We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 21 June 2016

Đức Tổng Giuse Ngô Quang Kiệt kể chuyện Vũng Áng

World oceans day
GNsP – “Một cảnh chết chóc”, là nhận định của Đức Tổng Giuse Ngô Quang Kiệt khi Ngài đến thăm Bà con Giáo dân Giáo xứ Đông Yên thuộc xã Kỳ Lợi, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, một trong những nơi chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của vụ thảm họa ô nhiễm môi trường biển vào tháng 04.2016 vừa qua.
Đức Tổng Giuse đến thăm Bà con Giáo dân và Ngài trao tặng quà cho bà con những món quà Ngài đã được tặng trong dịp mừng 25 năm Linh mục của Ngài.
Sau đây xin mời quý vị lắng nghe những tâm tư, trăn trở của Đức Tổng Giuse sau chuyến viếng thăm Bà con ngư dân vùng Vũng Áng, Hà Tĩnh.
Huyền Trang, GNsP: Con kính chào Đức Tổng Giuse Ngô Quang Kiệt. Kính thưa Đức Tổng, sức khỏe của Ngài dạo này thế nào ạ? Và, công việc chính của Đức Tổng ở Đan viện là gì ạ?
Đức Tổng Giuse Ngô Quang Kiệt: Chúa ban cho sức khỏe dạo này cũng khá. Công việc chính là nghỉ (Ngài cười), những giờ khác có thể đi làm vườn, giảng tĩnh tâm.
HuyềnTrang, GNsP: Kính thưa Đức Tổng Giuse, con được tin vào ngày 16.06.2016, phái đoàn của Đức Tổng đến thăm bà con ngư dân ở Vũng Áng, xin Đức Tổng có thể kể lại cho chúng con nghe về chuyến viếng thăm này ạ?
Đức Tổng Giuse Ngô Quang Kiệt: Từ lâu, tôi đã được tiếp xúc với bà con Giáo dân thuộc Giáo xứ Đông Yên ở Vũng Áng. Bà con bị giải tỏa đất để xây dựng công ty Formosa thì Giáo dân rất đau khổ và bức xúc, họ đã đi khiếu kiện ở các cấp lãnh đạo kể cả trung ương nhưng chưa có cấp thẩm quyền nào giải quyết thỏa đáng cho họ. Tôi rất là thương họ và không biết làm sao để giúp đỡ.
Tuy nhiên, trong vụ biển bị ô nhiễm, cá chết, tôi càng đau xót hơn, cho nên trong ngày Ngân khánh vừa qua có người tặng quà cho tôi thì tôi để dành tất cả những quà tặng đó cho người Vũng Áng. Hôm chuyến đi đến Vũng Áng, tôi đã đến thăm họ vì họ đã đến viếng thăm tôi nhiều lần. Tôi cũng đến tận nơi để nhìn thấy những cảnh đau khổ của những người bị ảnh hưởng trực tiếp của Formosa và cũng gửi cho họ ít quà như là dịp Lễ mừng 25 năm Linh mục của tôi.
HuyềnTrang, GNsP: Kính thưa Đức Tổng Giuse, khi Ngài đến Giáo xứ Đông Yên thì Ngài nhận xét như thế nào về tình cảnh của bà con Giáo dân ạ? Và, Đức Tổng nhận định như thế nào về thảm họa môi trường biển lần này ạ?
Đức Tổng Giuse Ngô Quang Kiệt: Tình cảnh của bà con Giáo dân quá đau khổ, xót quê hương, kể như họ rất cô đơn trên lối tối tăm thì họ bày tỏ một cảm xúc rất mãnh liệt cũng là một tình cảm quý mến. Đồng thời nói lên được một tình cảm họ được an ủi khi có người đến thăm bởi vì họ cảm thấy tủi, bị bỏ rơi, bị hắt hủi. Cho nên họ đã dành cho tôi một sự đón tiếp cảm động nhưng rất chân tình và tôi cũng hết sức cảm động khi gặp gỡ bà con Giáo dân.
Khi chứng kiến tất cả đời sống của họ cũng như đi thăm tất cả các bờ biển, tôi cảm thấy đau xót, có thể nói là một cảnh chết chóc. Tôi vào một nhà nghỉ khá lớn của Hà Tĩnh thấy khách vắng hoe, chả thấy khách đâu cả. Rồi đi ra bãi biển thấy thuyền nằm chất đống ở đó, có những con thuyền chỉ còn đậy những tấm vải y hệt như những thân thể bị liệt thì đúng là một cảnh chết chóc. Ở bờ biển không có một sinh vật nào cả, trên bãi cát không có một con dã tràng nào. Tôi thấy ở các bãi biển đều có những con vật nhỏ li ti như con dã tràng, con cua, con ốc thì bãi biển này hoàn toàn chết hết rồi, không còn một tí gì là sự sống nữa. Khi chúng tôi xuống biển, tất cả mọi người đều hết sức đề phòng để cho nước biển không được dính vào chân. Họ kéo thuyền thật cao trên bãi cát, xong rồi thì có thể bước lên bờ để chân mình khó có thể dính nước biển… Cả một sự chết chóc như vậy.
Trong làng trong xóm sự chết chóc đang dần mòn đi tại vì những người dân đánh cá đã ba tháng nay không ra biển thì chả còn thu nhập gì cả. Thành ra chúng tôi thấy sự chết dần mòn. Người ngư dân chết trực tiếp, cá chết thì người đánh cá cũng chết, những người làm nghề liên quan đến nghề cá như người bán xăng cho những tàu đánh cá cũng chết, những người làm chài lưới cũng chết, những người buôn bán hải sản cũng chết, những người chế biến hải sản cũng chết, ngành du lịch cũng chết, bao nhiêu sự chết kéo theo. Người ta đoán là có ít nhất là 5 triệu người bị ảnh hưởng bởi vụ cá chết này. Hết sức là đau xót, xung quanh đó hết sức là hoang tàn, không còn sức sống, người ta ai cũng mệt mỏi, rã rời và buồn chán.
H1
Đức tổng Giuse Ngô Quang Kiệt đến thăm bà con giáo dân giáo xứ Đông Yên, Vũng Áng, Hà Tĩnh – một trong những nơi chịu sự thảm họa ô nhiễm môi trường biển nặng nề nhất vào tháng 4.2016 vừa qua.
H1
Bà con giáo dân Đông Yên bật khóc khi được Đức tổng Giuse đến thăm sau những ngày tháng bị bỏ rơi, bị hắt hủi.
H1
Đức tổng Giuse, cha Quản xứ giáo xứ Đông Yên và bà con giáo dân dâng lên lời cầu nguyện cho người dân VN được sống trong cảnh thái bình.
H1
Giáo xứ Đông Yên hoang tàn, đổ nát và chết chóc.
H1
Thảm cảnh ngư dân mất nghiệp.
HuyềnTrang, GNsP: Dạ vâng, kính thưa Đức Tổng Giuse, Ngài có lời khuyên nào cho những người có trách nhiệm cũng như đồng bào VN đặc biệt là bà con ngư dân ạ?
Đức Tổng Giuse Ngô Quang Kiệt: Tôi thấy cái chết của biển cũng như của cá nó chỉ là cái ngọn vấn đề, cái chính gây ra cái chết này là do cái chết của tâm hồn con người. Tôi thấy có ít nhất có bốn cái chết: cái chết của lương tâm, cái chết của luân lý, cái chết của lý trí, cái chết của chính trị.
Lương tâm là ơn Chúa ban cho người ta để người ta phân biệt được điều gì tốt điều gì xấu, khi làm điều tốt thì lương tâm thanh thản, an ủi còn khi làm điều xấu lương tâm cắn rứt. Thế thì khi lương tâm chết rồi nó không còn cắn rứt nữa. Cho nên khi làm điều xấu mà nó không còn cắn rứt nữa thì lương tâm đó chết rồi.
Luân lý là những chuẩn mực, quy luật để hành xử cho đúng đạo lý. Khi cư xử không còn theo đạo lý nữa, không còn biết điều xấu nữa thì luân lý đó chết rồi, nó không bị chi phối bởi những chuẩn mực đạo đức, không còn quy tắc đạo lý nữa.
Lý trí để giúp người ta biết phân định những giá trị cao thấp khác nhau như Đức Thánh Cha nói rằng: “thời gian lớn hơn không gian, toàn phần lớn hơn một phần”. Bây giờ người ta chọn một phần mà quên đi toàn phần thì cái đó là cái chết của lý trí không còn phân định được và chọn các giá trị thấp mà bỏ các giá trị cao.
Chính trị chính là nghệ thuật tổ chức sắp xếp để cho mọi người được hạnh phúc. Cho nên nó đã chết trong lòng con người chính là nguyên nhân làm cho biển chết, cá chết.
Thế thì bây giờ chúng ta phải làm sao cho những giá trị đó sống lại, phải làm sao cho con người sống lại cái lương tâm, cái lý trí, cái luân lý, cái chính trị thì mới có thể cứu sống được tình thế này. Có những người biết mình bị bệnh thì họ đi chữa bệnh và được khỏi bệnh, nhưng có những người bệnh mà không biết mình bệnh thì chúng ta phải xác định bệnh, làm sao cho người ta tỉnh táo để người ta sống thì mới có thể cứu được dân tộc, đất nước này. Toàn dân phải ý thức được điều đó để biết quyền được sống của mình. Chúng ta lấy bổn phận để phục vụ dân chúng như thế nào, để đem lại sự sống chứ không phải sự chết cho người khác được.
Huyền Trang, GNsP: Dạ thưa con xin chân thành cám ơn Đức Tổng Giuse. Chúng con xin kính chúc sức khỏe Đức Tổng và xin Đức Tổng thêm lời cầu nguyện cho người dân chúng con ạ.
Huyền Trang, GNsP

THẦY TÔI, BA TÔI




GS. Nguyễn Đình Hàm ( 1912 - 1998)

Trong ba năm làm học trò Quốc Học thì hết hai năm tôi ở dưới trào của thầy Hiệu trưởng Nguyễn Đình Hàm.

