We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 6 June 2016

Phút cuối trong tầm tay


“…Núi đồi lồng lộng, chiều mưa nhớ ai…” (Phút cuối – Lam Phương)

Âm nhạc ảnh hưởng đến cảm xúc của con người là chuyện thường, nhưng cảm xúc đến độ rơi nước mắt là chuyện hiếm. Suýt nữa tôi đã rơi vào tình huống khó coi này chỉ vì nghe một bản nhạc sến. Nhưng nghe nhạc đến rơi lệ vẫn là chuyện nhỏ. Nghe nhạc tới mức tự tử mới là chuyện lớn.

Năm 1932, anh chàng nhạc sĩ người Hungary, Rezso Seress, thất nghiệp, thất tình, ngồi bên cửa sổ căn hộ tồi tàn ở Paris, nhìn ra bầu trời u ám, cuộc tình u ám, đời người cũng u ám, đã sáng tác ra bản nhạc mang tên “Chủ nhật u ám” (Gloomy Sunday).

Chỉ một hai năm sau, bản nhạc này đã sinh chuyện. Báo chí thời đó ghi nhận, chỉ riêng thập niên 1930 đã có tới 19 vụ tự tử liên quan tới bản nhạc này. Tự tử đủ kiểu: bắn súng vào đầu, xả hơi gas, nhảy sông, nhảy lầu, treo cổ,… Người nào chết cũng kè kè bên mình bản nhạc “Gloomy Sunday”.

Một vụ tự tử “lãng mạn” khác xảy ra ở North London, một thiếu phụ để nguyên chồng đĩa vào máy, mở hết volume, chỉ chơi độc bản nhạc tử thần này, hết đĩa này, máy tự động thả đĩa khác xuống cho đến khi kim máy (stylus) bị kẹt, máy hát cà lăm,…. Ông hàng xóm bị tra tấn lỗ tai, hãi quá chạy qua thì thấy bà này nằm chết trên ghế vì uống thuốc ngủ quá liều.

Chưa hết, có người để lại lá thư tuyệt mạng, nguyện vọng xin cho nghe bản nhạc này trong tang lễ của họ.

Người ta nghe nhạc, nghe để chết, nghe tới chết, và chết rồi vẫn còn muốn nghe. Nhưng liệu âm nhạc có phải là thủ phạm gây ra cảm xúc quá mức cần thiết? Từ cảm xúc rồi đi tới quyết định tự kết liễu đời mình đâu có dễ như ăn cơm sườn như vậy.

Năm ngoái một người bạn gửi tặng một album nhạc không lời, tôi đã không đá động gì tới cho đến một tối ngồi nhâm nhi ly rượu vang một mình ở Đà Lạt. Uống rượu một mình là chuyện phiền toái. Mưa to gió lớn đi đâu? Uống rượu nghe nhạc, rồi thì luẩn quẩn chìm trong cái dĩ vãng thập cẩm, tự nhiên hồi tưởng những người đã đi qua đời mình, từ gần tới xa, từ nhạt đến đậm, thì bản nhạc đó chợt tới. Tôi chưa hề nghe bản nhạc này trước đó, tựa đề của nó là Phút cuối với tiếng kèn saxophone của Nguyễn Hùng.

Lúc nhìn đời xuyên qua ly rượu với những mức độ cảm xúc khác nhau, thì lý lẽ của con tim cũng khác. Khi thì thấy mình đúng, còn lỗi người ta. Khi thì mình vẫn nhất định đúng, mà lỗi người ta cũng chẳng sai. Tự mâu thuẫn luôn luôn là lý giải tuyệt vời cho số phận. Cảm xúc lại thường không đứng yên, nó đổi chiều liên tục trong suốt trạng thái đó, từ sai tới đúng, từ đúng tới sai, và rồi chẳng ai đúng ai sai, thôi thì coi như duyện phận chỉ có thế. Khi tiếng saxophone Phút cuối gào lên như rút cạn cả lòng, Một ý tưởng dũng cảm chợt nảy ra trong đầu tôi, ước gì tôi có thể tập hợp hết các cố nhân về đây để tôi chỉ hỏi họ một câu: “Ở cái phút cuối hồi đó mấy bà đã nghĩ gì?”. Trong trạng thái hoang tưởng, người ta thường nhầm lẫn giữa sự dũng cảm và liều lĩnh.

