We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 23 January 2017

Sớ Táo Quân : Bính Thân 2017 - Phú

SỚ TÁO QUÂN

BÍNH THÂN – PHÚ


Thu khứ đông tàn;
Mai khoe đào nở.
Năm Khỉ tàn lui;
Niên Gà lấp ló.
Hăm ba tháng chạp, Táo Việt:
Yết chầu Ngọc Đế, cưỡi gió đằng vân;
Giã biệt nhân gian, thăng thiên thẳng lộ.
Lòng người thế giờ mong giãi tường;
Chuyện trần gian nay xin tâu rõ.

Sáu tháng tiết thời đỏng đảnh, sông ngòi ngập mặn lửng lơ;
Nửa năm khí hậu ẩm ương, đồng ruộng khô cằn nứt lở.
Đám gia súc kiệt quệ tiêu vong; 
Người nông dân khốn cùng khổ sở.
Việc trợ nông trễ nải, dân lãnh đủ muôn bề;
Tiền cứu hạn loay hoay, bạc ngủ yên một chỗ.
Thiên tai chửa qua;
Nhân tai họa đổ.

Đầu tháng Tư:
Cua mực bầy bầy trồi sóng, kéo lũ phơi thây;
Cá tôm lớp lớp dạt bờ, tranh nhau tắt thở.
Đám đám rong tảo tức tưởi chết khô;
Rặng rặng san hô kinh hoàng gục đổ.
Tận Đà Nẵng ngược ra Xứ Nghệ, khắp trùng khơi trăm dặm tan hoang;
Từ Kỳ Anh chạy xuống Lăng Cô, dưới biển cả muôn loài tận số.
Bờ cát trắng thành bãi tàng ô;
Đáy biển sâu hóa hầm huyệt mộ.
Ngư phủ đà phát hiện ống xả ống ngầm;
Nhân dân đã tỏ tường nguyên do nguyên cớ.

Thế mà:
Nào là hô hào viện sĩ khoa học vũ trụ, tiếng nức danh lừng nhăm nhăm nghiên cứu khui tường;
Rồi cả huy động giáo sư vật lý địa cầu, đao to búa lớn “quyết quyết điều tra làm rõ”.
Quan “Tài” leo lẻo: Tôm chết bởi “Địa chấn rung”;
Sếp “Môi” khăng khăng: Cá toi do “Hoa tảo nở”.
Lại còn:
Mấy ông đầu tỉnh, tắm bơi làm mẫu ấy tớ không teo;
Dăm vị đầu ngành, ăn cá nêu gương rằng quan chả sợ.
Y hệt xui trẻ ăn cứt gà;
Khác gì đẩy dân xuống đáy mộ.
Lời gian chẳng thể thông;
Sự thật rồi cũng lộ.
Thép Hưng Nghiệp phơi lòng hiểm, nói uế ô chính xưởng nó tuôn;
Fố-Mồ-Sa lòi dạ hung, nhận chất độc là tay chúng đổ.
Giả lả một lời “ngụy” xin lỗi, xong lì lợm vẫn sáng tối khói mù;
Lòe xòe nửa tỷ “đô” đền bù, rồi nghênh ngang vẫn ngày đêm lửa đỏ.
Xỉ bùn độc hại âm thầm chốn chốn đào chôn;
Chất thải hiểm nguy lén lút nơi nơi giấu đổ. 
Hại nòi giống diệt vong;
Khiến nhân dân phẫn nộ.
Kẻ kẻ đồng tâm thét lác đuổi xua;
Người người nhất trí hô hào tống cổ.

Thảm thương thay:
Ngư dân thủy thủ gác chèo bó gối, quặn đau nhìn sóng bạc xiết mấy giận căm;
Thuyền bé tàu to ghếch mũi nằm bờ, buồn bã ngắm biển xanh biết bao thương nhớ.
Nhà hàng- khách sạn hoang lạnh, biệt tăm người viếng không kẻ muốn vào;
Rờ Soọt- bãi tắm đìu hiu, vắng ngắt khách du chẳng ma nào ngó.
Ngành buôn cá giãy đành đạch hết cửa làm ăn;
Nghiệp nuôi tôm chết đứ đừ chẳng phương cứu gỡ.
Cả triệu người khốn đốn, mất nghề thất nghiệp lâm cảnh bần hàn;
Hàng vạn hộ lao đao, hết gạo không tiền vướng vòng tử lộ.
Thảm họa khôn cùng, tai ương hiển hiện, vẫn cố xuê xoa bảo chút lỡ lầm;
Nguy cơ vô kể, bệnh tật tiềm tàng, mà cứ ất ơ cho là sự cố.
Quan rước tai ương vẫn cứ điềm nhiên thăng cấp, chẳng chút ăn năn;
Kẻ gây thảm họa còn được an hưởng nuông chiều, không hề khởi tố. 
Họa tai “Vũng Áng” vẫn đằm đẵm bao trùm;
Mối hiểm “Hoa Sen” lại thập thò lấp ló.
Coi khinh sự khuyên can cảnh báo, miệng đại phú: ngu gì;
Bất chấp lời phản biện cản ngăn, gã đồng hao: ngoan cố.
Ôi! Giống nòi Việt sao quá thê lương;
Ôi! Đất nước Nam thật là khốn khổ.

Rõ họa vô đơn chí:
Một máy bay chiến đấu lâm nạn khi luyện ngoài khơi; 
Hai chiến sĩ phi công bung dù bởi nghe tiếng nổ. 
Phương tiện cứu nạn trên không hiện đại soi bới cả vùng;
Lực lượng săn tìm dưới biển tối tân kiếm lùng khắp xó.
Chim lạc biển Nghệ An;
Anh tìm khơi Bắc Bộ.
Nên mãi mụ mị mày mò
Rồi cứ loay hoay lỗ mỗ.
Thật xót đau phi đội săn tìm lại lâm nạn bạc phần;
Rõ bi thảm cánh chim cứu nạn cũng rụng rơi chung số.
Rốt cuộc chính nhân dân: 
Cứu mạng thương binh lâm nạn, dù thuyền thúng nào ngại hiểm nguy;
Phát hiện liệt sĩ hy sinh, dẫu tay không chẳng cần hỗ trợ.
Dân vẫn mãi anh hùng;

Ai có hay xấu hổ.
Vào mùa mưa giông:
Vũ một cơn Tân Sơn Nhất, đà lênh láng ao chuôm; 
Mưa một trận Thành Sài Gòn, hóa mênh mông bể sở.
Chống ngập mãi nay lụt khắp nơi; 
Chạy lụt hoài giờ tìm đâu chỗ.
Người bì bõm vô kể ngán ngao;
Xe ngóp ngoi muôn vàn khốn khổ.
Thương khúc ruột miền Trung:
Giữa đêm dân Hà Tĩnh chạy trối, nước cuồn cuộn y hệt sóng thần;
Nửa khuya đập Hố Hô xả tràn, lũ ào ào tựa như thác đổ.
Thiên họa bởi Trời đổi tiết, gây chỉ đôi phần;
Nhân tai do kẻ ác tâm, nhân lên bội số.
“Đúng quy trình” hàng chục thủy điện hùa nhau mở xả, mặc dân chúng tiêu vong;
Chẳng thông báo cả mấy tỉnh thành kiệt sức ngoi bơi, thây đồng bào khốn khổ.
Lũ chồng lũ xiết mấy của tan;
Người khóc người biết bao lệ đổ.

Tán tận thay:
Quan chức xã xà xẻo luôn của góp quyên;
Đầy tớ dân ăn chặn cả tiền cứu trợ.
Chuyện Bộ Công Thương:
Xí nghiệp mười năm đắp chiếu tan hoang;
Nhà máy nghìn tỷ đua nhau thua lỗ. 
Nào xí nghiệp phân, rồi nhà máy sợi mặc tình lấy bạc ra thiêu;
Cả nhà máy giấy, cùng xí nghiệp cồn thỏa sức đem tiền đi đổ.
Bạc Nước xài tựa giấy bồi;
Tiền dân xem như rác cỏ.
Thấy bàng hoàng gấp mấy sấm giông;
Nghe kinh khiếp còn hơn bão tố.
Nợ xấu phình nở lút đầu; 
Nợ công dâng cao ngập cổ.
Nợ chí tử oằn cổ dân đen;
Nợ bẩm sinh lõm đầu con đỏ.
Lạm phát thây lạm phát, cứ tăng phí để bù;
Bội chi mặc bội chi,vẫn vung tay cho bõ.
Đoàn Thể họp hành ăn nhậu sạch sẽ két kho;
Ủy Ban tiếp khách liên hoan dầy cui sổ nợ.

Săn tìm chuột, chuột chạy sang Tây;
Soi kiếm sâu, sâu chui xuống lỗ
Kẻ đục moi giả khám bệnh, êm ả chân bay;
Kẻ phá hoại vờ chữa thương, âm thầm cánh vỗ.
Phê bình ông sếp cựu, ngặt quá chừng đồng chí hoang mang;
Cách chức lão quan hưu, nghiêm đến nỗi nhân dân bỡ ngỡ.
Diệt bọ sâu như bóng tầm bóng, nên cực khó trật trầy;
Chống tham nhũng là “ta đánh ta”, ắt vạn nan thách đố.
“Chuẩn cơ chế”, tỉnh tỉnh thành thành chia ghế cả dòng;
“Đúng quy trình”, đây đây đó đó làm quan cả họ.
Nhân viên độc một anh gánh việc cả phòng;
Lãnh đạo bốn mươi vị tranh chen một rọ.
Chẳng e dưới trông soi;
Không sợ trên dòm ngó.

Thế nên:
Bất minh trong mối giao lưu;
Mâu thuẫn trong việc phân bổ.
Cấp trên đè cấp dưới, đất Trấn Yên tung tóe máu phun;
Quan bé bắn quan to, tỉnh Yên Bái rền vang súng nổ.
Trách nhiệm vờ, xoa tay dẻo miệng, trơ trẽn câng câng;, 
Lợi ích nhóm, chia bánh xẻ phần, thản nhiên lồ lộ.

Ngó qua Bộ Học:
Kẻ chức cao tự lộng xuất lệnh cấp dưới bưng rót rượu trà;
Cô giáo trẻ bị ép hầu bàn quan trên họp vui tiệc cỗ.
Nể nang chuốc lắm nỗi ê chề;
Say xỉn gây bao điều thất thố.
Giáo viên khôn cùng uất dạ ngán ngao;
Bộ trưởng chả hề đau “nòng” phẫn nộ.
Dâng hương cho học trò giỏi, rõ đúng bi hài;
Lộ tầm của lãnh đạo “cao”, quả là xấu hổ.

Mắc bệnh, ốm đau:
Đi bác sĩ, trăm sự lo teo;
Vào nhà thương, vạn điều chuốc khổ.
Mất cẳng cụt tay, bởi thầy lang kém cỏi, đành nín hờn tự nhủ đen phần;
Thiệt thân vong mạng, vì bác sĩ lơ là, cố nuốt hận âu do bạc số.
Vô cảm ư? Đâu tội của lãnh đạo, mụ mắng ngay thuộc cấp nhân viên.
Quá tải hả?Nào lỗi của bộ Y, bà xử liền giám đốc cơ sở. 
Chết thì bó chiếu lẳng lặng mà về;
Thác cứ cột xe thong dong tự chở.