Tôi học ban B (Toán) mà ông lại dạy toán ban C (Sinh ngữ) nên không được thụ giáo cái môn sở trường vốn làm cho ông nổi tiếng là thầy dạy hay. Vậy là mất đi một cơ hội gần gũi. Tôi cũng không có khiếu văn nghệ hay hoạt động này nọ để có dịp thường xuyên gặp mặt, để được thân mật gọi ông là Papa như một số các bạn có tài và mau miệng khác. Chả là ông có hai cô con gái lớn đang học tại đó, Minh Cầm, Minh Lệ. Gọi Papa, vừa tỏ ra thân mật vừa gián tiếp nịnh ông là người đạo đức, hiền hậu cũng được, mà muốn nhắm một trong hai cô cũng không ai bắt bẻ gì. Anh nào sáng tác ra cách gọi ấy thật đáng mặt cao thủ. Lần duy nhất mà tôi được làm việc hai ngày liền gần mặt trời là bỗng không được kêu cùng Phan H. T. lên phòng Hiệu trưởng để giúp . . . gói phần thưởng !

Phải chờ hai năm sau, khi theo học Đại Học Sư Phạm Huế tôi mới có dịp được gọi ông bằng Thầy với đầy đủ ý nghĩa thâm thúy và trân trọng của nó khi ông giảng dạy môn Luân lý chức nghiệp. Và đó cũng là cơ hội thiên định giúp tôi có thể chuyển “gamme” một cách ngon lành từ Thầy sang Ba khi cô thứ hai trở thành “mẹ các cháu” sau này.

Trong dịp tiễn đưa ba tôi rời chức vụ Hiệu trưởng Quốc Học để trở về lại bên hành chánh nhận nhiệm vụ mới, toàn thể giáo sư và nhân viên trường Quốc Học đã có nhã ý tặng một bức hoành phi với bốn chữ “Thiện Chính Thiện Giáo” (Quan tốt, Thầy hay) và đôi liễn:

Chính giáo lưỡng đồ, khứ lộ lai lộ,
Sư sinh nhất niệm, tích xuân kim xuân

Tác giả bức hoành bốn chữ và đôi liễn không ai khác hơn là Cha Thích. Khi cuốn băng ghi âm buổi tiệc được thầy Chương dạy Anh văn mở ra, nghe ông cụ đọc hai câu liễn, tụi trẻ dốt chữ Nho chúng tôi đã cười ồ lên, bình luận ngay “ Ui chao, mần chi mà cha lộ tới lộ lui hoài rứa (?)” Mãi sau này, khi đã trở thành rể con trong nhà, qua những lần chuyện trò tâm sự, hiểu được quãng đời đã đi qua của ba tôi, tôi càng thêm phục Cha Thích là bậc túc Nho. Trong võn vẹn có hai mươi chữ mà gói đủ cuộc đời một người, từ khả năng, đức độ cho đến những thay đổi thăng trầm trong cái không biến dịch của nghĩa tình qua năm tháng.

Ngày xưa, các nhà Nho thường lấy câu “Tiến vi quan, thối vi sư” làm phương châm ứng xử trong dòng đời trôi nổi; bất cứ trong hoàn cảnh nào, dù thịnh hay suy cũng đều có cách cống hiến khả năng cho xã hội.

Ba tôi thuộc thế hệ tiếng Tây giỏi hơn tiếng Ta nhưng xem ra cuộc đời ông không khác mấy nhà Nho xưa. Có thể trong số các anh các chị đã từng học với ông hẳn có người không thể ngờ rằng ông thầy của mình trông hiền hậu nho nhã, cốt cách nhà giáo đó lại xuất thân là một nhà hành chánh, đã từng đeo bài ngà, mặc áo gấm và được dân vòng tay “bẩm quan”, và cho tới lúc nghỉ hưu cũng vẫn dưới danh nghĩa hành chánh. Trước khi trở thành Giáo sư Nguyễn Đình Hàm, Thầy Hàm, ông đã từng làm Tri phủ Quảng Trạch, Thương tá các tỉnh Lâm Đồng, Bình Thuận, Ninh Thuận v.v. Toàn là những danh xưng dễ gặp trong tiểu thuyết Tự Lực Văn Đoàn nhưng rất xa lạ với tình cảm tuổi học trò.

Xuất thân từ hành chánh, đã từng ông nọ ông kia, rồi chán nghề hành chánh nên xin biệt phái qua giáo dục và trở thành một nhà giáo rất thành công, được trò yêu bạn mến. Cứ tưởng cuộc đời yên vui như ý, nhưng rồi lại ở vào thế chẳng dặng đừng, phải tuân lệnh trên mà trở về con đường hành chánh trước kia với rất nhiều lưu luyến. Đó là tất cả những gì Cha Thích đã gói ghém trong câu “Chính giáo lưỡng đồ, khứ lộ lai lộ” (Hành chánh và giáo dục, hai đường, trở qua trở lại). Còn câu thứ hai, “Sư sinh nhất niệm, tích xuân kim xuân” là hàm ý rằng tình thầy trò xuân trước xuân này, dù thời gian qua cũng không bao giờ thay đổi.

Sau năm 1975, ba tôi có một tài sản tinh thần mà ông rất trân trọng, đi đâu cũng không rời, đó là tập lưu bút của bạn bè và học sinh cũ (tiếc thay, tập lưu bút này đã bị mất cắp theo túi hành lý trên một chuyến tàu Huế-Đà Nẵng). Có lần được đọc trong đó, tôi thấy Tiến sĩ Dương Thiệu Tống, cựu giáo sư Anh văn của trường Quốc Học, có ghi một nhận xét rằng ba tôi là “nhà sư phạm bẩm sinh”. Ý thầy muốn nói rằng tuy không được đào tạo một cách chính qui để làm nhà giáo nhưng ba tôi vẫn hội đủ khả năng và đức độ của một nhà giáo và là nhà giáo thành công. Thầy Tống đỗ Tiến sĩ giáo dục; nhận xét của thầy hẳn phải có căn cứ. Riêng tôi, chỉ nhìn cách ba tôi giảng bài cho mấy đứa em trong nhà cũng cảm nhận được điều đó: điềm đạm, kiên trì dẫn dắt đối tượng đi cho tới đích là hiểu được bài giảng mới thôi . . . Sau khi rời giáo dục, ông đã đúc kết kinh nghiệm giảng dạy để viết và xuất bản bộ sách Toán trung học, trong đó cuốn Phương pháp giải Toán Hình học phẳng lớp Đệ Tam (lớp 10) rất được nhiều người, thầy cũng như trò, sử dụng, vì được trình bày một cách giản dị dễ hiểu. Phải chi cuốn sách này ông ra sớm sớm, hồi tôi còn học Đệ Tam thi đở khổ cho tôi biết mấy. Tiếng học ban B nhưng tôi lại không ưa hình học phẳng và lại càng không ưa cách trình bày của Brachet. Chỉ khoái Lebossé (những tác giả viết sách giáo khoa Tóan thời đó) .

Hồi đi học, ba tôi học rất giỏi, trong đó xuất sắc môn Toán. Có nhiều người học rất giỏi nhưng dạy không thành công vì không nắm được cách truyền đạt. Sư phạm là nghệ thuật truyền đạt kiến thức. Ba tôi may mắn được cả hai bề. Tôi vào làm rể không phải nhờ giỏi toán. Trái lại, môn này tôi dở ẹc, còn thua cả bà xã (thua gà nòi cũng không xấu gì ). Nếu lùi lại mấy thế kỷ trước, ông đem môn toán ra kén rể, chắc chắn tôi hết đường qua cầu. Chi không biết chứ tính nhẩm thì ông làm nhanh lắm. Có lần tôi thấy ông cầm cây bút chì duyệt lại một bản kê tài chánh do nhân viên trình lên. Tay ông đưa theo hàng ngang một đường từ trái sang phải, miệng lẩm nhẩm tính toán, và tìm ra ngay chỗ sai ở cột cuối cùng, chả cần đến máy tính mà cũng chả cần đến cách đặt phép tính. Dĩ nhiên, thằng rể lặng lẽ phục lăn. Nghe tôi “ca” ông ngoại các cháu như thế, không khỏi có bạn mỉm cười, nhủ thầm: dân Việt mình, nhất là các bà bán hàng ở chợ, nhiều bà không biết nhất một, vậy mà tính nhẩm nhanh như máy, đâu ra đấy. Vậy có chi lạ. Vâng, tôi cũng biết thế, nhưng điều tôi muốn nói là bên cạnh cái giỏi toán đó, ông còn ứng dụng tinh thần toán học trong đời sống, trong công việc. Không biết giáo sư toán nào trong quãng đời trung học của tôi có lần nói trong lớp một câu chí lý làm tôi nhớ mãi: “Học toán giỏi là điều rất tốt. Nhưng tốt hơn nữa nếu các anh biết ứng dụng tinh thần toán học trong cuộc sống. Đó là đường lối suy nghĩ, diễn đạt và tổ chức mọi việc một cách có mạch lạc, qui củ, sáng sủa và hợp lý. Học toán là để trước hết học tinh thần đó.” Ba tôi không phải là tác giả câu này nhưng rõ ràng trong quá trình làm việc tôi thấy ông đã ứng dụng nó một cách linh hoạt, bẩm sinh. Hơn một lần ông nói với tôi : “ Việc tay chân thì ba chịu thua vì tay chân ba vụng về, lúng túng. Ba chỉ thích hợp với những công việc đòi hỏi sự sắp xếp tổ chức, kế hoạch . . .”. Những người đã từng làm việc gần gũi với ông, cả bên hành chánh cũng như giáo dục, đều có thể xác nhận khả năng đó.

