We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 12 December 2016

Nói về Nhơn quyền theo Mác và Quyền Thú vật

Nhơn ngày Quốc tế Nhơn quyền

Nói về Nhơn quyền theo Mác và Quyền Thú vật


Từ ngữ « Nhơn Quyền » theo tiếng pháp « Droits de l’Homme » không được chình xác về định nghĩa bằng tiếng Anh « Human Rights » . Trong tiếng Pháp, « Homme –Nhơn » chỉ « Người » là « Người Đàn ông » vì theo quan niệm luật la-mã . Trong lịch sủ nền văn minh la-mã, người đàn bà không có chổ đứng . Ở Pháp cho tới năm 1946, người đàn bà mới được thừa nhận quyền bầu cử và năm 1962, mới được luật pháp cho phép người đàn bà có quyền đứng tên chương mục ngân hàng và quyền đi làm việc có lương riêng . Ở Thụy sĩ, có một vài Tổng (Canton), cho tới năm 1982, người đàn bà mới được phép đi bầu .

Nhưng, mặt khác, trong tiếng Pháp “ Droits de l’Homme ” lại có ý nghĩa tế nhị : « l’Homme » viết ở số ít ngụ ý chỉ « Con người tuyệt đối, trọn vẹn trên giá trị nhân bản, không có sự phân bìệt, không liên hệ tới những thứ quyền lợi khác » . Về sau, trong những phong trào tranh đấu Nhơn quyền, người ta mới đòi hỏi cho người dân những nước bị nhà cầm quyền độc tài, như cộng sản, áp bức, bốc lột những quyền về xã hội, chánh trị . Từ đây mới có « con người » viết số nhiều « Droits des hommes » .

Thế mà, đối với thú vật, trong bản « Tuyên ngôn Quốc tế về quyền Thú vật – Déclaration Universelle des Droits de l’Animal », chữ « Thú Vật » lại viết số ít như chữ « Nhơn - Người » trong bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhơn quyền vậy .

Riêng với Mác, « Nhơn Quyền » lại được hiểu khác nên định nghĩa hoàn toàn khác với định nghĩa chánh thức của Liện Hiệp Quốc, với mục đích nhằm phục vụ chế độ cộng sản độc tài áp bức . Được giáo dục theo tư tưởng Mác, cộng sản, nhứt là cộng sản ở Việt nam, nói lấy được « nhơn quyền xã hội chủ nghĩa mới là thứ nhơn quyền có giá trị thời đại, cao hơn nhơn quyền của tư bản, … », và đựa ra lập luận « đặc thù văn hóa » để phủ nhận nhơn quyền quốc tế có giá trị phổ quát .

Nhơn Quyền theo Mác


Khi nói về nhơn quyền theo quan niệm của minh (mác-xít), Mác đặc câu hỏi « Nhơn quyền bênh vực con người chăng ? Mác lập lại nhơn quyền theo định nghĩa của LHQ, dùng chữ « Nhơn - Homme » theo số ít ngụ ý chỉ « theo quan niệm này, quyền chỉ dành riêng cho một số người nào đó mà thôi, trong đó không có đại bộ phận nhơn dân lao động » . Nên nhơn quyền thứ này có bênh vực quyền của đông đảo nhiều người (des hommes - người dùng số nhiều) chăng ?

Mác giải thích rỏ hơn . Người ta phân biệc những quyền của con người như vậy với quyền công dân . Ai là người khác hơn công dân ? Không ai khác hơn là người của xã hội tư sản . Tại sao người của xã hội tư sản mới được gọi là người ? Con người tự thân . Quyền của hắn được gọi là « nhơn quyền ? » . Dựa vào điều gì bạn cắt nghĩa sự kiện ấy được ? Bởi liên quan Nhà nườc với xã hội tư sản, bởi tính chất giải phóng chánh trị… Vậy tự do là quyền làm và trù tính bất cứ việc gì không tổn thương đến một người nào khác . …Đấy là muốn nói tự do của con người như là một cá nhơn đơn lẻ, cô lập ở chính mình . Nhưng quyền của con người về tự do lại không được xây dựng trên mối liên hệ giửa người với người, mà trái lại, trên sự chia cách giửa người với người . Nó chính là quyền của sự chia cách ấy, quyền của cá nhơn bị giới hạn, giới hạn ở chính mình mà thôi . …

