We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 12 October 2016

Đảng công sản Việt Nam sẽ sụp đổ theo kịch bản nào?


“...chính các tổ chức cũng chưa biết cách dung hoà những khác biệt cách nhìn, suy nghĩ và hành động. Và vì vậy việc tranh đấu xoá bỏ chế độ hiện nay vẫn chỉ là ước mơ...”
congsan_supdo02 Cha đẻ Cộng sản Xô viết đã nằm xuống tại Ukraine
Trước tình hình người dân không nhìn thấy một tương lai chung nào cho chính mình và mất niềm tin vào cộng đồng cũng như luân lí đạo đức suy đồi chúng ta phải làm gì? Chắc chắn chúng ta phải thay đổi thể chế này. Và phải thay đổi ngay lập tức. Chỉ có thay đổi thể chế này ngay lập tức để có một thể chế mới dân chủ đa nguyên phục vụ dân, không tham nhũng cửa quyền thì mới cứu được đất nước chúng ta đang trong hiểm hoạ diệt vong. Nhưng thay đổi làm sao? Để thể chế này tự thay đổi hoặc tự sụp đổ hay phải cùng nhau đứng lên xoá bỏ thể chế ấy?
Để thể chế này tự thay đổi là một chuyện viễn vông không tưởng. Có ai lại tự cầm dao giết mình không? Từ bỏ quyền lực và quyền lợi nhường cho người khác đã có mấy ai như vậy? Vì vậy kịch bản này rất khó xảy ra cho nên chúng ta phải gạt kịch bản này qua một bên.
Còn ngồi chờ chế độ này tự sụp đổ thì chỉ làm cho đất nước tan hoang hơn hoặc bị xoá tên khỏi bản đồ thế giới. Bởi vì nó chỉ tự sụp đổ khi xã hội không còn một chút kỉ cương nào, không còn một tí đạo đức và luân lí nào nữa, mọi người không ai nghe ai và xã hội hỗn loạn với nhiều sứ quân. Bởi vậy chúng ta không thể chấp nhận kịch bản này.
Như vậy chỉ còn kịch bản là phải xoá bỏ thể chế ấy. Muốn xoá bỏ thể chế, có hai cách: một là có một bộ phận thuộc giới cầm quyền đứng lên lật đổ và hai là người dân đồng lòng đứng lên làm cuộc cách mạng.
Kịch bản một bộ phận của đảng cầm quyền đứng ra lật đổ chế độ có thể xảy ra không? Lịch sử Việt nam cho thấy là đa phần các cuộc lật đổ thay đổi chính quyền đều do một bộ phận nào đó của chính quyền cũ đứng ra làm. Tình hình hiện nay của đảng cộng sản Việt nam đang cho thấy là kịch bản này rất có thể xảy ra. Nhưng viễn ảnh một nước Việt nam dân chủ đa nguyên sau kịch bản này, không có gì là chắc chắn sẽ xảy ra: có thể sẽ là một chế độ dân chủ như ở Miến Điện nhưng cũng có thể sẽ là một chế độ độc tài kiểu mới như ở Nga.
Vậy kịch bản người dân đồng lòng cùng nhau đứng lên làm cuộc cách mạng xoá bỏ thể chế hiện nay có thể thực thi được với tình trạng tâm lí xã hội hiện nay không? Một tâm lí trông chờ mà không dám đứng ra làm hoặc tham gia vào một tổ chức nào đó để cùng làm. Nhiều người mang tâm lí trông chờ một vị lãnh đạo tài đức vẹn toàn hoặc ít ra có một tổ chức đủ mạnh đáng tin cậy đứng ra lãnh đạo để đi theo. Đang khi ấy thì chính các tổ chức và đoàn thể xã hội dân sự cũng ở trạng thái trông chờ: trông chờ Mĩ và quốc tế đứng ra giúp thay đổi chế độ này; trông chờ người dân sẽ thức tỉnh và đứng lên làm cuộc cách mạng. Những hiện tượng như Yên Bái hoặc Trịnh Xuân Thanh đã làm cho nhiều người cảm thấy hồ hởi và tích cực theo dõi, cho thấy rõ thái độ trông chờ chế độ này tự sụp đổ mà không cần phải làm gì của các tổ chức đoàn thể và của nhiều người dân không tham gia tổ chức đoàn thể nào. Nên nhớ là người dân lúc nào cũng sợ hãi và chỉ đứng lên khi quyền lợi sát sườn bị đụng chạm hoặc bị dồn vào chân tường đàng nào cũng chết trừ khi đứng lên tranh đấu thắng lợi. Bằng chứng vụ cá chết ở Formosa: chỉ những người bị đụng chạm quyền lợi sát sườn, bị dồn vào chỗ chết mới dám đứng lên tranh đấu còn những người dân ở nơi khác cảm thấy quyền lợi chưa bị đụng chạm và còn đường sống thì coi như mình vô can. Thái độ trông chờ ấy còn thấy ở việc các tổ chức đoàn thể chỉ mạnh miệng chém gió và không làm gì. Trước khi có thể thay đổi được chế độ này phải kinh qua giai đoạn chuẩn bị tốn nhiều thời giờ, công sức và tiền bạc. Thử nhìn xem các tổ chức đoàn thể đã chuẩn bị cho việc thay đổi này như thế nào hay là chỉ hô hào chém gió và hành động theo cảm tính lãng mạng. Đã có những kế hoạch cụ thể nào cho việc thay đổi này chưa hay là chỉ vạch ra một số nét đại cương có tính chung chung và hô khẩu hiệu. Kế hoạch cụ thể ấy phải nói rõ những bước đi để thay đổi như thế nào? Nhân sự làm sao? Kết hợp với ai? Làm sao liên kết được để có sức mạnh? Làm khi nào và làm làm sao? Cái nào làm trước cái nào sau? Khi không đúng kế hoạch thì giải quyết ra sao? Rồi phương tiện tìm ở đâu? Nên nhớ là không có phương tiện thì không thể thực hiện được giống như không có ăn thì không có sức để làm. Chính vì chưa có tổ chức nào đưa ra được những kế hoạch cụ thể rõ ràng về giai đoạn chuẩn bị hoặc có đưa ra nhưng mới chỉ là những đường nét chung chung chưa thấy cụ thể rõ nét và thuyết phục nên nhiều người vẫn ước mơ có một tổ chức đủ mạnh và đáng tin để ủng hộ.
Có giải pháp nào để giải quyết vấn đề này - ước mơ có một tổ chức đủ mạnh và đang tin để ủng hộ - không? Chắc chắn là không có tổ chức nào đứng riêng lẻ có đủ sức để tạo được niềm tin cho mọi người tham gia vào cuộc tranh đấu cho dân chủ đa nguyên. Chỉ có con đường là các tổ chức phải ngồi lại với nhau liên kết thành một Mặt trận đấu tranh thiết lập dân chủ đa nguyên cho Việt nam thì mới có thể lôi kéo được mọi người tham gia vào cuộc đấu tranh hiện nay.
Nhưng trước tình hình hiện nay tổ chức nào cũng chỉ coi mình là nhất, không tin tưởng và coi khinh các tổ chức khác thì viễn ảnh có được một sự liên kết rất xa vời. Cụ thể như khi đánh giá các tổ chức khác thì chỉ thấy mặt xấu, mặt tiêu cực cho nên chỉ có chê bai là chính. Còn đánh giá mình thì chỉ thấy mình hay và tốt. Một hình thức tự sướng và không cần phải làm gì nữa. Vì vậy tổ chức không phát triển được dù đã được thành lập rất lâu. Còn nếu có ai chỉ ra cái xấu, cái tồi dở của mình thì tìm cách lấp liếm, biện minh.
Ngoài ra chính các tổ chức cũng chưa biết cách dung hoà những khác biệt về cách nhìn sự việc, về suy nghĩ và hành động giữa các đoàn viên với nhau thì làm sao có thể nói đến liên kết các tổ chức có cách nhìn, suy nghĩ và hành động còn quá khác biệt với nhau. Và vì vậy việc tranh đấu xoá bỏ chế độ hiện nay vẫn chỉ là ước mơ. Chỉ khi nào các tổ chức đoàn thể, trước hết biết dung hoà sự khác biệt trong tổ chức, để từ đó biết tôn trọng sự khác biệt của các tổ chức khác. Và sau đó biết coi trọng các tổ chức khác, biết coi nhau bình đẳng và hữu dụng, yểm trợ nhau trong những công tác của nhau. Và cũng chỉ khi nào các tổ chức và cá nhân biết từ bỏ tham vọng tìm kiếm đoàn kết để chỉ đi tìm sự liên kết thì khi đó mới hi vọng tiến đến việc liên kết các tổ chức thành một Mặt trận. Và viễn ảnh xoá bỏ chế độ này mới có thể thành hiện thực. Và đó cũng là kịch bản có lợi nhất cho đất nước Việt nam chúng ta.
Phan Bá Việt

