We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Sunday, 8 January 2017

HẸN NGÀY ĐOÀN VIÊN : Ngày Xuân Bàn Chuyện Thời Gian

HẸN NGÀY ĐOÀN VIÊN !


Miền-Nam, Vẹm cướp xong rồi
Tiệm-buôn của Chị, chúng hôi-của hoài
Kiểm-kê, đóng-thuế Môn-bài
Thu-mua hàng-hóa, gia-tài cạn ngân !
Ba con vượt-biển, thoát thân
Định-cư Mỹ Quốc, vẫn hằn phân-vân
Gởi quà, báo-hiếu song Thân
Làm đơn Bảo-lãnh, mong gần Mẹ-Cha
*****
Còn mình vất-vả, bôn-ba
Phu-quân ''Học-tập...'', hóa ra đi tù !
Từ Nam chí Bắc, mịt-mù
Mới hay ''Cải-tạo'', lao-tù tối-tăm !
Ngày về đằng-đẳng, xa-xăm
Anh chồng Bảo-lãnh, chín năm rã-ròng
Gia-đình xuất-cảnh, thong-dong
Ẩn-cư Pháp Quốc, chờ-mong diệt Bò !
*****
Không giàu, nhưng rất Tự-do
Nhân-quyền Dân-chủ, ấm-no hài-hòa…
Việt-Nam Cộng-phỉ, điêu-ngoa
Thề không trở-lại, dù Cha mãn-phần !
Tuy rằng bất-hiếu vô-ngần
Còn hơn phản-bội Tiền-nhân, Cộng-Hòa...
Tuổi-đời gần đất, Trời xa
Chị-em hội-ngộ, hát-ca tầm-xàm
*****
Hoa-Kỳ, Pháp Quốc, Việt-Nam
''Đi-mây về-gió'' người-phàm, cõi Tiên...
Bùi-ngùi, từ-giã Chị-em
Rưng-rưng ngấn lệ, đoàn-viên... hẹn ngày !./.
Paris, 7/1/2017
Xuân-Nương
       
