We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog Archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Thursday, 9 February 2017

Lênh đênh kiếp thương hồ

Phan Trường Giang - Giai Phẩm Người Việt Xuân Đinh Dậu
“Bớ chiếc ghe sau chèo mau anh đợi,Kẻo giông khói đèn, bờ bụi tối tăm.”
Hơi hướm của câu hò hiện lên trước mắt ta một vùng sông nước mênh mang trong đêm khuya thanh vắng, sương đẫm “nhánh bần gie con đốm đậu sáng ngời.” Khách thương hồ mượn câu hò để tìm bạn tâm tình cho quên nỗi mệt nhọc, bớt sự cô đơn trong quãng đường xa. Người bạn đường thường chỉ trong một quãng ngắn, hay trong một đêm thôi rồi mỗi người chia tay mỗi ngả trên muôn nẻo mưu sinh. Cũng có khi lại gắn bó đời đời của một đôi trai gái, bởi cái ”duyên tiền định.”
Bạn thương hồ, họ là ai? Có đủ hạng người, đủ hoàn cảnh nhưng gom lại thì giống nhau ở đường sinh kế vì manh áo chén cơm, chấp nhận cuộc sống du thủ du thực với gạo chợ nước sông, ngược xuôi trên những nẻo đường sương gió.
Bạn thương hồ là những người buôn bán đường dài trên sông, nơi nào có sông nước là có bạn thương hồ.
Vậy phương tiện di chuyển của họ gồm những gì? Bảnh một chút thì sắm những loại ghe lớn như ghe lườn, ghe cui, ghe rỗi, ghe cà vom… mui lợp ván chắc chắn, chịu được nắng mưa. Hạng kế thì sắm ghe tam bản be kèm, lợp mui giả khung bằng nan tre đan bện lá dừa nước. Nghèo nữa thì là chiếc xuồng ba lá.
Ghe, xuồng ngoài việc dùng để chở hàng hóa, sản vật còn là chỗ sinh hoạt nấu nướng, ăn ngủ. Ngày nay tiến bộ hơn, hầu hết ghe thương hồ chạy bằng máy có nhiều sức ngựa, còn ngày trước phải dùng sức người chèo chống.
“Bìm bịp kêu nước lớn anh ơi. Buôn bán không lời chèo chống mỏi mê.”
Lênh đênh kiếp thương hồ
Ghe lớn họ phải dùng chèo đôi, kẻ chèo mũi người chèo lái. Có vài sáng kiến chạy buồm: Nếu nước xuôi nhưng gặp gió ngược, người ta chặt một gốc bần ở ven sông, để nguyên chà chôm rồi cột dây neo trước mũi. Nước chảy lôi thân cây kéo theo chiếc ghe chạy te te. Người chèo rảnh tay hút thuốc phì phèo, hứng chí “quất” luôn mấy câu vọng cổ.
Cách khác là chạy buồm mền: cột bốn góc mền căng giữa hai cây sào nhờ gió đưa đi. “Nước xuôi chạy gió buồm mền, muốn vô làm bé, biết bền hay không?” Còn một kiểu “buồm” rất ngẫu hừng là dựng một tàu lá dừa nước ở giữa xuồng, cắt một người chịu khó giữ cho vững, người sau lái vừa nằm tréo ngoảy vừa dùng chèo kềm lái mà ngắm mây trời cảnh vật. Ðôi khi sự phát triển của kỹ thuật hiện đại cũng làm biến mất những nét duyên dáng nên thơ rất hồn nhiên mà bây giờ người ta hay nói là “xóa bỏ những cái cũ, lạc hậu”!
Là bạn với sông hồ, rày đây mai đó với cỏ cây, trời trăng mây nước, bạn thương hồ sống rất “ruột gan,” thích giao tiếp, kết bạn “tứ hải giai huynh đệ,” hiểu là sống có điệu nghệ, theo nhà văn Sơn Nam tức đạo nghĩa, nói trại ra. Có thể ví họ như những gã cao bồi đáng yêu của miền sông nước Nam bộ.
***
Trong những hành trình ngược xuôi ngang dọc, trải qua bao vật đổi sau dời, nhưng khách thương hồ vẫn còn để lại khá nhiều dấu nét văn hóa đặc thù ở vùng đất phương Nam mà ta còn gọi là nền văn minh sông nước.
Miền Tây hay Ðồng Bằng Sông Cửu Long có khoảng 18 ngàn km chiều dài sông rạch, đan xen chằng chịt như mạng nhện. Sông nước là cái gốc của miền đất cuối trời tổ quốc này, nhưng nếu một ngày vắng bóng xuồng ghe thì nó sẽ là những con sông chết.
Từ bên bờ Tây sông Hậu xuôi về hướng Nam theo những con sông, ta bắt gặp một vài địa danh gọi Bến Bạ. Bạ có nghĩa ở đậu ở bạ, kiểu ăn ở xổi ở thì, thiếu căn cơ, chắc chắn. Tìm hiểu kỹ hơn trong dòng sách lịch sử khẩn hoang miền Nam, mới hiểu ra căn cớ. Trong dòng người xuôi về phương Nam “tìm miền đất mới,” có đủ thành phần trừ người dân trơn rời bỏ quê xứ đến những kẻ phản nghịch, trốn lệnh tróc nã của triều đình, những kẻ trốn xâu lậu thuế… Kế đến là những bạn thương hồ “thóc đến đâu bồ câu đến đó.”
Lênh đênh kiếp thương hồNhững kẻ tứ chiếng gặp nhau, họp lại thành từng đoàn xuồng, khi gặp một bãi sông thuận tiện họ neo đậu lại ăn uống, nghỉ ngơi đôi ba hôm rồi sau đó nhổ sào đi tiếp. Cứ vậy đến những đoàn người sau. Cái bãi sông không lúc nào vắng bóng xuồng ghe. Lần hồi tại đây mọc lên một cái tiệm hàng xén, rồi vài căn nhà, kiểu “nhà đá, nhà đạp” (đá, đạp một phát là sập) xây dựng tạm bợ. Sau nữa thành một xóm nhà. Dân bản địa cứ thế mà đặt tên Bến Bạ.
Dấu ấn đậm nét nhứt của dân thương hồ là việc “lập” ra các chợ nổi “vang bóng một thời” khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh. Việc lập chợ này theo kiểu tự phát, do nhu cầu giao thương mua bán, trao đổi hàng hóa và những sản vật “cây nhà lá vườn.” Những chợ nổi sầm uất điển hình (ngày nay nhiều chợ không còn nữa) là chợ nổi Lục Sĩ Thành (Trà Vinh), chợ nổi Cái Răng, Phong Ðiền (đều ở Cần Thơ) và chợ nổi Ngã Bảy Phụng Hiệp, cũng là của Cần Thơ.
Nét độc đáo của chợ nổi được ta hình dung như một ngôi làng di động lúc hợp lúc tan, có khi vơi lại có khi đầy và lung linh nhiều màu sắc của trái ngọt, hoa tươi, của nón lá, áo bà ba bó sát vóc người đầy đặn của các cô thôn nữ.
Trước mũi ghe, bạn hàng dựng những cây sào treo lủng lẳng nào bầu, bí, dưa leo, khóm, chuối, bưởi, cam… Bán gì treo đó, kiểu tiếp thị trông rất bắt mắt. Chợ sung túc nhất vào mùa cận Tết, rồi sau đó bạn thương hồ nhổ sào rời đi mỗi người mỗi ngả, tiếp tục rong ruổi trên những nẻo đường dài đến bến bờ khác.
***
Một loại hình văn hóa phi vật thể đã lần hồi mai một, có nguy cơ biến mất trong nay mai. Ðó là những điệu hò trên sông nước. Từ vùng sông nước nó đi ra đồng ruộng trở thành những điệu hát huê tình. Rồi từ đồng ruộng nó trở vào nhà biến thành những câu hát đưa em.
Ở vùng miệt vườn người ta sáng tạo ra vài điệu hò riêng: hò Mỹ Tho, hò Cái Bè, hò Cần Thơ, Ngã Bảy. Ở Cần Thơ còn có điệu hò bánh bò: “Hò ơ…ơ… Bánh bò một vốn ba bốn đồng lời. Em khuyên anh ở nhà cứ việc ăn chơi. Ðể em buôn bán kiếm lời nuôi anh.” Hò miền Nam thường theo điệu thơ lục bát hoặc lục bát biến thể khá trơn bén, theo niêm luật. Hò trên sông hoặc hò cấy lúa thường dài thậm thượt nhưng lời lẽ hồn nhiên, mộc mạc, lời văn có lúc là trích trong sách Minh Tâm Bửu Giám hoặc tuồng tích bên Tàu với lời lẽ cao siêu khiến người đối đáp “yếu bóng vía” đôi khi “ế độ.” Khó nhứt là lời lẽ, ý tứ không sắp đặt trước như hát cải lương, hát bội, nghĩa là không có “bổn tuồng,” đòi hỏi người hò phải lanh trí, biết ứng đối giỏi.
Lênh đênh kiếp thương hồHỏi ai đã khai sinh ra những điệu hò này? Thì đố ai dám nói không phải của những người bạn thương hồ. Họ dùng câu hò để tạm thời quên đi những cay đắng, truân chuyên của số kiếp con người. Khi cất lên tiếng hò thấy lòng người bỗng trở nên trong sạch, không chút bợn nhơ, hồn lâng lâng bay bổng như đang vào chốn bồng lai. Nhờ đó mà điệu hò câu hát cứ sống mãi, ít ra là trong một đời người.
***
Vật đổi sao dời. Ðá mòn sông cạn – “Trần ai chớp mắt trăm năm mộng” (Ðông Hồ). Dòng xoáy của phát triển không thương tiếc phá bỏ những cái cũ, nhưng lại quên rằng cái cũ – đôi khi là một vật vô tri lại là cái kho tàng vô giá của lịch sử nhân loại. Máy móc tân tiến làm biến mất những cánh buồm nên thơ, duyên dáng âu là chuyện phải đến. Nhưng còn sự xâm lấn ồ ạt của các loại nhạc xa lạ, rẻ tiền đang lần hồi giết chết dòng nhạc truyền thống trữ tình, đầy tính nhân văn của dân tộc là chuyện nên suy nghĩ và toan tính.
Những chợ nổi lần hồi biến mất, vắng bóng khách thương hồ. Những giọng hò trong trẻo trong đêm khuya thanh vắng, rồi những câu hát đưa em giờ chỉ còn trong ký ức của một thời xa lắc.
“Linh đinh bèo nước biết về đâu?Ðậu bến An Giang thấy những rầu.Bảy Núi mây liền, chim nhíp cánh,Ba dòng nước chảy, cá vênh râu…”
Cụ Cử họ Phan đã cám cảnh người khách thương hồ bằng mấy câu thơ trên nghe sao động lòng trắc ẩn!
Muốn tìm lại quá khứ, quá khứ bỗng xa dần. Hỏi bến cũ còn nhớ con đò xưa? Hỏi khách thương hồ giờ đi đâu, về đâu? Những điệu hò giờ đi đâu, về đâu? Nghe buồn buồn như giọt nước lìa nguồn trôi xa miền cố thổ.

