We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 27 April 2016

Chủ đề không quên: 30-4-1975 CHIẾN TRANH VIỆT NAM KẾT THÚC MANG Ý NGHĨA GÌ?

41 năm nhìn lại:30-4-1975 CHIẾN TRANH VIỆT NAM KẾT THÚC MANG Ý NGHĨA GÌ?




Paris. Đại lộ Gay Lussac, 3 giờ chiều ngày 27 tháng 4, 1975, sinh viên các đại học Paris, đại học Orsey đeo tang diễu hành...Việt Nam mất vào tay cộng sản 3 ngày sau đóAi cũng biết là cuộc nội chiến Quốc- Cộng tại Việt Nam kéo dài trên 20 năm (1954-1975) và đã kết thúc tính đến 30 tháng tư năm nay là đúng 41 năm (1975-2016). Như vậy là thấm thóat thời gian hòa bình trên đất nứơc ta đã gấp đôi cuộc chiến.

Dân tộc Việt Nam đã được gì, mất gì trong những thời khỏang chiến tranh và hòa bình ấy, hẳn ai cũng có thể nhẩm tính được.Ðã có biết bao sự kiện biến đổi thăng trầm trên đất nứơc và dân tộc Việt Nam trong hòa bình. Chiều hướng biến đổi chung là các bên thù địch tham chiến hôm qua, hôm nay đều như có nỗ lực đẩy lùi quá khứ, muốn mau chóng quên đi chiến tranh, gác lại hận thù (vì hận thù không thể nào quên) để cùng hướng đến một tương lai tươi sáng và tốt đẹp cho dân tộc.

Các bên cựu thù là người Việt Nam, từng được ngọai bang sử dụng như những công cụ chiến lược một thời, nay đa số như đồng ý là cần “hòa giải và hòa hợp dân tộc”theo đúng ý nghĩa chân chính của cụm từ này(giải quyết các mâu thuẫn thông qua tương lượng một cách hòa bình, tiến đến hòa hợp), khác với hòa giải hòa hợp dân tộc kiểu Việt cộng (không giải quyết các mâu thuẫn mà chỉ muốn hòa hợp vô điều kiện với Việt cộng). Vì vậy, vấn đề bất đồng chỉ còn là phương thức thực hiện “hòa giải và hòa hợp dân tộc” thế nào cho hợp tình hợp lý, để các bên có thể chấp nhận được, hầu sớm đi đến thống nhất được tòan lực quốc gia để cùng kiến tạo một tương lai tươi sáng cho dân tộc, tạo thế lực vững chắc bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải trước tham vọng xâm lăng của ngoại bang Phương Bắc.

Các bên cựu thù ngọai bang, thì nay dường như tỏ ra có thực tâm muốn tạo điều kiện thuận lợi cho các bên cựu thù bản xứ xích lại gần nhau và sẵn sàng giúp Việt Nam xây dựng dân chủ, phát triển đất nứơc đến phú cường, theo yêu cầu của một thế chiến lược quốc tế mới và vì quyền lợi thiết thân của chính họ.

Thành ra, càng ngày người ta có vẻ dễ dàng đồng ý được với nhau về ý nghĩa lịch sử của chiến tranh Việt Nam và sự kết thúc của cuộc chiến này. mang một ý nghĩa trung thực phù hợp với tính khách quan của lịch sử.

Thật vậy, sau khi chiến tranh kết thúc, chế độ công cụ cộng sản quốc tế Hà Nội được đóng vai trò thắng trận đã đưa ra ba “ý nghĩa lịch sử” của cuộc chiến tranh Việt Nam và sự kết thúc của nó. Chúng ta hãy nhận định về ba “ý nghĩa lịch sử” này, để thấy được sự chuyển biến nhận thức của các bên tham chiến theo thời gian, những người Việt Nam cộng sản (Việt cộng) cũng như những người Việt Nam không cộng sản (Việt quốc)



I/- Có phải đó là “Cuộc Chiến Tranh Yêu Nước, Chiến Tranh Giải Phóng Dân Tộc và Bảo Vệ Tổ Quốc Tiêu Biểu và Vĩ Ðại Nhất Ở NứơcTa” không?

Cần phân định rạch ròi cuộc chiến đánh đuổi thực dân Pháp cho đến năm 1954, hòan tòan khác với cuộc chiến tranh Quốc–Cộng do chế độ công cụ của cộng sản quốc tế ở Miền Bắc phát động, tiến hành tại Miền Nam từ năm 1954 đến 1975 về mục tiêu và ý nghĩa.

Mọi người có thể đồng ý với những người Việt Nam cộng sản về ý nghĩa của cuộc chiến tranh trước, đúng thực là “Cuộc Chiến Tranh Yêu Nước, Chiến Tranh Giải Phóng Dân Tộc và Bảo Vệ Tổ Quốc Tiêu Biểu và Vĩ Ðại Nhất Ở NứơcTa”. Vì cuộc chiến này đã kết thúc gần một trăm năm nô lệ thực dân Pháp, sau một quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ của nhiều thế hệ nhân dân Việt Nam. Còn cuộc chiến tranh sau, đến lúc này thì ai cũng phải hiểu đó là “Cuộc chiến tranh lợi dụng lòng yêu nước, khát vọng độc lập, tự do, dân chủ của nhân dân Việt Nam, xô đẩy dân tộc vào vòng cương tỏa của chủ nghĩa thực dân mới”.

Nói cách khác, một cuộc chiến mà các bên Bắc và Nam Việt Nam đã bị ngoại bang sử dụng như những công cụ một thời,thực hiện chiến lược quốc tế trong vùng của các cường quốc đế quốc cộng sản và tư bản. Nghĩa là một cuộc chiến tranh ý thức hệ do các cường quốc đế quốc chủ mưu và thủ lợi, đã xử dụng hai công cụ bản xứ để thực hiện cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn, biến đất nước ta thành bãi chiến trường, nhân dân ta là đối tượng tiêu thụ vũ khí tốn đọng sau Thế Chiến II và thử nghiệm thêm các phương tiện giết người hiện đại.

II/- Có phải đó là “Bản Anh Hùng Ca Vĩ Ðại Nhất Trong Lịch Sử Hàng Ngàn Năm Dựng Nước Và Giữ Nước của Dân Tộc” không?

Không.

Phải khẳng định là không. Vì đây là hệ quả tất nhiên của ý nghĩa thứ nhất. Bởi một khi người ta đã đồng ý được với nhau rằng cuộc chiến tranh vừa qua không phải là “Cuộc Chiến Tranh Yêu Nước, Chiến Tranh Giải Phóng Dân Tộc. . .” thì tất nhiên việc tiến hành và kết thúc cuộc hiến tranh ấy không thể là “Bản Anh Hùng Ca Vĩ Ðại Nhất Trong Lịch Sử Hàng Ngàn Năm Dựng Nước Và Giữ Nước của Dân Tộc”. Vả chăng chỉ có thể coi cuộc chiến tranh này, do công cụ cộng sản Hà nội khởi động, tiến hành và kết thúc “thắng lợi” như thế, là “Bản anh hùng ca vĩ đại nhất của các cá nhân và tập đòan làm tay sai cho ngọai bang trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta”.

Vì rằng quả thực cá nhân Ông Hồ và tập đòan cộng sản Việt Nam đã thực hiện xuất sắc các ý đồ chiến lược của cộng sản quốc tế, vì lợi ích cho lịch sử bành trướng của các tân Ðế Quốc Ðỏ Liên-Xô, Trung quốc, hòan tòan xa lạ và đi ngược lại với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Vĩ đại nhất vì trong lịch sử làm công cụ thực hiện ý đồ cho ngọai bang, không có cá nhân và tập đòan nào thực hiện “Nghĩa vụ quốc tế cao cả” (!) xuất sắc hơn Ông Hồ và các lãnh tụ kế tục đảng Cộng sản Việt Nam.

III/- Cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc như thế có phải là “Thắng Lợi Của Phe Xã Hội Chủ Nghĩa”đối với “Phe Tư Bản Chủ Nghĩa” hay không?

Không.

Lại vẫn phải khẳng định là không. Trước đây có thể là hầu hết những người Việt Nam cộng sản không đồng ý với sự khẳng định này. Nhưng chẳng bao lâu sau ngày 30-4-1975 và cho đến lúc này, dù muốn dù không, đa số người Việt Nam cộng sản cũng như không cộng sản đã phải thừa nhận sự thật này: Vì nhu cầu thay đổi thế chiến lược quốc tế,các cường quốc đế quốc mới chủ động đưa cuộc hiến tranh Việt Nam đi đến kết thúc vào ngày 30-4-1975; và do đó, chiến tranh Việt Nam kết thúc như thế không thể coi là thắng lợi của phe này (phe XHCH:Việt cộng) đối với phe kia (Phe TBCN:Việt quốc).

Nhớ lại, sau ngày 30-4-1975, những người Việt Nam cộng sản đã tỏ ra kiêu hãnh và tự hào rằng cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc đã là một “đại thắng mùa xuân” cho họ, vì đã làm được công việc “đẩy lùi trận địa của chủ nghĩa đế quốc, mở rộng trận địa cho chủ nghĩa xã hội, đảo lộn được chiến lược tòan cầu của đế quốc Mỹ…”.Thế nhưng đến nay, dù không nói ra, thực tế và các tài liệu giải mật sau này của các phe tham chiến, đã “giác ngộ và phản tỉnh” những người Việt Nam Cộng sản, giúp họ hiểu rằng, chính “đế quốc Mỹ và các thế lực phản động quốc tế” đã tiêu diệt được trận địa chủ nghĩa xã hội, chủ động dập tắt cuộc chiến tranh Việt Nam nói riêng, chiến tranh Ðông Dương và các cuộc chiến tranh cục bộ khác trên thế giới nói chung, là do yêu cầu thay đổi thế chiến lược quốc tế mới, là nỗ lực chung của các cường quốc cực nhằm thiết lập “một nền trật tự kinh tế quốc tế mới” hay là “Một hệ thống kinh tế thế giới mới”.

Vì sao những người Việt Nam Cộng sản “Giác ngộ và phản tỉnh” được như vậy?- Chính là do các sự kiện thực tế diễn ra sau ngày cuộc chiến chấm dứt.

Thật vậy, khởi đầu quá trình thời gian, ngay khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc, đã có một số người Việt nam cộng sản có trình độ nhận thức và viễn kiến, lưu ý đến sự kết thúc chiến tranh không bình thường. Trong thâm tâm những người Việt Nam Cộng sản này đã có những suy nghĩ cùng chiều với một số đông người Việt Nam không cộng sản có tâm hồn lạc quan và tầm nhìn chiến lược. Suy nghĩ rằng: Nếu việc kết thúc chiến tranh Việt Nam quả là một thắng lợi của “phe xã hội chủ nghĩa” thì tình hình Việt Nam phải biến chuyển theo chiều hướng khác với thực tế kể từ sau ngày 30-4-1975.