Tôi nghiệm ra một điều ở ba tôi là trong đời ông có hai nguồn sống khác nhau. Đó là việc ba tôi coi cái nghề hành chánh-tài chánh như phương tiện vật chất nuôi sống bản thân và gia đình; còn giáo dục mới là nguồn hứng khởi đích thực trong đời, đặc biệt là những năm tháng ở Quốc Học, nơi ông đã mấy năm dùi mài kinh sử rồi sau đó trở lại làm thầy. Trong bài ca Én Kiên Phong làm năm bảy mươi chín tuổi, tự thuật về cuộc đời mình, ba tôi đã có mấy câu tự phán nói rõ ý đó :

Én bay non tám mươi mùa,
Mấy phen “chính, giáo” xa đưa tiếng lành
Ung dung nhắc một đồng cân,
Chữ “quan” kia chỉ nặng phần hư thanh
Chữ “Thầy” mới thật vinh danh,
Nét vàng còn đó, hiển minh trọn đời.
Dù cho vật đổi sao dời,
Nơi quê hương lẫn phương trời xa xăm,
Nghĩa tình sư đệ cao thâm,
Với thời gian , vẫn đầm đầm mạch xuân.

Do nguồn hứng khởi đó nên những gì liên quan tới Quốc Học thường ghi lại những kỷ niệm đậm nét hơn những biến cố khác trong đời và thường được ba tôi nhắc đến một cách hào hứng mà êm đềm. Chẳng hạn Đại lễ Kỷ niệm Đệ lục thập chu niên Quốc Học (26-12-1956) và Trại Tết Thiên An (1958) mà ba tôi đã làm đầu tàu tổ chức. Vẫn biết rằng lễ Kỷ niệm 60 năm Quốc Học đó được tổ chức trọng thể, linh đình với sự hỗ trợ hết mình của chính quyền là vì đang buổi thịnh thời của chế độ, là vì vị Chưởng giáo (Hiệu trưởng) đầu tiên của trường, cụ Ngô Đình Khả, là thân sinh của Tổng thống đương thời (cố Tổng thống Ngô Đình Diệm); vinh danh cụ Khả là vinh danh chế độ. Điều đáng nói là người đứng mũi chịu sào ở trong cái thế “quan trên ngắm xuống, người ta trông vào” nên phải biết cách tổ chức, sắp xếp, điều hợp thế nào ngõ hầu mọi nguồn nhân tài vật lực đóng góp đều được vận dụng và phát huy khả năng tối đa để đạt hiệu quả như ý.

Ngày nay, mặc dầu đã ở vào cái tuổi có cháu gọi bằng ông, nhưng mỗi lần nhớ đến lễ Kỷ niệm đó, tôi vẫn bồi hồi nghe lại đâu đây cái cảm tưởng háo hức thích thú khi xem phòng triển lãm trên lầu với những hiện vật văn hóa quí hiếm, và cái cảm xúc hào hứng, hãnh diện, của đêm văn nghệ với vở kịch nòng cốt “Giảng sách dưới trăng” diễn ở sân khấu nhà chơi. Xem lại những hình ảnh thời đó trong tập album của ba tôi, thấy toàn là những gương mặt trẻ măng, búng ra chất học trò, rất đúng nghĩa “bạch diện thư sinh”, vậy mà sao làm văn nghệ tài tình thế ? Rất nhà nghề, rất nghệ thuật. Sau này, mặc dầu có nhiều dịp thưởng thức Đại nhạc hội, rất thích thoại kịch, tôi vẫn giữ nguyên cái cảm tưởng đó về đêm văn nghệ Quốc Học 60 tuổi.

Còn Trại Tết Thiên An. Th. ơi, cụ mi có nhớ bữa chiều hôm đó tụi mình nấu món chi không? Làm gà trong cái vũng nước lắm đĩa, đứa nào cũng ghê, nhưng đến bữa cơm thì không còn sót miếng nào. Tàn đêm lửa trại văn nghệ, một bầy năm sáu đứa kéo nhau vô lều thách đánh cờ tướng tới sáng. Nửa đêm, trời lạnh, thằng Đ. trúng gió, chảy nước miếng như chó dại, làm cả bọn hoảng hồn. Sáng hôm ấy, giả định là sáng mồng một Tết, học trò quần trắng áo dài đen, như những thế hệ trước 1945, tập họp trên đồi chúc Tết quí thầy cô. Ai là tác giả màn này, quên mất. Trước Tết Mậu Thân (1968), tôi vẫn còn giữ được một tấm ảnh của buổi sáng trang trọng ấy.

Bước vào thập niên 70, ba tôi lại có niềm đam mê mới, ấy là thành lập cho được Hội Áii Hữu Quốc Học để làm cơ sở thắt chặt tình đồng môn giữa các thế hệ. Sau khi Hội thành hình, ông đã đi lại không biết mệt từ Đà Nẵng cho đến Nha Trang, Đà Lạt, Sàigòn. . . để thành lập các chi hội. Để đi đây đi đó làm việc ái hữu mà không phải dùng đến ngân khoản khiêm tốn của Hội, ba tôi đã sử dụng mọi phương tiện di chuyển có được do thân hữu hay học trò cũ giúp đở, từ máy bay USAID cho đến loại thám thính “bà già”, trực thăng, hay các loại phi cơ vận tải nhà binh như C123, C130 . . . Có lần từ Nha Trang trở về bằng máy bay quân sự, ông kêu van mệt, nhức đầu vì máy bay không đi thẳng từ Nha Trang về Đà Nẵng mà còn bay vòng vòng lên Pleiku rồi về Phú Bổn cái đã. Thấy mặt ông đỏ bừng bừng như diễn viên đóng vai Quan Công, tôi biết là dấu hiệu của huyết áp lên cao, vội thúc uống thuốc và nghỉ ngơi cho ổn định và lại sức. Lại có lần bị tai nạn xe hơi, chấn thương xương chân, tôi vội vã hộ tống về Huế tĩnh dưỡng thuốc men mấy tuần liền mới bình phục. Tất cả những cái đó vẫn không làm nản chí ba tôi trong việc đi lại xây dựng các chi hội. Bên cạnh niềm vui đó, ba tôi còn cùng các đệ tử tâm đầu ý hợp và nhiệt tình ở trường Quốc Học lo thu góp bài vở, vận động tiền bạc, ra cho được mỗi năm một đặc san, mang tên Ái Hữu Quốc Học, để làm phương tiện thông tin liên lạc giữa các đồng môn. Đọc những bài của các cụ Lê Thanh Cảnh, Lê Đình Phu. . . viết về ngôi trường xưa, không những thấy được một chặng đường của ngôi trường cổ kính mà còn thấy được cả bóng dáng một thời lịch sử của đất nước.

Hồi đó, tôi đã định cư ở Đà Nẵng. Lâu lâu mới về Huế thăm nội ngoại, cũng như ghé tạt qua chứ không ở lâu, nên việc ở Huế không rành. Tuy vậy, qua chuyện trò giữa hai bố con, qua giọng nói sôi nổi của ba tôi khi kể việc AHQH, qua những lời ngợi khen không tiếc lời của ông đối với các anh chị học sinh cũ, bấy giờ đã là những bậc vai vế trong xã hội, trong việc nhiệt tình góp tay xây dựng Hội, tôi nhận ra rằng đó là thời gian hạnh phúc và hứng khởi nhất trong đời ông.

Thưa Ba,

Bốn mươi năm trước, ba đứng ra tổ chức Kỷ niệm 60 Năm Quốc Học ở chính nơi ngôi trường sinh ra và lớn lên. Buổi lễ được đặt dưới sự chủ tọa của vị nguyên thủ quốc gia, có cờ xí trống kèn, quan khách VIP từ trung ương đến địa phương. Rồi học trò mới cũ biết bao thế hệ cùng họp mặt, đông vui chưa từng có; lại có cả những hoạt động văn hóa văn nghệ hào hứng đủ để ấm lòng lớp học trò bô lão và hâm nóng những hy vọng tương lai cho lớp hậu sinh trong niềm hãnh diện chung. . . Tính lại, lúc đó ba mới già bốn mươi, tóc chưa một sợi đổi màu, và tụi con chưa qua cái ải Tú tài.

