We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Tuesday, 4 October 2016

Bia và môi trường

Bia và môi trường



Trong suốt hơn một thập niên, bắt đầu từ năm 1920, với đạo luật cấm bia rượu ở Mỹ do sự vận động bởi nhóm người Phản thệ giáo, người dân Mỹ không được quyền sản xuất, nhập cảng, chuyên chở và bán bất kỳ thức uống nào có chứa chất cồn. Đã gọi là cấm những việc làm trên thì đương nhiên người ta cũng cấm luôn uống. Và cũng giống như bất cứ dân tộc nào khác trên thế giới, khi bị cấm đoán thì người dân Mỹ bèn xoay sở để biến những thứ hàng cấm đó thành hàng lậu. Người nào biết móc nối giỏi thì khi thèm hoặc lên cơn nghiền thì vẫn có thể tìm được những thứ hàng cấm hàng lậu ấy.
Nhưng đến năm 1933 thì đạo luật này được bãi bỏ và bia lại bắt đầu được sản xuất hàng loạt theo lối dây chuyền tại Mỹ. Nhờ vậy mà bia Mỹ đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường bia toàn cầu, và mở đường để những loại thức uống khác sau đó cũng làm mưa làm gió trên thị trường toàn cầu như thế.
Bia được biết đã có từ thời cổ đại, và người xưa đã biết cách tích trữ nó từ hàng ngàn năm nay rồi. Thời xưa chưa có chai lọ thủy tinh thì người ta tìm cách chứa bia trong những vò, lọ sành, thùng gỗ, túi da v.v… và thường là uống ngay sau khi chưng cất xong để tránh bị hư vì chưa biết cách để giữ được lâu. Vào khoảng thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên, có người đã biết kỹ thuật để thổi thành được những chai thủy tinh. Tuy nhiên, qua suốt thời kỳ trung cổ, chai thủy tinh là mặt hàng xa xỉ và người ta vẫn phải chứa bia trong những thùng gỗ sồi hay những loại thùng lớn khác. Đến năm 1900, Michael Joseph Owens phát minh ra chiếc máy làm chai thủy tinh tự động và nhờ vậy mang lại nhiều tiện lợi hơn cho người uống bia.
Mặc dù bằng sáng chế dành cho loại hộp/lon thiếc được công nhận từ năm 1810, người ta vẫn gặp nhiều trục trặc kỹ thuật để làm bia lon trong suốt một thế kỷ sau đó. Là vì bia có hơi ga và tạo áp suất, và với kỹ thuật thô sơ lúc đầu, lon bia dễ bị nứt rách và đồng thời bia đựng trong những lon thiếc lúc đó có mùi kim loại rất khó uống. Năm 1923, công ty American Can Company đã tìm được kỹ thuật để giải quyết hai vấn đề trên và chính loại lon mới của công ty đã được sử dụng để sản xuất 2,000 lon bia đầu tiên cho công ty bia Krueger. Sự hợp tác này kéo dài suốt một thập niên sau đó và người Mỹ không chỉ làm quen với loại bia lon mà họ còn ưa thích loại bia được đóng hộp này. Theo một cuộc thăm dò lúc ấy, có tới 85% người tiêu thụ bia cho biết vị của bia lon gần với bia thùng hơn là bia đóng chai, và đương nhiên là ngon hơn. Hơn nữa, bia lon giúp cho các công ty sản xuất bia dễ dàng chuyên chở và phân phối tới người tiêu thụ hơn trước kia.