CHUYỆN KỂ TRÊN BIỂN ĐÊM




C
ả bọn chúng tôi cơm nước xong xuôi thì trời vừa sụp tối. Cái mặt trời chói lọi tỏa ra hơi nóng hừng hực ban chiều đã lặn đi đâu mất tiêu nhường chỗ cho bóng tối tràn lan bao phủ khắp cái biệt thự này. Tôi đứng dậy ngó quanh ngó quất cố tìm một vật gì để thế cây tăm xỉa răng nhưng vô ích, cả gian phòng trống rỗng. Không có gì hết ngay cả một cọng chưn nhang. Hồi nãy khi ăn cơm, mấy người đàn ông, đàn bà và hơn sáu bảy đứa con nít đều phải ngồi bệt xuống sàn gạch bông sau một buổi trời hì hục quét tước, lau chùi cho sạch sẽ. Người ta đã khiêng đi đâu mất hết bàn ghế, tủ giường, nồi niêu soong chảo… luôn cả mấy cánh cửa sổ, cửa ngăn bằng cây. Căn nhà trống hốc. Còn rác rến, giấy vụn, vải rách, bụi bặm thì vương vãi đầy nhà. Trên trần và vách, dây điện đứt treo lủng lẳng. Nhưng mấy thứ còn lại đó, đám người vượt biên theo kiểu bán chánh thức tụi tôi đâu có lấy làm chi. Căn nhà bị khai thác tận tình như một cô gái ăn sương rẻ tiền về sáng chỉ còn trơ bộ mặt hốc hác, loang lổ phấn son. Vậy mà khi mới được công an chở tới đây, thằng Dân ngó trực thấy cái vẻ đồ sộ bên ngoài, có vẻ khoái chí khều tôi nói nhỏ:
– Nè, anh Ba, tụi nó lựa cho mình cái “quy-la” nầy sang quá hả. Đã thiệt!
Cái thằng thiệt tình, lúc nào miệng cũng lách chách không để lành da non. Tôi với nó không quen biết gì ráo trọi, tình cờ gặp nhau trong chuyến vượt biên do một người Việt gốc Hoa bán hủ tiếu đứng lo tổ chức. Tôi thứ bẩy, vậy mà nó gọi tôi bằng anh Ba gọn bân, ngon lành. Ối, ai hơi đâu mà cải chánh làm chi. Lúc đó tôi đứng vịn cái cổng sắt kiên cố, nhìn thấy cái sân rộng trải sỏi trắng, những cây hoa móng bò, hoa sứ, hoa tường vi trồng dọc theo lối đi, có hai cây tùng Nhật Bổn xanh um ở trước cửa đi vào nhà, trong bụng chịu quá mà còn làm giọng sang:
– Ừa ừa cũng tạm được nhưng nghe nói thiếu giường, thiếu chiếu làm sao mà ngủ… Nó quay qua nhìn soi mói, nói giọng nhão nhẹt:
– Chời ơi, nghèo mà ham, cái thân vượt biên được công an kiếm nhà cho ở mà còn khen chê!

Chiều nay ăn cơm trễ nên trời đã tối thui. Trong kẽ răng vẫn còn nghe vương vướng, tôi bèn bước ra sân đi đến một chậu trúc kiểng, đưa tay bẻ một cọng để tước nhỏ làm tăm. Chân bước lang thang trên con đường lát sỏi. Cái sân rộng mênh mông. Bóng tối đã lan tràn. Mặt trăng tròn đang lên từ từ bị vướng trong đọt tre chiếu cái ánh sáng lành lạnh xuống mặt đất xám đen mờ mờ. Bụi hoa dạ lý hương ở đâu đó vào khuya thơm sực nức. Trong nhà thiếu ánh điện, ai đó đã thắp lên một ngọn đèn cầy nhỏ, ánh sáng lù mù. Đàn muỗi bay tới tấp. Đã có gió mát lai rai nên nghe tiếng lá xào xạc lẫn với tiếng dế và côn trùng nỉ non, cái âm thanh rì rào nhè nhẹ. Bất ngờ trong cái không gian tĩnh lặng đó, thoảng trong gió một giọng ngâm thơ văng vẳng từ xa. Ở đâu không biết nhưng không phải là đám vượt biên trong nhà. Giọng ngâm tuy xa nhưng nghe đủ rõ. Giọng của một ông già, khàn khàn, đùng đục, làn hơi đã yếu ớt. Ông ta nói thơ đúng hơn là ngâm, mới nghe hơi lạ tai nhưng quen dần thì dễ chịu. Ông đã bắt đầu như vầy:
Nàng Thúy Kiều là con ông Vương viên ngoại
Lúc sanh thành ở tại Bắc Kinh
Thuở nàng còn niên thiểu ấu sanh
Ba chị em xúm xít ngồi chơi trước cửa…


À, ông ta ngâm Kiều, giọng ngâm được quá chớ. Chắc hồi xưa ông trôi nổi trên các bến nước, sống đời thương hồ quen hò hát trong đêm trăng hay là thợ cày, thợ cấy? Mà bài Kiều này không phải bản của Nguyễn Du:
Tên đâu lạ bất tường hương sở
Xưng rằng thầy tướng sĩ du phang
Vừa ngẫu nhiên bước tới gặp nàng
Dừng bước lại xem qua tài tướng…


Tôi mỉm cười một mình. Cái màn coi tay, coi tướng nầy hấp dẫn đây. Chị em Kiều sống đời nhà Minh sao cũng giống y các cô đời bây giờ. Ai cũng lo lắng thắc mắc đường tương lai nên tìm mọi cách để biết trước, để rồi lại lo hơn! Giọng ngâm bỗng cất lên cao vút:
Nàng này đáng thiên kim vạn lượng
Uổng cho nàng tuyết nguyệt phong hoa


Trời ơi, hai câu thơ khéo quá. Thiên kim vạn lượng nói lên cái giá cao quí tuyệt vời đặt sóng đôi với tuyết nguyệt phong hoa chỉ cái đẹp đẽ nhưng mỏng manh chóng tàn, cái kiếp ngắn ngủi của kẻ tài hoa. Hơi thơ đi một mạch thần sầu. Thơ của ông già nầy làm ra hay của ai, tôi không biết. Bài nầy tôi cũng chưa từng nghe qua lần nào. Giọng ngâm khi thì lên cao khi thì xuống thấp gây cho tôi cái cảm giác xao xuyến chơi vơi. Cái dư âm của bốn chữ “tuyết nguyệt phong hoa” vương vấn trong đầu khiến tôi ngây ngất. Mặt trăng bây giờ đã lên cao nhưng bị mây đen che khuất. Trong hơi gió đã nghe lành lạnh. Tự dưng tôi muốn được gặp ông già ngâm thơ để hỏi cho rõ ngọn nguồn. Nỗi thương, nỗi nhớ, nỗi đau nào đã khiến ông thở than trong đêm trường tịch mịch. Cái tâm sự não nề của ông có giống cái nỗi đứt ruột của cô Kiều ngày xưa? Tôi, một kẻ lỡ lính lỡ dân, lạc bước ghé tạm qua đây, tình cờ được nghe lời thơ thê thiết, lòng xúc động bồi hồi. Nàng Kiều ngày xưa và tôi bây giờ có khác gì đâu. Cùng là một kiếp hoa rụng thì chọn gì đất sạch. Mai mốt đây khi đặt chân xuống ghe thì đời tôi cũng là một thứ “lạc hoa lưu thủy”. Trong cái trí óc hỗn độn, hình ảnh chập chờn của những cánh hoa đơn độc lẻ loi xanh tím vàng hồng đẹp đẽ yêu kiều bị vùi dập trên sóng nước tả tơi, tơi tả. Chúng sẽ bị dòng nước phũ phàng cuốn trôi đi tới góc biển chân trời nào, rồi chúng sẽ ra sao, tôi không biết và cũng không muốn biết…
Trí tưởng tượng nửa chừng bị đứt quãng vì có tiếng xôn xao trong nhà, rồi ánh đèn pin loang loáng, tôi xẹt vào núp bên trong một bụi cây um tùm để nghe động tĩnh. Hồi lâu hình như không có gì quan trọng, tôi đi lần vô trong, gặp ngay thằng Dân ở cạnh hòn non bộ:
– Chuyện gì trong nhà đó Dân?
– Anh Ba vô nhà mà coi, ông Trưởng ty Công an đem gởi cho Hủ Tiếu một cô nàng đẹp hết sẩy. Nó vừa nói vừa ra dấu, mắt liếc vô trong rồi tiếp:
– Thằng chả mới quết được thêm một con bò lạc nữa. Con cái nhà ai mà ngộ hết sức. Nội cái bộ ngực của nó, cam đoan anh Ba thấy là khát sữa liền. Hồi chiều hai người chở nhau đi hú hí ở đâu đó không biết bị người quen gặp mét với bà lớn. Bả bèn dắt đám lâu la đi lùng. Bị động ổ thằng chả bèn lén chở lại đây giao cho Hủ Tiếu giữ, nhét chung vô đám vượt biên tụi mình. Tôi nghe chịu quá, bèn nói giỡn cho vui:
– Phải chi giao cho tao. Người đẹp như vậy mà giao cho Hủ Tiếu, rủi “giả” bỏ vô thùng nước lèo thì còn gì đời hoa. Uổng thiệt!
Thằng Dân cười híp mắt:
– Hủ Tiếu già ngắc khú đế đâu còn làm ăn gì được. Giao cho anh Ba, tui cao đoan vài ngày hoa héo queo…
Một ngọn gió lướt ngang qua cây lá xào xạc, đưa theo tiếng nói thơ của ông già văng vẳng:
Nàng Đạm Tiên là gái nhà trò
Sống bấy lâu sông hẹn núi hò
Nay chín suối mồ vô nhơn chủ