 Ngày Xuân Bàn Chuyện Thời Gian

        Ngay từ thời thượng cổ con người đã biết xếp đặt thời khóa biểu, để cuộc sống hằng ngày sao cho phù hợp với chuyển động của mặt trời, mặt trăng và mùa màng. Hiện phần lớn các cổ thư trên thế giới đã bị thất lạc và tiêu hũy nhưng nhờ sự khai quật qua khảo cổ, ta vẫn có thể biết được cách tính ‘ Ngày mùng một tháng Giêng ‘ theo lịch Trung Hoa cổ.
          Đây là cách mô phỏng theo sự chuyển động của năm hành tinh trong nhóm sao Pegasus, được sắp xếp như một chuổi ngọc. Rồi khi bình minh của một ngày đầu xuân ló dạng, mặt trời và mặt trăng cũng xen vào xếp hàng trong chùm sao đó.
          Quan niệm trên được mọi người xem như  một điềm lành đầu năm, vì đây là trường hợp họa hoằn hiếm thấy chỉ xãy ra một lần trong 10.000 năm. Do đó nó được chọn làm ngày đầu năm cũng là mốc khởi đầu của âm lịch ngày nay. Năm 1985 một chuyên gia về Trung Hoa là David Pankernier tại đại học Lehigh, đã xác định được thời gian ngẫu hợp hiếm thấy của các hành tinh, diễn ra vào ngày 26/2/1953 trước tây lịch, nhằm vào thời vua Vũ nhà Hạ bên Tàu. Sau đó Kevin D Pay, một nhà thiên văn học, cũng tính được khoảnh khắc huyền thoại mà người Tàu cổ, đã chọn làm mốc tính âm lịch, đó là ngày 5/3/1953 (tr TL).
          Ngày nay dù phương tiện và kỷ thuật tân tiến dồi dào nhưng sự nghiên cứu về thời gian càng lúc càng thêm phức tạp, vì các ý kiến gần như chống đối lẫn nhau. Theo đó thì ý kiến thứ nhất  cho rằng thời gian là một đường thẳng, đối với các đơn vị tính ngày giờ năm tháng và các chuyển động không bao giờ ngừng. Còn nhóm thứ hai quan niệm thời gian là một vòng tròn, cũng có sự tuần hoàn và không bao giờ chấm dứt.
          Để định nghĩa chính xác về thời gian, người cổ Hy Lạp có câu chuyện ngụ ngôn về con nhân sư, hàm ý diễn đạt về sự chuyển động của thời gian có liên quan tới hành trình của đời người. Chính thánh Augustine cũng có sự nhận định rất chính xác về thời gian, khi phân biệt giữa hiện tượng chủ quan và khái niệm trừu tượng. Theo ông thì thời hiện tại có ba giai đoạn là hiện tại của quá khứ, hiện tại của hiện thực và hiện tại của tương lai.
          Với những người chấp nhận thời gian là đường thẳng, có cuộc sống luôn luôn tuân thủ trật tự, mọi thứ đều căn cứ vào xếp hàng gần như câu tục ngữ của ta “ trâu chậm uống nước đục “.Quan niệm này được hầu hết các nước Âu Mỹ chấp nhận, vì gần với thực tế và tự do bình đẳng, không có ai ưu tiên hơn ai khi đã xếp vào hàng.
          Riêng những người chấp nhận thời gian là vòng tròn, thì luôn hành động theo tính cách vòng tròn, chỉ nhắm vào mục tiêu cuối cùng, bất chấp đạo lý và dư luận chung quanh. Hạng người này không bao giờ chấp nhận thất bại nên lời hứa, uy tín là những thứ xa xí phẩm, đặc biệt họ luôn tới bàn tiệc trễ, mặc kệ sự phiền nhiễu và khó chịu của mọi người.
          Tóm lại quan niệm về thời gian chẳng những ảnh hưởng tới cá nhân, mà còn liên quan tới vận mệnh của quốc gia dân tộc, nhất là khi họ nắm quyền lảnh đạo đất nước. Hiện nay hầu hết các nước theo chủ nghĩa xã hội, các quốc gia chậm tiến Á Phi, các nước thứ ba.. đều thuộc nhóm chấp nhận thời gian là một vòng tròn, nên mọi hành động và cách ứng xử đều tùy tiện theo mục đích.
          Chí lý thay lời nhận xét của Emile Durkheim, một nhà xã hội học người Pháp “ Thời gian chính là một cấu trúc của hạ tầng xã hội, giúp cho sự hưng phế của một nền văn minh và một dân tộc trong tất cả mọi vấn đề “.Cũng từ sự đối chọi quan niệm về thời gian, đã ảnh hưởng tới các nhà thiên văn học và chiêm tinh học. Đó là lý do nãy sinh việc chọn lựa 12 con giáp làm biểu tượng cho hai thứ lịch Âm và Dương đang thịnh hành.
          Nay thì hầu như ai cũng biết, bao quanh bầu trời có một vòng đai gọi là “ vòng động vật Zodiac “ Tuy mặt trời là một định tinh và địa cầu luôn chuyển động vòng quanh nó nhưng trong cái ấn tượng và quan niệm của con người, thì mặt trời dường như cũng có chuyển động quanh một vòng cung biểu kiến, được các nhà thiên văn và chiêm tinh học, gọi là “ vòng Hoàng Đạo “ .Mười hai con giáp cũng xuất phát từ đấy và để phân biệt tính chất Âm-Dương, người ta lại phân biệt số ngón của con vật theo định luật ‘ chẳn dương, lẽ âm ‘.
- Năm mới không đến một lần trên trái đất :
          Không phải mọi người đều đón mừng năm mới cùng một lúc, vào sáng ngày mùng một tháng Giêng dương lịch, dù rằng hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều dùng Tây lịch. Sỡ dĩ có sự khác biệt trên vì địa cầu trải dài nhiều kinh tuyến, vốn là đơn vị dùng để tính thời gian. Ngoài ra việc làm và sử dụng lịch luôn lệ thuộc vào quyền lực chính trị, nên mới có sự khác biệt trên.
          Theo nhận xét của các nhà khoa học, thì nay dù Dương lịch (lịch Grégoire) đang được dùng khắp nơi nhưng vẫn chưa đủ tác dụng và hiệu quã để có thể thay thế cac loại lịch khác đang song hành. Lý do vì lịch này mang tính chất tùy tiện và dù đã được cải tổ và tu chỉnh nhiều lần suốt mấy chục thế kỷ qua. Thế nhưng ới nay vẫn chưa được hoàn chỉnh.
          Theo tài liệu cho biết, thì Dương Lịch hay lịch Gregorian, xuất xứ từ lịch Roma được ban hành từ năm 750 trước Tây lịch (tr TL). Thuở đó lịch rất thô sơ, một năm chỉ có 10 tháng, 6 tháng đầu có 30 ngày, 4 tháng cuối có 31 ngày. Thời hoàng đế Numa trị vì, lịch được cải cách lần thứ nhất bằng cách thêm vào tháng 11 và 12. Theo đó, các tháng 2,4,6,7, 8,9,11 chỉ có 29 ngày. Riêng tháng 12 có 28 ngày, còn các tháng 1,3,5 và 10 có tới 31 ngày. Ngaòi ra cứ 2 năm lại có một tháng nhuần vào ngày 22. Tóm lại lịch này mỗi năm có chẳn 366 ngày.
          Năm 46 trước Tây lịch (tr TL), hoàng đế La Mã Cesare Julius lại cải tổ lịch lần thứ 2, dựa theo cách tính của người cổ Ai Cập.Theo đó lịch này gần giống như lịch cũ nhưng mỗi năm chỉ có 365,25 ngày.
          Tới khi đạo Thiên Chúa trở thành quốc giáo tại Âu Châu, thì việc phát hành lịch do tòa thánh La Mã quyết định, nên trong lịch đã xuất hiện nhiều ý niệm về tôn giáo. Năm 532 sau Tây lịch (STL), giáo hội chấp thuận đề nghị của giáo sĩ Denys le Petit, chọn năm 1 là năm sinh của chúa Jésus, mặc dù kinh Tân ước có nói Chúa ra đời vào năm 6 trướcTây lịch. Vấn đề nhầm lẫn trên sau bao chục thế kỷ, đã trở thành tập quan, nên nay không còn ai muốn thay đổi.
          Thật ra chính người La Mã, là dân tộc đầu tiên chọn ngày 1 tháng 1 là ngày đầu năm hay còn gọi là Tết Dương Lịch. Riêng cái tên thang Giêng (Jannuary) cũng được mượn từ tên vị thần Janus có 2 mặt : một nhìn về năm cũ, một hướng tới năm mới. Ông ta còn là vị thần giữ cửa địa ngục và thiên đàng.
          Năm 1582 lại phát hiện lịch tính chậm so với thời gian hiện hữu là 10 ngày, nên Giáo hoàng Grégorian đã cải cách lịch cũ, bỏ bớt 10 ngày trong năm và áp dụng luật năm nhuận 47/400 vào lịch mới. Theo tinh thần đó, thì bất cứ năm nào chia chẳn cho 4 đều là năm nhuận. Với các năm có số tận cùng là 00, nếu muốn nhuận phải chia chẳn cho 400. Từ đó lịch được phổ biến khắp thế giới, được xem như một phương tiện để giao dịch quốc tế. Nhưng với các nhà khoa họchiện nay vẫn chưa đồng ý, vì cho rằng sự xếp đặt các ngày trong tháng chỉ tùy tiện và vô lý như 28,29,30 và 31. Với chu kỳ tuần lễ cũng chạy lộm xộn trong lịch và cuối cùng là luật 97/400 tính năm nhuận cũng chưa được hoàn chỉnh, vì cứ 3000 năm lại bị sai lệch 1 ngày.
          Ta gọi là lịch, người Pháp là Calendrier còn Anh là Calender hay bất cứ một danh từ nào khác cũng đều có xuất xứ từ tiếng gốc Latin là Calendarium, có nghĩa là “ số tiền lời đầu tiên phải trả khi vay nợ “ . Ngay từ xa xưa nhiều nước đã có lịch, đa số đều khác biệt vì đặc điểm lịch sử và các qui luật riêng của từng nước.