Năm 1935, Pabst là công ty sản xuất bia loại lớn lần đầu tiên làm bia lon, đưa ra chiến dịch quảng cáo rầm rộ để tạo một thương hiệu mới cũng như biến việc uống bia lon thành một thứ thời thượng lúc đó. Những lon bia nguyên thủy này khi cầm trên tay khá nặng; lúc đầu người ta làm lon bằng thiếc, sau đó bằng thép, để rồi cuối cùng là bằng nhôm ở thành của lon nhưng hai mặt thì vẫn bằng thiếc. Mặt trên của lon bia nhẵn thín chứ không như loại lon ngày nay và chỉ có thể mở ra uống bằng cách dùng một dụng cụ đặc biệt đục một lỗ tròn trên bề mặt này.
Trong thời kỳ Thế chiến II xảy ra, việc sản xuất bia lon bị tạm đình chỉ vì tất cả phải dành cho tiền tuyến, và mọi thứ kim loại phải dành ưu tiên cho cuộc chiến. Sau chiến tranh, công ty Aluminum Corporation of America, thường được biết đến với cái tên ngắn hơn là Alcoa, giúp làm giảm bớt giá thành của nhôm và mở rộng thị trường cho thứ kim loại này do trong suốt một thập niên chiến tranh, thị trường kim loại đã bị co cụm lại vì những luật lệ gắt gao.
Năm 1958, công ty sản xuất bia Hawaii Brewing Company lần đầu tiên tung ra thị trường loại bia lon hoàn toàn bằng nhôm, làm cho việc chuyên chở thêm thuận tiện hơn trước nhờ lon nhôm nhẹ hơn loại lon thiếc trước đó hơn một nửa trọng lượng. Tuy nhiên loại lon này vẫn còn gặp vấn đề là đường nối không chuẩn làm cho lon bia hay bị méo mó, và đó có lẽ là lý do chính làm cho công ty bị phá sản không lâu sau đó. Năm 1962, công ty bia Iron City Beer of Pittsburg giới thiệu loại lon có nút mở. Một năm sau, công ty Schlitz tung loại bia lon có nút mở này ra khắp nước, và năm 1965, nút có lỗ tròn để dùng ngón tay mở lon được giới thiệu. Đến năm 1969, lần đầu tiên, số bán của bia lon chính thức qua mặt bia đóng chai.
Người Việt mình hầu như ai cũng biết nhôm được làm từ tinh chất bô xít, thứ này có rất nhiều ở những khu vực gần đường xích đạo. Do đó ta không mấy ngạc nhiên khi Việt Nam mình cũng có quặng bô xít. Nguyên liệu bô xít thô được đãi ra để lấy chất alumina, sau đó được tinh lọc lần nữa để thành chất bột. Chất bột này được nấu chảy thành chất nhôm lỏng và kế đến được đúc thành từng thanh một. Những thanh này sau đó được cán mỏng thành những tấm nhôm dày khoảng 0.30 mm, mỏng như tờ giấy, và những tờ nhôm này được uốn thành lon.
Do chất bô xít thường được tìm thấy rất nông, gần trên bề mặt trái đất, nên các quặng bô xít thường là lộ thiên. Người ta tính cứ mỗi hai tấn bô xít thì để lại một tấn chất kiềm cặn (alkaline), thường ở dưới dạng bùn đỏ, do qua quá trình tinh lọc, và chất bùn đỏ này rất độc hại, không thứ cây gì trồng được trên đó. Theo một báo cáo của cơ quan bảo vệ môi sinh (EPA), riêng ở Mỹ, đã có hơn 65,000 mẫu đất tại những tiểu bang Arkansas, Missouri, Kansas, Iowa và Oklahoma do nước thải từ quặng bô xít làm ô nhiễm; những hồ chứa nước thải nhân tạo này có lượng lưu huỳnh rất cao, gần như không một sinh vật hay giống cây nào có thể sống được tại đây trong vòng 50 năm.
