6/4 là mũi ghe và sóng biển với góc 60 độ và 40 độ, 7/3 là 70 và 30 độ, còn 5/5 là Sóng biển và mũi ghe góc vuông 90 độ, phải nên tránh trường hợp này. 
 
Tôi cẩn thân ghi chép từng đoạn, vẽ hình từng loại phao đặt ngoài cửa biển. Trước đây khi còn trong tù, tôi cũng học hỏi sơ qua của mấy thằng bạn Hải Quân chung trại nhưng có bao giờ nghĩ tới có dịp thực hiện bao giờ. 
 
Khoảng tháng 3 năm 1980 chiếc ghe hạ thủy, với 14m dài, gần 3 m chiều ngang, vỏ nghe đi sông biến thành ghe biển. Lúc đang chờ hợp đồng tôi và anh Nam lấy ghe chạy thử, lái thì dễ nhưng cập bến là vấn đề khó khăn, hơn nữa tôi nghỉ đâu phải là trách nhiệm của tôi. Vài tuần sau, khi có giấy phép hợp đồng chở cát về xã Lý Nhơn thuộc Quận Nhà Bè, cũng là dịp để thử chiếc ghe, thì đám tài công chính xuất hiện, một Th/Sĩ HQ làm tài công chính, một Ch /úy và hai người khác tôi không nhớ rõ, tất cả đều là phe ta Quân đội cũ, có lẽ ngoài tài công ra, đoàn thủy thủ này toàn bộ Amateur như tôi và anh Nam.
 
Sau ba chuyến đi hợp đồng coi như suông sẻ, qua sông Nhà Bè rồi tới xã Lý nhơn. Kế hoach bàn thảo sẽ đổ quân vào chuyến thứ tư với hợp đồng nước đá Huyện Cần Giờ, nhưng khi ra cửa sông lớn lái gần bên phải bốc quân bên Vàm Láng. 
 
Vào cuối tháng Tư, theo dự trù sẽ tất cả chờ trên cá nhỏ (ghe nhỏ), sẳn sàng ngoài cửa sông Vàm Láng, chờ khi trời sụp tối cá lớn (ghe lớn) đến bốc rồi thẳng ra cửa biển trong đêm. Mỗi nhóm một phận sự trên bờ ông chủ ghe điều động bốc người, phần chúng tôi là làm thế nào để đưa ghe lớn “cá lớn” tới điểm hẹn an toàn và bốc người đầy đủ.
 
Ghe rời ụ xuất phát khoảng lúc 8 giờ sáng, chạy sang cầu chử Y rước bà chủ ghe, lúc chờ đợi tôi lội xuống kiểm soát chân vịt lần cuối. Ghe bắt đầu rời bến, lúc đi hợp đồng thì không gì lo sợ, không hiểu lúc này sao lại run chân, chạy ra khỏi vùng sông Saigon, rồi khu vực Nhà Bè xuyên qua những con rạch nhỏ, lúc này tôi không còn đinh hướng được vì qua các khúc rạch quằn quèo. Tôi vào cabin nhìn qua tấm hải đồ định hướng. Anh Th/sĩ tài công chỉ vào Hải đồ tôi thấy đã hơn nửa đoạn đường, chúng tôi cho ghe chậm lại lúc đó độ hơn 1 giờ trưa, lòn lách trong những con rạch nhỏ solo một mình. Tôi không hiếu tại sao anh tài công lại đi đường tắc này rất dễ dàng lộ diện. Nếu là tôi lái thì sẽ đi con đường chính diện, cũng may là không ai phát giác, tà tà chạy tới, con sông bắt đầu rộng dần, rồi tới rộng lớn mênh mong anh tài công lái ra chính giữa, nhìn qua hai bên bờ quá xa, cả đoàn thủy thủ trên ghe mừng hớn hở, hy vọng đã vươn cao, gần tới chỗ bốc người, trời cũng xế chiều.
 
Bỗng nhiên hàng loạt AK50 bắn ròn rã vào hướng ghe chúng tôi đang chạy. Biết bị lộ, trên ghe cả đám mất tinh thần, lúc này tôi như ra lệnh cứ tiếp tục chạy như không nghe biết gì, anh Th/Sĩ cũng nghe theo chạy thẳng qua hướng về Vàm Láng. Tiếng AK50 nổ dòn và giữ dội hơn kèm theo M79, nổ ầm ầm trước sau con tàu. Bà chủ ghe quá sợ, kêu gọi chúng tôi quay vào, còn lây quây suy nghỉ thì 2,3 trái M79 nổ ầm, ầm sát bên ghe. Anh tài công hốt hoảng quay mũi tàu hướng về phía Công An. Rồi nghe tiếng AK bắt đầu bớt lại, khi thấy ghe chúng tôi hướng thẳng vào bờ. 
 
Cửa biển quá rộng mà tôi lại lội không rành, làm sao tôi dám nhảy sông, nghĩ bụng đợt này mình chết chắc, bao nhiêu lần may đều thoát nạn giờ thì đã hết vận may. Có thể trong đoàn thủy thủ tôi là người tội nặng nhất, trốn tù, giấy tờ giả, thêm tội vượt biên. Cả đoàn thủy thủ mỗi người ngồi một góc, có thể họ cũng đang tìm lời đối đáp với bọn công an. 
 
Chiếc ghe từ từ lũi vào chỗ cạn, một đám công an lội sình cầm súng nhảy lên ghe, trói tay tất cả, bắt lội sình vào trong xã, rồi quỳ một hàng như những tội phạm đang đợi giờ xử bắn.
 
Bà chủ ghe cũng bi đưa vào trong đó hỏi cung, và trình giấy hợp đồng bà đang giử.
 
Tên công an xã quát lên:
 
- Hợp đồng buôn nước đá này là giả, hợp đồng vượt biên thì đúng hơn.
 
Bà chủ ghe cũng cãi lại:
 
- Trên ghe không bằng chứng vượt biên
 
Tên công an cười mĩm rồi nói tiếp:
 
- Bà có biết ai tên là Nguyễn Thị Quí không? chủ máy của chiếc ghe này, chính bà ấy lên tận sở công an thành phố thưa bà đó. Công văn, công điện chúng tôi nhận được từ lúc 12 giờ trưa hôm nay, và bà ấy đã cho biết bà Lê thị Hồng cướp ghe vượt biển. Ghe này có phải mang số: SS0167 không?
 
Nói xong tên công an quăng ra bản công điện nhận từ Sở công an Thành Phố, trên đó có ghi rỏ tên chủ ghe, chủ máy, và những lời tố cáo hợp đồng giả mạo để vượt biên, nên bà chủ ghe cứng họng.
 
