We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 28 April 2016

Cùng Một Nỗi Đau


Những giọt nước mắt và nỗi đau mang tên chiến tranh - ảnh 1

- Bố ơi! mẹ đâu rồi?

- Ơ!… mẹ đi thăm bà.

- Chừng nào mẹ về?

- Ơ!.. vài ngày nữa.

Có tiếng khóc thút thít:

- Con nhớ mẹ!

- Ừ! bố biết… con ngủ ngoan, bố thương.

Tiếng khóc nghe chừng như áo não hơn.

- Không có mẹ gãi lưng con không ngủ được

- Xích lại đây. Nằm sấp xuống, bố gãi lưng cho.

… -…

- Không phải chỗ đó. Chỗ này nè!

- Đúng chưa?

- Không phải. Xích qua bên đây. Đúng rồi, nhưng tay bố nhám quá. Bố làm con đau.

- Ừ! bố sẽ gãi nhẹ một chút. Được chưa?

- Ư… nhưng tay của mẹ mềm và êm hơn tay bố. Mẹ ơi! con nhớ mẹ.

Rầm!

Bàn tay chai cứng của người đàn ông đập mạnh vào thành giường. Như không thể kềm hãm được cơn tức giận, ông hét to:

- Không được nhắc mẹ nữa nghe chưa? Nghe chưa???

- Dạ nghe!

Thằng bé co rúm người lại, kéo chiếc gối che kín khuôn mặt. Hai môi bậm chặt để tiếng khóc không thoát ra ngoài.

Đêm chùng xuống. Đêm âm u. Đêm dài bất tận. Ngoài khung cửa sổ, cây cối ngã nghiêng theo cơn gió cuồng nộ. Người đàn ông ôm mặt, giấu những giọt nước mắt trong tiếng thở dài. Cùng với tiếng thở dài là đằng đẵng nỗi đau. Niềm ân hận chợt ùa về giữa tiếng nấc nghèn nghẹn của đứa con đang nhớ mẹ.

***

- Bố ơi! ngày mai con đi xa rồi, bố nhớ giữ gìn sức khỏe nha.

- Con an tâm, bố còn khỏe lắm mà!

- Nếu bố còn tiếp tục uống rượu thì sức khỏe của bố sẽ xuống nhanh lắm.

- Bố biết.

- Bố biết, nhưng sao bố vẫn uống. Có phải…bố còn… nhớ mẹ?

Đôi mắt người đàn ông quắc lên đỏ ngầu:

- Đã bảo… không được nhắc đến… con có nghe lời bố nói không?

Lần đầu tiên đứa con trai trừng mắt, nhìn thẳng vào mặt bố:

- Lâu lắm rồi, cũng gần hai mươi năm, con nghe lời bố không nhắc đến mẹ. Bây giờ, con không còn là đứa bé lên sáu, tối tối nằm ôm gối mong mẹ trở về gãi lưng cho con ngủ nữa. Con cần biết sự thật về sự vắng mặt của mẹ trong cuộc đời của con. Nhiều người nói cho con biết nguyên nhân sự ra đi của mẹ, nhưng con không tin. Con không tin bố là người đàn ông độc đoán, hà khắc với vợ như bà ngoại nói. Con không tin mẹ là người đàn bà hư hỏng, xấu xa như bà nội nói. Con muốn được nghe từ bố. Một cách trung thật và công bằng. Bố nói đi. Mấy mươi năm con sống trong nỗi hoang mang vì không hiểu tại sao gia đình mình lại thiếu mất một người rất quan trọng đối với con. Con cần biết một cách tường tận để không oán hận mẹ đã bỏ rơi con. Bố đừng dùng quyền làm bố để che đậy sự thật.

Khuôn mặt người đàn ông chìm xuống trong nỗi đau bất tận vừa được xoáy tung lên. Trái cấm nơi cổ họng của ông giật liên hồi và tiếng nói rít qua hàm răng cắn chặt:

- Một sự thật thối tha… con cần gì phải biết để thêm tủi hổ.

- Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Bố không thể dấu kín mãi. Con muốn được nghe chính bố nói chứ không phải là bà nội, là các cô. Có phải… có phải… mẹ đã ngoại tình?

Người đàn ông ngửa mặt uống cạn ly rượu vừa rót đầy. Nước mắt chảy dài theo cái nhăn mặt đau đớn. Không biết vì hơi rượu cay hay vì nỗi đau đeo đẳng từng năm, từng tháng vừa cứa thêm một vết sâu vào trái tim rướm máu. Giọng đứa con nhỏ lại như van xin:

- Bố ơi! bố không thể vì con mà tha thứ cho mẹ hay sao?

- Bố yêu con. Bố yêu con nhất trên đời. Nhưng bố thành thật xin lỗi. Bởi vì…

Người đàn ông gào lên trong cơn giận dữ:

- Bố không bao giờ tha thứ cho người đàn bà đó. Bố hận bà ta và cầu mong cho bà suốt đời phải sống trong nỗi bất hạnh, đau khổ. Bà ấy đáng bị nhận lãnh tất cả những gì xấu xa nhất trên cuộc đời này mới đủ đền bù tội lỗi đã gây ra.

Đứa con trai lùi lại khi nhìn thấy ánh mắt long lanh, sồng sộc của người đàn ông.

- Bà ngoại nói đúng. Bố hẹp hòi và tàn nhẫn. Nếu như bố có được chút lòng khoan dung thì con đã không mất mẹ.

Xoảng!

Ly rượu rớt xuống, vỡ toang từng mảnh nhỏ. Màu rượu đỏ chảy loang trên sàn gỗ tựa như màu máu bầm trong trái tim vỡ nát. Người đàn ông chỉ tay ra cửa, hét lên trong hoảng loạn:

- Đi! Hãy đi tìm người mẹ mất nết của mày. Đừng bao giờ trở lại. Đi ngay.

– Con sẽ đi. Con không muốn gặp bố nữa. Con ghét bố!

***

Thưa bố,

Năm năm rồi kể từ ngày con rời xa căn nhà cũ và không một lần trở lại. Con thành thật xin lỗi bố.

Không biết từng ấy thời gian bố đã sống thế nào và có còn mạnh khỏe như xưa? Còn con.. biết nói thế nào đây?

Con đã lập gia đình cách đây ba năm. Con cứ tưởng mình sẽ được trăm năm hạnh phúc như những lời chúc mừng trong ngày thành hôn. Nhưng không ngờ, bất hạnh đã đến với con như nó đã từng đến với bố ngày con lên sáu. Ngày xưa, con trách bố hẹp hòi thiếu lòng lòng khoan dung để con phải mất mẹ. Đến bây giờ con mới hiểu. Hiểu tận cùng nỗi đau của bố. Nhưng con không như bố, âm thầm nuốt nỗi đau vào tim mà bằng sự căm hận con đã nhả phát đạn trừng phạt vào tấm lưng thon của người đàn bà phản bội.

Cô ta không chết, nhưng suốt quãng đời còn lại sẽ gắn chặt với chiếc xe lăn. Con không hề hối hận về việc con đã làm mà chỉ hối hận vì ngày đó đã nông nổi bỏ bố ra đi với lòng oán trách.

Hiện con đang ở trong tù để chờ ngày ra tòa xét xử. Một người bạn của con cho biết, cô ta sẽ bãi nại và có thể con sẽ được tha. Nếu chuyện đó xảy ra thì con may mắn hơn bố, vì việc làm của cô ta ít nhiều đã biểu lộ sư ân hận và làm dịu bớt phần nào nỗi đau của con. Còn mẹ con, bà đã biệt tăm từ ngày ấy. Không biết, có phút giây nào bà chạnh lòng nhớ lại mà hối tiếc về những gì đã gây ra hay đang thỏa thuê với niềm hạnh phúc mới…..

Có tiếng động phía sau lưng. Người đàn bà xếp nhanh lá thư cho vào túi, không kịp lau nước mắt. Người đàn ông đến gần, kê sát mặt bà, chấm ngón tay lên đôi gò má nhô cao rồi đưa vào lưỡi. Với nụ cười ngu ngơ, ông hỏi:

- Khóc hả?

Bà nhìn ông với giòng lệ tuôn dài trên má. Hai năm rồi, kể từ ngày ông hoàn toàn mất trí nhớ, bà trở về đây chăm sóc cho ông như một cách để chuộc lại lỗi lầm trong nỗi ngậm ngùi hối tiếc vì đã cuồng điên ham mê vật chất mà phá vỡ hạnh phúc gia đình. Trước mặt ông, lúc nào bà cũng tươi cười để ông vui theo cái vui của bà. Nhưng những lúc ông chìm vào giấc ngủ bà là lúc bà đấm ngực, tự trách mình khi đọc từng trang nhật ký của ông mà mỗi trang giấy chỉ có duy nhất một hàng chữ dường như chưa ráo lệ “Thảm kịch bắt đầu từ một sự phản bội”.

