We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Friday, 15 April 2016

Lời thật mất lòng –Ôi, người Việt Nam!


Đọc bài “Người Việt ở bẩn” của Tài Ngọc trong www.saigonocean.com , tôi rất đồng ý và muốn kể thêm "những sự thật thấy mà đau đớn lòng", nói thêm về những cá tính "rất ích kỷ", "rất vô giáo dục" và "vô liêm sỉ", "không có lòng tự trọng" của người VN. Những điều chúng ta nói ra đây không phải "vạch áo cho người xem lưng" mà để cùng nhau cải tiến một lối sống "sạch sẽ & trật tự" hơn như những giống dân khác mà thôi...

Tôi đang ở chung cư, chỗ này dành cho người lớn tuổi trên 55 mới được phép vào mướn. Tôi hay giúp đỡ mọi người, già trẻ lớn bé liền ông liền bà gì cũng giúp ráo trọi, do đó ai có chuyện gì "không giống ai" cũng gọi tôi.

Đây là những chuyện có thật 100% tôi đã chứng kiến. Phần đông, người ngoài văn phòng nhờ tôi nói dùm vì ... cần sửa đổi những việc "trái tai gai mắt".

1/ Có những người VN vào đây ở, họ được hưởng tiền già, tiền hưu, tiền bệnh nhưng hãy còn cái thú kiếm thêm "income". Rất OK, xứ này tự do, ai có sức muốn xả thân kiếm tiền, làm 3 job một ngày không ai cấm miễn đừng phiền đến người khác thôi. Có bà ở đây nấu cơm tháng, ai ai cũng biết nấu cơm VN thì có đủ món, thịt cá tôm cua đủ cả. Bà này mang hết những thứ này ra phòng giặt (là nơi họ để máy giặt máy xấy bỏ tiền vào giặt quần áo, trong phòng này có 1 bồn nhỏ & vòi nước để có ai đó cần giặt tay), bà ta dùng cái bồn ấy để rửa rau rửa cá rửa thịt ... và nghĩ rằng sẽ tiết kiệm được tiền nước mỗi tháng của bà. Sau khi rửa các thứ ấy, bà để lại trong phòng một mùi tanh thịt cá cộng thêm một bịch rác khổng lồ trong thùng rác nơi phòng giặt. Thùng rác này họ chỉ để bỏ những thứ rác khô và không bị thiu thối như giấy thơm cho quần áo, thùng xà bông giặt ... nói chung là những rác có mùi thơm, không độc hại, không có vi trùng. Có những người Mỹ họ không chịu nổi mùi hôi thối và đã ra ngoài văn phòng khai báo, ông giám đốc gọi tôi và nhờ nói cho bà ta hiểu rằng chỗ này cấm không cho lạm dụng của công và dù bà có dùng nước trong nhà hay ngoài ngõ thì vẫn trả tiền nước như vậy, không bớt một xu vì họ chia đều tiền nước cho mỗi đầu người, có tắm 3 lần một ngày hay 3 tháng tắm một lần, vẫn phải trả tiền nước như nhau !!!

Ngoài ra nhà ai cũng có 2 cửa, một là cửa chính ra vào cái hành lang chung, một cửa sau mở ra phía vườn hoa chung. Nếu nấu nướng chiên xào nhiều, cần mở cửa cho bớt hôi nhà thì mở cửa sau, bà ta làm ngược lại, và quý vị có bao giờ ngửi mùi mắm ruốc chưng không? cả building tán loạn vì "mùi gì thối thế? có ai ăn thịt chó chết chăng?..." và mùi này đọng trong hành lang cả tháng mặc dù hàng xóm đã xịt hàng trăm chai thuốc thơm !!!

2/ Có bà trông còn trẻ măng (63 tuổi), khoe "em đi Bally exercise mỗi ngày, cuối tuần từ thứ sáu đến chủ nhật đi phòng trà nhảy đầm" ... nhưng từ phòng giặt ra đến chỗ đổ rác cách nhau có 3 bước ... mà không làm được. Chị ả mang bao thịt hư cá thối ra bỏ ngay trong thùng rác của phòng giặt, phòng này lúc nào cũng nóng vì máy xấy, sau 1/2 ngày bịch rác của bà này bốc mùi và quý vị có thể tưởng tượng cái mùi kinh khiếp này bay ra khắp hành lang, thiên hạ rủ nhau đi tìm chuột chết !!!

3/ Có bà khoe mình lên truyền hình phổ biến văn hóa VN mỗi tuần, nhưng chính bà ta không văn hóa tị nào cả. Sáng sớm nàng mặc áo ngủ, lèo bèo nhàu nát, vú vê lõng thõng, tự nhiên như cán bộ CS... vác 5, 7 thùng nước rỗng ra ngay vòi nước chỗ phòng tập thể dục để lấy nước uống... có người nhờ tôi " khuyên bảo" bà ta, tôi phải dậy sớm từ 5 a.m. làm bộ như đi tập thể dục. Gặp bà tôi tay bắt mặt mừng "... chị ơi, nước uống này và nước ngay trong phòng chị là một thứ, tại sao lại khỗ sở thế này? vác củi về rừng cho nhọc thân !!! nếu muốn kỹ hơn ra tiệm mua cái lọc nước độ $35 đồng nhờ tên Mễ nó gắn cho tha hồ vừa uống vừa tắm !

... Chị ơi, em biết chị còn sexy lắm mặc dù chị đã ngoài 70, "nhìn chị bao thằng nhỏ dãi" (lời bà ta), nhưng nơi đây là công cộng, có bao đàn ông đủ mọi sắc tộc ở đây, nửa đêm gà gáy chị mặc áo ngủ đi lông bông thế này em sợ có ngày chị sẽ làm phiền cảnh sát Fountain Valley vì : "ông ơi nó hiếp tôi !!!"

4/ Có ông đã ngoài 70, khoe là ngày xưa cũng từng là tay chân của tướng K. dưới chế độ VNCH, đồng nghĩa chàng là dân có tiền (tham nhũng thứ thiệt) và cũng có tí "tri thức" (đừng lầm với trí thức), thế mà chiều chiều chàng "diện" bộ pijama nhàu nát, "c tru" ... đi đổ rác. Nghề sở trường của chàng là hay ve vãn những cụ bà (có bà là gái bán bar hồi Mỹ đóng ở VN 1962, cũng đã ngoài 70). Cụ ông kia thích sờ mó lung tung để mấy cụ bà này khoái, cho tí tình còm và nấu ăn free cho chàng. Có ngày bà già bán bar này nổi cơn ghen "sư tử Hà Đông", làm loạn ầm ĩ nơi đây với những lời lẽ văn chương cả Việt lẫn Mỹ "bình dân hạ tiện nhất" của loại gái đứng đường ... ôi chao, còn cái gì nhục hơn cho dân mít ở chốn này!!!

5/ Thêm vài tệ nạn xảy ra hàng ngày mà tôi mệt muốn tắt thở không ngăn cản nổi: ăn cắp báo, ăn cắp thức ăn, ăn cắp thuốc, ăn cắp sữa đường ở phòng ăn, ăn cắp hoa ngoài vườn, ăn cắp thư. Tệ hơn nữa ăn cắp xe đẩy từ chợ về vất đầy hành lang và bãi đậu xe mặc dù có khuyến cáo của cảnh sát họ cũng "phớt tỉnh ăng lê"

6/ Có chiều tôi đi dạo với chị bạn, bắt gặp một cảnh thật "điên cái đầu" : có 2 người mới đi chợ về(?), xe của họ là loại mercedes kiểu mới 2011, cộng thêm theo cách ăn mặc và vòng vàng nữ trang họ đeo, chúng tôi đoán là dân có tiền và có "tí ti đầu óc..". Nhưng hỡi ôi, họ mở cửa xe, trước khi bước xuống họ rải ngay một mớ khăn lau tay, bao nylon có chữ thank you màu đỏ ...để lót đường ... cho thấy họ đi chợ chắc đói bụng mua thức ăn, ăn xong về đến nhà còn tiếc công vất rác vào thùng rác của nhà, đau lòng hơn là chỗ họ đậu xe cách thùng rác của chung cư có 1/2 bước. Tôi định ra nhắc nhở họ bài học công dân lớp 3 thì chị bạn vội nắm áo tôi lại "Kim ơi tao lạy mày, i can you, i van you..."

Cũng việc xả rác, người Việt mình hình như "có thú" xả rác nơi công cộng thì phải, hoặc họ mù không nhìn thấy sự dơ bẩn và không có đầu óc phục thiện. Cũng nơi Bolsa chỗ thị tứ, buổi trưa chủ nhật, tôi và chị bạn rủ nhau đi ăn cháo cá chợ cũ. Bãi đậu xe đông nghẹt, chúng tôi đang tìm chỗ đậu thì chứng kiến một cảnh không tha thứ được. Trước xe tôi có một xe Lexux SUV mới toanh, trên xe có 4 người phụ nữ trẻ khoảng 30-40, mặt hoa da phấn. Bất chợt cửa xe bên người lái mở và tiếp theo một bịch rác khổng lồ bay xuống đường, ngay trước đầu xe tôi. Cái bịch rác tung toé đầy đường, nào chè nào cháo nào xôi nào bánh nào cafe sữa đá, trông quá khiếp đảm, không còn hình ảnh nào kinh hãi hơn thế nữa ... tôi bèn nổi máu anh hùng định xuống "tả lớ" cho một trận, cũng bà bạn chicken nắm áo lại, "tao lạy mày trăm lạy ngàn lạy Kim ơi, bốn con nặc nô nó xúm lại thì cả tao lẫn mày tan xác".

7/ Ngoài ra người Việt mình có tật ra chỗ công cộng ăn nói ầm ĩ như chỗ không người. Nơi tôi ở có thư viện cho người ta đến đọc sách, tức là chỗ cần yên tĩnh. Các cụ VNam cứ đến túm 5 tụm 3 nói chuyện ào ào như mưa rào, không ai chịu nổi. Chưa kể vào phòng computer cũng thế, mạnh ai nấy nói, um sùm cả lên còn cộng thêm cái tật thích xâm lấn vào đời tư người khác. Người ta đang dùng internet, đọc email, các cụ cứ dí mũi vào đọc mail của người khác mà không biết đó là điều người Mỹ rất ghét, tối kỵ vì xâm phạm vào "sự tự do riêng" của mỗi cá nhân...Chúng ta thử đặt địa vị của người khác, mình đang đọc sách hoặc viết văn thư, cần sự yên lặng để làm việc thì một đám người Tầu hoặc người Mễ vào phòng nói chuyện um sùm, mình sẽ cảm thấy ra sao? có điên lên mà chết không? và ý tưởng đầu tiên hiện lên trong đầu sẽ là : "LŨ MỌI..."

8/ Có hôm mùa Đông, sáng sớm độ 6 giờ hơn có người gõ cửa, mở ra thấy bà hàng xóm người Mỹ. Bà ta xin lỗi rối rít vì đánh thức tôi dậy quá sớm vì bà ấy muốn cho tôi chứng kiến tận mắt một bà Việt Nam đang mặc áo ngủ ... đi lục thùng rác. Nhìn qua cửa sổ tôi nhận ra là ai, nhưng không biết nên nói năng làm sao, cư xử như thế nào cho phải ... vì bà VN này luôn luôn hãnh diện và khoe đàn con 9 đứa đều thành công, đều là "SƯ& SĨ...", kể cả có đứa con làm đến chức tổng giám đốc hãng gì gì đó !!! Thật hết thuốc chữa khi nghe bà hàng xóm người Mỹ còn chêm thêm một câu :"tôi nghĩ bà này đi lục đồ ăn thừa vì thấy bà ta cầm mấy hộp màu trắng họ bán food to go .... tụi bay người VN ở đây có cách nào cho bà ta thức ăn để ăn không ???". Tôi á khẩu ...!!!

Tôi biết bà ta không thiếu thức ăn, không đói khát đến độ như thế, lương già của bà ít nhất cũng $850 mỗi tháng, tiền nhà housing trả gần hết, được ở đây sạch sẽ ngon lành chỉ phải tốn có $150, còn lại $700 vừa tiền ăn, tiền tiêu, kể cả đủ tiền đi sòng bài kéo máy mỗi tháng một lần. Như vậy là dư tiêu dùng, cộng thêm 9 đứa con thành danh !!! tại sao lại lục thùng rác lượm thức ăn cũ ??? có ai nghĩ ra được không ??? bà ta lại là hạng người rất thích "xắn váy lên chửi tồ tồ ... ", đụng vào bà là chỉ có chết đến trọng thương mà thôi ! Do đó tôi xin đầu hàng cả 2 tay lẫn 2 chân.