Chờ trời vừa sụp tối, chúng tôi được lệnh giải giao về huyện Cần Giờ đoạn đường này phải mất cả đêm. Tôi không còn nhớ tên xã là gì nhưng biết là xã cuối cùng của huyện. Sáu tên công an áp tải với 3 khẩu AK47, 2 khẩu M16 và 1 cây M79. Nhìn những khẩu súng trên tay 6 tên công an đang giữ, trong số các loại này tôi chỉ sợ khẩu M79.
 
Chúng tôi được mở trói lúc đẩy trở lại ghe, và tất cả bị đẩy xuống hầm tàu chỉ chừa lại một tài công điều khiển. Ghe chạy được một đoạn ngắn, anh tài công buồn chán nản, cho gọi tôi lên điều khiển con tàu. Tôi nhảy lên phòng lái, nhanh mắt quan sát, thấy cách công an bố trí, rồi thoáng nghĩ chắc đời mình hết chạy, một tên công an ngồi trên mũi ghe, một sau lái, một trên nóc, 2 bên hong và một ngồi cạnh bên tài công để hướng dẫn đường. Như con chim bị nhốt trong lòng, cố tìm lỗ trống bay ra, cầm tay lái nhưng đầu tôi luôn suy nghĩ.
 
Hơn 8 giờ đêm, trên trời mặt trăng lưỡi liềm lơ lững, ánh sáng chiếu trắng bon tàu. Bỗng tên công an ngồi canh tôi lên tiếng hỏi. 
- Trên ghe các anh có gì ăn không?
 
Tôi suy nghĩ một chút và trả lời:
 
- Trên ghe có gạo, muối, khô sặc, khô đuối, nếu các anh đói bụng thì tôi đi nấu cơm. Không đợi tên CA trả lời, tôi cúi đầu xuống hầm tàu gọi thằng đàn em lên cầm lái thế tôi.
- Cứ giữ tay lái thế này, bẻ qua, bẻ lại như lái xe hơi; cố giữ cho chiếc ghe đi thẳng. Tôi đi bắt nồi cơm. Khi bước ra sau ghe gặp tên công an sau lái hỏi.
- Anh làm gì đi ra đàng sau này?
 
Tôi trả lời.
 
- Đi nấu cơm, anh ngồi trong phòng lái bảo tôi đi nấu cho tất các anh ăn.
 
Tên công an này yên lặng, thì ra tên công an trong phòng lái với tôi là trưởng toán. Nấu cơm xong tôi nướng cá khô sặc kèm theo khô cá đuối. Mùi cá khô làm thơm phức cả tàu, tôi thấy cả mấy tên đói bụng đang chờ ăn. Tôi vừa nấu cơm, nướng khô, nhưng đầu óc quay cuồng tìm cách thoát. Nấu cơm, nướng cá khô xong đã hơn 9 giờ đêm, tôi dọn ra phía trước mũi giữa bon tàu, rồi mời tất cả vào ăn một lượt. Sáu tên công an tụm lại ngồi ăn. 
 
Bầu trời mờ mờ ánh trăng, mặt sông loang loáng ánh sáng. Tôi không thể xác định được điểm đứng, đây là nơi nào… Hai bên bờ mờ mờ trong sương đêm, nhưng đây là dịp ngàn năm một thuở, bằng mọi giá tôi phải thoát khỏi con tàu này. Trở vào phòng lái dặn dò thằng đàn em Ch/úy, nói vắn tắt cho anh ta hiểu hoàn cảnh hiện tại của tôi. Và tôi dặn anh ta cố gắng giữ cho con tàu ép về bên phải.
 
- Tao phải đi, bằng mọi giá phải đi. 
 
Thấu hiểu được hoàn cảnh của tôi, nên anh đã làm như lời tôi dặn. Con sông rộng độ chừng 100m, tôi thì quờ quạng không lội xa. 
 
Ghe bắt đầu lạng dần về bên phải, tôi ra sau lái, thấy Đ/úy Nam trưởng phòng truyền tin PTT nằm ngoài cạnh bon tàu. Tôi nói nhỏ vào lỗ tai anh ấy.
 
- Trốn không? Đã tới lúc.
 
Anh trả lời với giọng buồn thiu:
 
- Bạn đi đi, giấy tờ tôi đầy đủ, hơn nữa giờ này vợ con tôi không biết ra sao ngoài cửa biển, good luck...!!
 
Biết anh không đi, tôi vội vàng lòn qua khung cửa sổ bên hông tàu, chùi mình qua cửa, rôì thả nhẹ đôi chân, mình trầm xuống nước. Nước lạnh, có gió, tôi rùng mình, tự nhủ thầm “Nhứt chin nhì bù”. Tôi nhoài mình cố gắng lặn ra xa; cánh quạt chân vịt phía sau tàu giúp đẩy thẳng tôi ra một đoạn, cố nín thở, lặn sâu xuống nước, nhưng không hiểu sao lúc này đầu cứ lại trồi lên. Tôi hụp xuống và lặn ra xa cách chiếc ghe độ chừng 10 mét, tiếng máy ghe cứ nổ đều đều, không một chút nghi ngờ, trên ghe vẫn yên tỉnh. Thật cám ơn thằng Ch/uy đàn em. Tôi nín thở cắm đầu lặn tiếp, lặn mấy hơi, trồi lên thở mà vẫn thấy chiếc ghe còn rất gần. Tôi than thầm trong bụng; không còn đầu óc để tính toán, suy luận. Trong đầu chỉ còn một ý niệm “thoát hay là chết”. Lấy hơi, vừa lặn tôi vừa bơi về bên phải để vào bờ. Lúc này, tôi sợ nhất là khẩu M79, khi chúng phát giác có người trốn chúng sẽ dùng khẩu đó để bắn chụp xuống sông, chắc tôi sẽ bỏ xác vì tức nước, AK47 và M16 thì tôi đã biết rõ tầm tác hại, xui lắm tôi mới dính đạn này. Cám ơn Thủy Quân Lục Chiến. Cám ơn Quảng Trị chiến trường. Kinh nghiệm đó tôi lấy làm căn bản. Để đối phó cùng thực tế đêm nay.
 