http://www.nguoi-viet.com/viet-nam/baoxuan-lenh-denh-kiep-thuong-ho/

CÁI TÚI BÙA



CÁI TÚI BÙA
----- Vũ Lâm -----
(Trích đăng nguyệt san Con Ong Việt số 27 tháng 4, 2002)
 

------------------------------

Bây giờ Lâm đã gần sáu mươi, quá nửa đời người. Nhìn lại quãng đời đã qua đôi khi anh có cảm giác sợ sợ, hình như có một vị thần linh nghiêm khắc vẫn đi theo anh, trừng phạt, nhưng che chở, không cho hưởng bình yên, an lành mà bắt đời anh phải thăng trầm. Vị thần linh đó cho anh những may mắn, nhưng không cho trọn vẹn mà cũng không để anh xui đến tận cùng, đưa đến phong ba bão táp, rồi đỡ anh dậy khi đuối sức, đẩy anh đến với hiểm nguy, nhưng lại cứu anh ra khỏi đường cùng. Không biết ngài có phải là thần hộ mạng của anh từ lúc mới sanh ra đời mà mẹ anh thường kể là đã cứu anh thoát chết ngày bé, cứu anh khỏi cảnh tàn tật suốt đời?. Hay vị thần linh đó ở trong cái “Túi Bùa” mà mẹ đã cho anh ngày tốt nghiệp Võ Bị để hộ thân trên bước đường binh nghiệp? Cái “Túi Bùa” mà anh đã coi thường, xử tệ. Cái “Túi Bùa” đã theo anh suốt đoạn đời binh nghiệp, nhưng chỉ có một lần, một lần duy nhất anh đeo vào cổ, đốt dần hết ba lá bùa bên trong để cầu xin một điều, trong những ngày anh bỏ nước ra đi, “Tháng Tư Đen” .

***
Cái túi bùa trong ngày mãn khóa

Mẹ của Lâm đã lên Đà Lạt từ mấy hôm trước để dự lễ mãn khóa và đón anh về. Phong cảnh đẹp của núi đồi Đà Lạt, cái lạnh dìu dịu, lại thêm các cô cháu gái đi theo lúc nào cũng tíu tít bên cạnh, đùa dỡn, cười vui khiến bà cũng vui lây, quên đi những âu lo khi nghĩ đến con đường chinh chiến gian nguy mà con bà sắp phải đi qua sau ngày mãn khóa.
Ngày đầu tiên mới lên ĐàLạt mẹ đã hỏi anh:
- Con đã biết sẽ đi đâu, đơn vị nào chưa? Sao ở Sài Gòn người ta đồn con đi “lính thủy đánh bộ”.
Lâm lôi ra cái nón nâu hãnh diện khoe với mọi người:
- Chắc mấy thằng nằm vùng đồn nhảm, con đã chọn Biệt Động.
Rồi anh kể huyên thuyên cho mọi người nghe câu chuyện chọn binh chủng, khó khăn lắm, ma mãnh, bon chen lắm mới dành dựt được cái binh chủng “mũ nâu” này đấy! chỉ có ba binh chủng nón mầu, đồ rằn thôi, còn lại là các sư đoàn bộ binh sẽ được chọn sau ngày mãn khóa.
Lâm hăng say và vui quá, nói cười huyên thuyên mà không để ý đến mẹ, đôi mắt trĩu buồn nhìn anh, im lặng với cái cau mày khó chịu.
Đêm trước ngày mãn khóa, Mẹ anh và các cô cháu vào trường dự lễ truy điệu. Ngồi trên khán đài bà cố tìm trong hàng quân xem con mình đứng đâu nhưng đành chịu. Các Sinh Viên Sĩ Quan trong hàng uy nghi, ai cũng giống nhau, đại lễ mùa đông bằng dạ màu “ô-liu” , nón và quai trắng che gần hết khuôn mặt, kiếm tuốt trần, lưỡi lê đầu súng sáng loáng và cờ xí rập trời. Bắt đầu buổi lễ, bà vui lắm, cười nói luôn miệng với các cháu. Đêm Đà Lạt lạnh buốt âm u, những ánh đuốc bập bùng quanh đài tử sĩ, tiếng gió rít từ rừng núi quanh trường vọng lại, như tiếng oan hồn tử sĩ đang trở về với trường mẹ khiến bà im lặng dần, rùng mình thấy âm khí bao quanh Vũ Đình Trường. Khi đèn tắt hết chỉ còn ánh sáng lung linh của những ngọn đuốc, chiêng trống, tiếng gió hú nhỏ dần rồi tiếng vọng âm vang như đến từ bên kia thế giới:
. . . . phút chốc liệt vị đã trở nên người thiên cổ. . . .
Bà bắt đầu khóc, tiếng khóc lớn dần rồi nức nở.
Tiếng sáo và giọng ngâm lại nổi lên:
Mô đất lạ chôn vùi thân bách chiến . . . .
Bà đã khóc đến tận cùng cảm xúc, các cô cháu gái đã phải ôm lấy bà. Bà khóc suốt trên con đường về và suốt đêm hôm đó.