Thằng Dân cũng vừa nghe kịp câu hát:
– Ai mà ngâm thơ nghe buồn đứt ruột vậy? Ba cái điệu nầy nghe hoài bủn rủn tay chưn làm ăn hết nổi. Ối, đời bây giờ thiếu gì Kiều với Đạm Tiên. Nè, trong nhà cũng có một Thúy Kiều đang ngồi khóc hu hu… Tôi đập nhẹ vào vai nó:
– Ê nghen, nói chơi cho vui một chút thôi. Vô trỏng ăn nói lộn xộn là cả cái ghe BL 1648 neo luôn ở cái đất Bạc Liêu nầy, tao với mầy chỉ có nước đi câu cá chốt! Tôi đưa tay lên miệng biểu nó nói cho nhỏ, chơn bước qua ngưỡng cửa. Trên mặt sàn gạch bông rộng, hàng chục cái mùng nhỏ giăng dọc giăng ngang. Mấy người nằm trong mùng không biết còn thức hay đã ngủ. Muỗi con nào con nấy lớn bằng con ruồi, bay như vãi trấu, thôi chun vô mùng sớm cho được yên thân. Tận tuốt bên trong cùng cạnh cái xắc hành lý của tôi, Hủ Tiếu đương loay hoay giăng một cái mùng mới. Một cô gái còn trẻ đứng xấn bấn kế bên, mặt quay vô trong tìm kiếm cái gì. Thấy tôi lò dò bước vào, chưn rón rén đi tránh các vạt mùng, Hủ Tiếu chộp ngay nói liền:
– Cô Hai nầy là bà con bên vợ, đi lỡ đường tạm ngủ với anh em mình đêm nay. Sáng mai sớm quá giang xe lên Sài Gòn liền. Rồi ông ta làm bộ thở than:
– Thiệt đời bây giờ khó quá, cái gì cũng bày đặt trình báo lôi thôi. Hay là như vầy, nếu có ai hỏi tới hỏi lui, thì anh cứ khai dùm cô nầy là vợ, đỡ cho tôi phải xin thêm giấy tờ phiền phức.
Tôi há hốc miệng:
– Trời đất! Khai cô nầy là vợ tui? Bộ hết chuyện giỡn sao cha nội?
Vừa nói tới đó thì cô gái quay lại. Trong bóng tối chập choạng nhá nhem tôi thấy mắt nàng chớp chớp. Cặp mắt thiệt to. Tức quá, phải chi ngọn đèn sáng sáng thêm một chút, tôi lại không đem cặp kiếng theo. Cái gì thấy cũng mờ mờ. Tôi nhớ hình như đã gặp người nầy ở đâu. Cặp mắt nầy tôi đã gặp… Cái trí nhớ mơ hồ lãng đãng. Khi quay lại, cô gái bị đánh ghen kia vừa nhìn thấy tôi bèn trố mắt nhìn sững. Phải một hồi thiệt lâu nàng mới cất tiếng, giọng thiệt nhỏ run run:
– Phải anh Quốc?
Nghe hỏi tôi chưa kịp nói gì hết thì nàng đã ôm chầm lấy tôi nghẹn ngào. Tôi không biết nên cười hay nên khóc. Trong cảnh trái ngang nầy, đầu óc trơ ra như đất, tôi đứng ôm nàng chết trân.
***
Trời đêm nay không gió nên sóng chỉ gợn lăn tăn. Chiếc ghe êm ái lướt nhẹ nhàng trong đêm. Tiếng máy chạy xình xịch đều đều như ru mọi người vào giấc ngủ mê man. Họ chen nhau nằm la liệt, ngổn ngang. Cái chân người nầy xỉa vô hông người kia, cái mặt người kia quay vô lưng người nọ, mạnh ai nấy tìm chỗ ngả lưng qua đêm. Bầu trời tuy thiếu trăng nhưng đầy sao lấp lánh. Trên đầu tôi là ngọn đèn pha chiếu sáng yếu ớt vàng vọt cố soi cho thủng cái mặt biển đen ngòm. Tôi tìm hoài không còn một chỗ trống đặt lưng, thôi đành ngủ ngồi thêm một đêm nữa. Trước mắt, thằng Dân nằm thẳng cẳng ngáy khò khò. Nó nằm ở đây hồi nào không ai để ý. Tôi quay qua quay lại cố tìm một chỗ duỗi chân cho đỡ mỏi, thấy kế bên còn trống, tôi đưa chưn xen vào, nhè đâu xỉa vô hông nó. Thằng nhỏ tỉnh giấc lừ nhừ, miệng càu nhàu tính gây, ngờ đâu ngó trực thấy tôi bèn dịu giọng:
– Chưa ngủ hả anh Ba?
– Nhớ nhà buồn quá, ngủ không được. Ngó trời trăng mây nước cho vui.
Nó dụi mắt vài cái rồi tỉnh ngủ hẳn, lồm cồm dậy, chen vô ngồi sát bên tôi, chưa nóng đít đã mở máy:
– Thôi mà anh Ba, dấu em làm chi. Mình mới rời khỏi Việt Nam có một ngày một đêm. Nhớ gì mà nhớ lẹ vậy? Theo em tính chắc là anh nhớ Bạc Liêu với anh Tám Trưởng ty…
– Mầy đoán ẩu tả. Tao với thằng cha đó tình nghĩa gì mà nhớ.
– Vậy chớ sáng hôm nào, anh Tám lại nhà chở cô vợ bé về, tại sao có người đứng nhìn theo muốn rớt con mắt. Thôi có gì thì khai ra đi anh Ba. Ở đây đâu có ai, chỉ có anh em mình là còn thức, thiên hạ ngủ hết trơn rồi. Chuyện gì cũng được, nói cho vui. Mai mốt qua tới bển nói tiếng Tây với ăn bánh mì… rồi quên tuốt luốt chuyện Việt Nam, lúc đó có muốn nhớ cũng không được.
Tôi nhìn thằng Dân. Nó mới chừng mười bảy, mười tám, tốt nghiệp ở cái chợ nào không biết mà sao láu cá quá trời. Chuyện lớn chuyện nhỏ gì cũng không dấu được cặp mắt xét nét của nó. Tự nhiên cái tỉnh Bạc Liêu trở thành vùng đất kỷ niệm cuộc tình éo le của tôi với Yến, có sự chứng kiến của thằng quỷ dịch. Tôi đảo mắt nhìn lại quanh ghe một vòng. Mọi người ngủ say như chết, không một tiếng thì thầm. Biển tối đen như mực. Chiếc ghe là một khối xam xám mờ mờ. Trên cái cột cao hình chữ thập, một miếng vải trắng viết nguệch ngoạc ba chữ SOS bằng sơn đen phất phơ nhè nhẹ. Chỉ có phòng lái còn ngọn đèn vàng nhỏ èo uột. Anh tài công ngồi bất động ôm bánh lái như pho tượng sau tấm kiếng chắn. Không biết anh ta còn thức hay đã ngủ. Tôi và thằng Dân không phải bạn tâm giao hay quen lớn từ trước. Nó con cái nhà ai, học hành tới đâu, tánh tình ra sao, tôi hoàn toàn mù tịt. Làm sao có thể tâm tình với nó được. Mối tình của tôi và Yến thật đẹp, thật thiêng liêng. Tôi yêu Yến đến độ có thể chết được. Hình ảnh nàng trong tôi là tất cả những gì trang trọng, tinh khiết tuyệt vời. Vậy mà… đổ vỡ hết! Chẳng thà không biết gì, có lẽ hơn. Ôi mối tình đầu thiệt đáng thương.

