We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Wednesday, 21 December 2016

Bệnh nghiện rượu dưới chế độ Cộng Sản


- Giống như tại Liên Xô, Đông Đức, Ba Lan, giới cầm quyền CSVN cũng sẽ từ chối và cho rằng chẳng lẽ tệ trạng nào cũng đổ lên đầu chế độ hay sao. Thế nhưng, các nghiên cứu cho thấy đúng vậy, cơ chế chính trị CS là nguyên nhân tiềm ẩn sâu xa của bệnh nghiện rượu. Giấu cơn giận trong men cay, ngăn nỗi buồn nơi đáy cốc là thái độ tìm quên tiêu cực nhưng rất phổ biến của người dân thường trước những bất công đang đè lên số phận của họ. Bịnh xã hội như thế chỉ thuyên giảm khi các điều kiện vật chất và tinh thần thay đổi theo một chiều hướng tốt đẹp hơn...


Sắp Tết, số lượng rượu bia được tiêu thụ chắc chắn sẽ tăng cao. Câu hỏi đặt ra tại sao Việt Nam là một trong những quốc gia dùng rượu bia cao nhất thế giới?

Nhắc lại, hôm 26 tháng 9, 2016, Báo Vietnamnet đưa tin "Đàn ông Việt uống rượu bia nhiều nhất thế giới". Theo lời Bác sĩ Trần Quốc Bảo, Cục Y tế Dự phòng dẫn chứng cho biết “Nếu tính trung bình, một người nam giới trưởng thành uống khoảng 27,4 lít cồn nguyên chất, đây là con số rất đáng báo động và là một trong số những quốc gia đứng hàng đầu thế giới về tỉ lệ này”.

Cùng lúc, Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Thanh Long cũng thốt lên: “Dù nước ta mọi mặt kinh tế, xã hội đều có sự phát triển, nhưng tỉ lệ dùng rượu bia đang tăng quá nhanh so với các chỉ số khác. Nếu không có biện pháp mạnh tay để hạn chế, Việt Nam sẽ là quốc gia đứng đầu thế giới về sử dụng rượu bia”.

Kỷ lục dùng rượu bia tai Việt Nam không phải ngẫu nhiên.

Theo công bố của WHO (Tổ chức Y tế Thế giới) thuộc Liên Hiệp Quốc, năm 2015, chín trong số mười quốc gia tiêu thụ lượng rượu cao nhất thế giới là những nước cựu Cộng Sản. Các nước này gồm Belarus, Moldova, Lithuania, Russia, Romania, Ukraine, Hungary, Czech Republic và Slovakia.

Lấy nước Nga, từng là nước CS lớn nhất châu Âu để phân tích trước.

Tiêu thụ rượu cao tại Nga có từ thời Sa Hoàng nhưng vượt cao sau Cách mang CS Nga 1917.

Rất nhiều lý do như thời tiết, chiến tranh, nghèo khó v.v... được đưa ra để giải thích việc sử dụng rượu quá cao tại Nga CS. Những giải thích này đều không đứng vững vì sau nội chiến, khi điều kiện sống tốt hơn và những mùa không quá lạnh số lượng rượu được tiêu thụ cũng không giảm bớt.

Tháng Năm, 1985, Gorbachev tung ra chiến dịch toàn quốc chống nghiện rượu. Ông cho rằng nghiện rượu là một trong ba căn bịnh trầm trọng nhất tại Liên Xô, chỉ sau bịnh tim và ung thư. Gorbachev hy vọng việc giảm lượng rượu được dùng sẽ giúp gia tăng năng suất, nhưng kết quả trái ngược, thu nhập lợi tức từ rượu của chính phủ có giảm nhưng mức sản xuất không tăng một cách tương ứng.

Thực tế đó cũng đã xảy ra tại Ba Lan. Trong phóng sự điều tra của báo Christian Science Monitor phát hành ngày 3 tháng 3, 1981 khi chế độ CS Ba Lan còn rất mạnh, một trong những căn bịnh xã hội trầm trọng nhất tại Ba Lan là nghiện rượu. Mười phần trăm trong số mười hai triệu công nhân Ba Lan say rượu mỗi ngày. Nhà cầm quyền CS tăng giá rượu cao với hy vọng số lượng rượu được tiêu thụ sẽ giảm, nhưng không, lượng rượu được dùng đã không giảm bớt.

Tại Đông Đức, theo nghiên cứu của sử gia Thomas Kochan trong tác phẩm "The Blue Strangler - Drinking habits in the GDR”, Đông Đức trong thời kỳ CS tiêu thụ rượu cao nhất châu Âu và gấp đôi Tây Đức. Chữ “The Blue Strangler” trong tác phẩm của ông là hiệu rượu vodka Đông Đức có 40% cồn. Lương trung bình của một công nhân Đông Đức khoảng 500 Marks trong lúc một chai rượu Cognac giá 80 Marks. Trong số những người nghiện rượu hạng nặng có cả các ủy viên Trung ương đảng hay ủy viên Bộ Chính trị CS Đông Đức như trường hợp Alfred Neumann.

Tại Trung Cộng, theo công bố của WHO vào tháng 12, 2012 “Alcohol and alcohol-related harm in China: policy changes needed”, số người uống rượu tại Trung Cộng cao hơn phần lớn nhân loại với 55.6 phần trăm đàn ông và 15 phần trăm đàn bà uống rượu. Hiện nay, Trung Cộng là một trong những nước sản xuất bia nhiều nhất thế giới. Uống rượu trong giờ làm việc cũng là một tình trạng phổ biến tại Trung Cộng và tình trạng này gắn liền với tham nhũng, hối lộ trong giới chức nhà nước. Nhiều nghiên cứu cho thấy mức độ bịnh gan có liên quan đến rượu nơi giới viên chức nhà nước CS cao hơn nhiều so với giới dân thường. Ngay cả báo đảng Nhân Dân Nhật Báo cũng thừa nhận tình trạng uống rượu trong lúc làm việc và viết hàng loạt phóng sự về vấn đề này.

Các phân tích đó cho thấy cơ chế chính trị Cộng Sản là một tương quan nổi bật giữa các nước CS Liên Xô và Đông Âu trước đây cũng như Trung Cộng và CSVN hiện nay. Các thể hiện của tương quan này:

- Mượn rượu giải sầu: Nhiều công nhân, nông dân dưới các chế độ CS mượn rượu để làm lối thoát cho lòng tổn thương, thất vọng. Sự thất bại của các chính sách cai nghiện rượu cho thấy việc giải quyết không đơn giản là tăng giá như chính phủ Ba Lan hay Liên Xô đã làm nhưng phải áp dụng các cải cách chính trị kinh tế căn bản.

- Say rượu là một biểu hiện của thái độ trốn chạy thực tế (escapism): Lý do chính như Michael Binyon trong nghiên cứu Life In Russia xuất bản vào thập niên 1980 cho rằng nhiều người Nga uống rượu chỉ để say. Họ tuyệt vọng khi đối diện với một “khoảng trống tinh thần”, một xã hội không còn có những giá trị văn hóa của đất nước họ đã từng có trong lịch sử trước đó.

- Điều kiện sống: Nhà ở chật chội, lương bổng thấp, thiếu thốn mọi thứ cần thiết và sống trong bóng tối theo nghĩa đen lẫn nghĩa bóng đã đẩy người dân chọn rượu như là phương tiện “giải trí” dễ có nhất. Trong một xã hội thiếu thốn những món hàng căn bản trong đời sống hàng ngày của con người nhưng lại có đầy đủ rượu. Giới cầm quyền CS từ chối nguyên nhân này nhưng thực tế đó đã được rất nhiều nghiên cứu rút ra khi so sánh đời sống của công nhân dưới hai xã hội tự do và CS.

- Giới cầm quyền CS không quan tâm đến sức khỏe của người dân: Đối với giới cầm quyền CS, thu nhập và thuế do việc tiêu thu rượu đem lại quan trọng hơn là sức khỏe của người dân. Vladimir Treml, một nhà kinh tế thuộc cựu Nga CS đang làm việc tại Duke University cho biết “Hơn sáu mươi năm, thuế rượu đem lại 12 phần trăm đến 14 phần trăm thu nhập của nhà nước” và do đó nhà nước CS khuyến khích hơn là ngăn chận tệ nạn lạm dụng rượu tại Liên Xô.