Năm nay, Quốc Học của chúng ta tròn 100 tuổi. Ba thì nay tóc đà trắng xóa, tai không còn nghe được tiếng gọi “Ông Cố” của cháu Jenny Phương Nhi và mắt nhìn cháu cười hẳn cũng nhạt nhòa không rõ nét. Đêm ngủ không trăn trở nhưng thỉnh thoảng thức giấc không khỏi chạnh nhớ đến con cháu, bạn bè, học trò cũ nay đang ở phương xa.

Con không biết tại nơi ngôi trường xưa người ta sẽ tổ chức những gì và liệu những màu sắc khác nhau do thời thế tạo nên có chống chỏi nhau trong bức tranh kỷ niệm chăng. . . . . . Điều con biết chắc là cái mốc Một Trăm Năm này sẽ làm sống dậy ở nơi ba những hồi ức của bốn mươi năm về trước, khơi lên những thất vọng và những kỳ vọng. Một trong những kỳ vọng đó đang hình thành ở San Jose, thành phố tụi con đang ở, nơi được hết thảy các anh chị em cựu học sinh QH-ĐK ở Mỹ chọn làm địa điểm đăng cai tổ chức Kỷ niệm 100 Năm Quốc Học . . .Có thể hình thức thể hiện không linh đình không hấp dẫn như mấy mươi năm xưa ở quê nhà, nhưng điều chắc chắn là lai láng tình hoài niệm và hoài hương – một điều mà bốn mươi năm về trước ba và tụi con không thể nào hình dung có ngày như thế -- và vẫn bừng bừng ngọn lửa Quốc Học thuở nào. . .


oOo


Đọc bài này, các bạn không từng biết ba tôi hẳn có khi mỉm cười “Ấy, lại mẹ hát, con khen hay”. Có thể vậy, nhưng tôi thiệt tình nghĩ răng nói rứa. Trong hơn ba mươi năm làm rể con, điều tôi học nhiều nhất ở thầy tôi, ba tôi là tính độ lượng của ông. Hầu như tôi chưa thấy ông chê ai bao giờ. Khi nào ông cũng tìm thấy một điểm tốt của người ta để nói tới; có khi ông khen cả người mà tôi biết rõ đang lợi dụng ông. Ông thật thà quá chăng? Có thể, nhưng điều chắc chắn là trong cái nhìn độ lượng đó, ông đã tránh được những dằn vặt dễ làm thương tổn thân tâm. Còn với con cháu, bao giờ ông cũng gieo một niềm tin ở hạt giống đạo đức và thắp sáng lạc quan.

Năm nay, ba tôi đã 84, nhờ trời, vẫn còn mạnh khỏe, dù tai điếc đặc và huyết áp cao, nhưng ăn ngủ được và vẫn lấy sách báo làm bạn. Hàng ngày, theo thư ba tôi viết, tới giờ, thường ra hiên ngồi chờ ông đưa thư. Lẫn trong thư con cháu ở xa mà có thư của cựu môn sinh, thật là niềm vui lớn. Niềm vui được sống lại với quá khứ êm đềm. Niềm vui không bị lãng quên. Mà con nghĩ có ai quên ba mô? Mấy anh mấy chị gặp vợ chồng con, luôn luôn hỏi thăm “Thầy có khỏe không?”

Võ Văn Dật
8/96


NOTE: Bài này đã đăng trên Đặc san Kỷ niệm 100 Năm Quốc Học – 80 Năm Đồng Khánh, 1996, San Jose, USA..

Tôi về thăm Việt Nam :Thiết nghĩ như một tỉnh lẻ của Tàu?

Tôi về thăm VN

Lời người viết: Đây không phải là một phóng sự hay một bài nghiên cứu xã hội với những phương pháp khoa học của nó - mà chỉ là những điều vụn vặt mắt thấy tận nơi, tai nghe tận chỗ - ghi lại môt cách trung thực.

Tôi thấy bộ mặt Saigòn đổi mới với: Những khách sạn 5 sao, 4 sao lộng lẫy. Đổi mới với những nhà hàng “ vĩ đại “ trên các tuyến đường du lịch. Với những trung tâm “thư giản” sang trọng, quý phái cở câu lạc bộ Lan Anh. Với những vũ trường cực kỳ tráng lệ như vũ trường New Century Hànội. Với những trường Trung học tư thục mang tên Mỷ, giáo sư Mỷ, chương trình học của Mỷ, giảng dạy bằng tiếng Mỳ- học sinh phải trả học phí bằng tiền Mỷ - 1,000 US$ đến 1,500 US$ /tháng. (Giai cấp nào đủ sức trả học phí nầy cho con? )

Tôi cũng hiểu rằng các nơi nầy là nơi ăn chơi của vương tôn công tử “đỏ”, các nhà giàu mới - thân nhân các quyền lực đỏ đứng đàng sau, các quan chức đỏ đô la đầy túi. Họ đến đây để “thư giản”, uống rượu, đánh bạc, cá độ và tìm gái. Uống chơi vài chai rượu ngoại VSOP, XO là chuyện thường. Mỗi đêm có thể tiêu hàng ngàn đô la Mỷ cũng không phải là điều lạ. Trong khi lương tháng của một thầy giáo Trung học trường công không đủ để trả một chai rượu XỌ Vụ cá độ hàng triệu US$ đã bị phanh phui. là một thí dụ cụ thể. Vũ trường New Century bị Công an đến giải tán vì các công tử và tiểu thư con các quan chức lớn nhảy đã rồi… “ lắc” suốt đêm.
Để vài hôm sau - đâu lại cũng vào đó…

Tôi cũng thấy Sàigòn- người, xe và phố xá dầy đặc, nghẹt thở - vài tòa cao ốc mọc lên vô trật tự - ở xa xa, có cái trông giống như chiếc hộp quẹt. nhà cửa mặt tiền hầu hết đều lên lầu nhiều tầng. Kiến trúc hiện đại. Vật liệu nhập cảng đắc tiền. Nhà trong hẻm - phần lớn cũng lên nhiều tầng cao nghệu. Có nhiều khu xây cất bừa bãi, nhô ra thụt vào như những chiếc răng lòi sĩ vô duyên. , lấn chiếm ngang ngược đất công hoặc lề đường…

Tôi thấy Sàigòn bị ô nhiểm trầm trọng với hằng triệu tiếng động cơ, ngày đêm đinh tai nhức óc và 5.000.000 chiếc Honda - phun khói mịt mù - chưa kể đến xe hơi ???

Và hệ thống cống rảnh lạc hậu. mỗi khi trời mưa lớn - nước rút không kịp, ứ đọng tràn ngập nhà cửa. Hệ thống đổ rác còn lạc hậu. không đáp ứng nổi nhu cầu thải rác của 10.000.000 dân nhung nhúc như kiến. Sàigòn đầy dẫy những hàng ngoại do công ty ngoại quốc sản xuất tại chỗ, hàng lậu của Trung quốc tràn vào vô số kể. Máu kinh tế Việt Nam bị loảng ra. Nhưng chế độ xã nghĩa im thin thít chịu trận, không dám một lời phản kháng. Một chiếc xe Honda nhãn hiệu Trung quốc giá khoản chừng 1,200 đô la Mỷ, chưa kể hàng Trung quốc lậu thuế, rẻ mạt. Thuốc lá và bia - bia nội, bia ngoại - có đủ. Nhậu và hút là 2 cái mốt bình dân thời thượng nhứt ở Sàigòn. Đảng viên, cán bộ - giai cấp thống trị -"Nhậu". Già nhậu, trẻ nhậu… con nít cũng tập tành nhậu. Hút thì khỏi nói. Giai cấp cán bộ răng đen mã tấu bây giờ là giai cấp nắm quyền thống trị - đã lột xác - không còn quấn thuốc rê, bập bập phà khói mịt mù nữa - mà lúc nào cũng lấp ló một gói 3 con 5, Craven A, trong túi. Lãnh đạo hút, cán bộ hút, dân chúng hút - thậm chí con nít 9, 10 tuổi ở đồng quê cũng phì phà điếu thuốc một cách khoái trá. Các hảng bia và thuốc lá ngoại quốc đã tìm được một thị trường tiêu thụ béo bở. Cán bộ lớn cũng âu phục cà vạt hẳn hoi, xe hơi bóng loáng. nhưng bộ răng hô, mái tóc bạc thếch, và nước da mông mốc, cũng không dấu được nét thô kệch của một anh nhà quê mới lên Tỉnh.
Tôi còn thấy Sàigòn với hiện tượng “tiếm công vi tư” lộng hành, ngang ngược của Công an đến độ dân chúng quen thuộc, xem là một chuyện đương nhiên như chuyện hối lộ đã trở thành cái lệ bất thành văn trong chế độ xã nghĩa. Chiếm đoạt một nửa công viên, xây nhà gạch dùng làm quán cà phê. Chưa thỏa mãn - ban đêm còn dọn thêm bàn ghế trên sân cỏ của phần công viên còn lại và thắp đèn màu trên mấy chậu kiểng cho thêm thơ mộng. Ông chủ bự nầy chắc chắc không phải là dân thường. Ông lớn nầy xem công viên như đất nhà của ông vậy. Ai có dịp đi ngang qua mũi tàu - nơi gặp gở của 2 đường Nguyễn Trải và Lê Lai cũ, ngang hông nhà thờ Huyện Sĩ - thì rõ.