Nỗi đau như một vết dầu loang ngày càng lớn rộng khiến tôi băn khoăn, ray rứt rã rời. Từ cái đêm gặp lại Yến, tôi như người bịnh mơ mơ màng màng, nửa say nửa tỉnh. Yến dễ thương của tôi giờ đây nằm gọn trong vòng tay ai? Có lẽ thằng Dân có lý, tôi cần tìm người để tâm sự cho bớt khổ đau dằn vặt. Còn gì phải dấu kín, hơn nữa, đất nước mất rồi, tất cả đều đổi thay. Thôi kể đại cho nó nghe hoặc bất cứ ai cũng được, một lần rồi thôi, để khi qua tới một xứ lạ nào đó tôi phải rán tập mà sống, rán tập yêu thương một lần nữa theo kiểu cách mới.
– Dân nè, muốn tao kể đoạn đầu, đoạn giữa hay đoạn cuối cái câu chuyện Bạc Liêu?
Nó cười hề hề:
– Đêm còn dài lắm, anh Ba. Đoạn nào hấp dẫn thì được. Anh liệu làm sao khi ghe cập bến Mã Lai thì chuyện chấm dứt là vừa.
– Bộ mầy tính trọn đêm không ngủ hả? Ừ, thôi, mầy muốn thì tao nói. Tao với Yến yêu nhau từ lâu lắm. Quen nhau lúc còn nhỏ xíu. Má nàng vì công cuộc buôn bán làm ăn nên thường làm chủ hụi. Má tao làm tay con. Cứ đến ngày đầu tháng là Yến chạy lại nhà tao kêu đi khui hụi. Thông thường má tao viết một hàng số vào một tờ giấy nhỏ bằng bàn tay, xếp gọn lại rồi dặn kỹ:– Con cầm cái khăn này lại đưa cho cô Bảy Liên Phát, nhớ đừng cho ai coi nghe không? Tao với tay lấy cái áo, tay cầm cái thăm chạy ù với Yến về nhà nàng. Giữa đường, kiếm một gốc cây lén đứng mở thăm ra coi má tao viết số mấy. Yến với tao coi chung rồi hai đứa nhìn nhau khoái chí cười khúc khích. Đến khi má Yến mở thăm của các tay con, tao hồi hộp nắm chặt tay Yến để chờ kết quả. Cặp mắt Yến cũng ngó lom lom. Hai đứa đều mong cho má tao được hốt. Lúc đó tụi tao còn nhỏ quá, không biết người lớn chơi hụi để làm chi. Có điều tao khoái đi khui hụi nhà Yến, lần nào cô Bảy cũng cho bánh ăn và kêu tao bằng “con” ngọt xớt.
Đó, tao với Yến quen nhau nhờ có ba cái vụ hụi hè. Đến khi lớn lên rời tỉnh nhà để đi học ở Sài Gòn thì tao cũng quên mất cô bạn gái nhỏ xíu. Phải mười mấy năm sau, nhơn dịp Tết, tao về nghỉ ở nhà. Lúc đó lớn rồi nghe, biết ăn diện theo kiểu Sài Gòn, chưn mang giày đế da cồm cộp, tóc chải mái hiên láng bóng. Tối hai mươi chín năm đó, tao thả lang thang quanh chợ để coi thiên hạ mua sắm. Người ta sao đông quá, chen lấn nhau mà đi. Các dãy lều được dựng lên để bán bánh mứt, hoa quả, nhang đèn, báo Xuân… Đèn đuốc sáng giăng giăng. Màu sắc xanh xanh, đỏ đỏ, tiếng rao hàng, tiếng trả giá, tiếng cười đùa và đủ thứ âm thanh tạo thành một khung cảnh của chợ Tết ban đêm, hỗn độn mà ấm áp vui tươi. Mắt tao hết ngó chỗ nầy tới chỗ kia rồi bỗng nhiên tao thấy một cửa hàng đèn đuốc sáng rực rỡ có một cô nàng thiệt đẹp nhìn tao cười để chào. Trời ơi! Hàm răng xinh đều như bắp, trắng sáng như ngà như ngọc. Nụ cười tươi như đóa hồng vừa chớm nở. Tao nghe như tim ngừng đập sững sờ đứng ngó nàng trân trân. Phải cả phút sau tao mới tỉnh và gật đầu chào lại. Mầy có biết cô chủ tiệm đó là ai không?
– Còn ai vô đây nữa. Người đẹp Bạc Liêu vừa mới lớn chớ ai!
– Ừa, Yến đó. Nàng lớn hồi nào tao không hay. Tối đó tao ngủ không được, xôn xao bứt rứt. Cứ mơ mơ màng màng thấy cái miệng đẹp với hàm răng trắng muốt của nàng mỉm cười chào tao. Ừ, chỉ nụ cười đơn sơ như vậy mà trái tim tao đập lộn xộn trật nhịp hết trọi. Cả ngày hôm sau tao đâu còn đầu óc nào mà lo sửa soạn Tết nhứt. Tao cứ nghĩ quẩn nghĩ quanh cách thức làm sao để gặp nàng. Đêm ba mươi tao ngồi ở trước nhà đợi đúng Giao thừa, nàng với mẹ đi lễ ở chùa Bà, tao bèn lò dò đi theo nhập bọn đi chung. Tại chánh điện khói nhang mù mịt, đôi mắt cay xè muốn khóc, tao quỳ cạnh nàng van vái Bà phù hộ cho nàng yêu tao. Không biết Bà có nghe lời cầu nguyện hay không, nhưng chắc là cô Bảy Liên Phát nghe vì tao khấn hơi lớn tiếng. Khi ra về cô Bảy dặn lại với tao là chiều mùng một nhớ chở má đến đánh Tứ sắc với cô. Cứ như vậy mà tao ăn Tết ở nhà nàng năm đó rồi năm sau nữa.
Thằng Dân nghe tới đó, vỗ đùi:
– Kể như xong rồi, đã thiệt.
Tôi thở dài:
– Cái gì mà đã. Chuyện kể như xong… cuối cùng rồi cũng không xong. Mầy đừng có thấy tao bậm trợn ngon con như vầy mà tưởng lầm. Tao được cái miệng ào ào nhưng trong bụng nhát hít như thỏ đế. Tao thương Yến thiệt lòng, phải nói là si mê mới đúng. Nàng phải là vợ tao. Không biết bao nhiêu lần quyết định rồi lại do dự, rụt rè. Tao tìm kiếm những câu nói văn hoa trau chuốt để ngỏ tình ý với nàng, sắp xếp cho đâu ra đó rồi học thuộc lòng. Khi nói nàng phải cảm động mà thương tao. Vậy mà phải đợi đến cái Tết thứ hai tao mới liều gan nói đại. Trời ơi, trong cái giây phút trọng đại đó tự nhiên tao cà lăm, cái lưỡi cứng đơ ra, nói không đầu, không đuôi. Mấy câu học thuộc lòng quên hết ráo. Nàng cũng đứng ngẩn ra, mặt nàng xám ngắt vì bất ngờ. Tao run quá, quýnh quáng thấy ở trên, cái trần nhà quay mòng mòng, dưới chân thì mặt đất rung rinh, mồ hôi rịn ra đầy mặt, không biết phải làm gì nữa, tao đành chụp đại tay nàng… Ừ, ừ tao nắm lấy tay nàng…
Thằng Dân khoái quá hỏi tới:
– Rồi sao nữa anh Ba, hai người có hun nhau không?
– Hun cái khỉ khô, vừa đúng vào cái lúc đó, má nàng ở đâu đi sợt sợt về, tao lật đật rút tay lại. Về nhà tao tức hết sức, chuyện có bao nhiêu đó mà làm không nên thân. Không nhớ rõ là lúc tao đưa tay ra nắm lấy cái bàn tay mát rượi như nhung của nàng, nàng có nắm lại tay tao để đáp ứng hay không. Tao thắc mắc hoài. Mấy ngày sau gặp lại, nàng vẫn cười nói tự nhiên. Tao yên tâm nên lần sau dạn thêm được một chút.
– Một chút là bao nhiêu, anh Ba?
– Thì tao nắm trọn được tay nàng. Và tao mừng hết sức, mầy biết tại sao không? Nàng để yên không giựt lại. Lúc đó tao thấy trái đất ngừng quay, tim tao ngừng đập. Tao là người sung sướng nhứt, hạnh phúc nhứt trên cái vũ trụ nầy.
– Rồi chừng nào tới cái vụ hun, anh Ba?
– Phải lâu lắm hai đứa mới dám len lén ôm nhau hun. Yến thật dễ thương, hiền ngoan như con mèo. Tao ôm nàng nâng niu dịu dàng như ôm đứa em nhỏ. Mầy biết không, mấy ông thi sĩ khi làm thơ ca tụng người yêu, ông nào cũng nói người mình thương là đẹp tuyệt trần. Nhưng thiệt ra mấy cô đó cũng thường thường, đôi khi hơi xấu nữa. Trong thơ văn thì phải vậy cho đậm đà, chớ làm thơ mà tả người yêu mình xấu, ai mà đọc. Tao không phải là thi sĩ nên tao nói người yêu tao đẹp thì mầy phải hiểu là Yến đẹp thiệt tình. Như đóa hoa lan phơi trọn sắc hương, nàng kiều diễm xinh tươi hết sức thành ra mỗi lần gặp nàng, tao bối rối rụng rời… Hai đứa tụi tao thương nhau có thể chết được.
Thằng Dân ngồi thừ người, suy nghĩ hồi lâu rồi nói:
– Vậy thì theo em, cái vụ Bạc Liêu buồn thì có buồn chứ không tức. Dầu gì thì anh Ba cũng đã ẵm người đẹp trong tay trước anh Tám công an. Tại cái số của hai người không thành chồng vợ.
Nghe thằng nhỏ nói tới đó tôi nín thinh. Ẵm người đẹp trong tay? Nó hiểu lầm tôi rồi. Tôi nói nghĩa đen, nó hiểu nghĩa bóng. Quả tình tôi đã ôm Yến gọn trong vòng tay. Chúng tôi hôn nhau đắm đuối trong những lần gặp gỡ. Chỉ có bấy nhiêu đó, rồi thôi. Mối tình của hai đứa cố giữ thật trong sạch, thật tinh khiết. Trong bất cứ mối tình nào, muốn bền vững lâu dài, ngoài lòng thương nhau còn phải có sự kính trọng giữa hai người. Ngày nào sự kính trọng mất đi, ngày đó mối tình tan vỡ. Tình vua tôi, cha con, bè bạn còn phải vậy, nói chi đến tình vợ chồng. Tôi thương Yến thiệt tình, trước sau gì nàng cũng là vợ tôi.
– Dân, mầy rán mà hiểu nghe, chỗ này khó nói. Tao như thằng hà tiện có được cây mía. Thay vì ăn liền khúc gốc cho ngọt, tao lại để dành, ăn khúc ngọn lạt nhách trước. Đến chừng cầm đến khúc gốc thì đất nước đổi chủ, tao vô rừng chặt tre với đào đất chơi… Ở nhà, cây mía thành rượu.
Nghe tới đó, nó cung tay đập xuống sàn ghe nghe cái bốp, đôi mắt trợn tròn:
– Trời đất, sao cha nội ngu quá vậy. Nghe không thôi, cũng đủ tức chết. Cả cái xứ Việt Nam Cộng Hòa chỉ có một mình cha thôi, không có người thứ hai. Ngu ơi là ngu!
– Dân, mầy chửi tao cho đã miệng đi. Tao cũng biết là tao ngu nhưng không thể làm khác hơn được. Yến nhẹ nhàng quá, trong suốt quá như cái bình pha lê làm sao tao dám cầm mạnh tay. Tao đâu thể nhẫn tâm phá vỡ mối tình ngây thơ đẹp đẽ của hai đứa. Trong đời tao thà để người phụ tao hơn là tao phụ người. Thiệt thòi một chút nhưng lòng thanh thản…
– Cái gì mà phụ với không phụ. Anh thương cô Yến rồi anh sẽ cưới làm vợ mà. Cải lương vừa vừa chớ. Anh không làm gì hết mà miệng cứ nói thương. Thiệt hết sức!
Rồi nó tiếp, giọng còn hằn học:
– Rồi cái đêm ở Bạc Liêu, có gặm được cái xác mía nào không đó cha nội. Nghe cha kể, thiệt tình tức muốn bể cái ngực luôn.
– Lúc đó tao dìu nàng trở ra sân. Từng cơn gió thổi qua mát rượi. Hai cái bóng tao và nàng sóng đôi nhau mờ mờ trên lối đi trải sỏi. Căn biệt thự chìm ngập trong đám cỏ cây tối đen. Cái không gian tĩnh mịch nầy chỉ còn hai người một thời gắn bó, giờ đây tâm sự ngổn ngang. Tao, một thằng đàn ông ba năm đi lính, bốn năm ở tù, trải bao cay đắng khổ nhục. Ngay cả nay mai sắp làm cuộc vượt biên đem sinh mạng thử hên xui. Vậy mà đến giờ phút cuối lại gặp thêm cảnh ngộ trớ trêu bi đát. Những cảm giác ghen tức, buồn giận, xót thương cứ từng chập dâng lên trong lòng hành hạ tao không dứt. Tao phải làm sao đây? Gần đến cái băng cây, tụi tao ngồi xuống. Yến xích lại bên tao như tìm một tha thứ hay che chở, hay yêu thương? Cái bờ vai tròn nhỏ rung rung. Mái tóc thoảng mùi thơm dìu dịu. Tao vẫn lặng im trong xúc động bàng hoàng. Mãi đến khi nàng ngước mắt lên nhìn, cặp mắt tròn to đen lánh như nhung ướt đẫm nước mắt, tao mới đưa tay qua ôm choàng bờ vai tròn mịn, dịu dàng như ôm đứa em gái ngoan. -" Yến, Yến, không ngờ gặp lại em." Vừa nói tới đó, nàng ôm chầm lấy tao nức nở nghẹn ngào. Tao nghe từng dòng nước mắt ấm ấm thấm ướt cả ngực áo. Yến đẹp đẽ xinh xắn của tao ngày xưa, bây giờ của ai? Nàng vẫn thổn thức, đằm thắm nép gọn trong lòng tao. Một xúc động dâng lên ứ nghẹt trong tim, tao nói: -"Yến nè, coi như không có gì xảy ra hết… Không có gì thay đổi hết. Gặp lại em tối nay, anh mừng quá." Giọng tao nghèn nghẹn. Nàng cũng xúc động không kém, bấu chặt lấy vai tao. Cái tình thương của hai đứa mênh mông quá, làm sao nói cho hết được. Đâu có ngôn ngữ nào đủ để diễn tả lòng cảm thương chơn thành đắm đuối. Hồi lâu nàng lên tiếng: -"Anh Quốc, tha thứ cho em, có những việc làm không biết tại sao. Cả gia đình em tan nát đổ vỡ hết. Ba thì ở mãi tận Hoàng Liên Sơn, mẹ tá túc ở nhà dì Út, em thì trôi nổi như dề lục bình, thân lững lờ trong dòng nước đục, rễ muốn bám chặt lấy một vũng sình nào đó mà cũng không xong…" Lúc đó bỗng dưng nàng ngẩng đầu lên, lắng nghe: -" Hình như có ai ngâm thơ, anh nghe không?" Tao nghe vẫn là giọng nói thơ của ông già hồi đầu hôm, tiếp tục văng vẳng trong gió:
Bước lỡ bước nên chàng dùn thẳng
Chờ Kiều ra tới kiếm trả cho
Gặp mặt nhau đôi lứa hẹn hò
Một lời nguyện trăm năm kết tóc
Yên lặng hồi lâu, nàng nói ngập ngừng: -"Phải chi ngày xưa Kiều và Kim thương nhau hơn một chút nữa. Em muốn nói là họ sống trọn vẹn cho nhau thì về sau khỏi phải ân hận, xót xa, tiếc nuối…" Đêm đã thật khuya. Trăng chun vô một đám mây đen dày mượt, cả bầu trời tối thăm thẳm. Những vì sao còn lại không đủ sáng. Tao nghe sương ướt trên đầu nhưng không thấy lạnh vì người Yến ấm áp, nồng nàn. Nàng ôm lấy tao kêu nho nhỏ: “Anh Quốc! Anh Quốc!…” Bộ ngực căng đầy áp chặt vào ngực tao khiến tao cảm thấy nghẹt thở, các mạch máu chảy ngược lên đầu, lỗ tai lùng bùng. Tao ngửi được mùi thơm hăng hăng của da thịt nàng. Thần kinh tao nửa mê nửa tỉnh. Mặt trăng giờ đã ló ra khỏi đám mây như nhìn tao mà cười. Yến vẫn cựa quậy trong vòng tay, hơi thở thơm tho, thân thể tươi mát. Yến vẫn đẹp như xưa vì quyến rũ bội phần, tình tứ bội phần. Tao cúi xuống nhìn thấy ánh trăng sáng rỡ trên chiếc ngực vun đầy của nàng. Tới đúng cái phút đó tao chợt tỉnh táo. Nay mai đây, khi lên ghe làm một chuyến đi xa, đời tao với nàng chỉ có tan mà không có hợp. Cái gì còn lại sau khi tan vỡ hết? Cái đó là tình yêu của tao thương Yến thật lòng. Tao muốn nàng cũng thương tao như vậy. Một trăm năm, một ngàn năm, một triệu năm… Làm sao để nàng nhớ tao, nhớ hoài hủy. Tao cũng vậy, dầu ở chưn trời góc biển nào, đầu râu tóc bạc phơ, chống gậy đi hết nổi, tao vẫn muốn nhớ thương nàng hoài hoài… như cái thời mới lớn… Trong vòng tay rắn chắc của tao, Yến mở to mắt nhìn, ngạc nhiên và chờ đợi…