Theo Cơ quan Nghiên cứu Địa chất Hoa Kỳ (USGS), nước Mỹ tiêu thụ 9 triệu tấn bô xít trong năm 2015, mà gần như tất cả là hàng nhập cảng, nghĩa là người Mỹ đẩy vấn đề ảnh hưởng môi trường do khai thác bô xít sang cho những nước khác. Jamaica, Suriname và Úc là ba quốc gia đứng đầu về xuất cảng bô xít và chất alumina. Trung quốc hiện nay đang sản xuất khoảng một nửa lượng alumina trên toàn cầu. Mặc dù vậy, Trung Quốc cần quá nhiều nhôm đến nỗi tự sản xuất không đủ mà phải nhập cảng từ các nước khác, trong đó Mã Lai Á là nguồn cung cấp nhôm cho Trung Quốc nhiều nhất. Người ta vẫn chưa rõ ảnh hưởng môi trường tương lai đối với Mã Lai Á ra sao, nhưng rõ ràng đất đai đã bị hư hại và xung quanh những quặng bô xít chắc chắn là không có sự sống.
Trung Quốc cần sử dụng nhiều nhôm phần chính yếu là để cho các công trình xây dựng, nhưng có điểm này cũng cần nên biết là Trung Quốc hiện nay sản xuất bia nhiều hơn bất kỳ quốc nào khác trên thế giới – khoảng 340 triệu thùng trong năm 2012, so với năm 1980 gần như là con số không. Nhìn vào ví dụ của trường hợp Trung Quốc thôi ta cũng thấy có một sự tương quan giữa sản xuất bia và sử dụng nhôm.
Điểm lợi của nhôm là sau khi sử dụng người ta có thể mang tái chế ngay mà không bị hao hụt bao nhiêu. Trong khi chai lọ thủy tinh không được bền (dễ vỡ) và nếu đem vất vào đống rác thì phải mất một triệu năm mới phân hủy được, nhưng ngược lại, với nhôm thì chỉ mất độ 80 đến 100 năm là có thể phân hủy để tan vào đất. Tuy nhiên, điểm bất lợi là các lon nhôm không dùng lại được là vì những dân uống bia hay loại nước giải khát khác, sau khi uống xong chỉ cần bóp nhẹ một cái là nó bị méo mó ngay và chỉ còn cách là đem đi tái chế. Tại một số nơi ở Mỹ, các quán rượu thường đem trả các chai thủy tinh lại cho nơi phân phối, sau đó các chai này được rửa thật sạch và dùng lại để đóng chai khác.
Cũng cần phải nói rõ ở đây là những tay chọn uống bia lon thay vì uống bia chai không hẳn vì quan tâm đến môi trường đâu mà chỉ vì, như đã nói ở trên, vị của bia lon ngon hơn bia chai đấy thôi. Các chai lọ thủy tinh, đặc biệt là loại trong suốt hay màu xanh lục, không ngăn được ánh sáng. Tia tử ngoại (UV) của ánh sáng tạo ra quá trình oxy hoá bia và làm cho vị bia có mùi hơi hôi hôi.
Ngày nay, tất cả các loại thức uống –  từ bia, nước trái cây đến các loại nước giải khát khác – là nguồn sử dụng nhôm lớn nhất trên thế giới.
Năm 2013, trong chương trình Marketplace của đài BBC đã cho rằng các phương pháp tái chế càng ngày càng tiến bộ và không bao lâu nữa con người sẽ không còn phải đi khai phá các quặng mỏ bô xít nữa mà chỉ cần sử dụng lại loại nhôm đó. Dùng một lần xong lại đem tái chế để dùng lại, không mất đi đâu mà lo.
Vậy thì cho đến khi cái ngày tốt đẹp mà người ta tưởng tượng ra trong tương lai có thể xảy ra, cứ mỗi khi ta cong ngón tay mở một lon bia, cho dù có cẩn thận đến mấy (không vất bừa bãi và đem đi tái chế), thì ở đâu đó trên thế giới, vẫn có người đang ra sức đào bới để tìm bô xít, đồng thời thải ra cơ man nào những chất bùn đỏ khắp quanh khu vực quặng mỏ, và như một thứ độc tố, nó lan ra tới đâu thì cây cỏ, thú vật không thể sống được và con người thì mang đủ thứ bệnh tật, sống vất va vất vưởng như loài ma trơi.
Huy Lâm