Xã hội ôi ngán ngao:
Suy đồi đạo đức muôn mặt, vì phép tắc tựa thể buông tuồng;
Ô nhiễm môi trường khắp nơi, bởi quản lý tuồng như bỏ ngỏ.
Nhồi thuốc cấm vật nuôi trò đoạt mạng khối kẻ giam tham;
Tẩm hóa chất thức ăn tội giết người chả ai khởi tố.
Thế nên cá tôm xuất khẩu, bạn hàng lắc đầu trả lui;
Để rồi lúa gạo chào sân, đối tác quay lưng chẳng ngó.
Khoác tiếng phơi bày sự thật, lại lừa thế đảo điên;
Mang danh bảo vệ tiêu dùng, mà hại người chết dở.
Nước mắm công nghiệp, sém cướp sân vì báo chí cùng quỷ bắt tay;
Nước mắm gia truyền, suýt phá sản bởi truyền thông hóa ma ăn cỗ.
Cướp bóc cứ ngang nhiên;
Xì ke như thách đố.

Nạn tai thảm khốc từ nam chí bắc, rõ quả tang thương;
Chém giết hung tàn khắp đó cùng đây, thật là kinh sợ.
Bão bùng nhiều nơi lo cày cấy, đành hết vốn đẫm suối châu rơi; 
Cháy nổ khắp chốn cứ hát ca, chợt thiệt thân trong vòng lửa đỏ.
Dự dựng xây xây hiện đại, nay tắc lối chả cách khai thông;
Quy quy hoạch hoạch cao tầm, giờ kẹt xe hết đường xoay sở.

Phi cảng đà bí lối vào;
Máy bay chả còn chỗ đỗ.
Mà khách sạn trơ mặt thi gan;
Cùng sân gôn ưỡn mình thách đố.
Xiết mấy tan hoang nát bét, chả áo mão nào rơi;
Bao nhiêu khốn khổ đau thương, cứ đầu dân mà đổ.
Mùa màng mất trắng, hàng ngàn hộ mong nhận hảo tâm; 
Hũ gạo trống huơ, mười chín tỉnh phải xin cứu trợ.



Tâu thưa Ngọc Đế:
Lòng nhân thế chất đến muôn vàn;
Chuyện trần gian kể còn vô số.
Xiết bao sự người thế van kêu;
Bấy nhiêu điều lệ thần chan đổ. 
Nguyện dạ Trời xót thương;
Mong Ngọc Hoàng thấu tỏ.
Cho năm mới năm me mưa thuận gió hòa;
Cho mùa sau mùa tới trái sai quả rộ.
Thêm người tâm đức cho Nước thoát nghèo;
Bớt kẻ tham tàn để dân đỡ khổ.
Hạnh phúc trên quê Cha;
Thanh bình nơi đất Tổ.
Cho muôn kẻ kẻ theo Kê gáy giòn;
Để chẳng ai ai như khỉ nhăn nhó.
Bái biệt Ngọc Hoàng;
Cạn dòng Táo Sớ.

CAO BỒI GIÀ
18-01-2017
http://vietcatholic.net/News/Html/212929.htm

Nursing home, ngày ba mươi Tết , và người đàn ông

Nursing home, ngày ba mươi Tết , và người đàn ông

Image result for Nursing home


Nursing Home một ngày trời đầy tuyết. Bên ngoài cửa sổ, không gian mênh mông trắng xóa hàng ngàn hàng vạn bông tuyết lay bay chao đảo theo chiều gió. Tuyết của mấy tháng gom lại chất cao lên gần nửa thân người. Chẳng một cọng cỏ trên vườn cỏ vốn xanh mướt trước khi mùa đông đến. Chằng một màu sắc ngoại trừ màu xám xịt của nền trời xám xịt. Vây bọc quanh khu vực, hàng rào cây với những thân cây khẳng khiu trụi lá trơ cành cũng một màu xám xịt như cố lẫn mình vào với màu trời xám xịt. Ngồi bên bậu cửa sổ, một người đàn ông luống tuổi đăm đăm nhìn ra khu vườn bên ngoài, thỉnh thoảng lẩm bẩm một mình:

“Ngày Ba mươi Tết.”

Chẳng ai trong Nursing Home biết ngày ba mươi Tết là gì, và chính người đàn ông đang ngồi bên cửa sổ cũng chẳng thể xác định chắc chắn được hôm nay có đúng là ngày ba mươi Tết hay không. Ông đã ngồi bên cửa sổ từ sáng sớm khi vừa thức giấc, và còn ngồi đó cho đến giờ đi ngủ hoặc thâu đêm không chừng. Chẳng ai trong Nursing Home quan tâm đến hành vi khác lạ của bất cứ người khách trọ bất đắc dĩ nào bao lâu hành vi đó không gây phiền toái cho staff hoặc gây phương hại cho chính bản thân. Cũng chẳng ai biết tiếng Việt để hiểu người đàn ông lẩm bẩm đã không biết bao nhiêu ngàn vạn lần:

“Ngày Ba mươi Tết.”

Nursing Home không có lịch, lịch Tây không có, lịch Ta lại càng không. Chẳng ai trong Nursing Home để ý đến ngày tháng trôi qua vì ở đây tính thời gian của ngày tháng đã hoàn toàn mất đi. Nursing Home không phải là nhà tù, khách trọ cũng không phải là người tù nhưng chẳng ai bao giờ được rời khỏi nếu không có phép. Thời gian ở đây chẳng còn là gì ngoại trừ ngày đêm nối tiếp nhau cho đến lúc chấm dứt khi một trong các người khách trọ chấm dứt cuộc sống, một cuộc sống vốn đã bị thu lại đến tột cùng nhỏ bé tới con số âm vô cực. Người đàn ông lẩm bẩm:

“Ngày Ba mươi Tết.”

Có chắc chắn hôm nay là ngày Ba mươi Tết không? Ông tự hỏi và không trả lời được, vì chẳng có căn cứ để trả lời.



***

Năm tháng còn ở nhà với con ông, trước ngày cúng Ông Táo theo phong tục, dù không cúng kiến vì tin Chúa, ông vẫn một mình lau dọn cái đầu tủ chè trong phòng khách dùng làm bàn thờ ông bà tổ tiên và người vợ xấu số của ông, mẹ của thằng con trai ông. Nằm ở vị thế trang trọng nhất trong nhà, bàn thờ tổ tiên của gia đình ông không thua bất cứ bàn thờ nào bên quê nhà. Vì cha mẹ ông không để lại hình ảnh, ông đã thay thế bằng hai bài vị phủ khăn đỏ chiếu theo phong tục của quê hương. Bên phải từ ngoài nhìn vào, ông đặt bức hình vợ ông. Phía trước chính giữa là một lư hương lớn với hai chân đèn lớn hai bên. Trước bài vị cha mẹ và hình vợ ông, ông đặt hai bát nhang có cắm mấy cây nhang. Ngày giỗ ngày Tết, ông gầy lò trầm, đốt nhang vái bàn thờ. Nhìn khói nhang trầm uốn éo bay lên, ông tưởng lòng thành của ông cũng bay lên theo đó đến với ông bà tổ tiên cha mẹ ông, và với cả vợ ông. Ông bảo con trai ông, lúc đó còn chưa có gia đình:

“Con biết không, ngày cúng ông Táo mình cho là dị đoan nhưng nghiệm lại cũng chỉ là một cách ông bà mình đã khôn ngoan đặt ra để nhắc nhở mọi người chỉ còn tuần lễ nữa là Tết.”

Con ông lắc đầu:

“Con không hiểu.”

Ông mỉm cười:

“Có gì đâu mà không hiểu. Cúng ông Táo có phải vào ngày hăm ba tháng chạp mà Tết bắt đầu vào giờ giao thừa ngày cuối năm hoặc hăm chín hoặc ba mươi không? Cho là ba mươi, trừ đi hăm ba có phải bảy ngày không?”

Người con trai ra chiều suy nghĩ:

“Con nghĩ Ba nói đúng. Thế còn chuyện gì về ngày Tết nữa không Ba?”

Lòng vui vui vì không ngờ con trai ông rời bỏ quê hương từ lúc mới lên tám vẫn còn muốn tìm hiểu quê cha đất tổ, ông trìu mến hỏi con:

“Bộ con muốn biết thật sao? Lâu nay con vốn không quan tâm mấy đến phong tục cổ truyền Việt Nam mà?”

Người con lắc đầu:

“Không phải con không quan tâm đến, nhưng con cho rằng một khi đã sống trên đất nước này, mình phải hòa nhập với nó.”

“Ba không chối bỏ điều đó, sống ở đây phải hòa nhập với ở đây. Có điều, người ta nói con chồn có hang, con chim có tổ, con người có quê hương. Con rời quê hương từ lúc còn quá nhỏ nên không còn mấy xúc động khi nghe nhắc đến hai tiếng quê hương. Nhưng dù sao, giòng máu Việt vẫn chảy trong người con, con không thể nào gạt bỏ được.”

“Con hiểu điều đó.”

Ông không nói gì, nhìn lên bàn thờ tổ tiên rồi đột nhiên hỏi người con:

“Con có hiểu tại sao mình bị giặc Tàu đô hộ một ngàn năm mà không mất tiếng nói không? Con nhìn xuống Nam Mỹ, các nước dưới đó có phải đã không còn nói tiếng mẹ đẻ của họ nữa không?”

“Dạ phải, họ phần lớn nói tiếng Tây ban nha, một vài nước nói tiếng Bồ đào nha.”

“Thấy đấy. Họ có tiếng nói của họ nhưng giờ đã hoặc bị mất hoàn toàn hoặc không còn phổ thông nữa trong khi thời gian họ bị đô hộ không kéo dài tới cả ngàn năm như đất nước mình.”

“Ba cho là tại sao?”

“Tại cha ông mình rất khôn khéo.”

“Con không hiểu.”

“Một là, nền giáo dục thời đó không phổ thông đến tận nông thôn nên không phải ai cũng học nói và viết tiếng Tàu.”

“Ba nói đúng.”

“Hai là, cha ông mình đã khôn ngoan bày ra một cách đọc tiếng Tàu theo tiếng Việt. Do đó, người học học viết tiếng Tàu nhưng đọc tiếng Việt. Cả hai lí do gộp lại giữ cho tiếng Việt không mất đi cho đến ngày nay.”

Ông nhìn con trìu mến, nghĩ rằng con ông đã không quên cội nguồn quê cha đất tổ.

***

Một năm sau, con trai ông lập gia đình với con gái của bạn ông đang kẹt lại quê nhà vì không đủ thời hạn ba năm tù để lập hồ sơ rời khỏi đất nước. Ông hy vọng nhận con gái bạn làm con dâu, gia đình bạn ông sẽ được con dâu ông bảo lãnh qua Mỹ. Một năm sau nữa, khi con trai con dâu ông sinh đứa con trai đầu lòng, ông trao chủ quyền căn nhà giá gần triệu đôla của ông cho vợ chồng con trai ông. Một hôm, vài tháng sau khi nhận chủ quyền căn nhà, con trai ông bảo ông:

“Ba nè, bạn bè con người Mỹ bước chân vô nhà mình thấy cái bàn thờ với bài vị trùm khăn đỏ cứ cho rằng gia đình mình thờ ma thờ quỷ. Để giúp họ hiểu, lần nào cũng phải mỏi miệng giải thích.”

Ông nhìn thằng con:

“Ý con là thế nào?”

Thằng con ngần ngừ một chút rồi nói huỵch toẹt:

“Nếu ba cho phép, con dọn bàn thờ vào trong phòng ba.”

Ông thảng thốt hỏi lại:

“Sao lại vậy?”