          Lấy năm 1997 làm ví dụ, ta thấy ngày đầu năm của các quốc gia Hồi giáo như Algérie, Iraq, Kuweit, Somalie, Lybie, Nigérie. nhằm 15/4 dương lịch, nhằm ngày 19 của tháng Ragab năm 1417, là năm mà Giáo chủ Mahomed lánh nạn tại Medina. Vì người Hồi dùng âm lịch nên sai lệch so với dương lịch khoảng 11 ngày đêm. Do đó ngày đầu của năm mới có thể đến bất kỳ tháng nào của dương lịch.
          Người Do Thái có lịch kể từ ngày sáng lập ra thế giới và căn cứ vào năm 1997 dương lịch, thì họ đã có 5758 năm và ngày đầu năm mới nhằm vào tháng 9 dương lịch. Người Copte theo đạo Thiên Chúa sống tại Ethiopie và Ai Cập, vì tính thời gian theo lịch cổ Ai Cập nên năm 1997 lại là năm 1713 của họ. Dân đảo Pali thuộc Nam Dương có thể đón năm mới bất kỳ tháng nào của dương lịch, vì một năm của họ chỉ có 210 ngày.
          Người Nga lúc đầu ăn tết vào ngày 1 tháng 3 dương lịch nhưng từ thế kỷ XV mới ăn tết vào ngày 1/1 dương lịch. Anh cũng như Nga chỉ mới chấp nhận ngày đầu năm mới là 1 tháng 1 được vài thế kỷ nhưng đã bị phụ nử phản đối kịch liệt vì cho rằng nếu theo cách tính đó, đã làm cho họ già trước tuổi.Các tín đồ Chính thống giáo ở Cận đông sử dụng lịch Julieu nên ngày đầu năm là 16 tháng 1 so với lịch mới. Riêng Ấn Độ thì độc đáo hơn, mỗi tiểu bang ăn tết riêng biệt : miền bắc tháng 4, miền nam tháng 3, miền tây tháng 10, còn Népal tháng 7 hay 8.
          Các nước theo Phật giáo Tiểu thừa như Lào, Kampuchia, Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan.. đón tết theo Phật lịch và năm của họ là 2540 (1997 dương lịch), căn cứ theo ngày viên tịch của Phật tổ Như Lai vào năm 544 trước Tây lịch (tr TL). Các nước Nhật, Đài Loan, Triều Tiên dù ăn tết theo âm lịch nhưng đều có lịch riêng. Với Đài Loan, lịch của họ bắt đầu từ năm 1911 là năm cách mạng Tân Hợi thành công lật đổ Mản Thanh, nên tính đến năm 1997 là năm dân quốc 86. Người Nhật tính lịch theo triều đại đang trị vì là hoàng đế Akihitonăm thứ 8. Nam Hàn có lịch riêng yính theo kỷ nguyên Tanqua tạo ra nước Chosoul (Cao Ly) nên đã bước vào năm 4330.
          Trung Hoa, Mãn Châu, Mông Cổ, Tây Tạng và Việt Nam theo âm lịch tính theo chuyển động của mặt trăng. Do đó ngày đầu năm của âm lịch, được tính theo chu kỳ nhất định trong 60 năm và căn cứ vào 10 Can, 12 Chi, thường rời vào tháng 1 hay 2 của dương lịch. Với lịch Islam dù cũng theo âm lịch nhưng năm mốc là 622. Theo lịch này mỗi năm cũng có 12 tháng, được tính đủ 30 ngày trong các tháng lẽ, 29 ngày tháng chẳn và có năm nhuận. Do trên lịch Hồi giáo mỗi năm chỉ có 354 hay 355 ngày.
           Ba Tư áp dụng lịch Islam từ thế kỷ thứ VII tới triều đại Pahlévi thì dùng dương lịch của họ. Năm 1976 lại thay đổi lịch, lấy năm 558 trước TL là năm Ba Tư lập quốc làm kỷ nguyên. Năm 1978 Ba Tư trở lại dùng lịch Islam như cũ.
          Do các trở ngại trên nên việc cải cách lịch Gregorian luôn là mối bận tâm của nhiều quốc gia trên thế giới. Hội Quốc Liên (tiền thân của Liên Hiệp Quốc) đã thành lập tiểu ban cải cách lịch quốc tế và hàng trăm phương án được nêu ra. Rốt cục vẫn không có một ý kiến nào toàn hảo. Hiện có hai phương án đượcdư luận theo dõi và chú ý. Đó là lịch thế giới (World Calendar) do môt người Pháp tên G.Armetine đề nghị từ năm 1956. Phương pháp thứ hai là lịch quốc tế cố định (International Fixed Calendar) của Auguste Comte đề nghị từ năm 1849. Năm 1993 một người Mỹ tên Chris Carrier lại đưa ra dự án lịch Bonavian. Tại VN, giáo sư Phạm Viết Trình cũng đưa ra dự án cải cách lịch, dựa theo luật nhuận tuyệt đối 2422/10.000. Tóm lại dự án nào cũng độc đáo nhưng theo các nhà khoa học hiện đại, vẫn còn có nhiều khuyết điểm. Do đó cuộc cải cách chắc còn lâu mới thực hiện được.
- 2000 hay 2001, năm nào mới là năm đầu của thiên niên kỷ ?
          Đây là một cuộc tranh luận sôi nổi từ lâu trên thế giới, đã được Phillipe Ciboil, giáo sư môn xã hội học người Pháp làm bảng tổng kết các cuộc tranh luận vào ngày 12-4-1997, về việc năm 2000 hay 2001, năm nào mới thật sự là năm đầu của thiên niên kỷ ?
          Tại Pháp từ sau cuộc cách mạng 1789, người ta đã làm một loại lịch mới gọi là lịch Cộng Hòa nhưng chỉ được sử dụng trong thời gian ngắn ngũi từ 1793-1805. Chính trong thời gian này, văn hào Victor Hugo khi noí về ngày sinh nhật của mình đã viết rằng “ Thế kỷ mới đã được 2 tuổi, nghĩa là ông công nhận thế kỷ XIX bắt đầu từ năm 1800” . Một biến cố khác cũng cực kỳ quan trọng đã xảy ra tại Pháp khi bắt đầu thế kỷ XVIII. Việc này đã làm cho nhà vua tới người dân, ai cũng xôn xao vì thế kỷ mới sẽ bắt đầu bằng năm 1700 hay 1701 ?.
          Theo sự nghiên cứu của các nhà xã hội và khoa học, thì nguyên nhân của các vụ tranh cải trên, bắt nguồn từ hai quan điểm tập quán và thực nghiệm. Phe tập quán được đông đảo dân chúng ủng hộ vì đây là phong trào tự phát, chấp nhận con số tròn (0), là thời điểm mà niên kế (compteur d’années) trở lại theo chu kỳ. Chính các nhà khoa học giả tưởng là động lực tạo thành con số (0) trong tâm khảm quần chúng.
          Trong khi đó phái thực nghiệm bao gồm các nhà toán học, khoa học, thì lấy số 1 là năm đầu của thế kỷ hay thiên niên kỷ, dù họ có sử dụng loại lịch nào chăng nữa (dương, âm, Hồi giáo, Phật giáo) kể cả lịch Cộng hòa Pháp. Theo lối lý luận này, thì mỗi thế kỷ phải kết thúc bằng con số 0 và khởi đầu bằng con số 1. Đây chính là cái vòng lẩn quẩn của con người, như câu nói thông thường của ta “ đường nào cũng về La Mã “ là vậy.
          Theo lối tính của nhóm trên thì thế kỷ thứ I bắt đầu bằng năm 1 và kết thúc năm 99. Thế kỷ thứ II cũng bắt đầu bằng năm 100 và kết thúc vào năm 199 để sang thế kỷ mới. Sau đó lại tiếp tục giống trên cho tới thế kỷ XX bắt đầu bằng năm 1900 và kết thúc vào năm 1999. Rốt cục phe thực nghiệm đã vô tình chấp nhận quan điểm của phe tập quán một cách tự nhiên.
          Đặc biệt Giáo hoàng Phao Lồ đệ 2, khi đọc thông điệp ‘ Tetio Millenio Advennience ‘ Ngài chỉ loan báo lấy năm 2000 làm thời gian mừng lễ Jubilé . Tuyêt nhiên trong bức thông điệp không hề nhắc tới năm nào là năm khởi đầu của thế kỷ XXI , dù có nói rằng năm 2000 là ngưỡng cửa để nhân loại bước vào thiên niên kỷ mới..
          Tóm lại mọi sự trên đời này đều do đám đông quyết định và cái chân lý bất biến tự ngàn xưa, dù cho trời có xập, nó vẫn là “ Vox Papouli (tiếng nói của quần chúng ) “ cũng là “ Vox Dei (quyết định của Thượng Đế) “ .
          Rồi thì năm 2000 tận thế cũng trôi qua từ lâu và sự trắc trở của máy điện toán (Y2K) cũng không hề có. Thế nhưng các nhà tiên tri vẫn tiếp tục đưa ra những dự báo xấu về Ngày Tận Thế của trái đất, Hiện nhân loại đã bước vào ngưởng cửa của năm 2010 vời đầy ắp lo sợ, từ khủng hoảng kinh tế tới thảm trạng của một cuộc thế chiến đang ló dạng khắp nơi. Thêm vào đó là tai họa do thiên nhiên mang tới như bảo tố, động đất, núi lửa.. chotới các vụ rớt máy bay, đắm tàu thuyền, chết đói, dịch bệnh..
          Đây không phải là các lời đồn nhãm nhí hay các loại tiên tri dõm thường thấy xãy ra trước đây, mà tất cả đều là sự thật được báo chí thông tin từng giờ. Buổi trước mọi người đều tin khi thay đổi thế kỷ hay thiên niên kỷ, đều là những giây phút cuối cùng của cuộc sống. Nhưng vào thời điểm này, trước sự lộng hành của Trung Cộng, Nga Sô, Bắc Hàn, Ba Tư và bọn khủng bố.. lúc nào cũng mang chết chóc gieo rắc khắp nơi trên trái đất, trước sự bất lực của Hoa Kỳ. Điều này cho thấy ngày tận thế của nhân loại bởi bom nguyên tử, vẫn là nổi ám ảnh lớn nhất của con người hiện nay, tuy ai cũng mong sẽ chẳng bao giờ tới.