“Bún cháo chửi”: Người Hà Nội nghiện “gia vị” nhục?


Đặc sản Hà Nội?

Theo VTC14, 29.9.2016: “Mới đây, đầu bếp nổi tiếng người Mỹ Anthony Bourdain – người từng ăn bún chả với Tổng thống Obama – đã không giấu nổi sự ngạc nhiên khi lần đầu tiên đến ăn ở quán bún chửi Ngô Sỹ Liên. Ông đã đưa trải nghiệm lạ lùng của mình vào chương trình Parts Unknown, vừa phát sóng trên kênh CNN cách đây ít ngày”.
Trong chương trình truyền hình đó, đầu bếp này được một cô gái Hà Nội đưa đến giới thiệu món “bún chửi”(BC) ở phố Ngô Sĩ Liên và nói rằng đó là quán ăn yêu thích nhất của cô.
Ông Mỹ không cảm nhận được tiếng chửi và sự nhục mạ khách của người bán hàng thì đã đành. Nhưng điều đáng ngạc nhiên là thay vì bất bình với thái độ bất lịch sự, bạo lực của người bán bún – vì chửi và miệt thị người khác đương nhiên là một dạng bạo lực – cô gái lại đồng tình, biện hộ cho người “đàn bà chửi” đó, coi như một đặc sản văn hóa ẩm thực VN.
Chương trình truyền hình nói trên quay trong bối cảnh quán có đông người ăn. Bà chủ quán thấy ông Mỹ và truyền hình quay thì dịu giọng hơn mọi ngày, nhưng chỉ trong khoảnh khắc đó, bà ta cũng đã kịp làm nhục một cô gái trẻ khác trước đám đông.
Cô gái không có lỗi gì. Cô ăn mặc và nói năng lịch sự. Cô chỉ hỏi mua một bán bún có mọc(thịt nạc giã nhuyễn viên thành viên, thường các quán bán bún đều có).
Chỉ thế thôi mà bà chủ quán đã tạt vào mặt cô những lời mỉa mai, xua đuổi cô trước mặt đám đông, trước cả ông đầu bếp Mỹ và ống kính truyền hình, trong khi những khách hàng khác thản nhiên xì xụp, chăm chú vào bát bún, coi việc chửi là chuyện đương nhiên.
Ông người Mỹ không biết tiếng Việt thì đã đành. Nhưng khách ăn thì thấm thía tận ruột gan những cầu chửi bằng tiếng mẹ đẻ chứ không thể biện hộ rằng không hiểu.
Khách ăn lần đầu bị chửi hoặc biết sẽ bị chửi mà vẫn ăn thì chứng tỏ những người ăn đó đã chấp nhận và gián tiếp cổ vũ tính bạo lực và lưu manh. Việc này càng được phổ biến rộng, chấp nhận rộng rãi thì càng gây hại cho xã hội và động chạm đến nhân phẩm con người.
Vì sự chấp nhận đương nhiên, ngày càng nhiều quán và dịch vụ các loại kèm “gia vị chửi- gia vị nhục” với khách hàng. Với thông tin BC lên CNN thì e rằng món BC phát triển thêm rầm rộ và khách hàng đi đâu cũng dễ được ăn kèm thứ “gia vị xú uế” đó.
Điều này tưởng vô hại, nhưng thực ra tiềm ẩn những nguy cơ sâu xa.