“Là vì con không muốn phải mất công trả lời, không muốn để bạn bè con hiểu lầm người Việt mình thờ ma thờ quỷ.”

Ông đau xót:

“Thờ tổ tiên và mẹ con, sao con nói là thờ ma thờ quỉ?”

Thằng con cứng cỏi:

“Với ba thì thờ ông bà và mẹ con, nhưng với người ngoại quốc thì thờ ma thờ quỷ. Ông bà tổ tiên cũng là người, đã chết, sao lại phải thờ? Thờ là Chúa, cùng lắm là thờ Phật như người mình. Tổ tiên cũng là người sao lại phải thờ?”

Ông thấy cay cay ở mắt. Ông cũng là người tin Chúa nhưng không thấy có gì là sai trái trong việc kính nhớ tổ tiên. Thằng con ông chẳng lẽ bây giờ đã hoàn toàn Mỹ hóa như vậy sao? Mặc dù vậy, ông vẫn dọn bàn thờ vào phòng riêng của ông vì không muốn ngày nào cũng phải với con ông tranh cãi. Nghĩa là ông nhượng bộ một bước cho yên cửa yên nhà, một bước nhượng bộ ông không ngờ sẽ dẫn ông đến các bước nhượng bộ khác. Ngày ông đang dọn bàn thờ, con ông bảo ông:

“Cám ơn Ba, con thấy vậy là phải.”

Ông chẳng thấy chỗ nào là phải nhưng không muốn tranh cãi gì thêm nữa. Ba mươi Tết năm đó và các năm sau, ông ra chợ mua nhang đèn trái cây, cả bánh tét bánh chưng, và một cành mai giả về đặt lên bàn thờ được thu nhỏ lại đặt trong phòng ông. Ông đột nhiên thấy quặn thắt trong lòng. Cuộc đời ông cũng chẳng khác gì chiếc bàn thờ tổ tiên kia, ngày càng thu hẹp lại. Ngôi nhà khang trang đáng giá cả triệu đôla này vốn là của ông, ông đã bỏ hết vốn liếng chắt chiu sau mấy chục năm xây cất ngôi nhà với mục đích cho con ông nó nơi cư ngụ khi khôn lớn lấy vợ có con. Thế mà giờ đây sau khi ông đã yêu thương giao quyền làm chủ ngôi nhà cho con ông, ông và bàn thờ tổ tiên và vợ ông bị thu gọn lại trong căn phòng ngủ diện tích mấy chục mét vuông của ông. Ông nghĩ đến đời ông cũng bị thu nhỏ lại tương tự. Ông đã trải qua tuổi thanh xuân với mộng ước tang bồng hồ thỉ nam nhi trái, với câu thơ Chinh phụ luôn vang vọng trong đầu Chí làm trai dặm nghìn da ngựa, Gieo Thái sơn nhẹ tựa hồng mao nhưng rồi cuộc đời chỉ thu nhỏ lại trong một cuộc chiến tranh dai dẳng. Rồi chiến cuộc tàn một cách chua xót ngày 30 tháng tư năm 1975, một ngày lịch sử ô nhục. Câu châm ngôn Tổ quốc, Danh dự, Trách nhiệm mà ông đã quỳ xuống tuyên thệ trước khi nhận lấy cấp hiệu sĩ quan một sớm một chiều trở thành con số không. Thoáng một thoáng, ông không còn Tổ quốc, không còn Trách nhiệm, và cũng chẳng còn cả Danh dự. Quê hương ông vẫn còn đó, vẫn là giải đất chữ S nhưng ông không còn được phép nhận đó là quê hương ông nữa. Kẻ thắng cuộc đã tự cho mình có quyền lột bỏ quyền làm con cái Hùng Vương của ông, xếp ông vào hạng người không quê hương không tiên tổ. Cuộc đời ông bị thu nhỏ thành một con số kém hơn con số không… Ký ức làm ông quặn thắt con tim. Ông thở dài lẩm bẩm:

“Ngày Ba mươi Tết.”

Ngày ba mươi Tết trong Nursing Home, ông cô đơn trong một nơi đông người. Chẳng có ai chung quanh ông hiểu được tâm tình ông lúc này. Đến lúc này, ông cảm thấy còn tệ hơn những năm ông sống trong lao tù cộng sản. Ông đã mất hết tất cả lúc ở trong lao tù đó nhưng ít nữa ông vẫn còn chút hy vọng có ngày ra khỏi lao tù làm lại cuộc đời. Trong Nursing Home này, ngày ông ra khỏi sẽ không còn là ông mà chỉ là một cái xác sẵn sàng làm mồi cho giun dế. Cả cái tên mà kẻ thắng cuộc không lấy mất đi của ông giờ đây ông cũng không còn giữ được nữa. Người ta gọi ông bằng một cái tên gì đó mà cho dẫu rất khá tiếng Anh, lần đầu tiên khi nghe gọi ông vẫn ngơ ngác chẳng biết người ta đang gọi người nào. Cái họ Trần của ông giờ đây đã nghe thành Train, ầm ầm tiếng xe lửa chạy trên đường rầy. Con cháu ông giờ đây đều tự gọi và được gọi thành Train Xe lửa. Ông Xe lửa, ba Xe lửa, con Xe lửa, cháu Xe lửa. Giữa đám người đàn ông đàn bà có người nghễnh ngãng ngờ nghệch có người sáng suốt mà ông là một, chẳng còn ai biết đến ông là ai là cái gì. Trong thế giới này, ông hoàn toàn trở thành một cỗ máy trong nhiều cỗ máy đi qua đi lại như những bóng ma, không quan tâm đến ai và không ai quan tâm đến. Ông lại lẩm bẩm:

“Ba mươi Tết.”

Tết là ngày truyền thống lịch sử, xã hội, phong tục, gia đình, và tâm linh mà người Việt nào cũng đương nhiên được hưởng; thế mà giờ đây ông không hưởng được niềm vui đương nhiên đó. Ông đảo mắt nhìn chung quanh. Cơm chiều mọi người đã ăn xong ngoại trừ phần ăn của ông đang lạnh dần trên bậu cửa sổ. Ông chậc lưỡi nhủ thầm:

“Có đúng đêm nay Giao thừa không? Mình mất cả quyền đón Giao thừa nữa rồi sao?”

Chẳng có ai để xác nhận cho ông đêm nay đúng hay không đúng là đêm Giao thừa. Con trai con dâu ông không đến. Cháu ông còn nhỏ muốn đến cũng không được. Mà cho dẫu con trai con dâu ông đến, chúng nó cũng chẳng xác nhận được thắc mắc của ông vì chúng chẳng còn quan tâm gì đến ngày Tết nữa. Với chúng giờ đây chỉ có Thanksgiving rồi Christmas rồi New Year. Câu chúc đã gộp lại thành một, Merry Christmas and Happy New Year. Đã mấy năm rồi, ông không còn nghe câu Chúc Mừng Năm Mới trong gia đình ông nữa. Lúc còn ở nhà, sáng Mồng Một, sau khi vái tổ tiên, ông gom các cháu lại lì xì và tập cho các cháu nói câu chúc Tết ông. Các cháu ngọng nghịu nói:

“Mung tu-ôi ông Nôi.”

Con trai con dâu ông nể nang ông trong giây phút đó nên không dám nói gì nhưng khi các cháu ra khỏi phòng, con trai ông bảo ông:

“Ba ơi, Ba đừng cho tiền tụi nhỏ nữa Ba.”

Làm bộ không hiểu, ông hỏi:

“Cái này không phải là cho tiền mà lì xì lấy hên năm mới.”

“Lấy hên lấy xui gì con không biết, nhưng cho tiền tụi nhỏ tập cho chúng thói quen nhận tiền sau khi đã làm một điều gì người khác muốn.”

“Ba không hiểu ý con.”

“Có gì đâu. Các cháu không biết nói tiếng Việt nhưng vẫn cố nói để được Ba cho tiền. Làm vậy sẽ gây cho các cháu thói quen làm một điều gì theo ý người khác để được tưởng thưởng. Phản xạ Pavlov chắc Ba đã biết.”

“Ý con nói là Ba tập cho con con hối lộ và nhận hối lộ?”

Con trai ông lắc đầu:

“Con đâu dám hỗn vậy.”

Con trai ông nói không dám hỗn với ông nhưng thực sự câu nói đã đâm thấu tim ông. Ông gục đầu xuống bục cửa sổ.

Một buổi chiều mấy năm về trước…

***

“Thế ba không được ở nhà nữa sao con?”

“Ba à, tụi con cũng muốn ba ở nhà lắm, nhưng ba thấy đó…”

“Ba đâu thấy gì. Ăn uống ba tự lo lấy. Thức ăn còn lại trong tủ lạnh, ba cho vào microwave hâm nóng là xong. Cùng lắm không có gì thì ba ăn mì gói.”

“Ý ba nói vợ chồng con không biết lo cho ba, chẳng biết nấu nướng gì cho ba sao? Tụi con lúc nào cũng lo cho ba ngày ba bữa, đâu để ba nhịn đói ngày nào bữa nào đâu?”

Người cha nhìn đứa con trai với ánh mắt hết sức dịu hiền, nhưng nét mặt dửng dưng không vui không buồn. Lát sau, ông nói:

“Ba chỉ nói là ba chưa đến lúc phải nhờ cậy đến vợ chồng con như những người già cả đui què bệnh hoạn khác, ba có trách móc gì ai đâu, con lại càng không.”

“Thế ba trách vợ con chắc? May mà nó không có nhà.”

Một chút bực nhọc lộ ra trong đôi mắt, ông chậm rãi nói:

“Vợ con ba lại càng không trách. Nó có nhà hoặc không có nhà, ba chẳng bao giờ đụng chạm đến nó. Điều đó con biết quá rõ rồi, phải không con?”

Đứa con dằn mạnh chai bia đang cầm trong tay xuống bàn ăn, đi dần đến cầu thang chuẩn bị lên lầu. Người cha nói với theo:

“Ngày xưa, người ta nói thất thập cổ lai hi, nhưng ngày nay bảy mươi trên bảy mươi không còn là chuyện hi hữu nữa. Trời cho ba đến lúc này cũng chưa phải làm phiền con. Ba còn đi còn chạy, còn lái xe ào ào, còn làm được gần như mọi chuyện….”

Ông im lặng một chút rồi nhìn đi chỗ khác:

“Chỉ phải tội ba không nhiều tiền, cũng chẳng còn nhà cửa. Tiền ba lo cho con ăn học nên chẳng còn dành dụm được bao nhiêu, nhà cũng đã sang tên cho vợ chồng con rồi.”

Đứa con gắt giọng:

“Ý ba muốn con trả tiền lại cho ba như trả nợ vay tiền đi học và sang nhà lại cho Ba, phải vậy không Ba?”

Người cha gắt lại

“Con với cái, mày ăn nói với ba mày như vậy sao? Tao mà tham tiền thì đã không đem mày sang đây, lo cho mày ăn học nên thân nên người, lo cho mày có vợ, lo cho con cái mày.”

“Ba sinh con ra thì lo cho con, như con bây giờ lo cho con con. Ba lo cho con sao giờ lại kể công?”

“Tao đâu thèm kể công gì với mày. Tại mày nói nghe chướng tai quá nên tao bực mình thôi.”

Đứa con chẳng kém gì, nói ngay lại:

“Ba nghĩ coi, cứ mỗi lần có chuyện không vui là ba lại đem chuyện tiền chuyện nhà ra trách con. Đâu phải con không biết ơn những gì ba đã làm cho con… Nhưng biết ơn và chuyện con muốn ba vào nghỉ ngơi trong Nursing Home đâu có liên quan gì? Chẳng qua vợ chồng con muốn có người chăm sóc cho ba nên mới làm vậy.”