9/ Nhân tiện đây tôi cũng nêu lên thêm "những điều trông thấy mà đau đớn lòng" lần nữa. Tôi được chứng kiến tận mắt và còn được dậy dỗ nên làm như họ, rất chu đáo là đằng khác :

Chỗ tôi ở có đủ mọi giống người : từ Mỹ trắng, Mỹ đen, Tầu, Đại Hàn đến Trung Đông v.v... và nhiều nhất là Việt Nam, chiếm khoảng 70% dân số nơi chung cư này. Có những người ở đây có đôi có cặp, nghĩa là vợ chồng, cũng có nhiều người sống độc thân. Trong số những cặp vợ chồng tôi quen biết người ngoại quốc, vợ chồng họ đều sống chung cùng trong một căn hộ (apartment), mỗi căn hộ có phòng khách, nhà bếp, nhà tắm và phòng ngủ, đôi khi có hai phòng ngủ hai phòng tắm. Chỉ riêng người VN của chúng ta, tôi thấy có 4 cặp vợ chồng (đấy là sơ khởi thôi, còn thêm bao nhiêu cặp nữa tôi chưa biết), mỗi người sống một căn hộ riêng !!! Nhưng nếu họ ở riêng và trả tiền thuê nhà như những người khác ($1350 mỗi tháng) thì không thành vấn đề. Vấn đề là họ đã lạm dụng chính phủ, xin cả 2 căn hộ tiền nhà (housing). Chúng ta thử làm một bài toán nho nhỏ xem sao nhé:

- căn hộ #1 họ chỉ cần trả $150 tiền thuê mỗi tháng

- căn hộ # 2 họ cũng chỉ trả $150

Hai vợ chồng có hai căn hộ, tổng cộng tiền nhà tốn có $300 mỗi tháng. Họ ở một căn, còn căn thứ hai cho thuê lại tiền mặt $1000, như vậy hàng tháng họ thu về $700 không cần đóng thuế. Có ai thắc mắc nhà nước kiểm soát, xin thưa: người ở thuê sẽ nhận là người care giver của họ vì ngoài tiền nhà, tiền thuốc và tiền bác sĩ free (medical) họ còn có care giver (người làm đến chăm sóc vì vấn đề sức khoẻ) ... đến để ... rửa xe cho họ !!! họ được hưởng free care giver từ 20 đến 60 giờ mỗi tuần trong khi họ khoẻ như trâu, đi đứng vững vàng và vẫn đi phòng trà nhảy đầm triền miên !!!

Quý vị ơi, từ khi dân tình VN sang tị nạn tại thủ đô Little Saigon này, tôi thấy xảy ra bao vụ "ăn cướp tiền chính phủ bất hợp pháp, từ các ông Đốc tờ ăn gian lận tiền medical, đến các ông làm đụng xe giả rồi : cũng liên quan đến các chàng lsư, bác sĩ cùng các chàng bán bảo hiểm. Rồi cộng thêm những quái nhân ăn gian tiền nhà vô tội vạ như 4 cặp vợ chồng tôi vừa nêu trên, thử hỏi làm sao tiểu bang Calofornia không bị phá sản và khánh tận như ngày nay ???

Cái vô liêm sỉ nhất là tôi biết có hai cặp vợ chồng :

a/ một cặp ông chồng là cựu bác sĩ, sang Mỹ từ năm 1975, đã hành nghề tại bệnh viện và cũng có phòng mạch riêng. Họ cũng có 4 đứa con, đều là "SƯ và SĨ" cả, thế mà khi họ về hưu, họ vào khu tôi ở và được hưởng chế độ housing cho hai căn hộ như tôi nêu trên, tài tình thật !!!!!!

b/ một cặp khác có con trai là bác sĩ thẩm mỹ nổi tiếng ở vùng này, con dâu cũng là bà đốc tờ, thế mà họ cũng dùng hai căn hộ housing như trên, quá tài tình ... bái phục bái phục vừa về nhân phẩm lẫn liêm sỉ của họ!!!

10/ Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng (last but not least), có những người tính rất ích kỷ đến độ ... hèn hạ ...thiếu nhân cách con người. Chúa dạy tôi không nên xét đoán người khác, tôi chỉ xin nêu ra đây câu chuyện này hy vọng có thể gửi dến những quý vị đàn ông VN một lời nhắn nhủ: nên anh hùng và tế nhị, khi không giúp được phụ nữ tay yếu chân mềm thì cũng đừng hại người ta đến chỗ có thể chết người...

Số là chỗ tôi ở có hồ bơi, lâu lâu tự nhiên thấy xuất hiện những "quái nhân" từ ngoài vào xuống hồ bì bõm. Cách đây mấy tháng thấy xuất hiện một ông VN, tuổi đoán ngoài 70, ông ta đến hồ bơi 2,3 lần mỗi tuần, kỳ nào cũng thấy ông diện bộ vest cũ kỹ nhàu nát từ thời Bảo Đại còn mang tã. Đến hồ bơi ông tự động thoát y từ từ trước mặt đàn bà con gái, giữa ban ngày ban mặt không một chút mắc cở. Đến lúc chỉ còn cái quần xà lỏn kiểu may ở VN trên người, cái quần này mỏng đến độ có thể thấy hết "mọi sự" bên trong, xuống nước thì quần mỏng dính sát vào thân hình càng rõ hơn, "cái ấy" của ông ta size to bé thế nào ai ai đều thấy được hết. Đã thế ông ta nhảy ùm xuống hồ nước nóng (Jacuzzi), việc đầu tiên ông ta thọc ngay hai tay vào quần ... kỳ cọ !!! rồi chạy lên kỳ cọ hai cái nách rổn rảng, tự nhiên như CS 1975 !!! Chưa có cảnh nào trên đời kinh khiếp ghê tởm như vậy. Tôi thấy khiếp hãi quá đành phải khuyên đôi lời : "bác ơi, xin bác hãy vào phòng WC thay quần áo .... xin bác mặc quần tắm và không nên mặc xà lỏn này tắm trước mặt đàn bà con gái công chúng ... kỳ lắm ...". Nhưng nước đổ đầu vịt, mỗi lần ông ấy xuống nước là chúng tôi lên bờ và sau 3 lần khuyến cáo chúng tôi phải report cho nhân viên ở đây để họ ngăn cản ông ta đến làm trò "phạm thuần phong mỹ tục".

Vừa thấy ông VN biến thì lại xuất hiện một ông Tàu từ ngoài vào tắm lậu, cũng dơ dáy và thoát y trước mặt đàn bà như chỗ không người. Các bà ở đây lại giao cho tôi việc khuyến cáo tên này. Thấy nó to con tôi cũng hơi sợ nhưng chướng mắt quá bèn can đảm nói nó vào phòng vệ sinh ... thay quần. Nó cũng giả điếc còn làm tới hơn, càng phô trương lộ liễu hơn .... trong lúc không biết tính sao, tôi thấy có 1 ông VN quen trong chung cư này xuống tắm bèn nhờ anh ta, chờ lúc thằng Tàu thay quần giả bộ như bắt gặp quả tang, lên nói chuyện với nó "đàn ông với đàn ông" dễ thông cảm !

Phải nhờ ông VN vì dù sao tôi không muốn nó biết tôi là thủ phạm "càm ràm" nó, nhỡ nó trả thù tôi thì sao? Không hiểu chàng VN nói năng ra sao, ngôn ngữ bất đồng chăng? ngày sau nó vẫn như thế, tôi gọi ông VN nhờ lên văn phòng report dùm. Thay vì lẳng lặng ra văn phòng report, ông này vô ý vô tứ và điên vô cùng, ông ra ngay hồ bơi trước mặt tên Tàu đấy, rống lên hỏi tôi "có nên report thằng Tàu bây giờ không". Đúng là không có cái ngu nào bằng cái ngu này, "lạy ông con ở bụi này". Kết quả hai ngày sau thằng Tàu lại xuống tắm, trước sự chứng kiến 5 bà VN khác nó đá cho tôi một cú thật đẹp và hào hùng gần gãy ba cái xương sườn và bầm tím ngực !!! nếu có ngực giả thì bong bóng trong ngực chắc cũng bể mất rồi ! Tôi đau điếng và thật sự chửi thầm ông VN, người đâu vô tích sự, mang tiếng có học, nghe đâu ngày xưa ở VN cũng là dược sĩ mà sao đần độn quá sức ... đến bây giờ tôi vẫn còn sợ ra đường thằng Tàu rình đánh tôi trả thù .... vì sự vô trách nhiệm của ông VN hàng xóm ... Thiệt tình hết thuốc chữa !!!

Trên đây là những mẩu chuyện tôi đã và đang gặp hàng ngày. Tôi cũng chỉ là con người, tôi không toàn hảo, cũng có những khiếm khuyết. Tôi nêu ra đây những sự việc đau lòng và mong những ai đó, những ai còn nặng lòng với quê hương xứ sở, thông cảm và cho ý kiến nên làm gì ? Một cây làm chẳng nên non, biết rằng "nhân vô thập toàn" nhưng làm sao cho mọi người ý thức được những sự việc họ làm rất là "vô giáo dục, vô liêm sỉ", không chấp nhận được. Tôi ước mong chúng ta hãy cố gắng sửa đổi để cộng đồng người Việt chúng ta "sạch sẽ" hơn và học được "sự tự trọng" như dân tộc Nhật ?

Họ làm được tại sao mình không làm được nhỉ?

Thiên Kim

Nguồn:

http://dtphorum.com/pr4/showthread.php?304-L%E1%BB%9Di-th%E1%BA%ADt-

m%E1%BA%A5t-l%C3%B2ng-%E2%80%93%C3%94i-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-Vi%E1%BB%87t-Nam!-(Thi%C3%AAn-Kim)

Chủ đề không quên: Tháng Tư Gãy Gánh Gươm Đàn

Bầu trời xanh lơ điểm những hoa mây trắng qùy gối trên mặt hồ Xuân Hương sáng loáng như tráng men, rồi mây kéo lê thê bay vắt qua sườn đồi buồn thiu, mây lang thang trên con đường mòn đất đỏ vắng tanh, mây bò lên sườn dốc đầy cỏ vàng úa.
Trong vùng sương mù và mây trắng xóa đó, tôi an phận đi và về giữa tiếng tíu tít và giọng cười nắc nẻ của các cô gái lí lí lắc lắc đang vui tươi ôm cặp đến trường. Những tà áo dài trắng hòa với sương mai mờ mờ, lung linh quyện lẫn vào nhau trong màn sương mênh mông. Mây và sương ru tôi vào mộng tưởng hoài mong luyến nhớ vô vàn. Cái lạnh cuối xuân mơn man lành lạnh ơn ớn len lén bay về, làm tê tê bờ môi vụng dại, khiến hai gò má phụ nữ và trẻ em luôn ửng hồng, màu hồng tự nhiên do trời ban không hề tô son trét phấn, thế mà họ vẫn xinh.

Ngày ngày vẫn bình an, ung dung vui vẻ từ nhà đi trên đường quen thuộc đến nơi dạy học, tôi cảm thấy lòng mình ấm lại những niềm vui. Chồng tôi (Luật) phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Hạnh phúc đơn sơ ấy chẳng được bao lâu, thì lịch sử Việt Nam đang còng lưng vác trên vai những tang thương đau đớn, dày vò, bi thảm tàn khốc nhất trong cuộc chiến tranh hung tàn. Ngoài xa, xa mãi tận hướng Du Sinh, hay Suối Vàng thì phải, từng hồi pháo-kích đì đùng nổ rền trời. Khói đen nghịt kéo theo mùi cháy khét tởm lợm, cùng sức nóng rợn người. Sương muối mù mù nặng hạt còn thấm ướt mái tóc, khi tôi đứng lớp giảng bài, thì Luật hớt hải chạy đến giữa những khung cửa kính kêu rè rè, bể loảng-xoảng, nâng nỗi khiếp sợ lên giếng mắt nhau. Có điều gì lo nghĩ đắn đo phiền muộn hay sao, mà khi anh nhìn vào mắt tôi, Luật đã vội vàng cụp mắt xuống, chơm chớp hai giọt mọng nước và lãng tránh quay đi, anh lí nhí báo tin động trời chẳng lành:

– Mười ơi! Có lệnh từ thượng cấp cho ông già bà lão, phụ nữ, trẻ con di-tản gấp. Còn toàn thể quân nhân, cảnh sát, nam công chức, thì tuyệt đối phải tử-thủ tại Đà Lạt.
Tôi nghe Luật báo tin ấy, cảm thấy rụng rời, bàng hoàng như sét đánh ngang tai. Tôi sực nhớ đến chuyện động trời: ngày 9 tháng 3 năm 1974, tại trường Tiểu-học Cai Lậy có loạt đạn 82 ly nổ rền. Ôi! Coi trên truyền hình có đoạn thời sự đã chiếu đi chiếu lại: thấy hằng trăm trẻ em vô tội chết đau đớn thảm thiết, thương tâm xiết bao! Bỗng dưng tôi lại nhớ vào khoảng năm 1973 có một thời người ta ùn ùn leo lên núi Lâm Viên để: xin nước của Phật Bà ban phước cho bá tánh, hầu trị tà ma, bình an, hay bệnh tật. Bà chị ruột của tôi đã đi. Và nữa… một số thị dân Đà Lạt nhiều người truyền tin cho nhau rằng: “Từ những cánh rừng xa hun hút, suốt ngày đêm đã xuất hiện nhiều đàn sâu róm nối đuôi nhau lũ lượt kéo xuống biển. Sâu róm chết la liệt trên đường (lúc băng qua đường). Những xe khách, xe đò, xe nhà đi từ Đà Lạt xuống Phan Rang… đều thấy”.

Tôi không biết chuyện tiên tri về đoàn sâu róm, và đoàn người sống trên đời lố nhố bỏ núi rừng băng đường vượt sông ùn ùn ra biển, thực hư ra sao. Tuy nhiên tôi tin rằng nếu ai đã từng sinh sống ở vùng Cao Nguyên thời ấy, đều biết, hoặc nghe rõ về chuyện Phật Bà hiện lên chỗ nọ chỗ kia, có cả chuyện mặt trời xoay quanh phụ nữ tiên mặc áo lụa trắng, thắt lưng xanh, tay bế hài nhi đứng trong vầng mây …và đoàn sâu róm nườm nượp đi xuống biển.