Viết từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Đầu năm 2017
MƯỜNG GIANG

Đi Hát Một Nét Hào Hùng Của Giới Giang Hồ Đất Nam Kỳ Lục Tỉnh

Image result for Bẩy Viễn, một gương mặt tiêu biểu của giới Giang Hồ Lục Tỉnh


Bẩy Viễn, một gương mặt tiêu biểu của giới Giang Hồ Lục Tỉnh

Mở cửa mau. Không tao bắn chết cha bây giờ !
   Chủ tiệm chết điếng, nhìn họng súng trân trân. Mười Nhỏ giục:
      - Mở cửa mau. Ông cố nội mầy đây chớ ai mà ngó châm bẩm vậy ?
   Bườm !
   Tất cả rút ra bờ sông.
   Trên đường về, Mưòi Nhỏ gật gù khoái chí. Nhưng Bảy Rô lặng thinh. Qua những phút sôi nổi, lòng anh thấy ray rứt vô cùng. Tự nhiên mình nhảy vô đánh người ta chết giấc, vơ vét hết tiền bạc của người ta. Suốt đường về, anh chỉ lo cho tên Ba Tàu tỉnh lại, thấy sự nghiệp mồ hôi, nước mắt của mình bị vơ vét sạch, sẽ uất ức mà chết luôn.
   Đánh cướp vụ thứ nhì, ghe hột vịt. Vừa thấy Bảy Rô nhảy lên ghe, ông già chủ ghe đớ lưởi
      - Ông …Ăn cướp !  Chưa kịp tra hỏi, ông già chủ ghe đem dâng trọn cọc tiền vừa bán ghe hột vịt cho chủ vựa. Bảy Rô cướp tiền, nhảy qua ghe tam bản. Đi chưa được mấy sào thì nghe ông già chủ ghe kêu gào thảm thiết.
Mười Nhỏ hét:
      - Đm. Trở lại, tao giết thằng già này mới được. Nó dám chửi mắng ông cố nội thì nó phải chết.
   Bảy Rô bước nhanh tới mũi tam bản:
      - Để tao trị thằng già này cho. Anh chống sào nhảy trở lên ghe, ngắt đôi cọc tiền vừa cướp được, dúi một nửa vào ngực ông già, đồng thời, dậm chơn lên ván ghe đánh rầm một cái, hét to:
      - Giỏi la hả ? Đánh cho mầy chết để mày hết la !
   Trên đường về, anh thấy vui vui trong lòng. Đâu đó, trong sâu thẩm hồi ức, anh nghe văng vẳng lời dạy của ông già anh lúc còn sống: “Nhơn phi nghĩa bất giao, vật phi nghĩa bất thủ”.
   Anh tính sẽ không nhận tiền chia phần trong hai vụ ăn hàng này và sẽ nói thật khéo để Mười Nhỏ vui lòng cho anh giải nghệ ( Nguyên Hùng, Người Bình Xuyên, 1968, Sài gòn) .
Một nét độc đáo của đất Nam kỳ
   Giang Hồ, ở đâu và thời nào cũng có, nhưng mỗi nơi và mỗi thời đều mỗi khác. Nếu nói giang hồ là băng đảng ăn cướp thì giang hồ Nam kỳ sẽ khác hơn những băng đảng ăn cướp khác rất nhiều. Chỉ cần so sánh với cái đảng cộng sản thì sẽ thấy giang hồ Nam Kỳ Lục Tỉnh hào hùng chớ không hèn hạ như đảng cộng sản, anh em giữ điệu nghệ với nhau, lấy thủy chung kết tình huynh đệ, chết sống với nhau, chớ không như đồng chí ám hại nhau chỉ vì chút quyền lợi, hoặc đạp lên lưng nhau để tiến thân. Họ đi giang hồ là để tranh thủ cho riêng họ, cho phe cánh họ một địa vị trong cái xã hội mà họ bị loại ra vì không chịu nép mình theo, một khu vực hay môt giang sơn riêng biệt của họ để họ được sống hoàn toàn tự do, theo luật pháp riêng của họ mà làng xã, Tây Tà không chi phối được. Tiếng Giang Hồ ở đây không mang ý nghĩa xấu. Còn đảng cộng sản là nơi tập hợp những người không nghề nghiệp, phạm pháp, nhơn danh cách mạng, cướp chánh quyền rồi hành xử chánh quyền cướp của cải nhơn dân, cướp tài nguyên đất nước làm giàu. Còn ăn cướp của cộng sản là hoàn toàn thuộc về bản chất lê-nitstalinít và mao-it để làm giàu và hưởng thụ riêng.
Giang Hồ nổi tiếng trong Nam là Phong trào Bình Xuyên với Bảy Viễn Thủ lãnh. Những chuyện đánh cướp nhà giàu, đánh cò bót, biện chà, bênh dân nghèo bị hiếp đáp, trở thành những giai thoại hào hùng mà Cỏ May tôi lúc nhỏ, sống ở quê nhà, Quận Cần Giuộc, nghe say mê như chuyện thần tiên. 
Sơn Vương, một tay Giang Hồ văn nghệ và Chúa Đảo
   Năm Đường lái chiếc Clément Bayard mới toanh chở Sơn Vương tới khu Chợ Cũ, ngừng lại ở ngã tư Lefèbre và Chaigneau, bóp kèn “tin …tin, t…i…n n…n.” . Từ trên lầu tiệm may Nam Chấn Hưng, một thanh niên đi ra, leo lên xe ngồi cạnh Năm Đường. Lần đầu tiên, anh ngồi xe mới thấy đã quá. Đó là Nguyễn Phương Thảo, sau này là Trung tướng Nguyễn Bình của Hồ Chí Minh, từ Hải Phòng vào Nam tìm cách sanh sống, vừa nhập bọn với nhóm Sơn Vương.
   Thấy hãy còn sớm, Sơn Vương bảo Năm Đường chạy thẳng tới Nghi Xuân lầu ở Đại lộ La Somme ăn sáng. Xong, Năm Đường lái xe chạy về hướng Thủ Đức. Xe ra khỏi Sài gòn, vừa tới cầu sắt hẹp, Năm Đường cho xe ngừng lại, mở nắp thùng xe dựng lên, làm như xe bị hư máy.
   Nguyễn Phương Thảo nôn nóng muốn tận mắt chứng kiến cách đánh cướp kỳ lạ của dân Sài gòn. Đi đánh cướp bằng xe hơi mới cáo cạnh, súng giả làm vũ khí.
Thảo vẫn thắc mắc nên hỏi lại Sơn Vương một lần nữa “Có chắc ăn hay không mà anh Hai dám bỏ súng thiệt ở nhà ?”.
      - Này, coi đi, súng thiệt hay giả. Súng giả mà mình đánh thắng súng thiệt mới đã.
Thảo mới biết Sơn Vương còn là nhà văn, nhà thơ nữa. Sáng ra, anh ngồi bán sách báo ở Chợ cũ chỉ để dó xét, theo dỏi con mồi. Biết tên Giám đốc Đồn điền cao-su Mimot (Quân Mimot, Tỉnh Kampong Cham, Cao Miên) sáng thứ bảy nào cũng tới nhà băng rút tiền mặt đem lên Sở phát lương thầy thợ. Đi xe gì, theo con đường nào.
   Thảo mong thì giờ trôi qua mau lẹ để chứng kiến cảnh đấu nhau. Sơn Vương hút vừa tàn điếu thuốc thì từ xa, bụi đỏ tung bay. Một chiếc Peugeot xuất hiện. Thấy đường bị kẹt, có xe chết máy nằm giữa đường. Người lái xe Peugeot là người Pháp, cho xe chậm lại, quát lớn “Nép vô lề cho người ta qua cầu”.