Còn nhiều, rất nhiều chuyện lộng hành chiếm đất công, lấn lề đường nhan nhãn ở khắp Saigòn. Chỉ đưa ra vài thí dụ cụ thể: Một công thự tại vườn Tao đàn (có lẽ là nhà cấp cho viên Giám đốc Công viên Tao đàn) - mặt tiền ngó vào trong - mặt hậu nhìn ra phía đường Nguyễn Du (Taberd cũ) - bên có màn trổ cửa mặt sau nhà, xây thêm phía sau thành 2 căn phố thương mãi mặt tiền ngó ra đường Nguyễn Du, trị giá mỗi căn, nhiều trăm ngàn mỷ kim - ngon ơ ! Tương tự như vậy - ở góc đường Thành Thái và Cộng Hoà cũ, trước sân nhà của ông Hiệu Trưởng trường Quốc gia Sư Phạm trước 75 - phố thương mãi, quán xá la liệt chiếm mất mặt tiền. Ngang ngược và lộng hành nhứt là 2 căn phố thương mãi bên hông trường Trương minh Ký, đường Trần hưng Đạo, chễm chệ xây lên ngay bên góc phải sân trường như thách đố dân chúng. Còn trên lề đường khá rộng trước câu lạc bộ CSS cũ, bây giờ là câu lạc bộ Lao động - nhiều gian hàng thương mãi bán quần áo, giày vớ thể thao, buôn bán ầm ỉ, náo nhiệt suốt ngày.
> Công an chiếm đất công, xây nhà tư. Công viên, lề đường trước nhà dân là đất riêng của Công An. Công an sử dụng làm chỗ gửi xe, bịt kín cả lối đi vào nhà. Không ai dám hó hé. Im lặng là an toàn. Thưa gửi là dại dột. Mà thưa với ai? Tất nhiên là phải thưa với công an. Không lẽ công an xử công an? Tướng CS Trần Độ phản ảnh còn rõ rệt hơn : “Xã hội Việt Nam ngày nay là một xã hội vô pháp luật mà phần đầu tiên gây ra là Đảng . Không thể nào chống tham nhũng được vì nếu Đảng chống tham nhũng thì Đảng chống lại Đảng sao? “ (Nhật ký “Rồng Rắn” của Trần Độ).
 Nón cối, nón tai bèo, dép râu, áo chemise xùng xình bỏ ngoài chiếc quần màu cứt ngựa của người cán bộ CS ngơ ngác khi mới vào Sàigòn - đã biến mất.
 Cũng không còn thấy những chiếc áo dài tha thướt của những cô gái đi dạo phố ngày cuối tuần trên các đại lộ Lê Lợi, Lê thánh Tôn, Tự do những ngày trước 75 nữa. Thay vào đó là một đội ngũ phụ nữ - mũi và miệng bịt kín bằng “khẩu trang”, găng tay dài đến cùi chỏ, cỡi Honda chạy như bay trên đường phố.

Tôi còn thấy những người nghèo khổ chở trên chiếc xe thồ, những thùng carton và bao túi Nylông, chồng chất lên nhau cao ngất như sắp đổ xuống… Những bà cụ già, những cậu bé tuổi đáng được ngồi ở ghế nhà trường, những anh phế binh cụt tay, cụt chưn, lê lết trên một miếng ván gổ … đi bán vé số (một cách ăn xin trá hình).

Bộ mặt Sàigòn “đổi mới” bằng những khách sạn lộng lẫy, những câu lạc bộ thời thượng, những phố xá thương mãi sang trọng, những hiệu kim hoàn lóng lánh kim cương, những nhà hàng ăn vĩ đại, những vũ trường cực kỳ tráng lệ, những biệt thự đồ sộ nguy nga mới xây bằng vật liệu ngoại đắt tiền. trang trí cây cảnh như một mảng vườn Thượng uyển của vua chúa ngày xưa, những xe hơi bóng loáng nhởn nhơ trên đường phố - Nhiều người chóa mắt. choáng váng, cho là “Việt Nam bây giờ tiến bộ quá”. Riêng Phó thường dân tôi tự nghĩ : Như vậy có phải là tiến bộ không ? Sự tiến bộ của một nước cần phải nhìn về nhiều mặt : Mặt y tế và giáo dục, mặt đời sống vật chất và tinh thần của dân chúng. Lợi tức đầu người của Việt Nam - theo thống kê của báo The Economist - bằng: 800 US$ năm 2011 (Hà Nội bốc lên 1,000 US$, Chỉ hơn Lào và Cambodia chút đỉnh. So với các nước láng giềng: Thái Lan: 3.500 US$ - Phi luật Tân: 2.000 US$ - Nam Dương: 1.160.US$. Tân gia Ba 30.000 US$. (The Economist World, năm 2011 - p. 158, 176, 238) - Việt Nam còn lẹt đẹt đàng sau rất xa. Và trước bộ mặt thay đổi choáng ngợp nầy - nếu đặt câu hỏi: Ai là chủ nhân của những xe hơi, khách sạn- vũ trường, những thương hiệu lớn, những biệt thự lộng lẫy kia? - Thì câu trả lời không sợ sai lầm là của cán bộ đảng viên (tại chức hoặc giải ngủ) hoặc con cháu thân nhân của họ. Và ở thôn quê - Giai cấp giàu có bây giờ là ai ? Giai cấp địa chủ là ai ? Có phải do của cải của ông cha để lại hay do sự kinh doanh tự do, mua bán làm ăn mà có ???

HIỆN TƯỢNG NGƯƠI BẮC XA HÔI CHỦ NGHĨA CHIẾM HỮU TOÀN BỘ PHỐ XÁ THƯƠNG MAI QUAN TRONG Ở SAIGÒN - KHỐNG CHẾ MỌI LÃNH VỰC TRỌNG YẾU Ở MIỀN NAM.

Cho dù núp dưới cái hào quang chiến thắng “đánh Tây, đuổi Mỷ” - cho dù che giấu, lấp liếm, giải thích thế nào chăng nữa - Thì dân miền Nam (gồm cả Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) vẫn thấy một sự thật. Sự thật đó là người Bắc XHCN tràn ngập, chiếm hữu toàn bộ phố xá thương mãi trọng yếu của Sàigòn. Làm sao nói khác được khi đi một vòng quanh Sàigòn. Và các khu phố sầm uất nhứt, vào những hiệu buôn lớn để mua hàng hay hỏi han chuyện trò thì thấy toàn là người Bắc Cộng sản - Từ cô bán hàng đến bà chủ ngồi phía trong - Cũng toàn là người của xã hội chủ nghĩa miền Bắc. Các tiệm buôn lớn trước 75- như các tiệm vàng Nguyễn thế Tài, Nguyễn thế Năng, Pharmacie Trang Hai, tiệm Émile Bodin của bầu Yên, nhà hàng Bồng Lai, Thanh Thế, Nguyễn văn Đắc, Phạm thị Trước. Hiện nay, một số đã đổi bảng hiệu hoặc xây cât lại. nhưng đều do người miền Bắc XHCN làm chủ. Các cơ sở khác như nhà hàng ăn lớn, tiệm phở, công ty thương nghiệp, dịch vụ lớn, những tiệm buôn bán dồ nhập cảng v. v. cũng đều do người Bắc XHCN chiếm giữ. Tuy không có con số thống kê chính xác nhưng tự mình đi đếm hàng trăm tiệm buôn sang trọng quanh các khu phố lớn ở Sàigòn thì khám phá ra được chủ nhân là người Bắc XHCN (Tất nhiên là vợ con, thân nhân cán bộ lớn). Những gái Bắc XHCN bán hàng là con cháu của chủ nhân người Bắc CS (do các cô tự nói ra). Các cô chiêu đãi viên trên phi cơ VNHK đều là người Bắc thân nhân hay con cháu cán bộ - dĩ nhiên - vẻ mặt lạnh lùng, hách dịch với người Việt Nam và khúm núm lịch sự với khách ngoại quốc. Cán bộ, công nhân viên trọng yếu - Cũng đều là người Bắc - Trừ một số cán bộ gốc miền Nam ra Bắc tập kết - theo đoàn quân viễn chinh vào đánh chiếm miền Nam - Thì cũng kể họ là người XHCN miền Bắc cả.
Hệ thống quyền lực từ trên đến dưới - Từ Trung ương đến địa phương - Từ Tỉnh thành đến quận lỵ, thị trấn, làng xả gần - đều do đảng viên người miền Bắc XHCN - nắm giữ. Những công Ty dịch vụ có tầm cở, những công Ty thương mãi sản xuất lớn - điển hình là một công Ty vận tải và du lịch có đến 10,000 xe hơi đủ loại, chủ nhân cũng là người Bắc XHCN. Từ chính trị đến văn hóa, từ giáo dục đến truyền thông, từ nhà cầm quyền cai trị đến chủ nhân cơ sở thương mãi, sản xuất - Cũng là do người miền Bắc XHCN nắm giữ.