Mùi xú uế của “gia vị nhục”

Khi ta chấp nhận, thậm chí vui chịu bị kẻ khác chửi bới xúc phạm chỉ để mua được miếng ăn ngon, vậy ta có công bằng với chính mình không?
Xót xa thay là trong đám đông đó không thấy một tiếng nói chính trực nào lên tiếng bênh vực cô gái bị nhục mạ và cảnh báo chủ quán BC như nghĩa vụ của một con người cần làm khi thấy một người khác bị xúc phạm. Và ngay cả việc họ phải ăn trong tiếng chửi, dù là chửi người khác- thì cũng đã là bị xúc phạm lớn.
Lẽ nào họ không nhận ra chủ quán đã thêm vào món ăn của họ một thứ “đặc sản” VN: “gia vị nhục”! Khách ăn có quyền từ chối gia vị nhục. Nhưng không, họ vẫn ăn ngon. Vì sao? Họ đã nhờn trước mùi xú uế của thứ “gia vị nhục”, coi đó là chuyện vặt, là đương nhiên và còn thú vị. Coi thế thì họ mới ăn tiếp và còn đến ăn tiếp lần sau.
Chuyện BC và những món hàng bán kèm chửi mắng Hà Nội không thể là chuyện đùa được nữa rồi. Khi chửi và văng tục đã trở thành đương nhiên, ngay cả trong nhiều người có trình độ văn hóa và quan chức!
Sinh ra làm người, ai cũng có nhân phẩm, ai cũng cần được tôn trọng. Văng tục và chửi người khác là muốn nô lệ hóa tha nhân, đồng thời cũng hạ thấp nhân phẩm của chính mình. Ai cũng biết, mắng mỏ, đay nghiến, văng tục vào mặt người khác là một cách giao tiếp bất lịch sự, áp đặt và bạo lực.
Văng tục, chửi bới tố cáo đẳng cấp văn hóa của chủ nhân. Một xã hội lành mạnh không tạo cơ hội và đồng lõa với những cách hành xử bạo lực kế cả trong hành động, lời nói cùng cung cách giao tiếp.
Trong hiện tượng tồn tại kéo dài “bún chửi cháo chửi” ở Hà Nội, chúng ta không thể không thấy đau buồn thay cho thủ đô tự nhận mình là văn hiến nhưng nhà chức trách cũng như người dân đã không làm gì đủ để chấm dứt tình trạng đó.

Não trạng nô lệ

Không vặt vãnh chút nào vì tất cả những biểu hiện này xuất hiện từ căn nguyên sâu xa của não trạng nô lệ.
Chỉ có trong xã hội này, thì bạo lực từ miệng của một người đàn bà bán hàng tầm thường đã được nhân lên, quảng cáo thành một phương cách, một thương hiệu bán hàng.
Qua hiện tượng này, ta có thể lý giải về sự thường xuyên dùng bạo lực với phụ nữ, người già và trẻ em cùng những người yếu hơn mình của người VN.
Tại sao ngoài xã hội nhiều cướp giết hiếp. Tại sao cơ quan công quyền luôn nêu gương xấu, dùng đủ mọi hình thức bạo lực với dân để kiếm chác không giới hạn, cũng như tâm lý chấp nhận bạo lực chỉ vì ngại dây dưa với một kẻ ngoa ngoắt hoặc sợ hãi trước cường quyền của người VN?
Gần một thế kỷ cướp được và vận hành thể chế, nhà cầm quyền độc tài cộng sản đã rất thành công trong việc biến não trạng của người dân VN tự trọng thành não trạng sợ hãi và nô lệ. Và những nô lệ luôn khổ sở, không có lối thoát thì tìm cách tận dụng mọi vị thế để bắt nạt kẻ khác. Và để đổi chác lấy một miếng an toàn, người ta lại ngoan ngoãn chấp nhận làm nô lệ.
Não trạng nô lệ, thấm vào máu người VN, từng đường gân thớ thịt thể hiện trong mỗi hành xử của con người, đã là lá chắn bền chắc cho những kẻ độc tài.
Não trạng đó khiến cho cả trăm người, ngàn người, ngày này qua ngày khác lũ lượt nhịn nhục trước một vài người bán đồ ăn tầm thường. Vậy ta lấy đâu ra dũng khí phản đối những chà đạp lớn hơn lên quyền con người từ các thế lực mạnh hơn?
Vì thế, VN hiếm những người chính trực. Người chính trực luôn giữ mình tự trọng và ngay thẳng không chỉ trước cường quyền, mà còn trong tất cả mọi tình huống hàng ngày. Người chính trực tự thấy mình có đủ bổn phận vào dũng khí để bênh vực người khác khi họ gặp bất công.
Tâm lý dễ dàng chấp nhận bạo lực ở VN, sẵn sàng “nuốt gia vị nhục” để đổi lấy những chút lợi ích tầm thường, ấy là tâm lý nô lệ. Tâm lý này đã là mảnh đất màu mỡ nuôi đau thương lâu dài cho người VN và khiến người VN hăm hở tự hại chính mình.
Khi không thể làm gì trước những bất công xẩy ra với mình, những người nô lệ có khuynh hướng bắt nạt những kẻ lệ thuộc mình bằng bạo lực vật chất và tinh thần.
Vô số người VN dồn sự phẫn uất với nhà cầm quyền và những kẻ tham nhũng, cướp bóc của họ vào trong tiếng chửi thề, văng tục để họ khỏi nổ tung ra vì căm giận.
Họ cho rằng mình không thể làm gì nhà cầm quyền. Họ được cộng sản truyền đời báo kiếp cho sự sợ hãi chính trị và coi chính trị là lĩnh vực thường dân không được quyền bàn tới. Họ xả tức giận vào những tiếng chửi và văng tục, với những ai mà họ biết rằng không chấp hoặc không làm hại họ.
Và thế là năng lượng tốt của con người: biết phẫn nộ trước bất công –  đã được biến hóa thành năng lượng xấu: hạ nhục kẻ vô tội khác để xả phẫn uất. Khi xả phẫn uất không đúng thủ phạm, thì thủ phạm được yên ổn, được khuyến khích.
Đó là vòng luẩn quẩn của não trạng nô lệ.