Nhưng mẹ của Lâm lại vui ngay ngày hôm sau khi dự lễ mãn khóa. Vui với tiếng nhạc quân hành, tiếng hát xuất quân. Vui với những hùng tráng của hàng quân cờ xí rợp trời, rừng kiếm vung cao sáng loáng và say mê theo dõi những nghi lễ cổ truyền của trường Võ Bị, nhất là khi thủ khoa bắn tên đi bốn phương trời, mẹ cười tươi khi thấy hoa mai nở trên vai áo các tân sĩ quan.
Ngay giữa sân doanh trại Sinh Viên Sĩ Quan, khi chuẩn bi dự tiếp tân trong phạm xá. Mẹ anh mở cái gói nhung mầu đỏ, lấy ra một sợi dây ngũ sắc có cái túi vải nâu, nhỏ bằng ngón tay cái, quàng vào cổ Lâm.
Anh vừa ngượng với người yêu, với các bạn gái của cô em họ, vừa xấu hổ với bạn bè cùng khóa đang đứng vây quanh. Anh dằng mạnh, chui đầu ra khỏi “sợi dây chuyền quái dị” càu nhàu:
- Mẹ! mẹ làm gì kỳ vậy?
Mẹ nhìn anh ái ngại:
- Chiến trường đang sôi động lắm! . . . đường tên mũi đạn, ai biết đâu mà tránh. Mẹ vẫn cầu xin cho con, mẹ thỉnh cho con cái tượng Phật làm bằng nanh heo rừng để trong cái túi này, có ba lá bùa nữa, khi nào nguy hiểm khốn cùng, con đốt một lá để cầu xin, thần hộ mạng sẽ phù hộ cho con tai qua nạn khỏi.
Lâm trả lại cho mẹ sợi dây, vùng vằng:
- Mẹ! mẹ cứ đi lễ bái, tin dị đoan! Số con thọ lắm, sau này “làm tướng” mà mẹ.
Mẹ mắng yêu như ngày anh còn bé:
- Cha mày! . . . thằng cứng đầu . . . đồ rắn mắt . . . Tướng gì? . . .Tướng cướp!
Lâm quay sang nói với các bạn như để chữa thẹn:
- Sống chết đã có số mạng, chết thì ở nhà bị chó cắn cũng chết, xe đụng chết, tắm ao, tắm hồ chuột rút cũng chết đuối. Thi sĩ, thơ thẩn, vừa đi vừa mơ mộng làm thơ . . . đụng cột đèn cũng chết cơ mà, phải không tụi mày?
Mọi người cười vui, không ai để ý đến nét lo âu trên mặt người mẹ có đứa con trai sắp đi vào vùng lửa đạn.
Đó là lần đầu tiên Lâm thấy cái “túi bùa”.

***
Linh Nghiệm đầu.

Sau lễ mãn khóa Lâm không ở lại trong trường để chọn đơn vị. Anh ra phố với mẹ và các em, huênh hoang với bộ dạo phố worsted, lon thiếu úy trên cầu vai đen và cái nón nâu Biệt Động. Nắng ấm Đà Lạt, trời xanh, núi đồi xanh, nước Hồ Xuân Hương xanh biếc, người yêu của anh nơi đây, thành phố này, thành phố thương yêu của anh, anh phải cố thâu hết những hình ảnh êm đẹp này vào ký ức trước khi rời xa. Bên mẹ, bên người yêu và các em, anh vui lắm, cười nói huyên thuyên. Cho đến khi mấy người bạn cùng chọn biệt động hớt hải đến báo tin:
- Lâm ơi! chết mày!. . . không thấy tên mày trong danh sách 32 thằng biệt động.
Lâm cười chửi thề:
- Mẹ … tụi mày diễu dở … Tao đứng thứ 21 trong danh sách, đâu phải dự khuyết mà tụi mày hù.
Thấy vẻ nghiêm trọng của các bạn, Lâm biết họ nói thật, anh bắt đầu lo và nghĩ thầm: Không có trong danh sách Biệt Động Quân, bỏ không chọn đơn vị thì chỉ có nước đi vùng khỉ ho cò gáy, sư đoàn 3 tân lập mà thôi … tàn đời binh nghiệp rồi!
Anh bỏ mẹ và các em ngay giữa khu chợ Hòa Bình, mượn chiếc Honda Dame chạy vội vào trường với tất cả lo âu hồi hộp.
Đọc đi đọc lại trên bảng Biệt Động Quân không thấy tên mình, Lâm run lên, đầu óc choáng váng, không biết số phận mình ra sao? về đâu? đi đâu?. Đọc hết danh sách các đơn vị, sư đoàn, cả sư đoàn 3 cũng không thấy có tên.
Ngay vừa lúc hai người lính kéo ra hai bảng danh sách những tân sĩ quan đi về quân chủng không quân và hải quân. Lâm thấy tên mình thứ ba trong danh sách Hải Quân. Đột ngột, ngỡ ngàng, anh lặng người, đầu óc trống rỗng không kịp suy nghĩ gì cả.
Khi ra phố gặp lại mẹ và các em. Trong vui buồn lẫn lộn anh cười nói với mẹ:
- Con lọt về Hải Quân mẹ ạ … Hải Quân kiểu này chắc là Hải Quân mắc cạn, Hải Quân trên núi!
Lâm thấy ánh mắt mẹ sáng hẳn, nỗi vui mừng ngập tràn trên nét mặt trên môi cười. Mẹ ôm quàng cả hai tay qua cổ anh:
- Mừng cho con, Hải Quân an nhàn, ít nguy hiểm hơn con ạ. Mẹ chỉ còn mình con. Con có Trời Phật phù hộ có thần hộ mạng luôn ở bên con. Mẹ vẫn cầu xin cho con an lành từ ngày con trốn nhà đi Võ Bị.