Ngân Bình

Người miền Nam không bao giờ quên ngày THÁNG TƯ 1975-2016

THÁNG TƯ 1975-2016

THÁNG TƯ 1975-2016_html_78ab2c8eTháng Tư về gợi cho người Việt nhớ lại biến cố lịch sử ngày 30.4.1975 cộng sản Bắc Việt đánh chiếm miền Nam, cộng sản gọi đó là ngày “giải phóng.” Sài Gòn có lịch sử trên 300 năm đã bị đổi tên. Chiến tranh chấm dứt, Bắc Nam không còn ngăn cách, CSVN với âm mưu thâm độc bắt tất cả công chức, sĩ quan VNCH tập trung vào các trại tù, hàng triệu người dân miền Nam đã chịu nhiều đau khổ và mất mát… Họ chủ trương bần cùng hóa dân miền Nam trong các đợt: đánh tư sản, cải tạo công thương nghiệp, quốc hữu hoá các cơ sở xí nhiệp, hãng xưởng kỷ nghệ, tịch thu tài sản, cán bộ từ miền Bắc vào hay trong bưng ra cướp nhà đuổi người đi vùng kinh tế mới, đổi tiền…
Nước Đức cũng thống nhất đất nước ngày 03 tháng 10 năm 1990. không xảy ra làn sóng người phải trốn chạy, công chức, quân đội, cảnh sát của DDR (Đông Đức) không bị tập trung vào trại tù „cải tạo“. Cũng trải qua việc đổi tiền, thời còn chia cách Đông Tây thì hối xuất được tính 1 DM (Tây Đức) đổi 10 Mark của DDR. (Đông Đức). Sau khi thống nhất thì đổi 1=1 để nâng cao đời sống kinh tế thấp kém, nghèo đói phiá Đông Đức theo chủ nghiã CS.
Sau 30/4/1975 CSVN đã có 3 lần đổi tiền mỗi lần đều có giới hạn khác nhau, tiền gởi trong Ngân hàng bị tịch thu, đổi theo quy định của từng gia đình, số tiền còn lại thành giấy vụn, nhiều người buồn lòng tự tử, vì tiền để dành nhiều năm làm bằng mồ hôi nước mắt bị cướp mất hết giá trị. Nhà cầm quyền mới muốn bần cùng hoá dân miền Nam để dễ trị (mời xem chú thích cuối bài).
THÁNG TƯ 1975-2016_html_m4a97d056 
Người miền Nam không bao giờ quên ngày 30.4.1975 ngày của thảm họa, của kinh hòang khủng khiếp, đời sống sung túc của miền Nam không còn nửa, người miền Nam trở nên trắng tay, sống trong điêu đứng và sợ hãi mất tự do. Nhiều gia đình giàu có trở thành nghèo đói phải bán đồ đạc trong nhà từ cái quạt máy, radio, đồng hồ, bàn ủi, máy may đến cả quần áo cũ…để sống qua ngày, phải xếp hàng để mua thực phẩm… Thanh niên phải đi thanh niên xung phong, làm nghĩa vụ quân sự tại chiến trường Campuchia. Miền Nam tiêu điều xơ xác, Họ gọi là „cách mạng giải phóng” nhưng giải phóng cho ai? CSVN sẵn sàng thủ tiêu, bỏ tù, trù dập…những ai không tuân phục họ. CS chủ trương khống chế xã hội bằng cách tạo sự nghi ngờ, mâu thuẩn giữa các thành phần dân chúng để sẵn sàng hại nhau, kể cả cha mẹ, vợ chồng, con cái trong gia đình, đời sống bị đe dọa rình rập,. Bà con, người hàng xóm không còn thân thiện như trước 75 mà tỏ ra dè dặt hơn. Bởi chủ nghiã cộng sản thì ở đâu cũng vậy dạy con người gian dối, hận thù, chia rẻ, vị kỷ, vô cảm, gian dối với chính mình và với người, sống nặng tính cá nhân chủ nghĩa… Sau ngày „giải phóng„ tuổi trẻ miền Nam con cái của những gia đình làm việc cho chế độ VNCH bị phân biệt lý lịch thuộc thành phần „Mỹ Nguỵ“ không có tương lai
Đôi dép râu giẫm nát đời son trẻ,
Mũ tai bèo che kín cả tương lai“
Giải phóng miền Nam từ người xuống làm súc vật ăn bobo thực phẩm của ngựa. Từ đó gây nên làn sóng người liều mình vượt biên bất chấp hiểm nguy miễn sao thoát ách độc tài cộng sản, may mắn vượt thoát đến được bến bờ tự do (theo ước tính của văn phòng Cao Uỷ Tỵ Nạn hơn ½ đã chết trên biển hay trong núi rừng đường bộ từ Campuchia sang Thái Lan).
THÁNG TƯ 1975-2016_html_68502d19 
Hàng năm 30 tháng 4 có “triệu người vui, triệu người buồn” (1) trong nước nhà cầm quyền CSVN tổ chức diễn hành, kỷ niệm chào mừng chiến thắng, trên khắp mọi nẽo đường VN chỉ thấy màu đỏ của khẩu hiệu, cờ đỏ sao vàng, búa liềm. „Tôi bước đi- không thấy phố – không thấy nhà- Chỉ thấy mưa sa- trên màu cờ đỏ“ (2) Nặng phần trình diễn tuyên truyền láo khoét, đọc diễn văn, không thiếu phần chống Mỹ cứu nước, nhưng con cái họ đều gởi sang Mỹ học, mua nhà, mua xe hưởng thụ. Họ tổ chức gắn huy chương thăng thưởng cho nhau để được vinh thân phì da, các bà được phong là „Mẹ VN Anh Hùng“, thì được ăn bánh vẻ, được gắn huy chương, bằng khen thưởng, lọai đó bán không ai mua, đời sống của họ vẫn nghèo đói, cơ cực .
Người Việt tỵ nạn CS khắp nơi trên thế giới gọi ngày 30.4.1975 NGÀY QUỐC HẬN… Chúng ta từng trải qua thời kỳ đó là một bài học cho bản thân, không mặc cảm của người thua trận, không quên những năm tháng bị tập trung cải tạo, đói khổ. Tôi vượt biển may mắn đến bến bờ tự do, bỏ lại hận thù trôi theo sóng biển. Chúng tôi tham khảo tài liệu cũng như bản thân là nạn nhân, viết không phải khơi dậy lòng thù hận, mà để cho các thế hệ con cháu có thể hiểu đúng đắng về lịch sử Việt Nam bị CSVN bưng bít, bóp méo nhằm tuyên truyền và đánh bóng chế độ độc tài. Nhiều tác giả trong và ngoài nước là sử gia, nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ, nhiếp ảnh gia, ca nhạc sĩ đã viết về nỗi đau thân phận người VN cũng như vận mệnh đất nước sau năm 1975, nhiều đề tài vô cùng phong phú, giá trị đóng góp cho kho tàng văn học sử cận đại, về chiến tranh Việt Nam (cuộc chiến Quốc – Cộng) nhiều tài liệu từ Nga, Mỹ, Pháp…đã được giải mật, cộng sản Hà Nội phát động, tiến hành đánh miền Nam từ năm 1954 đến 1975 là công cụ của CS quốc tế được Nga Tàu khối CS Đông Âu giúp vũ khí, cho vay nợ đánh chiếm miền Nam, chứng minh qua lời tuyên bố của cố Tổng bí thư Lê Duẩn “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa…“
Hàng năm ở hải ngoại Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản, là những người đã bị đày ải trong ngục tù cộng sản, mất mát người thân liều chết vượt biển bỏ nước ra đi tìm tự do với đôi bàn tay trắng. Nỗi đau đó không bao giờ lãng quên bởi vậy nơi nào có người Việt tỵ nạn CS đều tổ chức biểu tình đòi hỏi nhân quyền cho VN. Dù đường sá xa xôi thời tiết lạnh như ở Đức, nhiều người cao tuổi lãnh tiền già, có tinh thần rất cao, tự nguyện không ai bắt buộc, họ bỏ tiền túi mua ticket tàu lửa, xe bus hay chung tiền xăng với người có xe cùng đi biểu tình ở Frankfurt hay Berlin, chúng ta phải khâm phục tình thần và lòng yêu nước của họ
THÁNG TƯ 1975-2016_html_7db78eb0 
Ðã 41 năm qua có biết bao biến đổi thăng trầm cho đất nước và dân tộc Việt, nhà cầm quyền CS độc tài cai trị, sắt máu và phi dân tộc. Bán nước cho Trung cộng (3). Đà Nẵng có rown Club International Hotel chỉ dành riêng cho người Hoa (Trung cộng) có những cửa hàng sử dụng bảng hiệu viết bằng tiếng Hán mọc lên khắp nơi do hệ lụy từ các dự án đầu tư mà Tàu cộng làm chủ, Trung cộng chủ trương từ từ đồng hoá người Việt, khuyến kích đàn ông lấy vợ Việt Nam, để giải quyết được nạn trai thừa gái thiếu, lấy vợ Việt được ở lại Việt Nam, mua đất kinh doanh làm kinh tế cho đảng CS Bắc Kinh, nắm kinh tế khuynh đảo thị trường…cho nhập các chất hoá học làm gia vị thực phẩm độc hại, người Việt thiếu ý thức ham lời xử dụng để đầu độc giết dần mòn người Việt với nhau… Những nơi trọng yếu về quân sự, kinh tế đều có các công ty của người Tàu khai thác, dưới hình thức nhờ „trúng thầu“ xét lại đảng CSVN bán, dâng cho Tàu để vinh thân phì gia.
Người Việt trên đất nước Việt Nam mất dần chủ quyền, trong đất liền thì mất đất, mất rừng, ngoài biển thì mất đảo… Môi trường sống bị ô nhiễm như trường hợp xảy ra khu công nghiệp Vũng Áng xả chất độc xuống biển làm cá chết theo báo VietnamNet ngày 21/4 dẫn lời ông Phạm Khánh Ly, Vụ phó Vụ Nuôi trồng thủy sản, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, cho hay: “Đoàn công tác không vào kiểm tra tại khu công nghiệp Vũng Áng được vì đây là có yếu tố nước ngoài, đoàn không có thẩm quyền, chức năng kiểm tra tại khu vực này”. Phải chăng, chúng ta đã mất “chủ quyền” ngay trên chính lãnh thổ Việt Nam? Báo lề phải cũng đăng tin ông Nguyễn Phú Trọng có đến Vũng Áng nhưng không nhắc tới vụ cá chết ngoài biển hay ông lú lẫn hơn?
Nhìn lại 41 năm qua nhờ thống nhất đất nước, dân miền Bắc thật sự được giải phóng, sau ngày 30.4.1975 người từ ngoài Bắc tiếp tục di cư vào Nam, người dân miền Nam có ai ra miền Bắc lập nghiệp? ngày nay lại tiếp tục phong trào người giàu từ Bắc tới Nam đều muốn rời bỏ Việt Nam, qua con đường du học, lao động, đầu tư để ra nước ngoài sinh sống. Đây là bằng chứng lý tưởng của người Quốc gia yêu tự do, dân chủ càng ngời sáng hơn. Tương lai đất nước Việt Nam đi về đâu? phải do người dân trong nước chọn lựa giữa tự do và độc tài.
Nguyễn Quý Đại
chú thích để độc giả đọc thêm :
1/ Cố thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc về hưu hết quyền lực ông đã nói như vậy
2/Nhất định thắng của Trần Dần
3/Hội nghị Thành Đô là cuộc hội nghị thượng đỉnh Việt-Trung trong hai ngày 3-4 Tháng 9, 1990, tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên giữa lãnh đạo cao cấp nhất hai đảng Cộng sản Việt Nam – Trung Quốc. Cuộc họp mặt này nhằm mục đích bình thường hóa quan hệ giữa hai nước và hai đảng. Theo công luận là Hội nghị Thành Đô có những cam kết tổn hại đến chủ quyền đất nước (bán nước) cho đến nay, nội dung và các thỏa thuận trong cuộc họp của đôi bên vẫn còn trong bí mật chưa được công bố.
Tháng Tư nỗi buồn còn đó
Trích tài liệu đọc thêm
THÁNG TƯ 1975-2016_html_f256943 
Lần 1: vào ngày 22.9.1975 thực hiện với tỷ giá 1 đồng tiền Hồ ăn 500 đồng VN CH, nhưng mỗi gia đình miền Nam chỉ được đổi 100.000 đồng VNCH để có 200 đồng tiền Hồ.
500 Đồng VNCH lúc đó bằng 1 USD.
Lần 2: vào ngày 25/4/1978 đổi tỷ giá tương đương 1 đồng mới in ăn 1 đồng Hồ cũ, nhưng mỗi người dân chỉ được đổi 100 đồng với gia đình 2 người. Còn gia đình 3 người trở lên thì người thứ 3 chỉ được đổi 50 đồng. Tối đa, mỗi gia đình chỉ đổi được 500 tiền mới.
Tờ 1 Đồng Ngân Hàng Nhà Nước VN.
Tiền mới để cho ngày 25/4/1978
THÁNG TƯ 1975-2016_html_m10d53a83 
Lần 3: vào ngày 14.9.1985
Lần này mỗi đồng tiền mới ăn 10 đồng cũ, mỗi gia đình chỉ được đổi 2.000 đồng cũ lấy 200 đồng mới. Tiền đổi lần thứ 3 nay không còn dùng nữa vì đã thay thế bằng tiền nhựa Polymer
Sau 3 lần đổi tiền ở miền Nam có 4 câu thơ ai cũng biết:
“Máu rợn mùi tanh, cuộc đổi đời
Ba lần cướp trắng lúc lên ngôi
Miền Nam “ruột thịt” âm thầm hiểu:
Cách mạng là đây: bọn giết người!”
I. ĐÁNH TƯ SẢN
ĐÁNH TƯ SẢN cũng là một sự kiện chấn động lịch sử Việt Nam ngang hàng sự kiện THUYỀN NHÂN VIỆT NAM và chỉ xảy ra sau ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Sự kiện ĐÁNH TƯ SẢN do Hà Nội thực hiện đối với người dân miền Nam Việt Nam theo Quyết Định mang số 111/CP vào ngày tháng 4 năm 1977 do Phạm Hùng ký chỉ đặc biệt nhằm vào việc tịch thu nhà cửa đất đai của nhân dân miền Nam
Các đợt ĐÁNH TƯ SẢN đối với người dân miền Nam được Hà Nội cho ký số X1, X2 và X3.
Đợt X1 được bắt đầu vào sáng ngày 11 tháng Chín năm 1975 xảy ra khắp 17 tỉnh thành miền Nam và thành phố Sài Gòn. Đợt này chủ yếu nhắm vào nhà của các cư dân thành thị, tịch thu nhà và cưỡng bức toàn bộ những nạn nhân phải đi về vùng Kinh Tế Mới sống. Đợt X1 này tập trung vào những người dân Việt gốc Hoa vốn đã di dân vào miền Nam Việt Nam từ cuối triều Minh, đầu triều nhà Thanh, sanh sống thanh công tại miền Nam ngót nghét hơn 200 năm.
Đợt X2 được Hà Nội tiến hành từ tháng Ba năm 1978 và được kéo dài cho đến sau Đổi Mới, tức là khoảng năm 1990 thì mới chấm dứt. Đợt này chủ yếu nhắm vào tư thuơng, tiểu tư sản, các thành phần sản xuất nhỏ vốn rất đa dạng và phồn thịnh trong nền kinh tế tự do do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa khuyến khích hậu thuẫn cho quốc dân từ bấy lâu.
Nền công nghiệp nhẹ, sản xuất đồ sài gia dụng trong nhà của Việt Nam đã hoàn toàn chính thức bị phá hũy. Người dân Việt Nam sẽ không còn thấy các sản phẫm tự hào của dân tộc như nồi nhôm hiệu Ba Cây Dừa , xà-bông (savon) hiệu cô Ba, xe hơi hiệu La Đalat, hiệu đèn trang trí Nguyễn Văn Mạnh, …etc…. Không những thế, các nhà máy nhỏ sản xuất nhu yếu phẫm như đường, bột giặt, giấy, …etc cũng bị tê liệt vì chủ nhân bị quốc hữu hóa.
Riêng tại Sài Gòn, thì báo Tuổi Trẻ đã phải thừa nhận là đã có trên 10000 tiệm bán bị đóng chỉ qua một đêm, khiến một viên thuốc trụ sinh cũng không có mà mua, mà dùng. Nhà sách Khai Trí lừng lẫy, biểu tượng của cả Sài Gòn cũng bị báo đài tại Sài Gòn lúc bấy giờ rêu rao là tư bản và cần phải tịch thu. Nhà sách Khai Trí vốn đã từ tâm giúp đỡ biết bao văn nghệ sĩ của miền Nam, âm thầm thực hiện đường lối khai dân trí của cụ Phan Châu Trinh cho dân tộc
Riêng về chỉ thị 43 của Bộ Chính Trị vào tháng Năm năm 1978 đã quốc hữu hóa toàn bộ đát đai của nông dân miền Nam vào tay nhà nước thông qua hình thức “Tập Đoàn Sản Xuất” dẫn đến nạn đói năm 1979 ngay liền sau đó vì lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp bị sút giảm toàn diện tại miền Nam.
Tình trạng ở nông thôn miền Nam càng kinh khiếp và dữ dội hơn ở Sài Gòn dù không ồn ào bằng. Tổng số lúa mà nông dân miền Nam bị chở ra ngoài Bắc không thông qua quy chế thu mua được loan truyền là khoảng 4 triệu tấn gạo vào đầu năm 1978 trên đài phát thanh Hà Nội khi ca ngợi thành tích ĐÁNH TƯ SẢN của các đảng bộ địa phương miền Nam. Đương nhiên, con số chính thức được các nông dân kêu ca là lớn hơn nhiều.
Sang đến năm 1979, Võ Văn Kiệt đã phải loan báo thu mua lúa từ nông dân với giá cao gấp cả ngàn lần giá quy định của Nhà Nước (!) để cứu vãn tình thế bất mãn không còn dằn được nữa từ nông dân miền Nam trước những đợt thu lúa từ năm 1977 trở đi.
Song song với chiến dịch X2 là chiến dịch X3 đặc biệt tập trung tại Sài Gòn. Sau chiến dịch X3, hàng ngàn gia đình cán bộ miền Bắc đã vào Sài gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu. Theo thừa nhận ngắn ngủi từ báo SGGP và báo Công An khi bàn đến vấn đề trả lại nhà cho những “đối tượng” bị đánh tư sản oan ức vào tháng 9 năm 1989, ước tính lên đến khoảng 150 ngàn người thuộc gia đình cán bộ gốc miền Bắc vào Sài Gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu.
Đỗ Mười, sau này là Tổng Bí Thư Đảng, lúc bấy giờ thay thế ông Nguyễn Văn Linh làm trưởng ban cải tạo TW Vào ngày 16 tháng Hai năm 1976 là người chỉ huy trực tiếp đợt thực hiện này.
Trong chiến dịch này, số lượng người Sài Gòn phải bị mất hết tài sản và bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI là khoảng SÁU TRĂM NGÀN NGƯỜI, tạo ra một sự hoảng sợ hoang man chưa từng có trong lịch sử phát triển Sài Gòn qua các triều đại. Cuối đợt X3 , ghi nhận của Hà Nội là có khoảng 950 ngàn người Sài Gòn bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI, không hoàn thành chỉ tiêu đề ra là một triệu hai người!
Sức mạnh kinh tế Sài Gòn tự nhiên bị phá hoại đi đến kiết quệ hoàn toàn sau chiến dịch X3 do Đổ Mười trực tiếp chỉ huy. Hơn 14 NGÀN cơ sở tiểu thủ công nghiệp tại Sài Gòn rất cần cho nền kinh tế quốc dân, với khoảng 270 ngàn nhân công hoàn toàn bị trắng tay, đóng cửa với tổng số thiệt hại tài sản trước mắt lên đế gần chín đến hai mươi mốt tỷ Mỹ kim và tiến trình phát triển công nghệ của đất nước trong tự cường hoàn toàn KHÔNG CÒN HY VỌNG để phục hồi.