Chế độ CS đã sụp đổ tại Châu Âu nhưng những căn bệnh xã hội do cơ chế gây ra đã trở thành một lối sống, một văn hóa xã hội chủ nghĩa tại những nước này và không thể dễ dàng thay đổi.

Giống như tại Liên Xô, Đông Đức, Ba Lan, giới cầm quyền CSVN cũng sẽ từ chối và cho rằng chẳng lẽ tệ trạng nào cũng đổ lên đầu chế độ hay sao. Thế nhưng, các nghiên cứu cho thấy đúng vậy, cơ chế chính trị CS là nguyên nhân tiềm ẩn sâu xa của bệnh nghiện rượu.

Giấu cơn giận trong men cay, ngăn nỗi buồn nơi đáy cốc là thái độ tìm quên tiêu cực nhưng rất phổ biến của người dân thường trước những bất công đang đè lên số phận của họ. Bịnh xã hội như thế chỉ thuyên giảm khi các điều kiện vật chất và tinh thần thay đổi theo một chiều hướng tốt đẹp hơn.

20.12.2016
Trần Trung Đạo

Những “người rừng” ở trong nước hiện nay

Những “người rừng” ở trong nước hiện nay


Người rừng”H’Pnhiêng
THƯA QUÝ BẠN, danh từ “người rừng” trong nước hiện nay gồm những người do hoàn cảnh nào đó, bị đi lạc trong rừng hoang quá lâu, có người vài năm, có người tới vài chục năm, không tìm được đường về. Họ không có thức ăn, không có quần áo do đã rách nát theo thời gian, không có sự tiếp xúc với con người nên biến thành “người rừng”, có hình dáng giống người nhưng da dẻ đen nhẻm, mọc lông, tóc tai bù xù giống như con sư tử, móng tay móng chân dài ra và họ leo trèo, chuyền trên cành cây rất giỏi. Trước đây họ có thể là người đi tìm trầm (tức trầm hương, tiếng Anh là Agarwood. Loại trầm hương quý nhất là kỳ namEaglewood – giá cao hơn vàng, chỉ sau bạch kim). May mắn kiếm được một khối trầm hương hay kỳ nam, họ có thể bán được từ vài tỷ đồng đến vài chục tỷ đồng, tức từ vài trăm ngàn đô la tới vài triệu đô la tùy theo nhiều hay ít, loại quý hay loại ít quý. Nhưng họ thường chết trong khi “đi điệu” (tiếng thông dụng ở vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi để chỉ những người đi tìm trầm) do đói khát, bệnh tật hay bị ngay chính những người “đi điệu” khác giết chết để cướp lương thực hoặc cướp số trầm họ đã tìm được. Còn nếu không chết nhưng bị lạc trong rừng nhiều năm, họ sẽ biến thành một loại “người rừng” thường gọi là “xà niêng”, gần như mất trí nhớ và rồi cuối cùng cũng sẽ chết như mọi con thú già yếu, bệnh tật khác. Hàng ngàn người “ngậm ngải tìm trầm” họa chăng mới có một người may mắn tìm được trầm. Nhưng vì ham trở thành đại phú gia nên người ta vẫn bỏ nhà bỏ cửa ra đi. Họ coi tiền bạc lớn hơn mạng sống của họ.
Kỳ nam (bên trái) và trầm hương
Kỳ nam (bên trái) và trầm hương
Mất trâu, thành người rừng
Trở lại những trường hợp khác. Trước đây Đoàn Dự tôi đã có dịp trình bầy hầu quý bạn chuyện cô bé Rơ Chăm Hơ Pơ Nhiêng (Rơ Chăm H’Pnhiêng), người dân tộc Cho Ro, xã Ia Dom, huyện Đức Cơ, tỉnh Gia Lai (trước đây gọi là tỉnh Gia Lai-Kontum, nơi có thị xã Kontum và thành phố Pleiku, nay đã tách riêng thành tỉnh Gia Lai với thủ phủ là TP Pleiku). Xã Ia Dom huyện Đức Cơ nằm sát biên giới với xã Oyatung, huyện Oyadav, tỉnh Rattanakiri của Campuchia. Dân chúng hai bên qua lại, mua bán, trao đổi sản vật với nhau như người cùng trong một nước. Họ nói cả hai thứ tiếng, có khi gả con cho nhau không hề phân biệt.
Khoảng đầu năm 1989, cô bé Hơ Pơ Nhiêng, 13 tuổi, đi chăn trâu với đứa em trai họ ở gần bìa rừng. Chiều muộn, một con trâu bị lạc, hai chị em cuống quýt đi tìm. Đứa em họ mất tích còn cô bé Hơ Pơ Nhiêng thì lạc trong rừng sâu suốt 18 năm trời (1989 – 2007) và trở thành “người rừng” hết sức tội nghiệp. Gia đình rất đau đớn tưởng cô bé đã chết, nhưng 18 năm sau, thợ rừng bên Campuchia bất ngờ phát hiện ra cô, và việc tìm được cô (lúc này đã 31 tuổi) như sau…
Ông Sina, trung tá Campuchia, đồn phó công an cửa khẩu Oyadav cho biết, thông tin về “người rừng” ở Oyadav xuất hiện vào đầu tháng 1-2007, khi một nhóm thợ rừng khai thác gỗ trắc ở cánh rừng Tel, xã Oyatung, huyện Oyadav, liên tục bị ăn vụng nồi cơm một cách bí ẩn. Sau nhiều lần mất cơm, nhóm thợ rừng tức giận, quyết rình bắt bằng được và họ bất ngờ khám phá ra thủ phạm là một con người đầy lông lá, tóc dài, chuyền cành rất giỏi bằng cả tay chân.
Ngay sau khi công an xã Oyatung tiếp nhận “người rừng”, gia đình ông Rơ Châm K’Sor Lu ở Ia Dom, huyện Đức Cơ phía bên Việt Nam biết tin, sang xem và nhận ra đây chính là Rơ Chăm H’Pnhiêng, đứa con gái của họ đã bị lạc trong rừng năm 1989 khi 13 tuổi, lúc đi chăn trâu cùng đứa em họ. (Đứa em sinh năm 1982, lúc ấy mới 7 tuổi, đến nay vẫn còn mất tích).
Dấu vết để gia đình ông Rơ Chăm K’Sor Lu nhận ra H’Pnhiêng chính là vết sẹo dài trên cánh tay trái do đứa em trai tên Rơ Chăm Khăm Phi gây ra khi hai chị em chơi đùa lúc còn nhỏ.
Kết quả xét nghiệm DNA cũng cho thấy huyết thống giữa H’Pnhiêng và gia đình ông K’Sor Lu. Đồng thời, chuyên gia tâm lý người Tây Ban Nha là GS Hecto Rifa thuộc Đại học Oviedo, thành viên của tổ chức Các nhà tâm lý học không biên giới cũng sang, trực tiếp khám cho H’Pnhiêng, ông xác nhận cô gái “người rừng” này không hề bị bệnh tâm thần.
Những thay đổi của H’Pnhiêng sau khi đi lạc vào rừng 18 năm trước:
Năm 2013, tức 6 năm sau khi cô gái “người rừng” H’Pnhiêng được phía Campuchia khám phá và trả về cho gia đình ông K’Sor Lu ở bên Việt Nam, các phóng viên lên thăm và gặp Rơ Chăm H’Pnhiêng trong ngôi nhà gỗ nhỏ do chính quyền Oyadav hỗ trợ, cất riêng cho cô trong khu vườn của gia đình cô. H’Pnhiêng mặc chiếc quần dài màu nâu, áo thun màu xanh, tóc và móng tay đã được cắt ngắn, nằm kê gối trên góc sàn nhà, trông trẻ hơn so với tuổi 37 của cô. Thấy người lạ, H’Pnhiêng chỉ hơi nhổm người dậy, không còn hoảng sợ như những ngày mới từ rừng về.
Người em trai tên Rơ Chăm Khăm Phi bưng một tô cơm canh rau khá lớn đưa cho chị. Chỉ chừng hơn một phút, H’Pnhiêng đã thuần thục dùng muỗng xúc ăn hết tô cơm. Ăn xong cô còn biết dùng giẻ lau sạch những vệt canh đổ trên sàn. Lát sau, người em dâu đưa vào một bầu nước to, H’Pnhiêng lại ngửa cổ tu một hơi cạn bầu. Cậu Khăm Phi kể: “Đưa một tô cơm chị H’Pnhiêng ăn hết một tô, đưa một xoong ăn hết một xoong, bao nhiêu cũng ăn hết”.
H’Pnhieng và cậu em trai Khăm Phi
H’Pnhieng và cậu em trai Khăm Phi