***
Linh nghiệm trên sông - Giang đoàn.

Lâm vừa chào mẹ, vừa dắt chiếc Honda ra cửa định đi. Mẹ anh gọi dật lại:
- Lâm, hôm nay phải ở nhà ăn cơm, mẹ nấu canh cua rau đay, cá kho khế ngon lắm.
Anh nhăn nhó:
- Mẹ, con có hẹn đón Phượng lúc tan sở đi ciné, đi ăn mà mẹ. Trước khi ở căn cứ về con có gọi điện thoại hẹn trước rồi. Hôm nay con sẽ về sớm, mà mẹ cứ đi ngủ trước đi, đừng chờ con.
Mẹ anh nghiêm sắc mặt dằn từng tiếng:
- Lần nào con về cũng tắm rửa vội vàng rồi đi chơi thâu đêm suốt sáng. Nếu lần này không ở nhà ăn cơm thì … con đi luôn đi! Con cứ ở luôn dưới căn cứ, muốn đi chơi đâu thì đi, khỏi cần về nhà nữa.
Chưa bao giờ Lâm thấy mẹ quyết liệt như lần này, anh nài nỉ:
- Tối nay thôi, ngày mai con ở nhà với mẹ cả ngày, chiều mới xuống căn cứ mà. Mẹ muốn đi chùa, đi thăm ai mai con sẽ đưa mẹ đi.
- Thôi … ông tướng! lần nào cũng nói láo, tôi không cần đi đâu cả, nhưng tối nay “ông tướng” phải ở nhà, tôi có vài chuyện cần hỏi.
Anh vẫn nài nỉ:
- Để người ta đợi tội nghiệp mà mẹ.
- Tan sở không thấy con đón, năm mười phút nó cũng phải về thôi.
Lần đầu tiên anh thấy mẹ giận dữ , linh tính cho biết có chuyện gì quan trọng lắm mẹ mới quyết liệt như lần này. Anh dùng dằng muốn đi mà không dám.
Lâm và mẹ vào bàn ăn, nét mặt mẹ bình thản, im lặng không nói một lời cho đến gần cuối bữa mẹ mới vào đề:
- Con nói dối mẹ hơn một năm rồi! con nói ở giang đoàn con ngồi phòng hành quân an nhàn như công chức phải không?. Con biết không …. hôm qua thím Hải đem cho mẹ xem tờ Thế-Giới-Tự-Do có bài phỏng vấn và có hình con đứng chống nạnh bên cạnh mấy cái xác Việt Cộng, thím hỏi: “cụ ơi! có phải là cậu Lâm đây không?”. Tại sao con nói láo mẹ? Phải cho mẹ biết để mẹ cầu an cho con. Cái tượng Phật mẹ cho, con để đâu, cho ai, cả năm nay mẹ không thấy … ?
Lâm ngắt lời mẹ:
- Mẹ à, đi Hải Quân, chữ thọ to bằng cái đình rồi mẹ, bạn bè con cả năm nay hành quân liên miên, chiến trận nặng nề, cố đại úy cũng nhiều rồi mẹ ạ! con là tốt phước lắm đấyï, con trai nhờ phước mẹ, mẹ còn cầu gì hơn nữa! Con kể chuyện chiến trận cho mẹ đâu có lợi ích gì, chỉ khổ cho mẹ ngày đêm phải lo sợ, béo mấy thầy mấy đền, moi hết tiền của mẹ thôi. Còn cái “Túi Bùa” mẹ cho, con vẫn cất trong cái hộp đựng đồ kỉ niệm của con để ở dưới căn cứ. Không lẽ “võ quan” đi chơi với đào, mẹ bắt con đeo lòng thòng cái “túi bùa” trên cổ như cu Tí, cu Tèo mặc quần thủng đít, thò lò mũi xanh ở nhà quê.
Lâm chợt liên tưởng đến những may mắn lạ kỳ suốt gần hai năm phục vụ ở giang đòan. Mỗi lần có biến cố đặc biệt, có thiệt hại lớn là anh vắng mặt vì những dẫn dắt vô hình, hoặc vì lệnh thay đổi vùng, hoặc vừa mãn phiên tuần tiểu, hoặc bị biệt phái đi hộ tống cho tiểu khu. hoặc nghỉ phép. Một lần dẫn hai chiến đỉnh trên đường về, chạy khơi khơi vô ý, bị chơi lén một trái B40, vỡ banh mũi chiến đỉnh, cố vấn Mỹ bị thương, xạ thủ đại liên trước mũi chết, trung sĩ thuyền trưởng bị thương nặng, xạ thủ đại liên sau lái bị nhẹ, còn anh bị sức dội hất văng xuống sông vô sự. Ngược lại những lần có “ăn ngon”, “hốt trọn” là anh lại có mặt hoặc được đưa đẩy tới.
- Con không được ăn nói xàm xỡ, có tin, có lành. Ăn ở phải có đức, mẹ thấy con hoang đàng hư đốn, ngỗ nghịch từ ngày đi lính. Cặp hết cô này đến cô khác, hứa hẹn làm khổ người ta là mang tội đấy con! Bây giờ “quả báo nhãn tiền” chẳng phải đợi đến kiếp sau đâu. Mấy hôm nay cô Thủy, cô Phượng, cô Dung đến chơi, hỏi thăm xem hôm nào con về. Tuần trước Bé Phương ở ĐàLạt xuống thăm mẹ, có ý đợi con quyết định đấy. Sống phải thủy trung, ai cũng được nhưng chỉ được một người thôi. Già cái đầu rồi, lấy vợ đi là vừa. Mẹ ở nhà một mình, lúc ốm lúc đau chỉ biết trông nhờ hàng xóm.
Lâm dịu giọng:
- Mẹ khỏi phải lo, con sắp sửa có lệnh thuyên chuyển lên Hạm đội. Đi mút chỉ ngoài biển ít khi về Sài Gòn lắm. Có tìm đỏ mắt cũng không thấy được một thằng Việt Cộng, chữ thọ còn lớn hơn mấy cái building, mẹ khỏi cần cầu xin gì cả. Mà . . . con có hứa hẹn với ai đâu, chỉ bạn bè đi ciné, đi ăn thôi mà. Có cô nào dại dột rớ tới con đâu, lương lính tháng nào sạch tháng đó, đi quanh năm ngày tháng, cưới về nằm không ở nhà, tối ngày nghe mẹ càu nhàu chắc mau tàn nhan sắc.
Thấy mẹ có vẻ buồn, im lặng, Lâm kể tránh sang chuyện khác làm vui:
- Mẹ à, chiều hôm qua đi tuần về, đến ngã ba sông Đồng Nai, con cột chung ba quả lựu đạn chống người nhái, ném xuống sông, định kiếm vài con cá chẽm, hôm nay mang về cho mẹ và làm quà bên nhà Phượng. Ai ngờ đâu trúng ngay đàn cá sơn nhỏ bằng bàn tay, cá chết trắng cả sông, cả triệu con, sóng đánh dạt vào hai bên bờ sông, ánh nắng chiều phản chiếu, lấp lánh sáng như hai viền bạc, dân chúng chung quanh đổ ra sông mang rổ, mang thùng lượm cả buổi.
Mẹ dằn mạnh chén cơm xuống bàn, đứng dậy mắng:
- Tiên sư cha mày … trời ơi! … “ Ông tướng nhà trời” … hôm qua ngày rằm tháng bẩy, lễ xá tội vong nhân, tao đi lễ suốt ngày, mua thả phóng sinh được hơn chục con chim sẻ. “Ông Tướng” ở ngoài sông giết cả triệu con cá!!!
Đêm đó, anh ngủ mơ màng trong tiếng chuông, tiếng mõ và tiếng mẹ tụng kinh, có tiếng cầu xin của mẹ, có hình ảnh cái “túi bùa” mẹ đeo vào cổ anh ngày mãn khóa.