Thực tế hợp luận lý (logic) phải là phe xã hội chủ nghĩa , cụ thể là các cường quốc cộng sản hàng đầu như Liên Xô, Trung Quốc, phải tìm mọi cách và dồn mọi nỗ lực chi viện tối đa cho chế độ cộng sản Việt Nam vượt qua những khó khăn hậu chiến, tạo điều kiện cho Việt Nam phát triển đến cường thịnh. Ðể làm gì? – Ðể phát huy thắng lợi Việt Nam nhằm lôi kéo, mời chào các nước nghèo đói, chậm tiến trong vùng, rằng hãy noi gương Việt Nam, lao vào “một cuộc chiến tranh cách mạng, chiến tranh giải phóng dân tộc. . .”để đạt mục tiêu lật đổ các chính quyền tư sản, xóa bỏ “các chế độ người bóc lột người” để thay thế bằng các chế độ “Xã hội chủ nghĩa”; Rằng hãy theo gương Việt Nam, để trong “Chiến tranh cách mạng, chiến tranh giải phóng”sẽ được trợ giúp tối đa vũ khí, lương thực để đánh thắng các chính quyền “phản động”; và sau chiến tranh cũng sẽ được Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác viện trợ ồ ạt, vô điều kiện trong “tinh thần quốc tế vô sản”, để cùng nhau thực hiện cuộc cách mạng vô sản trên tòan thế giới, xây dựng “một xã hội xã hội chủ nghĩa” tại mỗi nước, tiến tới xã hội viên mãn tòan cầu “Xã hội cộng sản” như một “Thiên đường Cộng sản” trong viễn tưởng!

Thế nhưng thực tế trên đã không xẩy ra mà chỉ thấy các hiện tượng trái chiều. Người ta thấy Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác, dường như chờ đợi một cái gì đó khác hơn. Tất cả như chỉ đứng nhìn và để mặc cho Cộng sản Việt Nam loay hoay tự giải quyết các khó khăn mọi mặt, khó khăn cũ cũng như khó khăn hậu chiến mới đẻ ra.

Trong những năm đầu, vào thời điểm mà mâu thẫn Nga-Hoa đã đến thời kỳ quyết liệt, đẩy Việt Nam vào thế phải chọn lựa dứt khóat: Theo Liên Xô hay theo Trung cộng. Trong khi chờ đợi sự lựa chọn dứt khóat này, cả hai đế quốc Ðỏ Liên Xô-Trung cộng đều không có hành động chi viện tích cực nào như đã từng hào hiệp đưa vũ khí, lương thực và các phương tiện giết người hiện đại cho cộng sản Bắc Việt làm “Chiến tranh cách mạng, chiến tranh Giải phóng Miền Nam”. Ðến khi chẳng đặng đừng cộng sản Việt Nam bó buộc phải chọn lựa “Matxcơva là tổ quốc xã hội chủ nghĩa” duy nhất của mình, lập tức Trung cộng khởi động gây khó khăn thêm nữa cho Cộng sản Việt Nam.

Hành động cụ thể đầu tiên là Trung cộng đòi nợ khẩn cấp, rút hết chuyên gia về nước, bỏ dở các công trình đang xây dựng. . . Ðể trả món nợ trong chiến tranh này, cộng sản Việt Nam đã vơ vét luá gạo, vàng bạc quý kim, tài nguyên đất nước, cùng với “chiến lợi phẩm” lấy được ở Miền Nam của “Mỹ-Ngụy”, đem trả nợ cho Trung Cộng.

Hậu quả thấy được là nhân dân cả nước trong thời gian này đã phải ăn bo bo, bột mì, độn ngô khoai sắn. . . Ðã vậy, như chưa hả giận và như để trừng phạt kẻ phản bội “tham phú phụ bần”, Trung cộng đã xử dụng công cụ mới của mình ở Kampuchia (chế độ Pol Pot) tiến hành các họat động quấy phá quân sự (như đánh chiếm vài đảo nhỏ gần bờ biển phía cực Nam của Việt Nam, tấn công Tây Ninh và một số tỉnh biên giới phía Nam của Việt Nam). Các họat động quân sự này của công cụ Pol Pot, sau đó người ta hiểu được ý đồ thực sự của Trung Cộng chỉ là gài thế cho cộng sản Việt Nam ngã sấp mặt và sa lầy lâu dài tại Kampuchia, là muốn gián tiếp kéo Liên Xô vào cuộc và gây thêm gánh nặng khó khăn cho Liên Xô… Bằng sự quấy phá, khiêu khích quân sự của công cụ Pot Pot , rõ ràng là Trung Quốc đã đẩy cộng sản Việt Nam vào thế phải kéo quân vào đất Chùa Tháp tháng 1 năm 1979.Nhưng khi hùng hổ kéo đại binh vào đất Chùa Tháp, quân đội CSVN chỉ gặp sức kháng cự lẻ tẻ, yếu ớt, tiến quân như vào chỗ không người. Ðến khi vào đến Pnom Penh thì quân Khmer Ðỏ đã rút hết tự bao giờ. Chiếm được Kampuchia một cách dễ dàng như thế không phải là chuyện bình thường. Chiếm được Kampuchia mà không rút quân về được là hậu quả tất nhiên của hiện tượng không bình thường này,tức là Việt cộng đã rơi vào thế sa lầy theo trận đồ đối phương chủ động bầy ra. Người ta tự hỏi, tại sao Trung Cộng không nhẩy vào cứu nguy cho Pol Pot, điều mà Trung Cộng có thể làm được và thừa sức làm như đã từng làm trong cuộc chiến tranh Triều Tiên trước đây (1950 - 1953). Ðó chính là điều bất thường để tạo ra trận đồ buộc Cộng sản Hà Nội phải sa vào vậy. Ðã vậy, Trung cộng còn bồi thêm những đòn trừng phạt quân sự, tiến quân vượt biên giới vào các tỉnh phía Bắc, tàn phá nặng nề những cơ sở quân sự, kinh tế (1979). . .gọi là để “dạy cho Việt Nam một bài học”(Tuyên bố của Ðặng Tiểu Bình).

Ai cũng thấy, đây là một hành động ngạo mạn, có tính bá quyền của Trung Cộng. Thế mà lúc đó,Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa thống thuộc Liên Xô chỉ phản ứng yếu ớt, lên án chiếu lệ, để mặc cho CSVN rơi vào thế phải tự đương đầu. Liên Xô và các nước Xã Hội Chủ nghĩa anh em đã có thái độ như thế, thì không trách được thái độ thờ ơ lúc bấy giờ của các quốc gia không cộng sản và quốc tế nói chung, Liên Hiệp Quốc cũng chỉ lên án, đòi hỏi chiếu lệ, không đưa ra nghị quyết nào,trước hành động ngang ngược xâm lăng của một nước lớn, vi phạm chủ quyền của nước láng giềng nhỏ, chà đạp lên công pháp quốc tế..

Tựu chung cung cách xử sự của Trung quốc đối với một chính quyền, một chế độ mà trong quá khứ từng được coi là “đồng chí, anh em”, được ví von như “răng với môi, môi hở thì răng lạnh”, và “tình hữu nghị Việt – Trung” từng được tuyên xưng “đời đời bền chặt”. . . đã khởi động từ lâu một quá trình “giác ngô” hay “phản tỉnh” trong hàng ngũ những người cộng sản Việt Nam. Ðồng thời, cuộc chiến tranh Việt Nam nói riêng và chiến tranh Ðông Dương nói chung, đã đi đến kết thúc với một tốc độ chóng mặt , khác thường , Đó là sự sụp đổ nhanh chóng của các chế độ cực hữu, sau khi quân đội tháo chậy mà không kịp chiến đấu, theo nhịp độ rút quân nhanh hơn tôc độ tiên quân của đối phương, điều mà cố Ðại Tướng Việt Cộng Văn Tiến Dũng cho là quân đội của ông ta đã tiến quân như “chẻ tre”. Và tình hình chính trị mập mờ, tranh tối tranh sáng ở Miền Nam vào những tháng cuối năm 1974, đầu năm 1975. . . đã cho thêm dữ kiện để người Việt Nam cộng sản cũng như không cộng sản, không thể tin vào ý nghĩa “thắng lợi lịch sử” của cuộc nội chiến mà chế độ Cộng sản Việt nam đưa ra để khoa trương, tuyên truyền lừa bịp.

Nay thì thực tế ngày càng cho thêm dữ kiện đầy đủ để mọi người Việt Nam có thể đi đến thống nhất nhận định, rằng cuộc chiến tranh Việt Nam thực chất chỉ là cuộc nội chiến ý thức hệ (cộng sản chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa) do các cường quốc đế quốc phát động và tiến hành trên đất nước Việt Nam, thông qua các cá nhân, tập đòan bản xứ làm công cụ tri tình (Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Trường Chinh và đảng, chính quyền Cộng sản Việt Nam ở Miền Bắc Việt Nam) hay ngay tình bị sử dụng như công cụ (Ngô Ðình Diệm,Nguyễn Văn Thiệu, chính quyền và các đảng phái quốc gia ở Miền Nam), xô đẩy nhân dân Việt nam vào một cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn; Rằng hậu quả bi thảm của cuộc chiến tranh này đât nước và dân tộc Việt Nam phải gánh chịu, sau khi ý đồ chiến lược trong vùng của các cường quốc đế quốc đã đạt được thông qua cuộc chiến.

Và vì vậy, cuộc chiến tranh Việt nam kết thúc như thế, không phải là thắng lợi của phe này (Việt cộng) đối với phe kia (Việt quốc), mà chỉ là vì nhu cầu thay đổi thế chiến lược quốc tế mới của các cường quốc cực mà thôi. Thiết tưởng đã 41 năm qua rồi, thời gian quá đủ cho cả Việt Quốc và Việt Cộng suy gẫm lại, chẳng nên tiếp tục tự hào về cuộc chiến ấy nữa, khi trong cuộc nội chiến “Nồi da sáo thịt” này, các bên đều bị ngoại bang sử dụng như những công cụ chiến lược một thời. Có khác chăng một bên tình nguyện làm công cụ cho ngoại bang (Việt cộng), bên kia bị ngoại bang sử dụng như công cụ trái với ý muốn chung (Việt quốc). Thực tế bây giờ là, cả Việt quốc và Việt cộng cần có nỗ lực riêng cũng như chung để đẩy lùi quá khứ đen tối của dân tộc, hướng đến tương lai, để biết phải làm gì và cần làm gì hữu ích, có lợi nhất cho nhân dân và đất nước.

Thiện Ý
Tháng 4 năm 2016
------------------


----------

Chủ đề không quên: 41 năm nhìn lại “Tháng Tư Đen”.

Những năm trước 1975, dù có chiến tranh Nam Bắc luôn tiếp diễn, nhưng cuộc sống người dân và trẻ em miền Nam vẫn được tự do, an lành và trù phú. 41 năm sau, tuy hòa bình không còn tiếng súng, nhưng có đem lại cho người dân cảm giác an lành hay không, hay chỉ toàn là "bất an"?
Xin đọc bài viết của anh Nguyen Chinh sau đây ....