Bây giờ tôi chưa biết tình hình náo động nầy sẽ ra sao, khi ôm nhau chạy về nơi vô định, nên càng run sợ tột cùng! Phải cho các em học sinh dọt lẹ mà thôi. Tôi thều thào dặn-dò học sinh thu dọn sách vỡ, lo chạy nhanh về với gia đình. Trong trường tôi có cô Phùng dạy sát bên vách lớp của mình. Phùng xin tôi cho vợ chồng và đứa con nhỏ đi theo. Vợ chồng tôi đồng ý cho họ đi nhờ xe nhà của tôi về Nha Trang. Vì Phùng không có phương tiện di chuyển, mọi ngả đường bộ về hướng Định Quán đi Sài Gòn đã bị bế tắt. Chính phủ đang trưng dụng hàng không dân sự, để làm những việc hữu ích cấp bách rất cần khác. Duy chỉ còn quốc lộ chính từ Đà Lạt xuôi về miệt Phan Rang, Nha Trang, Phan Thiết: là có thể chưa bị mất. Không có xe đò còn chỗ chở khách, vì họ bận chở thân nhân; nếu ai may mắn lắm, hoạ may chủ xe cho lên ngồi trên mui, nhưng giá tiền một người đắt gấp mười lần giá tiền thường ngày. An toàn nhất là ngoại trừ ai có xe nhà.

Vợ chồng tôi vội leo lên chiếc Peugeot 404 của mình chạy về nhà. Đồ đạc trong nhà đầy dẫy! Tôi lính quýnh quờ quạng run rẩy không biết nên lấy thứ gì? Làm sao có thể gom đi cả gia tài đã dành dụm suốt đời người trong chiếc xe bé tí xíu? Luật la:
– Nhanh lên em. Bỏ của chạy lấy người. Còn người còn của mà. Mẹ, em và các con, cứ lo đi trước đi. Anh ở đây sẽ tìm cách gửi từ từ những thứ cần thiết theo xe đò xuống Nha Trang, gửi ở nhà anh Trí tại Cam Ranh, hoặc gửi ở cô Oanh, cho mẹ con em dùng sau.

Trong khi chờ đợi tôi thu xếp hành trang, Luật kiểm soát xe cộ, đi châm xăng, dầu nhớt vào xe hơi đầy đủ. Tôi dặn dò các con thu xếp gọn gàng sách vở bút viết cần thiết, bỏ vào mỗi cái cặp riêng của con cần mang theo. Tôi không còn tâm trí để nhớ một cái gì, lấy cái nầy, thì tiếc cái kia. Vì ngôi nhà đồ sộ sẽ buồn tênh và trống trải, mất mác hết khi vắng chủ nhân. Có thể ngôi nhà sẽ không bao giờ đón chúng tôi trở về. Mặc dù tôi đã để lại hết tất cả gia tài cồng kềnh quý giá, nặng nề, do công khó lao nhọc bao năm vợ chồng tôi tằng tiện dựng xây mua sắm. Tôi không giàu có lắm, nhưng giờ đây thì thứ gì cũng có thể không còn, tuy sự cần cù nhẫn nại chịu đựng, lòng tin yêu, độ lượng và tự trọng thì tôi không thiếu. Cái gì đời cũng ưu ái cho tôi sao!? Nhưng chưa chắc bây giờ tôi cần những thứ đó. Giống như chiếc xe thổ mộ đã chở quá đầy hàng, nếu chất thêm vài giỏ dưa lên nóc, chẳng biết xe và dưa sẽ đỗ lăn mất lúc nào. Vậy thì, ta nên giữ lại những thứ gì thật sự cần thiết trong lúc khẩn cấp mà thôi.

Tôi lo nấu hai nồi cơm hơi nhão thật to, dùng khăn ẩm vắt ra từng nắm nhỏ, chu đáo, tươm tất gói chà bông, ký lạp xưỡng, khô cá, khô bò, kí giò lụa, dưa leo, cà chua, cà rốt, rau sống, thùng mì gói, mươi bọc cơm sấy, mấy ổ bánh mì ba tê gan trét bơ, hộp sữa, tiêu, xì dầu… Có sẵn ít cá thu kho măng với thịt ba rọi còn dư, cả nồi trứng thịt heo kho Tàu đầy, do mẹ Luật đã nấu hồi sáng. Vừa làm các công việc trên, tôi bồn chồn lo lắng, bồi hồi, luyến tiếc về sự ra đi. Bởi vì tôi không thể biết cuộc ra đi sẽ lành dữ ra sao. Các con trẻ bé dại cùng đi với bạn bè trên dưới ba bốn mươi người (chung chuyến đi ở ba chiếc xe khác nữa của bạn). Nếu bị lỡ đường, tôi sẽ có thức ăn chia sẻ cho bạn lót dạ. Tôi khiêng một thùng nhựa 10 lít nước lọc ra sân. Hai cái bô có nắp đậy. Ít áo len, quần áo mỏng, giày, dép, linh tinh… cho bà mẹ chồng, tôi, các con.

Đã gần đến giờ hẹn, nhưng không thấy Luật đâu cả, tôi quá sốt ruột lo lắng vô cùng. Thì ra, Luật đã chạy vào trong Hà Đông báo tin cho gia đình cậu Cương của anh, và gia đình bà Tề lo liệu di tản. Thật là tội, ở trong ấp mù tịt chuyện thời sự náo loạn, họ ung dung đi tưới rau, không hề biết chuyện nhốn nháo lộn xộn rần rần ở ngoài phố ra sao. Thế là Luật phải đưa cậu Cương ra phố bán hai cây vàng. Cầm đồng tiền giấy nhẹ, có thể mua gì cũng được, hơn cầm cả thỏi vàng, chả lẽ mua ly trà, ly nước dừa, mà đưa cả chỉ vàng, hay cả lượng vàng. Mất toi mạng như chơi. Có mà điên! Hầu hết các tiệm vàng trả giá rẻ mạc hai cây vàng, họ ép giá mua chỉ năm mươi ngàn! Năn nỉ kỳ kèo hoài mà chả ai thèm mua giúp. May sao có bạn của Luật (anh chị Kim là chủ tiệm vàng ở Tùng Nghĩa, đến nhà chờ đi chung) mua giúp cho cậu.
Kim chạy giặc có những bọc vải ruột tượng, túi áo, túi quần cả gia đình đâu đâu cũng đựng vàng là vàng nặng trĩu. Họ rất sợ mất toi mạng, vì thời buổi loạn ly mà có hằng tá vàng chình ình cả đống thế kia, chẳng khác nào “lạy ông tui ở bụi nầy” làm thể nào thu dú đâu được. Gia đình anh Kim cần đi chung với bạn bè có đông người thân thuộc, là điều rất mừng. Kim tin bạn không tham lam lừa đảo, nên gửi nhờ bạn mỗi người mang mấy bọc vàng, Kim an tâm không sợ bị cướp giật giữa đường. Anh Kim móc túi lấy bốn trăm ngàn đưa cậu Cương, đó là anh trả cho cậu giá rất cao, coi như Kim cho cậu Cương tiền, chứ không phải anh mua vàng. Cậu của Luật vui mừng khôn xiết, cậu lo chạy nhanh về nhà thu xếp.

Các bạn thân hẹn nhau tập họp tại nhà tôi ở đường Đoàn thị Điểm, đúng hai giờ chiều là lên đường. Nhìn căn nhà riêng của mình lợp ngói ba tầng bề rộng phủ bì 5mét, chiều sâu 45m, đúc bê tông cốt sắt, tôi tiếc ngẩn ngơ, bùi ngùi vô vàn, thật sự không muốn lìa xa; nhất là xa Đà Lạt nơi chôn nhau cắt rốn. Nơi đó, còn cha mẹ, anh, chị, các cháu, chồng tôi (anh phải nghe theo lệnh cấp trên ở lại Đà Lạt tử thủ), người thân xóm làng hiền hòa. Không hiểu họ sẽ xoay-xở ra sao, khi tiếng đạn pháo ngày càng đinh tai nhức óc, dồn dập rót về trên đầu? Thỉnh thoảng súng đạn vun vút rền vang nơi xa xa, tạo thành những đường dài sáng loáng tóe lửa, vút qua vút lại trên bầu trời.

Bà cháu ôm nhau ngồi lặng-lẽ trên xe, cúi mặt thút-thít khóc, lòng tôi rối bời, ngổn-ngang trăm mối, lo-sợ tột cùng. Tôi cho con nhỏ mẹ già di tản, thì ăn ở đâu, ngủ ở đâu? Nhưng ba bên bốn bề ai ai cũng ùn ùn lũ lượt kéo nhau đi, đông kinh khủng thế nầy. Nếu gia đình tôi ở lại, có lẽ càng cô độc và sợ hãi hơn khi bóng đêm bao trùm xuống vạn vật, súng đạn ùa về nổ chát chúa, đinh tai nhức óc mỗi đêm thế nầy, làm sao đây!? Lương quân-nhân, công-chức, như “tiền lính tính liền”, rồi sẽ ra sao khi bồng bế nhau chạy về nơi vô-định?

Mấy lúc trước tôi đã bòn nhặt cất dấu được một số tiền kha khá, (đề phòng khi hữu sự bất chợt như bây giờ, thì có mà chi dùng). Nào ngờ, Luật thấy trong nhà có tiền, anh nghe bạn than thở, là thể nào anh cũng “réo rắt, xeo nạy” cho bằng được, để anh mang tiền đi đưa cho bạn bè mượn. Cả chục lần thấy chồng ỉ ôi thở vắn than dài, “dằn vặt đay nghiến” tôi. Dù tôi đã quyết dú đút tiền cất đi, nhưng rồi tôi vẫn “lạt lòng nhẹ dạ” không nỡ từ chối lời anh yêu cầu. Vả lại, tôi không phải là loại đàn bà mê tiền hám lợi, bo bo ôm rịt giữ kỹ tiền, thấy vàng bạc là mắt sáng như đèn pha. Tôi “dại lòng” nên trút hết hầu bao, đưa tiền để anh đem cho bạn mượn trước mặt tôi. Thật ra tôi cũng biết hoàn cảnh tùy gia đình mỗi người bạn, đều khó khăn rất tội nghiệp. Họ có tự trọng nhưng quá khốn đốn mới muối mặt nhờ giúp đỡ. Bây giờ bất ngờ ra đi nên tôi chẳng còn dư bao nhiêu tiền, thì nếu mẹ con tôi không lo chắt bóp ăn rau ăn cháo, chắc là chết đói nơi xứ lạ quê người thôi. Nghĩ tới đó là tôi cảm thấy quá sợ hãi!

Dưới chân đèo Krong Pha nhìn lên Đà Lạt tít mù cao, những bè mây trắng xoá kéo thành một dong dài, mong manh lả lơi như hơi sương quấn ngang đồi thông tiếp nối đồi thông rủ tóc, trải thành dải sô tang quấn trên triền quê hương. Đồi thông từ từ khép bức màn sô tang mỏng dính trong gió rì rào lao xao lay động cây cành nghiêng ngả. Rừng lá thấp xưa kia xanh thẩm mịt mùng ngút ngàn bao cây gỗ quý, hôm nay hầu hết cây cối xơ xác héo úa. Con đường cái quan ngày xưa rộng thênh thang, nay chật như nêm. Đoàn xe (nhà tôi và bạn) gồm bốn chiếc nối đít nhau chạy qua khỏi Krông Pha, tôi chẳng hề thấy ai đi ngược lên lại hướng núi, nơi chúng tôi đang đi xuống. Giòng người đen nghịt nối đuôi nhau đi chỉ một chiều xuôi về miền biển…

Tôi định tâm nhìn quanh, quá kinh ngạc khi thấy hàng hàng lớp lớp xe hơi lớn, xe hơi nhỏ, xe lam, xe gắn máy, xe đạp, xe ba gác, xích lô, mà biết hầu hết mọi người có phương tiện di chuyển như: xe hơi nhà, xe jeep, xe GMC, xe honda, xe lam, xe ngựa, xe bò… cùng bầy trâu, bò, heo, chó, ngựa, gà vịt, dê… chen chúc với người và người… tất tả xô đẩy nhau chạy bộ trên con đường chật như nêm, hổn-độn nối đuôi nhau chạy đi, chạy đi… ứ nghẽn. Họ lũ lượt kéo nhau tấp nập vội vã đi đông hơn kiến, kể cả những người gánh gồnh, vai mang lưng cõng, đều nối đuôi nhau lũ lượt tất tả lê lết đi bộ, bàn chân họ cột những tấm khăn hoặc quần áo chen lấn trên đường nhựa nóng muốn rộp da. Những tiếng còi xe bóp liên tục, những tiếng vỗ vô thùng xe và la hét của lơ xe kêu bộ hành giạt ra hai bên lề đường, nghe càng hổn độn và nhức óc.