Các nhà phân tâm học có thể nhảy vào cuộc để phân tích trạng thái hoang tưởng này dưới nhiều góc độ lý thuyết (suông) khác nhau. Nhưng họ cũng nên biết, đôi khi những giây phút hoang tưởng lành mạnh đó biết đâu lại chẳng là nét chấm phá cho cuộc đời vốn quá nhiều tẻ nhạt.

Giai điệu của bản nhạc có thể làm người ta đê mê, chìm đắm trong thế giới âm thanh, nhưng giai điệu chưa đủ làm ai toi mạng cả. Giai điệu phải cộng hưởng với lời ca mới thành bão xoáy.

Khi Gloomy Sunday được thu đĩa với ca từ do Tito viết lại bằng tiếng Hung thì bi kịch bắt đầu. Nhiều vụ tự vẫn đã xảy ra, kể cả hôn thê của Tito cũng nhảy xuống sông Danube tự vẫn. Oan nghiệt chồng chất khi chính người yêu tác giả bản nhạc cũng uống thuốc ngủ tự vẫn luôn, bên cạnh là tờ giấy ghi tựa đề bản nhạc. Khi lời nhạc được chuyển qua tiếng Anh với giọng ca của Billie Holiday thì tự tử trở thành cao trào. Báo chí ghi nhận khoảng 100 vụ, nhỏ nhất là cô bé 14 tuổi, và lớn nhất là ông già 80.

Lời của bản nhạc tử thần này, dù là ở version hay ngôn ngữ nào cũng đều chứa đựng những từ nhạy cảm: vòng hoa, ngọn nến, quan tài, khăn liệm, kiếp sau,… Ca từ tiếng Anh của Sam Lewis còn tợn hơn nữa: “My heart and I have decided to end it all”. Đài BBC phát hoảng cấm phát thanh bản nhạc có lời này. Mãi đến năm 2002, lệnh này mới bãi bỏ.

Tự tử gắn liền với trạng thái tuyệt vọng hay tâm bệnh nào đó. Cùng hoàn cảnh nghiệt ngã, có người chịu được, có người không. Các loại hình nghệ thuật âm nhạc, điện ảnh, tiểu thuyết.. không phải là nguyên nhân. Báo chí thường có xu hướng giật gân, huyền thoại. Nhưng giả dụ hơn 100 vụ tử tự đó là có liên quan đến bản Gloomy Sunday thì âm nhạc ít nhiều đã làm giảm đi sức đề kháng của con người trước nghịch cảnh. Dù sao thì đề kháng cũng không phải là nguyên nhân chính.

Thực ra, cao trào tự tử lên cao cũng gần giống với lên đồng khóc tập thể ở những nơi tôn sùng lãnh tụ như huyền thoại. Ý định tự tử cảm thấy như được chia sẻ bởi những người đi trước, và thế là bắt chước nhau tự tử (copycat suicide). Cái chết càng lãng mạn càng đẹp, điều mà tâm lý học gọi là hiệu ứng Werther sẽ bùng phát (*).

Đại khủng hoảng kinh tế xảy ra vào thập niên 30 của thế kỷ trước đã đẩy cả triệu triệu người lâm vào nghịch cảnh, thì việc cho rằng bản Gloomy Sunday có dính líu ít nhiều tới hiệu ứng Werther là điều có thể hiểu được. Nhưng 36 năm sau ngày ra đời Gloomy Sunday, chính tác giả bản nhạc tử thần này, Rezso Seress lại nhảy lầu tự vận thì giải thích sao đây?

Tự vẫn hầu như không được đồng tình của xã hội. Họ thụ động khi bước vào cõi đời, nhưng chủ động khi rời bỏ nó. Rời bỏ mà chẳng biết sẽ đi về đâu, nhưng ít ra cũng thoát khỏi sự bế tắc cùng cực trước mắt. Những người có niềm tin tôn giáo tin rằng sau khi chết họ sẽ đi về cõi nào đó tùy thuộc vào giá trị mà họ tạo ra ở cuộc sống này, vì thế họ không chấp nhận tự tử.