   Năm Đường làm bộ lăng xăng sửa xe. Sơn Vương bước lại xe người Pháp, nói “ Xe ăng panh. Chúng tôi đang sửa. Nếu ông muốn qua cầu gắp thì xuống xe phụ đẩy với chúng tôi.
   Người Pháp trợn mắt “Đẩy xe cho mấy người à ? ” .
Ông ta xuống xe, đi tới đi lui, với vẻ bực bội.
   Bất ngờ Sơn Vương chĩa súng vô ngực, hô lớn “Haut les mains !”. Ông Tây hoảng, dơ hai tay lên cao. Nhanh như chớp, Sơn Vương đoạt khẩu súng lục trong túi ông ta, đồng thời, xách va-li bạc trong xe ông Tây ném cho Nguyễn Phương Thảo giữ.
   Năm Đường chờ Sơn Vương và Nguyễn Phương Thảo lên xe là nhấn ga vọt. Sơn Vương không quên ném khẩu súng giả vào xe của ông Giám đốc Đồn điền, vừa nói: “ Cho mượn tháng lương thầy thợ, nghe Mong-sừ Gaillard. Tặng luôn ông cây súng làm kỷ niệm ” .
   Xe chạy thẳng tời Bà Quẹo, Sơn Vương và Nguyễn Phương Thảo xuống, bao xe thổ mộ (xe ngựa) vê Chợ Cũ. Năm Đường đem xe về hãng nơi Nam Đường làm việc, chùi rửa, gắn lại bảng số thiệt, trả xe. Mọi việc êm xuôi.
   Nhưng hơn một tháng sau, cảnh sát điều tra, khám phá ra nội vụ. Người Pháp chủ hãng đi về Pháp nghỉ hằng năm nên Năm Đường lấy xe chở Sơn Vương đi hát. Vì lúc bấy giờ, Sài gòn không có mấy chiếc Clément Bayard. Năm Đường đành khai ra hết. Cả ba người đều bị bắt.
   Cò Bazin của bót Catinat điện thoại báo tin ông Gaillard đã bắt được tên cướp và đòi 5000$tiền thưởng. Ông Gaillard tới Catinat, ông Bazin giao Sơn Vương cho Gaillard trọn quyền xử lý.
   Giận lắm, Gaillard rút ngay roi gân bò trên tường, đánh vút lên một cái “Mầy lấy của tao 50 000$, nay tao chỉ xử mầy 50 roi thôi. Mầy sẵn sàng chưa ?
      - Mời ông !
   Gaillard dồn hét sức mạnh ra cánh tay, quất lên lưng Sơn Vương nghe một tiếng “trót” rợn người. Ngọn roi đưa lên đánh tiếp cho thấy vết roi bầm tím, rướm máu thắm qua sơ-mi lụa trắng của Sơn Vương. Đánh tới roi thứ ba, Gaillard thấy thắm mệt, bàn tay ê ẩm, ngọn roi muốn rớt khỏi tay trong lúc đó Sơn Vương, thân người cao gầy, lại đứng sừng sững, tỏ vẻ không hề hấn gì hết.
   Gaillard nhìn Sơn Vương, ngạc nhiên, bảo “Tao cho mầy thiếu số roi còn lại”.
Sơn Vương lắc đầu “Ông cứ đánh cho đủ. Tánh tôi ưa sòng phẳng”. Thấy gặp phải tay anh chị đúng mức, Gaillard bảo “Mầy ngon. Tao bỏ luôn”.
   Bước ra ngoài, Gaillard bảo Cò Bazin hãy thả Sơn Vương ra. Thanh toán nhau như vậy đủ rồi. Nếu Bazin có đưa ra Tòa, ông ta sẽ không tới Tòa.
   Cò Bazin kinh ngạc nhưng rồi cũng phải thả Sơn Vương ra về.
   Sau đó, Bazin cho sưu tra thì mới biết hai anh em Gaillard là dân Corse, từng bị nhiều tiền án, cướp xe chở tiền cho ngân hàng huê kỳ, từng vượt ngục Cayenne.
Giang Hồ có cách xử sự với nhau đúng theo điệu nghệ giang hồ ! (Sơn Vương, Giang Hồ Lục tỉnh, Nguyên Hùng, xb Mũi Cà Mau, 1998)
Năm Bé, anh chị bến cảng Hải phòng, mê hào khí Nam kỳ
   Năm Bé không phải tên thiệt của anh. Vô Nam vào cuối thập niên 20, anh được anh em gắn cho thêm cái tên “Năm Bé” cho giống dân Nam Kỳ thứ thiệt. Mà thiệt tình, anh chỉ còn cái giọng nói Bắc kỳ chưa thay đổi được mà thôi. Ngoài ra, cách suy nghĩ, ứng xử, anh đều là Nam kỳ còn hơn Nam kỳ sanh đẻ tại chỗ nữa. Quả thiệt, anh là thứ Nam kỳ đặc sệt 72 phần dầu. Một cái đặc biệt khác ở anh mà anh thường nói ra là anh không bao giờ chơi với tụi cộng sản hết cả, nhứt là thứ cộng sản bắc kỳ.
   Khi còn ở Hải phòng, anh nghe chuyện kể về Công tử Bạc liệu, đốt tờ giấy bạc 5$con công để rọi kiếm tờ 1$của nghệ sĩ Phùng Há làm rớt, anh đã mê từ đó và tìm cơ hội thoát vào Nam để được sống đời sống thoải mái, hào hùng cho thoả lòng dân bến cảng. Dao búa, ngon lành thiệt, nhưng vẫn chưa đủ. Cốt cách dân giang hồ phải có thêm một cái gì hào hùng nữa chớ !
   Anh nhập băng đảng với Bảy Viễn để sau này cùng đi đày Côn Đảo và cùng vượt biển về đất liền.
   Bảy Viễn nói với anh ngày anh nhập bọn “Tụi này thiệt tình không ưa Bắc kỳ. Anh là Bắc kỳ mà thấy anh chơi được, đúng điệu nghệ, nên sẵn lòng kết bạn với anh”.
   Một hôm đi dạo trên đường Catinat (sau này là Tự Do, Sài gòn 1), thấy tiệm Tây chưng trong tủ kiếng mấy cái nón hiệu Borsalino* của Ý, thứ vành hơi lớn, là thứ anh mê từ lâu mà chưa có dịp mua. Anh bước vào tiệm, bảo người Pháp bán hàng lấy nón cho anh xem, đội thử để mua. Người bán hàng nhìn anh với ánh mắt ngờ vực vì anh mặc quần lãnh đen, áo bành-tô (paletot)** ka- ki xanh giống thợ thuyền nên chưa vội lấy nón, mà chỉ anh xem tấm bảng giá :
      - Coi giá đây. 25$một cái, có tiền mua không ?
   Đây là giá lương tháng của thầy ký làm trong Tòa Bố (Tòa Tỉnh trưởng). 
      - Đưa coi đội có vừa không đã.
   Thấy nét mặt anh hầm hầm, người bán hàng vội mở tủ lấy ra một cái Borsalino đưa anh coi. Đội lên đầu vừa vặn. Anh hài lòng, giữ luôn trên đầu, bảo người bán lấy gói luôn cho anh 4 cái còn lại. Móc bóp rút ra 1 tờ bộ lư, 1 tờ 20$và 1 tờ con công, tất cả là 125$đưa trả tiền nón, làm cho người bán hàng há miệng, trố mắt nhìn anh Năm Bé.
   Cầm nón đem về không biết làm gì cho hết, bèn kêu bạn tới cho bớt.
   Thỏa mãn vì mua được nón vừa ý thì ít, mà thỏa mản vì dằn mặt được thằng Tây bán nón làm phách thì nhiều.