****
41 năm nhìn lại

Thường thì chính quyền hay tổ chức kỷ niệm những ngày lễ lớn một cách “hoành tráng” vào những năm tròn như 10, 20, 30 hoặc 40 năm. Năm nay, kỷ niệm ngày 30/4 không nằm vào chu kỳ đó nhưng đối với tôi (có thể là với một số những công dân bình thường khác), kỷ niệm 30/4 năm nay mang ý nghĩa đặc biệt của sự “Bất An”.
Lướt trên Facebook, cái cảm giác “bất an” lại càng rõ nét. Tại Sài Gòn, mới đây một anh Thượng sĩ Công an dùng đòn hiểm quật ngã một anh bán hàng rong tại quận 6 đến độ chấn thương sọ não. Đó chỉ là giọt nước mới nhất… nhỏ vào cái ly đang chực tràn.

Trước đó có biết bao nhiêu trường hợp người dân chết trong đồn công an chỉ vì những nguyên do “lãng xẹt” như… rửa bát không sạch, hay bị “ăn đòn” chỉ vì… chạy xe làm tung bụi đường... Chỉ một năm nay thôi, không biết có đến biết bao nhiêu vụ người dân chết trong đồn!
“Bất an” đến độ ngồi trong nhà cũng phải cảnh giác, đề phòng kẻ lạ. Hắn có thể giật iPad, iPhone của bạn ngay trong nhà bạn. Một lúc nào đó, chiếc xe để trong nhà tưởng an toàn tuyệt đối bỗng… không cánh mà bay.

“Bất an” mỗi khi bước ra khỏi nhà. Biết đâu nạn nhân bị cướp xe, chặt tay… kế tiếp lại rơi đúng vào mình? Rõ ràng người bị cướp giật ngoài đường không còn là một trường hợp hiếm hoi chỉ xảy ra đối với du khách nước ngoài khi đến Việt Nam. Không những chỉ là chuyện giật dây chuyền, điện thoại vẫn xảy ra hàng ngày mà còn “cướp” đất đai và mạng sống có thể xảy ra bất cứ lúc nào trên khắp tỉnh thành của cả nước.

Chưa bao giờ chữ “cướp” lại được nhắc đến trên cửa miệng người dân nhiều đến vậy. Năm 1945, người ta cũng dùng chữ “cướp” nhưng hiện tượng này, dạo đó, được tô hồng, nâng lên một quan điểm để trở thành cụm từ được “thi-vị-hóa-chính-trị” là “Cướp Chính Quyền”!

Sự “bất an” ngoài những biểu hiện trong cuộc sống hàng ngày còn một nguyên nhân sâu xa hơn là mối đe dọa từ anh bạn láng giềng phương Bắc. Người láng giềng “4 tốt, 16 chữ vàng” đang như một vết dầu loang từ ngoài Biển Đông vào đất liền. Ải Nam Quan đã mất, vấn đề Hoàng Sa & Trường Sa chỉ còn là thời gian. “Bất An” thật rồi!

Đó là một thực tế không thể phủ nhận. Ngày nay, trẻ con khi cầm trong tay những món đồ chơi hay cả những thức ăn đưa vào mồm cũng cảm thấy mình bị đầu độc bởi những hàng hóa “Made in China”. Huống chi là người lớn!
Chỉ những người nắm quyền sinh sát vận mệnh dân tộc trong tay, dù thấy rõ nhưng vẫn làm ngơ. Họ vẫn bỏ ra hàng tỷ đồng để xây tượng đài trong khi trẻ em không có cơm ăn, áo mặc. Họ vẫn tiến hành trò chơi dân chủ nửa vời “Đảng cử, dân bầu”, vẫn ca tụng thể chế chính trị “Dân chủ đến thế là cùng!”.
Năm nay, chúng ta “kỷ niệm 41 năm” trong “bất an”. Đó là điều mọi người dân đa số đều cảm nhận được sự “bất an” từ chính trị-văn hóa-xã hội cho đến cuộc sống thiết thực hàng ngày quanh quẩn trong vòng “cơm, áo, gạo, tiền”.

***
Ngày 30/4/1975 tại miền Bắc, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đó là ngày đến trong hào quang chiến thắng sau một cuộc chiến được mệnh danh "Vì độc lập, vì tự do, đánh cho Mỹ cút đánh cho ngụy nhào". Người dân miền Bắc “hồ hởi, phấn khởi” vì miền Nam được hoàn toàn “giải phóng”.
Ngày đó, Huy Đức, tác giả cuốn sách “Bên Thắng cuộc” [1], đang sống ở một vùng quê nghèo đói tại miền Bắc. Anh mở đầu tác phẩm với những dòng tâm sự:

“Cuốn sách này bắt đầu bằng những câu chuyện xảy ra trong ngày 30-4-1975. Ngày mà tôi, một cậu bé mười ba, trước giờ học chiều, đang vật nhau ven đồi thì nghe loa phóng thanh truyền tin “Sài Gòn giải phóng”. Thay vì tiếp tục ăn thua, chúng tôi buông nhau ra.
Miền Nam, theo như những bài học của chúng tôi, sẽ chấm dứt “hai mươi năm rên xiết lầm than”. Trong cái thời khắc lịch sử ấy, trong đầu tôi, một sản phẩm của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa, xuất hiện ý nghĩ: phải nhanh chóng vào Nam để giáo dục các bạn thiếu niên lầm đường lạc lối”.
“… hình ảnh miền Nam đến với tôi trước cả khi tôi có cơ hội rời làng quê nghèo đói của mình. Trên quốc lộ Một bắt đầu xuất hiện những chiếc xe khách hiệu Phi Long thỉnh thoảng tấp lại bên những làng xóm xác xơ. Một anh chàng tóc ngang vai, quần loe, nhảy xuống đỡ khách rồi đu ngoài cánh cửa gần như chỉ trong một giây trước khi chiếc xe rú ga vọt đi”.
***
Nhiều tuổi hơn Huy Đức, nhà văn Dương Thu Hương, thuộc thế hệ “xẻ Trường Sơn đi đánh Mỹ” từ năm 1968, đã có lần công khai bầy tỏ rằng ngày 30/4/1975 bà đã ngồi trên lề đường của Sài Gòn ôm mặt khóc vì khám phá ra rằng, “chế độ chiến thắng trong cuộc chiến, chẳng qua chỉ là một thể chế man rợ”.
Phóng viên Sam Korsmoe, người đã từng ở Việt Nam hơn 10 năm, sau khi về Hoa Kỳ năm 2006, anh viết cuốn “Saigon Stories” [2]. Sam phỏng vấn một gia đình từ miền Bắc vào Nam sau năm 1975 gồm 2 vợ chồng và 3 người con gái. Phan Xuân Giáp (bác sĩ thú y, sinh năm 1945) và vợ là Nguyễn Thị Vinh (giáo viên tại Vĩnh Phú), Cô giáo Vinh kể lại cảm tưởng vào sáng ngày 30/4/1975:
“Tôi đang dạy trong lớp thì có tiếng người báo: ‘Giải phóng rồi! Thống nhất rồi!’ thế là cả trường hò reo. Hồi đó người dân đa số chưa có đài, mọi người phải nghe tin qua loa phóng thanh gắn trên cây trong sân trường. Chúng tôi ai cũng hồ hởi. Cả nước hồ hởi. Miền Bắc hồ hởi. Mừng vì không còn chiến tranh, không còn chết chóc!”

Cũng như Huy Đức, cô giáo Vinh có những suy nghĩ của kẻ chiến thắng. Vợ chồng Giáp-Vinh di dân vào miền Nam rất sớm trong năm 1975. Khởi đầu là cô giáo Vinh, tình nguyện vào dạy học tại Sài Gòn vào tháng 12/1975 vì, theo chính quyền Hà Nội lúc đó, “miền Nam rất cần giáo viên”.
“Chúng tôi phải học chính trị trong suốt 2 tháng trước khi vào Nam. Chúng tôi được hướng dẫn cách dậy học khi vào trong đó, học cả tâm lý của học sinh Sài Gòn, học cách làm gương vì chúng tôi sẽ là những đại diện của miền Bắc tại vùng mới giải phóng…”

Và đây là cảm tưởng đầu tiên của cô khi bước chân vào Sài Gòn, tháng 12/1975:
“Sài Gòn đẹp quá. Khi xe vào đến cầu Sài Gòn thì trời đã nhá nhem tối nhưng hai bên đường đèn sáng rực. Cả đời tôi chưa bao giờ thấy nhiều đèn đến như vậy. Tôi thấy thích thành phố này…”
Còn rất nhiều suy nghĩ của người dân miền Bắc trong ngày 30/4/1975. Nói chung là rất lạc quan trước viễn ảnh một nước Việt Nam thống nhất. Nhưng có một cái gì đó nghẹn ngào khi “quân-cán-chính” chế độ cũ lần lượt đi cải tạo.

Người Sài Gòn ở lại sau những đợt đổi tiền, cải tạo công thương nghiệp được khuyến khích, có nơi thậm chí còn bị cưỡng bức, đi “kinh tế mới” để thực hiện chính sách “giãn dân”, nhường chỗ cho đợt “di dân” của cán bộ, đảng viên từ miền Bắc vào Nam.
“Sài Gòn đẹp lắn, Sài Gòn ơi, Sài Gòn ơi…”

Nhìn từ một góc độ khác, một góc độ “trung lập” của những người thuộc “phe thứ ba” tại miền Nam. Họ là những người không “cộng sản” nhưng cũng không “cộng hòa” mà Sam Korsmoe mô tả là… “Những người ái quốc miền Nam”.
Đại diện cho những người này là Lý Quý Chung, Bộ trưởng Thông tin trong “nội-các-3-ngày” của Tổng thống Dương Văn Minh. Ông Chung còn được biết đến như một nhà báo với bút hiệu Chánh Trinh.
Vào “giờ thứ 25” của cuộc chiến, ông tham gia nội các “hòa bình & hòa giải dân tộc” ngày 26/4/1975, nội các này chỉ có 4 người: Dương Văn Minh (Tổng thống), Nguyễn Văn Huyền (Phó tổng thống), Vũ Văn Mẫu (Thủ tướng) và Lý Quý Chung (Bộ trưởng Thông tin).