Nhưng dù thế nào, những nhà xã hội học, bác sĩ tâm thần nhìn vấn nạn tự tử ở góc độ thực tế hơn. Họ trân trọng và chiến đấu vì mạng sống con người qua nghề nghiệp của mình.

Ở góc nhìn khác, vấn đề không phải là cuộc đời có đáng sống hay không, mà lỡ sống rồi thì phải sống cho tới luôn. Nỗi buồn sẽ thoáng qua. Cùng tắc bĩ, bĩ tắc thông. Trong khi chờ “thông” thì hãy cười. Cười to hay cười thầm cũng được, miễn là cười, còn hơn là nén chặt cái bế tắc ấy vào lòng, rồi đi tìm…phút cuối.

Rồi tôi cũng tìm ra ca từ của bản nhạc Phút cuối. Mới đây nghe lại bản nhạc này (có lời), cũng nhâm nhi ly rượu vang, cũng lơ mơ hoang tưởng, nhưng lần này tôi thực tế hơn, rạch ròi giữa sự dũng cảm và liều lĩnh.

Nhạc của Lam Phương đúng là sến thật như ông tự nhận, nhưng tôi thích, và trong bản Phút cuối của ông, tôi thích nhất câu sến rện này… núi đồi lồng lộng, chiều mưa nhớ ai?. Ai đã từng ở Đà Lạt vào những chiều mưa chắc sẽ thấm đòn, phải thế không những người Đà Lạt?

Vũ Thế Thành



(*) Hiệu ứng Werther để chỉ tình trạng bắt chước nhau tự tử (copycat suicide). Hiệu ứng được đặt theo tên của nhân vật Werther trong tiểu thuyết The Sorrows of Young Werther của Goethe. Trong truyện, anh chàng Werther đã tự vẫn bằng súng lục sau khi tình yêu bị khước từ. Nhiều thanh niên thời đó đã bắt chước Werther tự tử khi họ rơi và tình trạng tuyệt vọng.