“Trích nước tiểu” ăn thề, kết nghĩa huynh đệ trên biển
   Sau trận bão, lương khô trôi mất. Đói thì chịu tạm được nhưng khát thì vô phương. Ở trên biển, trời nắng, nước biển mặn càng làm cho cơn khát thêm mãnh liệt hơn. Anh em phải đái ra uống giải cơn khát. Ở trong tù nghe nói tù thường phải uống nước tiểu. Nay anh em tự do trên biển cả mà cũng uông nước tiểu như tù !
   Nhớ lại trận bão vừa qua, ai cũng hải hùng. Một áng mây lớn đen ngòm phủ xuống mặt biển, Tư Nhị nói rồng xuống hút nước, sẽ hút chiếc bè của mình lên rồi phun ra xa hằng cây số. Chắc số mạng của tụi mình tới dây là chấm dứt.
   Mọi người chỉ nhắm mắt lại chờ rồng hút đi. Mà có mở mắt ra cũng không thấy gì. Khoảnh khắc trôi qua, sao ai cũng thấy êm ru. Mọi người mở mắt ra thì thấy vẫn còn ngồi yên trên bè và biển trở lại hiền hòa.
   Tư Nhị reo lên “Cá Ông đỡ”. Anh bèn chấp tay “Nam mô A Di Đà Phật, Nam Hải Tưóng quân đã cứu mạng anh em chúng tôi” . Anh nói lớn như khấn vái. Đúng là Đức Phật thấy anh em tụi mình ăn hiền, ở lành, nên cho Nam Hải Tướng quân tới cứu mạng. Chuyến này về tới đất liền bình yên, tụi tui sẽ vật heo tạ ơn ngài Nam Hải Tướng quân !.
   Bốn ngưòi cùng đồng sanh, đồng tử trên chiếc bè vượt ngục. Cơn nguy biến đã qua, Tư Nhị có ý nghĩ khi nhớ lại chuyện xưa “Lưu, Quan, Trương trích huyết ăn thề kết nghĩa trong vườn Đào” nên đề nghị bốn anh em hôm nay cùng chia nhau uống chung nước tiểu của nhau thay thế “trích huyết” để kết nghĩa huynh đệ. Nghe qua, ai cũng hưởng ứng.
   Mười Trí, sau này làm Sư Thúc Hòa Hảo cánh Năm Lửa, xâm nhập lực lượng Hòa Hảo hoạt động để lôi kéo Hòa Hảo về với Việt Minh nhưng không được, vội lên tiếng:
      - Kết nghĩa, phải biết nhau từ chơn tơ, kẻ tóc. Mình mới biết Năm Bé có mấy ngày. Năm Bé buồn, cho là phải, bảo ba anh hãy kết nghĩa với nhau đi. Trừ tôi ra. Bảy Viễn không đồng ý cho rằng cùng chung chết sống với nhau, ai làm kỳ vậy cho được.
   Mười Trí thấy Bảy Viễn nói có lý nên đồng ý. Tư Nhị tìm cái gáo dừa tát nước, đưa lên trang nghiêm nói lớn “Hôm nay, ngày tốt, giờ hoàng đạo, mời đại ca tiểu vô đây. Rồi lần lượt tới anh Bảy, anh Năm Bé và tôi là em út, sau cùng. Chúng ta làm lễ trích huyết ăn thề theo kiểu tù vượt ngục, thay máu đào bằng nước tiểu”.
   Anh Mười tuổi quí mão (1903) là anh Hai, anh Bảy, tuổi giáp thìn (1904) là anh Ba, anh Năm Bé là anh Tư, tui làm em Út. Vậy anh Hai khấn vái ít lời cho cuộc lễ hôm nay.
   Năm 1952, Bảy Viễn bị Nguyễn Bình theo lệnh Hà nội, đưa phong trào kháng chiến trong Nam vào khuôn khổ lãnh đạo của Việt Minh cộng sản, phải bỏ về thành. Mười Trí hết lòng thuyết phục Bảy Viễn ở lại nhưng không được. Bảy Viễn không chơi với cộng sản “Anh em đánh Tây từ hồi tụi nó chưa vô đây. Nay, tự nhiên vô đây, muốn ngồi trên đầu trên cổ người ta. Chơi kiểu Bắc kỳ, ai chịu được ?”. Sau cùng, Mười Trí đưa Bảy Viễn đi gần tới ranh giới an toàn. Trước khi quay trở lại, Mười Trí cầm tay Bảy Viễn nói lời cuối cùng cho hủy bỏ lời thề sống chết có nhau vì mai này, mỗi người đi một ngã.
   Mười Trí biết giữ nghĩa, trọng lời thề nhờ thời gian dài sống với anh em giang hồ, những người tuy chơi dao búa, đánh cướp, nhưng biết lấy đạo nghĩa làm gốc, lấy thủy chung kết bạn.
   Như đã nói Sơn Vương vừa là tay giang hồ, vừa là nhà văn đa tình, vừa chúa đảo. Tên thiệt là Trương văn Thoại, quê Gò Công. Lần đầu tiên Sơn Vương bị đày ra Côn nôn là năm 1933. Lần thứ nhì, năm 1942. Anh ở tù trên đảo trước sau, tất cả là 35 năm. Quả thật, anh là chúa đảo vì anh là một người tù ở đảo lâu năm nhứt từ ngày Tây chiếm Côn sơn làm thành Quận hành chánh của Nam kỳ năm 1882. Nhưng trên thực tế, anh cũng làm chúa đảo. Năm 1945, sau khi Nhựt đảo chánh Pháp, giao đảo cho tù thường phạm cai quản cho tới khi Tây trở lại năm 1946. 
   Trong thời gian Sơn Vương trở ra đảo lần thứ hai, anh yêu cô Võ thị Kim Hoa, con gái của Vệ Liễn, viên chức của thời Pháp. Năm ấy, Kim Hoa đã trở thành một cô gái 18 tuổi, đẹp lộng lẫy. Anh hơn em 13 tuổi. Sơn Vương gởi cho Kim Hoa thư tỏ tình, trong đó có 2 câu thơ:
          “Ước gì kéo được thời gian
          Cho tôi trẻ lại, cho nàng già hơn”.
Nguyễn thị Cỏ May
Ghi thêm :
Đi hát là đi đánh cướp, tiếng lóng của giới giang hồ Nam kỳ Lục tỉnh
Bườm là khẩu hiệu rút lui.
Muốn biết thêm nhiều tay giang hồ khét tiếng khác, mời tìm đọc «  Giang Hồ Lục tỉnh » của Nguyên Hùng, do Mũi Cà Mau xuất bản năm 1998.
Áo bành-tô là một thứ áo « vết -veste » (paletot):
        « Áo bà- ba tay vắn, tay dài . Em may cả chục cái, sao anh không bận, mà bận chi hoài cái áo bành-tô ? » .
                          « Anh bận hoài cái áo bành-tô ?
                             Vì áo bành-tô cò nhiều túi, anh bận hoài để có chỗ bỏ cục tình của em  » (câu hát nhà quê Nam kỳ)
*  Nón Borsalino nổi tiếng của Ý, ngày nay, bán ở một vài cửa hàng lớn Paris, giá lối 250 € / cái . Trời mưa không ướt. Có thể xếp bỏ túi được, không gãy. Ngày xưa ở Sài gòn, còn có thêm nón Fléchet, nón Mossant được dân có tiền ưa thích. Nay, giá 1 cái Fléchet ở Paris lối 150€. Không thấy có hiệu Mossant bày bán. Nhưng trên internet có, giá lối 130€ / cái.