Đó là sự thật trước mắt ai cũng thấy. Còn những vàng bạc, kim cương, đô la, tài sản tịch thu, chiếm đoạt được trong các cuộc đánh tư sản, cải tạo công thuơng nghiệp - nhà cửa của tù cãi tạo, của dân bị đuổi đi kinh tế mới, những tấn vàng của VNCH để lại, những luợng vàng thu được từ những người vuợt biên bán chánh thức - tài sản những người thuộc diện tư sản - toàn bộ tài sản nầy từ Saigòn đến các Tỉnh miền Trung, miền Nam - được đem đi đâu? - Không ai biết.
Thông thường - những của cãi nầy phải được sung vào công quỷ - để làm việc công ích như các ông cộng sản thường rêu rao bằng những mỹ từ đẹp đẻ. Thế nhưng - sự thật trước nhứt - là các ông đem chia chác nhau. Chia nhau một cách hợp hiến và hợp pháp theo Luật pháp XHCN (Đọc Đất đai-Nguồn sống và Hiểm Họa của Tiến sĩ Nguyễn thanh Giang). Ông lớn lấy tài sản lớn. Ông nhỏ - nhà cửa nhỏ. Có ông cán bộ trung cấp chiếm hữu đến 4, 5 căn nhà. Ở không hết… đem cho công Ty ngoại quốc thuê. Điều phổ biến nhứt là các ông cán bộ nầy - vì lo sợ cái gì đó - bèn đem “ bán non” những căn nhà đó lấy tiền bỏ túi trước. Một căn nhà của một viên chức tù cãi tạo đã sang tay đến 3 đời chủ. Nhà cửa thuộc diện tù cải tạo là dứt khoát phải tịch thu - không ngoại lệ. Những trường hợp con ruột có hộ khẩu chánh thức còn được phép ở lại - là những biện pháp vá víu. Chủ quyền căn nhà nầy là Nhà nước XHCN.

Không chỉ có những người thuộc diện cải tạo công thương nghiệp, tù cải tạo, vượt biên mà người dân thường có nhà cửa phố xá đều bị “ giải phóng” ra khỏi nhà bằng nhiều chánh sách: Đuổi đi kinh tế mới, dụ vào hợp tác xả tiểu công nghiệp, mượn nhà làm trụ sở, cho cán bộ vào ở chung (chủ nhà chịu không nổi… phải bỏ đi), đổi tiền để vô sản hoá người dân, khiến họ bắt buộc phải bán tất cả những gì có thể bán để mua gạo ăn, cuối cùng chịu không nổi, phải bán nhà với giá rẻ bỏ, để vô hẻm ở, ra ngoại ô hoặc về quê… Cán bộ hoặc thân nhân cán bộ miền Bắc XHCN tràn vào “mua” nhà Saigòn với giá gần như cho không… và bây giờ là chủ những căn nhà mặt tiền ở Saigòn.
Mang xe tăng T. 54, cà nông Liên xô, AK Trung cộng, đẩy hàng hàng lớp lớp thiếu niên “xẻ dọc Trường Sơn” bằng máu, nước mắt và xác chết… vào xâm chiếm miền Nam. Chiêu bài là “giải phóng” nhân dân miền Nam - nhưng sự thật khó chối cãi được - là vào để chiếm đoạt tài sản, đất đai, của cải, đuổi dân Saigòn (gồm cả người Nam lẫn Bắc theo chế độ Tự Do) ra khỏi Thủ Đô bằng nhiều chánh sách khác nhau - để bây giờ chính các ông đã trở thành những nhà tư bản đỏ triệu phú, tỉ phú đô la, vàng bạc kim cương đầy túi - những ông chủ công Ty có tầm vóc, những địa chủ đầy quyền lực. Trương mục ở nước ngoài đầy nhóc đô la. Con cái du học ngoại quốc. (Trường hợp con Thủ Tướng CS Nguyễn tấn Dũng đang du học Mỷ là trường hợp điển hình). Như vậy hành vi nầy gọi là gì? Trong những lúc canh tàn rượu tỉnh - một mình đối diện với luơng tâm thuần luơng của mình - các ông tự gọi mình đi.

Đến thời “mở cửa” - cơ hội hốt tiền còn nhiều hơn gấp bội. Tư bản ngoại quốc ồ ạt đầu tư, khai thác dầu khí, thâu đô la Việt kiều về thăm quê hương - đô la khách du lịch ngoại quốc, bán đất cho Công Ty ngoại quốc xây cất cơ xưởng, cấp giấy phép các công Ty ngoại quốc, các dịch vụ đấu thầu xây cất cầu cống, làm đuờng xá, xây cất đại công tác. Những món nợ kếch xù từ Ngân hàng thế giới, từ quỷ tiền tệ quốc tế - những món nợ trả đến mấy đời con cháu cũng chưa dứt. Những đại công tác nầy mặc sức mà ăn, no bóc ké. Nhiều công trình vừa xây cất xong đã muốn sụp xuống vì nạn ăn bớt vật liệu. Một thí dụ diển hình: Một bệnh viện gần chợ “cua” Long Hồ - quê hương của Phạm Hùng - nước vôi còn chưa ráo đã muốn sụp. Hiện đóng cửa không sử dụng được.

Hiện tượng người Bắc XHCN khống chế toàn bộ, làm chủ nhân ông mọi lãnh vực, chiếm hữu nhà cửa, phố xá thương mãi ở những khu thương mãi quan trọng nhứt - là một sự thật không thể chối bỏ. Cán bộ lớn đã trở thành những nhà tài phiệt đầy quyền lực - những ông chủ lớn giàu có nhứt lịch sử. Trong khi dân chúng miền quê - nhứt là miền Nam - ngày càng nghèo khổ, thất nghiệp kinh niên. Khoảng cách giàu nghèo càng lớn - đời sống cán bộ và dân chúng càng ngày cách biệt. Giàu thì giàu quá sức. Nghèo thì nghèo cùng cực.
Nhà văn - bác sĩ Hoàng Chính - gọi thời kỳ sau 75 là thời “Bắc thuộc”:
- “Năm Bắc thuộc thứ 2: Lưu vong tại quê nhà trong cái đói lạnh.
- Năm Bắc thuộc thứ 6: Cầu cho em nhỏ 10 tuổi đầu đủ cơm ăn giữa bầy thú hát điên cuồng chuyện thù oán.
- Năm Bắc thuộc thứ 12: Trong ngục thất quê hương ấy, có những bộ xương thôi tập khóc cười. “
Miền Bắc XHCN đem quân xâm chiếm miền Nam để khống chế nơi đó bằng sự đô hộ hà khắc và tinh vi.

BỘ MẶT THÔN QUÊ MIỀN NAM

Có nhìn tận mắt, nghe tận nơi, mới hình dung được khuôn mặt miền Nam sau 37 năm dưới chế độ cọng sản. Để được trung thực - người viết ghi những điều thấy và nghe - không bình luận - tại những nơi đã đi qua. Thôn quê miền Nam - những làng xóm gần tỉnh lỵ quận lỵ đã có điện. Những làng xã xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống trong sự tăm tối. Đường sá có tu sửa phần nào. Đường mòn đi sâu vào thôn xóm được lót bằng những tấm dalle lớn (đường xóm Cái Nứa, Cái Chuối xã Long Mỹ, VL), xe Honda và xe đạp chạy qua được. “Cầu tre lắt lẻo”, cầu khỉ được thay thế bằng cầu ván, cầu đúc (vật liệu nhẹ). Cầu tiêu công cộng trên sông các chợ quận (Cái bè, Cái răng) nay không còn thấy nữa.
Nhà cửa dọc theo bờ sông Cần Thơ - chen vào những nhà gạch ngói, nhà tôn - còn nhiều nhà lá nghèo nàn. Tương tự như vậy - dọc theo bờ sông Long Hồ - một số nhà gạch nhỏ mới cất. xen kẻ những mái lá bạc màu. Vùng Trà ốp, Trà Cú (Vĩnh Bình), chợ Thầy Phó (Vĩnh Long) nhiều nhà gạch mới xây nhưng vẫn không thiếu nhà lá, nhà tôn. Đường mòn chạy sâu vào thôn xóm vẫn còn đường đất lầy lội vào mùa mưa nước nổi.