41 năm Trước và Sau: Hoa Kỳ lại "đi đêm" với Hà Nội

Hoa Kỳ lại "đi đêm" với Hà Nội

  Những người làm chính trị hoặc theo dõi chính trị trong giai đoạn gần cuối của hiệp định Paris năm 1973 chắc không ai mà không biết đến hai chữ "đi đêm". Đi đêm là tiếng lóng mà Dinh Độc Lập thường dùng để ám chỉ sự mờ ám và khuất tất của hai nhân vật chủ chốt trong Hiệp định Paris: ông Henry Kissinger và Lê Đức Thọ.
Người ta kể rằng: trong giai đoạn cuối, trước và sau khi Hoa Kỳ ép ông Thiệu ký vào bản hiệp định nhượng bộ, người của bộ ngoại giao Hà Nội và ông Kissinger thường hay lui tới những nơi vũ trường, nhà hàng vào những đêm cuối tuần để tiệc tùng ăn chơi. Họ thương lượng, ngã giá trên sự đau khổ, mất mát, rồi bán đứng luôn người lính Việt Nam Cộng Hòa và người dân miền Nam Việt Nam sống trong giai đoạn đó; chưa kể hơn năm mươi tám ngàn quân lính Mỹ đã hy sinh. Rồi hơn hai năm sau thì Sài Gòn sụp đổ, là chuyện đương nhiên phải đến. Có thể, đến bây giờ chắc người Mỹ nhận ra rằng bỏ rơi đồng minh miền Nam Việt Nam và rút quân khỏi Philippines là một sai lầm lớn về chiến lược ở Đông Nam Á chăng?
Lần này ông tổng thống Mỹ lại... đi đêm bằng chuyên cơ đến Hà Nội, là có một sự sắp xếp và tính toán trước trong nhiều năm giữa hai bên. Hà Nội đón tiếp tổng thống Mỹ trong sự dè dặt và im lặng của tiếng đại bác thường dành cho các nguyên thủ quốc gia, nhất là một quốc gia có thể nói là đứng hàng đầu thế giới. Rồi với bộ mặt sáp cứng đờ và cặp mắt láo liên của Trần Đại Quang ra vẻ như lạnh nhạt, mất tự nhiên làm cho người ta có cảm tưởng khách chủ động đến hơn là nước chủ nhà mời. Người Mỹ không cần đòi hỏi nghi thức đón tiếp danh dự trong cách thức ngoại giao. Cái mà họ cần là quyền lợi chiến lược của họ to lớn hơn nhiều trong tương lai mà quốc gia họ hướng tới.
Qua cách thức ngoại giao, làm cho người ta biết thêm là có một sự thỏa thuận ngầm. Cộng sản Việt Nam sợ cộng sản Trung Quốc giống như thỏ sợ sói. Sợ đến nỗi phải tránh né, không dám gọi đúng tên! Và trong chuyến đi này, ông tổng thống Mỹ cũng bóng gió, nhưng không đích danh chỉ trích Trung Quốc. Không sợ sao được khi mà nếu có xung đột xảy ra giữa Trung Quốc với Việt Nam, đặt trường hợp có đầy đủ vũ khí tối tân trong tay, nhưng đối đầu với Trung Quốc trong lúc này thì cũng giống như lấy trứng chọi đá. Việt Nam sợ mất lòng Trung Quốc trong lúc thế cô, sức yếu; đồng thời muốn đi đêm với Mỹ để được nhìn nhận làm đồng minh và được che chở.
Còn một cái mà họ sợ nữa là sợ... nhục. Sợ nhục với người lính Quốc gia, người miền Nam; và đến bây giờ thì họ lại sợ nhục với cả một dân tộc mà họ đang lãnh đạo. Đối với cộng sản, việc trở cờ theo Mỹ là một nỗi nhục của lịch sử, là một cái nhục cho những thế hệ mai sau.
Lần này người Mỹ lại "đi đêm", bán đứng những người hoạt động về dân chủ, nhân quyền chỉ vì quyền lợi nước Mỹ. Tại sao phải gọi là "bán đứng". Bởi lẽ, trước đây chính quyền Mỹ lúc nào cũng đưa ra điều kiện về nhân quyền, đặt lên hàng đầu với nhà cầm quyền Việt Nam: muốn bãi bỏ cấm vận vũ khí thì trước tiên phải tôn trọng nhân quyền. Đùng một cái tổng thống Mỹ tuyên bố bãi bỏ cấm vận vũ khí, và có thể trong tương lai sẽ đi đến hợp tác quân sự giữa hai bên. Không phải đơn phương mà người mỹ dễ dàng quyết định như thế, mà là có sự cân nhắc, có thăm dò và có chuẩn bị ngầm từ nhiều năm qua.