“Vợ chồng mày hay chỉ mình con vợ mày muốn?”

Đứa con trai không trả lời câu hỏi của ba nó. Nó không thể xác nhận điều ba nó vừa nói là đúng hay không đúng. Tự thâm tâm, nó cũng biết chưa đến lúc phải đưa ba nó vào Nursing Home. Đúng là ba nó chưa đui què sứt mẻ gì để phải vào sống xa con xa cháu thui thủi trong đó. Nó cũng đã từng bảo vợ nó:

“Sao lại làm vậy? Ba còn mạnh khỏe, đâu đã cần phải vào trong đó?”

Nó nói gì thì nói, vợ nó vẫn khăng khăng. Không làm theo lời vợ nó muốn thì gia đình nó xào xáo, nó không chịu đựng nỗi việc đêm đêm vợ nó cằn nhằn nó. Vì thế, dù trong lòng chẳng muốn làm cho ba nó buồn, đứa con trai chẳng biết phải làm thế nào cho gia đình nó êm ả nếu không chiều theo ý vợ nó. Thấy con trai im lặng suy nghĩ, người cha ngưng nói, buồn rầu nhìn theo người con đang đứng ở chân cầu thang rồi nói tiếp:

“Sống với vợ chồng con và các cháu, ba nghĩ ba không phải vô ích. Mùa học, ba đưa đón các cháu đi học; mùa nghỉ, ba chăm sóc dạy dỗ thêm. Ba không kể công mà đó chính là niềm vui của ba trong tuổi già.”

“Con biết ba vẫn dạy dỗ các cháu, nhưng mà…”

“Ấy là chưa kể ba còn giúp cho các cháu làm bài học bài, giảng bài thêm cho các cháu hiểu. Và nhất là tối tối dạy bảo các cháu cách ăn nết ở để thành người tốt, nhắc nhở các cháu về nguồn gốc tổ tiên Việt Nam, kể chuyện cổ tích chuyện dã sử Việt Nam cho các cháu nghe để ít nữa chúng cũng còn nhận ra chúng từ đâu đến. Bộ con thấy làm vậy không đúng sao, hoặc trở ngại gì đến kế hoạch dạy dỗ con con sao?”

“Không phải vậy đâu ba. Vợ chồng con còn cám ơn ba đã chăm sóc dạy dỗ các cháu nữa là khác. Nhưng mà…”

“Nhưng mà làm sao? Ba sống trong nhà cũng đâu tốn kém gì cho con mấy đâu. Ăn uống bây giờ ba cũng ít ỏi. Thuốc men ba cũng không cần nhiều, mà cũng không để con phải trả. Ba có medicare, tiền deductible tự ba trả lấy. Ba có mệnh hệ nào thì cũng đã mua life insurance để khỏi phải làm phiền con lo chuyện sau cùng cho ba. Hay con muốn ba trả tiền share phòng và tiền ăn uống?”

“Ba, sao Ba lại nói vậy. Vợ chồng con có bao giờ nghĩ đến chuyện tiền bạc chi li như vậy đâu.”

“Thế ba làm phiền tụi con chỗ nào mà tụi con buộc ba phải…”

“Tụi con có buộc ba đâu, chỉ thấy đi vào Nursing Home người ta chăm sóc ba kỹ càng hơn tụi con vì tụi con không có nhiều thì giờ…. Với lại, book cho được một chỗ trong Nursing Home phải nằm waiting list mấy năm trời. Bỏ mất cơ hội này xin lại biết bao giờ mới có, làm sao kịp với lúc Ba thực sự cần đến?”

“Con nói đến lúc ba thực sự cần đến nghĩa là hiện thời ba chưa thực sự cần đến, đúng vậy không? Ba đã đui què sứt mẻ gì đâu để phải vào nằm trong đó?”

“Con biết, con biết. Nhưng mà…”

“Nhưng mà con không muốn ba ở nhà với con với các cháu nữa vì vợ con nó cằn nhằn phải chăm sóc ba trong khi cả ngày nó đã phải còng lưng mệt mỏi rồi, phải vậy không con?”

“Không phải đâu ba. Vợ con đâu dám cằn nhằn ba vậy đâu.”

“Nó không cằn nhằn ba nhưng cằn nhằn con. Nó không nói bốp chát vào mặt ba nhưng nó dằn xóc con khi hai vợ chồng ở riêng trong phòng. Không phải ba nghe lén tụi con đâu, nhưng nhìn cử chỉ và khuôn mặt nó ba đủ biết. Con nghe quen câu nói con mắt là cửa sổ tâm hồn rồi, phải không? Mỗi lần nó dằn xóc con rồi bước ra, ba chỉ cần nhìn thoáng là biết ngay chuyện gì đã xẩy ra.”

“Không đâu ba. Tại ba đoán non đoán già ra vậy thôi.”

“Thằng này lạ, đã đoán thì khi non khi già là chuyện thường tình. Đoán mà trúng ngay chóc thì đâu còn là đoán nữa.”

Anh con trai lúng túng nói:

“Tại ba không thương nó nên mới nói thế.”

Người cha nhìn anh con trai, gằn giọng:

“Thằng này nói lạ. Tao không thương nó thì ai đưa nó đến cho mày cưới làm vợ?”

“Thì lúc đó ba thương, nhưng giờ ba không thương nữa.”

Nhìn anh con trai với nét mặt buồn rầu cay đắng, ông mím môi nói:

“Con nói vậy không đúng. Lúc đó ba thương nó, bây giờ ba vẫn thương nó. Ba chỉ buồn là không hiểu tại sao nó xoay chiều đổi thế ngược hẵn lại với chính nó ngày chưa là vợ con, ngược hẳn với bản chất người con gái Việt Nam thờ cha kính mẹ yêu chồng thương con như ba đã thấy khi nó còn ở quê nhà.”

“Chính ba mới lạ. Vợ con vẫn yêu con vẫn thương con cái nó, có gì như ba nói đâu.”

“Mày bỏ mất một vế của tao rồi.”

Đứa con trai xẵng giọng:

“Nó vẫn hiếu kính cha mẹ nó, sao ba bảo nó mất một vế?”

“Hiếu kính với cha mẹ nó thì tao không biết, vì chẳng liên quan gì đến tao. Con gái Việt về nhà chồng là trở thành gái con ruột của nhà chồng, phải hiếu kính cha mẹ chồng.”

“Xưa rồi ba, cái chuyện xuất giá tòng phu tòng phụ gì gì đó xưa lắm rồi. Thế hệ tụi con chẳng ai còn cho là đúng nữa đâu.”

“Ừa, thì chuyện đó xưa thật. Vậy thì theo mày, con cái bây giờ chẳng cần hiếu thảo với cha mẹ nữa, phải không?”

“Thế con có tôn trọng cha mẹ vợ con không?”

“Có chớ ba, ba dạy con thế mà.”

“Vậy là con ngoan. Nhưng, tôn trọng cha mẹ vợ con, sao con không tôn trọng ba là cha đẻ của con?”

“Sao ba nói vậy? Con vẫn tôn trọng ba mà.”

Ông thở dài nói tiếp:

“Con nói vậy nghe sao lọt tai? Tôn trọng ba, sao con chỉ còn biết nghe lời vợ con muốn tống cổ ba ra khỏi căn nhà này nữa, căn nhà mà thực ra là của ba nếu ba không trao lại cho con? Sao con chẳng còn tình hiếu thảo của đứa con trai Việt Nam mà dòng máu đang chảy trong người con?”

Đứa con trai lắc đầu quầy quậy, vừa bước nốt những bậc thang còn lại đi lên lầu, vừa nói ngược xuống ba nó:

“Thôi, thôi đi. Con không nghe Ba nói nữa đâu. Lúc nào Ba cũng chỉ một cách nói đó. Muốn là người Việt Nam, sao Ba không về bên đó mà sống?”

Người cha giận dữ quát lên:

“Thằng con mất dạy. Tao tiếc công nuôi mày cho đến khôn lớn, hì hục đem mày sang đây cho mày có tương lai.”

Đứa con cũng chẳng kém, từ đầu bậc thang hét trở lại:

“Ba tiếc thì đừng đưa con sang. Con không nghe Ba nữa đâu. Ba đừng hét nữa, vợ con sắp về rồi.”

“Hừ, mày sợ tao la lớn con vợ mày nó nghe, phải không? Tao mày không sợ, mày chỉ biết sợ con vợ mày thôi, thế là làm sao? Nó làm nó nuôi mẹ nó anh em nó bên Việt Nam, có nuôi tao ngày nào đâu? Còn mày, tao đem mày qua đây cho đến giờ đây mày có sức có vóc, mày đã nuôi tao ngày nào chưa? Lúc tao còn trẻ trung đi làm, tao nuôi mày ăn học, lo lắng cho mày mọi chuyện. Nếu không vì lo cho mày, tiền bạc tao để vào đâu cho hết? Mày đi làm, tao còn muốn mày cất tiền làm được để dành làm vốn, không lấy của mày một xu. Vợ mày nuôi mày cho mày lớn lên ăn nên làm ra như bây giờ hay chính là tao?”

“Con xin Ba, Ba đừng lớn tiếng.”

“Tao cứ lớn đấy, xem con vợ mày làm gì tao.”

“Con đã nói là vợ con có làm mất lòng gì Ba đâu. Đây là ý kiến của con mà Ba.”

“Nó không ra mặt làm mất lòng tao nhưng nó xúi bẩy mầy. Thôi, mầy sợ nó hơn sợ tao, thì để tao gọi cho cô mày rồi tao qua ở với nó, vợ chồng mầy khỏi phải lo lắng cho tao nữa. Tao có chết rấp thì tụi mày cũng đừng bén mảng đến làm gì.”

Ông cụ đứng dậy bực bội đi lui đi tới mấy bước trong phòng rồi chỉ tay vào mặt anh con trai, nói:

“Đâu phải bây giờ mới xẩy ra mà từ ngày xưa ngày xửa cũng đã thế rồi. Cha mẹ nuôi con biển trời lai láng, Con nuôi cha mẹ kể tháng kể ngày. Tao sống đến chừng này bộ tao không biết sao? Cũng còn may tao chưa bạ đâu ỉa đó bạ đâu đái đó như mẹ mày trước khi chết. Cũng may cho bả là lúc đó mày chưa có vợ, mày mà có rồi chắc bả cũng không tránh khỏi bị chửi tắt bếp.”

“Thôi mà Ba, con xin Ba đừng la lớn nữa.”

“Xin, xin cái gì, tao còn cái gì nữa để mày xin? Tiền bạc thì tao cho mày hết rồi, giờ tao chỉ sống vào nhờ lương hưu xã hội. Quên, tao còn, còn nắm xương của tao mày muốn thì tao cho luôn. Mày muốn bộ xương tao thì lấy ngay bây giờ đi.”

Anh con trai tái mặt, lúng túng nói:

“Con xin Ba. Sao Ba lại nặng lời….”

“Còn nặng với nhẹ. Con người là thế đó. Hiếu thảo sao mày không hiếu thảo bây giờ đi, lo cho tao bây giờ đi? Khi tao chỉ còn đống xương thì giỗ chạp làm gì?”

“Con xin Ba, con xin Ba…. Vợ chồng con chỉ muốn Ba vào đó để có người chăm sóc lo lắng cho Ba. Rồi hàng tuần tụi con đem các cháu vào thăm Ba, đâu có để Ba một mình đâu?”