Áp dụng thực tế quyền tự do là quyền con người về tư hữu . Điều gì tạo thành quyền con người về tư hữu ? Đó là quyền xử dụng và làm chủ tài sản của mình một cách độc đoán, không cần tôn trọng đến quyền lợi của người khác, không liên quan tới xã hội. Đó là thứ quyền ích kỷ . Chính tự do cá nhơn đó, và cả sự áp dụng nó tạo thành nền tảng xã hội tư sản . …

Còn những thứ quyền con người khác nữa, quyền bình đẳng và an ninh . An ninh là quan nìệm xã hội tối thượng của xã hội tư sản, quan niệm về cảnh sát theo đó mọi xã hội chỉ để bảo đảm cho mỗi người sự gìn giử bản thân mình, quyền lợi và sở hữu của mình . Bởi quan niệm về an ninh như vậy nên xã hội tư sản không vươn lên cao hơn sự ích kỷ của mình . Trái lại, an ninh chỉ để bảo đảm cho tính ích kỷ . Từ đó không có một thứ quyền nào « gọi là nhơn quyền » vượt qua khỏi con người ích kỷ, con người của quyền lợi riêng tư, của hạnh phúc riêng và tách rời hẳn khỏi tập thể (Marx, A propos de la question juive) .

Quyền của Thú vật (Droits de l’animal)


Biết qua quan niệm của Mác về nhơn quyền như trên đây, chúng ta sẽ hiểu tại sao người cộng sản thường xuyên vi phạm nhơn quyền một cách có hệ thống . Không phải họ không biết tôn trọng nhơn quyền mà họ phủ nhận nhơn quyền của thế giới dân chủ tự do, phủ nhận cả bản Tuyên Ngôn Quốc tế Nhơn quyền một cách quyết liệt .

Nên nói chuyện Nhơn Quyền với người cộng sản là vô ích . Chi bằng thử nói chuyện về Quyền Thú vật có lẽ thú vị hơn . Và biết đâu có người cộng sản nào đó đầu óc tỉnh táo, bớt mác hóa, sẽ tiếp thu được và từ đó sẽ hiểu qua nhơn quyền đúng theo nghĩa phổ quát là gì .

Thú vật có quyền không ? Ngày nay không thể chấp nhận tiếp tục xem thú vật như những món đồ vật được nữa .

Câu hỏi « Thú vật có quyền không ? », trước đây được hiểu như là lời khiêu khích bị mọi người gạt bỏ thì nay trở thành câu hỏi được đông đảo đón nhận và suy nghĩ tìm giải đáp . Và để giải đáp « Thú vật có quyền không ? », thành phố Le Mans tổ chức Dìển đàn thứ 21 với chủ đề « Thứ nào là thú vật ? »

Điều gì cho thấy rỏ con người làm thú vật đau đớn, một cách quen thuộc, rất kỷ thuật, và hằng tỷ thú vật trên mặt đất, dưới nước để phục vụ con người mà điều cho là chánh đáng và ích lợi, ít ra phải được thảo luận lại . Nếu nghĩ rằng thú vật không có quyền và chỉ có đem lại ích lợi cho con người thì hảy giải thích điều đó cho rỏ .

Nhiều nhà khoa học dựa vào quan niệm nhờ máy móc làm cho thú vật không biết đau đớn khị bị giết, những người khác nghĩ có đau đớn nhưng chỉ ở thể xác mà thôi trong lúc đó luật gia Âu châu nhìn nhận thú vật có khả năng biết đau đớn và cả đau đớn về tinh thần, đó là hiện tượng chúng bị suy sụp hoàn toàn khi bị đau đớn và sợ hải .

Từ đây, luật pháp không cho phép người chủ thú vật muốn làm gì thì làm trên thể xác thú vật của mình nữa . Sự nhìn nhận thú vật là một sinh vật bìết cảm xúc không cho phép thú vật bị xếp vào hàng món đồ vật vô tri vô giác được .

Như vậy mới hiểu tại sao dành cho thú vật những quyền và qui định những qui tắc cho phép hay không con người xử dụng thú vật cho lợi ích của mình hoặc có xử dụng thì phải đối xử ít tàn nhẩn . Không được bạo hành chúng .

Sự bạo hành thú vật ngày càng gây phản ứng bất nhẩn mãnh liệt ở con người . Ý thức đạo đức khi làm đau đớn một sinh vật không phải là điều mới mẻ bởi những nhà hiền triết đã đặt vấn đề này từ thời xa xưa .