Hai bên đường xe chạy từ Mỷ Tho, Cao Lãnh, Châu Đốc, Hà Tiên, Rạch Giá, Cần Thơ. Nhìn chung - có một sự thay đổi rõ rệt. Nhà cửa, hàng quán dầy đặc, động cơ ồn ào, người ta chen chúc. Cảm giác chung là ngột ngạt, khó thở. Những vườn cây xanh um bên đường đã biến mất hoặc thụt sâu vào trong, không còn thấy nữa. Không còn vẻ đẹp thiên nhiên ngày nào của vườn xoài cát sai hoằng, mát mắt vùng Cái Bè, An Hữu, vườn mận Hồng Đào chạy dài hàng mấy cây số ở Trung Lương.
Dưới sông - từ kinh Vỉnh Tế chảy dài ra sông Tiền Giang - hai bên bờ toàn là nhà sàn, phía sau chống đở sơ sài bằng những trụ cây tràm. Mỗi nhà hoặc 2, 3 nhà đều có cầu tiêu tiểu bắc phía sau.
Tắm rửa giặt giũ, múc nước lên uống, phóng uế - cũng cùng trên một dòng sông. Không có gì thay đổi. Làng Chàm còn gọi là chà Châu Giang cũng còn đó. Cũng nghèo như trước. Những chiếc ghe vừa dùng làm nhà ở, vừa là hồ nuôi cá. Basa, cá điêu hồng v. v. ở dọc bờ sông khá dài. Dường như ngành nầy hoạt động khá mạnh. Dọc trên những nhánh phụ lưu của 2 con sông Tìền và sông Hậu - người ta không còn thấy bóng dáng của những cô gái thướt tha trong chiếc áo bà ba và chiếc quần lãnh Mỷ A, chèo ghe tam bản, bơi xuồng như thời trước 75 nữa. Hỏi một ông già tên Ph. tại Cái Răng, được trả lời: “ Đi lấy Đại Hàn, Đài Loan hết rồi ông ơi! “ Tôi hỏi thêm: “ Các cô gái có nghe nhiều người bị gạt bán vào ổ mãi dâm, nhiều cô gái bị chồng bắt làm lao động khổ sai, bị ngược đãi, đánh đập. các cô gái nầy không sợ sao ông? - “ Biết hết - mấy cổ biết hết, báo Tuổi trẻ đăng hàng ngày. Nhưng cũng có những cô có chồng Đại Hàn, cho tiền cha mẹ xây nhà gạch. Cô khác thấy vậy ham. Phần nghèo, phần không có việc làm kinh niên. Họ liều đó ông. Biết đâu gặp may. “Câu chuyện gái Việt lấy chồng Đại Hàn, Đài Loan hiện không ai là không biết.
Tờ Tuổi trẻ - số ra ngày mùng 1 Tết năm Đinh Hợi - trong bài: “ Nỗi đau từ những con số”- có nói đến số phận của 65.000 phụ nữ đang làm vợ những ông chồng Đài Loan già, tàn tật đui mù, làm vợ tập thể cho cả gia đình cha lẫn con. Cũng do tờ báo nầy: “Tại một tổ chức kết hôn lậu, hàng chục cô gái đang “bày hàng” để 2 ông Hàn quốc tuyển chọn làm vợ và 118 cô gái khác đang nằm, ngồi, lố nhố chờ đến luợt mình “ Và cũng do tờ Tuổi Trẻ số phát hành ngày 25-04-2007, viết: “Hơn 60 cô gái, tuổi từ 18 đến 20 từ miền Tây Nam bộ lên Saigòn để dự tuyển. Các chàng rể Hàn Quốc được quyền soi xem kỷ, chú ý đến cả từng vết thẹo trên thân thể cô gái. Dich vụ môi giới hôn nhân lậu có chiều hướng gia tăng. Chỉ trong vòng nửa tháng mà Công An đã phát hiện 3 vụ môi giới hôn nhân trái phép ở quận 6, 10 và Tân Bình với gần 400 lượt cô gái hiện diện. Thậm chí - những cô gái được xe ôm chở tới địa điểm dồn dập gây náo loạn cả xóm”.

Người viết có lần lang thang trên đường Nguyễn tri Phương tìm quán ăn cơm trưa, có chứng kiến tại chỗ: Từng cặp trai gái lố nhố xếp hàng đôi trước cửa một trường học, để lần luợt vào trong. Hỏi một người trung niên lái xe Honda ôm, được anh trả lời: ‘ “Đó là những người con gái đi lấy chồng Đài Loan và Đại Hàn. Hàng bên trong là những đang làm thủ tục xuất ngoại theo chồng. Hàng bên ngoài là những người đang vào ký giấy hôn thú sau khi đã qua các cửa ải môi giới và thủ tục tuyển lựa”. Tôi nhìn kỷ các cô gái nầy tuổi rất trẻ khoản chừng 18 đến 20, đứng cặp với những anh Tàu già sồn sồn- có một người tàn tật. Không thấy có thanh niên trẻ. Nhìn cách ăn mặc và nghe họ nói chuyện - tôi đoán chừng họ đến từ miền Tây Nam Bộ. Đây là tổ chức môi giới chánh thức có giấy phép hành nghề.

Song song với tổ chức chánh thức, còn có một tổ chức “ môi giới hôn nhân lậu”- sự thật là một tổ chức buôn người, chuyên đi dụ dỗ trẻ em và gái, nói gạt là đi bán hàng hay đi làm việc tại các cơ xưởng ngoại quốc nhưng là để bán thẳng vào các ổ mãi dâm ở Kampuchia, Thái Lan, Ma Cau để nơi đây huấn luyện trẻ em làm nô lệ tình dục, các cô gái làm điếm, hoặc bán cho người Tàu bỏ tiền ra mua nô lệ. Tất nhiên là phải có sự tiếp tay che chở ăn chia của Công An. Nói là lậu nhưng thật ra là nhan nhãn xảy ra hằng tuần - thậm chí hằng ngày trước mặt dân chúng tại các quận Bình Thạnh, quận 11, Sàigòn.

Cho dù chánh thức hay lậu, hậu quả cũng gần giống nhau. Chánh thức thì có giấy phép, có công an làm thủ tục, chánh phủ thu tiền lệ phí. Lậu thì lén lút với sự che chở của Công An. Hậu quả gần giống nhau. Nhiều cô gái về làm vợ mấy tên Đài Loan, Đại Hàn bị ngược đãi, đánh đập tàn nhẫn - ban ngày làm nô dịch, ban đêm phục vụ tình dục rồi bán vào động mãi dâm lấy tiền gở vốn lại. (Trại cứu giúp nạn nhân của cha Hùng ở Đài Bắc là một bằng chứng) Còn lậu thì bán thẳng vào ổ điếm. Biết bao nhiêu thảm cảnh, biết bao nhiêu bi kịch thương tâm làm rúng động lương tâm nhân loại.
Cựu Quốc Trưởng Sihanouk không giấu được nỗi xót xa trước thảm cảnh người phụ nữ Miên làm vợ mấy thằng Tàu, lên tiếng kêu gọi họ trở về nước. Không thấy Việt Nam nói nửa lời!
Những cô gái nầy có biết những thảm kịch đau thương, những sự hành hạ, ngược đãi, đánh đập. nầy khi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn không? Có bị cưỡng bức, bị dụ dỗ hay tự nguyện? Cha mẹ có đồng ý hay cản trở? Nguyên nhân nào đã thúc đẩy họ dấn thân vào con đường hiểm nguy, tương lai mù mịt?

Trừ những trường hợp bị dụ dỗ qua đường dây buôn người - những người con gái này thật sự là họ TỰ NGUYỆN. Họ còn phải vay tiền mua sắm, ăn diện, hối lộ để đuợc giới thiệu. Nhưng nguyên nhân nào thúc đẩy họ đi lấy chồng Đài Loan, Đại Hàn?
Có thể có nhiều nguyên nhân phức tạp. Phó thường dân tôi chỉ đưa ra vài nhận định thiển cận như sau: Quá nhiều chương trình ngăn chống lũ lụt, chương trình công nghiệp hóa, đô thị hoá bừa bãi, không được nghiên cứu cẩn trọng, đất đai canh tác bị thu hẹp, Dân số gia tăng. Khối lượng đông đảo người miền Trung, Bắc XHCN tràn vào. Nông dân miền Nam thiếu đất canh tác. Các cô gái miền Tây quẩn bách vì không có việc làm kinh niên - cuộc sống vô vọng mịt mờ - có nhiều trường hợp bị thúc đẩy vì cha mẹ mắng nhiếc, đay nghiến khi so sánh con gái mình với cô con gái làng bên có chồng Đại Hàn mang tiền về xây nhà gạch cho cha mẹ. Và cũng vì hấp thụ một nền giáo dục của chế độ CS (sinh sau 75) - những người trẻ tuổi không có ý niệm về luân lý đạo đức cũ. thang giá trị bị đảo lộn nên họ không đặt nặng danh dự, sĩ diện như thời trước. Do vậy - khi bị dồn vào đường cùng họ đành đánh liều nhắm mắt đưa chưn. Nhưng động lực chánh là nghèo.