Riêng về tổng số vàng, nữ trang tịch tư từ tư bản ở miền Nam được các báo đài của Đảng thừa nhận lên đến 4000 lượng vàng- nhưng đây chỉ là con số tượng trưng tính riêng ở Sài Gòn từ tháng Năm năm 1977 qua tháng Hai năm 1978 mà thôi. Cả thảy trên dưới gần 35 ngàn lượng vàng, tính luôn cả nữ trang và kim cương thu trong những đợt ĐÁNH TƯ SẢN ở miền Nam.
Xin được ghi chú thêm là chỉ nội vụ Hà Nội tiến hành cho phép người Việt gốc Hoa ra đi bán chính thức nếu đóng khoảng 120 lượng vàng đã góp vào gần 10 ngàn lượng vàng tổng cộng.
Trung bình , mổi người dân miền Nam nằm trong đối tượng bị ĐÁNH TƯ SẢN mất trắng khoảng 9 lượng vàng không tính đất đai, nhà cửa, phụ tùng thiết bị , đồ cổ, và các tài sản khác. Trữ lượng vàng của toàn bộ người dân miền Nam có thể lên đến 250 ngàn lượng vàng tính đến năm 1975 nhưng đồng bào khôn khéo giấu đi và phản kháng cũng như đem theo khi di tản.
II. KINH TẾ MỚI:
Tất cả những ai tại Sài Gòn bị Sản Hà Nội tịch thu nhà , tài sản điều phải đi về vùng KINH TẾ MỚI, là những nơi mà cơ sở hạ tầng cho sinh hoạt chưa được xây dựng, trong đó có cả điện nước, trường học và bệnh xá. HƠN SÁU TRĂM NGÀN nạn nhân bị cưỡng bức qua đêm phải rời Sài Gòn để về những vùng KINH TẾ MỚI và bỏ lại hết toàn bộ tài sản của mình từ nhà ở, của cải, đồ đạc cho Đảng quản lý.
Chỉ tiêu đề ra là phải đưa cưỡng bức khoảng gần một triệu người Sài Gòn ra các Vùng KINH TẾ MỚI và buộc họ phải bỏ hết tài sản nhà cửa lại cho Hà Nội quản lý. Tổng kết từ các báo cáo thành tích cải tạo XHCN của Đảng, số người bị cưỡng bức đi Kinh Tế Mới từ Sài Gòn qua mười năm Quá Độ- ĐÁNH TƯ SẢN như sau:
THỜI KỲ – CHỈ TIÊU – KẾT QUẢ THỰC HIỆN – GHI ChÚ
1976 – 1979: 4 triệu người – 1,5 triệu người – 95% là từ Sài Gòn
1979 – 1984: 1 triệu người – 1,3 triệu người – 50% là từ Sài Gòn
Khi đến vùng KINH TẾ MỚI để sống tham gia các tập đoàn sản xuất hay còn gọi tắt là Hợp Tác Xã, “thành quả lao động” của các nạn nhân này được phân phối chia ra như sau:
30% trả thuế
25% góp cho chính phủ theo giá thu mua của nhà nước;
15% trả lương cho cán bộ quản lý;
30% còn lại chia cho các thành viên tính theo số điểm thuế lao động
Như vậy là sản phẩm nông nghiệp từ các nông trường vùng Kinh tế Mới đã bị Đảng tịch thu hết 70 % và chỉ còn 30% là chia lại cho các thành viên, vốn là các nạn nhân bị tịch thu nhà cửa sống trong vùng Kinh Tế Mới.
Thế là cả triệu người dân Sài Gòn đột nhiên lâm vào cảnh đói kém trầm trọng như là đòn trả thù hữu hiệu của chế độ Hà Nội đối với những bị liệt vào thành phần không phải “Cách Mạng”, ngụy quân ngụy quyền và tiểu tư sản.
Ước tính có khoảng 300 ngàn trẻ em bị thất học vì sống ở các vùng Kinh Tế Mới này. Nhân dân miền Nam- cả triệu người đang sống sung túc bổng lao vào chịu đói kém khổ sở chưa từng có. Nạn đói kém lan tràn khắp mọi nơi, mọi nhà trước thảm cảnh.
Hàng vạn người dân Sài Gòn đã phải bỏ trốn khỏi các vùng Kinh Tế Mới, đi ăn xin trên đường Về Sài Gòn, đói rách khổ sở. Đây là thời kỳ khốn khổ bi đát nhất trong lịch sử phát triển Sài Gòn.
III. Quyết Định 111/CP của Hà Nội về việc “Đánh tư sản ” ở miền Nam Việt Nam
Quyết định 111/CP của Hà Nội là một tài liệu chứng quan trọng. Quyết định này là nguồn gốc của mọi khổ đau, nghèo khó của người dân miền Nam Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 và là lý do Việt Nam bị tụt hậu về mọi mặt, đứng hàng thứ ba nghèo nhất thế giới theo tuyên bố của Liên Hiệp Quốc vào năm 1985.
Xem Nguyên văn quyết định 111/CP:
Trích :
IV. ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN THUỘC BỘ MÁY CAI TRỊ CỦA NGUỴ QUÂN NGUỴ QUYỀN VÀ ĐẢNG PHÁI PHẢN ĐỘNG
1. Mọi loại nhà cửa, đất đai trước ngày Giải phóng do chính quyền Mỹ nguỵ quản lý hoặc dành cho những tổ chức hay cá nhân, thuộc nguỵ quân nguỵ quyền và các tổ chức đảng phái phản động sử dụng, nay đều là tài sản công cộng, do Nhà nước trực tiếp quản lý.
2. Nhà cửa, đất đai của những người sau đây đều do Nhà nước trực tiếp quản lý:
Sĩ quan nguỵ quân cấp từ thiếu tá trở lên.
Sĩ quan cảnh sát từ cấp trung uý trở lên.
Cán bộ thuộc bộ máy cai trị của nguỵ quyền đã giữ chức vụ, từ Chủ sự phòng cơ quan Trung ương, Ty phó, Quận phó trở lên.
Các phần tử ác ôn, mật vụ, tình báo, chiêu hồi cố tình phản cách mạng.
Điều IV của QĐ 111/CP đã cho thấy rõ gia đình thân nhân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa phải chịu mất nhà mất cửa rất thê thảm. Mọi quy chụp là phản động hay Ngụy quyền thì coi như là bị tịch thu nhà cửa.
Dòng chữ cuối cùng của khoản 2 điều IV của QĐ 111/CP có ghi rõ là nhà cửa đất đai của các thành phần sau đây bị tịch thu: “Các phần tử ác ôn, mật vụ, tình báo, chiêu hồi cố tình phản cách mạng.” Bởi không có định nghĩa rõ ràng thế nào là thành phần ác ôn nên các viên chức cán bộ Cộng Sản tha hồ kết tội thuờng dân vô tôi vạ là thành phần ác ôn của “Ngụy quyền” để tư lợi cướp bóc nhà cửa cho riêng mình, không cần tòa án nào xét xử cả. Ai ai cũng có thể là điệp viên CIA, hay là có lý lịch ba đời liên quan đến Ngụy quân, và điều có tư tưởng phản động và cần phải tịch thu nhà cửa dựa trên điều khoản này của Q Đ 111/CP.
Không khí hoảng sợ, đau thuơng oán hận lan tràn khắp cả miền Nam.
IV. Hậu quả ĐÁNH TƯ SẢN của Hà Nội:
Theo các chuyên gia của Liên Hiệp Quốc về kinh tế, Việt Nam tụt hậu hơn 50 năm về kinh tế vì các chính sách đánh tư sản này của Cộng Sản Hà Nội lên đầu người dân miền Nam. Việt Nam là quốc gia nghèo đứng hàng thứ ba trên thế giới vào năm 1985.
Cho đến giờ phút này, người dân Việt Nam vẫn chưa thực sự có quyền TƯ HỮU mà chỉ có quyền SỬ DỤNG, nghĩa là thảm họa bị ĐÁNH TƯ SẢN trong quá khứ vẫn treo lơ lửng trên đầu người dân Việt Nam bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra chiếu theo luật pháp hiện hành của Hà Nội.
Kinh tế của Việt Nam mãi đến năm 1997 mới thực sự khắc phục được một phần hâu quả của 10 năm Quá Độ, ĐÁNH TƯ SẢN do Hà Nội tiến hành từ năm 1976 đến năm 1987.
Từ năm 1987 đến năm 1997, Hoa Kỳ đã nhắm mắt làm ngơ cho những người Việt di tản hay Vượt Biên định cư tại Mỹ gởi tiền hàng ồ ạt về cứu đói thân nhân mình và vực dậy sự sinh động về kinh tế vốn có ngày nào của miền Nam.Tổng số ngoại tệ gởi về lên đến 8 đến 15 tỷ Mỹ kim mỗi năm trong suốt 10 năm đó.
Sang đến năm 1989, báo SGGP từ Sài Gòn chịu 90 % ngân sách của cả nước và bắt đầu tiến hành trả lại nhà cho một số nạn nhân bao năm trời khổ ải, cũng như bắt đầu bàn tới vấn đề cho phép các sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa được bán nhà vốn hầu hết đã bị tịch thu nếu ra đi theo chương trình HO-Special Release Reeducation Center Detainee Resettlement Program (Chương trình tái định cư phóng thích đặc biệt tù nhân trung tâm cải tạo)
Chỉ số nghèo đói của Việt Nam đứng hàng thứ ba trên thế giới và chỉ mới có những tiến bộ cải thiện khi World Bank và USAID tăng tốc trợ giúp.
Mọi tài liệu, hình ảnh ca ngợi ĐÁNH TƯ SẢN từ các báo chí đài phát thanh của Đảng cũng bị dẹp dần đi. Hà Nội tới ngày nay vẫn chưa chính thức xin lỗi hai mươi mốt triệu người dân miền Nam về hành động này. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), thu nhập bình quân đầu người năm 2014 của Việt Nam là 2.052 USD, trong khi khi Singapore là 56.287 USD, Malaysia là 10.830 USD, Thái Lan là 5.561 USD và Indonesia là 3.515 USD.
TÚ HOA
Nguồn bài đăng
Tham khảo: Bên Thắng Cuộc: PHẦN I : MIỀN NAM / CHƯƠNG III : ĐÁNH TƯ SẢN (Huy Đức)
https://vuthat.files.wordpress.com/2015/04/eced8-lqt-30-4.jpg?w=640&h=190
Tháng Tư về gợi cho người Việt nhớ lại biến cố lịch sử ngày 30.4.1975 cộng sản Bắc Việt đánh chiếm miền Nam, cộng sản gọi đó là ngày “giải phóng.” Sài Gòn có lịch sử trên 300 năm đã bị đổi tên. Chiến tranh chấm dứt, Bắc Nam không còn ngăn cách, CSVN với âm mưu thâm độc bắt tất cả công chức, sĩ quan VNCH tập trung vào các trại tù, hàng triệu người dân miền Nam đã chịu nhiều đau khổ và mất mát… Họ chủ trương bần cùng hóa dân miền Nam trong các đợt: đánh tư sản, cải tạo công thương nghiệp, quốc hữu hoá các cơ sở xí nhiệp, hãng xưởng kỷ nghệ, tịch thu tài sản, cán bộ từ miền Bắc vào hay trong bưng ra cướp nhà đuổi người đi vùng kinh tế mới, đổi tiền…
Nước Đức cũng thống nhất đất nước ngày 03 tháng 10 năm 1990. không xảy ra làn sóng người phải trốn chạy, công chức, quân đội, cảnh sát của DDR (Đông Đức) không bị tập trung vào trại tù „cải tạo“. Cũng trải qua việc đổi tiền, thời còn chia cách Đông Tây thì hối xuất được tính 1 DM (Tây Đức) đổi 10 Mark của DDR. (Đông Đức). Sau khi thống nhất thì đổi 1=1 để nâng cao đời sống kinh tế thấp kém, nghèo đói phiá Đông Đức theo chủ nghiã CS.
Sau 30/4/1975 CSVN đã có 3 lần đổi tiền mỗi lần đều có giới hạn khác nhau, tiền gởi trong Ngân hàng bị tịch thu, đổi theo quy định của từng gia đình, số tiền còn lại thành giấy vụn, nhiều người buồn lòng tự tử, vì tiền để dành nhiều năm làm bằng mồ hôi nước mắt bị cướp mất hết giá trị. Nhà cầm quyền mới muốn bần cùng hoá dân miền Nam để dễ trị (mời xem chú thích cuối bài).
THÁNG TƯ 1975-2016_html_m4a97d056
Người miền Nam không bao giờ quên ngày 30.4.1975 ngày của thảm họa, của kinh hòang khủng khiếp, đời sống sung túc của miền Nam không còn nửa, người miền Nam trở nên trắng tay, sống trong điêu đứng và sợ hãi mất tự do. Nhiều gia đình giàu có trở thành nghèo đói phải bán đồ đạc trong nhà từ cái quạt máy, radio, đồng hồ, bàn ủi, máy may đến cả quần áo cũ…để sống qua ngày, phải xếp hàng để mua thực phẩm… Thanh niên phải đi thanh niên xung phong, làm nghĩa vụ quân sự tại chiến trường Campuchia. Miền Nam tiêu điều xơ xác, Họ gọi là „cách mạng giải phóng” nhưng giải phóng cho ai? CSVN sẵn sàng thủ tiêu, bỏ tù, trù dập…những ai không tuân phục họ. CS chủ trương khống chế xã hội bằng cách tạo sự nghi ngờ, mâu thuẩn giữa các thành phần dân chúng để sẵn sàng hại nhau, kể cả cha mẹ, vợ chồng, con cái trong gia đình, đời sống bị đe dọa rình rập,. Bà con, người hàng xóm không còn thân thiện như trước 75 mà tỏ ra dè dặt hơn. Bởi chủ nghiã cộng sản thì ở đâu cũng vậy dạy con người gian dối, hận thù, chia rẻ, vị kỷ, vô cảm, gian dối với chính mình và với người, sống nặng tính cá nhân chủ nghĩa… Sau ngày „giải phóng„ tuổi trẻ miền Nam con cái của những gia đình làm việc cho chế độ VNCH bị phân biệt lý lịch thuộc thành phần „Mỹ Nguỵ“ không có tương lai
Đôi dép râu giẫm nát đời son trẻ,
Mũ tai bèo che kín cả tương lai“
Giải phóng miền Nam từ người xuống làm súc vật ăn bobo thực phẩm của ngựa. Từ đó gây nên làn sóng người liều mình vượt biên bất chấp hiểm nguy miễn sao thoát ách độc tài cộng sản, may mắn vượt thoát đến được bến bờ tự do (theo ước tính của văn phòng Cao Uỷ Tỵ Nạn hơn ½ đã chết trên biển hay trong núi rừng đường bộ từ Campuchia sang Thái Lan).
THÁNG TƯ 1975-2016_html_68502d19
Hàng năm 30 tháng 4 có “triệu người vui, triệu người buồn” (1) trong nước nhà cầm quyền CSVN tổ chức diễn hành, kỷ niệm chào mừng chiến thắng, trên khắp mọi nẽo đường VN chỉ thấy màu đỏ của khẩu hiệu, cờ đỏ sao vàng, búa liềm. „Tôi bước đi- không thấy phố – không thấy nhà- Chỉ thấy mưa sa- trên màu cờ đỏ“ (2) Nặng phần trình diễn tuyên truyền láo khoét, đọc diễn văn, không thiếu phần chống Mỹ cứu nước, nhưng con cái họ đều gởi sang Mỹ học, mua nhà, mua xe hưởng thụ. Họ tổ chức gắn huy chương thăng thưởng cho nhau để được vinh thân phì da, các bà được phong là „Mẹ VN Anh Hùng“, thì được ăn bánh vẻ, được gắn huy chương, bằng khen thưởng, lọai đó bán không ai mua, đời sống của họ vẫn nghèo đói, cơ cực .
Người Việt tỵ nạn CS khắp nơi trên thế giới gọi ngày 30.4.1975 NGÀY QUỐC HẬN… Chúng ta từng trải qua thời kỳ đó là một bài học cho bản thân, không mặc cảm của người thua trận, không quên những năm tháng bị tập trung cải tạo, đói khổ. Tôi vượt biển may mắn đến bến bờ tự do, bỏ lại hận thù trôi theo sóng biển. Chúng tôi tham khảo tài liệu cũng như bản thân là nạn nhân, viết không phải khơi dậy lòng thù hận, mà để cho các thế hệ con cháu có thể hiểu đúng đắng về lịch sử Việt Nam bị CSVN bưng bít, bóp méo nhằm tuyên truyền và đánh bóng chế độ độc tài. Nhiều tác giả trong và ngoài nước là sử gia, nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ, nhiếp ảnh gia, ca nhạc sĩ đã viết về nỗi đau thân phận người VN cũng như vận mệnh đất nước sau năm 1975, nhiều đề tài vô cùng phong phú, giá trị đóng góp cho kho tàng văn học sử cận đại, về chiến tranh Việt Nam (cuộc chiến Quốc – Cộng) nhiều tài liệu từ Nga, Mỹ, Pháp…đã được giải mật, cộng sản Hà Nội phát động, tiến hành đánh miền Nam từ năm 1954 đến 1975 là công cụ của CS quốc tế được Nga Tàu khối CS Đông Âu giúp vũ khí, cho vay nợ đánh chiếm miền Nam, chứng minh qua lời tuyên bố của cố Tổng bí thư Lê Duẩn “Ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước xã hội chủ nghĩa…“
Hàng năm ở hải ngoại Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn Cộng Sản, là những người đã bị đày ải trong ngục tù cộng sản, mất mát người thân liều chết vượt biển bỏ nước ra đi tìm tự do với đôi bàn tay trắng. Nỗi đau đó không bao giờ lãng quên bởi vậy nơi nào có người Việt tỵ nạn CS đều tổ chức biểu tình đòi hỏi nhân quyền cho VN. Dù đường sá xa xôi thời tiết lạnh như ở Đức, nhiều người cao tuổi lãnh tiền già, có tinh thần rất cao, tự nguyện không ai bắt buộc, họ bỏ tiền túi mua ticket tàu lửa, xe bus hay chung tiền xăng với người có xe cùng đi biểu tình ở Frankfurt hay Berlin, chúng ta phải khâm phục tình thần và lòng yêu nước của họ
THÁNG TƯ 1975-2016_html_7db78eb0
Ðã 41 năm qua có biết bao biến đổi thăng trầm cho đất nước và dân tộc Việt, nhà cầm quyền CS độc tài cai trị, sắt máu và phi dân tộc. Bán nước cho Trung cộng (3). Đà Nẵng có rown Club International Hotel chỉ dành riêng cho người Hoa (Trung cộng) có những cửa hàng sử dụng bảng hiệu viết bằng tiếng Hán mọc lên khắp nơi do hệ lụy từ các dự án đầu tư mà Tàu cộng làm chủ, Trung cộng chủ trương từ từ đồng hoá người Việt, khuyến kích đàn ông lấy vợ Việt Nam, để giải quyết được nạn trai thừa gái thiếu, lấy vợ Việt được ở lại Việt Nam, mua đất kinh doanh làm kinh tế cho đảng CS Bắc Kinh, nắm kinh tế khuynh đảo thị trường…cho nhập các chất hoá học làm gia vị thực phẩm độc hại, người Việt thiếu ý thức ham lời xử dụng để đầu độc giết dần mòn người Việt với nhau… Những nơi trọng yếu về quân sự, kinh tế đều có các công ty của người Tàu khai thác, dưới hình thức nhờ „trúng thầu“ xét lại đảng CSVN bán, dâng cho Tàu để vinh thân phì gia.