VÕ KỲ ĐIỀN

Cuốn hồi ký Những Lời Trăng Trối

Trần Đức Thảo chưa bao giờ là một triết gia đúng nghĩa cả

Thượng Ngàn

hammersicle

NGHÈO NÀN
Việt Nam là xứ nghèo nàn
Cái gì chưa có lại càng thêm ham
Vác mai chạy quấy cùng làng
Bởi vì nhìn thấy người ăn khoai mài
Tự mình tâng bốc hơn ai
Tôn Trần Đức Thảo như là triết gia
Người ta lịch sử hàng hà
Chỉ mình tưởng bở nghĩ ta ngon lành
Ai đời vẽ rắn thêm chân
Xưa nay đủ dạng có cần nói sao
Đại ngôn khoác lác bề ngoài
Danh từ bánh vẽ cứ hoài tưởng hay
Thế nên toàn chỉ loay hoay
Trăm năm nhắm mắt chạy theo người ngoài
Tôn Lê tôn Mác rạch ròi
Như Trần Đức Thảo dễ nào triết gia
Cuối đời mới thấy xót xa
Thông minh kiểu đó có mà hơn ai
Triết gia sao kiểu lạc loài
Tư duy độc lập hỏi nào có chi

Vài lời từ đó mà suy
Tại mình mặc cảm chớ vì người đâu
Tại sao không nghĩ hơn nhau
Cái đầu là chính mà hoài chạy theo
Đúng là đất nước quả nghèo
Đầu heo nấu cháo mượn điều vu vơ
Tư duy độc lập lơ mơ
Chỉ toàn nô lệ đến giờ chưa khôn
Nói liều độc lập tự tôn
Mà không tự chủ hỏi còn ai tin
Tư duy triết học cùn mằn
Lại đi khoe mẽ quả càng trớ trêu
Làm sao đất nước thoát nghèo
Đó là hi vọng lớp sau trưởng thành
Đội trời đạp đất tự mình
Tư duy tự tạo mới thành ta ngon