***
Chuyến hải hành cuối cùng và “tháng tư đen”

Khoảng giữa tháng tư năm 1975. Tình hình miền Trung rối loạn, tin tức trên báo chí dồn dập về những bi thảm của cuộc di tản ở Huế và Đà Nẵng. Đà Nẵng rồi Ban Mê Thuộc đã mất … Dân chúng Sài Gòn xôn xao bàn tán với những tin đồn không rõ thực hư. Chiến hạm của Lâm nhận lệnh ra khơi đi trấn giữ quần đảo Trường Sa.
Khi dây số 2, số 3, số 4 rồi dây số 1 lần lượt kéo về tầu, chiến hạm từ từ tách bến. Đứng trên đài chỉ huy cao, Lâm thấy dáng vợ bé nhỏ, chịu đựng, đứng dưới cầu tầu, một tay vịn chiếc Honda, một tay vẫy vẫy chiếc khăn trắng từ biệt. Anh biết Yến khóc, lần nào tầu rời bến mà Yến chẳng khóc! mẹ vẫn kể, nó khóc mấy ngày đêm. Bao nhiêu chuyến ra khơi từ ngày cưới nhau là bấy nhiêu lần Yến khóc. Chiến hạm xa dần, ra giữa dòng sông, thủy thủ đứng dọc theo thành tầu để chào bến. Con Tầu xuôi về hướng Khánh Hội. Đi ngang nhà hàng Mỹ Cảnh, trên đài chỉ huy Lâm nhìn qua ống nhòm lại thấy Yến, Yến đứng trên nhà hàng Mỹ Cảnh bên mé sông với chiếc áo dài xanh, vẫy vẫy chiếc khăn trắng … Làm sao mà em chạy theo tầu anh được! dù em có chạy hết bến sông này thì cuối cùng mình cũng phải xa nhau! anh sẽ ra với biển khơi, em ở lại nhà với con với mẹ, với trăm mối tơ sầu.
Lâm và Yến hình như đã linh cảm thấy có điều gì bất lành trước ngày khởi hành. Nhưng không ngờ rằng, chuyến đi ấy lại là chuyến đi định mệnh. Con tầu rời bến rồi chẳng bao giờ trở lại bến cũ như bao lần ra đi. Cả tuần trước Yến vẫn âm thầm chuẩn bị cho chồng như những chuyến ra khơi ngày trước, những cây thuốc lá, những thùng sữa, thùng mì, đường và đậu đen, Lâm vẫn thích nấu chè để ăn đêm! Có đêm không hiểu Yến đã linh cảm thấy gì ở khúc quanh định mệnh sắp đến? nàng nửa đùa nửa thật cụng sát mặt vào mặt anh, như để nhắc nhở, nàng ngâm khe khẽ câu ca dao:
Đi đâu cho thiếp theo cùng
Đói no thiếp chịu, lành lùng thiếp cam . . .
Lâm cũng đã cẩn thận dặn dò:
- Nếu Sài Gòn có biến em cố gắng đưa con và mẹ ra Vũng Tầu, anh ở ngoài biển anh dễ đón hơn, chiến hạm lớn vào sông khó khăn. Hoặc nếu khẩn cấp, cố đem mẹ và các con vào bộ tư lệnh Hải Quân, tìm các bạn anh giúp đỡ, ra được đến biển chắc chắn anh sẽ liên lạc được và mình sẽ gặp nhau.
Chiến Hạm từ Trường Sa được gọi về đảo Phú Quý, có tin Việt Cộng đã kéo cờ trên đảo. Chiến hạm Lâm và vài chiến hạm bạn kéo đến kẻ ô vuông trên đảo, chuẩn bị hải pháo TOT. Cuối cùng lệnh hủy bỏ, các chiến hạm phải rút ra xa khỏi đảo. Ngày 27 tháng tư, mấy chiến hạm kéo vào gần bờ hải pháo phi trường Hàm Tân. Ban đêm nhìn vào bờ, thấy “convoy” xe và tank Việt Cộng bật đèn sáng di chuyển dài theo hương lộ 1 ven biển, kéo về hướng Phước Tuy Vũng tầu. Chiến hạm xin lệnh hải pháo nhưng bị từ chối, tầu lui dần về hướng Nam, đến gần cửa Vũng Tầu. Đêm 27 rạng ngày 28 có lệnh pháo cầu Cỏ May cắt đứt đường Sài Gòn Vũng Tầu để chặn không cho Tank tràn vào Vũng Tầu. Rồi lại có lệnh hải pháo tiếp theo, trên đài chỉ huy, Lâm chấm trên bản đồ thấy tọa độ pháo ngay trung tâm chợ Bà Rịa, Lâm gọi phòng hành quân xin xác định lại vị trí. Lệnh chỉ thị cứ pháo, chỉ có Việt Cộng trên đó, dân chúng đã di tản cả rồi. Ngoài chiến hạm tin tức mù mờ chẳng rõ ràng, chỉ đại khái biết tình hình miền Nam nguy ngập lắm rồi. Ngày 28 tháng 4, Lâm gọi máy cho đại úy T.. cùng khóa lại ở ngay gần nhà anh, đang trực trên phòng hành quân hạm đội để nhờ vả bạn:
- Mày có di tản hay đi đâu nhớ ghé nhà cho vợ con tao theo với, ra tới biển sẽ liên lạc sau.
Ngày 29, ghe thuyền di tản đầy đặc trên biển. Máy bay trực thăng của đệ thất hạm đội ra vào tấp nập. Thành phố Vũng Tầu hỗn loạn, mọi người đổ xô ra biển. Hạm phó và một sĩ quan có gia đình ở Vũng Tầu xin cho ca-nô vào bờ tìm gia đình rồi mất tích luôn, không đón được. Cũng may, Lâm xin đi theo vào bờ, hy vọng rằng Yến, mẹ và các con đã ra được Vũng Tầu, nhưng không được chấp thuận.
10 giờ sáng ngày 30 tháng 4, radio trên chiến hạm bắt được nhật lệnh của Tướng Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng trên đài phát thanh Sài Gòn. Đứng trên đài chỉ huy, nước mắt Lâm chẩy dài, hết rồi! đã chặn mất đường về, hết rồi! đời võ nghiệp, mộng hải hồ không còn nữa, nước mất, gia đình vợ con lý tán. Quân giặc tràn vào không biết bây giờ Yến, mẹ và các con ra sao? Hình ảnh, quân phục, súng đạn, kiếm và các kỷ vật nhà binh của con còn đầy ở nhà, mẹ có tẩu tán cất dấu được không?
Chiến hạm lừ đừ xuôi về hứng nam, lệnh hạm trưởng muốn đem tầu xuống vùng bốn vẫn còn kháng cự để chờ lệnh. Khi qua khỏi mũi Cà Mâu, ngài hạm trưởng mới (tâm tình) cho biết là ngài đã để vợ con ở một đảo nhỏ ngoài khơi gần Phú Quốc từ lâu, nên ngài xin đi công tác sớm, khi chiến hạm còn trong lịch trình nằm bến để sửa chữa. Thật là một người Hạm Trưởng tồi bại, mưu mô, xảo quyệt và vị kỷ. Ngài Hạm Trưởng đã lừa dối thuộc cấp cho đến giờ phút cuối cùng, leo lên đến trung tá nhưng chưa bao giờ ngài học môn lãnh đạo chỉ huy.
Cuối cùng nhân viên trên chiên hạm nổi loạn, buộc phải quay mũi trở về Côn Sơn để nhập vào đoàn tầu di tản. Hơn hai trăm thủy thủ đoàn trong cơn ly loạn đã tan nát gia đình, mất vợ, mất con chỉ vì một toan tính thấp hèn vị kỷ của cấp chỉ huy. Cái xui của con tầu, của thủy thủ đoàn đã bắt đầu từ vài tháng trước, khi vị hạm trưởng tiền nhiệm tài giỏi, đức độ, luôn lo lắng cho thuộc cấp đã bàn giao lại chức vụ cho nguyên hạm trưởng để đi du học Hoa Kỳ.