Hương Xuân ngày cũ, Sài Gòn trước 1975




"Khi xem các tờ báo xuân cách nay gần 60 năm trước, tôi thật sự thấy đó là những bức tranh đẹp, gợi cảm. Đó là dạng mỹ thuật dành cho đại chúng, dễ thưởng thức và đã tạo nên một thị hiếu thẩm mỹ tích cực dành cho những người bình thường không có mấy khi tiếp cận những gallery sang trọng hay các phòng khách xa hoa. Trong ký ức của người Sài Gòn. lục tỉnh hay ở các tỉnh xa ở tuổi trên 50, đó là những hình ảnh khó phai, đầy cảm xúc khi nhìn lại" (Phạm Công Luận).

Gần đây cư dân mạng truyền nhau những tấm hình, những video clip phim xưa có ghi lại những hình ảnh quê hương Việt Nam ngày cũ, đã làm sống dậy ký ức của những người con lưu xứ. Nhất là hình ảnh Tết Sài Gòn, mỗi độ xuân về.
.
Sống ở đất người, bốn mùa rõ rệt, tôi thấy được thu, hạ, đông đi, xuân tới, luân chuyển nhẹ nhàng như một vũ khúc mang mang của đất trời.  Chồi non nẩy lộc, lá mới cựa mình, no căng nhựa sống, xanh biếc những bao la hy vọng. Tết đến trong tuổi thơ và những ngày mới lớn của tôi ở Sài Gòn dịu dàng hiện về, thật là trìu mến.Với tôi, Sài Gòn hai mùa mưa nắng, không có mùa xuân, mà chỉ có ngày Tết.

Tết là những reo vui, nào lư hương, pháo đỏ, phong bao lì xì, bánh mứt, hạt dưa, manh áo mới, bánh chưng xanh, mâm ngũ quả, cành mai tươi… và còn bao nhiêu thứ rực rỡ sắc màu khác, khiến ai mà không mê luyến. Để chuẩn bị cho giờ phút giao mùa, người mình đã bỏ bao công sức, tiền bạc, và cả cái tâm thức rạo rực cũng như thật tích cực để chào đón ngày Tết.


Sạp báo

Khi các tờ lịch hay báo xuân xuất hiện tràn ngập ở các sạp báo, đó là lúc Sài Gòn bắt đầu rộn rã lên với không khí Tết. Ngày ấy, những tờ lịch bóc ngày hay tháng, thường có hình các cô người mẫu hay ca sĩ. Bóng dáng các minh tinh Thẩm Thúy Hằng, Thanh Nga, Thanh Lan…trong nụ cười xinh bên những tràng pháo đỏ đã làm nao lòng người. Ai cũng muốn chọn mua những nụ cười xinh mang về trang trọng treo vào chỗ dễ thấy nhất, để xem ngày, biết tháng. Ngày nay, lịch thiếu nữ với các chiếc áo dài đủ màu đủ kiểu, vẫn là món lịch Tết thời trang đắt khách.

Gia Long xuân

Nhắc tới báo xuân, tôi còn nhớ, Tết là dịp cho các học sinh hay sinh viên các trường đua nhau làm bích báo. Các cô cậu văn thi sĩ mới lớn, mới ra lò, ơi ới thúc nhau, gọi nhau nộp bài vở cũng như các tờ sớ táo quân. Lúc đem tờ bích báo trường nữ của mình đi bán ở các trường khác nhất là các trường nam, chúng tôi chí choé dành nhau cơ hội của những mối duyên hạnh ngộ, ngàn năm một thưở ấy.  Ngoài ra, chúng tôi còn phải bận rộn tập hát, tập kịch cho các tiết mục văn nghệ của trường nữa.