Trên đầu súng đạn luôn ì oành nổ ầm ầm đùng đùng, oằng oằng oằng… pằng pằng pằng… chẳng lúc nào ngớt. Nhiều tràng súng từ phía sau ria tới tấp, xẹt tới xe hơi chở những bao bố tiền to khổng lồ, đó là tiền của các ngân hàng ở Đà Lạt mang đi. Tiền ơi là tiền rơi kín một góc đường phố, bay tá lã theo gió lồng lộng, mà các thứ xe kia cứ vùn vụt chạy đi, chẳng biết có ai dám cả gan đứng lại khum xuống nhặt tiền dưới cơn mưa chì bão lửa đó không? Cảnh thương tật, khóc than, thét mắng, đói khát, chết chóc, gầm rú. Hò hét. Chửi rủa. Đánh đập lẫn trong tiếng súng đạn gầm rú xa gần, khiến mọi người bị hút vào điệu quay chóng mặt, bàng hoàng đến rợn người. Dọc theo quốc lộ những pha cướp giật bóc lột đánh chém nhau dã man, trắng trợn nhiều vô số kể. Nhìn bộ hành kiên nhẫn đi vội vàng, dáo dác nhìn ngược ngó xuôi, lo lắng bước thấp bước cao như thế, lòng tôi bâng khuâng nỗi đau xót lạ thường, tim chùng xuống ngàn đắng cay ngậm ngùi không thể tả.

Mãi đến buổi hoàng hôn khi qua khỏi Phan Rang đầy gió cát, tới Ba Ngòi trời vẫn nóng bức xé da. Đoàn xe di tản chậm hẳn lại, dường như không còn sức sống, cạn kiệt nguồn sống rồi chăng, những xe khác không còn yêu xăng, nên xe ù lì nằm ụ từng đám rải rác trên đường từ Phan Rang tới Ba Ngòi, xe chẳng thèm nổ máy chạy nữa rồi! Gió lồng lộng thổi những hàng cây lao xao cúi rạp mình gần sát đất, khi những trái hỏa châu mắt thần bùng nở, đỏ bầu trời nghiệt ngã đang đè lên đầu nhân thế, hòa cùng khói thuốc súng và từng đám mây trắng bay vội vã, như đàn cừu hốt hoảng té chạy tứ táng trên đồi cỏ khô. Tiếng súng đạn bay vút lên không trung, tạo thành những màn nhện đỏ au, đan chéo qua chéo lại, có đường cát tuyến tiếp tuyến trên không gian mịt mù, tiếng đạn nổ dòn, hòa cùng tiếng lao xao của rừng xoài, tiếng dê, chó, gà vịt, côn trùng đồng loạt tấu khúc dạ trường bất tận… Đêm cuốn đi bởi giòng cuồng lưu cuồn cuộn, xô đẩy nhau chảy theo làn sóng người đang tìm cách thoát thân ra khỏi tai trời ách nước.

Trời sập tối, thì chúng tôi đến gần Vịnh Cam Ranh, nơi có chỗ neo tàu sâu, có sân bay chắc chắn và an toàn, có câu lạc bộ, có nhà máy làm nước đá, có hệ thống ra đa tối tân nhất bây giờ. Vịnh Cam Ranh là một lợi thế chiến lược tốt nhất của vùng Đông Nam Á. Từng là nơi tiếp liệu xăng dầu cho hạm đội trong chiến tranh Nhật-Nga từ 1904 > 1905. Ngày xưa là thế, mà nay im lìm câm nín bất động.

Đoàn chúng tôi cùng đi gồm: gia đình Trần Văn Ngọc: (mười chín người). Gia đình tôi (sáu người). Gia đình Phùng (ba người). Gia đình Bàn (mười người). Gia đình Kim mười người, (bây giờ Kim từ giã chúng tôi đi về hướng Phan Thiết, họ có thân nhân ở đó). Nhà anh chị Trí ở Cam Ranh, mười tám người, (không kể họ hàng di tản). Nay ở tại nhà anh Trí có thêm đoàn chúng tôi, vị chi tại nhà nầy có cả thảy là 78 người! Kinh khủng quá. Anh chị Trí, mẹ anh, em gái, các con anh chạy ra mừng rỡ tíu tít rôm rã chào đón. Chúng tôi đến bất ngờ, tôi, Phùng, gia đình Ngọc, Bàn, cùng hùn tiền đưa chị Trí, nhờ chị đi chợ nấu ăn giúp (có lẽ vài bữa). Ban đầu chị Trí nói qua loa, không nhận. Nhưng sau thấy chị Bàn nhét tiền vô túi, chị Trí mừng rỡ xách giỏ đi chợ. Phút chốc ba nồi cơm trắng to tướng, nồi canh chua cá chim, cá thu kho và rau sống, rau muống luộc, đã đọn lên đầy nhóc. Những người mới tới dùng bữa no nê ngon lành.

Nhưng tôi và Phùng có con dại, mệt quá nên chỉ ăn qua loa nửa chén cơm, rồi đi tắm rửa, giặt giũ áo quần. Phùng và tôi leo lên giường rù rì nói chuyện tới khuya. Phùng bảo đảm với tôi là chỉ cần chúng ta an toàn tới Nha Trang, thì mẹ con tôi sẽ ở nhờ tại nhà bà cô của Phùng. Nghĩa là gia đình tôi và Phùng sẽ tách riêng mấy gia đình kia: Ngọc. Quý. Bàn.

Ở Đà Lạt là quê hương tôi, dù gì tôi cũng dễ dàng xoay trở. Nếu về Nha Trang thì coi như tôi bơ vơ, lạc lõng. Tôi chỉ quen thân duy nhất cô Oanh (trước kia dạy học ở Đà Lạt, hai năm nay Oanh đã đổi về Nha Trang). Chẳng biết Oanh có còn ở chỗ cũ không? Còn Phùng về Nha Trang, thì bà con hai họ nội ngoại có nhiều. Phùng hy vọng có thể lưu lại nhà thân nhân một thời gian, sau sẽ tìm cách trở về Sài Gòn. Thế nên tôi thật mừng khi có Phùng cùng đi.

Bốn giờ sáng hôm sau, chị Trí lo dậy nấu mấy nồi cơm, canh cá tươi thật to như tối hôm qua. Tôm, cá, mực ở miền nầy rất tươi và quá rẻ, so với Đà lạt. Chúng tôi ăn uống no nê xong, ba đoàn xe chúng tôi từ giã anh chị Trí, lên đường đi Nha Trang. Khi tôi tới chỗ trạm đổ xăng, vì xe hơi của tôi cạn xăng, tôi đi tìm hầu hết mấy trạm xăng, không nơi nào mở cửa. Các chủ trạm xăng đều nói: “từ đây về Nha Trang các trạm xăng đều hết, khan hiếm, đóng cửa không có xăng từ một tuần nay”. Trời ơi! Lẽ ra tôi còn bình xăng phụ mười lít dự trữ mà Luật đã bỏ sau cốp, nhưng tôi ỷ y là dọc đường có thiếu khối gì trạm bán xăng, mà lo. Thế nên tôi đã chia sạch xăng cho hai chiếc bạn đi cùng đoàn. Tôi không hề dự đoán có chuyện bất trắc nầy. Chết rồi. Không ai chịu bỏ xe của mình lại nửa đường, (dù xe của họ cũ, coi thổ tả). Thế là tôi đành bỏ chiếc xe hơi Peugeot 404 mới của mình nằm ụ tại Cam Ranh, đúng như Luật nói: “bỏ tất cả của cải qúy giá, bỏ hết, lo túm chạy lấy sáu mạng người. Còn người còn của”!

Mẹ con tôi, gia đình Phùng leo lên xe lam của Quy chật cứng những đàn bà, trẻ con, cả thảy là mười sáu người. Mẹ của Luật và đàn ông, phụ nữ mạnh khỏe khác, thì leo lên chiếc xe be không mui. Dạo trước xe be nầy dùng chở cây gỗ, nay chở người. Khoảng bốn chục người lố nhố chen chúc ngồi trên xe be trần trụi, không có bờ vách, họ dùng những sợi dây dừa cột chặt thân người nầy vào người kia, rồi cột vô một cây gỗ cẩm lai và đống đồ đạc cao chất ngất.

Xe be và xe lam chạy chậm rì, cà rị cà mò ì ạch, nhưng tôi vẫn lo sợ người ngồi trên xe be chen chúc chật cứng, có thể bị lọt xuống đất! Xe không thể chạy nhanh trên đường dài ngoẵng có đủ mọi thành phần và tầng lớp… đông hàng vạn người gánh gồnh đi bộ, có đủ thứ loại xe lớn nhỏ. Thỉnh thoảng những chiếc xe bò lọc cọc chở đầy người phủ tấm bạt bay phần phật. Xe không có mui che, mặt trời càng nóng rát. Nhóm người lết bộ tay bồng tay bế, các em nhỏ khóc la thảm thiết, mặt mày ai nấy lem luốc, đỏ ửng như con tôm luộc, mũi dãi lòng thòng. Đến gần ngả ba, thì có một chiếc xe hàng mui bẹp dúm, bốn bánh xe chổng ngược lên trời, người trong xe ấy hò hét, máu me lênh láng. Mẹ con tôi sợ hãi bưng mặt nhìn đi chỗ khác, tôi tột cùng run rẩy hoảng loạn, tim nghẽn nghẹt ứ cơn đau, mà thân thể muốn bay bổng lên chín tầng mây.

Xe lam của Quy bị hư, cũng do chất đầy người và quá nóng máy, xe lam nầy nhích chạy đường trường không có đèn. Chiếc xe be do Ngọc lái phải đi sát phía sau dọi đường cho xe lam chạy, thật quá sức nguy hiểm. Đèn pha của xe GMC nào đó dọi sáng trưng, suýt tí nữa thì xe lambretta của Quy chồm tới rất sát xe khách trước mặt, (hoặc là chúng tôi nằm gọn dưới lòng xe be)! Anh tài xế xe GMC nghiến răng gò lưng đạp thắng, trên xe mọi người đông nghẹt đều dồn đống, chúi nhũi tới phía trước xe GMC. Bốn bánh xe GMC rít ken két dưới mặt nhựa, bánh xe tỏa khói bay khét lẹt. Tôi khó có thể đoán tuổi đời anh lính dãi dầu sương chiều nắng gió ấy đã trải qua bao xuân xanh, khiến da mặt anh càng sạm đi lúc hiểm nguy nầy? Cả bộ quân phục mặc trên người hình như bạc phếch phong trần, hay do bụi cát rít dưới những bánh xe?

Chúng tôi chỉ biết kêu Trời cứu mạng. Khi đèn xe rọi tới trước, tôi thấy những đứa trẻ con trạc bằng tuổi con tôi, nghe tiếng bánh xe lết trên đường nhựa, chúng hốt hoảng quýnh quáng bám theo chân người lớn vọt lên lề, mệt mỏi nằm vật ra trên đất khô. Thật hú hồn hú vía, nếu anh tài xế xe GMC không tháo vát, nhanh nhẹn, không có kinh nghiệm, ắt hẳn là tai nạn rùng rợn sẽ xảy ra không thể lường! Trong lúc nầy lòng tôi bỗng điên cuồng nổi lên sự ấm ức đầy tức giận, vì chuyện tôi đã vứt bỏ lại chiếc xe 404, để leo lên chiếc xe lam thổ tả nầy! Biết làm sao được, khi mình có lòng nhân không hề tính toán thiệt hơn, đã hậu hỉ trút hết xăng cho xe bạn!
* * *

Từ Cam Ranh khởi hành lúc chín giờ sáng, mãi đến mười giờ tối đoàn xe ì ạch nầy mới đến ngã tư Thành. Các ngã ba ngã tư giòng người đang cố chen lấn, giành cướp tí đất sống, xe và người vội vàng sát nhập chung nhau trườn lết tới vùng đất hứa hẹn an toàn. Họ cố chen từng bước, từng bước, ùn ùn tìm về vùng tạm cư có lẽ bình an hơn: Nha Trang… Chúng tôi ghi cho nhau địa chỉ bà con ở nhiều nơi, ngộ lỡ có biến loạn, hay cần liên lạc, thì biết mà tìm nhau. Chúng tôi chia ra nhiều hướng: Gia đình Phan Bàn ở nhờ với bà con của họ tại đường Nguyễn Tri Phương. Đại gia đình Trần Ngọc ở nhà bà con. Vợ chồng Phùng, gia đình tôi về nhà bà cô của Phùng.

Có thêm chúng tôi, nhà bà cô hơi chật càng nghẹt thở hơn, cổng sắt cao lút đầu, màn che trướng rủ kín mít. Họ nói chuyện với nhau thì thầm to nhỏ, mắt la mày lém, dáo dác nhìn trước ngó sau len lén rù rì. Họ tỏ lộ vẻ khó chịu ra mặt bất an sợ sệt điều gì lạ lắm. Hay là họ sợ mẹ con tôi biết họ quá giàu, họ “nuôi ong tay áo, nuôi khỉ đốt nhà”, tôi sẽ nảy sinh ra trộm cướp của họ chăng? Sống tại nhà bà con của Phùng ba ngày ba đêm, tôi sợ các con ồn ào làm vướng bận, phiền gia đình bà cô, nên mỗi ngày chúng tôi phải đi qua bên trường Tiểu-học, ngồi ngoài gốc cây phượng mua quà bánh ăn qua loa. Chiều chiều chúng tôi mò ra biển ngồi dưới hàng dừa hứng gió mát, để cho các con nô đùa ở biển. Chờ sau giờ cơm tối mịt, chúng tôi mới dám mò về xin phép chủ nhà cho tắm rửa, đi nằm ngủ nhờ dưới nền gạch bóng loáng trải mền bông xuống nền nhà. Mẹ con bà cháu tôi đều chui vào nằm chen chúc trong một cái mùng rộng. Tóm lại, chúng tôi chỉ xin ngả lưng ngủ nhờ. Năm giờ sáng, tôi lo đánh thức cả nhà dậy, lại đi ra ngoài lộ sớm. Hai hàng nước mắt tôi thầm lặng vẫn tuôn trào.