Qua một thời gian dài, Hà Nội bị Trung Quốc đè đầu cỡi cổ, người Mỹ nắm rõ điều đó cho nên trong lúc này là đúng thời điểm, tổng thống Mỹ đến Việt Nam khơi dậy lòng yêu nước dân tộc là thượng sách và cũng để người cộng sản nhận ra đâu là bạn đâu là thù. Qua cách đón tiếp, chào đón của người dân Sài Gòn - Hà Nội thì đã trả lời rõ ràng với người Mỹ điều đó.
Điều kiện về nhân quyền hay giải quyết những tồn đọng trong chiến tranh của người Mỹ, hai bên đặt ra chỉ là một bước để hai nước cựu thù tiến lại gần nhau; để thăm dò và có thể đi thêm những bước tiếp theo; đến khi đạt được mục đích chung thì những cái đó trở thành thứ yếu. Nhưng chúng ta điều biết, khi mà cộng sản đạt được những gì trên bình diện ngoại giao có lợi, thì họ nuốt lời cam kết rất dễ dàng; đôi khi cũng thực thi những cam kết cầm chừng chỉ để qua mắt thiên hạ mà thôi.
Cái hơi hướng của việc "đi đêm" còn làm cho người ta dễ nhận ra thêm nữa là lời phát biểu đại khái của tổng thống Mỹ: "Việt Nam là một quốc gia độc lập, tự chủ và không một quốc gia nào có thể áp đặt ý chí của họ lên các bạn hoặc quyết định số phận của các bạn". Tức là phải hiểu ngầm rằng người Mỹ sẽ không "áp đặt ý chí của họ", không can thiệp vào chuyện nội bộ của mỗi quốc gia; số phận (về nhân quyền) của các bạn phải tự quyết định. Thế thì tại sao trước đây người Mỹ lại can thiệp, "áp đặt ý chí của họ" lên Hà Nội về nhân quyền mà giờ đây lại phớt lờ?! Lời lẽ, đại ý của ông tổng thống Mỹ trong câu nói này, các nhà ngoại giao Hà Nội cũng thường sử dụng để trả lời về nhân quyền khi có bất cứ một quốc gia nào muốn chỉ trích, chất vấn họ vi phạm. 
Hà Nội biết Mỹ cần Cam Ranh hơn là điều kiện về nhân quyền, cho nên đã có sự thỏa thuận ngầm giữa hai bên. Thế thì họ đàn áp những người đấu tranh cho nhân quyền thậm tệ mà bất cần đến liêm sỉ trước mặt người Mỹ và quốc tế đang hướng về Việt Nam theo dõi trong chuyến đi này của tổng thống Mỹ là chuyện đương nhiên. Và rồi đây Mỹ sẽ không còn can thiệp "áp đặt ý chí của họ" lên nhà cầm quyền Việt Nam nữa!
Việc thả cha Lý, một người tù nổi tiếng về vi phạm nhân quyền của Hà Nội là một màn kịch ngoại giao "rửa mặt", phô trương tính cách nhân đạo rẻ tiền, không thuyết phục được ai bởi vì cha Lý không còn bao lâu nữa cũng sẽ mãn hạn tù.
Người dân ai cũng biết, cộng sản Việt Nam hiện thời nợ như chúa chổm, thế thì tiền đâu cho họ mua vũ khí trang bị đủ để chống lại Trung Quốc?
Có thể Hà Nội chọn Mỹ làm đồng minh trong lúc này, sẽ đặt ra điều kiện với người Mỹ khác hơn ngày xưa Mỹ là đồng minh của Việt Nam Cộng Hòa.
Người cộng sản thường hay luận rằng: "Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền". Đúng, thế cho nên nếu có hợp tác với Mỹ thì cùng lắm cho mướn quân cảng Cam Ranh để đổi lấy vũ khí chứ không để "mất chủ quyền". Và người Mỹ cũng đã học được bài học lịch sử từ quá khứ: Can thiệp sâu, đổ quân vào miền Nam Việt Nam là một việc làm sai lầm, sa lầy về chính trị. Người Mỹ không chiếm lãnh thổ hay đất đai của bất cứ một quốc gia nào cả; khác với ông "bạn vàng" của Hà Nội xa lắm.
Nguyễn Dư