“Hừ, chẳng một mình tao thì hai mình chắc? Ông nào bà nào ở trong đó mà không một mình? Tao đã từng gặp nhiều người trong đó, cả Mỹ cả Việt, bao nhiêu năm trời chẳng thấy mặt con mặt cháu. Với lại tao dù bảy mấy tuổi nhưng đã đui què sứt mẻ gì mà mày buộc tao phải vào trong đó, không án cũng như ở tù?”

“Con xin ba, tụi con đâu tệ đến thế….”

“Tụi con đâu tệ đến thế thì một mình mày tệ. Mà một mình mày là đúng rồi vì mày là con tao, tao đẻ mày ra, nuôi cho mày lớn, đem mày sang đây cho sung sướng, lo cho mày có tương lai. Con vợ mày thì đâu đính dáng gì đến tao nên tệ hay không tệ với tao thì cũng chẳng là gì. Mày nói cái gì cũng đúng, tụi mày đâu có tệ, chỉ một mình mày tệ với tao thôi.”

Anh con trai nhìn ra bên ngoài. Có tiếng xe đang chạy lạo xạo trên driveway rồi tiếng cửa garage chạy rần rần mở lên. Anh vội nói:

“Thôi, con xin Ba.”

“Ừ, vợ mày về, mày rét lắm rồi, phải không? Tao không nói nữa và sẽ làm theo ý mày. Có điều, chớ có rêu rao là mày thương tao lắm, tự tao muốn vào Nursing Home để an hưởng tuổi già. Mày nói thế thì trời tru đất diệt mày đó.”

Anh con trai ngậm câm quay vào phòng riêng, chẳng dám nói gì nữa vì biết nếu nói gì thêm, ba anh ta sẽ tiếp tục la lối. Mà vợ anh đã về nhà rồi….

***

Người cha hậm hực đi vào phòng riêng, khóa cửa lại. Có tiếng bước chân lạch bạch bên ngoài cửa phòng ông rồi có tiếng đập cửa và tiếng kêu khe khẽ:

“Nội, nội, con muốn nội.”

Nước mắt ông bỗng ứa ra. Không chút chần chừ, ông phóng ra mở cửa, ôm cháu vào lòng:

“Nội đây, nội đây.”

Cháu bé bốn tuổi ôm chầm lấy ông, hôn lên má lên tay ông như thể ông đã vắng mặt nhiều ngày, miệng mếu máo:

“Con muốn nội, con ngủ nội.”

Hai đứa còn lại, đứa lên tám đứa lên sáu chỉ chờ ông mở cửa là băng vào như một cơn gió, đứa khóc đứa mếu:

“Con muốn nội, con muốn nội.”

Ông choàng tay ôm ba đứa cháu kéo lên giường ông, đóng cửa phòng lại, rồi xếp ba cháu nằm ngang, đứa lớn nhất, đứa thứ hai, ông nằm giữa, và rồi đứa nhỏ nhất. Ra dấu cho các cháu nằm im, ông rón rén đi xuống lầu pha chai sữa cho đứa bốn tuổi như ông vẫn làm hàng đêm, rón rén đi lên lầu vào phòng ông, rón rén đóng cửa lại. Ông lên giường nằm vào chỗ dành cho ông, đưa chai sữa cho bé nhỏ nhất, rồi hắng giọng bắt đầu kể chuyện:

“Ngày xưa, đời Hùng vương, có một nàng công chúa đàn hay hát ngọt. Trong rừng có một chằng tinh say mê tiếng đàn tiếng hát của công chúa nên rình rập tìm cơ hội bắt công chúa về làm của riêng.”

Đứa lớn nhất hỏi:

“Làm của riêng là làm gì ông?”

Ông đang kể một truyện cổ Việt Nam nhưng bằng tiếng Anh để các cháu có thể hiểu. Ông cho rằng dù cách cháu nghe câu chuyện bằng tiếng Anh mà biết ít nhiều về văn hóa lịch sử và phong tục của quê cha đất tổ, còn hơn nghe bằng tiếng Việt mà chẳng hiểu gì cả. Các cháu ông nói được chút ít tiếng Việt, nhưng không thể nào hiểu được tất cả cách nói tiếng Việt của người Việt. Các cháu nói ông sợ con thì không có nghĩa là ông sợ con mà là ông làm con sợ, vì các cháu dịch câu nói đó từng chữ một từ tiếng Anh you scare me. Ông không ngạc nhiên cũng không phiền trách việc các cháu không nói sõi tiếng Việt. Làm sao phiền trách các cháu được khi suốt tháng suốt ngày các cháu nghe, nói, và học tiếng Anh ở trường? Ông không chủ trương các cháu ông vì là người Việt phải rành rẽ tiếng Việt như người Việt chính cống mà ngược lại, ông chủ trương dạy cho các cháu biết lịch sử phong tục của đất nước Việt Nam, đất nước của tổ tiên các cháu với dòng máu Việt mà dù muốn dù không các cháu cũng phải mang trong người. Thằng con trai ông đó, nói rành hiểu rành tiếng Việt, sinh ra ở đất Việt trước khi đến đất nước quê hương thứ hai này, vậy mà đã nói thẳng nó không muốn là người Việt. Để đạt đến mục đích ông muốn với đàn cháu, đêm đêm, thay vì đọc sách trước khi các cháu ngủ, ông kể chuyện cho các cháu nghe, bằng tiếng Anh nhiều hơn bằng tiếng Việt. Ông kể đủ thứ chuyện Việt, chuyện cổ tích, chuyện lịch sử, chuyện dân Việt chống ngoại xâm Tàu và Pháp, và cuối cùng chuyện Miền Nam chống cộng sản. Kể thì kể, ông không mong các cháu hiểu hết mọi điều, chỉ mong gieo vào tâm trí non nớt của các cháu một điều gì đó có thể phát triển cách tích cực hơn về sau này khi các cháu lớn lên. Ông đúng, ông sai, câu trả lời chỉ có thể có khi các cháu ông đến tuổi trưởng thành.

Khi ông kể đến đoạn công chúa bị nhốt trong hang, đánh đàn và hát, Đàn kêu tích tịch tình tang, Ai đem công chúa dưới hang trở về, và tiếng đàn tiếng hát lọt vào tai Thạch Sanh, cháu bé nhất đã buông bình sữa xuống ngáy pho pho, cháu thứ hai sáu tuổi ngoẹo đầu qua một bên rồi cũng chìm dần vào giấc ngủ. Chỉ còn cháu thứ nhất tám tuổi nằm một đầu giường đang mở mắt nhìn trân trân lên trần nhà. Ông hỏi cháu:

“Ngủ đi con, ngày mai còn đi học.”

Cháu bật khóc, tức tưởi bảo ông bằng tiếng Anh:

“Sao ba mẹ con làm nội buồn vậy nội?”

Cháu ông mới tám tuổi học lớp ba, chẳng thực sự biết những gì đang xẩy ra giữa ba mẹ và nội, nhưng cảm nhận được ba mẹ đang làm nội buồn và nội đang giận ba mẹ. Chẳng biết phải giải thích thế nào cho cháu hiểu, ông thinh lặng thở dài. Cháu bảo ông:

“Sao vậy nội? Trước đây, mỗi khi con hỏi điều gì nội đều giải thích ngọn nguồn, sao lần này nội không cho con biết tại sao?”

Ông thở dài, nhắm mắt giả vờ ngủ. Ông và các cháu ông thường trò chuyện bằng tiếng Anh, không phải ông khoe mẽ tài nói tiếng Anh mà chính vì ông muốn có một liên kết bằng ngôn ngữ giữa ông và các cháu. Không có thứ ngôn ngữ làm chất liệu nối kết thế hệ trẻ và thế hệ người lớn, chắc chắn khoảng cách giữa hai thế hệ sẽ càng ngày càng dài rộng thêm khó có gì có thể hàn gắn được. Ông không cho rằng nói hiểu tiếng Việt là điều kiện tất có và đủ để các cháu không quên cội nguồn. Biết bao nhiêu người nói hiểu tiếng Việt rành rõi nhưng chẳng những không muốn tỏ ra mà còn cảm thấy xấu hổ khi phải cho mọi người biết họ là người Việt.

Nằm cạnh ông, đứa cháu lớn nhất trăn qua trở lại rồi nói:

“Con về giường con nghe nội? Nằm đây chật quá dù con vẫn thích ngủ với nội.”

“Ừa, con về giường con đi.”

Đứa bé bước xuống giường, đi ra cửa rồi nghĩ sao quay vào lại, ngần ngừ bảo ông:

“Con về giường con nhưng nội đừng đi đâu nghe nội. Mai nội phải đưa con đi học đó.”

Lòng ông quặn đau. Mọi sắp đặt của ông đều không còn thực hiện được nữa. Ông nghẹn ngào nói:

“Nội không đi đâu đâu. Mai nội đưa con đi học.”

Đứa bé hôn vào má ông, nói good night nội rồi ra cửa. Ông ngồi lên đóng cửa phòng rồi rón rén nằm xuống kẹt cứng giữa hai đứa cháu đang ngáy đều. Ông miên man suy nghĩ. Rồi ông phải giải quyết cách nào đây? Không đi nơi khác không được vì con dâu con trai ông chẳng còn nể nàng gì ông nữa. Đi nơi khác, các cháu ông sẽ đau lòng và nỗi đau sẽ trở thành một vết thương hằn dấu trong tâm trí các cháu suốt đời. Từ phòng con ông dội lại:

“Anh nói với ổng chưa?”

Tiếng con trai ông cố hạ nhỏ giọng:

“Nhỏ thôi em, ba nghe đó.”

Con dâu ông đã không nhỏ giọng mà còn lớn thêm hơn một chút:

“Nghe thì đã sao?”

Im lặng. Con dâu ông dằn giọng:

“Anh chưa nói?”

Con trai ông nói gần như không nghe được:

“Rồi.”

Con dâu cao giọng:

“Thế ổng nói sao?”

“Ba nói ba chưa đui què sứt mẻ sao lại phải vào Nursing Home. Ba muốn qua với cô Ba.”

Con dâu hừ:

“Bộ ổng muốn bêu xấu tôi? Qua cô Ba chẳng khác mắng tôi không biết lo cho ổng.”

Con trai im lặng. Con dâu ông chấm dứt câu chuyện:

“Tôi dứt khoát rồi. Mai anh đưa ổng đi.’

Có tiếng thở dài. Của con trai ông. Của ông. Ông thở dài sườn sượt, chẳng biết phải quyết định thế nào. Phải chi không có các cháu? Cạnh ông, đứa cháu nhỏ nhất cựa mình nói lảm nhảm:

“Con muốn nội.”

***

Người đàn ông gục đầu lên bậu cửa sổ. Buổi chiều đã đến. Phần ăn lạnh ngắt của ông vẫn nằm nguyên vẹn trên bậu cửa sổ trước mặt ông. Cổ họng ông khô và đắng. Ông khóc. Ông không cần giấu giếm nước mắt vì ở đây, trong Nursing Home này, người khóc không phải là một chuyện không bình thường, cũng chẳng phải là một cơn bệnh cần đến bác sĩ y tá chăm sóc. Hơi lạnh từ cửa sổ thấm vào ông. Ông lẩm bẩm:

“Sắp Giao thừa rồi”

Sắp giao thừa rồi.Trong cơn mơ màng giữa thực và mộng, ông tưởng chừng ngửi thấy mùi nhang mùi trầm, mùi bánh chưng bánh tét, và cả mùi mai vàng thoang thoảng. Đồng hồ trong phòng khách buông mười hai giờ rời rạc buồn tẻ, âm thanh duy nhất vọng lại trong màn đêm im lặng. Chuông đồng hồ ban đêm vang lên như tiếng chuông chùa đêm Trừ tịch. Ông ngửng đầu lên, lẩm bẩm:

“Giao thừa.”