***
Cái túi bùa trong đời tị nạn

Trước khi vào hải phận Phi Luật Tân, chiến hạm phải ngừng lại ngoài khơi cả ngày để tháo vất đạn dược xuống biển. Tên và số hiệu các chiến hạm bị sơn xóa trước khi trao trả lại cho hải quân Hoa Kỳ theo điều khoản của trương trình M.A.P (Military Assistance Program: quân dụng không sử dụng phải được hoàn trả cho chính phủ Hoa Kỳ) . Lá quốc kỳ Việt Nam được hạ xuống, mọi người đã hát bản quốc ca trong nước mắt và tiếng khóc uất nghẹn. Lá quốc kỳ cũng được thủy táng. Lâm cũng thủy táng đời anh cho biển cả. Mũ áo, lon, huy hiệu, hình ảnh thư từ kỷ niệm của đời anh từ ngày còn bé và bao nhiêu tháng năm dài trong quân ngũ, cả linh hồn anh nữa, được gói trong lá cờ vàng ba sọc đỏ này, gửi sâu dưới lòng đại dương. Lâm rời chiến hạm với cái xác không hồn.
Khi gom góp ít kỷ vật mang theo, Lâm thấy cái túi bùa, nhớ đến mẹ, anh bật khóc. Lần đầu tiên, tự anh quàng cái dây bùa vào cổ. Nếu quả thật có vị thần linh trong cái túi bùa này, chắc ngài cũng phải cau mày nhăn mặt quở mắng:
- Đồ khốn kiếp! . . . đến giờ phút cùng bí này, mày mới nghĩ đến tao.
Lâm mở thử túi bùa thấy bên trong có một tượng Phật nhỏ bằng nanh heo rừng, tạc rất sắc nét, ám mầu nhang khói vì đã thờ lâu trên chùa trước khi mẹ thỉnh về, có ba lá bùa mầu vàng viết bằng chữ Phạn mà anh không đọc được. Nhớ lời mẹ, anh đốt một lá bùa, nói nhỏ:
- Tôi chỉ cầu xin gặp được mẹ, vợ và các con.

Trao trả chiến hạm cho Hải quân Hoa Kỳ tại Subic Bay, Lâm rời tầu với độc nhất một bộ quân phục, không lon, không nón, một túi sách nhỏ với ít đồ lưu niệm. Lâm, người tị nạn cô đơn, vô tổ quốc, vô gia đình. Quá khứ nhòa trong nước mắt đau thương mất mát, tương lai thì vô định mịt mờ!
Hình như có sức mạnh vô hình nào đã níu kéo anh lại, khi anh thay bộ bà ba đen định bước xuống ca-nô trở về bờ từ Côn Sơn và sau này khi định theo chiếc Việt Nam Thương Tín từ Guam về lại Việt Nam. Cũng có thể vì lý do anh vẩn còn mong manh hy vọng gặp được gia đình đang thất lạc đâu đó. Biết đâu T. chẳng ghé ngang nhà chỉ đường dẫn lối cho Yến vào bộ Tư Lệnh Hải Quân? biết đâu Yến đã xoay sở được phương tiện ra đi? anh vẫn tin Yến tháo vát trong mọi hoàn cảnh. Cảm ơn Trọng, người em kết nghĩa, và cám ơn các đàn em Võ Bị dưới khóa, lúc nào cũng quây quần bên anh, trợ giúp tinh thần và ngăn cản anh quay về.
Lâm đã gọi máy khắp các chiến hạm bạn, nhắn tin tất cả các trung tâm Hồng Thập Tự từ Subic Bay đến Guam. Anh đốt lá bùa thứ hai, rồi thứ ba.
Cả tháng lang thang trong trại tị nạn tại Guam để tìm kiếm gia đình nhưng vô vọng, cho đến khi nhận được điện tín của người anh bên Pháp gửi qua cơ quan Hồng Thập Tự: “Gia đình không ai đi thoát cả”. Buổi tối hôm ấy, Lâm ngồi bên lều, nhóm lửa nấu nước pha café, trong niềm đau tuyệt vọng, anh dật sợi dây bùa đeo trên cổ ném vào bếp lửa. Dây ngũ sắc và túi bùa phừng cháy, ánh sáng lóa xanh rồi tắt. Anh không cần gì nữa! chẳng có gì để phải cầu xin!.
Sáng ra dọn dẹp, bới đống tro tàn, Lâm thấy tượng Phật còn đó, không cháy, chỉ bị đen nám, anh lẩm bẩm hỗn xược: “Phật nướng” rồi cạo rửa cất vào túi áo.

Những năm đầu tị nạn, Lâm không tin có Chúa, có Phật, có đấng tối cao hay có thần linh trên cõi đời này. Anh sống âm thầm lặng lẽ. Có một quyền lực linh thiêng nào đó vẫn đẩy anh bước tới, bắt anh phải phấn đấu để ngoi lên trong cái sứ sở thiếu tình người này, phải đi làm nuôi thân, đi học để tìm đường vươn lên.
Lâm ở chung phòng với người bạn hơi cùng hoàn cảnh, một người đánh mất vợ con, một người vợ bỏ ngay từ khi mới sang, khác nhau có một điểm, Khanh có Chúa, có Đức mẹ, có đức tin để sống, còn Lâm thì không! Khanh ngoan đạo, Lâm vô thần.
Sáng chủ nhật Khanh chuẩn bị đi lễ, Lâm hay chui đầu ra khỏi chăn gọi:
- Khanh, đi lễ hả? . . . cho tao gửi lời thăm Chúa.
Lần nào anh cũng nhận được câu chửi thân thương:
- Tồ cha mày . .. Thằng mất dậy!
Hình như Khanh không bao giờ biết giận, ngay cả những khi đùa dỡn quá đà. Như một lần đêm Noel, Khanh chuẩn bị đi lễ, thấy thương bạn lủi thủi ở nhà một mình nên rủ, đi lễ nửa đêm với tao cho bớt buồn, ở nhà làm gì.
Lâm cũng ngang ngược:
- Không, tao tội nặng hai vai, Chúa thấy mặt tao cũng phải nổi giận, lỡ chúa dựt đinh được đá bỏ mẹ.

Chủ nhật rảnh rỗi, Lâm hay đến chơi với ông bạn làm Mục sư để hoạt động xã hội, đi xin đồ dùng giường tủ, chở đến giúp những gia đình thuyền nhân vượt biển mới qua. Cho đến một hôm ông khuyên nhủ:
- Hãy tìm sự bình yên tâm hồn nơi Đức Chúa Trời, ngài lắng nghe lời cầu nguyện của anh …
Lâm nổi nóng, phạng ngang không ngại miệng:
- Cám ơn mục sư, Phật với Chúa! hai ông đang ngồi đánh bài cào với nhau, chẳng ông nào nhớ đến tôi đâu! Phật còn đang ngồi khoanh chân vòng tròn, đang nặn . .. tây, tây … chín nút, chín nút. Chúa thì đã dang hai tay … tao bù!.
Lâm bực tức bỏ :
- Tuần sau tôi bận không đến được, sắp thi Final rồi.