Tôi vẫn cố sức sãi vào bờ, ghe vẫn chạy đều đều trong đêm trăng sáng, khi tôi bám được bờ thì tiếng máy đã xa dần. Nhảy lên bờ, việc đầu tiên là tìm chỗ ẩn núp, phòng khi phát giác, bọn chúng sẽ cho ghe trở lại tìm kiếm. Nằm yên lặng trong mấy gốc tràm hơn nửa tiếng với quần xà lỏn áo thun, bây giờ tôi mới thấy đói và lạnh. Tôi cố tìm một khoảng trống bằng mặt để nghỉ lưng, nhưng tìm mãi vẫn không sao có được, cuối cùng phải đành nằm trên đống rễ tràm lồi lõm. B52 (muỗi) bắt đầu quần thảo khi đã đánh hơi, chịu không nổi với đám muỗi rừng quần thảo, tôi trầm mình xuống nước để giải vây, vừa đứng yên tay chân không quậy nước, một đàn tàu ngầm (cá lòng tong) bay vào phập tới tấp vào chân tôi. Chưa bao giờ tôi nghĩ cá cắn đau như vậy. Tôi sợ một hồi nó phập luôn “thằng nhỏ” nên nhảy phóng lên bờ chịu đựng B52. Không chiu nổi B52 thì cho tàu lặn cắn. Tôi loay hoay đối phó với bọn “địch” không chợp mắt chút nào từ 10 giờ đêm tới 4,5 giờ sáng.
 
Ánh sáng mờ mờ từ hướng đông, chung quanh thật yên tĩnh. Lạnh và đói, tôi chợt thèm ly rượu đế ấm lòng. Tôi bâng khuâng nhớ lại những đêm lạnh nước ngập trung đội đi tiền đồn ở thôn Gia Đẳng, nhớ lại đêm trốn trại ở Bù Gia Phúc năm rồi trong rừng Phước Long. Nhưng rừng cao nguyên khác xa rừng tràm ngập mặn của vùng Rừng Sát. Những ngày đó, tôi còn đồng đội, còn anh em. Bây giờ đứng đây, một mình, “tứ đầu thọ địch”. Tôi đứng lên định hướng, bỗng tôi nghe đàng xa trong bờ rừng bên phải từng hồi kẻng vang lên, loại kẻng này với tôi không lạ. Tôi di chuyển về hướng ngược lại, đi dần về hướng tây. Một hồi kẻng khác lại vang lên. Tránh đầu này thì nghe kẻng đầu kia. Biết mình bị lọt vào khu vực trại cải tạo nữa rồi, nhưng tôi không biết được nó là ở nơi nào. Tôi xác định, điều trước hết là phải lội qua bên kia sông rồi tính tiếp. Nhìn ra sông, con sông ngày hôm qua chiếc ghe tôi đi qua. Sông rất rộng, tôi đi tới đi lui một hồi tìm không ra khúc sông hẹp, đang tìm kiếm thì trời mờ sáng, cảnh vật rõ dần, tôi áng chừng khúc sông nầy rộng gần 100m. Nhìn dọc theo mé song, từ đàng xa tôi thấy một ông già ngồi trên chiếc xuồng nhỏ, phản ứng tự nhiên, tôi thụp đầu xuống núp vào một lùm cây. Làm gì bây giờ? Ông ta là ai? Gấn đây có xóm nhà? Hay là cán bộ trong trại vừa đánh kẻng? Rối mù với hàng trăm câu hỏi. Tôi định thần nhìn thật kỹ, ông già đang ngồi trên chếc xuống nhỏ, chung quanh đó là đàn vịt đang bì bỏm lặn hụp tìm mồi. A! Ông già chăn vịt. Tôi quyết định đi về phía ông lão. Khi thấy tôi ổng liền hỏi.
 
- Cậu làm gì ở đây?
Tôi phải đành nói thật: - “Dạ cháu đi vượt biên bị bắt khi ghe chạy tới đây rồi nhảy trốn”.
 Mũ Xanh Trần Văn Khỏe
--

Chủ đề không quên:Trần Lực, bóng ma giữa ban ngày

Trần Lực, bóng ma giữa ban ngày

1
Ánh sáng Miền Nam đưa tôi về chân lý
Vùng đất hiền hoà, nhân bản, phồn vinh
Cuộc sống tự do, dân chủ, nghĩa tình
Không sắt máu, căm thù, như Miền Bắc.
(Phan Huy)

Lời thơ như hơi thở. Hơi thở còn sống của một con người nhân bản, đạo nghĩa và sống với trái tim còn nóng. Dù ở đâu, ra sao, nó vẫn không nói lên điều tà tâm gỉa dối, nhưng là một sự thật rất đáng trân trọng trong đời thường của con người! Xem ra nó hoàn toàn là khác biệt với cái “người hay bóng ma” của Trần Lực. Bạn hỏi tôi, Trần Lực là ai? Bạn cứ thong thả mà đọc, đọc đi rồi biết câu trả lời.

Trong mục kể về chuyện cụ Phan bội Châu bị bắt, ông Trịnh vân Thanh tác gỉa “Thành ngữ-Điển tích-Danh nhân Từ điển” (NXB Hồn Thiêng, Gia Định. ngày 7-7 1967, quyển 2.  Quyển 1 đã xuất bản trước đó đúng một năm), ghi lại như sau: “Năm 1925, nghe theo lời của Lý Thụy và Lâm Đức Thụ, Phan Bội Châu gia nhập vào tổ chức “Toàn thể giới bị áp bức nhược tiểu dân tộc”, nhưng sau đó Lý Thụy và các đồng chí lập mưu bắt Phan Bội Châu nộp cho thực dân Pháp để: Tổ chức lấy được một số tiền thưởng (vào khoảng 15 vạn bạc) hầu có đủ phương tiện hoạt động. (một con trâu cày thời đó có gía từ 3-5 đồng).

Như thế Lý Thụy, Lâm đức Thụ là kẻ đồng mưu bán Phan bội Châu để lấy tiền.  Tuy nhiên, “vào năm 1950, khi quân đội Pháp kiểm soát tới Huyện Kiến Xương thì cán bộ cộng sản Việt Minh bắt Lâm Đức Thụ bỏ vào rọ đem thả trôi sông cho mò tôm. Việc làm này được Nguyễn văn Trấn, Vụ Phó Ban Tuyên huấn Trung ương, một hung thần tại chợ Đệm, người bị nghi là đã giết Nguyễn an Ninh, mô tả sự việc theo “đạo đức cách mạng” Việt cộng là: “Hồ chí Minh xử lý như vậy vì nếu không, Lâm Đức Thụ sẽ chạy theo Pháp, với tư cách nhơn chứng, sẽ tố cáo những hành động cực kỳ bỉ ổi của Hồ chí Minh”.