Lời của hai tấm hình

  Người dân Việt Nam ở hai thành phố lớn đứng đầy hai bên lề đường, dưới trời mưa lớn, vẫy tay chào đón tổng thống Hoa Kỳ đi ngang qua, với những tiếng reo hò đồng thanh "Obama! Obama!". Tên của ông tràn ngập cả trên vỉa hè, quán café, quán nhậu,… trong những ngày qua.
Hình ảnh đó quả thật là một sự bất ngờ, khó có ai có thể hình dung được người dân Việt Nam lại bày tỏ tình cảm nồng nhiệt như vậy đối với tổng thống Hoa Kỳ, một quốc gia thù địch như chế độ ra rả tuyên truyền cho tới ngày 30/04 vừa qua. Trong khi đó, chánh quyền Việt Nam dành cho quốc khách một sự đón tiếp với nghi thức tối thiểu phải có.
Về phía khách, ông Obama vẫn thản nhiên, hoàn toàn không để ý đến nghi lễ ngoại giao, vẫn thoải mái, chân tình, cười hồn nhiên, ngồi lê hàng quán, bắt tay mọi người đứng gần một cách thân thiện,… Trọng tâm thật sự của ông là muốn đo lường thái độ của người dân đối với chánh phủ Hoa Kỳ và dân huê kỳ. Có ý kiến cho tất cả đó là sự giàn cảnh tinh vi của Holywood nhưng thực tế là đã thu hút nhân tâm của mọi từng lớp người dân Việt Nam. Ngoại trừ nhà cầm quyền bởi theo biện chứng hể cái gì dân hoan nghênh thì họ đề cao cảnh giác. Do từ nguyên lý nhà cầm quyền cộng sản là không phải do dân và vì dân.
Obama đã đi rồi
Giới cầm quyền ở Hà Nội, cũng như đồng chí vàng của họ ở Bắc Kinh, khi tới thăm viếng Hoa Thịnh Đốn hay Paris, chẳng những không được kiều bào của họ đón tiếp nồng nhiệt, mà còn bị la ó, phản đối sự thăm viếng, tố cáo những hành động dã man của chế độ ở trong nước, làm cho họ nhiều lúc đã phải ra về bằng cửa hậu.
Trái lại, ông Obama, sau bốn ngày viếng thăm Việt Nam, ra về còn để lại trong lòng người Việt Nam, nhất là tuổi trẻ, những tình cảm trân quí.
"Hỏi vì sao dân tôi mến mộ ngài
Có phải vì ngài là tổng thống
Hay vì xứ ngài đôla chất đống
Không! Chúng tôi yêu vẻ đẹp tỏa từ ngài.