Mặc dù từ Đà Lạt về Cam Ranh, biết tôi không có thân nhân ở đây, Phùng đã cam đoan chắc chắn là: mẹ con chúng tôi khỏi lo vấn đề ăn ở Nha Trang trong thời gian vài tháng. Tôi ngây thơ đã tin bạn. Nay Phùng cảm thấy khó xử, tôi cảm thông vì nhà nầy không phải là nhà của Phùng. Dẫu sao Phùng cũng áy náy và hổ thẹn với tôi. Qua ngày thứ năm, tôi thấy mặt mày ai nấy đều nặng như chì, khi Phùng bồng đứa con lên máy bay về Sài Gòn. Thái độ ngược đãi ấy đã được khẳng định mọi điều dứt khoát rằng: Sau khi gia đình Phùng an toàn tại Nha Trang, có đủ điều kiện để họ tìm đường trở về Sài Gòn, thì họ muốn bỏ rơi chúng tôi. Như thế thì đã rõ rồi, dễ hiểu quá. Phùng nên đi trước, mai mốt ông chồng Phùng sẽ về sau, là lưỡng tiện đôi đàng, ông sẽ ú ớ ù lì ngơ ngơ ngáo ngáo, là huề cả làng. Họ “siêu tổ chức” khỏi mất công “hứa lèo” với tôi. Mặc tôi xử trí ra sao thì ra. Tôi thật ngây thơ, việc vợ chồng Phùng hứa suông chẳng khác nào đem con đi bỏ chợ.

Thà rằng tôi cứ ở lại Cam Ranh, dù sao gia đình anh chị Trí cũng là chỗ thân tình. Vả lại họ còn nợ tôi một món tiền hai trăm ngàn đồng, (do Luật “hứng nợ” đã đưa cho Trí). Rồi sau nầy cộng thêm nợ mới: Trí nợ một số tiền khổng lồ: Công ty chúng tôi bán năm trăm căn nhà tiền chế Mỹ đã tháo gỡ, cho dân ấp Vĩnh Linh, Cam Ranh. Tiền bán các nhà nầy, chúng tôi tin Trí, vì Trí ở tại địa phương, nên để Trí đứng ra làm thủ qủy thu tiền. Tiền anh ta đã thâu tóm hết, vung vít tiêu xài, Trí lem nhem không chuyển trả cho tôi, và ai ai trong nhóm. Ý của tôi muốn nấn ná ở lại Cam Ranh mười ngày nửa tháng tại nhà Trí, là có ý muốn Trí trả bớt tiền cho tôi, sau nữa là để tôi giữ liên lạc dễ dàng với Luật. Dù sao đường đi từ Đà Lạt về Cam Ranh, cũng gần hơn đi Nha Trang, và nơi nầy chưa bị phong toả. Ôi! người tính không bằng Trời tính!

Tình Hoài Hương
http://hoiquanphidung.com/content.php?3742

Chủ đề không quên: Tháng tư, Quốc hận, TÔI PHỤC VỤ PHI ĐOÀN 225.


image

            Lời Phi Lộ. Mỗi năm vào tháng Tư Quốc hận, chúng ta thấy có lắm bài viết về ngày đau thương nầy. NQ tôi cũng ráng viết một bài ngắn đóng góp, sau đó là tặng quý hiền huynh trong gia đình Ác Điểu. Để giữ tính chất trung thực, bài viết nầy có thể làm phật lòng chư vị nào đó, ngoài ý muốn của tác giả, nếu có vậy thì xin nhận ở tôi lời alopogize vẫn hơn là trách cứ tôi. Tình bạn giờ cũng trên hết.

                                                                                     Đa tạ.    NQ         



                    TÔI  PHỤC  VỤ  PHI  ĐOÀN  225

       Mấy năm gần đây, mỗi khi đến gần ngày Quốc Hận, tôi thường viết một truyện ngắn như ôn lại những chuyện thương đau của cái ngày oan nghiệt nầy. Lần nầy tôi lại chọn cái đề tài “Tôi phục vụ Phi Đoàn 225”. Phải nói là quá khó viết. Đây như là một bài viết như kể chuyện vậy thôi, sao tôi bảo là khó? Xin thưa khi viết về đề tài nầy bắt buộc phải nói đến nhiều đến cái tôi mà ai cũng biết “ Le Moi est haissable ” thôi thì tôi cố gắng đừng để cái TÔI của tôi bị ghét nhiều, được vậy mới là thành công .             
             
225
225Tôi đến PĐ 225 vào tháng 10 năm 1970, sau khi tôi phục vụ một PĐ ở Cần Thơ trên một năm với số giờ bay 1,300 giờ. Kể ra lúc đó tôi cũng có thá lắm vì PĐ 225 mới thành lập, chỉ có một số ít các anh đã từng bay cho PĐ nào đó trước khi về đây, còn phần lớn là các hoa tiêu mới, họ nhập ngũ vào năm 1968 và ra trường vào thời điểm nầy nên được bổ sung vào đây. Lúc nầy phi đoàn đóng tại phi trường Sóc Trăng cũng là quê hương của tôi. Tôi được cấp một cái phòng nhỏ gần phòng hành quân của PĐ để có chỗ ngủ khi trực bay đêm, hoặc tạm nghỉ ngơi khi chờ phi vụ. Đêm đến, tôi về trú ngụ nhà mẹ tôi ngoài phố. So với các anh em khác tôi sướng hơn nhiều vì có nước sạch để tắm gội mỗi ngày chứ không như trong căn cứ, nước bị phèn rồi còn khổ hơn nữa là khi có, lúc không. Cái chuyện nầy làm ai cũng thắc mắc không hiểu tại sao, căn cứ nầy trước đây do Mỹ đóng quân, ai cũng biết người Mỹ luôn đặt nặng lên hàng đầu cái vụ phải có nước sạch trong đơn vị cho dù bất cứ nơi đâu, thế mà qua tay Việt Nam chỉ một vài tháng thôi, thì tình trạng thiếu nước tồi tệ đến như vậy. Theo chu kỳ thì tôi bay 5 ngày và được nghỉ dưởng sức 3 ngày, vào ngày nghỉ nếu có tiền tôi dong về SG du hí như các anh em khác, còn khi cạn tiền thì về nằm nhà bà cụ ăn bám, như vậy cũng xong. Nói vậy chớ, lúc ở Sóc Trăng tôi đở khổ nhiều lắm nghen, nhờ có mẹ và hai bà chị chu cấp thêm nên tôi no tròn mập ú, bởi vì sáng nào cũng được ăn sáng đàng hoàng, khi thì cơm tấm bì, cơm cà ry khi thì hủ tiếu, mì, phở hoặc điểm tâm kiểu chú Ba: bánh bao, xíu mại, há cảo v.v..trước khi xách nón đi bay. Chiều tối thì được bạn bè tới kéo đi nhậu. Tôi có rất nhiều bạn cũ tại đây, hầu hết là bạn học thuở nhỏ, bây giờ phần lớn chúng nó làm việc tại Tiểu Khu, ty Cảnh Sát và tòa Hành chánh tỉnh, rồi cộng thêm gần một chục ông bạn học gốc người Hoa nữa chi, họ là lính kiểng, lính ma gì thì thây kệ mấy ổng, được cái là mấy ổng có lắm địa nhiều tiền, nhậu với mấy ổng luôn là rượu dư thịt thừa, khoái không chỗ chê. Nói vậy chớ tôi cũng biết kềm chế bản thân, như hôm nào sáng phải đi bay sớm thì đêm trước đó tôi nhậu ít lại, khoảng 10 giờ đêm thì rút lui về ngủ, chỉ khi nào ngày nghỉ mới dám xả láng, sáng về sớm. Bây giờ xin kể sơ lượt về chuyện bay bổng lúc nầy nhé, thời gian nầy Sư đoàn IV/KQ có 4 phi đoàn trực thăng để yểm trợ cho Quân đoàn IV gồm: 16 Tiểu khu, 3 sư đoàn chủ lực và một Biệt khu tương đương với cấp sư đoàn, bộ Tư lệnh Biệt khu thường chỉ huy hay điều động các lực lượng Tổng trừ bị được biệt phái đến đây, khi là một Lữ đoàn TQLC, khi thì một vài Liên đoàn BĐQ. Bốn phi đoàn trực thăng chia làm 2 team, nghĩa là 2 phi đoàn vào một team. Phi đoàn của tôi lại chung team với Đệ nhất PĐ 211, ở chung team với đại ca nầy thì cũng đã thiệt, không biết đại ca có áp phe gì với Quân đoàn hay không, hay lấy l‎ý‎ do tiết kiệm xăng, khỏi phải bay trình diện (T.O.T) nơi xa, thành thử đại ca luôn được yểm trợ phía bắc sông Hậu giang và vùng biên giới Miên-Việt do Biệt khu 44 đảm trách. Thằng em 225 phải yểm trợ phía nam sông Hậu nên ngày ngày: khi thì trình điện ở Vị Thanh, lúc thì xuống Cà Mau Bạc Liêu ra vào U Minh Thượng, U Minh Hạ thấy toàn là rừng tràm, rừng đước hoặc rừng dừa nước không có gì vui cả . Có những địa danh mà người dân thị thành biết được qua tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, Dương Hà, Sơn Nam như là: Gò Quao, Chắc Băng, Cạnh Đền, Giòng Riềng, Miệt Thứ, Kinh Trèm Trẹm, Cán Gáo, Thái Bình, Tân Bằng, Đầm Dơi, Cái Nước, Năm Căn, sông Gành Hào, sông Ông Đốc v.v…. chớ còn anh em chúng tôi thì tới những nơi ấy hà rầm như ăn cơm bữa. Lại có những nơi thật vô cùng nguy hiểm, bay vô đó thật là hú vía, rức tim chẳng hạn như vùng ‘VC Lake’, nằm phía tả ngạn sông Ô.Đốc, cách con sông lớn nầy chừng 2 miles và cách quận Sông Ô. Đốc ở hướng tây chừng khoảng 10 miles, cái hồ nầy khá rộng và đẹp (giống như cái hồ Possum Kingdom ở Mineral Wells của tiểu bangTexas mà tất cả phi công trực thăng đều biết vì là gần trường bay Fort Wolters). Sở dĩ tôi nói ‘nguy hiểm’là vì nơi đây Việt cộng nhiều vô số kể, chính cái tên ‘VC Lake’ là do phi công Mỹ đặt ra đấy, chớ anh em 225 âu yếm gọi tếu là ‘Hồ bao tử khìa’. Nếu bạn được dịp bay chiếc võ trang, bạn có dịp bay rà sát ngọn cây vùng nầy, bạn sẽ thấy phía dưới không còn một khoảnh đất nào gọi là lành lặn cả, toàn là vũng ao hố sâu bởi do bom, đạn đại pháo tạo nên và nếu tiếp tục bay nữa thỉnh thoảng bạn bắt gặp đủ loại thân xác trực thăng bị bắn rơi tại đây như loại: trứng vịt OH6, cụ H34, UH1B, Cobra, loại sâu rọm hai hệ thống rotors trên nóc giống như Chinook và có cả loại phi cơ cánh quạt Cessna, L19. Chiếc thì gãy gọng, sứt càng, chiếc thì chỉ còn lại cái đuôi hay cái cánh, chiếc thì bị cháy thành đống sắt vụn, chỉ thấy thôi thì cũng đủ bạn đái són ra quần. Chúng tôi cũng cống hiến nơi đây một chiếc võ trang nằm phía nam cái hồ nầy chừng ba dậm, tức là phía bắc của Chi khu Hải Yến độ chừng 5 dậm.

      Nhưng rồi như một phép lạ, chúng tôi cũng được luân phiên yểm trợ phía bắc sông Bassac như các PĐ đàn anh, nguyên do là: ông anh 211 đụng phải mặt trận Kompong Trạch, đây là một trận chiến lớn, địch quân hằng cả một  Sư đoàn bao vây 3 tiểu đoàn BĐQ (đây là BĐQ biên phòng) và một thiết đoàn M113 của quân ta, vì vậy Quân đoàn tăng cường thằng em 225 đến giúp ông anh 211 và sau đó họ thấy thằng em nầy làm cũng được việc quá đi chớ, cho nên kể từ đó 225 có mặt tất cả chiến trường từ nội địa đến ngoại biên giống y những PĐ kỳ cựu. Là hoa tiêu trực thăng (phải kể luôn cả phi hành đoàn nữa mới được, không thôi hai chú em phía sau cự nự là phiền lắm đó) thì phải chấp nhận hằng bao cái bất trắc, hiểm nguy đang đón chờ, nội cái tội: thân thể quá đà, bay chậm và thấp thì coi như là tấm bia tập bắn cho đối phương rồi. Bạn tôi và tôi đã từng nếm trải đủ loại súng đạn của quân thù từ bích kích pháo 61, 82 hay hỏa tiễn cầm tay B40, 41 tại bãi đáp, rồi loại súng nhỏ như AK 47, CKC, loại trung liên, đại liên rồi thượng liên RPD, phòng không 12 ly 8 và loại hỏa tiễn tầm nhiệt địa đối không SA 7. Được sống sót tới giờ nầy, chắc là nhờ cái phước đức quá to của ông bà, ông vãi để lại.