Ngày nay chỉ cần làm cho qui chế pháp lý bảo vệ loài vật diển tiến cho mau hơn để sớm thay đổi nảo trạng của con người .

Mối quan hệ giửa loài vật với con người vừa kinh tề vừa tình cảm nên cùng với con người, loài vật là một thành phần trong xã hội loài người .

Ngoài ra, về loài vật còn mối liên hệ với thần học . Thượng Đế tạo ra loài vật để nuôi sống con người, nhưng loài vật phải được bảo vệ nên trong kinh thánh có những điều dạy bảo vệ thú vật . Từ thế kỷ thứ VI trước Jésus Christ, tư tưởng hi lạp đã lên án giết thú vật để làm lễ và khuyến khích mọi người nên ăn chay .

Khi đem đặt sự cảm xúc vào cội nguồn của quyền tự nhiên thì tất cả loài sinh vật có khả năng đau đớn đều phải được đối xử theo đạo lý . Quan niệm này không cho phép con người làm cho kẻ khác đau đớn, ngay cả với bất kỳ một sinh vật nào biết cảm xúc nữa . Nên để phân biệt, người ta sẽ đặt câu hỏi, không phải « Chúng nó có thể lý luận được không ? » hay « Chúng nó có thể nói được không ? », mà « Chúng nó có thể đau đớn hay không ? » . Mà loài vật là những sinh vật biết cảm thấy vui vẻ, dễ chịu và đau đớn thì việc làm cho chúng đau đớn dĩ nhiên sẽ không phải là hành động thuận với đạo lý .

Sau cùng để bảo vệ loài vật vì chúng biết cảm xúc và là thành phần không thể tách rời của xã hội loài người, người ta đã viết ra bản Tuyên Ngôn Quốc tế Quyền Thú vật và đã ban hành để áp dụng .

Bản Tuyên ngôn Quốc tế Quyền Thú vật (La Déclaration universelle des Droits de l’Animal)


Bản văn đuợc Liên đoàn Quốc tế Quyền Thú vật (Ligue Internationale des Droits de l’Animal) thông qua tại Luân đốn năm 1977, long trọng được UNESCO ban hành ngày 15 tháng 10 năm 1978 tại trụ sở ở Paris . Bản Tuyên ngôn xác định quan điểm triết học trong mối tương quan từ nay phải được thiết lập giửa loài người và tất cả những loài vật khác .

Bản văn được Liên đoàn Quốc tế Quyền Thú vật hiệu đính lại lần nữa vào năm 1989 và công bố vào năm 1990 . Nhưng hiện nay, bản văn vẫn chưa được thật sự và rộng rải tôn trọng . Phải chăng vì nó chỉ là một Hiên chương qui định những điều có giá trị về đạo lý hơn là pháp lý ?

Bản Tuyên Ngôn Quốc tế Vật quyền gồm Lời Mở đầu và 10 Điều . Lời Mở đầu đưa ra quan niệm nền tảng về giá trị « sống » của loài vật để phải có đạo lý ứng xử với chúng :

-Xét rằng sự Sống là Một, vì tất cả sinh vật có chung một nguồn gốc và vì khác nhau trong quá trình diển tiến của các loài vật,

-Xét rằng mọi sinh vật đều được hưởng những quyền tự nhiên và mọi thú vật đều có một hệ thống thần kinh để hưởng những quyền đặc biệc,

-Xét rằng sự khinh thường, cả sự ngộ nhận những quyền tự nhiên này đều làm thiệt hại nghiêm trọng Thiên nhiên và đưa con người phạm những trọng tội đối với loài vật,

-Xét rằng sự sống chung của loài vật trên thế giới bắt buộc loài người phải nhìn nhận có sự hiện hữu của các loài vật,

-Xét rằng sự tôn trọng loài vật của con người là không thể tách rời khỏi sự tôn trọng của loài người đối với loài người,

Từ đó qui định những Điều khoản dưới đây (10 Điều của bản Tuyên ngôn Quốc tế Vật Quyền) .