Những hình ảnh ấy đối với gia đình là một sự kỳ diệu, bởi vì H’Pnhiêng đã từng quên hết bản năng của một con người. Cậu Khăm Phi thật thà: “Hồi đó chị như con khỉ, đi bằng cả hai tay hai chân, hai bàn tay không có thịt và chai sần vì chống xuống đất. Hai cái chân thì nhón nhón, đi bằng mũi chân. Tóc dài, lông tay lông chân, móng tay cũng dài. Quần áo vừa mặc vào thì đã xé nát và không sao cầm được bát đũa, tay lóng ngóng như tay vượn. Có những đêm khi mọi người trong nhà đã ngủ say, chị rón rén đi xuống bếp bốc gạo sống nhai ngấu nghiến có vẻ thích lắm”.
Gia đình H’Pnhiêng đã từng tuyệt vọng vì những nỗ lực của họ đều không thể đưa “người rừng” trở về với đời sống con người. Cứ chiều chạng vạng, khi con mang tác nơi bìa rừng, con vượn hú bầy phía vách núi xa… thì bản năng hoang dã trong H’Pnhiêng lại trỗi dậy, toan vùng chạy để thỏa nỗi nhớ rừng.
Trong nỗi vô vọng ấy, bằng linh cảm của một người mẹ, bà Rơ Chăm H’Soi – mẹ H’Pnhiêng – chợt nhớ khi H’Pnhiêng còn nhỏ, bà đã từng ru con những điệu dân ca J’rai vùng quê cũ Cheo Reo (huyện Ayunpa tỉnh Gia Lai bây giờ) và thử hát lại cho H’Pnhiêng nghe. Lời dân ca J’rai vùng Cheo Reo ấy không ngờ đã chạm vào tiềm thức của một kiếp người bị đời sống hoang dã vùi lấp. “Chị mình ú ớ hát theo dù không thành lời, tự nhiên khóe mắt chảy nước rồi chạy đến ôm mẹ mình. Mẹ mình khóc, rồi cả nhà cũng khóc theo…” – cậu Khăm Phi xúc động kể về giây phút đoàn tụ đúng nghĩa của H’Pnhiêng và gia đình.
Những bài dân ca J’rai cuối cùng đã lấn át được tiếng gọi từ nơi hoang dã, bản năng con người dần trở lại, H’Pnhiêng không còn sợ hãi mọi người, nhận ra người thân, biết cầm đũa, cầm muỗng xúc cơm, biết rửa cả chén bát khi ăn xong. Không còn xé quần áo, biết đi vệ sinh đúng chỗ. Và từ ba năm nay khi những cánh rừng thưa dần do sự chặt phá, H’Pnhiêng đã sống hẳn trong ngôi nhà nhỏ dành cho mình. Nỗi lưu luyến về cuộc đời 18 năm trong rừng già dường như đã vơi bớt.
Bí ẩn chưa được giải thích
Sống trong rừng già không lương thực, không nước uống, quần áo chỉ có một bộ trên người, đối với một người trưởng thành đã là điều khó, đằng này cô bé H’Pnhiêng khi đi lạc trong rừng chỉ mới 13 tuổi, nào là đói rét, nào là thú dữ, nào là sự sợ hãi…, nhưng cô vẫn tồn tại suốt 18 năm. Bác sĩ Pan Sok Thou, phó giám đốc Trung tâm Y tế huyện Oyadav, cho biết trong 6 năm qua, các cơ quan y tế tại Campuchia cùng nhiều tổ chức y tế nước ngoài đã gặp H’Pnhiêng để tìm cách giải thích về bản năng sinh tồn kỳ lạ ấy nhưng đều không tìm được câu trả lời.
Ngồi cạnh H’Pnhiêng mới thấy dấu vết của những kỹ năng sinh tồn trong cuộc sống hoang dã vẫn còn. Hai lòng bàn tay H’Pnhiêng vì chống xuống đất để di chuyển suốt 18 năm nên lõm vào, các ngón tay dài ra như bàn tay của loài khỉ, vượn. Ăn cơm, H’Pnhiêng gần như không nhai mà đưa vào miệng là nuốt ngay, người em gái chăm sóc H’Pnhiêng cho biết không chỉ cơm rau mà bất cứ đồ ăn nào H’Pnhiêng cũng ăn rất nhanh, không hề mắc nghẹn hay đau bụng.
Cậu Khăm Phi kể, thời gian đầu về nhà, H’Pnhiêng không bao giờ ngủ ban đêm mà thường trốn về rừng sâu, khi năm ngày, khi nửa tháng, có khi hai tháng. Những lần trốn đi ấy, không ít lần dân sơn tràng (thợ rừng) ở Oyadav phát hiện H’Pnhiêng trong rừng sâu, nhưng không cách nào bắt lại được vì H’Pnhiêng leo trèo, chuyền cành nhanh đến mức không ai theo kịp, rồi sau đó lại tự trở về lành lặn. Thậm chí có lần H’Pnhiêng lọt xuống hố phân của nhà vệ sinh suốt một tuần nhưng khi được đưa lên vẫn khỏe mạnh, không hề bị bệnh tật sau đó.
Trên tay trái của H’Pnhiêng vẫn còn vết sẹo sâu, kéo thành một vòng tròn quanh cổ tay, các thợ săn ở Oyadav đều cho rằng đó là dấu tích của một chiếc bẫy kẹp hoặc bẫy thòng lọng dùng để bẫy thú do chính họ cài. Nhưng không thợ săn nào hiểu được vì sao H’Pnhiêng có thể tự tháo bẫy mà tay vẫn lành lặn, trong khi những con thú mắc bẫy không thể thoát được.
Vết sẹo vòng tròn trên cổ tay do bị bẫy thú kẹp của H’Pnhieng
Vết sẹo vòng tròn trên cổ tay do bị bẫy thú kẹp của H’Pnhieng
Bí ẩn về bản năng sống sót 18 năm trong rừng già có lẽ không ai giải thích được ngoài chính Rơ Chăm H’Pnhiêng. Trong những lần ký ức lóe sáng, cô thường cầm bút bằng chân và tay, vẽ hàng chục bức tranh về cuộc sống trong rừng. Trong tranh có hình ảnh của H’Pnhiêng, có muông thú, cây cổ thụ, có những con người nhiều đầu (?)… Những bức tranh này hiện được Viện Bảo tàng Rattanakiri cất giữ với hy vọng một ngày nào đó H’Pnhiêng hồi phục khả năng ngôn ngữ, cô sẽ kể cho mọi người nghe quãng đời 18 năm trời sống trong rừng xanh và giải thích về những bức tranh đó.
Sau đây xin mời quý bạn xem xét chuyện hai cha con “người rừng” sống suốt 40 năm trong rừng sâu vì người cha quá sợ hãi bom đạn và tưởng… chiến tranh chưa kết thúc. Câu chuyện “người rừng” này khiến nhiều tờ báo Mỹ sửng sốt, họ sang tận nơi gặp gỡ hai người rừng và  viết bài tường thuật…
Thành người rừng vì quá sợ hãi bom đạn…
Suốt  40 năm, hai cha con ông Hồ Văn Thanh, Hồ Văn Lang ở sâu trong rừng già, dưới chân ngọn núi Apon – một nhánh phía đông của dãy Trường Sơn. Họ đã sống hoàn toàn biệt lập với cộng đồng, với thế giới văn minh, tự săn bắt, hái lượm, đóng khố bằng vỏ cây, tự tạo lửa từ đá, sống trong hang và làm chòi trên cây như người tiền sử…
Chiều 7/8/2013, chính quyền xã Trà Phong, huyện Tây Trà, tỉnh Quảng Ngãi mới đưa được họ về lại làng cũ. Và với Hồ Văn Lang, đây là lần đầu tiên khi đã hơn 40 tuổi anh mới được biết tới xã hội con người.
Đạn bom oan nghiệt
Chiều 8/8/2013, khi các phóng viên đến nhà anh Hồ Văn Trí, con út của  “người rừng” Hồ Văn Thanh ở làng Nga, gặp đúng lúc gia đình đang làm lễ cáo gia tiên về việc đã đưa được cha con ông Thanh về làng. Ông Hồ Văn Biên – 68 tuổi, người dân tộc Cor, là em họ của người rừng Hồ Văn Thanh – nhắm nghiền hai mắt, miệng lâm râm khấn khứa rồi đổ một phần chén rượu lên trên đám  than hồng. Lửa rực lên, thơm lừng mùi quế. Trong làn khói trắng vấn vương, ông Biên phiêu linh như “nối” được với tổ tiên.
Xong phần nghi lễ, ông Biên đưa chén rượu còn lại cho ông cụ Hồ Văn Thanh nay đã 86 tuổi nhấp một chút rồi cho Hồ Văn Lang. Mặt Lang nhăn nhó, người co dúm lại khi phải uống rượu sau đó đưa tay giữ trên miệng giống như người ăn phải ớt cay. Nghi lễ đã xong, ông Biên quay lại nói với các phóng viên bằng tiếng Kinh: “Bây chừ thì cô dượng tôi (tức cha mẹ ông cụ người rừng Hồ Văn Thanh)  đã được yên lòng nơi chín suối”. Uống chén rượu cúng, ông Biên từ từ kể lại câu chuyện ly tán.
Nỗi đau buồn của người rừng