Mỗi khi buồn Lâm hay đến chơi với gia đình cô em họ rất thân như anh em ruột. Tìm vui với không khí êm ấm của gia đình Lan, vui đùa với các cháu cho bớt buồn.
Một hôm Lan hỏi:
- Nghe Bác kể hồi ở nhà, bác có thỉnh cho anh cái tượng Phật linh lắm mà, anh còn không cho em mượn. Anh Khôi từ ngày qua đến giờ, tối ngủ hay mê sảng, đêm nào cũng bị ác mộng, toát mồ hôi ướt đẫm cả gối, nhiều đêm bị mộng du, dậy đi lang thang khắp nơi, sáng dậy em hỏi không biết gì cả. Nguy hiểm lắm anh ạ. Chắc tại ngày xưa bắn phá, ném bom giết nhiều Việt Cộng quá nên họ theo báo oán. Em định mượn anh cái tượng Phật, em dấu dưới gối của anh Khôi may ra anh ấy khỏi bệnh.
Lâm cười:
- Em đúng là đàn bà! giết nhiều Việt Cộng thì đã sao? nếu mấy con ma Việt Cộng có sống dậy được đi nữa, gặp mặt anh với anh Khôi thì cũng phải cắm đầu chạy … sợ bị giết thêm lần nữa! Nhưng nếu em muốn thì anh cho, anh vẫn còn giữ ông “Phật nướng”. Sao em giống mẹ anh thế! lúcnào cũng tin dị đoan, không thấy anh sao, nhờ có ông Phật mà giờ này anh cù bơ cù bất một mình.
Rồi anh kể cho Lan nghe chuyện đốt bùa, đốt tượng Phật khi bỏ nước ra đi.
Lan nhăn mặt mắng anh:
- Bác mà biết được thì anh chết đòn. Tại sao anh không nghĩ rằng anh còn may mắn hơn cả ngàn người khác, giờ này còn trong tù Cộng Sản.
Hơn một năm sau, một lần Lan nói:
- Anh Khôi đã hết bệnh, bây giờ vui vẻ yêu đời lắm, tụi em sắp mua nhà, hôm nào ăn tân gia anh nhớ đến chơi. Em đã bịt vàng cái tượng Phật của anh, em đánh sợi dây chuyền, trả anh để anh đeo.
Lâm cười:
- Em tin, em cứ giữ đi, anh cho em đó.

***
Ngộ
Có con chim sâu mấy tuần trước đến làm tổ ngay trên cành cam trước cửa ra vườn. Lâm theo dõi từ những ngày đầu, từ những cọng rơm ngọn cỏ đầu tiên được tha về. Sao làm tổ chênh vênh, thấp ngang tầm mắt, lại ngay cửa kính sát lối đi vậy kìa? Con chim bé nhỏ này không biết sợ loài người hiểm ác hay sao? Con chim bé nhỏ ơi, có cần ta phụ giúp gì không? mà bàn tay con người làm sao khéo léo để giúp mi làm cái tổ bé như nửa quả trứng gà, xinh sắn gọn gàng như vậy! Con chim bé nhỏ ơi, có cần sự che chở của ta không? Mà che chở làm sao được! Bàn tay con người không thánh thiện, không thay thế được bàn tay tạo hóa đâu! Nếu ta đụng vào cái tổ này, chắc chắn con chim bé nhỏ này sẽ bỏ đi!
Lâm vẫn hàng ngày rón rén đứng cách xa theo dõi. Con chim sâu đẻ hai trứng nhỏ bằng hai hạt đậu. Rồi trong tổ có hai con chim con, yếu đuối quá, nhỏ bé quá, anh chỉ thấy được hai cái mỏ bé xíu nhưng dài, lúc nào cũng há ra chờ mẹ về cho ăn. Những hôm mưa gió, anh thấy chim mẹ nằm im bên trên, mưa ướt cả người. Lâm nhẹ nhàng, cố gắng lợp cho miếng bìa ở những cành cam bên trên để che mưa che nắng. Một buổi sáng, sau trận giông bão đêm trước, một con chim con đã rơi chết dưới đất! Rồi chim con đủ lông đủ cánh, cả hai mẹ con đã bay đi, để lại cái tổ trống không!.
Tháng tư, tiết xuân lành lạnh, trong vườn hoa mơ, hoa đào, hoa mận vẫn còn nở, chen lẫn với những lộc non, những lá non xanh mướt.
Tạo hóa huyền diệu! phải có bàn tay mầu nhiệm nào tạo dựng muôn vật trên thế gian này? Một đấng tối cao nào đó, Đức Chúa Trời, Đức Phật hay Thượng Đế? Mãi đến gần cuối đời, gần qua tuổi năm mươi “Tri thiên mệnh” Lâm mới ngờ ngợ thấy điều ấy. Cũng đành! Anh có bao giờ mơ ước đến thiên đàng hay niết bàn đâu! mà mơ cũng chẳng được! Anh biết anh không có đức tin! Cứ để mai sau, lúc chết trả hết tội lỗi một lần luôn thể!
Hạnh phúc cho những ai có đức tin!
Bây giờ Lâm đã có tất cả, mẹ, vợ, các con và một đời sống tạm gọi là sung túc. Nhưng tháng tư! tháng tư nào cũng đem anh về với dĩ vãng, dĩ vãng đau thương sầu thảm của “Tháng Tư Đen” hai mươi bẩy năm về trước.

Vũ Lâm
...

Cộng Đồng: Những điều trông thấy Ô,Anh Lữ Giang có những động thái xuống dốc?

From: Trưng Triệu Nguyen Thi Thanh wrote


Anh Lữ Giang !

Từ khi mất việc ở Tòa soan báo Sài Gòn Nhỏ, tôi
thấy anh Lữ Giang có những động thái xuống dốc
nặng.

Người ta nghĩ anh viết bài đặt hàng cho đảng DC
Mỹ hay ĐCSVN, hay Hill/Obama. Những chuyện
đó có thể xẩy ra trong thời tranh cử. Nay thì thuyền đã ra khơi êm chèo mát mái rồi.

Tôi nghĩ từ lâu nay anh Lữ Giang nhận đơn đặt
hàng rất cao giá của Tàu khựa, vì chỉ có Tàu mới
mới có sức trả tiền bao nhiều năm tháng cho
Lữ Giang và còn kéo dài, vì chúng còn cần mãi.

Tại sao tôi nói thế, vì từ gần 10 năm trước
LG đã dám mở miệng nói Ải Nam Quan là
của Tàu do cái chữ 'nam' mà tôi đã trả lời
rõ ràng, tuy tôi nghĩ anh không đến nổi ngu.

Người ngu không đáng trách, vì họ ngu không
biết, nhưng anh không ngu, anh bán trí thức,
bán lương tâm mà lấy tiền, cái đó mới nguy
hiểm và tội lỗi ghê rợn !!!

Rồi đến một lần thứ 2 tôi để ý đển 1 câu nói của
anh "CSVN nhờ anh tổ chức chống Tàu,
chống xâm lăng ở hải ngoại..." tức nhiên là
chúng giao tiền cho anh, anh sẽ có tiền.
Nhưng anh sợ mất lòng Tàu, anh đã lấy cớ nọ cớ kia từ chối. Điều đó chứng tỏ anh không nhận đơn đặt hàng của CSVN vì đã mắc hẹt với Tàu Phù. Mà còn tỏ racrằng CSVN đã là VGBN, nhưng anh còn là VGBN, phản quốc, phản dân tộc hơn CSVN.