Theo lời ông Chung kể lại trong “Saigon Stories”, buổi lễ bàn giao chức vụ Tổng thống từ Trần Văn Hương sang Dương Văn Minh được diễn ra ngày 27/4 nhưng tướng Minh không trực tiếp điều hành ngay lập tức, ông dự tính sẽ bắt đầu vào ngày 30/4. Cũng theo giải thích của ông Chung, tướng Minh là người rất tin dị đoan và ngày 30/4 mới là “ngày tốt” đối với ông.
Gặp tướng Minh trong ngày 29/4, ông Chung đề nghị sẽ tuyên bố Sài Gòn là ‘thành phố bỏ ngỏ’ và tự nguyện chuyển giao quyền lực cho Mặt trận Giải phóng miền Nam. Tướng Minh đồng ý và liên lạc với Phó tổng thống Nguyễn Văn Huyền để soạn thảo bản thông báo. Khi đó đã vào buổi tối nên thông báo của chính phủ sẽ được công bố ngày hôm sau, 30/4. Ông Chung kể lại với Sam Korsmoe:

“Khoảng 11g ngày 30/4, một chiếc xe tăng xuất hiện trên đường Thống nhất, cách dinh Độc Lập khoảng 500m. Xe tăng nổ súng, theo tôi, họ bắn chỉ thiên để phô trương sức mạnh chứ không nhắm vào dinh Độc Lập. Mọi người hốt hoảng rút vào trong dinh. Đến khi bộ đội vào dinh, chúng tôi khoảng từ 30 đến 40 người giơ tay đầu hàng…
“Ba người chúng tôi [Minh, Mẫu, Chung] bước tới phía trước, họ ra lệnh: ‘Buông súng xuống! Giơ tay lên!’… Một thoáng suy nghĩ trong đầu óc tôi, ‘Mình tranh đấu cho hòa bình và kết quả như thế này sao? Kết cuộc không hợp lý chút nào!’… Một vài phóng viên, trong đó có Nguyễn Bá Thành, ôm chầm lấy tôi, họ reo vui ‘Chúng ta thắng rồi! Chúng ta thắng rồi!’…

“Saigon Stories”, Sam Korsmoe, 2006
Góc nhìn từ bên ngoài vào cuộc chiến tại Việt Nam cũng đa dạng. Tuy nhiên, có thể nói, thế giới báo chí quốc tế gồm 3 hướng đưa tin chính: (1) ủng hộ cuộc chiến hay còn gọi là “diều hâu”; (2) phản chiến hay “bồ câu” và (3) trung lập.
Theo tôi, một trong những bài viết về những ngày cuối cùng của Sài Gòn đầy đủ nhất và nhiều chi tiết thú vị nhất là của John Pilger [3]. Không giống như các phóng viên Mỹ, Pilger là người Úc thuộc nhóm phóng viên “quốc-tịch-thứ-ba” tham gia cuộc chiến Việt Nam đến ngày cuối cùng và viết bài cho báo Anh.
Pilger đã hai lần đạt được danh hiệu “Phóng viên của năm” (Journalist of the Year), giải thưởng hằng năm cao quý nhất của báo chí Anh. Với tựa đề “The Fall of Saigon 1975: An Eyewitness Report”, Pilger đã đưa người đọc trở về với những ngày định mệnh vào cuối tháng 4/75. Pilger viết:
“Sài Gòn đang sụp đổ trước mắt, một Sài Gòn được người Mỹ hậu thuẫn, một thành phố được coi là “thủ đô tiêu dùng” nhưng chẳng hề sản xuất một mặt hàng nào ngoài chiến tranh. Trong hàng ngũ của quân đội lớn thứ tư thế giới vào thời điểm đó, binh lính đang đào ngũ với tốc độ cả nghìn người trong một ngày…”

Pilger tả lại quang cảnh đường phố Sài Gòn:
“Lệnh giới nghiêm 24/24 giờ được áp dụng, nhưng vẫn có người trên đường phố trong đó có cả lính của Sư đoàn 18 thuộc vùng 4 chiến thuật. Tôi nghĩ họ nổi giận khi thấy người Mỹ sắp ra đi. Họ xuất hiện ở trung tâm thành phố để nhìn những người nước ngoài, hoặc đe doạ hoặc bắn chỉ thiên để giải toả nỗi tức giận.

“Công trường Lam Sơn trống trải, chỉ có vài người lính đi lại với vẻ chán chường. Một người trong số này đi nhanh về hướng đại lộ Tự Do, thét vào mặt tôi. Hình như anh ta say. Anh ta lấy súng lục, ngắm bắn, chọn mục tiêu và bóp cò. Viên đạn sượt qua đầu trong khi tôi chạy…”

Tình hình ngày càng rối ren, bất ổn… người Việt tìm đường rời khỏi đất nước khiến Đại sứ Mỹ Graham Martin phải xuất hiện trên truyền hình với lời cam kết long trọng: “Nước Mỹ sẽ không rút khỏi Việt Nam”. Ông tuyên bố:
"Tôi, Đại sứ Mỹ, sẽ không chạy trốn lúc nửa đêm. Bất kỳ ai cũng có thể tới nhà tôi và chứng kiến tôi chưa sắp xếp hành lý" (I, the American Ambassador, am not going to run away in the middle of the night. Any of you can come to my home and see for yourselves that I have not packed my bags).

Theo Pilger, Đại sứ Martin vẫn khẳng định với Washington rằng miền Nam có thể tồn tại với "vành đai thép" (iron ring) bao quanh Sài Gòn và những máy bay B-52 lúc nào cũng sẵn sàng yểm trợ. Tuy nhiên, trong thâm tâm ông Đại sứ luôn giữ trong lòng một vết thương khó phai khi mất đi người con trai tại vùng đất này 9 năm về trước.

Ông Martin có lý do để lạc quan: Ngoại trưởng Henry Kissinger cho biết Đại sứ Nga tại Washington, Anatoly Dobrynin, hứa sẽ chuyển thông điệp muốn đàm phán của VNCH tới Hà Nội. Mọi chuyện không lạc quan như ông Đại sứ Mỹ nghĩ.
10g43 ngày 29/4/1975: Lệnh tiến hành “Option Four” được đưa ra. Tuy nhiên, Đại sứ Martin vẫn tin rằng “còn thời gian” để đàm phán để có một “giải pháp danh dự”. Một đám đông chen lấn ở trước cửa sứ quán Mỹ, có người còn cố trèo tường để vào bên trong. Một số người có mặt ở đây chỉ vì tò mò; một số khác vừa ôm chặt cánh cổng sắt vừa nài nỉ thủy quân lục chiến Mỹ.

3g15 chiều 29/4/1975: Chiếc Cadillac chở Đại sứ Martin không thể rời cổng phụ sứ quán. Chiếc xe dừng lại và ông tuyên bố: “Một lần nữa, tôi sẽ đi bộ về nhà của mình, tôi sẽ đi bộ một cách thoải mái trong thành phố này. Tôi sẽ rời Việt Nam khi Tổng thống bảo tôi phải làm như vậy”.

2g30 sáng 30/4/1975: Kissinger gọi điện cho Martin và yêu cầu ông kết thúc kế hoạch di tản lúc 3g45 sáng. Nửa tiếng sau, Martin xuất hiện cùng một chiếc cặp da, một túi xách tài liệu và lá cờ Sao & Sọc của Hoa Kỳ. Ông im lặng đi lên tầng 6, nơi một chiếc trực thăng đang đợi.
Những người lính Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ cuối cùng rút lên sân thượng, họ bắn lựu đạn cay xuống cầu thang trong tâm trạng hoang mang của những người lính cuối cùng rời khỏi Việt Nam.

Ngày 2/5/1975 vị Đại sứ Hoa Kỳ 61 tuổi với vẻ mệt mỏi đã tuyên bố ngắn gọn với các phóng viên có mặt trên Đệ thất Hạm đội:
“Với tư cách một quốc gia, nếu chúng ta đã làm những gì mà tôi nghĩ là chúng ta đã nói thì chúng ta nên làm – nếu chúng ta giữ những cam kết đó - thì chúng ta đã không phải di tản”.
John Pilger, 1970

Nhà văn Việt kiều, Nguyễn Thanh Việt, hiện là một giáo sư tại University of Southern California, có thể nói là đại diện cho thế hệ thứ hai của người Việt tị nạn tại Hoa Kỳ vừa đoạt giải Pulitzer về tiểu thuyết năm 2016. Đó là tác phẩm “The Sympathizer”, nếu dịch cho đầy đủ ý nghĩa sẽ có cái tên “Kẻ Nằm Vùng” chứ không phải là “Cảm Tình Viên” như BBC tiếng Việt đã đưa tin.
Tiểu thuyết bắt đầu từ những ngày cuối tháng 4/1975. Người kể chuyện là một gián điệp được cộng sản cài vào trong ngành cảnh sát VNCH với vai trò trợ lý cho một ông tướng. Anh ta xưng “tôi” trong suốt chuyện kể về hoạt động của mình trong lúc giao thời và sau đó được lệnh di tản sang Hoa Kỳ để tiếp tục công tác.
Chi tiết này cũng giống như chuyện đời thực của Phạm Xuân Ẩn, “nằm vùng” trong lãnh vực báo chí tại miền Nam, cũng được “tổ chức” giao cho nhiệm vụ sang Mỹ và đã chuẩn bị cho gia đình đi trước. Cuối cùng, “điệp viên hoàn hảo” đó gặp nhiều “trục trặc” từ phía chính quyền mới chỉ vì anh đã bị “Mỹ hóa”… nên phải chấm dứt mọi hoạt động và gia đình phải trở về Việt Nam theo con đường lòng vòng.

Vì khuôn khổ của bài viết này, tôi không thể phân tích góc nhìn của thế hệ người Việt thứ hai tại hải ngoại. Tuy vậy, nhìn chung, GS Nguyễn Thanh Việt rời Việt Nam năm 1975 khi mới 5 tuổi.
Đó là điểm yếu của người viết về giai đoạn 30/4/1975, thiếu hẳn kinh nghiệm sống của những bậc cha chú đã từng trải qua trong thực tế. Dẫu biết rằng sự thiếu sót đó có thể bù đắp qua nghiên cứu sách vở, tài liệu nhưng, ông cha ta thường nói, “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay”!
***
Trở về với hiện tại của năm 2016. Sau 41 năm, không ít thì nhiều, những người có liên quan đến biến cố 30/4/1975 sẽ có những cái nhìn khác nhau, tùy theo chính kiến, vùng miền. Nói rộng ra, tùy theo ý thức hệ chính trị, để có sự so sánh đối chếu giữa quá khứ và hiện tại.
Như đã viết ở phần mở đầu, riêng tôi, cái cảm giác “Bất An” ngày càng đè nặng trong lần kỷ niệm thứ 41 của “Tháng Tư Đen”.

Nguyen Chinh

Thèm: 30 tháng 4 ngày vào vơ vét


Thèm

Tụi bây biết không ? Bây giờ tao đi làm bằng xe đạp. Tụi bây đừng cười. Tao không giỡn đâu. Hồi xưa, trong bọn mấy đứa tụi mình, tao là thằng tếu nhứt. Tao hay kể chuyện tiếu lâm, hay bịa chuyện này chuyện nọ để chọc cười, để phá phách cho vui với nhau. Nên tụi bây thường nói: “Coi chừng ! Nó nói cái gì mình phải xin keo coi có đúng không, rồi hãy tin”. Hồi đó, khác. Bây giờ, khác. Tụi bây đi hết rồi, chỉ còn mình tao kẹt lại. Nói thiệt hay nói dóc đều không còn ý nghĩa gì nữa, cũng không còn giá trị gì nữa đối với tao. Bởi vì không còn ai để giỡn, không còn lòng dạ đâu để giỡn, và cái cười của tao đã vượt biên đâu mất từ lâu...