PHƯƠNG NGÀN
Nếu vật chất mà tự biện chứng thì duy tâm mẹ nó rồi còn gì mà duy vật nữa. Nên danh không chính thì ngôn không thuận là như thế.
Thực chất Trần Đức Thảo chưa bao giờ là một triết gia hay nhà triết học đúng nghĩa cả
Nguồn: Tổ hợp Xuất bản Miền Đong Hoa Kỳ
Nguồn: Tổ hợp Xuất bản Miền Đong Hoa Kỳ
Từ khi Trần Đức Thảo xuất hiện tại thủ đô Paris Pháp sau khi tốt nghiệp thạc sĩ triết học tại một trường đại học danh tiếng của Pháp và có các bài viết tranh biện với nhà triết học nổi tiếng Pháp, danh tiếng Trần Đức Thảo như một triết gia lớn đã nổi như cồn tại Việt Nam cũng như một số nơi bên ngoài Việt Nam. Sự thật đó là thế nào? Có đáng để người Việt Nam phải tự hào một cách có phần nhiều tính giả tạo hay không?
Thật ra nhà khoa học, nhà triết học hay triết gia đúng nghĩa, nhà nghệ sĩ mọi loại đều có rất nhiều xưa nay trên toàn thế giới. Nhưng trong số họ, nhà triết học có lẽ có số lượng ít hơn cả, bởi vì triết học thì mang tính tư duy chọn lọc và đặc thù, tức ít xuất hiện hơn, nên có vẻ danh hiệu triết gia được thừa nhận đúng nghĩa xưa nay vẫn hiếm hơn là như thế.
Nói dung, nghệ sĩ tức người làm nghệ thuật thì cốt yếu chỉ thiên về cảm xúc. Nhà khoa học cốt yếu chỉ thiên về các sự kiện và hiện tượng tự nhiên hay trong thiên nhiên. Chỉ riêng triết gia đúng nghĩa thì phần quan trọng chính nhằm tới đối tượng là các ý nghĩa tinh thần con người cũng như bản chất của vũ trụ nói chung. Chính cái nổi bật của triết học và triết gia đích thực là như thế, nên phần lớn nhiều người dễ thán phục và đánh giá cao các triết gia nói chung là như thế. Hay nói đúng, triết gia từ cổ chí kim, từ Đông sang Tây đều là những nhà tư tưởng. Có những nhà tư tưởng lớn và có tầm vóc muôn đời như những nhà hiền triết hay những nhà tư duy kiểu hiện đại mà trên thế giới ngày nay cũng khó mà đếm xuể, dĩ nhiên!
Chỉ có người này nổi tiếng hơn người kia, người này quan trọng hơn người kia, người này có ý nghĩa hay vị trí lịch sử cao hơn người kia nhìn từ những phương diện hay khía cạnh nào đó. Vậy thôi. Tính cách trội vượt của triết gai hơn so với nhà khoa học, vì nhà khoa học chỉ cốt tìm ra các quy luật khách quan tự nhiên trong thiên nhiên hay vũ trụ vật chất, trong khi đó triết gia lại nhằm nhận định ra các ý nghĩa về tinh thần, về xã hội, về lịch sử, về con người, về vũ trụ bao quát bằng chính tư duy ý thức và năng lực nhận thức cũng như khả năng thấu hiểu của mình.
Trong ý nghĩa như thế, Trần Đức Thảo có thật sự là một nhà tư tưởng, một triết gia lớn như nhiều người trầm trồ ca ngợi hay không là điều cần nên nghiêm túc suy nghĩ. Câu trả lời này hoàn toàn có sẵn trong cuốn sách “Trần Đức Thảo – Những lời trăng trối – Hồi ký” của tác giả Tri Vũ – Phan Ngọc Khuê [Tổ Hợp Xuất Bản Miền Đông Hoa Kỳ. 2014], đã phổ biến bản pdf rộng khắp trên mạng từ lâu nay. Qua tập sách này người đọc gần như tiếp cận lại đầy đủ mọi khía cạnh sống thực trong suốt cuộc đời của ông Trần Đức Thảo, từ hồi còn tuổi nhỏ ở Hà Nội dưới thời kỳ Pháp thuộc, sau đó được học bổng qua học ngành triết học ở Pháp, rồi khi đã thành tài xong, quyết tâm về nước phục vụ cách mạng ngay từ những ngày đầu của cuộc chiến tranh Việt Pháp 1945-1954, tới khi trở lại Paris khoảng gần kề năm 1992 khi đã trên 90 tuổi, đang gấp rút thực hiện nhanh chóng cuốn sách chứa đựng lý thuyết cách mạng mà ông ta cho là quyết định nhất và tâm đắc nhất, nhưng rồi cuối cùng phải từ giả cỏi đời đột ngột với ít nhiều nghi vấn bất thường; sau khi quyết định họp báo tuyên bố ly khai bất thành, và chỉ còn lưu lại cuốn băng từ ghi lại toàn bộ lời tự thuật của mình đầy đủ mọi thăng trầm oan nghiệt của cuộc sống từ đầu đến cuối mà đã được tác giả đã nói chép lại để ra mắt thành sách.
Cuốn hồi ký Những Lời Trăng Trối của ông Trần Đức Thào dưới hình thức tập sách được chia làm 16 chương, với một phần Phụ lục, gồm cả thảy 436 trang, với Lời Bạt của ông Nguyễn Ngọc Bích viết ở Mỹ năm 2013, quả thật rất đáng được đọc lại toàn bộ để có cơ sở cho nhiều suy ngẫm cuộc đời của một nhà nghiên cứu triết học lẫn một giai đoạn lịch sử của dân tộc và đất nước. Có đọc qua đó người ta mấy thấy được các lần tiếp cận của ông Thảo với ông Hồ Chí Minh khi ấy ra sao, thấy được mọi cách đối xử của nhân sự nhà nước Miền Bắc suốt quảng thời gian đó và sau này với ông Thảo ra sao, mới thấy hệ thống tư tưởng của ông Thảo cùng những trăn trở, khốn đốn tận cùng trong đời sống của ông thế nào sau khi muốn được làm điều gì đó có lợi và hay ho cho đất nước. Kết quả của ông Thảo chỉ là tay trắng, và sự bầm dập của ông đến độ xót xa vì tận cùng khốn đốn; ông vẫn đeo đuổi một tấm lòng son với chủ nghĩa Mác, vẫn tin tưởng tột cùng với học thuyết Mác, vẫn hết lòng vì quan điểm về chế độ xã hội chủ nghĩa lẫn cộng sản chủ nghĩa, chỉ để cuối cùng thật sự hai năm trước khi chết ông mới tự nhận thức ra quan điểm biện chứng luận của Hegel là mơ hồ, và chính chủ nghĩa Mác là hoàn toàn sai trái. Một người từng nổi tiếng như ông Thảo, mà một sự việc ngay từ đầu đã không thể nhận ra để đến cuối đời mới tự thú nhận là mình sai lầm; thế thì việc ông được coi là một triết gia, một triết gia lớn của Việt Nam phải chăng đã có phẩn oan uổng và chẳng mang ý nghĩa gì hoàn toàn khách quan hay xác đáng. Đây là ý nghĩa lịch sử và văn hóa mà không phải chỉ chuyện lu lấp hoặc tầm thường. Nó liên quan đến cả uy tín của một đất nước, liên quan đến truyền thống văn hóa của một dân tộc, liên quan đến sự đánh giá chính xác của các thế hệ tương lai để coi đó như một dấu mốc về mặt tư tưởng nào đó làm điều quy chiếu cũng cần phải thực chất, khách quan và trung thực.
Ảnh: Hannah Walker
Dầu sao, được có một nhà triết học, nhất là một triết gia lớn trong lịch sử đất nước cũng là điều đáng mừng và đáng trân trọng, nhưng không phải chỉ vì thế mà bất chấp mọi ý nghĩa thực chất khác, đó là điều không thể dễ dãi hoặc nhẹ dạ, hời hợt. Cho nên với 436 trang sách, nếu đọc thật kỹ từ trang là điều rất quý, nếu không cũng nên ráng đọc lướt hết mọi chương, nhất là những nơi ý nghĩa nhất hay quan trọng nhất rồi hệ thống hóa bằng cách xâu chuỗi lại chặt chẽ và đầy đủ thì cũng thật sự bổ ích và thấu đáo được mọi mặt. Chỉ như thế người ta mới thấy hết được chính cuộc sống truân chuyên của triết gia Trần Đức Thảo như thế nào trong đời sống hiện thực, thấy đầy đủ chiều sâu tư duy tư tưởng của ông ta ra sao, thấy những cảm xúc tâm sự và những nỗi đắng cay cùng hi vọng của ông ta thế nào, thấy thật sự ông ta có phải nhà triết học đúng nghĩa hay chỉ là một đồng chí cộng sản, một đảng viên cộng sản, một người đấu tranh cộng sản, và cuối cùng chỉ là một tín đồ thuần thành của chủ nghĩa Mác trước khi có đầy đủ yếu tố kinh nghiệm mọi mặt để phản tỉnh và tự tỉnh cũng như hoàn toàn đổi mới tư duy và niềm mê say lại.
Ngay từ đầu người ta thấy ra rõ mọi ảo giác thơ ngây của Trần Đức Thảo. Từ ảo giác lời phê của ông thầy triết học cũ khi còn ở bậc trung học của mình, khi đã tiếp cận với triết học rộng rãi hơn và có chiều sâu hơn tại Pháp khi được du học học đại học tại Pháp, tới khi đã đâm sầm vào học thuyết Mác và tự cho mình là nhà triết học, một nhà nghiên cứu quán thông chủ nghĩa Mác, từ đó ôm mộng lý tưởng phải cải tạo xã hội đất nước Việt Nam ở quê nhà thành thiên đường cộng sản theo quan điểm của Mác thật sự.
Như vậy quả thật người ta không còn biết đâu là người học triết học theo kiểu giáo khoa thư của Trần Đức Thảo, nhà nghiên cứu Mác xít hay nhà triết học Mác xít, người tự cho mình là triết gia lớn có sứ mệnh đóng góp cho nhân loại và cho dân tộc quê hương mình bằng chân lý chủ nghĩa Mác, đâu là nhà triết học lý thuyết hay triết gia thật sự theo nghĩa kinh điển đầy đủ nhất của nó mà ông Thảo có đạt đến hay chẳng bao giờ đạt đến được. Đó là tất cả những gì mà mọi người đọc cần phải tự vấn. Những tự vấn có cơ sở là những lời thú nhận từ đáy lòng của ông Thảo, để xem ông ta chỉ là một chính khách thất bại, một cán bộ thi hành bình thường, một người muốn thỏa mãn các tự ái cá nhân, một người có tâm huyết chủ quan hay một người có mục đích to lớn khách quan và cao cả thật sự.