Người Việt trên đất nước Việt Nam mất dần chủ quyền, trong đất liền thì mất đất, mất rừng, ngoài biển thì mất đảo… Môi trường sống bị ô nhiễm như trường hợp xảy ra khu công nghiệp Vũng Áng xả chất độc xuống biển làm cá chết theo báo VietnamNet ngày 21/4 dẫn lời ông Phạm Khánh Ly, Vụ phó Vụ Nuôi trồng thủy sản, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, cho hay: “Đoàn công tác không vào kiểm tra tại khu công nghiệp Vũng Áng được vì đây là có yếu tố nước ngoài, đoàn không có thẩm quyền, chức năng kiểm tra tại khu vực này”. Phải chăng, chúng ta đã mất “chủ quyền” ngay trên chính lãnh thổ Việt Nam? Báo lề phải cũng đăng tin ông Nguyễn Phú Trọng có đến Vũng Áng nhưng không nhắc tới vụ cá chết ngoài biển hay ông lú lẫn hơn?
Nhìn lại 41 năm qua nhờ thống nhất đất nước, dân miền Bắc thật sự được giải phóng, sau ngày 30.4.1975 người từ ngoài Bắc tiếp tục di cư vào Nam, người dân miền Nam có ai ra miền Bắc lập nghiệp? ngày nay lại tiếp tục phong trào người giàu từ Bắc tới Nam đều muốn rời bỏ Việt Nam, qua con đường du học, lao động, đầu tư để ra nước ngoài sinh sống. Đây là bằng chứng lý tưởng của người Quốc gia yêu tự do, dân chủ càng ngời sáng hơn. Tương lai đất nước Việt Nam đi về đâu? phải do người dân trong nước chọn lựa giữa tự do và độc tài.
Nguyễn Quý Đại
chú thích để độc giả đọc thêm :
1/ Cố thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc về hưu hết quyền lực ông đã nói như vậy
2/Nhất định thắng của Trần Dần
3/Hội nghị Thành Đô là cuộc hội nghị thượng đỉnh Việt-Trung trong hai ngày 3-4 Tháng 9, 1990, tại Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên giữa lãnh đạo cao cấp nhất hai đảng Cộng sản Việt Nam – Trung Quốc. Cuộc họp mặt này nhằm mục đích bình thường hóa quan hệ giữa hai nước và hai đảng. Theo công luận là Hội nghị Thành Đô có những cam kết tổn hại đến chủ quyền đất nước (bán nước) cho đến nay, nội dung và các thỏa thuận trong cuộc họp của đôi bên vẫn còn trong bí mật chưa được công bố.
Tháng Tư nỗi buồn còn đó
https://www.youtube.com/watch?v=PhCFjB_K_BE&feature=youtu.be
Trích tài liệu đọc thêm
THÁNG TƯ 1975-2016_html_f256943
Lần 1: vào ngày 22.9.1975 thực hiện với tỷ giá 1 đồng tiền Hồ ăn 500 đồng VN CH, nhưng mỗi gia đình miền Nam chỉ được đổi 100.000 đồng VNCH để có 200 đồng tiền Hồ.
500 Đồng VNCH lúc đó bằng 1 USD.
Lần 2: vào ngày 25/4/1978 đổi tỷ giá tương đương 1 đồng mới in ăn 1 đồng Hồ cũ, nhưng mỗi người dân chỉ được đổi 100 đồng với gia đình 2 người. Còn gia đình 3 người trở lên thì người thứ 3 chỉ được đổi 50 đồng. Tối đa, mỗi gia đình chỉ đổi được 500 tiền mới.
Tờ 1 Đồng Ngân Hàng Nhà Nước VN.
Tiền mới để cho ngày 25/4/1978
THÁNG TƯ 1975-2016_html_m10d53a83
Lần 3: vào ngày 14.9.1985
Lần này mỗi đồng tiền mới ăn 10 đồng cũ, mỗi gia đình chỉ được đổi 2.000 đồng cũ lấy 200 đồng mới. Tiền đổi lần thứ 3 nay không còn dùng nữa vì đã thay thế bằng tiền nhựa Polymer
Sau 3 lần đổi tiền ở miền Nam có 4 câu thơ ai cũng biết:
“Máu rợn mùi tanh, cuộc đổi đời
Ba lần cướp trắng lúc lên ngôi
Miền Nam “ruột thịt” âm thầm hiểu:
Cách mạng là đây: bọn giết người!”
I. ĐÁNH TƯ SẢN
ĐÁNH TƯ SẢN cũng là một sự kiện chấn động lịch sử Việt Nam ngang hàng sự kiện THUYỀN NHÂN VIỆT NAM và chỉ xảy ra sau ngày 30 tháng Tư năm 1975.
Sự kiện ĐÁNH TƯ SẢN do Hà Nội thực hiện đối với người dân miền Nam Việt Nam theo Quyết Định mang số 111/CP vào ngày tháng 4 năm 1977 do Phạm Hùng ký chỉ đặc biệt nhằm vào việc tịch thu nhà cửa đất đai của nhân dân miền Nam
Các đợt ĐÁNH TƯ SẢN đối với người dân miền Nam được Hà Nội cho ký số X1, X2 và X3.
Đợt X1 được bắt đầu vào sáng ngày 11 tháng Chín năm 1975 xảy ra khắp 17 tỉnh thành miền Nam và thành phố Sài Gòn. Đợt này chủ yếu nhắm vào nhà của các cư dân thành thị, tịch thu nhà và cưỡng bức toàn bộ những nạn nhân phải đi về vùng Kinh Tế Mới sống. Đợt X1 này tập trung vào những người dân Việt gốc Hoa vốn đã di dân vào miền Nam Việt Nam từ cuối triều Minh, đầu triều nhà Thanh, sanh sống thanh công tại miền Nam ngót nghét hơn 200 năm.
Đợt X2 được Hà Nội tiến hành từ tháng Ba năm 1978 và được kéo dài cho đến sau Đổi Mới, tức là khoảng năm 1990 thì mới chấm dứt. Đợt này chủ yếu nhắm vào tư thuơng, tiểu tư sản, các thành phần sản xuất nhỏ vốn rất đa dạng và phồn thịnh trong nền kinh tế tự do do chính phủ Việt Nam Cộng Hòa khuyến khích hậu thuẫn cho quốc dân từ bấy lâu.
Nền công nghiệp nhẹ, sản xuất đồ sài gia dụng trong nhà của Việt Nam đã hoàn toàn chính thức bị phá hũy. Người dân Việt Nam sẽ không còn thấy các sản phẫm tự hào của dân tộc như nồi nhôm hiệu Ba Cây Dừa , xà-bông (savon) hiệu cô Ba, xe hơi hiệu La Đalat, hiệu đèn trang trí Nguyễn Văn Mạnh, …etc…. Không những thế, các nhà máy nhỏ sản xuất nhu yếu phẫm như đường, bột giặt, giấy, …etc cũng bị tê liệt vì chủ nhân bị quốc hữu hóa.
Riêng tại Sài Gòn, thì báo Tuổi Trẻ đã phải thừa nhận là đã có trên 10000 tiệm bán bị đóng chỉ qua một đêm, khiến một viên thuốc trụ sinh cũng không có mà mua, mà dùng. Nhà sách Khai Trí lừng lẫy, biểu tượng của cả Sài Gòn cũng bị báo đài tại Sài Gòn lúc bấy giờ rêu rao là tư bản và cần phải tịch thu. Nhà sách Khai Trí vốn đã từ tâm giúp đỡ biết bao văn nghệ sĩ của miền Nam, âm thầm thực hiện đường lối khai dân trí của cụ Phan Châu Trinh cho dân tộc
Riêng về chỉ thị 43 của Bộ Chính Trị vào tháng Năm năm 1978 đã quốc hữu hóa toàn bộ đát đai của nông dân miền Nam vào tay nhà nước thông qua hình thức “Tập Đoàn Sản Xuất” dẫn đến nạn đói năm 1979 ngay liền sau đó vì lúa gạo và các sản phẩm nông nghiệp bị sút giảm toàn diện tại miền Nam.
Tình trạng ở nông thôn miền Nam càng kinh khiếp và dữ dội hơn ở Sài Gòn dù không ồn ào bằng. Tổng số lúa mà nông dân miền Nam bị chở ra ngoài Bắc không thông qua quy chế thu mua được loan truyền là khoảng 4 triệu tấn gạo vào đầu năm 1978 trên đài phát thanh Hà Nội khi ca ngợi thành tích ĐÁNH TƯ SẢN của các đảng bộ địa phương miền Nam. Đương nhiên, con số chính thức được các nông dân kêu ca là lớn hơn nhiều.
Sang đến năm 1979, Võ Văn Kiệt đã phải loan báo thu mua lúa từ nông dân với giá cao gấp cả ngàn lần giá quy định của Nhà Nước (!) để cứu vãn tình thế bất mãn không còn dằn được nữa từ nông dân miền Nam trước những đợt thu lúa từ năm 1977 trở đi.
Song song với chiến dịch X2 là chiến dịch X3 đặc biệt tập trung tại Sài Gòn. Sau chiến dịch X3, hàng ngàn gia đình cán bộ miền Bắc đã vào Sài gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu. Theo thừa nhận ngắn ngủi từ báo SGGP và báo Công An khi bàn đến vấn đề trả lại nhà cho những “đối tượng” bị đánh tư sản oan ức vào tháng 9 năm 1989, ước tính lên đến khoảng 150 ngàn người thuộc gia đình cán bộ gốc miền Bắc vào Sài Gòn sinh sống trong những ngôi nhà bị tịch thu.
Đỗ Mười, sau này là Tổng Bí Thư Đảng, lúc bấy giờ thay thế ông Nguyễn Văn Linh làm trưởng ban cải tạo TW Vào ngày 16 tháng Hai năm 1976 là người chỉ huy trực tiếp đợt thực hiện này.
Trong chiến dịch này, số lượng người Sài Gòn phải bị mất hết tài sản và bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI là khoảng SÁU TRĂM NGÀN NGƯỜI, tạo ra một sự hoảng sợ hoang man chưa từng có trong lịch sử phát triển Sài Gòn qua các triều đại. Cuối đợt X3 , ghi nhận của Hà Nội là có khoảng 950 ngàn người Sài Gòn bị cưỡng bức đi KINH TẾ MỚI, không hoàn thành chỉ tiêu đề ra là một triệu hai người!
Sức mạnh kinh tế Sài Gòn tự nhiên bị phá hoại đi đến kiết quệ hoàn toàn sau chiến dịch X3 do Đổ Mười trực tiếp chỉ huy. Hơn 14 NGÀN cơ sở tiểu thủ công nghiệp tại Sài Gòn rất cần cho nền kinh tế quốc dân, với khoảng 270 ngàn nhân công hoàn toàn bị trắng tay, đóng cửa với tổng số thiệt hại tài sản trước mắt lên đế gần chín đến hai mươi mốt tỷ Mỹ kim và tiến trình phát triển công nghệ của đất nước trong tự cường hoàn toàn KHÔNG CÒN HY VỌNG để phục hồi.
Riêng về tổng số vàng, nữ trang tịch tư từ tư bản ở miền Nam được các báo đài của Đảng thừa nhận lên đến 4000 lượng vàng- nhưng đây chỉ là con số tượng trưng tính riêng ở Sài Gòn từ tháng Năm năm 1977 qua tháng Hai năm 1978 mà thôi. Cả thảy trên dưới gần 35 ngàn lượng vàng, tính luôn cả nữ trang và kim cương thu trong những đợt ĐÁNH TƯ SẢN ở miền Nam.
Xin được ghi chú thêm là chỉ nội vụ Hà Nội tiến hành cho phép người Việt gốc Hoa ra đi bán chính thức nếu đóng khoảng 120 lượng vàng đã góp vào gần 10 ngàn lượng vàng tổng cộng.
Trung bình , mổi người dân miền Nam nằm trong đối tượng bị ĐÁNH TƯ SẢN mất trắng khoảng 9 lượng vàng không tính đất đai, nhà cửa, phụ tùng thiết bị , đồ cổ, và các tài sản khác. Trữ lượng vàng của toàn bộ người dân miền Nam có thể lên đến 250 ngàn lượng vàng tính đến năm 1975 nhưng đồng bào khôn khéo giấu đi và phản kháng cũng như đem theo khi di tản.
II. KINH TẾ MỚI:
Tất cả những ai tại Sài Gòn bị Sản Hà Nội tịch thu nhà , tài sản điều phải đi về vùng KINH TẾ MỚI, là những nơi mà cơ sở hạ tầng cho sinh hoạt chưa được xây dựng, trong đó có cả điện nước, trường học và bệnh xá. HƠN SÁU TRĂM NGÀN nạn nhân bị cưỡng bức qua đêm phải rời Sài Gòn để về những vùng KINH TẾ MỚI và bỏ lại hết toàn bộ tài sản của mình từ nhà ở, của cải, đồ đạc cho Đảng quản lý.
Chỉ tiêu đề ra là phải đưa cưỡng bức khoảng gần một triệu người Sài Gòn ra các Vùng KINH TẾ MỚI và buộc họ phải bỏ hết tài sản nhà cửa lại cho Hà Nội quản lý. Tổng kết từ các báo cáo thành tích cải tạo XHCN của Đảng, số người bị cưỡng bức đi Kinh Tế Mới từ Sài Gòn qua mười năm Quá Độ- ĐÁNH TƯ SẢN như sau:
THỜI KỲ – CHỈ TIÊU – KẾT QUẢ THỰC HIỆN – GHI ChÚ
1976 – 1979: 4 triệu người – 1,5 triệu người – 95% là từ Sài Gòn
1979 – 1984: 1 triệu người – 1,3 triệu người – 50% là từ Sài Gòn
Khi đến vùng KINH TẾ MỚI để sống tham gia các tập đoàn sản xuất hay còn gọi tắt là Hợp Tác Xã, “thành quả lao động” của các nạn nhân này được phân phối chia ra như sau:
30% trả thuế
25% góp cho chính phủ theo giá thu mua của nhà nước;
15% trả lương cho cán bộ quản lý;
30% còn lại chia cho các thành viên tính theo số điểm thuế lao động
Như vậy là sản phẩm nông nghiệp từ các nông trường vùng Kinh tế Mới đã bị Đảng tịch thu hết 70 % và chỉ còn 30% là chia lại cho các thành viên, vốn là các nạn nhân bị tịch thu nhà cửa sống trong vùng Kinh Tế Mới.
Thế là cả triệu người dân Sài Gòn đột nhiên lâm vào cảnh đói kém trầm trọng như là đòn trả thù hữu hiệu của chế độ Hà Nội đối với những bị liệt vào thành phần không phải “Cách Mạng”, ngụy quân ngụy quyền và tiểu tư sản.
Ước tính có khoảng 300 ngàn trẻ em bị thất học vì sống ở các vùng Kinh Tế Mới này. Nhân dân miền Nam- cả triệu người đang sống sung túc bổng lao vào chịu đói kém khổ sở chưa từng có. Nạn đói kém lan tràn khắp mọi nơi, mọi nhà trước thảm cảnh.
Hàng vạn người dân Sài Gòn đã phải bỏ trốn khỏi các vùng Kinh Tế Mới, đi ăn xin trên đường Về Sài Gòn, đói rách khổ sở. Đây là thời kỳ khốn khổ bi đát nhất trong lịch sử phát triển Sài Gòn.
III. Quyết Định 111/CP của Hà Nội về việc “Đánh tư sản ” ở miền Nam Việt Nam
Quyết định 111/CP của Hà Nội là một tài liệu chứng quan trọng. Quyết định này là nguồn gốc của mọi khổ đau, nghèo khó của người dân miền Nam Việt Nam sau ngày 30 tháng Tư năm 1975 và là lý do Việt Nam bị tụt hậu về mọi mặt, đứng hàng thứ ba nghèo nhất thế giới theo tuyên bố của Liên Hiệp Quốc vào năm 1985.
Xem Nguyên văn quyết định 111/CP:
Trích :
IV. ĐỐI VỚI NHÀ, ĐẤT CỦA CÁC TỔ CHỨC VÀ CÁ NHÂN THUỘC BỘ MÁY CAI TRỊ CỦA NGUỴ QUÂN NGUỴ QUYỀN VÀ ĐẢNG PHÁI PHẢN ĐỘNG
1. Mọi loại nhà cửa, đất đai trước ngày Giải phóng do chính quyền Mỹ nguỵ quản lý hoặc dành cho những tổ chức hay cá nhân, thuộc nguỵ quân nguỵ quyền và các tổ chức đảng phái phản động sử dụng, nay đều là tài sản công cộng, do Nhà nước trực tiếp quản lý.
2. Nhà cửa, đất đai của những người sau đây đều do Nhà nước trực tiếp quản lý:
Sĩ quan nguỵ quân cấp từ thiếu tá trở lên.
Sĩ quan cảnh sát từ cấp trung uý trở lên.
Cán bộ thuộc bộ máy cai trị của nguỵ quyền đã giữ chức vụ, từ Chủ sự phòng cơ quan Trung ương, Ty phó, Quận phó trở lên.
Các phần tử ác ôn, mật vụ, tình báo, chiêu hồi cố tình phản cách mạng.
Điều IV của QĐ 111/CP đã cho thấy rõ gia đình thân nhân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa phải chịu mất nhà mất cửa rất thê thảm. Mọi quy chụp là phản động hay Ngụy quyền thì coi như là bị tịch thu nhà cửa.
Dòng chữ cuối cùng của khoản 2 điều IV của QĐ 111/CP có ghi rõ là nhà cửa đất đai của các thành phần sau đây bị tịch thu: “Các phần tử ác ôn, mật vụ, tình báo, chiêu hồi cố tình phản cách mạng.” Bởi không có định nghĩa rõ ràng thế nào là thành phần ác ôn nên các viên chức cán bộ Cộng Sản tha hồ kết tội thuờng dân vô tôi vạ là thành phần ác ôn của “Ngụy quyền” để tư lợi cướp bóc nhà cửa cho riêng mình, không cần tòa án nào xét xử cả. Ai ai cũng có thể là điệp viên CIA, hay là có lý lịch ba đời liên quan đến Ngụy quân, và điều có tư tưởng phản động và cần phải tịch thu nhà cửa dựa trên điều khoản này của Q Đ 111/CP.
Không khí hoảng sợ, đau thuơng oán hận lan tràn khắp cả miền Nam.
IV. Hậu quả ĐÁNH TƯ SẢN của Hà Nội:
Theo các chuyên gia của Liên Hiệp Quốc về kinh tế, Việt Nam tụt hậu hơn 50 năm về kinh tế vì các chính sách đánh tư sản này của Cộng Sản Hà Nội lên đầu người dân miền Nam. Việt Nam là quốc gia nghèo đứng hàng thứ ba trên thế giới vào năm 1985.
Cho đến giờ phút này, người dân Việt Nam vẫn chưa thực sự có quyền TƯ HỮU mà chỉ có quyền SỬ DỤNG, nghĩa là thảm họa bị ĐÁNH TƯ SẢN trong quá khứ vẫn treo lơ lửng trên đầu người dân Việt Nam bất cứ lúc nào cũng có thể xảy ra chiếu theo luật pháp hiện hành của Hà Nội.
Kinh tế của Việt Nam mãi đến năm 1997 mới thực sự khắc phục được một phần hâu quả của 10 năm Quá Độ, ĐÁNH TƯ SẢN do Hà Nội tiến hành từ năm 1976 đến năm 1987.
Từ năm 1987 đến năm 1997, Hoa Kỳ đã nhắm mắt làm ngơ cho những người Việt di tản hay Vượt Biên định cư tại Mỹ gởi tiền hàng ồ ạt về cứu đói thân nhân mình và vực dậy sự sinh động về kinh tế vốn có ngày nào của miền Nam.Tổng số ngoại tệ gởi về lên đến 8 đến 15 tỷ Mỹ kim mỗi năm trong suốt 10 năm đó.
Sang đến năm 1989, báo SGGP từ Sài Gòn chịu 90 % ngân sách của cả nước và bắt đầu tiến hành trả lại nhà cho một số nạn nhân bao năm trời khổ ải, cũng như bắt đầu bàn tới vấn đề cho phép các sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hòa được bán nhà vốn hầu hết đã bị tịch thu nếu ra đi theo chương trình HO-Special Release Reeducation Center Detainee Resettlement Program (Chương trình tái định cư phóng thích đặc biệt tù nhân trung tâm cải tạo)
Chỉ số nghèo đói của Việt Nam đứng hàng thứ ba trên thế giới và chỉ mới có những tiến bộ cải thiện khi World Bank và USAID tăng tốc trợ giúp.
Mọi tài liệu, hình ảnh ca ngợi ĐÁNH TƯ SẢN từ các báo chí đài phát thanh của Đảng cũng bị dẹp dần đi. Hà Nội tới ngày nay vẫn chưa chính thức xin lỗi hai mươi mốt triệu người dân miền Nam về hành động này. Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), thu nhập bình quân đầu người năm 2014 của Việt Nam là 2.052 USD, trong khi khi Singapore là 56.287 USD, Malaysia là 10.830 USD, Thái Lan là 5.561 USD và Indonesia là 3.515 USD.
TÚ HOA
 https://khoahocnet.com/2016/04/27/nguyen-quy-dai-thang-tu-1975-2016/