Ông Hồ Văn Thanh sinh năm 1930, nguyên gốc là người Trà Lãnh, thuộc huyện Trà Bồng (bây giờ là huyện Tây Trà). Từ năm 1959, ông lên xã miền núi Trà Khê, rồi chuyển về làng Trà Kem, xã Trà Xinh, làm nghề thợ rèn. Ông lấy vợ, sinh được 2 đứa con trai thì phải gia nhập bộ đội CS địa phương vì Trà Bồng lúc bấy giờ là một trong những chiếc nôi hoạt động “cách mạng”.
Sau 5-6 năm, ông bỏ về quê, không làm thợ rèn nữa mà làm rẫy với vợ ở dưới chân núi đồng thời sinh thêm được 2 đứa con nữa, tất cả đều là con trai.
Những năm 1970, chiến sự xảy ra ác liệt, Trà Bồng hứng chịu rất nhiều bom đạn. Người chết, nhà cháy, đổ nát khắp nơi. Rồi một hôm, khi ông Thanh đang đang làm trên rẫy thì chứng kiến cảnh làng mình rực lửa, tiếng nổ khủng khiếp như động đất.
Sau khi máy bay đã đi khỏi, ông chạy về tìm người thân thì thấy nhà ông đang cháy, cả 26 người trong đó có mẹ ruột và 2 đứa con trai đầu của ông núp trong căn hầm gần đấy chết vì bị bom dội trúng, không ai sống sót. Riêng vợ ông tên Hồ Thị Phương và 2 đứa con nhỏ, đứa lớn tên Hồ Văn Lang mới gần 2 tuổi, đứa bé tên Hồ Văn Trí mới 5 tháng tuổi, do không chạy kịp ra hầm trú ẩn nên thoát chết.
Đớn đau tột cùng, ông Thanh hóa đãng trí từ đó và có biểu hiện tâm thần. Cứ hễ nghe tiếng bom đạn là ông co dúm người lại, tay chân run lẩy bẩy và chạy trốn.
Sống trong nỗi buồn đau, kinh hoảng thêm được một thời gian ngắn nữa rồi ông đem đứa con thứ 3 tên Hồ Văn Lang lúc ấy mới gần 2 tuổi, đi vào trong rừng sống như người tiền sử, bỏ lại người vợ cùng đứa con út.
Mòn mỏi chờ chồng con không được, người đàn bà tội nghiệp này phải bước thêm bước nữa. Từ đó dân làng  Trà Kem cứ đinh ninh cha con ông Thanh đã chết có lẽ do bom đạn hoặc bị thú rừng ăn thịt.
“Người rừng” Hồ Văn Lang với chiếc khố bằng vỏ cây
“Người rừng” Hồ Văn Lang với chiếc khố bằng vỏ cây
Thiếu cơm, thiếu muối
Anh Hồ Minh Lâm, cháu gọi người rừng Hồ Văn Thanh bằng chú ruột, kể rằng cha của anh (tức anh ruột ông Thanh) đã đi coi thầy và tin chắc người em mình với đứa cháu chưa chết. Năm nào ông cũng bỏ công ra, vào rừng và  lên cả núi tìm kiếm nhưng đều vô vọng.
Từ sau 1975, rừng càng ngày càng bị chặt phá, kiệt quệ, lùi xa dần làng xóm. Dân làng Trà Kem phải đi sâu vào để phá rừng làm rẫy hoặc kiếm củi. Trong những lần đi làm rẫy, đốn gỗ, dân làng Trà Kem đã từng trông thấy “người rừng”. Nhưng do cha con ông Thanh rất sợ con người, luôn luôn chạy trốn mất biệt nên mọi người tưởng đó là khỉ, không còn để ý nữa.
Mãi đến năm 1999, người dân huyện Trà My ở phía bên tỉnh Quảng Nam báo với công an về việc họ luôn luôn bị mất trộm đậu, bắp trên rẫy và nghi là có “người rừng” phá hại. Tuy nhiên, khi công an tới điều tra thì cũng chỉ thấy dấu chân người. Vậy thôi, không thấy gì hơn.
Anh Lâm kể tiếp: “Câu chuyện đồn đại về “người rừng” rộ lên rồi cũng nhanh chóng bị quên lãng. Chỉ có cha tôi thì tin rằng đó là chú Thanh và em Hồ Văn Lang chú đã đem đi lúc gần 2 tuổi”.
Sau đó, cha con anh Lâm và Hồ Văn Trí (cậu bé sống sót lúc 5 tháng tuổi) tiếp tục đi tìm. Mãi đến 2004, 2005 gì đó họ mới trông thấy cha con “người rừng” đang sống trên núi Apon nhưng hai người này liên tiếp tránh mặt. “Cứ nghe tiếng động là cha con chú trốn biệt vào trong rừng sâu” – anh Lâm kể.
Thỉnh thoảng hai cha con anh Lâm vẫn lên Apon còn anh Hồ Văn Trí thì lên thường hơn nhưng rồi cũng chỉ để lại ít muối, gạo, cá khô, bắp, mè  và vài thứ hạt giống rồi về chứ không có cách chi gặp được người thân.
Người con có hiếu tên Hồ Văn Trí rất thương xót cha và anh. Cậu kiên nhẫn đi đi lại lại, phải mất rất nhiều thời gian từ từ làm quen bấy giờ cha con ông Thanh mới đỡ sợ và cho gặp mặt. Tuy nhiên, dù khuyên nhủ cách nào ông Thanh cũng lặng lẽ lắc đầu, không chịu trở về.
Theo anh Lâm cho biết, vì đã sống quá lâu trong rừng, tách biệt với cộng đồng nên ông Thanh gần như quên hết tiếng Kinh. Ngay tiếng của người Cor cũng ít nói. Riêng Hồ Văn Lang, do cha bế đi lúc gần 2 tuổi, anh hoàn toàn không hiểu gì về thế giới loài người và chỉ biết được một ít tiếng Cor do cha mình dạy.
Suốt 40 năm ở vùng rừng núi Apon, họ đã làm nhà trên cây, đập vỏ cây để đóng khố, cuộc sống hoàn toàn dựa vào săn bắt, hái lượm và thời gian sau này là trồng trọt. Có lẽ cha con ông Thanh đã xuống rẫy của dân để bẻ trộm bắp, hái trộm mè, đậu, thuốc lá… Điều kỳ lạ là họ đã sống gần 40 năm hoàn toàn không có muối, thiếu gạo, nhưng vẫn mạnh khỏe bình thường. Họ đã nhặt mảnh bom, vỏ đạn để gò thành soong nồi, tự rèn dao rựa, dùng đá đánh lửa để nấu chín thức ăn.  Đối với người văn minh, khó tin rằng cha con ông Thanh có thể sống như người tiền sử trong suốt một thời gian dài như vậy. Nhưng với hai “người rừng” này, một người đãng trí, một người hồn nhiên như đứa trẻ, họ đã tồn tại giữa đại ngàn một cách khó hiểu.
Ngày về
Anh Hồ Văn Trí kể: “Tôi đã dùng hết cách mà không sao khuyên được cha tôi về, còn anh Lang thì cứ vô tư như đứa trẻ, chỉ tùy thuộc vào cha tôi mà thôi. Một điều kỳ lạ là mãi đến năm 2013, một đêm tôi nằm mơ thấy cha tôi ốm rất nặng, nằm thiêm thiếp trên chiếc chõng tre trong một ngôi nhà có phên đất, có quần áo đàng hoàng, anh Lang ngồi bên cạnh nét mặt rất buồn. Lạ lùng là khi tỉnh lại, hễ chợp mắt là giấc chiêm bao ấy cứ lặp lại 3-4 lần trong đêm. Linh tính báo cho tôi biết có điềm xấu gì đó. Sáng ra  tôi dậy sớm, đi vào rừng núi Apon thì thấy quả nhiên thấy cha tôi ốm nặng đang nằm liệt một chỗ trong hang núi thật, chân tay không cử động được còn anh Lang thì co ro ngồi buồn thiu bên cạnh đúng như trong giấc mơ, miệng ú ớ muốn nói điều gì tôi không hiểu. Tôi vội về làng, ra UBND xã xin được hỗ trợ vài người để vào cáng cha tôi về. Và sáng hôm sau, tức ngày 7/8/2013, một số thanh niên trong làng và người đại diện UBND xã Trà Phong đã vào núi Apon, đến 11 giờ trưa thì tới nơi và cáng cha tôi về tối 7/8.  Về đến làng, cha tôi được đưa ngay lên bệnh viện huyện. Cha tôi không nói một lời, chẳng ăn miếng cơm nào, đưa sữa cũng không uống, còn anh Lang thì phải có người canh giữ vì sợ anh trở về rừng”.
Cha con cụ “người rừng” hiện nay
Cha con cụ “người rừng” hiện nay
Hiện nay, 2016, ông cụ Hồ Văn Thanh tương đối đã khỏe mạnh mặc dầu cụ đã 86 tuổi và luôn luôn im lặng. Cứ hễ nghe tiếng động như tiếng xe máy chẳng hạn thì cụ lại sợ, lắng tai nghe ngóng xem đó là tiếng gì. Còn anh Lang thì đã biết đi cuốc đất, làm đồng với hàng xóm láng giềng và anh đang học nói tiếng Kinh, kể cả học chữ a b c để… có thể lấy được vợ. Con gái, dù là người Cor, con trai phải biết nói tiếng Kinh ngoài tiếng Cor ra thì họ mới lấy.
Đoàn Dự