Tuy thế, trong “Giấc Ngủ Mười Năm” Trần Lực còn nổi danh hơn Lý Thụy nhiều. Y bịa chuyện lính Pháp bắt cha đẻ hãm con gái ruột.  Bắt con trai hiếp mẹ đẻ, rồi để cho thú vật hành hạ con người, hoặc gỉa, giết người theo phương cách bạo tàn để làm niềm vui cho chính mình. Xem ra những chuyện ghê tởm phi cầm, phi thú không ai có thể tưởng tượng ra, không ai viết được đã có Trần Lực. Từ đây, những chuyện làm bại hoại gia phong và luân lý đạo đức xã hội đã có Trần Lực chỉ điểm, hướng dẫn. Y như một ngọn đèn, như một cấp số có sẵn và sẵn sàng mở ra muôn ngã cho các đồng chí của gã tiến bước theo sau. Tiến theo không một thắc mắc. Rồi tất cả cùng say sưa, khơi dòng máu đỏ của người dân Việt tuôn chảy để thỏa mãn cho giấc mộng theo cộng sản cống Tàu.  Để tất cả cùng chối bỏ giá trị của gia đình, của luân lý, của phẩm chất nhân bản trong đời sống con người, chối bỏ cả nguồn gốc của dân tộc để đi theo Trần Lực mà hưởng lộc! Lực viết:

Tháng 10 năm 1947, đội của tôi (Trần Lực) lại được điều đi đánh tại đường số 4.

“Người ta nói dân ở gần mặt trận ai cũng hăng. Có gì lạ đâu. Tây nó ác quá. Chúng bắt được đàn bà con gái, thì 7 tuổi đến 70 nó chẳng từ ai. Năm bảy thằng tranh nhau hiếp. Hiếp không chết, thì nó chặt đầu, móc mắt, mổ bụng, rạch trôn. Có khi chúng bắt con trai hiếp mẹ, cha hiếp con gái, cho chúng nó coi và cười. Không nghe thì chúng giết cả nhà.
Có khi bắt được đàn bà có thai, chúng nó trói lại như trói lợn, rồi đánh đố với nhau. Thằng thì đoán chửa con trai. Thằng thì đoán chửa con gái. Rồi chúng nó mổ bụng người đàn bà chửa, móc đứa con trong bụng ra coi. Thằng nào đoán trúng thì được tiền hoặc thuốc lá.
Có khi chúng nó bắt đàn bà, trói chân, trói tay lại, lột truồng hết áo quần rồi cho chó con bú cụt cả đầu vú. Người đàn bà vô phúc van khóc chừng nào, thì Tây reo cười chừng ấy.
Bắt được người già và thanh niên, chúng nó chọc tiết, chôn sống, chặt đầu, phanh thây, hoặc treo thòng lòng trên cành cây, chất củi thui. Có khi chúng nó bắt ăn thuốc viên, nói là thuốc chữa bệnh. Nuốt xong chừng mấy phút đồng hồ thì trợn mắt lăn ra chết, cả mình mẩy tím bầm.
Trẻ con thì chúng nó bắt bỏ trong chum, nấu nước sôi giội vào. Hoặc trói 2, 3 em lại một bó, quấn rơm và giẻ chung quanh, rồi chúng nó tưới dầu xăng đốt.” (Trần Lực)

Phải nói ngay là, đoạn văn trên đã chỉ ra cái dã nhân tính cơ bản trong con người của Trần Lực là đáng khiếp sợ. Tuy thế, đó không phải là tất cả. Cái đáng ghê tởm hơn thế chính là những dòng cuối của bài viết này khi Y tự nói về mình: “Ba hôm sau, tôi (Trần Lực) ra về. Về đến nhà, không khỏi tủi tủi mừng mừng, tình xưa cảnh mới. Việc đầu tiên tôi làm là viết một bức thư giao cho Đào dâng lên Cụ Hồ để cảm ơn Người và chúc Người mạnh khỏe”. Ở đây, Hồ chí Minh dùng bút danh Trần Lực để viết bài, sau đó, lại tự viết thư dâng lên cụ Hồ” để cám ơn! Bạn có lời bình gì về loại người này không? Xem ra, Nó cũng đồng loại với kẻ “vừa đi đường vừa kể chuyện” đấy! Nếu bảo Y là người Việt Nam thì lạ lắm. Bởi lẽ, cả ngàn năm trước không có. Và dĩ nhiên, trong hàng ngũ Việt Nam vạn năm sau cũng không có ai dám viết loại chữ này! Tại sao?

Tôi cảm thấy rờn rợn, không phải vì tội ác của Pháp (một người có nhận thức, hiểu biết bình thường nào cũng chẳng tin nổi những điều này là có thực) mà chính vì cái cách mô tả, cái khả năng tưởng tượng ra những tội ác kiểu như vậy và việc tuyên truyền bất chấp sự thật của những người cộng sản, như họ cũng đã từng tuyên truyền Mỹ ngụy ăn thịt người” (Song Chi)

Phần tôi, Tây, thực dân, vẫn có cái tốt cái xấu.  Chúng cũng có đủ những món nghề từ hiếp đáp đến giết dân ta. Nhưng nghĩ ra được những ngôn từ, hành động qúai đản đến độ bệnh hoạn như trên thì chỉ có Trần Lực, ngoài ra là không ai! Ngôn từ chóng qua, chữ viết lại càng khác biệt! Tôn thờ loại chữ viết ấy lại là vấn đề khác nữa.

Ai cũng biết, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, gian trá, không phải là điều bất thường trong chiến tranh tuyên truyền. Nhưng không có nghĩa là muốn sao thì sao. Lại càng không có nghĩa mất nhân tính để tuyên truyền rằng những người chung một nguồn gốc, chung một chủng tộc, chung một nòi giống ở miền nam là “lính ngụy” ăn thịt ngưòi! Xét về cái đói, chính tác giả đã biết, họ chưa bao giờ bị đói. Xét về cái dã man, họ chưa bao giờ có cái dã man như Hồ chí Minh trong vụ việc giết 170,000 người VN ở miền bắc trong mùa đấu tố 53-56. Theo đó, nếu họ ăn thịt một người, thì Trần Lực chắc chắn không thể ít hơn. Hoặc gỉa, kẻ đã quen ăn thịt người, giết người thì cũng dễ tưởng tượng người khác cũng vậy!