30 tháng tư: Nhìn người rồi lại nhìn ta!


Cuộc tháo chạy của VNCH năm 1975 được khởi đầu bằng cuộc tháo chạy của Cộng Hòa Khmer. Mỗi lần đến 30 tháng tư, chúng ta cần nhìn lại hai cuộc tháo chạy này dưới những khía cạnh khác nhau để rút thêm những bài học lịch sử.
NHÌN NGƯỜI TRƯỚC…
Với sự hậu thuẫn của Mỹ, ngày 18.3.1970 trong lúc Sihanouk đang ở ngoại quốc, Thủ Tướng Lon Nol cho quân đội bắt giữ chính quyền dân sự ở Phnom Penh, bao vây toà nhà Quốc hội và triệu tập Quốc hội bỏ phiếu phế truất Sihanouk khỏi vị trí Quốc trưởng và trao quyền lực khẩn cấp cho Lon Nol. Lon Nol cử Hoàng thân Sirik Matak – người bị chính phủ Pháp loại bỏ để trao ngôi vị cho Sihanouk - giữ chức Phó Thủ tướng. Sau cuộc đảo chính, Hoàng thân Sihanouk đến Bắc Kinh và bắt đầu ủng hộ Khmer Đỏ trong cuộc chiến lật đổ chính phủ Lon Nol.
Tháng 10 Lon Nol tuyên bố thành lập Cộng hòa Khmer và Lon Nol trở thành Tổng thống đầu tiên. Hoàng thân Sirik Matak được cử làm Phó Tổng Thống.
Image result for sihanouk
Hoàng thân Sihanouk
Tháng 4 năm 1973, Lon Nol đình chỉ hoạt động của Quốc hội, tuyên bố thành lập "Hội đồng Chính trị Tối cao" bao gồm chính ông, Sirik Matak, Cheng Heng và In Tam.
Vào đầu năm 1975, Khmer Đỏ và CSVN bắt đầu mở cuộc tấn công chế độ Lon Nol, thành lập vòng đai bao vây thủ đô Phnom Penh. Quốc hội Hoa Kỳ quyết định không cấp viện trợ thêm cho Campuchia nữa. Ngày 1.4.1975, Tổng Thống Lon Nol tuyên bố từ chức và bay đi tỵ nạn ở Hawaii. Hoàng thân Sirik Matak quyền Tổng Thống.
Sáng 12.4.1975 Hoa Kỳ thực hiện Chiến dịch Eagle Pull, di tản các nhân viên, các viên chức Mỹ và một số viên chức Campuchia bằng máy bay trực thăng từ thủ đô Phnom Penh tới các hạm đội Mỹ trong vịnh Thái Lan.
Đại sứ Mỹ ở Cambodia lúc đó là ông John Gunther Dean đã thông báo cho các viên chức cao cấp của Cộng Hòa Khmer biết Hoa Kỳ dành cho họ quyền tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ, nhưng Hoàng Thân Sirik Matak, Thủ Tướng Long Boret, Lon Non (em của Lon Nol) và các thành phần nội các của chính phủ Lon Nol đã từ chối, mặc dầu Long Boret và Sirik Matak có tên trong danh sách “Bảy kẻ Phản Bội” (Seven Traitors) bị Khmer Đỏ tuyên án tử hình. Tổng cộng có 150 người trong chính phủ Cộng hòa Khmer đã di tản theo người Mỹ. Còn Hoàng thân Sirik Matak đích thân viết cho Đại sứ John Gunther Dean một lá thư có nội dung như sau:
“Tôi thành thật cảm tạ Ngài đã viết thư và còn đề nghị giúp tôi phương tiện đi tìm tự do. Than ôi! Tôi không thể bỏ đi một cách hèn nhát như vậy! Với Ngài và nhất là với xứ sở vĩ đại của Ngài, không bao giờ tôi lại tin rằng quý vị đã nhẫn tâm bỏ rơi một dân tộc đã lựa chọn tự do. Quý vị từ chối bảo vệ chúng tôi và chúng tôi chẳng thể làm được gì hết. Ngài ra đi, tôi cầu chúc Ngài và xứ sở của Ngài được hạnh phúc dưới bầu trời này. Nhưng xin Ngài nhớ cho rằng nếu tôi phải chết ở đây và ở lại đất nước tôi yêu dấu thì tuy đó là điều tệ hại, nhưng tất cả chúng ta đều sinh ra và cũng sẽ chết vào một ngày nào đó. Tôi chỉ ân hận một điều là đã quá tin và chót tin ở nơi quý vị, những người bạn Hoa Kỳ! Xin Ngài nhận những cảm nghĩ chân thành và thân hữu của tôi.”
Ký tên: Hoàng thân Sirik Matak