     Vào đầu năm 1972, PĐ được dời về Cần Thơ. Chiến trường vùng I và vùng II bắt đầu thật sôi động, các lực lượng Tổng trừ bị được lệnh rút ra khỏi vùng IV để tăng cường cho các vùng I và II. Dù vậy Quân đoàn IV vẫn giữ vững tình hình, có lẽ là nhờ các chiến sĩ vùng IV rất siêng năng hành quân tảo trừ, luôn bẻ gãy những chiếc đũa lúc còn riêng rẽ của cộng quân trước ‎‎cái ý ‎đồ gom lại thành từng bó lớn của chúng và tình trạng yên tỉnh tốt đẹp của vùng IV vẫn tiếp tục kéo dài cho đến ngày 30 tháng Tư năm 1975. Vào tháng 3 năm 1975, PĐ 225 còn tăng phái cho Sư đoàn VI/ KQ ở Pleiku có nghĩa là PĐ chúng tôi còn góp phần chiến đấu cùng với Quân đoàn II chống lại giặc thù chung nữa đấy.

     Chiến trường mỗi ngày thêm khốc liệt sau khi đồng minh rút đi. Tôi càng ở lâu trong quân ngũ tôi càng hư đốn. Tứ đổ tường: Tửu, sắc, tài, khí thì tôi làm đổ mẹ hết 3 bức tường rồi, chỉ chừa lại cái bức tường thứ tư là nằm thủ cây Bazoka bắn khỉ hay hít cocaine thì tôi chưa dám thử. Cái tôi mê nhất là Tửu vì nó giúp tôi dễ ngủ, thêm can trường, dũng cảm để mỗi ngày phải bay ra chiến địa. Và rồi cũng chính cái tánh nết bê tha phóng túng khiến tôi mắc nợ như chúa chổm. Những hàng quán gần quanh khu cư xá độc thân đều cho tôi ăn nhậu “À la ghi”. Để coi tôi nợ ai, nếu tính con đường từ phòng hành quân cũ đến cuối khu cư xá độc thân thì : xe bánh mì thịt của bà Phi đoàn phó, tôi nợ nơi đây năm bảy bao thuốc lá 555 mỗi tháng; kế đến là quán anh chị Hưng râu, tôi nợ hơi nhiều cũng bởi anh Hưng biết tôi từ lúc ở quân trường Nha Trang nên anh chị cho tôi ghi sổ ‘líp ba ga’, trong quán nầy còn có ‘gian hàng’ của chị Tần. Xin phép chị, đùa với chị một chút cho vui chớ chị Tần làm gì có được gian hàng, chẳng qua là một quang gánh được ông bà Hưng râu thương tình cho đặt trong một góc xó xỉnh, bên nầy gióng chị có cái nồi nhôm to đặt trên hỏa lò để hâm nóng thức ăn của chị, bên kia gióng chị bày trí nào là tô, đũa, lọ tương ớt, hũ tiêu đen, chai nước mấm, thau rửa bát, khăn giẻ lau khô  v.v…Món  ăn của chị được thay đổi luôn khi thì cháo cá, cháo vịt khi thì bánh canh, hủ tiếu v.v…Chị nấu không ngon lắm nhưng được cái là giá bán rẻ mạt, chỉ chừng 1/3 đến nửa giá tiền nếu so với các quán ăn dưới dốc cầu Bình Thủy, chính vì thế gánh hàng của chị luôn hết sạch vào lúc 10 giờ sáng mỗi ngày. Chị Tần có gương mặt chơn chất, thiệt thà của phụ nữ miệt vườn miền Tây, chị luôn nói cười hịch hạt với mọi người nên tạo cho người đối thoại có cảm nhận là chị rất dễ mến, vì vậy tên ‘chúa chổm’ nầy chưa dám ăn thiếu nơi gánh hàng của chị. Quán kế tiếp là ‘Sơn Sỏi Đá’, quán nầy bán giống y chang như quán anh chị Hưng, nghĩa là chủ yếu vẫn là cà phê, nước ngọt, sinh tố giải khát, trong quán cũng có nhạc xập xình từ chiếc máy ‘AKAI reel to reel’ và bán kèm theo vài món ăn sáng dễ làm như xôi mặn, bánh mì kẹp thịt hay bánh mì trứng ‘ốp la’. Họ còn giống nhau luôn cái mode tăng cường thêm một vài cô em họ hàng bên vợ, bưng nước dọn bàn bẹo hình bẹo dạng để thu hút khách hàng. Tôi ít khi lui tới quán ni, l‎‎ý do là không có gì khác biệt so với quán anh Hưng còn l‎‎ý do chánh nữa là mình đang ghi sổ bên quán anh ấy, lại chui vào quán nầy thì coi sao đặng. Quán cuối cùng trên con đường nầy là quán ông bà Tr/u Phương, ối giời ơi cái quán nghèo ơi là nghèo, vỏn vẹn hai chiếc bàn cây nhỏ và tám chiếc ghế đẩu con. Ông bà nầy chỉ bán bia và nước ngọt thôi, đồ nhấm để nhậu bia có mỗi món tôm khô củ kiệu ngoài ra không còn thứ gì khác. Tôi bày cho bà Phương là nên mua thêm vài loại cá khô như: khô cá đuối, mực, cá kèo, cá khoai v.v…rồi pha luôn một keo nước mắm ớt chua ngọt có điểm dưa chua như củ cải, củ sắn, cà rốt xắt que tăm và bán thêm rượu thuốc, rượu nếp than hoặc rượu đậu nành v.v… ít ra phải như vậy mới lôi kéo được mọi người. Tôi hỏi đùa bà ấy “có cho tôi ghi sổ không ?” bà vui vẻ trả lời “được chứ, nhớ khi lãnh lương anh phải trả cho em trước à nghen”. Đùa vậy, chớ thấy bộ dạng con khô hố của bà và mấy đứa con trông èo uột, ai nở ghi sổ. Các quán tôi vừa kể chỉ là quán để bạn ăn vặt hay uống nước giải khát thôi, còn muốn ăn cơm thì phải vào quán Đ/u Thông cũng ở gần đó. Đúng ra‎ chúng tôi ăn cơm ở câu lạc bộ Cửu Long nhưng trở ngại là đi bộ quá xa, vậy thì chui vào quán cơm phần của anh Thông coi như là thượng sách, đó là chưa kể anh ấy cho bạn ăn ghi thỏa mái, thật thích hợp với tôi. Các quán ăn sáng ăn trưa coi như tôi kể đã xong, bây giờ nói qua quán nhậu, tôi tâm đắc nhất là quán Song Mã của Tr/u Ba Lang ở ngoài cổng phi trường, nơi nầy khá khang trang, nhiều món ăn tương đối hấp dẫn dân nhậu, cũng vì thế mà tôi nợ ở nơi nầy hơi nhiều đấy. Mỗi cuối tháng sau khi thanh toán nợ ăn nhậu chịu, tiền lương của tôi còn lại chừng một phần ba, hoặc nhiều lắm là gần một nửa, vậy làm sao đủ sống cho hết tháng? Thôi thì mình tự an ủi: ‘Trời sanh voi thì sanh cỏ mà’, không thấy trong Kinh Thánh, Chúa Kitô có dạy sao ‘Loài chim Sẻ có biết để dành để dụm được hạt thóc nào đâu, thế mà Đức Chúa Trời đâu có để chúng nó chết vì đói.’ Vậy thì ta hơi sức đâu mà lo cho hao gầy thân xác.

     Phần kế tiếp cũng là đoạn cuối bài viết nầy chắc tôi phải nhắc vài chuyện vào những ngày cuối cùng tại Quân đoàn IV cũng như tại PĐ 225 . Vào giữa tháng Tư (năm 75) tình hình chiến sự vô cùng ác liệt, phần thua thiệt bi đát đã nghiêng hẵn về phía VNCH. Hai Quân đoàn I và II tiêu tan và triệt thoái, lãnh thổ Quân khu III phải thu hẹp lại, phòng tuyến xa nhất (Xuân Lộc) chỉ cách Thủ Đô Sàigòn chừng lối 60 dậm (100 kilometres), nơi đây Sư đoàn 18 và vài đơn vị Tổng trừ bị đang dũng cảm chiến đấu để ngăn chận cơn sóng bạo tàn của cộng quân đang vỗ ập về phía nam. Dù vậy Quân khu IV vẫn còn kiểm soát được, nói chung tinh thần chiến đấu của binh sĩ nơi đây chưa suy sụp, tất cả quân nhân đều hớt tóc ngắn gọn theo lệnh của Tướng Nam, răm rắp thi hành mọi chỉ thị của thượng cấp giao phó, sẵn sàng trực diện với quân thù nhất là bằng mọi giá phải giữ an ninh cho bằng được quốc lộ 4 cũng là con đường huyết mạch tiếp tế về đô thành. Nhưng than ôi, vài ngày sau nữa thì phòng tuyến Long Khánh bị chọc thủng, cộng quân ráo riết tiến nhanh về Thủ đô nhưng lại gặp nhiều ổ kháng cự của quân ta làm chậm bước của chúng, phi trường Biên Hòa bị chúng nã pháo dữ dội, tất cả phi cơ đều phải di tản. Ngày 29 tháng 4 phi đội II của tôi lên ca chánh, chúng tôi thi hành phi vụ package nhẹ 1-2-2 (1 C&C, 2 slicks, 2 gunships) làm việc cho Tiểu khu Sóc Trăng, đến 5:30 pm chúng tôi được họ release. Trên đường về chúng tôi nghe rõ mồn một trên tần số FM Emergency, ôi vô cùng ồn ào kinh động, họ gào hét inh ỏi y như là cảnh nhóm chợ ở vùng thôn quê, kẻ nói tiếng Mỹ người nói tiếng Viêt, họ báo cáo bị emergency, kẻ hỏi: Đệ thất hạm đội HK hiện ở tọa độ nào? người hỏi: lấy heading mấy nếu bay từ Phú Quốc qua Utapao? kẻ hỏi: liệu khi đáp ở Côn Sơn có chắc là có tàu rước mình đi không? v.v..và v.v…Những âm thanh đối thoại nầy không khỏi làm hoang mang xôn xao thêm cái tâm tư của anh em chúng tôi, nỗi ưu tư nầy vốn có sẵn cách đây vài tuần khi mà lãnh thổ VNCH chỉ còn lại một nửa, liệu rồi đây có giải pháp nào cứu vãn tình thế nầy được chăng ? Đất nước chúng ta sẽ ra sao ? Còn tương lai của chính mình nữa? Lại còn thêm cái tin Hoa kỳ có kế hoạch di tản gia đình của những người làm sở Mỹ và vợ con mấy ông Tướng tá thuộc hàng Sĩ quan cao cấp của Quân đội VNCH. Vậy ta nghĩ sao về mấy cụ nầy, họ có còn tinh thần chiến đấu nữa không? Hay mấy cụ cũng đang tính đường “vọt” theo vợ con? Chắc là chúng ta đã có câu trả lời cho câu hỏi nầy bởi chính chúng ta đặt ra. Hàng ngày hình ảnh và tin tức được báo chí đăng tải ở trang nhất về những trại tỵ nạn giả chiến do Mỹ lập ra để tiếp nhận người tỵ nạn như ở Utapao củaThái Lan, Subic Bay của Phi Luật Tân, trại Asan và trại lều vải Orote Point tại đảo Guam, Trại Wake Island v.v…Tất cả các tin tức trên đã tàn nhẫn kết hợp lại làm nản lòng người vô vạn và tạo ra muôn ngàn câu hỏi luôn dồn dập bủa vây trong tâm trí mọi người. Rồi từ đó những lần đi bay chung một hợp đoàn, các anh đâm ra biếng nói ít cười, không còn chọc phá, kể chuyện tiếu lâm hay trêu cợt nhau trên radio như lúc trước nữa. Bỗng tôi nghe giọng anh Th. trong hợp đoàn hỏi tôi qua làn sóng VHF nội bộ “Anh định thế nào hả anh Q ?”. Đang mơ mơ, màng màng theo dõi diễn biến trên FM thế mà nghe câu hỏi nầy, tôi tỉnh lại ngay, không cần suy nghĩ tôi trả lời dứt khoát “Tôi không tính gì cả, đơn vị mình còn nguyên vẹn, tôi không hề có ‎ý định đào ngũ đi trước, tôi không thể phản bội anh em”. Và rồi cả 5 chiếc về đáp phi trường Bình Thủy lúc gần 6 giờ chiều, tất cả 20 anh em vào phòng hành quân, 5 anh hoa tiêu phó làm bổn phận báo cáo giờ bay vào quyển sổ Phi Vụ như thường lệ, sau đó các anh em chia tay về nghỉ. Tôi gặp anh A. trong phi đội của tôi tại nơi đây, A. bảo tôi tối nay đến phòng hắn, hắn có chuyện cần nói với tôi. Tôi uể oải phóng xe Honda về nhà mình trong khu gia binh Hoàng Hoa III ở ngoài cổng phi trường. Bước xuống nhà sau tôi thấy nước mưa đầy cả  bồn chứa thì khoái lắm, đó là nhờ cơn mưa lớn vào tối hôm qua, thời gian nầy là bắt đầu mùa mưa ở miền Nam và kéo dài trong suốt 6 tháng liền, ngày nào trời cũng u ám chuyển mưa trông thật ủ dột, buồn thảm như thương xót khóc than cho số phận hẩm hiu của miền nam sắp rơi vào tay cộng sản chăng. Tôi cởi áo bay ra, tắm một phát rồi mặc y phục ‘civil’ vào, cảm thấy mình khỏe ra rồi bao tử bắt đầu làm eo, thôi thì cuốc bộ đến quán Song Mã kiếm cái gì ăn vậy, mình đang có tiền mà (Hôm nay tôi gặp anh tôi tại tòa Hành chánh ST, ảnh dúi vào túi tôi một ít tiền). Trên đường đi đến đó phải đi ngang nhà ông Tư Ch., Tôi định nếu thấy ổng ở trước nhà thì rũ ổng nhậu với mình vài chai bia cồ cho vui, nói vậy chớ khó gặp ổng lúc nầy vì ổng mới rước bà từ SG xuống. Bây giờ đã no rồi, tôi lưỡng lự chưa biết làm gì đây, vào PĐ gặp ông A. chăng, tôi nghĩ chắc không cần thiết lắm đâu, tôi đoán là hắn muốn báo cho mình biết nội dung của buỗi họp Tham mưu vào tối đêm qua mà mình vì bận nên phải nhờ hắn đi họp thế, nếu có vậy thì ngày mai gặp hắn cũng được, dù sao sáng mai mình cũng phải vào PĐ sớm vì ngày nầy: phi đội tôi xuống ưu tiên II tăng cường nên rất có thể tôi có tên đi bay vào lúc sáng sớm.  Vậy thì quyết định nằm ở nhà lấy quyển ‘Thiên Long Bát Bộ’ ra đọc tiếp. Dạo nầy tôi rất khoái đọc chuyện chưởng, đó là cách tránh cho đầu óc mình không phải suy nghĩ nhiều về thời cuộc, dẫu biết rằng mình chỉ là hạng tép riu, cấp thừa hành bé tí tẹo thì có giải quyết được chuyện gì đâu nà nhưng trước tình thế nầy thì đố ai giữ cho đầu óc mình được thanh thản vô tư? Tôi không biết thiền, vậy đọc tiểu thuyết kiếm hiệp, đó là cách ru tôi vào giấc ngủ dễ dàng thôi.