Từ đó cho thấy, sự gian trá của Trần Lực đã trở thành một phần không thể tách rời khỏi văn hóa Việt cộng trong gần ba phần tư thế kỷ qua. CS đã xây đựng gian trá và hận thù thành nền tảng để khuấy động và điều hành cuộc chiến.  Máu của người dân Việt đã đổ ra có thể là ngập cả sông hồ. Xương khô chất thành núi cao mà hận thù chừng như chưa vơi cạn.  Bởi vì CS vẫn tiếp tục truyền vào huyết quản Việt Nam bằng những gian trá và vô đạo. Tất cả được rải đều trong các hình thái tuyên truyền từ học đường cho đến xã hội. Không một nơi nào, ngõ ngách nào từ thành thị cho đến thôn quê, thậm chí lên cả núi cao, rừng gìa, đồng hoang, mà không phải nghe những gian trá truyền đi như mệnh lệnh để được sống. Nghĩa là, từ trong chiến tranh, và cả đến hôm nay, người ta không thể tìm thấy trong xã hội ấy có được đôi, ba “tác phẩm” nhân bản, mang hình thái văn học nghệ thuật đúng nghĩa, hay không nhắc đến bạo động, hận thù. Trái lại, ở đâu người ta cũng bắt gặp cái bảng hiệu sống và học tập theo gương Hề chí Minh”.
Làm theo gương đạo đức của Bác
Làm theo gương đạo đức của Bác

 Tại sao thế? Chỉ có một câu trả lời ngắn gọn là: CS biết rõ rằng nếu chúng không còn truyền đi những loại văn hóa và đời sống hận thù, chém giết theo gương HCM, CS tức khắc bị tiêu diệt.  Nói cách khac, chúng phải truyền đi những tín hiệu gian trá này cho đến khi chết. Thật ư?

Đúng như thế. Hãy hỏi các cấp lãnh đạo cộng sản, cũng như các nhà văn, nhà thơ, nhà soạn kịch, những người đã nuôi dưỡng và truyền đi lòng căm thù con người theo tinh thần của CS mấy chục năm qua là: Có khi nào họ tự hỏi mình rằng, những hình ảnh về tội ác mà họ tròng lên đầu lên cổ quân dân ở miền nam đến từ đâu chưa? Đó là những sự thật họ thấy từ chính đôi mắt của mình, điển hình như vụ giết người tập thể trong tết Mậu Thân ở Huế, vụ pháo kích trường tiểu học Cai Lậy, hay đó chỉ là những tuyên truyền trái ngược trong gian dối, xảo trá từ bản chất đảng, từ lãnh tụ, từ điêu ngoa để họ được nhập cung cầu lộc?

Hỏi xem, họ có bao giờ biết, cái lối viết, lối tuyên truyền của họ hoàn toàn khác, hoàn toàn đối nghịch với cái thật, chữ nguyên trong luân lý mà những tác phẩm của văn nghệ sỹ tại miền nam đồng thời hay sau họ vẫn giữ gìn hay không? Hỏi vậy thôi, thật ra, ai cũng biết rõ câu trả lời từ trước là: Cái gía trị trong ngòi bút của họ không vì con người, nhưng vì cái gía của ổ bánh mì! Chuyện xưa là thế, đáng buồn hơn là đến nay vẫn chưa chấm dứt!

Như thế, từ nguyên tắc tuyên truyền và giáo dục ở trên, kể cả vì chén cơm, mét vải tiêu chuẩn, chúng ta không lạ gì khi thấy những kẻ say men “đốt mình” như Xuân Diệu, Tố Hữu xuất hiện. Hoặc gỉa, cao giọng lừa đời, dối gạt người bằng những dòng chữ đầy bọ. Ở đó, không cho thấy có sự hiểu biết, chỉ có hoang tưởng một chiều để tuyên truyền về lính “thám báo ngụy” đã hãm hiếp, hành hạ man rợ trên thân xác các nữ thanh niên xung phong. Thị viết: “Chúng tôi hướng vào góc rừng đã tỏa ra mùi thối khủng khiếp mà đi. Tới vực cô hồn, gặp sáu cái xác truồng. Xác đàn bà. Vú và cửa mình bị xẻo, ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh.’… Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết…. (chương 1, tiểu thuyết Vô Đề, Dương thu Hương).

Hỏi xem, Vực cô hồn ở đâu thế?  Nếu đây là chuyện có thật thì những kẻ đến xem, trong đó có cả người viết đã tan xương nát thịt vì những họng súng “thám báo ngụy” đang ghìm sẵn, chờ đợi con mồi! Hoặc gỉa, cũng có hàng trăm, hàng chục xác chết khác nằm bên cạnh với những nét tàn phá của bom rơi, đạn xé sau trận chiến.  Nó không hề đơn giản, chỉ có sáu cái xác và đàn qụa lạc, ruồi bu như thị viết. Nói toạc ra là, đoạn văn này chỉ có thể lừa được những kẻ đã bị lừa. Tởm!

Hỏi xem, những thế hệ Việt Nam, từng hàng hàng lớp lớp, được nuôi dưỡng bởi những dòng chữ gian trá, vô ý thức, thiếu trách nhiệm trong giáo dục, lại tràn hận thù, ác độc như thế, khi rời ghế nhà trường họ sẽ có những đóng góp gì cho đất nước? Cho nền văn hóa Việt Nam? Hay chỉ có những bản án treo vào cổ các tội phạm còn rất trẻ đã và sẽ trả lời?

Ở đây, tôi cũng xin nói ngay là việc họ dùng tuyên truyền để cho đồng bào căm thù giặc Pháp, Mỹ ngụy không ai cấm, nhưng nhất định không thể tuyên truyền theo cái kiểu bại não, phản luân lý này. Lý do, nó không thể trở thành sức mạnh để giết giặc Pháp giặc Mỹ. Trái lại, nó thừa khả năng làm tiêu tan nền văn hóa, luân lý, đạo đức của xã hội Việt Nam. Bạn không tin ư? Nếu không tin thì hãy lấy bài học ấy ra và giáo dục cho trẻ noi gương, 10 năm sau xã hội ấy sẽ có câu trả lời!  Thực tế hơn, tuy ngày nay những bài viết ấy không còn được CS đem ra học tập, trình bày trên mặt báo chí nữa, nhưng xã hội đã phải gồng mình để gánh nhận hậu quả. Đó là những tội ác con giết cha mẹ, người thân, bạn bè chém giết nhau. Giết nhau chỉ vì một cái cớ nhỏ nhặt. Có khi chỉ vì mươi ngàn bạc tiền Hồ.  Hoặc gỉa, từ một chén rượu mời bị từ chối, thậm chí, từ một cái nhìn khó ưa, gọi là nhìn “đểu” những án mạng đã xảy ra mà kẻ thủ ác là những thanh thiếu niên chính ra còn ngồi trên ghế nhà trường, lại kéo nhau vào nhà tù! Ai cũng rùng minh sợ hãi và hỏi nhau tại sao thế?