NGHÈO

Là nguyên nhân chánh đưa đẩy các cô gái miền Tây Nam Bộ đi lấy chồng Đại Hàn và Đài Loan… để hy vọng thoát khỏi cảnh đời cơ cực, vô vọng không lối thoát. Thế nhưng tại sao đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) - vựa lúa nuôi sống cả nước - sau 32 năm dưới chế độ CS lại trở nên nghèo như vậy - nghèo hơn cả đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) ? Theo tiêu chuẩn nghèo từng vùng của Tổng cục thống kê Việt Nam - thì tỷ lệ ĐBSCL năm 1998: ĐBSCL: 37%. ĐBSH: 29% . Năm 2002: ĐBSCL: 13 %. ĐBSH: 9%. (Nhà x. b Thống kê - Hànội, trang 13 - LVB trích dẫn) Dù theo tiêu chuẩn nào: tiền tệ (tính bắng tiền hay bằng gạo) - mức sống (bao gồm lương thực, nhà ờ, mức sống văn hóa) - ĐBSCL vẫn nghèo hơn ĐBSH - bởi lẽ khi nghèo về lương thực - thì khó có thể giàu về nhà ở và đời sống văn hoá.
Đó là cái nghèo mà anh Lâm văn Bé đã nhìn qua những con số có giá trị của những chương trình nghiên cứu thống kê khoa học. Và sau đây là cái nghèo miền Nam qua cái nhìn tận mắt, nghe tận nơi của người viết: Cái nghèo ở Việt Nam bao gồm cả thành thị lẫn thôn quê là cái nghèo thiếu trước hụt sau, ăn bữa sáng lo bữa chiều - cái nghèo của một nông dân, nhà dột nát. khi trời mưa lúc ban đêm, không có chỗ để nằm phải tìm một góc nhà, phủ cái mền rách lên người ngồi run cằm cặp, trước từng cơn gió lạnh buốt lùa vào căn nhà trống hốc… Cái nghèo của một người đi mượn tiền, muợn gạo. tới ngày hẹn không tiền trả. Cái nghèo của một thanh niên thất nghiệp, cha bị lao phổi không tiền mua thuốc nằm ho sù sụ, mẹ bơi xuồng đi bán bắp nấu không đủ gạo cho một đàn con 4 đứa, mũi dãi lòng thòng đang bốc đất cát chơi ngoài sân.
Tục ngữ bình dân có câu: Ít ai giàu 3 họ, khó 3 đời. - Có. Tôi quen biết ông Sáu S. làm nghề chày lưới. ở sông Long Hồ. Đời con là anh Tư Te tiếp nối nghề nầy: nghề đi nhủi tép. Và trên bờ sông Long Hồ năm nay (2011) tôi thấy vợ chồng một cậu thanh niên tên M. vừa cặp xuồng vào bến, đem miệng nhủi còn dính đầy rong rêu phơi trên mái nhà lá đã nhuộm màu thời gian bạc thếch. Hỏi thăm thì té ra là con của Tư Te. Đời ông nội - nghèo! Đời cha nghèo! Đời cháu cũng nghèo! Khó 3 đời đó. Cọng Sản đổi đời cho người giàu thành nghèo - không đổi đời cho người nghèo thành giàu. Người nghèo vẫn tiếp tục nghèo. Nói chung thì nông dân Việt Nam chiếm 85% dân số mà đất không đủ để canh tác - còn công nghiệp không có khả năng biến nông dân thành thợ thuyền. trong khi dân số lại gia tăng quá tải. Cho nên thất nghiệp không thể tránh. Nghèo là hiện thực. Tiến sĩ Lê đăng Doanh trong một bài phổ biến trên mạng, viết : “Nông dân đã nghèo, đất đã kém đi, nhưng mỗi năm thêm 1 triệu miệng ăn, lấy đâu ra mà ăn. Lao động vất vả mỗi ngày trên 8m2 đất thì lấy gì mà giàu có được? “

MIỀN NAM - 37 NĂM DƯỚI CHẾ ĐỘ CỘNG SẢN

Kinh tế Việt Nam - trong đó có miền Nam - có chút tiến bộ - so từ thời kỳ bao cấp đến thời kỳ mở cửa. Nhưng chỉ là tiến bộ với chính mình. Đối với các nước khác trong vùng thì còn lẹt đẹt, cầm lồng đèn đỏ… Và điều quan trọng là sự phát triển nầy có đem lại phúc lợi cho dân chúng qua sự tái phân lợi tức quốc gia, để tài trợ các chương trình y tế, giáo dục (hiện nhiều người nghèo không có tiền đóng học phí bậc Tiểu học cho con) - các chương trình tạo công ăn việc làm, phát triển nông nghiệp, xây dựng hạ tầng cơ sở hay không? Hay là phát triển bằng những con số báo cáo rổng tuếch? Lợi tức tạo được đã bị cả hệ thống của những con virus tham nhũng đục nát cơ thể. Và hiện tại - muốn phát triển công nghiệp - nhà cầm quyền địa phương - theo lệnh Đảng - mở rộng khu công nghiệp, khu du lịch, đã quy hoạch lấy đất, phá mồ phá mả, chiếm nhà dân một cách bạo ngược. Lòng dân phẩn uất, kêu la than khóc. Oán hận ngút trời xanh! (19 Tỉnh miền Nam biểu tình khiếu kiện trước trụ sở quốc hội 2 Sàigòn). Như vậy có gọi là phát triển không?


KẾT LUẬN

- 37 năm nhìn lại:
Người ta thấy miền Bắc đã “giải phóng” dân Sàigòn ra khỏi đất đai, nhà cửa của họ. Họ phải rút vô hẻm, ra ngoại ô hay về quê bằng nhiều chánh sách khác nhau. “Giải phóng” miền ĐBSCL ra khỏi sự trù phú do thiên nhiên ưu đãi từ nhiều thế kỷ. “Giải phóng” quân nhân, viên chức chế độ cũ ra khỏi nhà, để đưa họ vào các trại tù cải tạo hoặc đẩy họ ra biển… “ Giải phóng” phụ nữ miền Tây, để họ được tự do đi làm “vợ nô lệ”, đi làm điếm ở Kampuchia, TháiLan.

- 37 năm nhìn lại:
Người ta thấy Việt Nam trở lại thời kỳ mua bán nô lệ như thời Trung cổ. Phụ nữ Việt Nam bị bán đấu giá trên E-bay Taiwan website (2010) - bị trưng bày trong lồng kính, cũng để bán đấu giá như một con súc vật ở Singapour (2011). Chỉ trong năm 2011 - có khoản 400.000 phụ nữ và trẻ em bị bán ra ngoại quốc. (Theo UNI CEF - LHQ và Bộ Tư Pháp Việt Nam)

- 37 năm nhìn lại:
Mượn lời nhà báo Claude Allegre, báo L’expresse ngày 29-8-2011: “Người ta không thể cho qua một cách im lặng những Khơ me đỏ, những trại tập trung ở Cambodia và những cuộc tàn sát man rợ ở đó. Và Việt Nam không được biết đến như là một chế độ nhân đạo hơn. Dưới cái cớ là dân tộc can đảm nầy đã chiến thắng các siêu cường quốc - người ta đi đến chỗ quên đi một nền độc tài đẫm máu đang thực thi trên xứ sở"

- 37 năm nhìn lại:
Miền Bắc XHCN rõ ràng đã thiết lập một nền đô hộ miền Nam - khắc nghiệt, tinh vi hơn cả thời Pháp thuộc.
Và điều quan trọng trên hết là Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Một trí thức Việt Nam lên tiếng cảnh cáo: “Việt Nam đang đứng trước hiểm họa mất nước. Mất cả đất đai, sông núi và dân tộc. Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh lẻ của Tàu." (Trích Người việt hải ngoại - Nguyễn văn Trấn)


PHÓ THƯỜNG DÂN

******
 ĐỪNG NGỒI CHỜ CHẾT ...

Gởi 90 triệu đồng bào Việt Nam của tôi tại quê nhà.
Xin những lòng còn trăn trở với quê hương vui lòng chuyển giúp, tác giả xin biết ơn.


Việt Nam hay đất Trung Hoa
Mà đầy phố Chệt với nhà Tàu ô ?
Than ôi, cả một cơ đồ
Bốn ngàn năm thế mà giờ tan hoang !
Núi sông đất nước Việt Nam
Ai cho Tàu đến nghênh ngang hở trời ?!
Đảng kia bán nước ta rồi ...
Mà sao dân Việt vẫn ngồi an nhiên !??
Đứng lên đi chứ, ba miền
Chín mươi hai triệu dân hiền ta đâu ???
Nước ta sắp mất về Tàu
Sao ta ngậm miệng cúi đầu ngồi yên ???
Chỉ cần một triệu đứng lên
Thì bày quốc tặc sẽ liền ra tro !
Sợ gì súng lớn, dao to
Đã loài bán nước thì cho chúng tàn!
Đừng hèn, cúi mặt, cầu an
Mà nhìn đảng bán giang san cho Tàu !
Rồi ngồi mong đợi khẩn cầu
Những người ở tận đâu đâu cứu mình ...
Chớ nên ỷ lại, người khinh
Nhà mình, mình giữ, nước mình, mình lo !
Xưa nay Hạnh Phúc, Tự Do
Chẳng ai tốt bụng đem cho bao giờ
Mà ta phải lựa thời cơ
Rồi đem chính nghĩa dựng cờ đấu tranh
Một khi đất nước tan tành
Thì nhà mình có an lành được không?
Lúa kia đang chết trên đồng
Cá kia đã chết đầy lòng biển xanh
Hải âu rã xác trên gành
Bởi ăn cá độc mà đành chết oan
Ta thì tù ngục, lầm than
Sống cùng chất độc sống làm sao đây !?
Đừng ngồi chờ chết thế này
Việt Nam ơi, hãy muôn tay một lòng
Đứng lên đòi lại núi sông
Đòi đời cho giống Lạc Hồng...đứng lên  !!!
Nhìn đi, chết đã nhãn tiền
Nếu không muốn chết, ba miền, đứng mau !!!
 
 
Ngô Minh Hằng

 

Bài Xem Nhiều