Vả lại đối với cộng sản, những cam kết pháp lý với Quốc tế, họ còn coi không ra gì thì những văn kiện đạo lý không thể có giá trị . Với cộng sản chỉ có mục tiêu là trên hết . Ngày nay, mục tiêu của họ là vận dụng đảng cộng sản để khủng bố nhơn dân, cướp đoạt tài sản nhơn dân làm giàu . Xưa nay, con người chỉ có giá trị phục vụ cho đảng . Khi thấy con người không ích lợi thì vứt bỏ .

Nên Nhơn quyền của Liên Hiệp Quốc bị người cộng sản gọi là « thứ gọi là nhơn quyền » !

Nguyễn thị Cỏ May

Ngẫm nghĩ Việt kiều đi đi, về về , giỏi hơn dân Cuba tị nạn gấp trăm lần !


Juanita Castro (pictured in 2009), sister of dictator Fidel Castro who died on Friday at age 90, said she will not be attending her brother's funeral in Cuba

Juanita Castro (pictured in 2009), sister of dictator Fidel Castro who died on Friday at age 90, said she will not be attending her brother's funeral in Cuba

‘Đi, về – Về, đi!’


“Đi, về – Về, đi” là tên một bài thơ của Tạ Duy Bình, đăng trên Tiền Vệ, viết lẫn lộn cả hai thứ tiếng Anh-Việt sau đây, xin trích một đoạn cuối:
“Đi, về – Về, đi Đi, về -Trắng cơn mưa xóa con đường mòn quen lối cỏ mọc phủ vết chân cũ. Đi, về – Về, đi. Don’t force it. Please! Don’t force it. I just feel something… something… when I say: Đi, về – Về, đi. Oh! How wonderful…!”
(Sydney – Hanoi, March/April 2009)
Thôi thì cứ “Đi, về – Về, đi!”
Rõ ràng là ngày xưa, không ai bắt đi, mà ngày nay cũng không ai bắt về. Ngày xưa không ai kề dao vào cổ bắt mình phải xuống ghe, ngày nay cũng không ai dí súng sau lưng để áp đảo mình phải lên xe lái đi để xin một cái visa!
Cho nên đi hay về là tự nguyện. Chẳng cần phải kêu lên: “Don’t force it! Please don’t force it!”
Ngày mới bước chân lên đất liền, mừng như được sống lại, nhảy cẫng lên mà la to: – “Oh! Freedom! How Wonderful!” Ngày nay về, cũng ứa lệ, phải hét lên: “Oh! Fatherland! How Wonderful!” Ôi chốn quê hương đẹp hơn cả!
Phải có một điều gì đó vô hình ép buộc (force) khiến cho chúng ta nhất định không muốn trở về hay thôi thúc ta về. Chẳng qua là thời thế đổi thay, lòng mình thay đổi!
Thay đổi như thế nào?
Ngày mới tan hàng, mọi nhà hỏi nhau, có ai lâm vào cảnh phải đi “học tập cải tạo” không?
Chỉ ít lâu sau, phong trào bỏ nước ra đi bùng phát, người ta lại hỏi nhau rằng nhà có ai vượt biên được không?
Chỉ trong vòng năm năm sau, câu hỏi đã thay đổi, có phần hân hoan, hãnh diện: “Đã về Việt Nam lần nào chưa?”
Người trở về có lý do của mình, đó là quê hương, mồ mả, bà con ruột thịt, có người còn cha mẹ già, hay nấm mồ cha ông cần nhang khói. Cũng có người nêu ra những lý do để về như xây lại nhà thờ họ, đám cưới cô cháu vợ, hay dự lễ bát tuần của ông bác.
Không ai là không hãnh diện làm một người ở ngoại quốc ở các nước giàu có trở về cái xứ sở thực chất là còn nghèo nàn, không kể đến cảnh nhà cao cửa rộng, xe cộ đắt tiền lộng lẫy và lối sống xa xỉ, vương giả của một tầng lớp thống trị hay vin nhờ vào thế lực của sự thống trị.