Điều ngộ nghĩnh là, bây giờ, bất cứ chuyện gì tao kể ra chắc chắn tụi bây đều không tin ráo ! Bởi vì tụi bây đã di tản trước ngày 30 tháng tư 1975, không thấy không biết những gì đã xảy ra ở trong nước, làm sao mà tin ? Vả lại “những gì đã xảy ra” đã không xảy ra theo quy luật thông thường. Tất cả đều bị xáo trộn, đảo lộn một cách nghịch lý đến nỗi tao là người sống trong đó mà lắm khi tao phải tự hỏi: “Làm sao có thể như vậy được ?”. Vậy mà nó đã “như vậy được” tụi bây à ! Khó tin nhưng có thật ! Cho nên, những gì tao viết ở đây cho tụi bây hoàn toàn là những chuyện có thật mà... khó tin đó.


Ngoài ra, trong cuộc sống hằng ngày, tao cứ phải nghe ra rả nói láo nói dóc, cứ phải luôn luôn nói láo nói dóc... Nào là “Đã vượt chỉ tiêu 150%” (Chỉ tiêu là con số đã được ấn định trước cho mức sản xuất, không biết là bao nhiêu, nhưng thấy tháng nào cũng vượt, năm nào cũng vượt, nghành nào cũng vượt – tao phải... dịch những chữ mới rõ ràng ra như vậy cho tụi bây hiểu, bởi vì bây giờ mình không còn nói giống như hồi trước nữa). Nào là “Đã hồ hởi phấn khởi đi làm nghĩa vụ” nghĩa là đi làm cái nghĩa vụ gì đó một cách... khoái trá sôi động bởi vì biết chắc rằng không đi cũng không được. Nào là “Hoàn toàn nhất trí” ( Bây giờ không nói ề nhứt Ừ nữa, mà nói ề nhất Ừ. Nghe... cách mạng hơn ), nghĩa là “đồng ý hoàn toàn”, cho nó rồi, kẻo không thì... kẹt lắm. Mọi người đều “nhất trí” hết mà mình không “nhất trí” thì nó... lòi ra coi không giống ai. Thành ra “nhất trí” cũng có nghĩa là “phải làm như mọi người”. Tụi bây hiểu chưa ? Nào là “Làm việc rất là năng nổ”. Tao nghĩ chắc khỏi cần dịch. Tụi bây cứ nghe “nó... lốp bốp” là đoán ra cái nghĩa của nó rồi. Đại khái là làm việc giống như có cờ phất trống khua, có loa trên loa dưới ồn ào, còn lè phè suốt buổi hút thuốc uống trà là chuyện khác... vân vân và vân vân... Kể không hết !


Sau bao năm dài sống trong môi trường như kể trên, “cái thèm” rất lớn của tao là được sống thật, nói thật. Cho nên, viết cho tụi bây giống như tao được... giải phóng. Vậy những gì tao kể ra đây, tụi bây khỏi phải xin keo !


Bây giờ, tao đi làm bằng xe đạp. Vẫn làm ở sở cũ. (Còn được làm việc ở sở cũ là may đó nghen. Nhiều người bị đổi đi nơi khác xa hơn và thường thì ở một nghành nghề không dính dấp gì với phần chuyên môn của mình hết. Cách mạng mà !). Cái xe hơi con cóc , tao đã cho nó lên nằm trên bốn gộc cây để bán lần bán hồi bốn bánh xe, cái bình điện, cái đề-ma-rơ... Hầu như tháng nào tao cũng phải bán một món gì trong nhà, bởi vì lương của tao cộng với những gì vợ tao và hai con gái lớn kiếm được hằng tháng... không đủ sống. Tình trạng đó bắt đầu từ sau hai “trận” Nhà Nước đổi tiền.


Đạp xe riết rồi cũng quen. Khoảng cách trên mười cây số từ nhà đến sở, tao coi như “pha”. Chỉ bực mình là xe đạp của tao hay sút sên khi nó “nhảy” ổ gà. Mà đường sá bây giờ, ổ gà ở đâu nó... lòi ra nhiều quá. (Người ta nói Mỹ rút đi, để lại toàn là đồ giả không – tao nghe sao chép vậy !). Cho nên, ở nhiều đoạn đường, tao lái xe tránh ổ gà giống như người say rượu ! Vậy mà có hôm vẫn “nhảy” ổ gà cho nên hai tay tao thường lấm lem dầu, đất, mà quần áo thì ướt đẵm mồ hôi.


Bây giờ, tao làm việc “thông tầm”, nghĩa là làm suốt tới chiều rồi về sớm không có về nhà ăn cơm nghỉ trưa như hồi trước. Vì vậy, mỗi sáng tao mang theo một lon ghi-gô cơm với vài miếng cá mặn để ăn tại bàn viết buổi trưa. Chiều về sớm, tao có bổn phận nấu cơm làm đồ ăn, bởi vì giờ đó vợ con tao còn làm việc ở tổ may thêu cách nhà cũng khá xa.


Mỗi sáng đi làm, lúc nào tao cũng đem theo cái giỏ đi chợ treo tòn ten ở ghi-đong, giống như đi chợ chớ không giống đi làm ! Bởi vì trong sở thường hay... bất thần bán cho nhân viên (gọi là “phân phối” chớ không gọi là “bán”, nghe có vẻ... chia xẻ hơn là trao đổi) cá, rau cải... vv. Tuy không nhiều và không được lựa chọn vì phải... bắt thăm trúng lô nào lấy lô đó, nhưng rẻ hơn ngoài chợ thành ra cũng đỡ. Cho nên, đi làm việc mà ngày nào cũng nhóng nhóng hỏi thăm “coi bữa nay có phân phối gì không ?” và chiều về đến nhà, thằng con tao – thằng út đó, tụi bây nhớ không ? bây giờ nó lớn đại rồi – chạy ra mở cổng lúc nào cũng hỏi: “Bữa nay có mua được gì không ba ?”. Và hôm nào thấy trong giỏ có đồ gì để ăn là mắt nó sáng rỡ. Tội nghiệp, sống trong sự thiếu thốn triền miên, có đứa nhỏ nào, có người lớn nào mà không nghĩ đến miếng ăn ?


Bây giờ, tao hút thuốc lá vấn tay. Tao tự vấn lấy. Không phải tao muốn lập dị mà vì tao không đủ sức mua loại thuốc điếu kỹ nghệ thông thường. Mới đầu, tao vấn thuốc rê Gò Vấp. Nó nặng muốn... tét phổi ! Về sau, tao bắt chước thiên hạ mua thuốc lá Lạng Sơn đã xắt sẵn - nghe nói là giống thuốc Virginia, mấy ông ngoài Bắc bảo thế ! - đem trộn với thuốc Gò Vấp, hút thấy được. Vậy là mỗi khi muốn hút, tao cứ tà tà xé một miếng giấy quyến, tà tà rứt một miếng thuốc kéo cho dài dài ra khi để lên lòng giấy, rồi đặt hết tâm tư vào mấy ngón tay (của cả hai bàn tay đang chụm đầu lại nâng nhẹ giấy và thuốc !) để ém, lận, cuốn, xe... cho điếu thuốc được tròn đều trước khi đưa lên lưỡi liếm. Xem thật “ung dung nhàn hạ”. Giống như một nghi thức. Và tao có quyền tà tà vấn thuốc như vậy bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào: trong khi làm việc, trong các buổi hội họp học tập, và cả ngay trước mặt ông xếp của tao nữa (Bây giờ gọi là “thủ trưởng”, nôm na là “cái đầu đứng đầu”. Còn cái đầu có cái óc hay không lại là chuyện khác). Cho nên, hút thuốc vấn – đối với tao – giống như là một cách thoát tục, cái “tục” quá... tục mà tao đang sống bây giờ. Tuy nhiên, sao tao vẫn nghe thèm điếu thuốc ba số năm là loại thuốc mà mấy chục năm tao đã hút ! Làm như mùi vị của nó còn nằm ở đâu trong máu trong xương. Nhiều đêm trở giấc, tao nghe thèm ray rứt, thèm chảy nước mắt !


Chiều hôm qua, trên đường về nhà, đạp xe tới chợ Tân Định thì trời bỗng đổ mưa. Tao tấp vô đụt mưa dưới mái hiên tiệm nước nằm ở góc đường dọc hông chợ (tao quên tên) và đường Hai Bà Trưng. Lúc đó, cỡ gần năm giờ (đồng hồ tay, tao đã bán từ lâu, nên từ lâu, tao chỉ... đoán giờ thôi !). Trong tiệm thấy lai rai có người ăn uống.



Tao đã đứng sát vào vách vậy mà gió cũng tạt mưa vào ướt hết phía dưới chân. Một lát, tao nghe lạnh chân. Rồi tao nghe đói. Cái đói đến một cách đột ngột, giống như nó chui từ dưới chân chui lên. Hồi nãy đạp xe trên đường, tao có thấy đói đâu, mạêc dù buổi trưa tao chỉ ăn có một lon ghi-gô cơm với ít mắm ruốc – dĩ nhiên là tao có uống thật nhiều trà, thứ này, loại thường thôi, trong sở ( Bây giờ gọi là “cơ quan”) có chị nhân viên tối ngày cứ châm đầy bình cho mình uống “líp” – Vậy mà bây giờ tao lại thấy đói. Có lẽ tại vì lỗ mũi tao nghe mùi hủ tiếu, mùi mì. Ờ... tụi bây không biết chớ từ lâu rồi – tao không nhớ là bao nhiêu lâu, nhưng chắc là lâu lắm – tao chưa được ăn mì. Bây giờ đứng đây phía đường hông chợ Tân Định, phía trên gió, vậy mà vẫn “đánh hơi” rõ mồn một mùi nước lèo của xe mì nằm bên đường Hai Bà Trưng, phía dưới gió, rõ như hơi của nước lèo đang bốc lên ngay trước mũi ! Tao nuốt nước miếng.


Thèm quá ! Tao thèm ăn ngay một tô mì ! Thọc tay vào túi quần, tao đụng hai tờ giấy bạc. Móc ra xem thì ra là hai đồng. Tao chỉ có ngần đó thôi ! Nhưng hai đồng, đủ để ăn một tô mì rồi ! Thì ăn... đại một tô cho nó đã ! Tao dợm bước vào tiệm nước bỗng nhớ lại vợ tao hồi sáng khi trao cho tao hai đồng đó, có dặn: “Chiều, anh ghé chợ Cây Quéo mua 6 cái hột vịt và nửa giỏ rau. Về, anh bắc nồi cơm bỏ vô luộc trước. Chừng mẹ con em về, em làm nước mắm rồi dầm cho nhà ăn.” Hình ảnh cả nhà tao 7 đứa quây quần bên “nửa giỏ rau và 6 cái hột vịt” và hình ảnh tao một mình ngồi ăn tô mì... làm tao khựng lại. Tô mì mà tao muốn ăn, thèm ăn, là cả một bữa ăn của gia đình ! Tao không thể đổi được. Thà là tao nhịn thèm. Thà là tao chịu đói để về ăn chung với vợ con. Ăn thứ gì cũng được, ít nhiều gì cũng được, dở ngon gì cũng được. Miễn là ăn chung với tụi nó. Để thấy rằng cuộc đời tao bây giờ chỉ còn lại có tụi nó là quí thôi ! Tao nghe thương vợ thương con vô cùng. Và tao cũng nghe thương thân tao vô cùng...