Hơi ấm xứ người: Lại một Noel nữa…trở về

Hơi ấm mùa Noel


Chí còn vài hôm: “Lại một Noel nữa…trở về:” Các nhà thờ đã trang trí đèn Noel, rồi hang đá với bao nhiêu đèn màu lấp lánh. Khắp nơi từ các khu thương xá tới khu nhà ở đều nhấp nháy ánh đèn với nhiều mẫu mã thiết kế khác nhau cùng chào đón mùa Giáng sinh. Những điệu nhạc Xmas tưng bừng khắp nơi từ các lớp line dance tới các giờ tập Aerobic, rồi từ nhà hàng quán ăn cho tới trên xe làm lòng người cũng thấy dạt dào niềm vui lâng lâng:

“Noel về, Noel về. Nhạc yêu thuong vang réo rắt tròi mơ. Noel về, Noel về. Vạn ý thơ vang lên khắp trần ai. Noel về, Noel về, nguồn bình an dạt dào trên duơng thế. Chúa giáng trần đem ơn lành. Niềm ước mơ muôn dân đang đợi chờ.”

Mùa Noel nhiều nơi thường có chương trinh “Niềm mơ ước mùa Giáng sinh” để biến niềm ước mơ của các em bé gia đình khó khăn trở thành hiện thực. Ngày xưa Chúa sinh ra nơi hang đá nghèo hèn trong một đêm đông lạnh lẽo, ngày nay nhớ đến cảnh Chúa sinh ra, người ta phải nhớ đến các em bé nghèo khổ. Vì vậy mùa Noel có lẽ là mùa dành cho những em bé nghèo được thỏa mãn những ước mơ của mình. Tôi nhớ lại năm đầu tiên khi gia đình tôi mới đặt chân đến Mỹ, nhân mùa lễ Noel tôi nghe 1 chị bạn học chung lớp ESL rủ;

– Có muốn đi nhận quà Noel về cho các con không ? chị sẽ dẫn đi.

Tôi ngạc nhiên quá sức nên hỏi lại:

– Thiệt hông? Bộ người ta cho khơi khơi vậy hả? Có cần giấy tờ gì chứng minh không?

– Em ơi, mình đang ở Mỹ mà. Đâu phải ở Việt Nam đâu mà cái gì cũng bắt có giấy tờ chứng minh đủ thứ.

Tôi về nhà kể chuyện lại cho ông xã nghe vụ chị bạn rủ đi lãnh quà Noel về cho mấy đứa nhỏ. Ai dè bị ông la cho một mách:

– Người gì đâu mà khờ quá! Ra đường ai nói gì cũng tin, chuyện vô lý vậy mà nghe cũng tin được? Từ hồi đó tới giờ có khi nào bà thấy tự dưng có người đem quà tới cho những người không quen biết chưa?

Tôi ngẫm lại thì thấy ông nói cũng có lý, thiệt tình tôi chưa thấy điều đó xảy ra bao giờ. Tôi chỉ nhớ hồi còn nhỏ học tiểu học, tôi cùng một số ít bạn được trường cho đi vô Dinh Độc lập để lãnh quà Noel của Ngô Tổng Thống. Nhưng vì đó là học sinh giỏi nên mới được trường cử đi, chứ đâu phải ai muốn cũng được. Tôi nhớ mãi cái cảm giác sung sướng khi nhận được quà Noel là một hộp nhỏ ( hình như từ Hội Hồng Thập Tự Mỹ). Trong đó có đựng mấy hộp bút chì màu, nơ, kẹp tóc, viết và bánh kẹo…Bánh kẹo tôi phải ăn “nhín nhín” còn các dụng cụ học tập tôi trân trọng cất vào hộc tủ cẩn thận, lâu lâu mới lấy ra xài… Còn bây giờ nghe chị bạn kể năm ngoái chị đã đi lãnh cho mấy đứa con chị rồi, toàn đồ chơi xịn không hà.Tôi phân vân không biết tính sao? Không đi thì tiếc vì con mình không có quà Noel, mà đi… lỡ hổng có thì về bị chồng la ” Người gì đâu mà khờ quá! Ra đường ai nói gì cũng tin..” Đúng là “tiến thoái lưỡng nan”, tôi suy nghĩ lung lắm và cuối cùng tự hỏi “hổng lẽ chị bạn nói xạo với mình làm gì?‘ nên tôi quyết định đi theo chị bạn nhưng phải đi lén…

Khi chị bạn chở tới nơi, thấy người ta xếp hàng dài, tôi có phần yên tâm, như vậy là có vẻ thiệt. Rồi nhìn những người tới trước đi ra khệ nệ khiêng những hộp quà to mà tôi mừng húm. Như vậy là ở Mỹ có vụ phát quà Noel miễn phí cho trẻ con thật! Tôi ngạc nhiên nhủ thầm :Sao họ tử tế quá vậy? vì mình đâu có quen biết gì với họ! Đúng là “quà cho không, biếu không”. Tôi chỉ lo người ta hỏi giấy tờ, vì tôi chỉ đi người không. Khi đến phiên, may quá họ chỉ yêu cầu tôi điền vào một tờ giấy mình có mấy đúa con ( trai, gái, bao nhiêu tuổi) rồi họ chỉ vào khu lấy quà. Chèn ơi, cả một kho hàng đã phân loại đồ chơi con trai, con gái, toàn đồ xịn còn nguyên trong hộp to đùng như lời chị bạn tôi đã nói. Rồi mình được lựa quà mà mình thich cho mỗi đứa con. Tôi lựa cho 2 đứa con trai một cái xe hơi to đẹp và một cái xe tăng oai phong, có pin và có thể chạy khắp nơi với “điều khiển tự động”. Tôi lựa cho con gái út một con búp bê to rất xinh mắt nhắm khi nằm xuống và mở mắt khi đứng dậy. Tôi ôm những món đồ chơi đó về nhà mà lòng vui như Tết, quên đi cả giá rét lạnh cóng của mùa đông ở tiểu bang lạnh, mà tôi chưa kịp “làm quen”. Khi mang quà về nhà, các con tôi vui mừng nhảy nhót, niềm vui tràn ngập trên ánh mắt, trong nụ cười rạng rỡ!. Đó là ấn tượng đầu tiên của tôi về sự hào phóng của người Mỹ trong mùa Noel dành cho trẻ con. Tôi thầm cám ơn họ đã cho các con tôi “Niềm vui mùa Giáng Sinh”, và tự nhủ lòng sau này tôi sẽ bắt chước họ, biết đem niềm vui đến cho những người nghèo khó hơn mình, nhất là trong mùa Noel…