Nhận biết và khước từ “gia vị xú uế”

Một vài người bán hàng chỉ vì nấu được bát cháo miếng bún ngon mà cũng tận dụng vị thế để nô dịch người khác dễ dàng vậy sao? Một phần là lỗi ở chúng ta. Và chúng ta cười nhăn nhở trước tiếng chửi và thâm tâm còn bắt chước vì thấy nô dịch người khác dễ quá, tội gì không chửi trước, chửi bậy bạ bất kỳ đâu, bất kỳ ai để giành ưu thế.
Chúng ta phải đòi lại quyền được tôn trọng, quyền làm người chính trực.
Vì sao chúng ta úp mặt vào miếng ăn , sụp soạp húp khoái trá trong tiếng chửi?! Ta xứng đáng được tôn trọng và không bất kỳ ai được xúc phạm ta. Ăn trong tiếng chửi mà thấy ngon ư? Khứu giác và vị giác người VN vì sao đổ đốn thế này?!
Con người bình thường phải cảm nhận ngay được mùi tanh lợm xú uế đã đổ vào bát ăn qua tiếng chửi và phải hắt cái bát ăn đó đi, thậm chí phải đưa kẻ chửi, kẻ dám nhục mạ khách hàng ra chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Khốn khổ quá! Từ bao giờ mà người VN đã trở thành như vậy? Vậy còn lĩnh vực nào ở VN không bị nô dịch hóa? Vì sao nô lệ hóa người VN dễ dàng đến thế?
Nếu chúng ta không dám tỏ thái độ phản đối một kẻ bán hàng tầm thường dám nhục mạ ta, thì sao ta còn dám đòi quyền con người và tự do của ta, còn nói gì đến việc bênh vực người khác trước hoạn nạn và bảo vệ đất nước?
Cải tạo não trạng nô lệ, giành lại quyền làm người chính trực là để cứu lấy người VN. Đó là một việc làm cấp bách, cần bền bỉ, lâu dài, cần thể hiện, cần kiểm soát mình để khước từ nhai nuốt “gia vị nhục” trong mọi trường hợp.
VTH

Bài Xem Nhiều