Tất cả mọi điều đó đều được hé lộ hay phơi bày ra từ phương pháp luận tư duy của ông Thảo, cho đến những tình cảm riêng tư hay những tài năng thực có hoặc cả những ý nguyện chính trị mà ô ng hoàn toàn bị người khác chi phối hoặc hấp dẫn. Chính ông Thảo đã bộc bạch tất cả. Ông đã thú nhận mọi sự ngây thơ nông nỗi của mình, mọi sự tự ti sẵn có của mình cũng như mọi sự tự tôn vô thức hay hữu thức: tự cho mình là nhà triết học, nhà tư tưởng lớn, tự cho mình có sứ mạng lịch sử về tư duy, tư tưởng học thuyết để thực thi cho đời tức cho dân cho nước và cho cả loài người hay thế giới mà ông mơ tưởng. Nhưng rất tiếc định mệnh hay phận mệnh bản thân đã không chiều lòng ông Thảo. Ví dầu định mệnh có chiều lòng cũng không rõ ông Thảo có thực hiện trọn vẹn và thành đạt mọi chủ quan hay ảo tưởng của ông hay không, nên thực tài lý thuyết cũng như thực tài thực tế, thực tài triết học cũng như thực tài chính trị mà ông Thảo tự tin và tự tâm đắc cũng thích thú đều tất tất hiện ra trong toàn tập sách. Tất nhiên đây không phải tập sách do chính tay ông Thảo tự viết, nhưng chỉ là những lời trăng trối cuối đời, những lời thuật lại qua các lần nói chuyện có ghi âm để người khác tức người viết ra cuốn sách đó bằng chữ nghĩa xắp xếp lại, hệ thống lại, song dầu sao cũng khá đầy đủ và trọn vẹn. Ngoài khía cạnh đó, văn phong của cuốn sách cũng có phần hơi tiểu thuyết hóa nhưng chẳng sao cả, đó chỉ là sự trang trí trang hoàng thêm để có phần điểm xuyết sự hấp dẫn và lối cuốn; song tính khách quan và trung thực của nó đối với lời chính miệng ông Thảo thốt nên bằng chính tầm lòng của mình và được ghi âm lại rồi chuyển dạng ra thành sách đều là đáng tin và hoàn toàn thuyết phục tính chính xác của nó được nếu người đọc biết nhìn xuyên qua các sự kiện bề ngoài để xâm nhập và thẩm thấu vào chính bên trong của tư tưởng lẫn tâm hồn hoàn toàn khách quan và có thật của ông Thảo.
Vậy trở lại vấn đề, triết học là gì và nhà triết học là thế nào? Triết học là hệ thống tư duy và nổ lực tư duy của tinh thần, nhận thức con người về mọi loại dạng đối tượng nào đó để hình thành ra một hệ thống sự thật tức chân lý bao quát và nối kết chặt chẽ, toàn diện trong đó. Có nghĩa triết học luôn phải là tư duy chủ động và độc lập. Nó cũng chằng khác gì tư duy khoa học. Nhưng tư duy khoa học có thể bị phân mảnh, bị chia tách nhau phần nào đó, vì chỉ nhắm vào những hiện tượng tự nhiên khách quan riêng biệt. Trong khi đó tư duy triết học không thể chia tách mà luôn phải trên cơ sở và nền tảng mang tính hệ thống và toàn diện. Có nghĩa triết học hay chân lý triết học không thể xa lạ, không thể loại trừ mọi chân lý triết học, nhưng ngược lại, chân lý khoa học thì không thể bao quát và toàn diện như chân lý triết học. Tức khoa học có thể là hệ thống con, hệ thống cụ thể mặt ngoài của triết học, nhưng điều đó không thể ngược lại hay không thể đúng nếu quan niệm ngược lại. Kết quả của khoa học và của triết học đều đi từ thực tại đến lý thuyết, nhưng lý thuyết khoa học luôn là lý thuyết giới nội còn lý thuyết triết học luôn là lý thuyết bao quát hay bao trùm, đó là ý nghĩa của tư duy triết học. Có nghĩa khoa học phần nhiều đặt nền tảng trên lý trí, trên điều thuần lý khách quan. Trong khi đó tư duy triết học hay triết học nói chung là đặt nền móng trên nhận thức thuần lý khách quan. Cả hai đều cùng bản chất nhưng phạm vi khác nhau, do vậy giá trị, ý nghĩa cũng như cả mục tiêu cũng có nhiều mặt hoàn toàn khác nhau.
Sự khác nhau giữa khoa học và triết học là thế; và sự khác nhau giữa nhà khoa học và nhà triết học cũng là thế. Nói chung lại, nhà khoa học không thể có lý trí phụ thuộc, thụ động vào ai khác mà phải là lý trí tự chủ độc lập. Nhà triết học cũng như thế, không thể có tư duy phụ thuộc vào ai khác mà phải có tư duy chủ động và hoàn toàn độc lập. Mỗi triết gia thật sự đều có con đường đi của riêng mình, đều có hệ thống tư duy của riêng mình, dều có kết quả tư tưởng của riêng mình.
Điều đó hoàn toàn không có hay thật sự chưa có ở ông Trần Đức Thảo. Ông Thảo từ trước đến sau chỉ thực chất và duy nhất là người Mác xít, là người nghiên cứu, nghiền ngẫm về hệ thống tư tưởng Mác mà không gì khác. Ông Thảo ban đầu là người ráng hiểu Mác một cách sâu xa và đầy đủ như ông quyết tâm theo đuổi, sau đó là có nguyện vọng thực hiện học thuyết Mác sao cho lý tưởng nhất, thành công và tốt đẹp nhất. Cuối cùng vào cuối đời, khi mọi thực tế đã rõ ràng, nguyên vọng duy nhất và cao nhất của ông Thảo là nổ lực chữa cháy hệ thống tư tưởng Mác bằng chính sự cách tân mà ông ta ao ước quyết tâm thực hiện như là lý tưởng và nguyện ước tối hậu của đời mình. Ông dự trù tác phẩm đó ông phải hoàn tất trong thời hạn 6 tháng ở Paris. Có người mong đợi mà cũng có người hết sức nghi ngờ về nó. Họ dư biết ông Thảo không bao giờ thoát ra hay có thể thoát ra được cái vỏ của học thuyết Mác, cái bong của học thuyết Mác đã phủ chụp lên toàn cả cuộc đời ông dù truân chuyên thế nào mà không bao giờ khác được. Chứng tỏ là khi đã trở lại Paris vào những năm 90, ông Thảo lại đã diễn thuyết về triết học, nhưng thực chất ông ta chỉ là cái máy phát đĩa cũ; những cái đĩa đã trở nên cũ mòn về những tri thức và nhận thức triết học của ông ở thời trước đó đã trên nửa thế kỷ và quay đi quay lại cũng không ngoài những phạm trù tư duy mà học thuyết Mác coi như đã xài tới xài lui mòn lẳn cả. Có nghĩa ông Thảo không hề có tư duy độc lập, tư duy của ông là tư duy của người khác đã hóa thân, đã cấy vào, đã tiêm nhiễm vào ông mà không có cách gì đề kháng lại. Thảo chỉ là người phát ngôn viên của Mác về dạng này dạng khác mà không ra ngoài được chính vết mòn đó. Ông Thảo luôn chắc mẩm và tự hào mình là nhà triết học mà thật sự chỉ là nhà triết học theo kiểu đó. Nói cụ thể hơn, ông Thảo phần nhiều chỉ là nhà nghiên cứu triết học mà không hề là một triết gia chính danh hay xứng danh thật sự. Nhưng lý do của việc đó thì ở trên đã lý giải đầy đủ. Ông Thảo chẳng khác gì một loại cán bộ tuyên huấn cấp cao, nhân danh khoa học và triết học mà thật ra không phải như vậy. Nên có thể sự ruồng rẫy của nhà nước Hà Nội đối với ông trước đây một phần cũng là do ông Thảo mà không thể đổ lỗi cho người khác. Bởi vì triết học phải có cái nhìn toàn diện; ở đây ông Thảo chỉ có cái nhìn tẻ mẻ, ông không ý thức được quy luật bản năng đố kỵ hay quy luật nhận thức hạn chế của con người trong mọi trường hợp cụ thể khách quan như thế nào mà lại chỉ muốn lăn xả vào.
Cái ngây thơ như vậy chính ông Thảo nhiều lần thú nhận trong các trang sách. Một nhà triết học mà không quán thông được về tâm lý học, xã hội học, hay kể cả tâm lý chính trị thì còn làm sao là nhà triết học bao quát và sâu sắc. Sự chủ quan cao nhất của ông Thảo là một làm một lý thuyết gia Mác xít cỡ lớn cho chế độ, nhưng ông quên rằng như vậy ý nghĩa và vai trò của Trường Chinh, Lê Duẩn, hay tầm vóc thánh thần của ông Hồ sẽ biết để vào đâu.
Cái hời hợt, ngây thơ và nông cạn của Trần Đức Thảo đều không ngoài như vậy. Ông muốn thay cả thánh thần để làm việc của thánh thần. Ông tin chắc vào công việc thánh thần mà đó lại không phải là việc của thánh thần mà chỉ là việc của thế tục bình thường. Nếu ông thành công được thì đó mới chính là điều lạ. Rất may là ông không thành công nên ông đã không phải bị hiến tế cho thành thần là như thế. Thực chất ông Thảo chẳng hề là nhà triết học hay triết gia đúng nghĩa; lẽ đơn giản là nếu thế ông ta phải có đối tượng nghiên cứu hay tư duy độc lập cho riêng mình mà không thể chỉ lấy lại hay dựa vào người khác mà ở đây là Mác. Ông Thảo thực chất chỉ là thiên lôi không được sai bảo của Mác. Ông ta chỉ tự tiện, tự nguyện lấy cây gậy tầm sét trong hệ tư tưởng Mác mà đi vung vít xí mẹt, gặp ai cũng phang cũng đánh.
Triết gia  Jean-Paul Charles Aymard Sartre, người đã từng từ chối không nhận giải Nobel văn chương. Nguồn:  http://listverse.com/
Triết gia Jean-Paul Charles Aymard Sartre, người đã từng từ chối không nhận giải Nobel văn chương.