Tôi chợt nhớ lại mới nhận được email của Sr H cho biết:

HIEN NAY TAI VUNG CHUNG EM RAT LANH VA DANG BAO LUT , CAY COI BI NGAM NUOC , MUA MANG BI HU HONG .
VI LANH QUA , EM CUNG DA CHAT BOP MUA DUOC MAY CAI MEN RE TIEN DEN
GIUP CAC BA GIA YEU DAU , MOI TUAN EM NAU DUOC 1 NOI CHAO DEN THAM CAC ONG BA GIA YEU LIET .
NGUOI DAN TOC O DAY, NHA KHA GIA THI DA CO GIUONG NAM , CON NHA NGHEO VAN NAM O NEN DAT CO A .

noel3Tôi bèn email cho Sr hỏi thăm về hoàn cảnh các em mà Sr đang phụ trách chăm sóc. Nếu tôi muốn gửi quà Noel cho các em thì các em đang cần gì nhất? Tôi muốn gửi đến các em “niềm vui mùa Giáng Sinh” như ngày xưa các con tôi đã từng nhận được nơi người Mỹ. Tôi cảm thấy mình đã nhận được nhiều ơn phước Chúa ban, bây giờ là lúc tôi phải trả lại cho Đời. Vài hôm sau tôi nhận được email Sr trả lời:

“Hien gio em dang nuoi 25 em trong nha de di hoc , cac em ham hoc ,
ngoan va de thuong , khoan tien Co giup hang thang, em dung mua thuc an cho cac em .
Nơi chung em phuc vu la mot xu hoan toan nguoi dan toc Ede , thuoc
tinh Dak Lak , nguoi Dan toc thi cu ngheo mai , vi ho khong du dieu
kien de di hoc , phan dong mu chu , chung em dang no luc giup ho duoc
an hoc, nhat la cac em thieu nhi .

Suot tuan le nay tai vung Daklak mua bao nen khi troi rat lanh , cac
soeur trong cong doan em de nghi Co cho ao am de cac em mac di hoc…”

Sau này khi nhận được tiền để mua áo ấm cho các em rồi, Sr email cám ơn và kể lại các em rất vui vì lần đầu tiên trong đời các em được có áo lạnh mới với nhiều màu sắc tươi vui, và có cả cái mũ đính vào áo để đội cho ấm đầu vào mùa đông. Nhìn hình các em vui vẻ nhận và mặc áo mới…làm tôi cũng thấy vui lây, vì hơi ấm mùa Noel đã lan tỏa đến các em nghèo ở vùng núi…

Ở nước Mỹ mỗi mùa Xmas người ta làm từ thiện nhiều hơn: tặng quà cho trẻ con, cho người già, cho người homeless. Phân phát túi ngủ, phân phát thức ăn cho họ trong mùa lạnh. Bên cạnh đó còn có những chương trình Giáng sinh riêng cho người khuyết tật hay cho nguời chậm phát triển (tâm thần), hay đi thăm các nhà dưỡng lảo…. Nơi đâu cũng đều có những chương trình để chia sẻ “Hơi ấm mùa Noel” tới những người kém may mắn hơn minh. Đúng là theo kiểu “Lá lành đùm lá rách”, mọi người ở Mỹ đều tích cực tham gia chia sẻ với người nghèo hơn. Quan tâm từ nhu cầu vật chất tới tinh thần như lễ tạ ơn vừa rồi tình cờ tôi nghe 2 ông Việt Nam mới qua nói chuyện với nhau:

– Ông muốn đi ăn tiệc Thanks Giving không? tôi cho ông danh sách để đi ăn mệt nghỉ.

– Thiệt vậy sao? Bộ ai muốn tới ăn cũng được hả? người ta có bắt đưa giấy tờ gì không? (Câu hỏi này sao tôi nghe thấy quen quen giống như khi hồi tôi mới qua. Có lẽ vì ở VN cái gì cũng đòi hỏi giấy tờ tùm lum, nhưng cho chẳng được bao nhiêu!)

– Ôi nhà thờ mời mà, họ lịch sự và phục vụ chu đáo lắm. Ông cứ theo tôi đi ăn rồi biết

Hồi còn ở Việt Nam trong những lớp học chính trị tôi hay nghe các giảng viên “nhồi sọ” luôn mồm chửi Đế Quốc Mỹ Tư Bản là chế độ tàn ác người bóc lột người, còn chế độ Cộng Sản ưu việt thì “người với người sống để yêu nhau”. Nhưng dựa trên thực tế, tôi thấy mọi chuyện hình như ngược lại! Mới đây có bản tin: Chính quyền thành phố New York phải chi tiền thuê khách sạn ở khu Times Square và các khu khác cho gần 6000 dân vô gia cư ở trọ đêm trong mùa đông giá lạnh và tiền phòng đã tăng từ 163$ – lên 194$/ 1 phòng cho 1 đêm. Trong khi đó ở Việt Nam tin cho biết Chủ tịch xã Kỳ Anh (Nghệ Tĩnh) nơi xảy ra thảm họa Formosa đã làm danh sách giả để nhận tiền cứu trợ bồi thường, ăn chặn của đồng bào Trong khi còn nhiều nơi đồng bào sống lay lắt và đang biểu tình vì chờ hoài nhưng vẫn chưa nhận được tiền bồi thường. Có nơi đoàn từ thiện phát tiền cho đồng bào xong, vừa đi khỏi thì chính quyền xã xuống thu tiền lại…Những tin tức này làm cho những người muốn làm từ thiện thấy phân vân, không biết phải làm sao? và làm thế nào để quà tới tận tay đồng bào mà không bị hao hụt hay lấy lại?

Mùa Noel đang tới gần, tìm được ai đáng tin cậy để giúp “hơi ấm mùa Noel” được lan tỏa đến những đồng bào ở vùng chịu thảm họa Formosa, rồi chịu bão lụt, tới xả đập (do cán bộ phụ trách vô trách nhiệm với mạng sống người dân) đã làm họ quá điêu đứng, sống đời cơ hàn lầm than… May quá, đúng là “cầu được ước thấy”, do một cơ duyên từ thiện tôi liên lạc được với Sr bề trên dòng Mến Thánh Giá địa phận Vinh ( nơi có các tỉnh đang chịu thảm họa triền miên). Làm từ thiện mà giao cho các Sr là tin tưởng 100%, lại ở ngay đúng địa phương đó, nên chắc sẽ hiểu rõ nhu cầu cần thiết của đồng bào và có thể giao quà tận tay mà không cần qua một trung gian nào! Mừng quá tôi bèn email cho Sr và được nhanh chóng trả lời. Sr hẹn sẽ gọi Viber cho tôi để nói chuyện tiện hơn. Sáng hôm sau tôi dậy sớm hồi họp ngồi chờ phone của Sr như chờ phone người yêu. Đợi cả gần 1 tiếng, mới có phone, vì Sr bận việc trong nhà thờ. Sau khi nghe Sr kể về cảnh đồng bào thiếu ăn, thiếu mặc trong khi mùa đông đang đến khổ sở trăm bề…Nghe sao thương quá miền Trung ơi! Lời bài hát năm xưa sao nghe thấy nghẹn lòng, mà bão lụt như người tình thủy chung mỗi năm đến hẹn lại về không bao giờ lỗi hẹn dù chỉ 1 lần

Quê hương em nghèo lắm ai ơi
Mùa đông thiếu áo hè thời thiếu ăn
Trời rằng trời hành cơn lụt mỗi năm
Khiến đau thương thấm tràn…

Ngay sáng đó tôi email liền cho MH nhờ chuyển ngân vô tài khoản nhà dòng của Sr để kịp thời cứu trợ đồng bào miền trung. Phải nói cho rõ sở dĩ tôi làm được nhiều việc từ thiện là nhờ sự giúp sức tích cực của chị N, một “tri âm từ thiện” của tôi và tôi luôn biết ơn chị. Cám ơn đời khi mình ham thich làm một điều gì mà gặp được người luôn hổ trợ mình, thì không có gì quý hơn. Tôi may mắn ngoài gặp chị N tôi còn có 1 học sinh cũ cũng ham mê làm từ thiện, em giúp đở tôi rất nhiều trong công việc. Nếu không có những người này chắc tôi chẳng làm nên việc gì!