…Nụ cười tươi và những cái bắt tay... dệt lối chân tình
…Mà rung động hàng triệu con tim người Việt
Ngài bàn việc đại sự bằng lời chân thành tha thiết
Chẳng buộc tội ai... nhưng bao kẻ phải cúi đầu"…(Thơ của Thương Hoài )
Và người phụ nữ Phượng Trần bị sự chơn tình của khách đã làm cho trái tim của bà rung động sâu xa:
"…Em như đang trong mơ
Khi nghe Anh nói đến
Nam Quốc Sơn Hà ấy
Chỉ có Nam Ðế cư 
Anh muốn nói gì ư?
Dẹp dã tâm Khựa nhé!
Anh ơi lời Anh khẽ
Chạm đến triệu lòng dân!"… (Thơ của Phượng Trần)
Và cả chân dung của ông cũng được sinh viên hội họa tự ý thực hiện với lời ghi chú đầy thiết tha quí mến.
Obama và tấm hình ở Tòa Bạch Ốc
Ông Obama có gốc gác từ một gia đình da màu nghèo, cha mẹ xa nhau, thuở nhỏ từng sống ở Nam Dương, một xứ Đông Nam Á kém mở mang, tức ý muốn nói ông thuộc thành phần xã hội không lấy gì làm khá hơn đám cộng sản lãnh đạo ở Hà Nội nhưng ông lại hoàn toàn không cùng bản chất với họ. Nhờ hấp thụ một nền giáo dục nhân bản, khai phóng, tự do.
Chính giáo dục đào tạo con người. Nhìn tấm hình dưới đây để hiểu tại sao ông Obama qua Việt Nam lần đầu tiên mà được dân chúng dành cho ông những tình cảm quí trọng sâu xa như vậy. Thực tế này là phản ứng nghịch lý của những điều mà dân chúng tiếp thu được từ truyền thông chánh quyền. Cũng là kết quả trái chìu của sự giáo dục quần chúng về bạn và thù của chế độ. 
Ảnh: Pete Souza/The White House
Nhiều thập kỷ qua, Nhà Trắng treo rất nhiều ảnh chụp các đời tổng thống, hoặc làm việc hoặc vui chơi. Tấm mới thay chỗ tấm cũ. Nhưng tấm ảnh này chụp Tổng thống Barack Obama đã yên vị suốt 3 năm qua, không bị tháo xuống. 
Bé trai trong ảnh là Jacob Philadelphia, sống ở Columbia, bang Maryland. Khi chụp tấm ảnh này vào tháng 5 của ba năm trước, Jacob mới 5 tuổi. Lúc đó, cha cậu là ông Carlton Philadelphia, một cựu lính thủy, rời Nhà Trắng sau hai năm làm việc trong Hội đồng An ninh quốc gia. Như nhiều nhân viên khác, ông Philadelphia cũng đề nghị tổng thống chụp ảnh cùng gia đình ông trước khi ra đi.
Ảnh chụp xong, gia đình Philadelphia sắp giã từ thì ông Carlton nói với ông Obama rằng hai con trai của ông có hai câu hỏi tổng thống, mỗi đứa một câu. 
Jacob nói trước: “Cháu muốn biết tóc cháu có giống tóc tổng thống không?”. Cậu bé nói nhỏ đến nỗi ông Obama phải bảo nhắc lại. Sau khi nghe rõ, ông Obama trả lời: “Sao cháu không sờ thử đi, xem có giống tóc cháu không”? Rồi Obama hạ thấp đầu ngang tầm với của Jacob. Cậu bé ngần ngừ, tổng thống khuyến khích: “Sờ đi, anh bạn!”.
“Cháu thấy sao? – ông Obama hỏi. 
- “Dạ, cũng giống nhau”, Jacob đáp lời.
Cậu bé Isaac, nay đã 11 tuổi, thì hỏi ông Obama tại sao lại loại trừ chiến đấu cơ F-22. Ông Obama cho biết vì quá tốn kém.
Theo thông lệ có từ thời Tổng thống Gerald R. Ford, mỗi tuần các phóng viên ảnh Nhà Trắng lại chọn ảnh ấn tượng để trình bày. Tuần đó, tấm ảnh của Jacob là số một. (Theo Bằng Vy, The New York Times) 
Đỗ Mười và nhà Toán học Ngô Bảo Châu
Đỗ Mười, cựu Bộ trưởng, cựu Thủ tướng và cựu Tổng Bí thư đảng cộng sản Hà Nội, khi tiếp thanh niên Ngô Bảo Châu vừa kết thúc Trung học với thành tích học tập xuất sắc, thể hiện rõ thái độ căm thù những người có học và học giỏi. Theo quan điểm của ông thì chính cách mạnh mới nâng cao con người chớ không gì khác hơn hết cả. Quan điểm này phát xuất từ bản thân của ông và từ quá trình học tập giáo lý của người cách mạng.
Đỗ Mười tên thiệt là Nguyễn Duy Cống, người làng Đông Phủ, gọi quen thuộc là làng Nhót, Thanh Trì, Hà Đông. Giáo sư Đại Học Khoa học Sài Gòn, ông Nguyễn Trọng Ba, nhỏ hơn Nguyễn Duy Cống vài tuổi, cùng làng nên quen biết Nguyễn Cống và kể chuyện lại (Bảo Giang). Cụ Tiên chỉ là thân sanh của Giáo sư Ba, có mở lớp chống mù chữ miễn phí dành cho trẻ trong làng. Thù lao thầy giáo do sự đóng góp vì lòng hảo tâm của viên chức và những nhà có tiền trong làng. Nhờ đó Nguyễn Cống tới học được ít lâu.