Ông đứng lên, chấp tay vái, mắt nhắm lại để tâm tư lạc vào một thế giới khác. Bên ngoài, bão tuyết vần vũ. Màn đêm sáng rực một màu tuyết trắng. Đồng hồ hết ngân nga. Im lặng bao trùm. Ông cảm thấy lạnh nhưng mặc cho cơn lạnh thấm dần vào người.

***

Nhận được điện thoại, không kịp báo cho vợ biết điều gì đã xẩy ra, người con trai nhảy vội lên xe rồ máy chạy đến Nursing Home. Chạy ùa vào, anh ta nhìn thấy ba anh ta đã được đặt nằm trên giường, thân thể phủ một tấm ra trắng trùm mặt. Nhân viên Nursing Home mở tấm ra ra cho người con trai nhìn mặt, hỏi:

“Your father?”

Ba anh? Người con trai gật đầu. Nhân viên nhà quàng đứng sẵn đó phủ tấm ra trắng lại lên mặt, nhấc tấm thân thể cứng đờ lạnh ngắt của ba anh ta đặt lên một cái băng ca và khiêng ra chiếc xe đen chờ sẵn bên ngoài. Người con trai đi theo, một tay cầm cuốn sổ tay nhân viên Nursing Home vừa trao cho anh, tay kia cầm một túi xách nhỏ, cái túi mà ba anh đã xách theo ngày đi vào Nursing Home. Tuyết đang xuống dày. Các bông tuyết thi nhau rớt xuống tấm ra phủ thi thể, tan ra rồi thấm dần vào thớ vải. Thi thể ba anh ta không còn biết giá lạnh là gì nữa. Các bông tuyết tan đi như các nỗi buồn vui sướng khổ của ba anh giờ đây cũng đã tan đi.

Người con trai bước vào xe, đóng cửa lại, gục đầu lên tay lái. Anh ta muốn làm một điều gì, muốn làm lại một điều gì nhưng cảm thấy mọi việc đều đã quá muộn. Cuốn Nhật ký của ba anh mở đầu:

“Hôm nay ngày tháng năm, con trai con dâu tôi muốn tôi phải vào Nursing Home trong khi thực lòng tôi không muốn. Tôi còn mạnh khỏe, còn muốn gần gũi con cháu cho đến ngày cuối cuộc đời.”

Người con trai lật đến trang cuối:

“Hôm nay là ngày Ba mươi Tết, hoặc ít nữa tôi cho là ngày Ba mươi Tết. Lòng tôi quặn đau vì lại thêm một lần nữa tôi ăn Tết trong tưởng tượng. Tại sao tôi phải ở nơi này? Tại sao tôi phải xa quê hương tôi? Tại sao tôi không còn được vui hưởng ngày Tết mà lẽ ra tôi đương nhiên được hưởng?”

Người con trai nấc lên, tự hỏi, có đúng hôm nay là ngày Mồng Một Tết như ba mình nghĩ không?
Truyện ngắn của Trần Hữu Thuần

Grand Rapids, Michigan, ngày 18 tháng 11, 2016

Ánh Mắt Mùa Xuân



Thế là tôi được đứng trên nước Mỹ đã gần mười tiếng đồng hồ. Cả ngày trên thế giới thần tiên mơ ước của bao nhiêu người nhưng sao nghe chập chùng lo lắng. Lạ lùng cảnh vật và ngỡ ngàng ngôn ngữ, nhưng điều quan trọng là nỗi thắc mắc về tương lai bất định, về lối ứng xử dự định tối nay khi gặp lại Tân sau chục năm lạnh nhạt và âm ỉ nghi ngờ. Tôi vốn giống tánh mẹ, có gì trong dạ là nói ra ngay, những giận hờn dù nhỏ nhoi tôi chưa từng bỏ qua không nói, chất chứa và ẩn dấu tình cảm, chỉ buông ra khi gặp dịp thật thuận tiện, làm người con gái Hà Nội khôn ngoan của nửa thế kỷ trước-- tủm tỉm cười cười nói nói như không chuyện gì -- không phải là thái độ hằng có của tôi khi đã ở Miền Nam từ ngày còn trong bụng mẹ. Chắc chắn Tân sẽ không thích người mới đến đem theo những vấn đề lương tâm từ lâu anh trốn chạy cũng như anh đã nhắm mắt đà điểu lại coi như không có vấn đề quan trọng của gia đình hai đứa từ bao nhiêu năm nay. Chắc chắn thái độ khôn ngoan nhứt là biết vị thế của mình ở đâu trong lòng người chồng chỉ còn trên danh nghĩa và những ràng buột mơ hồ từ sợi dây cương thường Khổng Mạnh nát nhòe khói sương. Xé tấm giấy hôn thú, ban đầu tưởng là kế hoạch tranh khôn nhưng thời gian đã biến thành một thực tế nhói tim xé ruột. Biết vậy mà sao tôi vẫn muốn nói lời phiền giận, muốn trách hờn một phụ phàng. Cho hả tức, cho tai Tân tràn đầy những phẩn nộ chuyên chở đau khổ hằng cữu của tôi. Và chuyện gì sẽ xảy ra? Có thể Tân sẽ không ký lại cái hôn thú, xé toạt những kỹ niệm thần tiên ngày xưa cũ để cho tôi bị đuổi về Việt Nam như lời hai chị tôi tiên đoán? Trả về! Rồi tôi sẽ sống như thế nào? Trường học, nơi tôi vừa từ nhiệm, người ta đã tiệc trà tiển đưa với những ánh mắt ganh tỵ lẫn dè bĩu, tôi lòng dạ nào trở về dù rằng về đó sẽ dễ dàng sống được, sống còn trong cảnh hầu như mọi người đều hành nghề dối trá và bóc lột lũ học trò. Trở về để thấy lại những kỹ niệm muốn quên của hai lần bị chèn xe cho ngã rồi những tên đầu đường xó chợ đập bể những chai nước trà pha loãng rượu dỡm để bắt tôi bồi thường với giá trên trời dưới lời hăm dọa của những con dao Thái Lan nhọn lễu và hàng chục cánh tay bạo tàn vây bủa chung quanh.  Không! Tôi không thể trở về khi đã muốn xóa trong ký ức một quá khứ nhọc nhằn vô nghĩa và đồng lõa. Tôi tặc lưỡi cố gắng đè nén xúc động khi suy nghĩ đến những khó khăn trước mặt. Tới đâu hay đó. Vài ba đứa nhỏ da màu ít oi trong đám đông da trắng chạy nhảy vui cười từ khu nầy sang khu khác làm tôi vui vui hơn đôi chút. Phải chi lòng mình bình thản như chúng nó! Thần tiên biết mấy và đạt đạo biết mấy!

Tiếng loa báo tin gì đó tôi không hiểu. Thiên hạ trong vùng tôi ngồi đợi đã lục đục đứng lên xếp hàng vào cửa. Tôi sợ bị bỏ rơi như nhiều lần đã bị bỏ lại trong đời nên cố gắng len lỏi tới trước. Nhiều ánh mắt nhìn tôi lạ lùng chen lẫn bất bình và tội nghiệp. Cô tiếp đãi viên hàng không soát vé, to lớn mạnh mẽ và có cặp đùi thật đẹp nói gì đó với tôi một tràng dài. Trông cách ra hiệu của cô ta trong khi nói, tôi mang máng hiểu rằng mình được bảo đứng ra ngoài hàng và đợi cách giải quyết sau. Tôi bước ra ngoài hàng. Đứng mà lo sợ và tủi thân. Sao lại đợi? Chuyện gì đây? Tiếng người thì ngọng ngịu, nói ra thì thiên hạ cứ hỏi đi hỏi lại. Cái hàng đã vơi tới năm sáu người cuối cùng. Lác đác chỉ còn vài ba người ung dung trên ghế đợi, như chừng không phải đi chuyến nầy nên cứ tà tà nói chuyện. Tôi muốn bật khóc. Nếu giấy tờ trục trặc thì không biết tính sao. Ai giải quyết cho mình đây. Tôi mừng rỡ đưa mắt cầu cứu một ông khách có vẽ Á Đông mới tất ta tất tưởi chạy tới. Thấy ánh mắt tôi, ông ngó cô tiếp đãi viên như để đoán chừng

thời gian còn lại cho ông rồi tiến về phía tôi. Tôi nói cầu âu bằng tiếng Việt. ‘Nhờ chú coi lại coi

sao họ bắt cháu đợi không cho lên tàu.’ Vừa nói tôi vừa chìa hộ chiếu và vé phi hành ra.

Ông khách nhìn lướt qua nhưng không có vẽ gì như muốn đưa tay ra lấy mà buột miệng nói một câu vô duyên như núi lỡ: ‘Cô mang thông hành Việt Cộng!’ Rồi như thấy mình lỡ lời vì ánh mắt đau khổ của tôi, ông đưa tay cầm lấy tất cả giấy tờ, ngoắc tôi đến quày vé, trình và nói gì đó. Người nhân viên bấm máy vi tính. Sau một hồi tìm kiếm trên máy, in ra cho tôi một vé lên tàu.

Mặc dù đang mang xách cũng hơi khá nặng, ông vẫn đề nghị xách hộ tôi cái xách tay kồng kềnh làm khổ sở tôi từ lúc lên phi trường Tân Sơn Nhất đến giờ. ‘Cám ơn chú, cháu lo liệu được.’ Tôi từ chối. Từ không biết bao lâu rồi, những giúp đở của bất kỳ ai tôi đều đón nhận với tất cả lòng ngờ vực. Người thân ruột thịt còn chưa tin được huống hồ gì người gặp gỡ giữa đàng! Tôi mang xách lên vai, tay kia kéo cực khổ cái túi mang những thứ lỉnh kỉnh cho con, né không cho ông để tay vao, nhưng chỉ đi được vài ba bước thì ông ta đã đưa tay ra đở lấy, thân thiện và quyết liệt. Phi cơ nhỏ hơn chiếc đi từ Đài Bắc sang đây nhiều, đường giữa hai hàng ghế hẹp. Tôi lo tìm số ghế mình, nhìn lại thì không thấy ông ta đâu nữa.

Tôi ngồi xuống ghế thắc mắc. Bên cạnh trống trơn. Ước gì không có ai ngồi chỗ nầỵ Thoải mái cho tôi. Phải chi lúc nảy đừng cho ông ta giằng lấy cái xách. Của không bao nhiêu nhưng cái tình cho con mang tràn đầy trong đó. Mười năm rồi tôi không thấy mặt con. Chỉ là những tấm áo tôi đo cắt đoán định vóc dáng con với cả tấm lòng trời biển của người mẹ. Chỉ là những thứ mứt tôi xên phơi với lòng thương cao ngút ngàn như núi. Không biết ông ta có lục ra coi rồi lấy bớt hay không, hay ông ta ngồi luôn ở đó đợi phi cơ ngừng rồi lẻn ra trước, lấy theo luôn đồ đạc của tôi. Phi cơ cất cánh, tôi chìm trong những suy nghĩ vẩn vơ về sự xấu xa của người đời mà lâu rồi tôi quá ư thất vọng. Tôi thiếp đi trong sự mệt mỏi của chuyến bay đêm với tiếng động cơ ù ù ru ngủ và bóng tối bao phủ chỉ còn chút ánh sáng le lói từ một vài hàng ghế xa xa.