      Sáng hôm nay tôi đã có mặt phòng hành quân rất sớm, tôi thấy Th/ tá Đ đã ở đó rồi, tôi đến chào ông thì được ông bảo “Đêm rồi Vc pháo kích vào thành phố Cần Thơ, hai chiếc gunships của mình phải bay suốt đêm. Vậy tôi muốn đích thân anh và anh cắt thêm một phi hành đoàn (PHĐ, crew) chiếc số hai nữa, lên thay thế hai PHĐ trên đó, để họ về nghỉ”.  Lệnh lạc của ông alpha như vậy thì làm kẹt tôi quá, vì nguyên tắc thì phi đội nào lên ca chính thì họ mới có quyền cắt bay. Như tôi đã nói ở trên là hôm nay phi đội của tôi đã xuống ưu tiên hai rồi, nhưng mà: Nhà binh, lệnh là phải thi hành, chuyện khiếu nại là sau. Tôi nhìn lên bảng phi vụ: crew của tôi và crew anh S. nằm ở cuối bảng trực bay, thế là tôi sẽ dùng hai crew nầy, còn chút trở ngại là tôi không biết 2 ông cơ phi, 2 ông xạ thủ của 2 crew nầy có bay gunship được không, điều đó tôi phải check lại ông Ch/úy trưởng toán của họ và cũng nhờ ổng điều động họ phải có mặt phòng hành quân trong 15 phút nữa, đồng thời tôi nhờ ông sĩ quan trực xuống cư xá thông báo đến 3 ông hoa tiêu có tên trong hai crew nầy lên đây gắp, rồi xe pick-up truck chở xuống cư xá vãng lai Hồng Lạc. Tôi phóng xe Honda đến đó trước để bàn giao. Tôi trông thấy tám ‘người hùng’ có vẻ cũng mệt mõi, tôi nói “Thôi các ông chuẩn bị đi về nghỉ, chúng tôi sắp lên đây thay thế các ông theo lệnh ông Alpha Đ.” Tám ông nầy còn muốn tiếp tục bay nữa nên họ bảo tôi “ Các ông cứ ground alert tại PĐ, khi nào mệt, tụi nầy sẽ gọi về, chừng đó các ông sẽ lên thay”. Tôi chào các ổng rồi về lại PĐ, chắc mọi người hiểu rồi đấy: thời gian nầy mà có con tàu trong tay thì dễ dầu gì các ổng chịu nhả ra. Về tới phòng hành quân tôi thấy bảy anh em sẵn sàng lên xe truck, tôi bảo họ “Thôi, không phải đi đâu hết, hai crew của bọn mình tạm thời cứ trực ground alert tại PĐ, khi nào mấy ông trên đó muốn về thì mình sẽ lên thay, bây giờ có thể giải tán”. Tôi cũng dặn ông SQ và HSQ trực hãy gọi chúng tôi lên thay thế, khi nào các ông trên đó muốn về. Xong xuôi tôi đi qua văn phòng của Th/tá Đ. báo cho ông biết chuyện giao ước giữa các crew của chúng tôi. Ông Đ. nói: “Như vậy cũng được, tôi còn một chuyện nữa là nhờ anh điểm danh anh em thật kỹ lúc 9:00 sáng nầy cho tôi”, rồi ông nói thêm: “Đây là lệnh của Sư đoàn, ai vắng mặt không l‎ý‎ do thì bảo ban Văn thư báo cáo đào ngũ”. Tôi đáp: “ Thưa, vâng ” chào ông, rời khỏi nơi nầy. Lại là một chuyện khó cho tôi nữa đấy, vì theo thông lệ:  Điểm danh là nhiệm vụ của phi đội nào xuống ưu tiên III nghĩa là phi đội đang nghỉ xả hơi tại đơn vị hoặc sắp đi phép. Mà thôi, Sếp bảo tôi làm, thì tôi làm, nhà binh mà. Cũng xin nói thêm mấy tháng gần đây không hiểu sao Sếp có vẻ chiếu cố tôi hơi ‘kỹ lưỡng’ như: cách đây hơn một tháng, ông bảo tôi lấy xe truck qua PĐ 217 bên phi trường 31 mượn đỡ mấy trăm hộp thực phẩm khô (C ration) về phân phát cho anh em đi tăng phái miền Trung, rồi lần khác ông bảo tôi xuống khu tiếp liệu k‎ý‎ mượn 12 chiếc giường sắt có luôn nệm, đem đặt trong cái Shelter ngoài phi đạo để anh em có chỗ ngũ khi đến đây trực đêm (trực dời tàu qua phi trường 31, khi căn cứ nầy bị tấn công), cũng may cho tôi: mấy chiếc giường đó chưa bị ai chôm chọt, chớ nếu mất một cái thôi, tôi phải đền thấy m..., toàn là những chuyện không phải trách nhiệm của tôi. Bây giờ tôi phải trở lại phòng hành quân, nhờ SQ và HSQ trực thông báo dùm anh em là có cuộc điểm danh bất thường và rất quan trọng vào lúc chín giờ, yêu cầu mọi người phải có mặt đầy đủ. Sau đó, tôi về phòng nghỉ một chút, vì sáng tới giờ cứ làm chuyện gì đâu không.

     Còn chừng năm ba phút là đúng 9 giờ, tôi trở lại phòng hành quân với cái danh sách nhân viên 225 trong tay, gần như tất cả mọi người đều có mặt tại phòng họp. Đúng 9 giờ hai ông Th/tá Đ. và Ch. bước vào, tôi đứng lên chào và hô to:‘Tất cả..vào hàng, .. phắc’, tất cả phòng họp đều đứng lên nghiêm trang chào hai ông ấy, sau đó lại hô ‘Tất cả…ngồi”, anh em ngồi xuống, tôi bước tới bụt, quay mặt xuống đưa tay lên chào tất cả mọi người. Trước tiên tôi cho anh em biết tại sao có cuộc điểm danh đặc biệt nầy, tôi lập lại y chang những lời sếp Đ. nói với tôi lúc nãy và sau đó là điểm danh. Xong phần điểm danh, tôi hỏi hai vị Th/tá nầy có cần nói gì với anh em không, Sếp Đ. đứng lên tiến về phía bụt, tôi lại chào tất cả phòng họp lần nữa, rồi đi xuống ghế ngồi. Hôm nay Th/tá Đ. nói năng thật nhỏ nhẹ, ông khuyên anh em đừng có dại dột mà lặn vọt lúc nầy, chính người ngoài phố họ còn muốn vào trong đây mà không được, nơi nầy chúng ta có sẵn tàu bay trong tay, nếu có lệnh di tản thì chúng ta sẽ cùng đi v.v…Đến đây phần điểm danh sáng nầy coi như đã xong, tôi làm thủ tục để tiễn hai ổng đi ra, sau đó phòng họp giải tán, tôi trả lại cái bản danh sách cho ban văn thư. Vừa bước ra cửa tôi gặp anh H. ở mái hiên, anh và tôi trò chuyện cũng khá lâu, anh cho tôi biết: nếu có chuyện di tản thì anh sẽ không đi đâu, anh chỉ muốn trở về quê của anh ở CĐ. Đứng lâu, tôi thấy hơi mỏi chân nên rũ anh vào quán Hưng Râu uống cà phê, H. từ chối vì anh muốn qua khu cư xá 211 để thăm vài người bạn bên đó.

     Bây giờ đã hơn 10 giờ sáng, tôi đi đến quán anh Hưng, tôi thấy các bạn Đ., L., Q., H. Indian, T.(Flight II) có mặt ở đây nên tôi tấp vô bàn của họ để ngồi nói chuyện giải khuây, gọi luôn cho mình một cà phê filtre có đá có đường. Khoảng 10:30 sáng, anh Hưng chủ quán hớt hải mang tới bàn chúng tôi một cái radio cassette đang nói tin tức, Hưng nói: “Các ông nghe kỹ đi, Tổng Thống Minh Cồ đã tuyên bố đầu hàng rồi”, sáu đứa chúng tôi chưa nghe được gì vì ông nói sắp xong rồi, tiếp nối là một bản hùng ca. Kinh nghiệm xưa nay cho ta thấy trong những lần náo loạn như đảo chánh thì đài phát thanh thường hay xen kẽ giữa những huấn thị, hiệu triệu của tướng lãnh bằng một bản nhạc hùng, vậy phải đợi xong bản nhạc nầy thì họ sẽ ‘playback’ hiệu triệu của ông Minh. Đúng vậy, giọng ông Minh thật là monotone, ông nói rất từ tốn không như giọng của một vị tướng lãnh, tôi chỉ nhớ đại khái ‘…kêu gọi QL/VNCH hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng miền Nam VN…từ trung ương đến địa phương trao lại cho chánh phủ cách mạng lâm thời miền Nam VN’.