Buổi chiều khi chị bạn đến để cùng đi bộ, tôi kể chị nghe về những xúc động khi nghe Sr kể chuyện về thảm cảnh khổ cực của đồng bào miền trung. Chị bèn đề nghị:

– Tại sao chị không xin tiền trong nhóm Monica của mình để giúp thêm cho đồng bào

– Thực ra tôi hơi ngần ngại, vì tôi biết đa số các bạn đều đã đóng góp cách này cách khác cho việc cứu trợ, vì có quá nhiều hội đoàn kêu gọi giúp đở…

Nhưng lời đề nghị của bạn vẫn làm tôi suy nghĩ, thực ra tôi sợ mình làm phiền các bạn vì cứ bị quấy rầy xin tiền hoài. Nhưng sau tôi nghĩ lại: “Thôi thì vì người nghèo, chịu mặt chai hay nghe bị than phiền cũng được. Miễn là có thêm tiền giúp đỡ người nghèo là được rồi“. Cũng như trước đây tôi đã từng ôm thùng đứng trước các cửa chợ xin tiền giúp người nghèo bên VN của hội Help The Poor. Có người cho 1, 2 đồng, có người đã không cho mà còn mắng mình “nối giáo cho giặc CS, chuyện bên VN để chính quyền họ lo” hoăc là “Sao ham làm chuyện bao đồng của thiên hạ…” Tôi chỉ im lặng mỉm cười đáp trả, vì có trả lời cũng vô ích đối với những người không cùng “tần số” với mình.

noel2Tối đó tôi về viết tâm thư gửi email cho các bạn trong nhóm (khoảng hơn 10 chị) với hy vọng mong manh, may ra Chúa thương có thể thêm 1000$ giúp đồng bào thì vui biết bao nhiêu! Tôi hồi họp chờ đợi phản ứng của các bạn, không ngờ các bạn đáp ứng quá tốt! Từ đó “Mỗi ngày tôi gặp nhiều niềm vui” khi check email vì các bạn ủng hộ quá tích cực! Ôi các bạn của tôi dễ thương làm sao, có bạn khi tôi email cám ơn thì lại trả lời “Tụi này phải cám ơn chị, vì đã cho tụi tôi cơ hội để làm từ thiện“.hoặc “Tụi tôi cũng muốn giúp đồng bào bên nhà, nhưng không biết chỗ nào đáng tin cậy, nay gặp nơi đáng tin cậy thì vui quá rồi!”Có bạn còn hăng hái kêu gọi bạn bè, người thân gia đình cùng đóng góp. Có bạn thấy mọi người đóng góp hăng hái quá bèn “nói nhỏ“: “Hôm trước tôi ghi đóng 50$, bây giờ chị sửa lại cho tôi theo chị đóng 100$ đi nha!”. Các bạn ơi! các bạn làm tôi vui quá, vì cảm thấy tình người vẫn còn quanh đây. Quả là khi tôi chỉ muốn mang đến chút hơi ấm, một chút niềm vui cho người nghèo trong mùa đông lạnh lẽo thì tự dưng tôi lại nhận được niềm vui gấp bội lần. Quả là lời Chúa nói không sai :”Các con cứ cho đi, rồi các con sẽ nhận lai được gấp 100 lần”. Xin cám ơn các bạn đã cho tôi niềm vui tình người đáng quý! Có lẽ nhờ vậy mà mặt tôi lúc nào cũng tuơi như hoa, khiến 1 chị bạn tình cờ gặp tôi ngoài phố, khi về gọi ĐT hỏi nhỏ:

– Ê sao lúc này tôi thấy bạn tươi đẹp hẳn ra. Bộ mới có vitamin T hả?

Tôi cười đáp lại : “Thiệt vậy hả? Đúng rồi, tôi đang nhận được nhiều vitamin T lắm!

Giọng bạn tò mò, sôi nổi liền “Nói nghe, ai vậy??Đừng có bí mật nghen!”

– Có gì đâu mà bí mật, vitamin T của tôi là Từ Thiện đó, hiểu chưa bồ tèo?

Niềm vui đang lan tỏa trong tôi vì tôi cảm nhận được:

“Cùng tôi đang sống là biết bao bạn bè

Có tấm lòng như một đóa hoa …”(TCS)

Vì các bạn đã cùng tôi mang hơi ấm mùa Noel tới cho những người đang chịu cực nhất ở quê nhà . Mầm thiện vốn có sẳn trong mỗi con người đã được tưới tẩm đề nẩy mầm đơm hoa kết quả: Sau hơn 1 tuần kêu gọi, số tiền thu được quá con số mong đợi lúc đầu ( 1000$) mà lên đến gần 2000$. Tuy rằng con số vật chất có thể là chưa nhiều so với các nơi, nhưng mọi người rất vui mừng vì đã có cơ hội được làm điều tốt, điều thiện, chia sẻ miếng cơm manh áo với đồng bào khốn khó hơn mình. Không phải một mình tôi vui, mà Sr cũng vui và Sr kể nhất là bà con đang khốn khổ cũng rất vui, khi nhận được những phần quà những chiếc áo ấm trong mùa đông lạnh giá đang tràn về. “Từng giọt từng giọt thiện, thức dậy những niềm vui”. Ôi một niềm vui Tình Người đang lan tỏa khắp nơi. Tôi chợt cảm thấy lòng mình ấm lại khi nghe lời 1 bài hát thánh ca Noel như thay một lời cầu nguyện:

“Cho con đuợc ủi an ai khóc than, ai khó khăn

Để Chúa đến trong cuộc đời…” (ND)

Vì khi bạn giúp đở nhu cầu cho một ai đó bằng thời gian và năng lực của bạn. Đó chính là lúc bạn đang cầu nguyện (When you are helping someone in need by giving your time and energy. You are praying.) Tôi thích loại cầu nguyện này hơn là ngồi đọc kinh, gỏ mõ… Vì “chúng ta có thể sống mà không có tôn giáo hay thiền định, nhưng chúng ta không thể sống mà không có tình người.”

Ngoài trời đang se lạnh, tiếng nhạc Giáng sinh đang âm vang đây đó làm xao động lòng người:

“Đêm Noel đêm Noel ta hãy cùng vui lên
Đêm Noel ôi đêm ơn Chúa ban hòa bình chốn trần thế
Đêm Noel chuông vang lên chuông giáo đường vang lên
Đêm Noel ôi đêm Noel ta hãy chúc nhau an bình”

Một mùa Giáng sinh nữa lại đến, mùa của tình yêu thương chúng ta hãy cùng nhau mở rộng tâm hồn và sẻ chia cho nhau tình yêu thương ấm áp trong dịp đại lễ này. Các bạn có cảm thấy lòng mình rung động trước một mùa Giáng sinh mới? Chúng ta hãy thể hiện cảm xúc của mình bằng sự quan tâm chia sẻ tình thương cho nhau, như một món quà dâng lên Chúa Hài đồng. Đôi khi chỉ là điều giản dị như sáng nay một nhóm học sinh của trường trung học địa phương chia nhau đến gỏ cửa từng nhà khu tôi ở. Tôi mở cửa và ngạc nhiên khi thấy các em chào, rồi cùng nhau hát chúc mừng một bài ca Christmas thật dễ thương và kết thúc với lời cầu chúc:

I wish you a merry Christmas
I wish you a merry Christmas
I wish you a merry Christmas
And a happy New Year

Phượng Vũ

Chợ Đồng Xuân văn hóa Vc mang qua, xin đừng làm người Việt xấu hổ!