Ông ta đã từng dùng gậy đó để phang vào nhà triết học Pháp J. P. Sartre, vào nhiều nhà tư tưởng hiện sinh và hiện tượng luận lúc đó, kể cả ông phê phán chính tác gỉa gạo cội là Edmund (Gustav Albrecht) Husserl. Nếu ông Thảo có tư duy triết học riêng, có quan điểm lập trường triết học riêng cũng chẳng có gì đáng nói vì triết học luôn là sự phản biện và sự cọ xác khách quan để tim ra hoặc tiếp cận chân lý vạn vật và chân lý nhận thức của con người. Đằng này ông Thảo chỉ mượn đầu heo nấu cháo, mượn vũ khí người này để đánh lại người khác. Khổ nổi ông lại không đánh giá tường tận khả năng hay tính chất của thứ vũ khí mà ông vận dụng và tin cậy đó là gì. Ông cũng chỉ mê tín theo Mác rồi mê tín theo cái gọi là biện chứng luận, hay phép biện chứng hoặc biện chứng pháp theo kiểu tiếng gọi thời danh lúc đó thế thôi.
Edmund Husserl, triết gia trường phsi Hiện tượng học, ưa Nhận thức luận, Toán học
Edmund Husserl, triết gia trường phsi Hiện tượng học, ưa Nhận thức luận, Toán học
Từ cái mê tín đó mà ông tin chắc mẩm và xiển dương trong gần hết cuộc đời mình đối với lý thuyết gọi là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử mà không thấy mọi cái ngờ nghệch, ngớ ngẩn nông cạn và phi lý của nó. Ngặt nỗi mọi tư duy của Thảo không bao giờ tách rời mà cứ bám chắc vào mọi cái đó. Ông ta thật không đủ thông minh toàn diện để thấy rằng khái niệm duy vật và khái niệm biện chứng là hai khái niệm hoàn toàn nghịch lý và mâu thuẫn tận gốc. Bởi vật chất mà tự biện chứng thì duy tâm mẹ nó rồi còn gì mà duy vật nữa. Nên danh không chính thì ngôn không thuận là như thế. Mà duy vật biện chứng đã vô lý thì duy vật lịch sử lấy cơ sở từ đó làm gì mà còn chút lý nào nữa. Một đầu óc tư duy non xòe và rống tuếch như vậy mà được coi là nhà triết học, thậm chí là một triết gia lừng danh, danh giá và xuất sắc nhất của đât nước thì quả thật thực chất tầm phào không biết để đâu cho hết.
Nên như đã nói từ đầu, triết học đích thực không hề mâu thuẫn hay bài xích gì với khoa học mà cùng nội hàm và nội tại cùng nhau. Nhưng khoa học thì chỉ nhìn vào các sự kiện, các hiện tượng cụ thể còn triết học không thể chỉ đơn giản thỏa mãn như vậy. Nên thế giới hiện tượng quanh ta là thế giới vật chất, nhưng triết học không chỉ đơn giản dừng lại đơn thuần ở đó. Học thuyết duy vật của Mác là học thuyết dựa vào khoa học một cách ngây thơ thì còn gì là triết học, cần gì đến triết học nữa. Rồi kết hợp huyền hoặc với ý niệm biện chứng duy tâm của Hegel để làm thành mớ hổ lốn duy vật biện chứng, thật là kiểu điếc không sợ súng, cả vú lấp miệng em, độc đoán nói sao cũng được.
Từ đó thuyết duy vật lịch sử, chủ nghĩa cộng sản khoa học, đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản đều chỉ là một chuỗi suy diễn lô-gích vô căn cứ, không cơ sở khách quan khoa học. Thế mà Thảo vẫn mê như điếu đổ và hết lòng hết dạ bảo vệ cho bằng được. Vậy Thảo có phải là là kiểu nhà học thuật, kiểu nhà nghiên cứu sinh, kiểu học trò giáo khoa thư của Mác hay là nhà triết học thực thụ, đại triết gia Việt Nam thật sự hay không?
Trong toàn bộ tư tưởng của Trần Đức Thảo, người ta chẳng tìm thấy bất kỳ một thành quả tư duy tư tưởng nào về nhận thức luận, về tồn tại luận mà riêng Thảo sáng tạo hay khai phá ra cả. Thảo chỉ duy nhất sử dụng và vận dụng quan điểm duy vật lịch sử của Mác để tưởng quất sụm được hệ tư tưởng tự do của J. P. Sartre hay hệ tư tưởng khoa học kết hợp với triết học của nhà triết học thời danh Edmund Husserl mà ai cũng biết. Như vậy thực chất Thảo đã chẳng đóng góp tích cực hay hữu ích gì cho triết học thế giới hay tư tường Việt Nam cả. Thảo chỉ là nhà Mác xít hạng xoàng, lại gồng mình quá đáng nên chính cuộc đời ông ta mới đã trở thành te tua như thế. Te tua đến nỗi một người tự cho mình là nhà triết học, thậm chí là nhà triết học lớn, trong khi đó những người chung quanh chỉ nhìn ông Thảo bằng con mắt khinh lớn như một con người ngớ ngẩn, điên khùng, thậm chí chẳng còn ra bộ dạng của người trí thức đúng nghĩa gì nữa. Các lỗi lầm này dĩ nhiên do thời cuộc tạo nên, nhưng không phải trong đó hoàn toàn không có trách nhiệm của ông Thảo.
Bởi vì nếu là nhà triết học đúng nghĩa, ngay từ ban đầu ông Thào đã phải thấy hệ thống tư tưởng của Mác là sai, đâu cần gì phải chờ đến cuối đời, qua bao kinh nghiệm thương đau đọa dày cùng khổ mới thật sự có thể nhận chân ra được điều đó. Nếu thế thì mọi người thường cũng đều nhận thức được cần gì phải có bộ óc siêu tuyệt như nhà triết học tự mệnh danh và được nhiều người thán phục tuyệt vời như Trần Đức Thảo. Bởi nếu ông Thảo nắm vững về thế giới vật lý, nắm vững về tâm lý cá nhân con người, nắm vững về tâm lý xã hội, nắm vững về các quy luật của kinh tế học, xã hội học, chính trị học, lịch sử học, thì sẽ thấy mọi viên đá tảng trong học thuyết Mác đều không vững nếu không nói là sai bét.
Xã hội con người luôn là một dòng chảy bất tận; mỗi cá nhân chỉ có một vòng đời cụ thể nhất định tiếp nối nhau; ai cũng có bản năng sinh tồn và phát triển độc lập mọi mặt. Vậy thì chuyên chính vô sản có nghĩa gì, xã hội cộng sản khoa học có nghĩa gì. Vậy mà đọc suốt cuốn sách cứ thấy Thảo luôn mơ một thế giới đại đồng như một người mê sảng, như một đứa con nít mong mẹ về chợ. Bởi than chì thì không thể biến thành thỏi kim cương chỉ bằng thủ công. Dòng sông không thể đông đá mà vẫn còn là dòng sông bình thường. Đã đấu tranh giai cấp thì phải có khởi đầu và có kết thúc mới thành ý nghĩa. Mác cho khởi đầu là do tư hữu có mặt, và kết thúc là xã hội không còn giai cấp. Tư hữu chỉ là công cụ giúp ích đời sống hiệu quả, Mác lại hiểu đó là mục đích tối hậu của đời sống. Từ đó tưởng tượng và phịa ra nguyên nhân cùng kết quả mọi loại của lịch sử xã hội, chẳng khác gì gột chân của xã hội cho vừa với đôi giày của biện chứng luận Hegel.
Người mình nói sống gửi thác về. Như vậy ý nghĩa của đời sống là sự phát huy chính nó, đâu phải biến thành một quy cách tổ chức theo mẫu hình lý tưởng chẳng bao giờ khả thi hay có thật. Vậy mà Thảo vẫn mơ hoài một thế giới đại đồng như kiểu trẻ thơ ấu trĩ, nếu ý thức khoa học khách quan và triết học bao quát đúng đắn của Thảo không có kiểu đó thì lấy nền tảng nào để cho ông ta là nhà triết học đúng nghĩa hay một triết gia tên tuổi để đi vào lịch sử. Nên nếu xét cho tới tận kỳ cùng thì sự nghiệp tư duy riêng hay tư duy triết học nói chung của riêng ông ta không có gì cả hay không để lại cho đời gì cả; tất cả không ngoài những sự giải thích, sự xiển dương, sự mơ tưởng đóng góp vào hệ thống ý thức hệ tư tưởng của Mác một cách ảo tưởng và vô bổ. Sự nghiệp độc sáng không có, sự nghiệp sáng tạo riêng không có, thế thì tự nhận là triết học và tự nhận là triết gia tức nhà triết học đúng nghĩa là điều phải cần nên cân nhắc và bàn thảo.
Cho nên vấn đề không phải chỉ trích hay phê bình cá nhân ông Thảo, cũng không phải tâng bốc vô điều kiện và dễ dàng ông ta, mà vấn đề là giá trị và chân lý khách quan, khoa học cũng như triết học. Con người luôn đầy những cảm tính và danh từ. Cảm tính thì vẫn luôn xa lý tính và danh từ thì chưa chắc luôn phản ảnh đúng nghĩa sự vật. Cả mặt đời sống, văn hóa, hay cả hoạt động chính trị cũng thế. Chính trị chỉ đúng nghĩa khi nó là một khoa học hay một triết học bao quát khách quan thật sự, đó là triết học nhân văn mà không gì khác. Nếu chính trị chỉ là danh lợi, là bản năng quyền bính, là chủ nghĩa duy ngã, cũng khó nói đến chính trị lý tưởng hay chính trị khoa học mà được. Cho nên khoa học luôn phải cần có những nhà khoa học đúng nghĩa, triết học luôn phải cần có những nhà triết học đúng nghĩa; chính trị cũng phải cần có những nhà chính trị đúng nghĩa. Trái lại nếu chỉ là những nhà khoa học theo tên gọi của người đời, nhà triết học theo tên gọi của người đời, nhà chính trị theo sự tâng bốc của người đời thì đều phải làm cho nhà khoa học đích thực, nhà triết học đích thực, nhà chính trị đích thực đều phải đành đội nón đi xa là thế. Đó là điều mà chính nhà hiền triết nổi danh phương Đông cách đây nhiều ngàn năm đã nói “ngôn bất chính danh bất thuận, danh bất thuận sự bất thành” là như thế.
Mọi sự nghiệp khoa học, sự nghiệp triết học, sự nghiệp chính trị đúng đắn và đúng nghĩa đều phải thực chất giúp ích cho xã hội, cho quê hương đất nước, cho thế giới và lịch sử nói chung, đều phải luôn luôn có thực chất, có chân giá trị và cũng phải hoàn toàn mang mọi ý nghĩa khách quan là như vậy.
8/10/2016

Bài Xem Nhiều