Hỏi và không tìm ra câu trả lời ư?  Không phải là không có câu trả lời. Trái lại, chúng ta đã có câu trả lời rất rõ ràng từ lâu rồi.  Tất cả những tội ác ấy đều là kết qủa trực tiếp hay gián tiếp của một loại văn chương, chữ viết bại não của những văn nghệ sỹ của CS đem vào xã hội.  Nó đã giết chết sự an bình của xã hội, nhưng nhà nước CS này vẫn dối trá, không bao giờ dám trả lời và nhận trách nhiệm. Đã thế, còn miệt mài xúi dục trẻ học tập theo gương Hồ chí Minh, theo gương của Trần Lực để cho họ hưởng lợi.  Có lẽ nào như thế?  Oan qúa? Dù bạn tin hay không, tôi cũng phải xác định rằng: Những cảnh chém giết nhau ấy vẫn còn thua xa hình ảnh do Hồ chí Minh chỉ vẽ và dạy dỗ “đàn em” của Y.

Trong “Tôi Bỏ Đảng”, cựu đảng viên cộng sản Hoàng hữu Quýnh, có kể lại lời Hồ chí Minh căn dặn cán bộ, đảng viên cộng sản giết người lạnh lùng như giết con gà, con vịt như sau “...Mỗi lần các chú giết được Tây hoặc Việt gian ( lính ngụy) thì phải viết giắt cài lên áo tội trạng… Nếu muốn cho xác người chìm xuống (có lẽ ý muốn nói là thủ tiêu) thì các chú phải mổ bụng và bổ đôi cái bao tử thì cái xác mới chìm xuống được…” Từ lời dạy đó, cho nên cách giết người dã man, lạnh lùng mang dấu ấn Hồ Chí Minh rất phổ biến trong cuộc cải cách ruộng đất…

Bài học của Y, đọc đến rợn tóc gáy. Tuy nhiên, nó đã không thấy xảy ra ở miền nam trong khoảng 20-7-54 đến ngày 30-4-1975, nhưng sau ngày đó thì xem ra “thực tế” của bài học này đã trải rộng ở cả Bắc, Trung, Nam!

“Nghĩ đến đó tôi bỗng giật mình, sợ bác như sợ ma.
Tôi không tin ở bác. Hình như bác có cái gì bí ẩn, giấu giếm. Vẻ mặt bác gian ác, con người bác nhiều thủ đoạn. Tôi lạnh toát mồ hôi” (trang 130) “Nhiều lần nhân dân Hà Tây, vừa chạy trốn máy bay Mỹ, vừa chửi đảng: “Nếu không đánh nổi thì liệu mà đầu hàng, đừng đem mạng của dân mà thí như con ruồi con muỗi. Tiên sư cha chúng nó Đảng và Bác!” (
Tôi Bỏ Đảng, tác gỉa Hoàng hữu Quýnh cựu đảng viên đảng CSVN, sách xuất bản năm 1989 tại Pháp và Hoa Kỳ, ông là nguời gốc Quảng Trị đã tập kết ra Bắc sau hiệp định Geneve 1954.)

Ở một trang khác, tác gỉa cũng tả về đời sống thực tế, đến đau thương trong cái gọi là “thiên đàng cộng sản” ở miền bắc vào những năm 60 -70, như sau “Thành, bạn tôi đã kể cho tôi nghe tại thành phố Nam định, những bé gái chỉ 13, 14 tuổi đã lang thang ở vườn hoa bến tầu. Mỗi lần thấy người đi qua các em gọi lại. “Chú ơi, chú chơi cháu đi. Chú muốn cho Tam Đảo hay Điện Biên tùy ý chú” trang 140, tập một. (Tam đảo, Điện biên, là tên của hai loại thuốc lá rẻ tiền ở miền bắc.)

Cuộc sống cùng khổ của nhân dân là thế, cách sống của các đảng viên, quan cán ra sao?  Chuyện cá lớn nuốt cá bé và làm theo gương bác thế nào?  Tác gỉa viết: “thứ trưởng Hoàng Tiến, nhân lúc viên kỹ sư Hoành vắng nhà, Tiến theo gương bác Hồ hãm hiếp vợ y. rồi sau gọi Hoành lên bộ nói là vợ Hoành thuận tình… Thủ trưởng Thân đã khuyên Hoành “nên chín bỏ làm mười. Bởi lẽ “Hoành là một kỹ sư ngoài đảng mà Hoàng Tiến lại là thứ trưởng và có chân trong đảng ủy bộ…” (tập hai trang 27)

Đọc đến đây, bạn đừng hỏi Trần Lực là ai nữa. Bởi vì, Y còn được biết đến dưới nhiều cái tên khác như: Nguyễn Chiến Thắng, Lý Thụy, B.C, Hồ Quang, Hồ chí Minh…  trong số hàng trăm cái tên được cho là của Y. Chức vụ sau cùng của Trần Lực là chủ tịch đảng CS VN kiêm Chủ tịch nước VNDCCH! Bạn có dám hãnh diện vì sự hiện diện của Y trên phần đất Việt Nam không?  Phần tôi, dứt khoát là không. Trái lại, là một tủi nhục cho núi sông Việt.

Ở đây, nhân nhắc đến cái tên “C.B”, tôi xin ghi lại một bài viết cơ bản của Y. Bài viết mang tính hướng dẫn, chỉ đạo này đã đưa đến cái chết cho hơn 170000 người dân đất bắc trong mùa đấu tố 1953-1956. Bài viết mà tôi đã đề cập đến đôi lần.

Địa chủ ác ghê. Tác gỉa Hồ chí Minh.
Người gieo hạt trong CCRĐ

“Thánh hiền dạy rằng: “Vi phú bất nhân”. Ai cũng biết rằng địa chủ thì ác: như bóc lột nhân dân, tô cao lãi nặng, chây lười thuế khoá – thế thôi. Nào ngờ có bọn địa chủ giết người không nháy mắt. Đây là một thí dụ:

Mụ địa chủ Cát-hanh-Long cùng hai đứa con và mấy tên lâu la đã:

– Giết chết 14 nông dân.

– Tra tấn đánh đập hằng chục nông dân, nay còn tàn tật.

– Làm chết 32 gia đình gồm có 200 người – năm 1944, chúng đưa 37 gia đình về đồn điền phá rừng khai ruộng cho chúng. Chúng bắt làm nhiều và cho ăn đói. Ít tháng sau, vì cực khổ quá, 32 gia đình đã chết hết, không còn một người.