Người được làng mời dạy học là thầy giáo Dư. Vốn đã được bổ làm giáo học, Dư hoạt động cho Việt Minh, bị bắt, sau hơn một năm tù, được tha và trở về làng Nhót, không có công ăn việc làm.
Dư được đề nghị lãnh dạy trẻ con nhà nghèo, với thù lao khiêm tốn của dân làng đóng góp nhưng với điều kiện không được hoạt động và tuyên truyền cho Việt Minh nữa.
Vài năm sau, Cống đã biết đọc, biết viết và có thể làm được những bài toán cộng, toán trừ đơn giản. Khi ấy, mẹ Cống ngửa mặt lên trời: trước là cám ơn Trời Phật, sau là cám ơn các viên chức làng đã cho bà một niềm vui ngoài sự ước mong của bà.
Cũng từ dạo ấy, bà không bao giờ ngớt lời khuyên Cống phải biết ơn, phải giữ lễ nghĩa đối với những người đã ban ơn cho gia đình nó. Và bà cũng tính đến việc, vì Cống đã biết làm toán cộng toán trừ, sẽ mua chịu phần thịt thặng dư và lòng lợn của bà phó Hồi để mẹ con bà gánh đi bán, thay vì tiếp tục gánh thuê bán mướn như trước giờ.
Phần Cống, từ ngày được đi học, nó vẫn không thấy thiết tha việc học. Tuy nhiên, nó cảm thấy cũng dễ chịu phần nào vì được ra khỏi nhà trong những giờ giấc nhất định mà mẹ không thể la mắng nó. Hơn nữa, nó nhờ những con số cộng trừ giúp mẹ trong việc bán thịt như một lá bùa cho phép nó tự do rong chơi với bè bạn, và mặc tình đi sớm, về trễ.
Riêng thầy giáo Dư, tuy đã có lời cam kết với viên chức trong làng là sẽ chuyên tâm dạy dỗ cho lũ trẻ thoát nạn mù chữ, nhưng cứ mỗi khi nhìn thấy thầy Thông, thầy Phán hoặc các viên chức và những nhà phú hộ trong làng là uất khí hận thù giai cấp vụt bốc lên nghẹn cổ. Do đó, thay vì dạy cho trẻ chữ nghĩa, lễ phép, Dư lại lén tuyên truyền Việt Minh cho chúng. Đám trẻ được Dư sớm nhồi sọ lòng thù hận, dạy dùng mã tấu để giành lấy phần cơm ăn áo mặc từ những người có chút ăn, chút để ngay trong làng.
Học được những điều mới mẻ này, Cống như mở bừng con mắt. Trí nó linh động nghĩ đến ngày đi làm Việt Minh, với mã tấu trong tay. Quả thật, chỉ ít lâu sau đó, nó liền hăng hái đứng dậy, đi theo bọn thằng Chân, thằng Khắc, cùng bỏ học, đi làm cách mạng dưới sự dìu dắt của thầy Dư.
Trong khi ấy, bà đậu Tiến, tức mẹ của Cống, lại không thể hiểu và cũng không bao giờ biết cậu con trai của mình đang nuôi dưỡng giấc mơ đi làm cách mạng. Bà nghĩ đến việc phải cưới vợ cho Cống. Bà chọn được một người con gái trong làng, báo tin mừng cho con. Nghe qua, Cống chẳng vui và cũng chẳng buồn. Nó chỉ muốn bỏ nhà đi theo Việt Minh. Nhưng chưa đi được nên đành tạm nghe lời khuyên của mẹ. Cưới vợ xong, Nguyễn Cống giữ lấy một phản thịt heo trong chợ cho mẹ. Nhơn đi tìm heo mua đem về làm thịt, Cống lãnh luôn thiến heo. Thiến con nào chết, Cống mua đem về làm thịt cho mẹ bán. Lúc nào không có heo, Cống đi lãnh sửa ống khóa và cửa nhà cho người trong làng. Giá cả do Cống đề nghị. Nhưng sau này, khi thật sự cán bộ đảng viên, Cống thường lấy bản thân minh chứng giới lao động bị tư bản, cường hào bốc lột!
Một hôm, vợ Cống hớt hải để đôi quang gánh xuống trước cửa, chạy bay vào trong nhà báo tin cho bà đậu Tiến:
- U ơi! thầy thông Ký chết rồi! Tất cả mọi người ở chợ đều chuyền tai, bảo nhau rằng chồng của con và đám thằng Khắc, thằng Chân, đã giết ông ấy! Anh Cống đã bỏ đi từ nửa đêm... Lợn thì đêm qua không mổ.
Nhờ thành tích giết “cường hào” trong làng, Cống được sớm kết nạp vào đảng. Và đời Cống cũng phất lên từ đây, dưới tên Đỗ Mười.
Hai tấm hình, mỗi tấm có lời nói của nó. Người đọc hiểu chắc không khác nhau lắm.

Nguyễn thị Cỏ May

Bài Xem Nhiều