Chợ hoa

Thú vị nhất là phút cùng bạn bè rủ nhau đi chợ Tết xem hoa, ngắm người và những món mứt Tết xanh, đỏ được gói trong khay bằng giấy bóng kiếng, lóng lánh màu, trông thật vui mắt. Lũ nữ sinh chúng tôi thường được bên nam sinh nhóm bích báo trường bạn, tháp tùng đi chợ hoa. Lúc đi ngang hàng bán cây quất(tắc), dù người bán hàng có mắt la, mày liếc thế nào đi chăng nữa, quất cũng bị bẻ trộm. Qua khỏi chợ hoa, bọn con trai móc túi ra, trên tay đứa nào cũng hai ba trái quất đem tặng lũ con gái làm quà. Đúng là nhất quỉ, nhì ma, thứ ba học trò.


nhạc xuan

Ai từng xa xứ, phải đón Tết tha hương mới thấy cái khác biệt lớn vô chừng của Tết xứ người cùng cái Tết quê nhà. Mùi hương, cái vị, khoé nhìn, lát nếm, tất cả đều khác, kể cả cung cách đón Tết xưa và nay. Người ta nghe được mùa xuân tới gần bằng cả âm thanh của nhạc xuân. Trước 1975, khắp miền nam, đi tới đâu người ta cũng nghe thấy những bản nhạc xuân “Nắng xuân, Chúc xuân, Mừng xuân, Gái xuân, Ly rượu mừng..v..v..”

Vào những thập niên 70, ngày tôi mới lớn, không khí Sài Gòn, nơi chúng tôi lớn lên đã thoang thoảng mùi chiến tranh. Đêm hoả châu, ngày phập phồng với những vụ pháo kích, người chết, kẻ bị thương đã ảnh hưởng người dân trong mùa lễ hội. Do đó ngày Tết, chúng tôi có thêm một dòng nhạc xuân cho những chiến sĩ mà chúng tôi gọi nôm na là lính. Những “Đầu năm lính chúc, Đồn vắng chiều xuân, Phiên gác đêm xuân, Phút giao mùa..v..v..” đã là tâm sự ngày xuân buồn quắt quay của những người trai cầm súng bảo vệ biên cương. Nhất là khi nghe Duy Khánh nức nở trong bài tân nhạc “Xuân này con không về”, bao nhiêu trái tim bà mẹ mềm ra, rũ xuống, đập nhịp thê thiết. “Con biết bây giờ mẹ chờ tin con, khi thấy mai đào nở vàng bên nương, Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về, nay én bay đầy trước ngõ, mà tin con vẫn xa ngàn xa…”. Tôi có người anh trong quân đội, ngày Tết dù hưu chiến, anh cũng không được về. Cả nhà mong anh, người nhắc tới anh nhiều nhất vẫn là mẹ. Ôi biết bao nhiêu bà mẹ Việt Nam khóc chảy máu mắt trong đêm ba mươi vì nhớ, thương con, không được về trong ngày lẽ ra phải là ngày sum họp thiêng liêng.

“…Thôi, má ngủ đêm nay ngon giấc
Con ngồi đưa chiếc võng rách quê nhà
Đạn vòng cầu đừng đi trong đêm tối
Lệ sẽ đầy giấc má nhớ con xa…”
(Đêm cuối năm viết cho má - Nguyễn Dương Quang)

Rồi năm mới tới, người ta chúc nhau hạnh phúc, tiền vào như nước, con cháu đầy nhà. Họ lau khô nước mắt, quên đi niềm đau, cái nghèo, chúc nhau cười nhiều, tươi tắn, mới mẻ như mùa xuân. Ngày Tết, các vở hài kịch, phim hài, đại nhạc hội, được các đài truyền hình, rạp chiếu bóng đặt hàng, đắt như tôm tươi. Những danh hài như Phi Thoàn, Thanh Hoài, Khả Năng, La Thoại Tân, Tùng Lâm đi show mệt nghỉ. Ai cũng thích cười dù là chúm chím hay thật hả hê trong ba ngày Tết. Tôi rất mê xem ciné, thường thì xem ở các rạp nhỏ bình dân gần nhà như Văn Cầm, Cẩm Vân ở Phú Nhuận hay Văn Hoa ở Đa Kao. Một lần, tôi được bố mẹ cho tiền cùng người anh đi xem phim hài Tết ở một trong các rạp lớn như rạp Đại Nam ở đường Trần Hưng Đạo. Rạp đông kinh khủng, không có chỗ ngồi, đành đứng. Đang say mê xem phim cười, bỗng tôi thấy một vật gì nóng hổi áp sát vào lưng, tôi hoảng quá tìm tay người anh trai, cố chen và lách ra khỏi đám đông. Sau lần đó, tôi không dám đi xem phim khi rạp hát quá đông người.  


Ngày Tết, người lớn đi chùa, hái lộc, xin xâm, coi bói hay thăm viếng nhau đầu năm. Riêng tụi con nít chúng tôi chỉ khoái tụ tập ở đầu ngõ xem người ta sát phạt nhau ở các đám cờ bạc, bầu cua cá cọp, hoặc rủ nhau đi xem múa lân ở các cửa tiệm gần nhà. Tôi thích ngắm con lân múa may rất lâu quanh cây gậy có gắn giây buộc phong bao đỏ và một cây xà lách. Thú gì đâu khi thấy nó cắp được cái phong bao lì xì vào cái miệng rộng.

Thời thơ ấu đứa trẻ nào mà không thích tiền lì xì vào ngày Tết. Khi không, có một món tiền lớn, tôi hay dùng nó để mua quà vặt vì tôi rất ớn ba cái món bánh chưng, thịt đông, dưa hành, phải ăn trong ba ngày Tết. Mẹ tôi thường cấm các con ăn quà bán ngoài đường, nên tôi phải ăn lén. Đầu hẻm Cô Giang cắt ngang đường Võ Duy Nguy có một bà chuyên bán ruột và chân vịt rất ngon. Có tiền, tôi liền chạy đến hàng bà, mua và chén ngay cái món ruột vịt dòn dòn, dai dai, ngon hết chỗ chê đó. Không biết bà ướp gia vị gì mà khi ăn tôi thấy từa tựa như phá lấu. Nó thơm hương hoa hồi, hoa quế, lại thấm vị mằn mặn của xì dầu, xen trong cái ngòn ngọt mía đường nâu. Thật là đã con tì, con vị một đứa bé thích ăn quà vặt như tôi. Bà rất đông con, tới 16 đứa. Bà cố thủ chỗ ngồi bán đó rất lâu, thay đủ món, kể cả món trứng ung. Còn dư tiền tôi lại la cà qua mấy cái xe bán đậu đỏ, bánh lọt ở trước cổng trường Gia Long có nước dừa béo ngầy ngậy ngon hết biết.
.
Một mùa Xuân nữa lại về cho những người con xa quê hương, lìa đất tổ. Ngồi nhớ về những khoảng khắc được lưu dấu trong ký ức xa xưa, tôi chợt nghĩ mình may mắn đã có những kỷ niệm ngày xuân thật đẹp và tròn đầy. Trong khi ngoài kia, bên Việt Nam hay bất cứ nơi nào trên thế giới còn có những người không có đến một ngày Xuân đủ nghĩa. Không hoa, không bánh, không áo mới và không cả tình thương. Xin thắp một nén trầm ngày Tết cầu nguyện cho tất cả người con Việt có được một ngày Xuân ấm áp và đủ đầy.


04/02/2016
Trịnh Thanh Thủy


Bài Xem Nhiều