– Chúng đã hãm chết hơn 30 nông dân – Năm 1945, chúng đưa 65 nông dân bị nạn đói ở Thái Bình về làm đồn điền. Cũng vì chúng cho ăn đói bắt làm nhiều. Ít hôm sau, hơn 30 người đã chết ở xóm Chùa Hang.

– Năm 1944-45, chúng đưa 20 trẻ em mồ côi về nuôi. Chúng bắt các em ở dưới hầm, cho ăn đói mặc rách, bắt làm quá sức lại đánh đập không ngớt. Chỉ mấy tháng, 15 em đã bỏ mạng.

Thế là ba mẹ con địa chủ Cát-hanh-Long, đã trực tiếp, gián tiếp giết ngót 260 đồng bào!

Còn những cảnh chúng tra tấn nông dân thiếu tô thiếu nợ, thì tàn nhẫn không kém gì thực dân Pháp. Thí dụ:

– Trời rét, chúng bắt nông dân cởi trần, rồi dội nước lạnh vào người. Hoặc bắt đội thùng nước lạnh có lỗ thủng, nước rỏ từng giọt vào đầu, vào vai, đau buốt tận óc tận ruột.

– Chúng trói chặt nông dân, treo lên xà nhà, kéo lên kéo xuống.

– Chúng đóng gióng trâu vào mồm nông dân, làm cho gẫy răng hộc máu. Bơm nước vào bụng, rồi giẫm lên bụng cho hộc nước ra.

– Chúng đổ nước cà, nước mắm vào mũi nông dân, làm cho nôn sặc lên.

– Chúng lấy nến đốt vào mình nông dân, làm cho cháy da bỏng thịt.

– Đó là chưa kể tội phản cách mạng của chúng. Trước kia mẹ con chúng đã thông đồng với Pháp và Nhật để bắt bớ cán bộ. Sau Cách mạng tháng Tám, chúng đã thông đồng với giặc Pháp và Việt gian bù nhìn để phá hoại kháng chiến.

Trong cuộc phát động quần chúng, đồng bào địa phương đã đưa đủ chứng cớ rõ ràng ra tố cáo. Mẹ con Cát-hanh-Long không thể chối cãi, đã thú nhận thật cả những tội ác hại nước hại dân. Thật là:

Viết không hết tội, dù chẻ hết tre rừng,
Rửa không sạch ác, dù tát cạn nước bể!

(21-7-1953)
Hồ chí Minh (C.B)”

Bạn biết bà Cát Hanh Long là ai rồi chứ? Bà tên thật là Nguyễn thị Năm, người đã giúp kháng chiến hàng trăm lượng vàng trong tuần lễ vàng. Nhà bà là nơi lê la, ăn nhờ ở đậu của những Đặng xuân Khu, Phạm văn Đồng, Võ nguyên Giáp, Lê văn Bằng, Nguyễn chí Thanh, Hoàng quốc Việt, Lê đức Thọ, Hoàng Tùng, Lê thanh Nghị… và “hai đứa con” của bà được nhắc đến trong chuyện này chính là các Trung tá, cấp trung đoàn trưởng thuộc sư 308 của QĐND tên là Nguyễn Hanh và Nguyễn Cát đấy. Lúc ấy, nếu bà chỉ nói nhỏ một câu thì tất cả những tên này đã bị Pháp túm cổ ngay tại nhà bà rồi. Bà đã không làm điều đó. Kết qủa bị chúng đưa ra đấu tố với bản văn ở trên để giết người, cướp của. Phần 2 người con của bà bị đày ải khốn cùng đến chết.

Đoạn kết trong bài thơ “Tôi bỏ đảng” của tác gỉa Phan Huy thật thấm.  Hầu như không ai có thể phản biện. Hơn thế, không ai biết cộng sản hơn những người đảng viên. Bởi lẽ, đó là những người đã học, đã sống, và thực hành giáo điều gian trá, phì nhân, vô luân, bất nghĩa của nó.  Nên khi bỏ đảng CS thì họ là những người không phải chỉ là nhìn ra sự thật, nhưng là người muốn được sống và nói lên tiếng nói của sự thật trong con người còn có trái tim người.

Đảng ghê tởm! tôi chán chường muốn ói
Xin trả người thẻ máu với cờ ma
Tôi sẽ đi về với nước non nhà
Cùng dân tộc dựng lại mùa quang phục.”

Bảo Giang.

Xấu hổ đội quần phái đoàn csVN: tranh cướp nhau khi ăn buffet "Đại sứ quan tại Malaysia"

Người Việt tranh ăn, đại sứ quán VN cúi đầu xin lỗi

Vì xấu hổ, vì danh dự của một quốc gia, đại diện Đại sứ quan tại Malaysia phải chắp tay xin lỗi quan khách vì bị lấy hết đồ ăn.

Câu chuyện trên được ông Trương Văn Món – Giám đốc Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Bảo tồn văn hóa Chăm kể với Đất Việt.

Đại sứ phải cúi đầu

Ông Món kể:
"Tôi từng ở Malaysia 3 năm và là thành viên trong ban bí thư chi bộ. Ở Malaysia, mỗi khi đến dịp lễ 2/9, Đại sứ quán Việt Nam tổ chức sự kiện rất lớn, có mời đại diện Đại sứ quán các nước khác và người lao động Việt Nam ở nước ngoài tới dự. Chúng tôi được yêu cầu hỗ trợ tổ chức chương trình đón tiếp như chuẩn bị bàn ghế, đồ ăn tiếp khách. Tiệc đứng tổ chức ngoài trời, lễ kỷ niệm tổ chức trong hội trường. Buổi lễ sẽ rất hoàn hảo nếu người Việt có lòng tự trọng và có ý thức cao hơn. Khi buổi lễ chưa kết thúc, trước bao nhiêu quan khách đã ào vào lấy thức ăn. Tạo ra một khung cảnh hỗn loạn vô cùng xấu hổ. Đến mức khách tham dự không còn gì ăn.
Lúc đó, vì xấu hổ, vì danh dự của một quốc gia, đại diện Đại sứ quán Việt Nam tại đây phải chắp tay xin lỗi quan khách vì bị cướp hết đồ ăn".