Tiếng ghế cạnh tôi động nhẹ. Ông ta sửa soạn ngồi xuống, gật đầu chào, nói nho nhỏ khi tôi

mở mắt nhìn.

‘Thỉnh thoảng đường bay nội địa còn lại nhiều chỗ trống như thế nầy.’ Ông vừa nói vừa thắc dây an toàn, ‘Hành khách có thể ngồi đâu tùy ý. Xin lỗi, nếu tôi không lầm thì cô đến định cư ở Mỹ chớ không phải đi công tác cho chánh phủ.’

‘Cháu sang đây đoàn tụ với nhà cháu.’

‘Chúc mừng cô. Đợi bao lâu rồi mà được đoàn tụ.’

‘Hơn mười năm rồi.’

‘Chúc mừng cô lần nữa. Thời gian tuy dài nhưng cô đã qua tới đây. Bây giờ là lúc an vui và lo liệu cho tương lai. Ông ta dùng lại chữ của tôi khi nảy.’

‘Vui gì mà vui. Đang buồn chết người.’ Tôi cũng không biết tại sao mình nói nhiều, tại sao lại nói như là khơi chuyện. Có thể vì sự cô đơn, có thể ông ta là người Việt Nam đầu tiên tôi chuyện trò từ khi rời nước. ‘Từ Đài Loan qua Cali còn có người Việt Nam, từ lúc đợi ở phi trường khi nảy không còn thấy bóng một người Việt nào. Muốn hỏi một vài điều mà không biết hỏi ai.’

‘Cô có chuyện buồn?’

‘Có khi nào người sang đây mà bị bắt buột trở về vì những thỏa thuận trước khi ra đi không

hoàn tất hay không?’

‘Tùy nhiều chuyện. Anh ấy… đang có người khác?’

Một giọt rồi cả tràng dài nước mắt rủ nhau chạy ra khỏi khóe mắt cay xè của tôi.

‘Cháu không biết phải nói gì, phải làm sao khi qua bên đó khi bắt buột phải sống chung nhà với người ta, người thứ ba.’

Người đàn ông sửa lại thế ngồi, có vẻ chăm chú hơn câu chuyện của tôi.’ Trước hết cho xin lỗi về câu nói đầu tiên của tôi khi gặp cô. Danh từ mà tôi đã dùng có vẻ không được đàng hoàng. Mỗi người trong chúng ta đều dị ứng trước một số vấn đề, một số dữ kiện.’ Ông ngừng một vài giây, ngó tôi rồi bật đèn chỗ ghế ông ngồi, như muốn quan sát những giọt nước mắt tình cảm đàn bà của tôi.’ Mà thôi, trở về câu chuyện. ‘Mỗi người trong ba người đều có lợi thế và bất lợi thế. Cô phải sử dụng lợi thế của người đến trước, đã có con với anh ấy mà hành động bằng sự nghiêm trang cần thiết. Tiểu tinh sẽ co vòi ngay.’ Tôi thích chữ tiểu tinh của ông dùng. Nó vừa ý tôi hơn chữ hoa trong câu thơ ‘Rằng nghe vườn mới thêm hoa.’

‘Tránh mè nheo, chửi rủa, than thở dài dòng. Phải tươi tắn, nhỏ nhẹ. Càng nói ít càng tốt. Đàn ông vốn dễ chán ngán và mệt mỏi trước sự trách móc dai dẳng và quy chụp thường xuyên của đàn bà.’

Quy chụp? Ông nầy là hạng người nào mà sử dụng từ nầy! Tôi chú ý hơn người đối thoại. Đây là loại người để mình học hỏi, trao đổi. Ông ta không già như tôi tưởng. Có thể ông ta mới rời Việt Nam không bao lâu. Nhưng mà không cần chú ý tới ba cái thứ vặt vãnh đó. Tôi đang có quá nhiều điều bận trí.

‘Em sợ mình hiền quá anh ấy sẽ theo người ta luôn, đàn ông mà, mới cũ. Nhưng dữ quá thì sợ anh ấy bực mình không ký lại giấy hôn thú.’ Tôi thay đổi cách xưng hô hơi sớm nhưng mà thật ra tôi chỉ muốn thân mật để coi ông ta có cho mình được lời khuyên gì đó xứng đáng hay không.

‘Đàn ông không ích kỷ đến mức làm hại vợ kiểu đó. Đàn ông có thể dối vợ để rong chơi cuối trời  quên  lãng,   nhưng   đàn  ông  ác  độc  thì  không   nhiều,  lịch  sử  cho  thấy điều đó.’ Để tránh vẻ quá chăm chú nghe ông ta nói, tôi mở giỏ lấy quyển truyện ngắn của tác giả hiện sinh Lý Lan, tác giả mới nổi tiếng trong nước, cầm trên tay. Ông ta nhìn tựa quyển sách, không nói gì, chỉ tiếp theo đề tài của mình.

‘Cô cũng còn đẹp.’ Tôi không hiểu ông có dụng ý gì trong câu nói đó. Đàn ông không mấy người nói về sắc đẹp của người đàn bà đối diện mà không có ẩn ý. Đó là cái tật, cũng giống như tật truyền kiếp của họ là chỉ nói chuyện với đàn bà bằng nửa não vì nửa kia bận tưởng tưởng về hình ảnh trần truồng của người đối diện.

‘Lợi thế là ở đó. Phải biết mình muốn gì. Phải đầu tiên là muốn ở lại lập nghiệp trên nước Mỹ không? Sau đó là có chút tiền đỡ khổ lúc ban đầu bỡ ngỡ. Cuối cùng là được sống hạnh phúc gia đình với chồng con. Nếu mất thì theo thứ tự chồng, tiền, chót nhứt mới là sự tự do.’

Tôi muốn há hóc mồm ngạc nhiên. Ông ta nói trúng những gì tôi suy nghĩ và quyết định trước khi lên phi cơ sang đây. Tôi làm thinh, tay lật lật quyển sách.

‘Vậy thì phải từ từ, sao cho đạt được ba mục tiêu đó. Không cần phải cùng một lúc. Không cần làm cho hai người kia sợ mình. Cũng không cần cho họ thấy sự bất bình của mình. Từ từ và nhỏ nhẹ.’ Ông ta lập lại kế sách nầy nữa. Từ từ và nhỏ nhẹ khi anh ta xéo lên giao ước của người đi trong khi tôi khổ sở ôm giữ từng chữ, từng câu giao ước của người ở lại?

‘Cám ơn lời khuyên của anh, anh thấy nhu mì, nhỏ nhẹ đắc dụng trong trường hợp nầy?’ Tôi

hỏi cho có. ‘Em đã định làm ngược lại đó chứ.’

Tôi thay đổi cách xưng hô, ông ta xứng đáng được xưng hô như vậy. Sành tâm lý dễ sợ, nói ít nhưng đúng lúc. Tôi không hổ thẹn gì khi dùng chữ anh-em thân mật đó. Ông ta như không chú ý.

‘Xứ nầy là xứ cơ hội và an toàn cho tất cả mọi người. Cô không nên thất vọng về bất cứ chuyện gì. Rồi mọi chuyện sẽ được giải quyết tốt đẹp thôi. So sánh sự khó khăn khổ sở của cô bây giờ với sự khó khăn và cô đơn của anh ấy lúc mới tới đây với đứa con nhỏ thì cô sẽ thấy từ từ và nhỏ nhẹ là kế sách công bình mà lại hữu hiệu..’

Tôi thở dài. ‘Vậy mà em định tới đó nói phải quấy cho hả hơi rồi chia tay. Nếu không có giấy tờ

thì trốn lại sang đây sống với chị bạn. Chị ấy hứa với em nhiều lần.’

‘Cô đã sai lầm vì có giải pháp trước khi nhìn rõ công chuyện. Cô cũng không biết mình nên tiến nhanh hay tiến chậm trong kế hoạch. Cô bị ảnh hưởng vì cái phao người bạn. Cô quên xét những khía cạnh đáng tha thứ của anh ấy.’ Tôi bàng hoàng. Mười năm nay tôi chỉ nghe lời xúi giục, bênh bổ đứng về phía tôi. Chưa từng nghe ai đứng về phía anh ấy, những chữ khía cạnh đáng tha thứ là những chữ chưa bao giờ có mặt trong tự điển cuộc tình nhiều nước mắt của tôi. Vâng! Tôi phải tìm cách tha thứ. Cho dẫu lòng mình tan nát!

Vẳng bên tay tôi nghe mơ hồ không biết là tiếng ông ta hay tiếng từ trong lòng tôi phát ra. ‘Tha thứ ở đây không có nghĩa là dối lòng, che mắt không biết đến những chuyện đã xảy ra. Tha thứ đây là thông cảm với những yếu đuối vật thể của con người trước hoàn cảnh đẩy đưa. Tha thứ là mở đường thực hiện tình mẫu tử gián đoạn từ lâu.’

Tôi thầm cám ơn người đối thoại đã đưa cho tôi một giải pháp khiến mình có được sự thanh thản cần thiết. Trạm tới không là ngưõng cửa vào địa ngục mà tôi phải cầm gươm đánh nhau với quỷ dữ như mình đã hình dung, trạm tới là bước đầu tôi tập luyện thành người có cái minh triết, nhìn sự kiện trên khía cạnh sâu sắc nhứt để đem lại hạnh phúc cho tất cả người trong cuộc. Cái tôi sẽ không bị xóa tan như mình tưởng mà sẽ phát triển ra cao rộng, bao la hơn khi tôi đem tình thương lại cho con, cho anh ấy, và đem cái nhìn lân mẫn trao đến kẻ thứ ba. Tôi nhắm mắt chìm trong giấc ngủ thoải mái.

Chia tay tôi ở trạm đợi khu A để tôi sang chuyến đi về Florida, anh nói là mình đi về trạm đợi ở khu B nhưng không nói sang chuyến đi về đâu. Trước khi quay lưng anh nhìn vào mắt tôi cười cười, điệu bộ lừng khừng. Tôi biết anh thấy trong đó ánh mắt tươi sáng Mùa Xuân của tôi do anh trao tặng trong chuyến bay vừa rồi.

Cho tới bây giờ tôi vẫn chưa biết tên và cũng không biết anh sống ở đâu, làm gì trên cái xứ Mỹ

to lớn nầy.


Nguyễn Văn Sâm

Tâm bút Xuân Đinh Dậu

Tâm bút Xuân Đinh Dậu


Ở một thời khắc nào đó trong ngày ta bỗng nhớ tới Xuân, nhớ tới Tết. Nhớ tới vì một ai đó nhắc nhở Xuân sắp về;
nhớ tới vì nó đã nằm sẵn trong vô thức của chúng ta, hễ ai nhắc nhở là Xuân, Tết hiện ra ngay; và cuối cùng cũng có thể làm cho chúng ta nhớ tới vì thời tiết, đất trời đổi thay, giao mùa đông lạnh rõ rệt.

Hơn 41 năm rồi, cho dù theo bản năng sinh tồn, cơ thể con người buộc phải làm quen với khí hậu khắt khe ở bên này phần đất của địa cầu đi chăng nữa, thì ta vẫn cảm thấy Xuân sắp về, Tết sắp đến ở bên kia phần đất quê hương với những nhớ thương theo lẽ tự nhiên của con người Việt Nam.