Người Đức họ hơn ta phải chăng họ có “Đức tính”, còn chúng ta có “VIỆT TÍNH” chăng? 

Inline images 1

Xin người Việt ở Đức đừng làm người Việt xấu hổ!
Gần đây nhiều bài báo trên mạng đã dám mạnh dạn đề cập đến những mặt trái của một số ít người Việt sống ở đất nước văn minh này. Họ là số ít nhưng hệ lụy lại lớn lao khôn lường.
Chợ Đồng Xuân – một xã hội Việt Nam thu nhỏ ở Đức
Chẳng hạn trong khu chợ Đồng Xuân, ngày càng có nhiều khách người Đức và người nước ngoài vào mua bán. Ở đây, mặc dù ban quản lý chợ đã có nhiều cố gắng trong việc chấn chỉnh trật tự và vệ sinh, nhưng người Việt vẫn vứt rác hôi thối và đổ nước bẩn ra quanh khu nhà. Xe đỗ thiếu ý thức làm tắc nghẽn giao thông; hội hè tổ chức thì quá đông, ồn ào, thiếu văn minh và bất lịch sự, vì tưởng lầm như thế là oai, là hay, là đàn anh, đàn chị…
Trên tầu xe, thì người Việt nói tiếng Việt oang oang, nói tẹt ga cho sướng cái mồm, nói như ở chỗ không người. Tư thế ngồi không ngay ngắn, quấn áo lôm nhôm, giày dép bẩn, có người còn đi nhầm đôi tất không đồng màu, để lộ rõ, chân bốc mùi hôi hám, làm cho khách ngồi cạnh phải bịt mũi quay đi, hay lánh sang chỗ khác ngồi. Có người còn cho tay lên ngoáy tai, ngoáy mũi, sì mũi không có khăn, ho nhiều lần không bịt miệng, bắn nước miếng vào người khác, mở nhạc và nói chuyện trên điện thoại quá to. Có rất nhiều cái xấu nhãn tiền mà không giấy bút nào tả cho thấu và cho hết được. Nhục và xấu hổ lắm!
Một số bà mẹ trẻ thì rủ nhau đẩy xe trẻ con, hai cái xe đã to và cồng kềnh lại đi dạo thành hàng ngang, sóng đôi choán hết phần đường của người đi xe đạp và đi bộ. Đã vậy họ còn nói chuyện và cười to vang cả một vùng. Cứ làm như đây là “Nam quốc sơn hà Nam Đế cư“ vậy.
Đi làm giấy tờ trong công sở, tiếc tiền không thuê phiên dịch, tiếng Đức đã kém, không biết cách trình bày, cộng thêm sự không hiểu biết, tính khí nóng nảy, cái đầu lại quay quay nên dẫn tới nhiều trường hợp chửi nhau với nhà chức trách và nghiêm trọng hơn còn đánh họ gây thương tích. Thật là ngu ngốc, tàn bạo và là sự nhục nhã, xấu hổ cho cộng đồng.
Nước mình có, không ở, sang nước người ta, ăn nhờ, ở đậu vào xã hội tươi đẹp của họ, do ông cha họ tạo dựng nên từ bao nhiêu thế kỷ. Thế mà không biết điều. Nhiều trường hợp, nếu dùng từ ngữ cho đúng là họ đang “ăn bám”.
Một số người tự hành nghề, khi nộp thuế tự khai đã không chính xác, họ làm mấy chục năm mua bao nhiêu đất ở Việt Nam, chưa bao giờ nộp thuế lợi tức cá nhân, ấy vậy đến lúc bất đắc dĩ phải nộp vài trăm thuế doanh thu đã huênh hoang, lên mặt, vỗ ngực là ta đây có công đóng góp to lớn cho nhà nước Đức, rồi tiếc mấy đồng thuế đó tìm cách này, cách khác để lấy lại.
http://images.ongbachau.vn/Images/Uploaded/Share/2016/2/7/Cho-Tet-tap-nap-o-Duc-chieu-cuoi-nam-1.jpg
Một số người tận dụng “hết công suất“ của xã hội, cố tìm và moi móc ra những kẽ hở để khai thác và lợi dụng. Lòng tham ở một số người thật vô đáy, vô cùng.
Người Việt mới sang chúng ta còn châm chước, nhưng một số vị sang Đức này “từ lúc tóc còn xanh, nay họ đã phơ phơ đầu bạc“. Họ đã thành “cộng mốc“ lâu rồi mà xem chừng chỉ vì say mê đào tiền quá mà “bao năm rồi tiếng cuốc vọng năm canh“ hai chữ hội nhập vẫn mơ màng, chưa tỉnh ngộ.
Có người trả bảo hiểm cho cửa hàng vài năm, không bị phá, bị cháy. Lẽ ra phải mừng mới phải, đằng này họ lại tiếc, cho là mình trả bảo hiểm phí quá !!!???. Sao họ không nghĩ là nếu họ ốm đau phải qua một ca mổ tốn kém đến vài trăm nghìn, mà trong khi đó bảo hiểm ốm đau, họ chỉ phải trả có vài trăm hay vài chục và thậm chí không phải trả vì do ăn theo hoặc có thu nhập thấp?
Con người hơn con vật là do có ý thức về Xã hội và cộng đồng. Người Đức họ hơn ta phải chăng họ có “Đức tính“ còn chúng ta có “VIỆT TÍNH“ chăng?
Tôi thiết nghĩ đã đến lúc cộng đồng ta phải chấn chỉnh ngay những điều không đẹp mắt và những việc làm xấu của một số người. Ngay từ khi nước Đức thống nhất, chúng ta đã mang tiếng xấu liên quan tới “mafia thuốc lá“, người Việt giết người Việt. Giờ đây lại thêm người Việt trồng cần sa, buôn ma túy, người Việt đánh hay giết người Đức nữa. Một số người Đức còn cho rằng: Người Việt buôn bán trốn thuế nên vào chợ Đồng Xuân thấy nhiều xe sang đỗ khắp nơi…Chỗ nào cũng nhan nhản quán xá của người Việt, làm ăn nhỏ lẻ, chộp giật mà thuế nộp quá là “khiêm tốn.”
Trước đây đất nước ta trải qua chiến tranh khốc liệt, người Đức nhất là phía Đông Đức đã giúp đỡ rất nhiều và cũng rất có cảm tình với người Việt chúng ta. Họ thương chúng ta vì chúng ta nghèo và hiền lành…
Tại sao giờ đây họ lại giảm yêu, tăng ghét với người mình? Dù chúng ta có ngụy biện thế nào đi chăng nữa là do điều kiện khách quan hay chủ quan thì theo tôi, lỗi lớn vẫn là do từ phía mình là chính. “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân“.
Mong cộng đồng chúng ta hãy gạn đục khơi trong, để lấy lại thiện cảm của người dân bản xứ. Hãy cùng nhau đấu tranh và góp ý về những việc làm ảnh hưởng xấu đến bộ mặt của người Việt, nếu không thì “con sâu làm rầu nồi canh“, từng người trong cộng đồng chúng ta sẽ gặp không ít khó khăn vì những ảnh hưởng xấu đó.
Chúng ta có điều bất lợi là một số không ít người Đức, khi đọc trên báo hay nhìn thấy những điều chướng tai gai mắt nào đó của người Việt gây ra là y như rằng họ “vơ đũa cả nắm“. Người Âu châu với nhau, về hình thức còn khó phát hiện là người nước nào. Còn người Việt Nam mình, do ngoại hình và màu da, màu tóc, nên cái hay hoặc cái dở bị họ phát hiện ngay từ xa và rất nhanh. Khi vào “bộ nhớ“ của họ rồi thì rất khó mà tẩy xóa được.
Mong mọi người đừng để LÒNG THAM vô đáy và cái VÔ MINH của mình gây ảnh hưởng xấu người khác. Đó là bổn phận của từng người dân sống ở nước ngoài. Vì ta không phải chỉ sống một mình.
Nguyễn Doãn Đôn

Bài Xem Nhiều