Sisowath Sirik Matak
Hoàng thân Campuchia
Sisowath Sirik Matak 09-01-1967.jpg

Riêng về Thủ Tướng Long Boret, Đại sứ John Gunther Dean kể:
"Long Boret đã từ chối việc di tản. Ông ta là một người tài giỏi. Trẻ hơn nhiều so với Lon Nol hoặc Sirik Matak. Khi cá nhân tôi đến gặp ông vào ngày 12 tháng 4, trong cuộc di tản buổi sáng sớm của chúng tôi, đề nghị ông ta hãy dắt vợ con cùng chúng tôi rời khỏi Phnom Penh vì tôi lo sợ cho sự an toàn của ông ấy, ông ta cảm ơn tôi nhưng [như ông ta nói] nghĩ rằng tính mạng của ông ấy không đáng lo ngại.”
Related image
Thủ Tướng Long Boret
Ngày 17.4.1975, lực lượng Cộng hòa Khmer sụp đổ, Khmer Đỏ tiến vào Phnom Penh. Hoàng thân Sirik Matak, Thủ tướng Long Boret, Lon Non và các viên chức hàng đầu của Chính phủ Cộng hoà Khmer đã bị bắt đưa đi xử tử tại trung tâm thể dục thể thao Cercle Sportif. Các đơn vị thuộc quân đội Lực lượng Vũ trang Quốc gia Khmer của Lon Nol còn lại trong thủ đô đều bị tước vũ khí và đưa đi xử bắn toàn bộ tại sân vận động Olympic.
Trong Hồi ký “Ending the Vietnam War” Kissinger nói rằng chính quyền Ford đã bất ngờ và xấu hổ vì trên thực tế các quan chức hàng đầu của Campuchia đã từ chối rời khỏi đất nước, bao gồm Hoàng Thân Sirik Matak, Thủ tướng Long Boret và em trai cựu Tổng thống Lon Nol là Lon Non, mặc dầu họ nằm trong danh sách mà Khmer Đỏ đã tuyên án tử hình.
RỒI QUAY LẠI NHÌN TA...
Tướng Dương Văn Minh vốn nổi tiếng là THAM, NGU, HÈN nên bị Mỹ khai thác và đưa ra làm con bài thí mỗi khi muốn thay đổi tình hình.
1.- BỊ DÙNG LÀM SÁT THỦ
Đại Tá Nguyễn Văn Y, cựu Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia kiêm Giám Đốc Phủ Đặc Ủy Trưởng Trung Ương Tình Báo của VNCH đã kể lại hai chuyện liên quan đến những sự vi phạm nghiêm trọng của Dương Văn Minh, nhưng được Tổng Thống Diệm bỏ qua cho:

                                                              
Đại tá Nguyễn Văn Y

Vụ thứ nhât: Chôm thùng phuy vàng của Bình Xuyên
Ông cho biết vào khoảng tháng 5 năm 1955, sau khi đánh đuổi quân Bình Xuyên chạy vào Rừng Sát, ông đã thả các nhân viên Phòng 2 đi thăm dò ven rừng. Họ thấy một người đang ngồi câu cá trên một chiếc xuồng ở một khu vắng, dáng điệu rất khả nghi, nên bắt về thẩm vấn. Sau nhiều cuộc tra hỏi, người này thú nhận anh ta là một cận vệ của Bảy Viễn, được phái ở lại giữ hai thùng phuy vàng và bạc đã phải nhận chìm xuống nước trước khi chạy trốn. Ông cho mò tìm và vớt được hai thùng, một thùng đựng bạc giấy và một thùng đựng vàng. Ông bảo nhân viên đem số bạc ướt phơi khô rồi đưa tất cả đi nạp vào ngân khố. Còn thùng vàng được chở đến giao cho Đại Tá Dương Văn Minh, Quân Trấn Trưởng Sài Gòn. Dương Văn Minh chẳng báo cáo gì về vụ vàng này. Ông Diệm đã ra lệnh điều tra. Hai người được trao nhiệm vụ điều tra là Thẩm Phán Lâm Lễ Trinh, Biện Lý Tòa Sơ Thẩm Sài Gòn, và Thiếu Tá Mai Hữu Xuân, Giám Đốc An Ninh Quân Đội. Đại Tá Xuân báo cáo số vàng Tiểu Khu Chợ Lớn tịch thu được đã giao cho Đại Tá Dương Văn Minh. Nhưng sau khi suy nghĩ, ông Diệm nói với ông Nhu: “Thôi, cho nó đi cho yên!”
Vụ thứ hai: Chứa chấp gián điệp Việt Cộng.
Vào đầu năm 1960, nhân viên tình báo thấy một người thường lui tới nhà Dương Văn Minh ở số 3 đường Trần Quý Cáp, Sài Gòn, nhưng mỗi lần đi ra, anh ta thường nhìn trước nhìn sau rất kỹ, thấy không có gì khả nghi mới bước ra.
Khoảng tháng 3 năm 1960, có một người có mặt mày và hình dáng rất gióng Dương Văn Minh, đã đến ở luôn trong nhà Dương Văn Minh và mỗi lần đi đâu thường được chính Dương Văn Minh chở đi. Sưu tra hồ sơ, nhân viên tình báo biết ngay đó là Dương Văn Nhựt, em của Dương Văn Minh, có bí danh là Mười Tỵ, hiện đang là Thiếu tá trong bộ đội miền Bắc. Vợ của Dương Văn Nhựt hiện đang sống tại Sài Gòn. Theo dõi sát, nhân viên tình báo biết được Dương Văn Nhựt đang đi vận động Phật Giáo và sinh viên chống ông Diệm.
Trong cuộc phỏng vấn ngày 16.10.2004, Đại Tá Nguyễn Văn Y cho biết khi vợ Dương Văn Nhựt có bầu gần sinh, Dương Văn Nhựt đã đưa vợ tới ở nhà của Trung Tá Dương Văn Sơn, em của Dương Văn Minh. Lúc đó Dương Văn Sơn đang làm trưởng phòng truyền tin của Biệt Khu Thủ Đô. Tướng Minh thường đến nhà Dương Văn Sơn nói chuyện với Dương Văn Nhựt.
Ông đã trình vụ này cho Tổng Thống Diệm, nhưng sau khi nghe, Tổng Thống đã đưa cho ông cái hộp quẹt và bảo đem tất cả hồ sơ ra đốt đi. Tổng Thống nói: “Mỹ mà nó biết được Trung Tướng của mình theo Việt Cộng thì xầu hổ lắm. Đốt hết đi! Từ rày tôi không muốn nhắc tới cái vụ này nữa.” Nhưng đốt hồ sơ rồi cũng chưa xong, nhân viên tình báo còn phải bắt Dương Văn Nhựt và dẫn ông ta ra chiến khu để ông ta đi qua Cam-bốt và trở về lại miền Bắc, với lời cảnh cáo: Nếu trở lại sẽ bị thanh toán.
Ngày 18.7.1962, ông Diệm thông báo cho Tướng Harkins biết ông quyết định hủy bỏ chức Tư lệnh Bộ Tư lệnh Hành quân của Tướng Minh vì ông ta “thiếu khả năng.”
Biết Tướng Dương Văn Minh đang bất mãn với ông Diệm, nên năm 1963 khi tổ chức đảo chánh ông Diệm, Mỹ đã dùng Dương Văn Minh làm Chủ Tịch Hội Đồng Quân Đội Cách Mạng, tức chỉ huy cuộc đảo chánh. Nhưng khi hành động, Thiếu Tá Lucien Conein chỉ để cho Dương Văn Minh làm sát thủ, giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ông Cố Vấn Ngô Đình Nhu và hai người chống đảo chánh là Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt, và Đại Tá Hồ Tấn Quyền, Tư Lệnh Hải Quân, còn việc tổ chức và điều hành quân đội đảo chánh đều đặt dưới quyền chỉ huy của hai nhân viên CIA là Thiếu Tướng Trần Thiện Khiêm và Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu.
Tướng Minh được trao quyền lãnh đạo chính phủ trong giai đoạn chuyển tiếp, sau đó bảo Tướng Khiêm làm “chỉnh lý” ngày 30.1.1964, loại bỏ các tướng râu ria của Dương Văn Minh về tội “thân Pháp”, đưa Tướng Nguyễn Khánh ra làm sát thủ Ngô Đình Cẩn. Nguyễn Khánh ban hành một đạo luật hồi tố để giết Ngô Đình Cẩn. Giới luật gia phản đối vì luật này vi phạm nguyên tắc bất hồi tố (non-retroactive) của hình luật và điều 11 Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Nhưng khi Mỹ bảo thì chẳng cần luật pháp, nên Nguyễn Khánh đã cho xử bắn Ngô Đình Cẩn. Sau đó các biến loạn đã xảy ra, Mỹ loại Nguyễn Khánh và đưa hai tên tà lọt của CIA là Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm lên cầm quyền tại Miền Nam cho đến ngày mất nước.

2.- BỊ DÙNG LÀM HÀNG TƯỚNG
Ngày 21.4.1975, Đại Sứ Martin đến thuyết phục Tổng Thống Thiệu từ chức để đưa Dương Văn Minh lên đầu hàng, nhưng ông Thiệu chẳng biết gì hết, còn hỏi ông Martin: “Nếu tôi từ chức, viện trợ Mỹ có đến không?” Đại Sứ Martin trả lời: “Tôi không dám hứa nhưng có thể có”.
Frank Snepp cho biết sáng 20.4.1975, Đại Sứ Mattin đã đi gặp Đại Sứ Mérillon của Pháp và xin tiếp một tay. Đại sứ Merillon cho Tướng Minh biết ông ta đã liên lạc với phía bên kia, họ cho biết chỉ nói chuyện với tướng Minh. Tướng Minh tưởng thật, đồng ý làm Tổng Thống để điều đình với “phía bên kia” và thành lập một “chính phủ hòa hợp hòa giải”. Tướng Timmes đã đến gặp Tướng Minh để thăm dò, Tướng Minh cười và trả lời: “Vẫn còn cơ hội cho các cuộc thương thuyết…” (There was still a chance for negotiations). Nhưng chiều 28.4.1975, lúc 17 giờ 50, sau khi nhận chức Tổng Thống, Tướng Minh đã cho người đi tìm Đại Sứ Mérillon thì ông đã biến mất rồi!
Đến đây người Việt mới nhận ra rằng Mỹ là "siêu cộng sản"!
Image result for dương văn minh đầu hàng
Tổng Thống Dương Văn Minh
Lúc 11 giờ sáng ngày 30.4.1975, khi thấy không còn gì để hy vọng nữa, Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng.
Lúc 11 giờ 30, chiếc xe tăng T-54 đầu tiên của Việt Cộng tiến trên đại lộ Thống Nhứt về phía Dinh Độc Lập, ủi sập một cánh cổng đã mở, sau khi bắn hai phát đại bác long trời lở đất. Tiếng chân chạy ồn ào trong đại sảnh, có tiếng đạn lên nòng, một khẩu lệnh vang lên: “Mọi người đi ra khỏi phòng ngay!” Dương Văn Minh là người bước ra đầu tiên, Thiếu Tá tùy viên Hoa Hải Đường đi bên cạnh, phía sau là Vũ Văn Mẫu, Nguyễn Văn Huyền... Nhiều bộ đội ở đầu kia đại sảnh hét to: “Mọi người giơ hai tay lên!”. Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu và đoàn tùy tùng nhất loạt tuân lệnh.
Khi mọi người chưa kịp làm gì tiếp thì Trung Tá Bùi Tùng, Chính Ủy Lữ Đoàn Xe Tăng 203 tới. Ông Minh thấy ông Tùng người to cao thì lễ phép chào và nói:
- Thưa ông, chúng tôi đợi các ông vào lâu rồi để bàn giao chính quyền.
- Trung Tá Tùng nói:
- Các ông là người bại trận. Các ông không còn gì để bàn giao mà chỉ có đầu hàng vô điều kiện.
Ông Tùng buộc Tổng Thống Dương Văn Minh và Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu đến đài phát thanh Sài Gòn tuyên bố đầu hàng vô điều kiện.
Related image
Dương Văn Minh bị dẫn tới Đài Phát Thanh Sài Gòn
Bản tuyên bố đầu hàng do Chính Trị Viên Bùi Tùng thảo, ông Minh đọc và đài phát thanh phát đi vào lúc 13 giờ 30:
“Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng Thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi Quân Lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn. Từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam.”
Tính lại, Dương Văn Minh đã làm Tổng Thống chỉ 36 tiếng đồng hồ: Nhận chức vào chiều 28 tại Dinh Độc Lập đến trưa 30.4.1975 đã tuyên bố đầu hàng, kết thúc cuộc đời làm con bài thí của Mỹ trong một thời điểm rất bi thảm.