Phần lớn người về bắt đầu đến lúc thấy khó khăn trong sinh hoạt ở nước ngoài, nhất là tại Hoa Kỳ, do vậy người thì muốn về nước kiếm vợ, ca hát, đóng phim, diễn kịch, người thì muốn về mua bán, kinh doanh kiếm lời. Qua lời phát biểu với báo chí trong nước đối với loại người này, họ thường phát biểu rằng, chuyện bỏ nước ra đi ngày trước là một chuyện lỡ lầm, nay đã biết thế nào là quê hương, cội nguồn, ruột thịt! Đây là lúc những đứa con lưu lạc trở về.
Có cha mẹ lấy lý do luôn luôn nhớ đến quê hương, cội nguồn đã tổ chức một hôn lễ rềnh rang cho con gái mình, với người chồng ngoại quốc, tại ngôi làng nghèo nàn ở miền Trung của họ. Ở đó, có lũ trẻ chân đất, áo quần rách rưới, mũi chảy thò lò chạy theo xem đoàn xe lộng lẫy, xem cô dâu mặc áo dạ hội màu trắng, quàng tay ông Tây. Đó là tiếng gọi của quê hương hay là một sự thôi thúc muốn khoe áo gấm về làng, cho nở mặt nở mày họ hàng, tông môn.
Người trở về có trăm nghìn lý do để bày tỏ, thật ra cũng không cần phải nói với ai.
Về! Phải chăng đó cũng một lời réo gọi!
Còn gì thú vị hơn nghe giọng nói thân quen, đi lại trên con đường làng thời thơ ấu, tìm lại chút hương vị của những ngày tháng đã qua.
Ai mà không thương làng nhớ nước, nâng niu từng kỷ niệm:
“… Chạm vào đâu cũng thấy mình ngày cũ. Sờ vào cây khế già trước sân, một bầy keo sà xuống, kêu inh ỏi. Gõ vào cột nhà, thấy đèn khuya, bút mực và những đêm học bài. Gõ vào cửa sổ, thấy mẹ ngồi đăm chiêu đắm đuối nỗi nhọc nhằn nuôi nấng. Ra vườn, nghe tiếng vạt sành, tiếng dế, sợ hãi những con ễnh ương hót vào cổ. Đêm về, nhớ những con ma: ma rà, ma le, ma trơi, ma trứng lộn, ma Mậu Thân…” (Trần Doãn Nho).
Cái cảm giác đó thú vị, ấm cùng biết bao! Nhưng rồi cái cảm giác “đi, về” đó làm cho con người phân vân giữ hai nơi chốn, đâu là đi và đâu là về. Phải chăng đôi lúc, về cũng là một nỗi xót xa:
“… Sau hàng chục tiếng trên máy bay, khi đáp xuống phi trường Houston, tôi cảm thấy mình vừa về nhà. Và yên tâm. Ô hay! Sao lại về? Sao lại nhà? Tôi đã chẳng vừa về thăm nhà ở Việt Nam sao!
đi 
về
 về
Rốt cuộc, tôi treo tôi giữa hai sợi đi/về.
Lơ lửng.”
Nhưng không phải ai ra đi cũng muốn trở về khi họ luôn nhớ đến, vì sao họ phải ra đi.
Đám tang cha ruột và anh ruột của mình phải chăng là một lý do quá chính đáng, nhưng bà Juanita Castro, em gái của Fidel Castro, cũng như Alina Fernadez, con gái của Fidel Castro, đã không về Havana dự đám tang của cha và anh mình.
Bà cũng như nhiều người cùng hoàn cảnh chung dưới chế độ Cộng Sản, đã chạy trốn khỏi chế độ của Fidel Castro, người đã biến đảo quốc Cuba thành một nhà giam khổng lồ giữa vùng biển Caribbean.
Hiện nay chỉ ở Florida thôi, đã có 1,172,899 người Cuba sống lưu vong như số phận của hai bà. Phải có một điều gì thôi thúc họ làm vậy!
Trong chế độ Cộng Sản Liên Xô, Trung Cộng, Cuba và Việt Cộng đã có những nhà văn, những nghệ sĩ lưu vong sống ở nước ngoài, họ không bao giờ trở lại quê hương khi còn chế độ áp bức, toàn trị, chứ đừng nói gì đến chuyện trở lại nơi đó để trình diễn, in sách, “may thuê viết mướn kiếm ăn lần hồi…” Đó chính là thái độ của những nhà văn, những nghệ sĩ có liêm sỉ.
“Đi, về – Về, đi.
Don’t force it. Please! Don’t force it.”
Thôi về thì cứ về đi, nhưng đừng bao giờ phản bội lại chính mình và đừng làm tổn thương đến người khác!

 Tạp ghi Huy Phương
---------------

Xuất hiện tin đồn thật là vui mong là sự thật.?
__._,_.___

Bài Xem Nhiều