Tao đứng yên nhìn ra mưa bỗng nghe hai má của mình ướt lạnh. Đưa tay lên vuốt mặt mà nghĩ rằng mình vuốt nước mưa trên má...

(Trên đây là lá thơ viết lỡ dở, của ai viết cho ai, tôi không biết. Thơ viết trên giấy tập học trò, Chữ nhỏ li-ti, nhưng đẹp và rõ nét. Tình cờ, tôi nhìn thấy “nó” trong xấp giấy gói hàng cùa bà bán xôi đầu ngõ nên tôi xin...)


Tiểu Tử

Chủ đề không quên: Còn Cộng sản thì còn Quốc hận

Còn Cộng sản thì còn Quốc hận
http://4.bp.blogspot.com/-rXjS45kcC5M/VS90inpyVGI/AAAAAAAAHzQ/mpGNBOVvDHE/s1600/qh.jpg - 
 Vui, buồn, thương, ghét, oán, hận là tâm lý thông thường của con người, và cũng theo tâm lý thông thường, qua thời gian, lòng người nguôi ngoai dần, sẽ bớt vui, bớt buồn, bớt thương, bớt ghét, bớt hận. Lâu hơn nữa, thời gian có thể xóa hết chuyện vui, buồn, giận, ghét, hận nơi con người, để rồi tất cả đi vào kỷ niệm… Tuy nhiên, riêng quốc hận 30-4, cho đến nay lòng người Việt không thể nguôi ngoai được mà mối quốc hận càng ngày càng tăng cao, càng đậm nét. <!->
Cứ mỗi độ đến ngày 30-4, người Việt lại sôi sục mối hận không nguôi. Đây là một hiện tượng rất đặc biệt chỉ vì nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam (CSVN), sau khi cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam (NVN), càng ngày càng lộ ra bản chất tham lam, gian manh, tàn bạo, độc tài, đi vào con đường tội lỗi, phản quốc, lệ thuộc Trung Cộng, làm cho đất nước càng thêm suy đồi cùng kiệt, làm cho lòng người càng thêm uất hận.

1. Việt Nam sau năm 1975 càng ngày càng bệ rạc

Sau năm 1975, về mặt xã hội, đầu tiên dễ nhận thấy là giềng mối gia đình Việt Nam càng ngày càng lỏng lẻo, lung lay. Trong khi cha mẹ tất bật lo cuộc sống, con cái thiếu hướng dẫn, lại bị nhiễm nền giáo dục CS. Cộng sản chủ trương “Giáo dục phục vụ chính trị”, tức phục vụ chế độ, phục vụ đảng CS, đào tạo những con người “hồng” hơn chuyên, mang tính đảng nhiều hơn tính chuyên môn. Vì vậy, nền giáo dục suy thoái trầm trọng, trình độ học sinh sút kém. “Báo Thanh Niên viết tựa: “Học sinh lớp 6 ở Bạc Liêu chưa biết đọc!”Báo Tiền Phong kể chuyện từ Kiên Giang tới Cà Mau: “Nhiều học sinh Trung Học Phổ Thông không đọc thông, viết thạo,” trong đó có: “Học sinh lớp 7 nhưng đọc chưa thạo,” có đăng cả hình em học sinh đó đang tập đánh vần. Báo Tuổi Trẻ: “Kontum: Học sinh lớp 6 chưa đọc thông viết thạo,” có 18 em như vậy. Báo này đăng hình một học sinh lớp 6 ở Phù Cát, Bình Ðịnh, đứng ngơ ngẩn trước tấm bảng đen vì không biết làm con tính chia đơn giản. Báo Sài Gòn Giải phóng cũng loan tin 26 học sinh lớp 6 ở một trường tỉnh Phú Yên chưa đọc chưa viết được chữ quốc ngữ và chưa biết làm 4 phép tính cơ bản. Có học sinh lớp 6 chưa biết đọc 24 chữ cái, vào lớp “cứ ngồi im thin thít.” Có em khác, cô giáo viết chữ cái lên bảng, bảo em chép lại, cũng không viết được! Một học sinh lớp 6 ở Sóc Trăng không viết được tên mình, làm bài toán cộng 7 + 3 cũng sai. Báo Sài Gòn Giải phóng còn kể chuyện có học sinh lớp 9 ở Việt Trì, Phú Thọ, cũng chưa biết đọc trôi chảy một đoạn trong truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh. (Người Việt Online ngày 12-12-2006.) Không lo dạy chữ, mà nhà trường bắt học sinh thuộc lòng năm điều của Hồ Chí Minh, trong đó không có điều nào dạy con em phải có hiếu với cha mẹ, thương yêu anh chị em, kính trọng người lớn tuổi. Lại còn rêu rao: "Công cha như núi Thái Sơn,/ Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra./ Bác Hồ hơn mẹ hơn cha…” Thật là quái đản hết biết.

Ở bậc đại học, Việt Nam hiện có 24,000 tiến sĩ, nhưng cái ốc vít chưa chế biến được, đừng nói tới các thứ khác. Sau đây là câu ca dao được truyền tụng trong giới đại học Việt Nam hiện nay: “Ngày xưa các cụ đi thi / Trạng nguyên bảng nhãn vinh quy về làng / Bây giờ lắm trạng nghênh ngang / Ăn tục nói phét nghênh ngang với đời Nhưng mà thực chất bạn ơi / Bằng mua, bằng bán, tiền cười là xong / Có bằng lên chức mới nhanh / Không bằng đợi đấy ông hành mày cho…" (Trích báo trong nước: baodatviet.vn 25-2-2014, bài “GS.TS Trần Duy Quý: Nói “tiến sĩ giấy” cũng không oan”.) . 

Chẳng những không giảng dạy đức dục trong học đường, CS còn đàn áp tôn giáo, nhứt là những tôn giáo địa phương như đạo Cao Đài, đạo Phật giáo Hòa Hảo. Đối với những tôn giáo có nhiều liên hệ quốc tế như đạo Phật, các tông phái Ky-Tô giáo, thì CS không dám mạnh tay mà kiếm cách lồng người vào các giáo hội để lèo lái theo lệnh của CS. Lũng đoạn tôn giáo, CS xâm hại không ít đến đời sống tâm linh, đời sống đạo đức của người Việt, nhứt là các thế hệ trẻ. 

Do CS chủ trương giáo dục phục vụ đảng, rồi chủ trương tôn giáo cũng phục vụ đảng, nên xã hội càng ngày càng xuống cấp, hỗn loạn. Những video clip về cảnh cướp giựt công khai giữa ban ngày đưa lên hằng ngày thật khiếp đảm. Cướp giật lại là những tên côn đồ do công an tập hợp, bảo kê, dung dưỡng nhưng không có ngân quỹ trả lương cho chúng, nên công an thả rông cho chúng tự do cướp giật để sinh sống, công an không can thiệp. Công an sử dụng đội ngũ côn đồ để uy hiếp, trấn áp, đánh đập những ai chống đối, những nhà tranh đấu dân chủ, những người khiếu nại và kiện tụng (khiếu kiện) vì bị cướp đất, dân chúng biểu tình chống Trung Cộng, giống như loại kiêu binh thời chúa Trịnh ngày xưa được mô tả trong sách vở. 

Băng đảng hoạt động khắp nơi. Đĩ điếm công khai “tác nghiệp” (chữ của CS). Trộm cắp tràn lan từ trong cơ quan nhà nước ra ngoài xã hội, từ thành phố đến nông thôn. Ra nước ngoài cũng trộm cắp. Nổi tiếng nhứt là vụ bà Vũ Kiều Trinh qua Thụy Điển công tác 3 tuần trong tháng 2-2001. Ngày 11-2-2001, bà ăn cắp tại siêu thị thành phố Kalmar, bị cảnh sát bắt giam. Vì là con gái của một ủy viên Trung ương đảng CS, nên đại sứ CSVN tại Thụy Điển đã can thiệp để bà Kiều Trinh được thả ra ngày 16-2 và hai ngày sau bà phải rời Thụy Điển. 

Cán bộ CS đi đâu cũng ăn cắp. Qua Thái Lan cũng ăn cắp. Đến Thụy Sĩ cũng ăn cắp. Tại Đài Loan cũng ăn cắp. Tại Nhật Bản du học sinh Việt (CS) ăn cắp nhiều quá đến nỗi vào tháng 6-2013, một siêu thị ở Nhật Bản cho treo một bảng cảnh cáo nạn trộm cắp bằng tiếng Việt phía trên, tiếng Nhật phía dưới, mà không dịch qua các thứ tiếng khác như Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Ả Rập... Thực là nhục quốc thể

Còn đây là cảnh cáo công khai ở Đài Loan 
cũng chỉ bằng tiếng Việt ngoài tiếng địa phương.

Trong khi đó, ở trong nước, tham nhũng càng ngày càng lộng hành. Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Trace International) có trụ sở ở Berlin, vị thứ tham nhũng (Corruption Perceptions Index) của Việt Nam trên thế giới từ 2010 cho đến nay là: 116/178 (năm 2010), 112/182 (năm 2011), 123/ 176 (năm 2012), 116/176 (năm 2013), 119/175 (năm 2014). (Wikipedia). 

Tham nhũng ở Việt Nam vừa tinh vi vừa trắng trợn, nhiều nhứt trong các ngành nhà đất, hải quan, công an, giáo dục… Tham nhũng đất đai rất tàn bạo, cướp nhà, cướp đất, cướp ruộng vườn bán cho người ngoại quốc, gây ra phong trào dân oan khiếu kiện trên toàn quốc. Vì mất nhà sinh sống, mất đất canh tác nên dân chúng phải đi lang thang khiếu kiện, mà còn bị đối xử bất công, đàn áp, đánh đập. 

Đặc biệt cán bộ đảng viên CS tham nhũng được bảo vệ bằng Chỉ thị 15-CV/TW do bộ chính trị đảng CS ban hành ngày 7-7-2007, quy định như sau: “Các cơ quan bảo vệ pháp luật khi phát hiện có dấu hiệu đảng viên vi phạm đều phải báo cáo bằng văn bản với tổ chức đảng, cấp ủy đảng quản lý trực tiếp đảng viên đó, khi được tổ chức đảng, cấp ủy đảng xem xét đồng ý cho điều tra, khởi tố, bắt... thì cơ quan bảo vệ pháp luật mới được tiến hành các biện pháp tố tụng.” Như thế nghĩa là công an không được theo dõi điều tra đảng viên nếu chưa có sự chấp thuận của đảng uỷ cơ quan. (Vào google, ghi câu: “Công an không thể điều tra đảng viên”, 1 click, xem cuộc họp báo ngày 8-3-2016 của phó giám đốc công an TpHCM.)

Vì vậy, chẳng ai dám tố cáo tham nhũng vì sợ bị trả thù. Người chống tham nhũng yếu thế hơn bọn tham nhũng. Tham nhũng từ tổng bí thư đảng CS, thủ tướng chính phủ, thì đố ai mà dám chống. Nếu không tham nhũng thì lấy tiền đâu mà xây dựng những nhà cửa, lâu đài nguy nga “hoành tráng” như Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng?