NHỮNG BÀI HỌC ĐẮT GIÁ
Nhìn lại những gì mà Thủ Tướng Long Boret và Hoàng thân Sirik Matak của nước Campuchia nhỏ bé đã làm rồi nhìn lại hành động của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm và Tổng Thống Dương Văn Minh của nước Việt có lịch sử ngàn đời oai hùng…, ít ai không cảm thấy đau buồn.
Người Mỹ khi rút khỏi Sài Gòn không hề thông báo cho các viên chức cao cấp của VNCH rằng Hoa Kỳ dành cho họ quyền tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ như họ đã thông báo cho các viên chức Cộng Hòa Khmer khi rút khỏi Phnom Penh, nên hầu hết các viên chức cao cấp VNCH đã phải bị đi tù vì hợp tác với Mỹ. Chính quyền Ford cũng không hề “bất ngờ và xấu hổ” về chuyện này. Mặc dầu vậy “tình hữu nghị Việt – Mỹ vẫn đời đời bền vững”.
Hoàng thân Sirik Matak đã nói với người Mỹ “không bao giờ tôi lại tin rằng quý vị đã nhẫn tâm bỏ rơi một dân tộc đã lựa chọn tự do” và “Tôi chỉ ân hận một điều là đã quá tin và chót tin ở nơi quý vị, những người bạn Hoa Kỳ!”, trong khi đó đa số người Việt đấu tranh vẫn tiếp tục tin tưởng rằng người Mỹ sẽ giúp họ “giải phóng quê hương” và mỗi khi có chuyện gì bất bình thường đi mách với Mỹ!
Đó là những bài học lịch sử đắt giá. Triết gia George Santayana (1863 – 1952) đã nhắc nhỡ chúng ta:
“Những người không thể nhớ quá khứ bị kết án tái diễn nó. Học từ quá khứ của chúng ta là cách duy nhất có trách nhiệm để chuẩn bị cho chính chúng ta về tương lai, nhất là khi quá khứ đó là chứng tích của thất bại đáng ghi nhớ.”
Ngày 28.4.2016
Lữ Giang