Hơn 41 năm trước chắc chắn không ai trong mỗi chúng ta nghĩ rằng, một ngày nào đó phải lià bỏ quê hương, lìa bỏ những người thân thương, bà con, bạn bè với nhiều kỷ niệm khó quên… để ra đi và không hẹn ngày về. Chắc chắn cũng không ai nghĩ đến một ngày nào đó... họ sẽ tán gia bại sản, lênh đênh trên biển trời mênh mông vô tận, sống chết trong đường tơ kẽ tóc, chỉ vì muốn được sống tự do, được quyền làm người như những dân tộc văn minh khác trên thế giới, đành phải đánh đổi tánh mạng cho cá mập, hoặc nát thân vì những tên hải tặc mặt người dạ thú.

Hơn 41 năm trước chắc không ai nghĩ rằng tập thể người Việt tỵ nạn sẽ san bằng mọi khó khăn và sẽ thành công rực rỡ trên đất người... Thế nhưng 41 năm sau, sự thành công trên đa diện của người Việt, nhờ những đức tính hiếu học, cần cù và thông minh đã làm cho người dân bản xứ phải nể trọng.

Hơn 41 năm dài cứ thế mà trôi qua một cách lặng lẽ, không hề dừng lại ở một điểm hẹn nào để níu kéo tuổi xuân, chống lại sự lão hóa của vạn vật, trong đó con người cũng “chạy trời không khỏi nắng”, nghĩa là đến và đi theo định luật của trời đất -- sanh lão bệnh tử. Thế nhưng, nếu còn hiện hữu thì có mùa xuân nào mà chúng ta không mơ ước được đoàn tụ với gia đình, với bà con thân thuộc, với xóm làng ở quê nhà, nơi đó có những gắn bó thiêng liêng mà lòng ta luôn luôn mơ ước một lần quay về.

Nhiều người đã về để thỏa mãn những nhớ thương vì năm tháng chồng chất trong tận cùng đáy lòng họ. Nhưng khi từ giã quê hương để ra đi thì lại vương vấn, suy tư nhiều hơn, buồn hơn về thảm trạng đổ nát, đau khổ của dân tộc vì xã hội băng hoại đến tột cùng, giặc Tàu đang tràn lan khắp nước, hiện tượng dân tộc bị Hán hóa ngày càng rõ ràng không thể chối cãi.

Thế mà những người cộng sản vô tri vô giác, cai trị đất nước, chỉ vì lợi lộc cá nhân, đã quên bổn phận con dân nước Việt là phải gìn giữ non sông bờ cõi. Và cần nhất là người dân cần được chăm sóc sức khỏe để tránh họa diệt chủng mà đám Hán gian đang giăng mắc hóa chất, đầu độc lan tràn cùng khắp trong đời sống hàng ngày của dân chúng từ Bắc chí Nam. Ôi! Bị diệt hết rồi, còn ai để vùng dậy chống xâm lăng như tổ tiên chúng đã đổ máu xương cho đất mẹ sinh tồn đến ngày hôm nay?

Ngày nay, những chiếc mặt của tập đoàn tay sai Hán cộng đã rơi xuống và lộ rõ nguyên hình họ là những con người máy, được cấy sinh tử phù, chính là những tên thái thú nói rành tiếng Việt. Như thế làm gì họ còn tim óc để yêu thương giống nòi Việt tộc! Công an và quân đội là hai lực lượng có thể đứng dậy xóa bỏ chế độ cộng sản bệnh hoạn, mục rữa, thì họ đã bị vòng “kim cô” đè nặng lên đầu, không thể vùng vẫy được.

Xã hội Việt Nam ngày nay đã hết thuốc chữa, chỉ còn ngồi chờ tử thần lấy mạng… Nhân nghĩa trí dũng của con người đã biến mất từ bao giờ mà chẳng biết. Ai cũng thấy căn nhà Việt Nam hiện nay đang mục nát, xiêu vẹo…chỉ cần vài bàn tay lực lưỡng là có thể xô sập, nhưng chẳng ai có đủ nghị lực, bản lãnh để đứng dậy vung tay hành động!

Hãy nghe một cựu đảng viên (CSVN) Lê Minh Đức nhận định về con người cộng sản là ai. Xin trích một đoạn trong bài viết ngắn: Đảng viên đảng csvn - Ta Là Ai? để chúng ta suy ngẫm:

“Ta là ai? Ta là đảng cộng sản VN. Ta là thứ cặn bã của dân tộc này. Ta là thứ mọi rợ đạo đức giả. Ta là loài khỉ đột đã xua đuổi được mọi nền văn minh để tiếp tục tự sướng với nhau trong bóng tối của thời trung cổ. Và còn nữa? Hãy chờ xem ta sẽ nghiến nát kẻ thù (nhân dân) như đàn anh “Trung Quốc” của chúng ta dùng xe tăng xay thịt nhân dân chúng nó thành thức ăn cho súc vật trên quảng trường Thiên An Môn.

“Ta là quái thai thời đại. Ta không xứng đáng đứng ngang hàng với loài người văn minh trên trái đất này. Thảm họa diệt chủng đã hiện ra trước mắt, không ai có thể cứu được dân tộc Việt Nam khỏi thảm họa này, ngoài 90 triệu người Việt. Mỗi người cần nhìn thấy cái chết đang đến với chính mình và con cháu mình, hãy chuyển tải tin này tới tất cả mọi người, tới mọi tờ báo, mọi phương tiện truyền thông để mọi người cùng biết, cùng nhau đứng lên chống thảm họa diệt chủng đã đến trước mắt, để cả thế giới cùng biết và lên tiếng bảo vệ chúng ta.

“Đúng! Anh có thể lừa dối vài người trong mọi lúc. Anh có thể lừa dối mọi người trong vài lúc. Nhưng Anh không thể lừa mọi người trong mọi lúc. (Abraham Lincoln) (hết trích)

Biết cộng sản tàn bạo, xảo trá, láo lường, đểu cáng, thất nhân tâm, đủ thứ xấu xa như vậy… nhưng vẫn còn nhiều kẻ tiếp tay giúp bọn này trong âm mưu phá tận gốc giống dòng lạc Việt, còn lưu lạc nơi xứ người sau biến nạn 1975, cho gọn. Thế đó, họ hồ hỡi tung ra từng đợt tấn công vào tập thể người Việt chống cộng qua chiêu bài “giao lưu văn hóa”, sử dụng văn nghệ, mạo danh vai trò truyền thông, văn hóa, sử dụng toàn chữ nghĩa của thời “xã nghĩa”, ngụy trang dưới mục tiêu thương mại, nhưng khi đủ lông đủ cánh thì họ “xung phong ra trận” và sẵn sàng tròng “dây xích” bằng nhiều cách vào thành phần đấu tranh chống chế độ Việt cộng tay sai của Tàu Cộng. Có thể những người xông xáo ngoài cộng đồng đã biết thâm chiêu của CSVN, nhưng vì tư lợi, vì tự ái vặt, hoặc vì mục tiêu chính trị bất chánh nên sẵn sàng “giao lưu”, quay mặt với chính họ trong tư thế của một con dân Việt Tộc bình thường.

Đúng là “Thời thế, thế thời nên họ phải thế”. Chắc chắn chúng ta đã nhận diện được rồi. Những chiếc mặt nạ ngụy trang ấy đã rơi xuống. Nhân chứng cho những trò đời phản bội vẫn còn đó. Những cuộn băng, những trang giấy trắng mà mực đen vẫn còn đậm nét sờ sờ ra đó… chắc chắn sẽ khó phai mờ khi đất nước hồi sinh trong ánh sáng tự do. Có cần để bàn cãi nữa không? Không! Đã quá đủ để chúng ta thấu hiểu tâm đen của họ. Vậy chúng ta cần phải cẩn thận, tích cực hơn nữa, cảnh giác hơn nữa để tránh những hiểu lầm đáng tiếc xảy ra do họ gài bẫy để tạo chia rẽ. Thời nào cũng có kẻ chánh người tà; những tên tà tay sai của CSVN đâm vào lưng chiến hữu, bạn bè... sẽ phải trả giá theo luật nhân quả.

Thế nhưng trời bất dung gian, chiến dịch tuyên vận bằng tuyên vận trá hình trong nhiều năm qua đã bị tập thể người Việt hải ngoại bẻ gãy. Bằng chứng là cán bộ tuyên vận của họ đi tới đâu cũng bị người Việt chống đối. Họ có thể đạt được tí mục tiêu là gây chi rẽ trong khối người Việt hải ngoại, tạo thêm nhọc nhằn cho anh chị em tiên phương trước công cuộc đấu tranh chống Cộng; nhưng mặt khác, họ đã hoàn toàn thất bại về mặt tuyên truyền “giao lưu văn hóa” bịp bợm, xảo trá.

Quê hương vẫn còn đó! Nhiều người Việt di xứ vẫn chưa về thăm quê mẹ sau hơn 41 năm xa cách vì thái độ chính trị, ý thức chính trị, hoặc vì tự lòng mình chưa cho phép trở về v.v... Nhưng chắc chắn những nhớ thương quặn thắt, xen lẫn vạn nỗi lo lắng về một quê hương chìm trong khổ đau, nghiệt ngã, vẫn ray rứt mãi trong tận cùng đáy lòng của họ.

Có mùa xuân nào mà chúng ta không ngóng trông một cơn bão chánh trị đột biến để có thể đổi thay tình trạng đất nước từ ngục tối bước ra ánh sáng bình minh? Có mùa xuân nào mà chúng ta không ước mơ một quê hương tự do, giàu mạnh, văn minh để chúng ta ngẩng mặt hãnh diện với những người bạn khác giống trên địa cầu này? Ôi! Càng nói càng đau lòng!

LỜI KẾT

Xuân Đinh Dậu là cơ hội cuối cùng để những người Cộng Sản phải tỉnh thức, hồi tâm, lìa xa bùa mê thuốc lú của chủ nghĩa vô thần cộng sản, dứt khoát vứt bỏ vòng “kim-cô” của Tàu cộng, quay về với bản chất hiếu hòa, đạo nghĩa, lương thiện, nhân bản của giống nòi Việt tộc. Quay về để cơn đau của đất mẹ được xoa dịu, những hận thù được xóa tan, cùng góp tay nhau xây dựng lại quê hương rách nát, dựng lại con người đã bị tha hóa, vong thân trong gần một thế kỷ qua vì thực dân, phong kiến và đại họa cộng sản.

Năm Bính Thân đã đi qua với nhiều thiên tai, nhân tai, giáng họa lên nhân loại, lên đất nước Việt Nam nhỏ bé, nhiều bất hạnh của chúng ta. Đinh Dậu, năm con gà, “Thân Dậu niên lai kiến thái bình”. Những con gà bệnh hoạn sẽ phải chết tiệt vì bệnh toi. Những con còn lại, với tinh thần và ý chí dũng mãnh, bất khuất, đạo hạnh, một lòng với tổ tiên, nòi giống …sẽ sống sót và cất cao tiếng gáy, đón chào một bình minh rạng rỡ trên quê hương Việt Nam. Tự Do Dân Chủ tất sẽ bùng nổ lớn mạnh trong năm 2017, bắt nhịp cầu cho một cuộc cách mạng dân tộc hồi sinh, mà 90 triệu người dân đã chờ đợi để nhập cuộc trong gần một thế kỷ qua. Xuân Đinh Dậu! Dậy mà đi! Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi!

Trương Sĩ Lương

Bài Xem Nhiều