Về kinh tế, theo báo Đời Sống & Pháp Luật (trong nước) ngày 29-8-2015, “Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đang thụt lùi so với Hàn quốc khoảng 30-35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái Lan khoảng 20 năm, Indonesia và Philippines khoảng 5-7 năm.” Còn nữa, cũng theo báo chí trong nước, hiện nay mức thu nhập trung bình của người Việt đang có dấu hiệu sẽ còn thấp hơn cả Lào và Cambodia. Hiện Cambodia dã vựợt qua Việt Nam về ngành lúa gạo và ngành kỹ nghệ xe hơi. (google.com.vn

Cần ghi nhận thêm là thu nhập trung bình theo đầu người không chia đều trên cả nước. Số người giàu có, thu nhập cao, đảng viên CS tập trung ở thành phố, trong khi nông thôn, miền núi rất nghèo đói. Thành phố Đà Nẵng có 5 cây cầu bắc qua sông Hàn (dư thừa), trong khi có nhiều vùng không có cả cầu khỉ cho học sinh đi học, mùa nước lụt phải lội qua sông hoặc phải đu giây rất nguy hiểm. Tại thành phố, dân giàu là cán bộ đảng viên, nhà cửa nguy nga trong khi người nghèo sống trong các ổ chuột thiếu tiện nghi.

Trên đây là những nét phác thảo rất sơ lược về xã hội Việt Nam hiện nay, chắc chắn còn quá sơ sài và còn thiếu sót rất nhiều. Tuy vậy, những nét phác thảo trên đây cũng đủ làm cho người Việt, vốn uất hận vì biến cố 1975, càng ngày càng chán ghét chế độ CS, càng thêm uất hận, vỉ khi cưỡng chiếm NVN, CS thừa hưởng cả một gia tài khổng lồ, phồn thịnh, mà dưới sự cai trị của CS, Việt Nam càng ngày càng bệ rạc hơn bao giờ cả, thua sút cả các nước láng giềng như Cambodia, thì thật là nhục nhã. 

2. Cộng sản khinh dân

Ai cũng biết, nhà cầm quyền CSVN độc tài, đảng trị, toàn trị. Điều nầy được HCM và đảng CS khẳng định ngay từ khi mới cướp chính quyền ngày 2-9-1945. Tại Hà Nội, ngày 11-9-1945, HCM triệu tập hội nghị Trung ương đảng CS, đưa ra nguyên tắc căn bản là đảng CS nắm độc quyền điều khiển mặt trận Việt Minh, điều khiển chính phủ, một mình thực hiện cách mạng. (Philippe Devillers,Histoire du Viet-Nam de 1940 à 1952, Paris: Éditions du Seuil, 1952, tr. 143.) 

Về sau, CS chính thức quy định độc quyền lãnh đạo đất nước trong điều 4 hiến pháp năm 1992 và mới cà lăm lập lại trong điều 4 hiến pháp năm 2013 như sau: “Đảng Cộng Sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.”Hiến pháp này được Quốc hội CS khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 28-11-2013.

Trong thời đại dân chủ, điều 4 nầy hoàn toàn phản dân chủ. Đảng CS đã mạo nhận là “đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc”. Trong lịch sử, không có khi nào đảng CS phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, mà CS chỉ lợi dụng công nhân và nhân dân lao động để phục vụ quyền lợi đảng CS. Hơn nữa, chẳng ai bầu hay chọn đảng CS làm “lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.” Đảng CS lấy quyền gì mà tự xưng như vậy?

Theo điều 119 hiến pháp 2013, “Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất.” Tuy nhiên, trước khi hiến pháp được thông qua ngày 28-11-2013, trong buổi nói chuyện với cử tri hai quận Tây Hồ - Hoàn Kiếm, tại Hà Nội ngày 28-09-2013, viên tổng bí thư hiện nay của đảng CS là Nguyễn Phú Trọng lại khẳng định rằng: “Hiến Pháp là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương Lĩnh của đảng.” Tại sao hiến pháp “có hiệu lực pháp lý cao nhất”, lại đứng sau cương lĩnh của đảng CS? Phản dân chủ trắng trợn đến thế là cùng?

Chẳng những thế, CS còn khinh thường dân chúng đến độ xem dân như không có, vì chính CS bày ra hiền pháp 2013, rồi cũng chính CS chà đạp lên hiến pháp do CS lập ra. Điều 71 hiến pháp 2013 quy định rằng: "nhiệm kỳ của mỗi khóa quốc hội là 5 năm, sáu mươi ngày trước khi quốc hội hết nhiệm kỳ, quốc hội khóa mới phải được bầu xong.” Theo nghị quyết của quốc hội số 1129/2016UBTVQH13 ngày 15-1-2016 về ngày bầu cử quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ kế tiếp (2016-2021), thì ngày bầu cử sắp tới được ấn định là ngày 22-5-2016. Như thế là quốc hội hiện nầy vẫn còn làm việc ít nhứt đến tháng 6-2016 mới hết nhiệm kỳ, 

Điều đó cũng có nghĩa là chủ tịch quốc hội, chủ tịch nước và thủ tướng chính phủ cũng đến tháng 6-2016 mới hết nhiệm kỳ, vì theo điều 87 (chương VI) và điều 97 (chương VII) của hiến pháp 2013, thì nhiệm kỳ của chủ tịch quốc hội, của chủ tịch nước, của thủ tướng chính phủ theo nhiệm kỳ của quốc hội. Những điều nầy rành rành ra thế, nhưng vì “Hiến Pháp là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương Lĩnh của đảng”, nên tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho bãi nhiệm các chức sự trên đây trước khi mãn nhiệm kỳ để bầu lại người khác, theo sự sắp đặt của Nguyễn Phú Trọng và đảng CS.

Theo hiến pháp, chủ tịch quốc hội, chủ tịch nước, thủ tướng chính phủ đều do quốc hội bầu. Đàng nầy, đảng CS ngang nhiên công khai chỉ định trước các chức vụ nầy trong đại hội làn thứ 12 đảng CS từ 20 đến 28-1-2016, rồi giao cho quốc hội hợp thức hóa. Như thế, CS công khai xem quốc hội chỉ là tay sai hay đầy tớ của đảng CS, sai bảo gì là phải vâng lệnh thi hành điều đó.

Đặc biệt, hiện nay chẳng những dân chúng Nam Việt Nam mà cả dân chúng Bắc Việt Nam cũng uất hận CS tàn bạo, nên quay qua cầu mong chính thể dân chủ VNCH trở lại. Một ví dụ mới xảy ra là thanh niên Nguyễn Viết Dũng, sinh năm 1986, tại xã Hậu Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, sinh viên Đại học Công nghệ Thông tin Đại học Bách Khoa Hà Nội, bị đuổi học năm 2006 vì tham gia biểu tình chống Trung Cộng. Năm 2014, Dũng tham gia tuần hành quanh Hồ Hoàn Kiếm bảo vệ cây xanh, bị bắt vì bận áo Lôi Hổ Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, và bị đưa ra tòa án quận Hoàn Kiếm (Hà Nội) xét xử ngày 14-12-2014. Anh Dũng bị xử án 15 tháng tù giam. Ngay khi bước ra khỏi nhà tù, Dũng bận áo trắng, trên ngực mang cờ Việt Nam Cộng Hòa, trên tay xăm hai chữ SÁT CỘNG. 

Câu chữ Anh phía trên chữ “SÁT CỘNG” 
Governments should be afraid of their people
(xăm trên cánh tay)

Hai tấm hình trên đây nói lên tất cả uất hận chẳng những của Dũng Phi Hổ mà của toàn dân Việt Nam. Dũng uất hận đến tận cùng nên bất chấp nguy hiểm đang chờ chực, liều mạng bày tổ nỗi lòng của mình.

Ngày xưa, khi đối đáp với Tề Tuyên Vương, Mạnh Tử (372-289 TCN) nói: "Vua xem bầy tôi như đất, như cỏ, thì bầy tôi xem vua như giặc như thù.” (Trần Trọng Kim, Nho giáo quyển thượng, Sài Gòn: Trung Tân Học Liệu Bộ Giáo Dục, 1971, tr. 217.) Chữ vua của Mạnh Tử dùng có thể xem là các nhà cầm quyền. Nhà cầm quyền CS xem dân Việt như đất, như cỏ, thì dân Việt xem nhà cầm quyền CS như giặc, như thù, thì làm sao mà người Việt nguôi ngoai quốc hận cho được. Càng ngày quốc hận càng thêm sôi sục, tăng cao mà thôi.

3. Cộng sản xác nhận đã bán đứt Hoàng Sa và Trường Sa

Chuyện CSVN bán Hoàng Sa và Trường Sa cho Tàu cộng là chuyện ai cũng biết và đã có nhiều người viết. Tuy nhiên, nhà cầm quyền CS cứ chối leo lẻo, chối quanh, chối co, hoặc biện minh một cách phi lý, để rồi cuối cùng CS “giấu đầu lòi đuôi”. Chuyện là như sau: 

Ngày 5-11-2015, Tập Cẩm Bình, tổng bí thư ban chấp hành trung ương đảng CS Trung Hoa, chủ tịch Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng) đến Hà Nội, bắt đầu chuyến viếng thăm cấp nhà nước trong hai ngày 5 và 6-11-2016. Tập Cảm Bình hội đàm riêng lẻ với bộ tứ mã Nguyễn Phú Trọng (tổng bí thư đảng CSVN), Trương Tấn Sang (chủ tịch nước), Nguyễn Sinh Hùng (chủ tịch quốc hội) và Nguyễn Tấn Dũng (thủ tướng). Tập Cẩm Bình còn đọc diễn văn trước quốc hội CSVN.

Trong bài diễn văn trước quốc hội, Tập Cẩm Bình nói chuyện rất hoa mỹ và rất đãi bôi, có đoạn như sau: “Dân tộc Trung Hoa từ trước đến nay đều yêu hòa bình, cái gen “hòa” của dân tộc từ trước tới nay đều không thay đổi, “ hòa” trong văn hóa được bảo lưu trường tồn, mãi mãi. Từ hơn 2400 năm trước, cổ nhân Trung Quốc đã nêu ra đường lối “Lễ chi dụng, hòa vi quý” (sử dụng lễ nghĩa thì lấy hài hòa, hòa thuận là quý trọng làm đầu). Nguyện vọng hòa bình được mọc rễ từ trong con tim của mọi người Trung Quốc, hòa nhập vào trong dòng máu của dân tộc Trung Hoa.” 

Đồng ý dân tộc Trung Hoa rất yêu hòa bình, nhưng những nhà lãnh đạo Trung Hoa từ trước đến nay, từ thời quân chủ đến thời CS đều hiếu chiến, tham lam, luôn kiếm cơ hội xâm lăng Việt Nam, bành trướng xuống phương nam. Dân tộc Việt Nam còn tồn tại cho đến ngày nay là nhờ tổ tiên người Việt đã chiến đấu không ngừng chống lại các cuộc xâm lăng từ phương bắc. Ngay cả CSVN cũng đã nếm mùi xâm lăng của Trung Cộng năm 1979, gây tan nát cho 6 tỉnh biên giới, cho đến nay vẫn chưa phục hồi được. 