Chủ đề không quên:CHỢ ĐỜI 1975

  CHỢ ĐỜI 1975

Chị Bông ngồi trước cửa hàng bán cà phê nước giải khát của nhà mình, cái bàn bày vài chai bia, chai nước ngọt, hũ chanh muối và vài món ăn vặt kèm cho người uống bia là chùm nem chua, là hũ đậu phộng rang. Bên cạnh bàn là một tủ thuốc lá.
Thời buổi bao cấp sau 1975  hàng quán quốc doanh hay tư nhân đều lèo tèo xơ xác như nhau. Nhất là hàng quốc doanh món nào có gía thì nhân viên cửa hàng và con buôn vơ vét trước, còn những mặt hàng hoặc xấu kém chất lượng hoặc đắt hơn  gía ngoài chợ đen thì vẫn nằm chình ình trong cửa hàng ngày nọ tháng kia  như hàng…triển lãm...
Những chai bia, nước ngọt được sản xuất từ những hẻm nhỏ vô danh nào đó của quận Phú Nhuận, quận Gò Vấp.
Người ta đồn rằng bia này được làm từ lên men trái cây, có tin độc địa hơn là làm từ lên men vỏ trái dứa, trái thơm vứt ê hề ngoài đường ngoài chợ.
Chẳng ai biết thực hư ra sao nhưng nhìn các loại bia lên men  mang nhãn hiệu đàng hoàng nào Hải Âu, Lúa Vàng, Hướng Dương, Trường Sơn..v..v. vẫn đẹp mắt, rót bia ra ly vẫn sủi bọt với màu vàng óng ánh, uống vào có mùi bia và say xỉn như bất cứ loại bia chính hiệu nào.
Lại nghe đồn một nhạc sĩ nổi tiếng trước 1975 cũng sản xuất loại bia trái cây lên men này ở quận Phú Nhuận . Nếu đúng như thế thì ông viết nhạc hay mà làm bia cũng tài, chị Bông  bán bia của ông với lòng ngưỡng mộ cả hai thứ.nhạc và bia.
Còn những chai nước ngọt cũng đủ màu đủ mùi vị cam vàng, bạc hà, nước chanh và không cần  nhãn hiệu vẫn đắt hàng vì nhu cầu tiêu dùng của người dân.
Nhà nước đã xử dụng lại hãng B.G. I  trước kia  thành nhà máy quốc doanh sản xuất nước ngọt nhưng không là bao lại nắm quyền quản lý chỉ thỉnh thoảng bán giới hạn theo tiêu chuẩn đầu người trong cửa hàng bách hóa, người mua phải mang cái ca nhựa hay bất cứ thứ gì có thể đựng được, cô nhân viên bán hàng sẽ khui chai nước ngọt tại chỗ đổ ra ca nhựa cho người mua để họ giữ chai không lại.
Uống được chai nước ngọt phải vất vả tủi hờn thế mà tháng có tháng không thì chẳng thấm thía vào đâu cho nên cả người bán lẫn người mua đều vui vẻ với bia nước ngọt ngoài luồng do tư nhân sản xuất,
Thỉnh thoảng báo chí đăng tin có ông uống bia trái cây lên men qúa nhiều lăn đùng ra ói mửa ngất ngư, nhưng ai sao kệ ai, người ta vẫn cứ uống.và còn dí dỏm gọi bia lên men là “Bia lên cơn”
 Bia lên men chị Bông lấy về vẫn được khách hàng ưu ái gọi mua mỗi khi đến quán.
Ngoài những loại bia rẻ tiền ấy quán chị Bông có bán bia 33 nhưng khách hàng dành cho loại bia đắt tiền này không là bao.
Khách hàng là những công nhân nhà máy Z751, X28, Z755 và cư dân quanh khu vực này. Những nhà máy hãng xưởng mang tên những con số và chữ nghe như mật mã,  ký hiệu của điệp viên  tình báo là tên mới của những xưởng quân cụ, xưởng quân nhu và truyền tin cũ trước 1975.
Bà Tư Cam từ xóm trong bưng mâm bánh bông lan le te đi tới quán chị Bông ghé vào mời chào như thường ngày::
-         Cô Bông, hai mẹ con mở hàng giùm tui hai miếng bông lan đi.
Thường thì thằng cu Bi con út chị Bông hay luẩn quẩn ở đây, chị Bông mua bánh bông lan hai mẹ con ăn, hôm nay nó ở nhà trong không ra cửa hàng chơi với mẹ,
Bà Tư Cam đon đả:
-         :Cô Bông mở hàng là tui bán lẹ lắm. Mua hai miếng nha cô Bông?
-         Thằng cu Bi không có đây, bác bán cho tôi một miếng thôi
Thế là chị Bông mua một miếng bánh cho bà hàng xóm vừa lòng. Bà Tư Cam đã xoay đủ nghề sau 1975. Nhà nghèo khổ, con đông, ít vốn, nghề của bà chỉ là gánh hàng rong, ban đầu là gánh bánh canh, vốn teo lại không đủ tiền mua giò heo bà bán bún riêu cua cho nhẹ vốn, sau cụt vốn chỉ còn mâm bánh bông lan mà nghe nói tiền đường tiền bột làm bánh bà còn mua thiếu chị chạp phô trên chợ.
Bà Tư Cam làm ra bánh bông lan đẹp tài tình, chị Bông đã có lần ngồi chầu chực xem bà làm bánh bông lan để bắt chước, bà đập trứng vịt ra cái thố đất và dùng cái lò so đánh trứng khá lớn nên đánh một hồi là trứng nổi xốp lên. Sau khi trộn đường bột, bột nổi bột thơm vani bà nướng bánh bằng nồi gang, để than dưới nồi và trên nắp nồi, khi bánh chín tỏa ra mùi thơm phức, ổ bánh màu vàng nở phồng , bà Cam để nguội cắt ra từng miếng để bán lẻ.
Bà Tư Cam đưa miếng bánh cho chị Bông và hỏi một câu…muôn thuở:
-         Thằng nhỏ đi thăm ba nó lần nào chưa?
Bà Cam chắc là muốn hỏi chuyện cho đẹp lòng chị Bông để trả công ngày nào chị cũng mua mở hàng cho bà đắt hàng, bà nhà quê thật thà chân chất, vụng về không biết nói câu gì khác hoặc trong thâm tâm bà luôn áy náy thương cảm cho cảnh người chồng người cha đi tù cải tạo nên bà đã hỏi câu này mấy lần mà hôm nay lại hỏi, ý bà muốn nói thằng Bi, chị Bông đã sinh nó tháng 8 năm 1975 khi chồng đang đi tù cải tạo:
- Cháu còn bé đi đường xa sợ mệt, chắc sang năm tôi cho cháu đi thăm bố bác Tư ạ
Bà lại than một câu mà chị Bông cũng đã nghe mấy lần::
- Thiệt là tội,  con mấy tuổi mà cha con chưa biết mặt nhau.
Bà Tư Cam lại bưng mâm bánh bông lan  đi te te về phía cổng nhà máy, chỉ vài tiếng là sạch mâm bánh bà lại về nhà lấy tiếp ổ bánh khác ra bán kiếm thêm đồng lời  phụ với lương công nhân ít ỏi của ông Tư Cam .
Quán không có khách, chị Bông vừa ăn bánh vừa nghĩ lời bà Tư Cam vô tình còn vương lại trong lòng chị làm chị chạnh lòng suy nghĩ thêm....
Những gia đình có chồng con, em đi “học tập cải tạo” mỗi nhà mỗi cảnh, mỗi người phải kiếm sống theo hoàn cảnh của mình..
Bà chị họ tên Xu than thở và so sánh với chị Bông may mà chị Bông có nhà mặt tiền còn có chỗ bán hàng kiếm đồng ra đồng vào chứ nhà chị Xu trong xóm chẳng biết làm ăn gì, trước kia chị là công chức sau 1975 bị thôi việc vì chồng là sĩ quan “ nguỵ”
Suy nghĩ đủ kiểu chị Xu nghĩ ra “nghề” cầm đồ ngay tại nhà, chẳng cần mặt tiền mặt bằng gì cả.
Chị Xu đã mạnh dạn bán mấy lạng vàng làm vốn, không ngờ khách càng ngày càng đông, ban đầu là hàng xóm gần rồi tới hàng xóm xa, chị Xu phải bán thêm mấy lạng vàng nữa mà cũng không xuể, chị nói đám người nghèo đông như muỗi rừng và dai như đỉa đói, có món mình không muốn cầm thế mà họ cứ ngồi lì, năn nỉ ỉ ôi cho tới khi mình phải…cảm động và chịu thua
Nhà chị chứa nào là xe đạp, radio, ti vi và cả quần áo cũ nữa, dù món quần áo cũ đen cầm chẳng được là bao.
Quá hạn 6 tháng, sau chục lần chị Xu nhắn gọi chủ đến chuộc quần áo về vẫn bặt vô âm tín vì tiền vốn và tiền lời đã cao gấp mấy lần trị gía món đồ, thế là chị Xu tự tin  thu gom mớ quần áo cũ của người dưng đem ra chợ trời Tân Bình bán hết.cho rộng tủ và lấy lại đồng nào hay đồng ấy thì một hôm có một cô gái đến đòi…chuộc lại bộ quần áo, cô nói đó là bộ quần áo ân tình của người yêu cô tặng khi xưa, qúa nghèo, qúa túng quẩn cô mới tạm cầm cố nó, khi biết chị Xu đã bán đi, cô ta khóc lóc ăn vạ như Chí Phèo làm chị Xu phải…móc túi đền tiền cho cô.theo gía cô đòi hỏi..
 Cầm tiền trong tay cô gái đã hớn hở sáng mắt lên, gía mà chiếc áo ân tình có tìm thấy cũng không làm cô vui mừng đến thế..
Và có lần một bà mang cái dây chuyền đến cầm, chị Xu đã từ chối vì không muốn cầm vàng bạc, chị nào biết cách thử vàng, sợ cầm vàng gỉa, thế mà bà kia năn nỉ cách nào chị Xu lại mủi lòng đồng ý
.Chỉ một tháng sau không thấy bà ta đến chuộc hay trả tiền lời chị Xu liền mang sợi dây chuyền ra tiệm vàng nhờ thợ xem giùm mới biết là vàng gỉa.
Biết nhà cửa  tên tuổi bà lừa đảo, có giấy tờ biên nhận người cầm đồ ký tên đầy đủ mà chị Xu không dám thưa kiện ra phường xã vì bà ta đã ngang ngược đe dọa thách đố chị Xu có giỏi thưa tôi thì chị vô tù trước vì chị là vợ sĩ quan ngụy, là “tư sản mại bản” có tiền ngồi mát ăn bát vàng, cho vay lời cắt cổ bóc lột người nghèo khổ như tôi.
Người càng nghèo, càng bần cố nông thì tờ lý lịch càng sáng sủa đẹp đẽ. Bà này đang tận dụng cái lý lịch nghèo “vẻ vang” của mình để quỵt tiền chị Xu…
Thế là chị Xu chán nản  dẹp “nghề” cầm đồ luôn. Tổng kết lại vừa bị lừa, bị mất và vì đồng tiền mất gía so với gía vàng chị Xu mất toi mấy lạng vàng. Chị Xu xót xa tiền đã khóc và héo hon một thời gian.
Khi chị Xu đi thăm chồng trong trại cải tạo,.nghe chuyện  anh Xu đã an ủi chị:
-         Xưa nay em có biết nghề này đâu bị thất bại là phải rồi,. tại hoàn cảnh chứ nào tại em, chúng ta đã mất nhiều thứ qúy gía hơn tiền bạc, chỉ cầu mong chúng ta còn khỏe mạnh cho đến ngày đoàn tụ là anh vui rồi.
 Chị Bông đang nghĩ ngợi lan man  thương cho chị Xu thì thấy khách bước vào quán, là anh công an khu vực:
-         Cho ly cà phê đen chị Bông.
-         Có ngay đây anh Lu.
Chị Bông bưng ra một ly cà phê đen nóng và cái dĩa nhỏ có đựng điếu thuốc 555 với cái bật lửa gaz.. Đây là món quen của anh Lu.
Tủ thuốc lá của chị Bông là “hai khung trời cách biệt” tầng trên ưu tiên bày những gói thuốc ngoại, hình dáng bao bì đẹp đẽ sang trọng, thuốc 555, Dunhill, Kent là những mặt hàng phương tây từ Thái Lan  sang Campuchia và con buôn Việt Nam lại buôn lậu từ Campuchia về Việt Nam.
Thuốc lá ngoại người ta mua lẻ từng điếu , gặp khách sang hay cần thuốc để xã giao người ta mới mua cả gói.
Tầng dưới thì khiêm nhường với những gói thuốc lá nội địa Hoa Mai, Đà Lạt, Vàm Cỏ, Lao Động vỏ bao xấu xí.và khá hơn một chút là thuốc lá “có cán” đầu lọc Du Lịch..
Trước khi có các mặt hàng thuốc lá ngoại phương tây thì thuốc lá Samit của Thái Lan đã đủ sang so với các loại thuốc nội địa Việt Nam ..Người ta dùng thuốc Samít để xã giao nên có câu: “ Samít nói ít hiểu nhiều” và ngược lại “Hoa Mai nói hoài không hiểu”
Chị Bông cầu trời khấn Phật cho anh Lu uống cà phê và hút xong điếu thuốc ba số và rời khỏi qúan cho rồi, anh ngồi rề rề ai đó đi qua chào hỏi anh công an khu vực lại hào phóng lịch sự mời vào qúan, lại thêm ly cà phê, thêm điếu thuốc ba số thì chị Bông buồn biết mấy vì lần nào dù chỉ một mình anh hay khi anh mời bạn thì khi đứng dậy rời qúan anh Lu đều lịch sự nói:
-         Chị Bông ghi sổ giùm tôi
Và chẳng bao giờ anh Lu hỏi tới những món nợ mà anh đã bảo chị Bông ghi vào sổ cả. Lúc nào, với ai, anh công an khu vực cũng lịch sự tử tế thế, chị Bông cũng …lịch sự chẳng dám nhắc nhở, chẳng dám đòi.
Khi anh công an đi rồi thì bên kia đường trước cửa quán của chị có mấy chiếc xe GM dậu lại, những chiếc xe vướng đầy cát bụi đường xa.. Chị Bông mừng rỡ, bộ đội từ xa về  thế nào cũng có gạo…
Các bà hàng xóm đã tinh mắt không thua gì chị Bông, khi các anh bộ đội vừa ra khỏi xe, mặt mũi còn phờ phạc vì mệt thì các bà đã xúm lại hỏi:
-         Có gạo không các chú bộ đội ơi?
-         Mang gạo xuống xe cho chúng tôi xem nào…
Một anh bộ đội quát nhưng vẫn không quên chào hàng:
-         Các chị xê ra cho chúng tôi thở cái đã, gạo nàng Hương chợ Đào từ Cần Thơ đây.
Vài anh bộ đội cổ quấn chiếc khăn mặt bước vào quán chị Bông:
-         Chị cho chúng tôi rửa nhờ mặt mũi, bụi đường và nóng kinh qúa !!
Họ xuống nhà sau mở nước rửa ráy ào ào ầm ĩ xong lên nhà kêu bia và đĩa lạc rang vừa uống những ly bia lạnh vừa ngã giá các loại gạo với các bà..
Xóm cổng nhà máy đã quen thuộc với những chuyến xe bộ đội về đây công tác, lương thực, thực phẩm bị cấm chợ ngăn sông họ không bỏ lỡ thời cơ, “tranh thủ” mua gạo từ miền tây về thành phố bán chợ đen kiếm lời và…”tranh thủ”  rút cả xăng dầu trong xe ra bán chợ đen luôn.
Sau màn bán gạo thì tới màn bán xăng dầu, họ có những mối manh sẵn, các chị mua xăng lậu sẽ xách can xăng nặng 20 lít chạy te te nhanh như chớp kẻo công an thấy...Đúng là sức mạnh của đồng tiền.
Ấy thế mà họp tổ dân phố tới mục đi làm thủy lợi, bà nào, cô nào cũng than chân yếu tay mềm, ốm đau không làm được việc nặng.
Chị Bông mua được 30 ký gạo ngon, số gạo này chị sẽ để dành khi nào có “sự kiện” vui hay quan trọng sẽ nấu ăn, thường ngày thì ăn gạo tổ, gạo mua theo sổ lương thực, để được biết thế nào là nhặt thóc, nhặt sạn, nhặt bông cỏ và được ăn cả bột mì, mì sợi, khoai lang khoai mì cho biết mùi đời, mùi đời 1975.
Bán được hàng và mua được gạo chị Bông quên xót xa ly cà phê đen với điếu thuốc ba số đã biếu không anh công anh khu vực lúc nãy.
                   ***********************
Buổi chiều sau những giờ các nhà máy tan ca thì hàng quán chị Bông cũng chậm lại, là lúc chị Bông thảnh thơi mang sách truyện ra đọc
Chị mua được từ chợ trời đồ cũ cuốn sách dịch của Stefan Zweig gồm vài truyện vừa, không ngắn để gọi là truyện ngắn cũng không đù dài để là truyện dài, xuất bản trước 1975
Chị đã đọc dè chừng từng truyện một từ hôm qua đến giờ vì chị Bông muốn tìm lại những giây phút thú vị xưa với văn chương, muốn tận hưởng những cảm giác mộng mơ giữa cuộc sống đời thường nhiều lo toan và cay đắng.
Sau khi đọc truyện “24 giờ trong đời một người đàn bà”  chị đang đọc đến truyện kế tiếp“Lá thư của người đàn bà không quen” là câu chuyện mà chị yêu thích đã lấy của chị nhiều giọt nước mắt khi lần đầu tiên đọc nó năm 17 tuổi.
Những sách truyện của miền Bắc xã hội chủ nghĩa chị Bông chưa quen, đây là cuốn truyện hay và nổi tiếng chị Bông đã đọc từ  trước 1975 nên chị Bông cảm thấy bồi hồi sung sướng như người ta gặp lại cố nhân sau những phong ba của cuộc đời.
Chị thảnh thơi nằm ra chiếc ghế mấy đu đưa vừa đọc truyện vừa coi hàng. Bây giờ câu chuyện “Lá thư của người đàn bà không quen” lại làm lòng chị thổn thức lần nữa, chị mê mải đi theo câu chuyện, hết trang sách này lật đến trang sách khác. Gía mà lúc này có kẻ trộm đến bưng đi hũ đậu phộng rang, lấy đi chùm nem chua chắc chị Bông cũng không hay biết.
Đang ngậm ngùi rơi nước mắt vì những lời tình tha thiết đắm đuối của cô gái viết cho người đàn ông vô tình, người cô từng yêu thầm nhớ trộm mà anh ta không hề biết đến,  thì một tiếng nói thô lỗ vang lên :
-          Thịt heo, thịt heo đây…cô Bông ơi…
Chị Bông giật mình ra khỏi giấc mộng tình lãng mạn trở về thực tế. Chị ngỡ ngàng gấp sách lại, chùi vội đôi mắt ướt và nhìn bà Chuông với thúng thịt sỗ sàng vừa buông xuống mặt đất.
Bà Chuông vừa lấy chiếc nón lá vừa quạt mát và than thở:
-         Hôm nay ế qúa, đi rạc cả chân, mời mỏi cả miệng mà thịt vẫn còn.
Chị Bông tiếc rẻ cuốn truyện dở dang nên từ chối ngay:
-         Thôi tôi không mua đâu, giờ này nhà đã nấu cơm chiều rồi.
Bà Chuông nhìn cuốn sách như nhìn ra sự việc, trách móc:
-         Cô mải đọc truyện chứ gì, mọi lần cô có nói thế đâu mà đã vội vàng mở thúng ra xem hàng.. Thịt mang đến tận nhà mời chào thế này là bán gía rẻ từ lỗ vốn ít đến nhiều đấy cô ạ
Rồi bà Chuông xuống giọng nài nỉ:
-         Tôi vừa bán cho bà Na bên cạnh nhà cô một  ký thịt mông, còn một ký  ba rọi cô lấy nốt tôi cám ơn, rang mặn ăn được mấy ngày.
Chị Bông biết thế nhưng mua một lúc cả  ký  thịt thì tốn tiền qúa nên tần ngần:
-         Sao bác không mang thịt về rang mà ăn có hơn không, nhà bác đông con….
-         Ối giời, nói như cô thì ba ngày là hết vốn buôn bán, cả nhà tôi đói nhăn răng, thà bán rẻ lấy lại tiền có lỗ một ít còn hơn ăn hết.
Chị Bông hiểu hoàn cảnh nhà bà Chuông lắm, người chồng trước kia làm việc trong ngân hàng, sau 1975 bị đuổi việc ra ngoài làm những nghề không tên để kiếm sống rồi tìm cách đi vượt biên mấy lần đều thất bại và mất tiền bạc. Lần vượt biên sau cùng thì bị bắt vào tù ở mãi Cà Mau
Bà Chuông đi buôn bán thịt chợ đen, bà ra xa cảng miền Tây mua thịt heo về xóm bán, chắt chịu từng đồng vừa nuôi con vừa thỉnh thoảng đi thăm chồng.
Chị Bông thầm cám ơn xa cảng miền Tây và cám ơn các con buôn chợ đen đã mang gạo, thịt về thành phố không thôi người ta chết đói chết thèm vì thiếu thốn.chúng.
Chị Bông cầm  miếng thịt ba rọi lên ngắm nghía, cả ngày nay miếng thịt đã qua tay không biết bao nhiêu người, kẻ cầm lên người để xuống, bây giờ  miếng thịt vẫn nằm lì ăn vạ ở đây
Sợ chị Bông chê, bà Chuông dụ dỗ:
-         Cứ lấy thịt đi, tôi bán…gía sỉ, gía lỗ vốn và vài hôm sau trả tiền cũng được. Thịt bán rẻ qúa mà, thử ngày mai cô đi chợ liệu có chen lấn nổi với người ta để vào phản thịt mà mua vài ba lạng thịt tiêu chuẩn không chứ, chưa kể nó cân thiếu còn mắng khách hàng chan chát.
Chị Bông xuôi lòng:
-         Vâng, bác gói thịt cho tôi…
Chị Bông trả tiền cho bà Chuông, chốc nữa chị dọn hàng về và làm món thịt ba rọi rang mặn
Hôm nay ngày gì mà chị Bông hên thế, vừa mua được gạo ngon lại mua được thịt rẻ, chị cao hứng ngày mai  sẽ “phung phí” cho cả nhà được một bữa bồi dưỡng, một bữa ăn ngon mà không cần có lý do, cơm gạo thơm với thịt ba rọi rang mặn .
Không biết chị Bông …có duyên gì mà bà Tư Cam ngày nào cũng mời chị là người đầu tiên mua bánh bông lan mở hàng và bà Chuông thì vẫn chọn chị làm người khách cuối cùng, mời chị mua nốt chỗ thịt ế, bất kể là vài lạng hay một hai ký để kết thúc một ngày bán hàng mòn mỏi..
Bà Tư Cam là dân Nam kỳ, bà Chuông là Bắc kỳ 54 , cả hai không hẹn hò mà cùng chung ý tưởng, cùng chọn chị Bông làm người khách hàng tín nhiệm của mình.
Chị Bông cất cuốn truyện của Stefan Zweig vào tủ để dành ngày mai đọc tiếp, ngày mai thổn thức tiếp. Những miếng thịt ba rọi bây giờ bỗng lên ngôi làm chị thích thú hào hứng hơn cả thú văn chương.
Chị dọn dẹp hàng quán để về nhà trong, một ngôi nhà yên tĩnh trong xóm
Nơi bán hàng là căn nhà mặt tiền của cha mẹ không cách xa nhà trong xóm của chị là bao, chị Bông đã bán hàng giải khát như từ trước 1975 cha mẹ chị cũng bán hàng giải khát nơi đây
Một ngày chị Bông bán hàng đã qua đi, những chuyện lặt vặt thường ngày như hôm nay  từ bà Tư Cam bán bánh, bà Chuông bán thịt heo, chị Xu cầm đồ hay chị Bông bán cửa hàng cà phê  bia nước ngọt bình dân đến anh công an khu vực, anh bộ đội lái xe, những người của bên thua cuộc hay bên thắng cuộc đã là một xã hội nhỏ, một cảnh chợ đời 1975, sau những tháng, những năm đầu của miền Nam Việt Nam xụp đổ,
Nguyễn Thị Thanh Dương
( Dec. 01- 2015)
__._,_.___

Bài Xem Nhiều