Inline image 1  
Hình ảnh nhiều người Việt Nam tranh cướp nhau khi ăn buffet
Cứ tưởng cảnh tượng trên chỉ diễn ra một lần, tuy nhiên, nó lặp lại y như cũ và năm nào cũng vậy", ông nói.
"Đến năm sau, rút kinh nghiệm, chúng tôi tổ chức một nửa tiệc ngoài trời, một nửa trong hội trường. Nhưng tình hình cũng không cải thiện được bao nhiêu. Họ ăn hết ngoài trời lại xông vào hội trường, leo lên cả tầng hai cướp đồ ăn luôn. Không biết xấu hổ là gì. Ăn xong còn vứt rác bừa bãi, chỗ nào cũng vứt. Xấu xí vậy nhưng không cải thiện được", ông Món kể.

Hết chuyện tranh ăn, ông lại kể tiếp việc thiếu ý thức ở sân bay. Theo ông, ở sân bay có những xe đẩy đồ dùng để đẩy đồ cho khách, thì người Việt Nam lại lấy để đẩy người.  "Cứ 2-3 người ngồi lên một cái xe rồi đẩy nhau. Thật không thể hiểu nổi".

Điều đáng nói là ý thức nhận thức của người Việt Nam quá thấp, khi biết rõ những việc làm không đẹp, không đúng nhưng vì thói quen, vì lợi ích của mình nên cứ làm.

Theo ông, không phải người dân nước nào cũng hoàn hảo, cũng đều tốt, có điều ở trong một đất nước mà pháp luật, kỷ cương được thiết lập chặt chẽ, người dân có ý thức vươn lên, thấy sai sẽ sửa.

Chứng minh cho lời nói của mình, ông Món kể lại câu chuyện của chính bản thân ông khi còn ở Malaysia.

Ông cho biết, trong một lần đi công tác ở Malaysia, trong lúc đợi lên tàu ông được gặp lại người bạn là người Nhật Bản. Người bạn Nhật của ông đã mua hoa quả, đồ ăn chuẩn bị cho lúc đợi tàu.

Do lâu ngày mới gặp lại, hai người bị cuốn vào câu chuyện và quên mất yêu cầu không được phép mang đồ ăn, hút thuốc khi ra đảo.

Ngay lập tức, cảnh sát Malaysia bước tới yêu cầu quay lại, xử phạt ngay.

"Không như Việt Nam, hút thuốc thoải mái, dù có cấm nhưng cũng chả phạt được ai. Ở đây rõ ràng là ý thức nhưng cũng còn phải do cơ chế quản lý. Không thể chỉ kêu gọi ý thức suông nữa", ông Món nói.

Mâu thuẫn

Nghiên cứu của các chuyên gia trường ĐH Nottingham khi cho biết, Việt Nam bị xếp cuối bảng về tính trung thực. Nghiên cứu cũng cho biết, những quốc gia có tỉ lệ tham nhũng thấp sẽ ít nói dối hơn, nước Anh là quốc gia có công dân trung thực cao nhất.
Ông Món cho hay, nghiên cứu đã chỉ đúng thực chất của Việt Nam.
"Việt Nam cam kết xóa đói giảm nghèo và tuyên bố tiêu chuẩn giảm nghèo của VN với Liên Hiệp quốc là 82%. Tuy nhiên, chưa nói tới số liệu thống kê có chính xác, đáng tin cậy hay không nhưng khảo sát thực tế tại các một số xã, huyện miền núi vẫn có xã có đến gần 80% là hộ nghèo.

Trước đó vài hôm, một kênh truyền hình cũng phát tại Bắc Cạn, vẫn trong diện nghèo đói, khó khăn nhưng trong thống kê thì những hộ này đã thoát nghèo. Tôi không bình luận, chỉ nêu ví dụ như vậy để hình dung cho dễ", vị chuyên gia văn hóa cho hay.

Ông cho biết, bản chất của người Việt không xấu, cơ bản là do quản lý không chặt. Khi làm được một lần, làm được lần hai, lần ba, lâu dần sẽ thành thói quen. Một thói quen cứ lặp đi lặp lại thì thành văn hóa.

Ông lấy ví dụ, đi khám bệnh, nếu có một người xé hàng để khám trước nhưng trong cả hàng đó không ai nói gì họ sẽ quen. Một người làm được, người khác sẽ làm, cứ thế ai cũng muốn xé hàng mà không muốn xếp hàng.

"Một phần do người Việt lành, nhẫn nhịn. Có khi thấy thế thì nhường, có khi lại im lặng. Nếu ai cũng lên tiếng, phản ứng gay gắt, yêu cầu phải xếp hàng theo thứ tự sẽ không ai dám làm như thế", ông Món nói.

Nói dối cũng vậy, ngoài việc ý thức con người thì cơ chế đôi khi cũng tạo thói quen nói dối.

Theo ông kể, ông còn được xui nói dối khi đi công tác để có lợi. "Tôi rất thật thà, đi công tác một ngày tôi nói một ngày, đi xe hết một đồng tôi nói một đồng. Nhưng tôi làm vậy lại bị người ta nói, nếu khai như vậy thì không được lợi, thậm chí còn phải bù tiền công tác".
Người Việt có xu hướng thiếu trung thực:   Sắp thành... phổ thông?
Có người còn bảo tôi, ''Mày cứ khai đi xe 3 ngày tao làm hóa đơn cho. Nhưng tôi không làm", vị chuyên gia thật thà.

“Tôi nổi tiếng là người dũng cảm, nên tôi sai tôi nhận. Tôi không nói dối. Không sợ mất lòng. Vừa rồi có người hỏi vay tiền tôi, tôi nói tôi có tiền, thậm chí nhiều tiền nhưng tôi không cho vay. Chứ tôi không lựa chọn cách nói tôi không có tiền, tôi không thể cho vay".

Thẳng thắn, thật thà là tính cách ông
được học và được rèn luyện trong suốt thời gian theo học và nghiên cứu tại nước ngoài.

Vì thế, Giám đốc Trung tâm UNESCO Nghiên cứu và Bảo tồn văn hóa Chăm cho rằng, trung thực, thật thà là yếu tố rất quan trọng trong các mối quan hệ văn hóa, kinh tế, xã hội.

"Ví dụ, nếu bán 2kg trái cây mà cân có 1,9kg thì làm sao người ta tin tưởng, mua của mình nữa. Do đó, nếu không thay đổi sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới hình ảnh, uy tín không chỉ trong nước mà còn trong mắt bạn bè nữa", ông Món lo ngại.

Tất nhiên, ông cũng thừa nhận, thay đổi một thói quen là rất khó không phải ngày một ngày hai có thể làm được. Theo ông, vai trò quản lý của các cơ quan nhà nước rất quan trọng nhằm điều hòa các mối quan hệ, định hướng xã hội để tạo ra một môi trường văn hóa, văn minh.
Lam Lam

Bài Xem Nhiều