     Thế là hết, nỗi uất hận đã hằn lên gương mặt mọi người, muốn khóc mà khóc không được. Tôi uể oải đứng lên định đến quầy trả tiền, anh Hưng chận lại, anh nói “Coi tôi đãi các bạn lần cuối”. Thật ra ổng rất muốn tất cả mọi người trong quán rời khỏi đây cho rồi, để còn thu xếp chuyện của ổng. Năm ông bạn của tôi trở lại cư xá, còn  tôi thì lên văn phòng của hai ông Thiếu tá nầy xem hai ổng đã biết tin nầy chưa? Rồi hỏi các ổng: ‘Đã đến lúc chúng ta lấy tàu di tản được rồi chứ? Không lẽ các ông ngồi đây đợi họ tới bàn giao?’ Nhưng tôi không thấy ông nào ở đây cả, thôi thì tôi trở lại cư xá với mấy bạn lúc nãy. Chúng tôi đứng chụm nhum 4,5 người bàn thảo với nhau ngay phía ngoài phòng ngủ của A. và  Đ. Chừng 10 phút sau thì thấy Đại tá T.M.Th quá giang xe Honda của ai đến đây, nhập với bọn tôi. Hầu hết chúng tôi đều biết ông Đ/tá Th, ông hiền từ như cái tên của ông, ông đã từng giữ chức Chỉ huy trưởng căn cứ Sóc Trăng lúc PĐ 225 đồn trú tại đó. Ông cho chúng tôi biết: “Soleil của mình (Tướng TL Sư đoàn IV/KQ) mới lên trực thăng đi rồi, vậy các anh hãy tự lo liệu cho chính mình.” Ông không thấy chúng tôi phản ứng gì, nản quá ông từ giã bọn tôi, đi bộ qua cư xá 211. Và rồi chừng 5 phút sau thì có một chiếc tàu đang Hovering fly từ khu Parking về đến khu cư xá, tàu hover trên cao, canh ngay cái sân vuông ở giữa 4 dãy cư xá 225 rồi hạ thẳng xuống, thì ra ông pilot đó là H.Indian, thảo nào tự nãy giờ tôi không thấy mặt ổng. H. gài controls bằng Forced trim, rồi mở của bên phải phóng đi tìm vợ con. Tàu bắt đầu chòng chành vì H. không giảm vòng quay của máy (Engine RPM), bọn tôi đứng cách tàu chừng 6,7 m thôi, tôi phóng tới mở cửa trái leo vào, chụp controls điều khiển, các bạn tôi cũng leo lên tàu luôn, L. ngồi vào ghế phải, tôi đợi khi nào H. đem được bầu đoàn thê tử của hắn lên phi cơ đàng hoàng thì tôi take off, trong lúc đó lại có thêm 5, 3 ông nữa nhảy lên tàu. Ngoài tôi và L., tổng cộng người lớn và trẻ con cũng khoảng 15, 16 người rồi, ngồi kín cả sàn tàu. Trước mặt tôi là cây trứng cá khá cao, tôi làm maneuver maximum take off, cũng may con tàu nầy rất mạnh nên lên khá dễ dàng nhưng vẫn khốn đốn với giây điện, cột anten TV của cư xá 211, phải luồn qua, lách lại mới ra được. Sau khi đạt được cao độ, tôi lấy heading 150 độ để bay ra Côn Sơn giống như tôi đã nghe lóm từ hôm qua.  Rồi từ phía sau chuyền lên cho L.và tôi mỗi đứa có một cái helmet,  L. mở tần số FM emergency, và VHF nội bộ của 225 để theo dõi, chúng tôi thấy là chúng tôi đã bay đúng hướng như những người đang đi trước chỉ dẫn. Chúng tôi đáp tại phi trường Côn Sơn lúc 12:45 trưa, thấy nơi đó có 2 vòi Fuel, chúng tôi ghé vào đổ đầy săng cái đã và theo sự chỉ dẫn của một vị Th/tá phi công trực thăng nào đó, chúng tôi đem đậu vào bên hông phi đạo, line up với mười mấy chiếc đậu sẵn tại đây, sau đó chúng tôi tắt máy như những chiếc kia. Viên Th/tá gặp lúc nãy lại đến tàu chúng tôi nói chuyện, ông cho biết: “Nơi đây rất an ninh, hiện tại chúng ta đang có một UH1 toàn những ông rất giỏi tiếng Mỹ đang bay orbit gần Đệ thất hạm đội để liên lạc với họ, xin họ cho chúng ta được đáp xuống Hàng không mẫu hạm. Họ trả lời, họ cần phải gọi về Washington trước mà bây giờ bên Mỹ là đêm, nên họ bảo mình ráng chờ, họ tin là WA sẽ chấp nhận thỉnh cầu nầy. Chiếc UH1 đó vẫn tiếp tục bay gần họ để chờ tin, khi được tin tốt, chiếc UH1 sẽ về cho chúng ta biết ngay. Bây giờ chúng ta phải lập nhiều hợp đoàn V5 sẵn, cứ 5 chiếc vào một hợp đoàn để bay an toàn, tôi chắc sẽ có rất nhiều trực thăng nữa bay ra đây sau khi nghe lệnh đầu hàng của ông Minh.”

     Thật dúng vậy, sau đó cứ 10 hoặc 15 phút thì có một hoặc vài trực thăng UH1 hay Chinook đáp xuống, tất cả họ đều ‘refuel’ rồi đem tàu đậu nối đuôi nhau. Tôi thấy có chiếc của ông Alpha Đ., của ông Đ., ông Nh., ông S., ông Th. v.v…Tôi mừng lắm khi thấy anh em mình thoát được cũng nhiều, tôi tới thăm hỏi Sếp Đ., Sếp hỏi tôi “có cách nào để PĐ cùng bay chung Formation với nhau không?”. Tôi trả lời: “chắc là không rồi, nhưng Sếp đừng lo, tất cả đều đáp USS Midway chắc là sẽ gặp nhau dài dài mà”. Tôi cảm thấy mình qu‎ý mến Sếp Đ. hơn vì cho đến lúc nầy ông vẫn nghĩ tới anh em 225.

     Khoảng 16:00 giờ, chiếc UH1 đi liên lạc với Hạm đội 7 trở lại đổ thêm xăng và ra dấu cho mọi tàu quay máy và đổi frecency mới trên VHF để cho tất cả các tàu có thể liên lạc được với nhau. Hôm nay, chiếc liên lạc coi như là chiếc C&C sẽ hướng dẫn mọi người bay phi vụ cuối cùng trong đời mình. Chiếc C&C cất cánh trước rồi lần lượt các chiếc khác thứ tự cất cánh theo, cứ 5 chiếc tạo Formation V5 như briefing trước đó;  V5 sau cách V5 trước chừng 10 cánh quạt. Dường như có tất cả là 7 cái Formation V5 (khoảng 35 đến 40 chiếc UH1H), lấy heading 030 (đi lênVũng Tàu) cao độ chừng 1500 bộ. Còn bên Chinook cũng có khoảng 3,4 chiếc, họ bay với formation riêng của họ ở phía sau. Bay độ chừng hơn 40 phút thì nhìn xa xa thấy Hạm đội 7 của Hoa Kỳ, khi đến gần hơn, tàu C&C ra lệnh cái V5 thứ nhất (I) đổi qua độ hình Trail và khi nào thấy tàu sân bay bật đèn xanh thì 5 chiếc nầy vào đáp, trong khi đó cái V5 thứ nhì  (II) sẽ lên làm lead, dẫn nguyên hợp đoàn lớn bay vòng tròn lớn chờ đèn xanh, khi thấy đèn xanh thì V5 (II) cũng đổi đội hình Trail vào đáp, rồi cái V5 số ba (III) sẽ lên làm lead tiếp tục dẫn hợp đoàn bay vòng chờ…cứ như vậy đến cái V5 cuối cùng. Sở dĩ chờ hơi lâu là vì tàu nào vào đáp xong, phải tắt máy liền, mọi người trong tàu phải đi ra ngoài ngay, mấy ông Thủy thủ Mỹ sẽ xô tàu đó xuống biển để có chỗ tàu khác xuống đáp.

     Tôi vừa đáp xong, tắt máy, bước xuống tàu thì có một ông thủy thủ da đen cao lớn đến bên tôi, hắn tháo cái dây súng có đeo Rouleau P 38 của tôi quăng xuống biển rồi bảo tôi qua bên kia đứng với mọi người. Sau đó họ hướng dẫn toán của tôi khoảng ba mươi người đi xuống dưới hầm tàu. Tại hầm nầy, tôi thấy đã có trên trăm người rồi, họ đang ngồi trong những chiếc tàu nhỏ, loại há mồm, dùng để ủi bải đổ bộ của TQLC, phía trước mũi bằng được mở ra để mọi người ra vào. mỗi chiếc chứa khoảng 30 người. Toán của tôi cũng chiếm một tàu giống như vậy, sau đó họ mang cho chúng tôi mỗi người một ít bánh Cracker và một cái ly bằng mốp chứa chừng 6 oz Coke lạnh. Được dung nạp một số calories do những thứ nầy tôi thấy khỏe ra, bởi từ sáng đến giờ tôi có ăn cái gì đâu. Nội cái chuyện lo âu, hồi hộp đã làm mình quên đói, chỉ thấy mệt trong người thôi. Bây giờ thì đỡ rồi đó, hết lo cái vụ bị người “anh em” phía bên kia bắt bớ giam cầm, khảo tra trả thù v.v... Như vậy ta phải cám ơn người Mỹ mới được, đã giúp ta thật đúng lúc, rồi tôi lại thắc mắc: Tại sao Hạm đội 7 lại vào quá gần bờ? (giữa Vũng Tàu - Côn Sơn). Tại sao Đặc khu Côn Sơn chỉ là một quận nhỏ của Bà Rịa Vũng Tàu lại rất an ninh vào những ngày cuối, tù chánh trị vẫn bị nhốt kỹ, ngoài phi trường phi cơ lên xuống cũng bình thường? Còn cái nguồn săng JP4 ở đây sao quá dồi dào, nội ngày hôm nay đã cung cấp đầy đủ hơn 40 trực thăng vừa UH1 vừa Chinook và không biết bao nhiêu tàu trong mấy ngày trước đó nữa? Phải chăng người Mỹ đã có kế hoạch thu hồi lại những phương tiện và chiến cụ của họ, họ thà đổ xuống sông, đổ xuống biển chứ không muốn tặng cho csVN. Tôi nghĩ như vậy, không biết có đúng không? Tôi ngó quanh tìm kiếm bạn bè để đến nói chuyện hay thăm hỏi cho đầu óc mình bớt căn thẳng.

     Khoảng 9:15 đêm, một ông Hải quân Thượng sĩ Mỹ dùng cái Haul-Parleur xài Pin loại cầm tay nói cho mọi người biết là chừng 15 phút nữa, họ sẽ tắt bớt đèn lớn trên trần để mọi người nghỉ ngơi. Vậy mọi người hãy dừng đi thăm viếng ở tàu khác mà hãy trở lại tàu của mình và ông nhờ một người Việt giỏi tiếng Anh thông dịch lại. Đúng 9:30 mọi đèn lớn trên trần đã tắt hết, chỉ còn vài đèn nhỏ trên vách cao đủ sáng cho ai cần thiết đi nhà vệ sinh. Tàu khá chật chội khi phải chứa đến 30 người, mọi người đồng ‎ý ngầm là nhường cho trẻ con, người lớn tuổi hoặc phụ nữ được ngủ nằm còn hạng trai trẻ như tôi phải dựa lưng vào thành tàu, co gối ngồi ngủ. ‘Giang sơn’ của tôi ở phía ngoài cùng (mặt trước của con tàu) vì khi sắp toán dẫn xuống tàu thì tôi là người đi sau chót. Tôi tựa lưng và thành tàu, định chộp mắt ngủ một chút cho khỏe như mọi người nhưng không, không dễ dàng vậy đâu vì với những kẻ có tâm sự thì bóng đêm là một điều tra viên vô hình, họ đang lấy cung thẩm vấn can phạm, can phạm đó lại là tôi. Điều tra viên nầy muốn chính can phạm phải trực diện với lương tâm mình. Tội lớn nhất là bỏ nước ra đi, xa lìa người thân quyến, họ với tôi giờ đây như kẻ ở dương gian, người ở âm phủ thì chắc gì kiếp nầy có dịp trùng phùng. Nghĩ tới đó, nước mắt tôi tự dưng tuôn trào, tôi ước gì nơi đây đừng có ai để tôi được khóc rống như trẻ con, hầu vơi bớt phần nào nỗi niềm khổ đau như người đời thường mách bảo. Tôi ngồi phía ngoài, bên phải tôi thì không có ai nên tôi xoay người về phía đó, hai tay bó gối, đầu gục xuống đó để đừng ai nhìn thấy hai dòng nước mắt của mình cứ đầm đìa tuông rơi không dứt, xen kẽ đó là những uất nghẹn sắp bật thành tiếng, tôi phải nuốt nước bọt nhiều lần mới hãm lại được.Tôi tự nguyền rủa mình chả ra làm sao cả, đối với gia đình mình là người bội nghĩa và với Tổ quốc mình là kẻ vong ân. Một con người như thế đấy thì tương lai mình sẽ ra sao, thôi thì hãy phó thác cho định mệnh.

“Cũng liều nhắm mắt đưa chân,

Thử xem cao tạo xoay dần tới đâu”.

ND

     Nhờ khóc nhiều nên tôi thấy có chút nguôi ngoai, nhưng chưa suông sẻ được đâu vì lúc nầy tâm trạng tôi thật rối bời cứ chuyện nọ lại xọ qua chuyện kia, bây giờ tôi lại nhớ đến đơn vị cũ: PD 225 mà tôi xem như một người tình thật sắt son chung thủy, tôi yêu quí nàng lắm vì đã ăn ở với nhau những 54 tháng rồi, tôi phải tính bằng tháng để được hai con số, chứ tính năm thì chỉ có một con số, mà còn dưới con số 5 nữa. Thật là đau đớn cho tôi phải nói lời vĩnh biệt cùng nàng cũng như vĩnh biệt những chiếc tàu gunship mà tôi coi như những đứa con trai hùng dũng đã cùng tôi hữu xung, tả đột xông pha nơi chiến địa và những con tàu slick như những đứa con gái mũm mĩm đài trang, giàu lòng nhân ái đã cùng tôi chuyển quân, tiếp tế, tản thương. Chỉ trong một ngày mà tôi có đến hai lần đầu hàng. Đầu hàng lần đầu là thừa lệnh vị Tổng Tư Lệnh QĐ (nhiệm kỳ hai ngày): hạ vũ khí đầu hàng, sau khi hạ vũ khí thì tôi có thể ra đi được rồi chứ vì khoảng tiếp theo là ‘bàn giao hay trao lại’ gì ..gì.. đó mà tôi là quân nhân hạng bét thì có cái đếch gì để ‘trao lại hay bàn giao’? Vậy tôi ra đi là đúng rồi. Đầu hàng lần thứ hai là tôi đầu hàng định mệnh, nhờ định mệnh an bày số phận của tôi trong những ngày tới.

 nguyên quân

  Tháng tư, Quốc hận lần thứ 41

 http://www.acdieu.com/Stuff/Acdieu_225/Toi_ve_phuc_vu_225/toi_phuc_vu_PD225.html

Bài Xem Nhiều