Tập Cẩm Bình còn tiếp: "Tháng 4 năm nay, trong thời gian Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng có chuyến thăm Trung Quốc, tôi và ngài tổng bí thư đã tổng kết quá khứ, nhìn về tương lai. Chúng tôi đã đạt được nhận thức chung, mối quan hệ gắn bó Trung Việt đã được chủ tịch Mao Trạch Đông, thủ tướng Chu Ân Lai cùng với chủ tịch Hồ Chí Minh thế hệ lão thành tiền bối hai bên xây dựng nên, là tài sản quý báu của hai đảng, nhân dân hai nước, cần được quan tâm chăm sóc, bồi dưỡng. “Tín giả, giao hữu chi bản” (lòng tin là cái căn bản để xây dựng tình bạn).

Chuyện gắn bó Trung-Việt thời Mao Trạch Đông, Tập Cẩm Bình quên nhắc chuyện năm 1939, lúc đó Hồ Chí Minh có mặt ở Trung Hoa và Mao Trạch Đông đang còn chống nhau với Tưởng Giới Thạch, Mao Trạch Đông đã viết rằng Việt Nam là một nước phụ thuộc Trung Quốc. (Sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, không đề tên tác giả, 1979, tr. 16.) Như thế có nghĩa là gắn bó theo kiểu Tàu đô hộ thời Tô Định, là điều mà dân tộc Việt Nam không bao giờ chấp nhận và sẵn sàng chống đánh quân Tàu xâm lược để bảo vệ nền độc lập dân tộc. Phải chăng Tập Cẩm Bình muốn thực hiện lối quan hệ gắn bó theo kiểu Mao Trạch Đông, đặt Việt Nam phụ thuộc Tàu khựa?

Tập Cẩm Bình ăn nói ngược ngạo như thế mà các nghị gật CS ngồi im thin thít, chống tai lắng nghe cho được, không có một phản ứng nào cả. Trước khi Tập Cẩm Bình rời Việt Nam, hai bên CSVN và Trung Cộng đưa ra bản tuyên bố chung ngày 6-11-2016 gồm 11 điều với lời lẽ rất ngoại giao về nhiều vấn đề chính trị, kinh tế, quân sự; trong đó vấn đề gai góc giữa hai bên là chuyện Hoàng Sa và Trường Sa thì chỉ đề cập đến chuyện tuần tra Vịnh Bắc Bộ và quy tắc ứng xử ở Biển Đông một cách tổng quát, không đi vào chi tiết và không nhắc đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, xem như chẳng có chuyện gì xảy ra. Sau đây là hai đoạn về nội dung vừa kể:

Điều 5 mục (iii): “Duy trì trao đổi cấp cao giữa hai quân đội, sử dụng tốt cơ chế Đối thoại chiến lược Quốc phòng, Giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt - Trung và đường dây thông tin điện thoại trực tiếp giữa hai Bộ Quốc phòng; tăng cường giao lưu hợp tác giữa quân đội hai nước trên các lĩnh vực như giao lưu hữu nghị biên phòng, đào tạo cán bộ, nghiên cứu học thuật quân sự, tuần tra chung trên Vịnh Bắc Bộ và tàu hải quân thăm lẫn nhau; đi sâu trao đổi kinh nghiệm về hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc và công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội; tăng cường hợp tác thực thi pháp luật trên biển giữa Cảnh sát biển hai nước, cùng nhau duy trì hòa bình, ổn định trong vùng biển Vịnh Bắc Bộ, thúc đẩy ký kết Bản ghi nhớ hợp tác giữa Bộ Tư lệnh Cảnh sát biển Việt Nam với Cục Cảnh sát biển Trung Quốc.”

Điều 7: “Hai bên nhất trí cùng nhau kiểm soát tốt bất đồng trên biển, thực hiện đầy đủ và có hiệu quả “Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), thúc đẩy sớm đạt được “Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC) trên cơ sở hiệp thương thống nhất, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp; xử lý kịp thời, thỏa đáng vấn đề nảy sinh, duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông và quan hệ Việt - Trung.”

Ai cũng biết là Trung Cộng đã xâm lăng quần đảo Hoàng Sa ngày 19-1-1974. Sau đó, Trung Cộng mở đường xuống Biển Đông, xâm lăng quần đảo Trường Sa 1988. Hiện nay, ai cũng biết Trung Cộng đem dàn khoan di động cài đặt bất cứ nơi nào trong Biển Đông để dò tìm tài nguyên dưới lòng Biển Đông, làm như Biển Đông là của Trung Cộng, bất kể hải phận Việt Nam. Chẳng những thế, Trung Cộng còn tự động xây dựng thêm đảo nhân tạo trên các quần đảo đã chiếm và lập những phi đạo cho phi cơ hạ cánh. Đối với người Việt, Trung Cộng chẳng những là kẻ xâm lăng mà còn là những tên cướp đất, cướp biển. 

Không dám chống cự kẻ xâm lăng, lại không dám đánh đuổi những tên cướp, nhưng khi kẻ xâm lăng hay là những tên cướp đến tận nhà, thì ít nhứt cũng phải phản đối vài điều, hoặc ít ra cũng phải ghi nhận vài câu trong tuyên bố chung. Đàng nầy bộ tứ mã Sang, Trọng, Hùng, Dũng không dám lên tiếng, khúm núm chào mừng quan khách Tập Cẩm Bình, rồi cúi đầu im khe ký bản tuyên bố chung vô bổ, xạo que, không một phản ứng nào cả. Quốc hội và báo chí của CS cũng được lệnh của bộ tứ mã câm miệng hến, chẳng dám có một lời phát biểu. Nhục ơi là nhục. Nhục đến thế là cùng. 

Sự im lặng của CSVN khi tiếp kẻ xâm lăng có một ý nghĩa rất quan trọng cho người Việt Nam và các nước trên thế giới. Đó là CSVN chính thức xác nhận là đảng CSVN đã giao đứt hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Cộng, nên bộ tứ mã và quốc hội im lặng trước Tập Cẩm Bình, chấp nhận sự đã rồi, không còn gì để nói về hai quần đảo nầy với Tập Cẩm Bình. Nói cách khác, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã mất vào tay Trung Cộng, không còn gì để CSVN lên tiếng khi kẻ cướp đến nhà.

Điều khôi hài là khi Tập Cẩm Bình ra trước quốc hội CSVN, nói hươu nói vượn, thì không có dân biểu nào dám hó hé hỏi han gì cả. Đến khi Tập Cẩm Bình rời Việt Nam về nước khá lâu, thì có hai ông dân biểu, trước khi mãn nhiệm về vườn, lại hùng hổ múa may lên tiếng.

Ngày 1-4-2016, luật sư Trương Trọng Nghĩa, thuộc đoàn đại biểu TpHCM phát biểu: “Về bối cảnh tình hình, tôi nhất trí với đánh giá Báo cáo của Chính phủ là tình hình phức tạp, căng thẳng trên biển Đông đe dọa nghiêm trọng tới hòa bình, ổn định và tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế – xã hội của đất nước… Tôi đồng ý với đại biểu Võ Thị Dung ở thành phố Hồ Chí Minh, đất nước chúng ta đang có ngoại xâm và nội xâm, nghĩa là chúng ta đang bị xâm phạm độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, xâm phạm bằng sức mạnh cứng và sức mạnh mềm, sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước đang bị đe dọa và thách thức nghiêm trọng…

Vào buổi chiều cùng ngày 1-4-2016, đại biểu Lê Văn Lai thuộc đoàn Quảng Nam, nói thêm “Tôi rất ngạc nhiên khi mà trong tất cả báo cáo của Chính phủ, của các cơ quan, hữu quan đều đánh giá biển Đông của chúng ta là đảm bảo chủ quyền an ninh quốc gia. Tôi rất ngạc nhiên về đánh giá này, đánh giá đảm bảo an ninh quốc gia, đảm bảo chủ quyền an ninh quốc gia, mà trong khi đó người ta biến từ đảo ngầm thành đảo nổi, người ta xây sân bay, người ta kéo pháo hạm, người ta đưa máy bay tiêm kích, người ta o ép dân, cướp bóc, thậm chí là giết chóc, người ta sắp tuyên bố những điều xâm phạm chủ quyền như vùng nhận dạng phòng không, như dùng các chuyến bay cắt ngang tuyến bay truyền thống được quốc tế thừa nhận… Không biết khi nào chúng ta đánh giá là xâm phạm chủ quyền quốc gia là những hành vi nào, hệ lụy nào, hành động nào, trong khi đó trước đây người ta xâm phạm chúng ta với tần suất 20 năm một lần. Năm 1956 lấy Đông Hoàng Sa, 1974 lấy Tây Hoàng Sa, năm 1988 lấy đảo Gạc Ma, năm 2014 kéo giàn khoan vào biển Đông và sau đó tần suất dài hơn, trong vòng cứ một vài năm lại có một sự kiện mới xâm lấn chúng ta. Thế chúng ta cứ nghiễm nhiên ngồi đây để đánh giá là chúng ta bảo đảm chủ quyền quốc gia, liệu điều đó đúng không?.”

Các ông nói đúng, “đất nước chúng ta đang có ngoại xâm và nội xâm, nghĩa là chúng ta đang bị xâm phạm độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ…”  “người ta biến từ đảo ngầm thành đảo nổi, người ta xây sân bay, người ta kéo pháo hạm, người ta đưa máy bay tiêm kích, người ta o ép dân, cướp bóc, thậm chí là giết chóc…” Thế thì tại sao hai ông không dám nói khi kẻ ngoại xâm có mặt ở quốc hội? Bây giờ hai ông nói cho sướng miệng, và cho sướng lỗ nhĩ của mấy ông nghị gật mà thôi, chẳng ích lợi gì cả.

Kết luận

Đã qua rồi 41 mùa quốc hận, nhưng mối quốc hận vẫn không hề phai lạt, mà càng ngày càng đậm nét vì chính những kẻ gây ra Quốc hận càng ngày lún sâu vào con đường phản bội dân tộc, làm cho quốc hận càng thêm sôi sục. Tiếp nhận một gia tài khổng lồ, phồn thịnh là miền Nam Việt Nam sau năm 1975, CS đã đưa đất nước đến chỗ bệ rạc, bế tắc về tất cả các mặt văn hóa, kinh tế, chính trị, quân sự, khinh thường dân chúng một cách trắng trợn, và nhất là chỉ vì mưu cầu quyền lực và quyền lợi, tập đoàn lãnh đạo CS đang bí mật đưa Việt Nam vào con đường Hán hóa, bán đứt đất đai, biển đảo do tổ tiên để lại cho kẻ thù phương bắc. 

CỘNG SẢN PHẢN BỘI TỔ QUỐC ĐẾN THẾ LÀ CÙNG. CÒN CỘNG SẢN THÌ CÒN QUỐC HẬN.

(Toronto, 22-4-2016)
Trần Gia Phụng
 http://trangiaphung.blogspot.co.uk/2016/04/con-cong-san-thi-con-quoc-han-tran-gia.html

Bài Xem Nhiều