Anh còn bán cả linh hồn nữa đó anh Lữ Giang ạ.
Vì những việc anh làm là trọng tội trước mặt Chúa.

Tàu nó chi tiền cho anh nhiều hơn ai hết, và còn
chi dài dài, và có thể anh đã làm hợp đồng bán
lương tri, trí não và cây bút của anh cho Tàu ma
quỉ. Satan xui anh vì tiền bán luôn linh hồi đó

Anh nhớ không? Chúa Giêsu phán "Được cả thế
gian mà mất linh hồn thì được ích gì?"

Hãy trở lại với Chúa Giêsu anh ạ, đừng làm Dudà
thời đại nữa.

Mọi người quí anh mới lên tiếng khuyên anh, đừng
tự ái, hãy trở lại tìm gặp Chúa Giêsu, anh sẽ tìm
thấy tràn trề hạnh phúc và ấm no đầy đủ.

Đừng thèm tiền 'ăn cắp' dơ bẩn của bọn Tàu nữa !!!
Mong anh lắng nghe lời của một Tông đồ của
Chúa Giêsu.

BS Micae-Agnès Nguyễn Thị Thanh
--

  
Chào anh Lữ Giang,
 Image result for Lữ Giang
Bấy lâu nay anh gửi bài viết của anh cho tôi. Tôi không trả lời để xem tư tưởng anh trở nên khá hơn không. Nhưng với thời gian qua, anh vẫn giống như con ngựa bị bịt mắt để không nhìn thấy diễn biến xảy ra xung quanh. Một tỉ phú nổi tiếng làm từ thiện, Bill Gates, thuôc xu hướng Liberal, nhưng sau khi gặp Trump trong một tiếng đồng hồ thì đã nhận định Trump như sau: "Donald Trump là vị cứu tinh dân tộc Hoa Kỳ". Nếu ông Bill Gates là người nghèo, thì ta có thể nghi ngờ Bill Gates đã bị ông Donald Trump bỏ tiền ra mua chuộc.

Chắc chắn ông Bill Gates đã thấy nước Mỹ xuống dốc dưới triều đại Barack Hussein Obama, rồi bị bà Hillary Clinton tiếp nối dưới sự chỉ đạo của Obama thì nước Mỹ vô phương cứu chữa. Chính vì lẽ đó ông Bill Gates mới tuyên bố Donald Trump là vị cứu tinh. Người ngu đến mấy cũng phải hiểu như thế!

Anh là nhà bình luận thời cuộc trên các đài TV, lại không thấy nước Mỹ xuống dốc dưới thời Barack Obama, thì thiên hạ có hai điều đánh giá anh: hoặc anh được bọn Liberals bỏ tiền ra mua chuộc như một kẻ viết mướn vì tôi biết anh không khá giả cho lắm nên dễ làm tay sai, hoặc anh được bọn cầm quyền Hà Nội ra lệnh viết theo đơn đặt hàng, vì bọn cầm quyền Hà Nội vẫn ra rả chống Donald Trump.

Anh là cựu thẩm phán, là người thường xuyên viết bài bình luận chính trị có vẻ chống Cộng, thì dù cưỡng ép đi nữa anh cũng được quần chúng cho anh là người trí thức. Phàm là người trí thức thì không uốn mình làm tay sai cho bất cứ ai; người trí thức chỉ phụng sự cho lương tâm mình mà thôi. Tôi nhận được nhiều email của nhiều người xỉ vả, mắng mỏ anh rất nặng lời. Sauk hi bị thiên hạ chửi, tôi không hề thấy anh có một động thái nào tỏ ra hối hận để từ bỏ chỗ tối để bước ra chỗ sáng. Tôi lấy làm tiếc cho anh.

Đây là lời nói tử tế của một người xem anh như là người cầm bút Chống Cộng, anh phải có bổn phận giương cao danh giá của người Chống Cộng, thì sự Chống Cộng mới có hiệu quả. Người trí thức không làm tay sai cho bất cứ thế lực nào, nhất là đang ở xứ sở tự do không bị một áp lực nào và đang ăn tiền phụ cấp của xứ tự do. Anh là người Công giáo lại đi ủng hộ bọn cầm quyền chủ trương chống lại tín lý Cộng giáo, thì người ta tin rằng anh là kẻ phản Đạo. Kẻ phản đạo tệ hại hơn bọn Cộng Sản vô thần.
Nói ít hiểu nhiều, anh nên quay về chính nghĩa.

Bằng Phong Đặng văn Âu

-----------
 Xảo thuật cai trị bằng “Sắc lệnh”!


Trong bài "Donald Trump đăng quan, một thế giới mới đang thành hình", Tiến sĩ Phan Văn Song đã viết : "Thế giới của Donald Trump là thương trường ! Với một doanh nhơn, thương trường là rừng xanh - la jungle" ! Trong rừng không có sự trung thành, mà cũng chẳng có sự phản bội ! Chỉ có luật lệ của kẻ mạnh. Đó là luật của rừng xanh – La Loi de la jungle thôi ! (Dans la jungle il n’y a ni de fidèlité ni de trahison. Il n’y a que la loi du plus fort. C’est la Loi de la Jungle !)"
saclenh1
Biểu tình tại phi trường John F. Kennedy ở New York
Quả đúng như vậy. Điều 202 Đạo luật về Di trú và Quốc tịch 1965 (The Immigration and Nationality Act of 1965) quy định rằng không ai "bị phân biệt trong việc cấp thị thực di trú vì chủng tộc, giới tính, quốc tịch, nơi sinh hoặc nơi cư trú". Nhưng hôm 27/01/2017 vừa qua, Donald Trump đã ký một sắc lệnh về di trú hoàn toàn trái với những quy định đó. Sắc lệnh này đang bị phản đối trên khắp nước Mỹ và thế giới. Nói cách khác, Donald Trump đang sử dụng luật rừng của thương trường khi cai trị nước Mỹ.
Xảo thuật dùng "sắc lệnh" !
Từ hôm nhận chức đến nay, Donald Trump đã ký trên 20 "Sắc lệnh" để gọi là xóa đi "di sản của Obama" và chứng minh rằng những điều ông ta tuyên bố khi tranh cử đang được thực hiện. Nhưng sau khi nhìn lại, các cơ quan truyền thông Mỹ đã khám phá ra rằng đây cũng chỉ là những xảo thuật của Donald Trump đã sử dụng khi tranh cử để đánh lừa quần chúng. Một thí dụ cụ thể : 
Ngày 23/01/2017 hãng thông tín Reuters loan tin Tổng thống Donald Trump đã ký một Sắc lệnh rút ra khỏi hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)... Những người biết luật đã rất ngạc nhiên và đặt câu hỏi : Cái gì thế này ? Làm sao có thể dùng Sắc lệnh để rút ra khỏi Hiệp định TTP được ? 
Hiệp định TPP là một hiệp định đa phương đã được 12 quốc gia thành viên ký kết ngày 03/02/2016 tại New Zealand sau 5 năm thảo luận. Mặc dầu chưa được Quốc hội Hoa Kỳ phê chuẩn, nhưng theo sự quy định của hiệp định này, quốc gia thành viên nào nếu muốn rút khỏi Hiệp định phải thông báo bằng văn bản cho Cơ quan lưu chiểu tại New Zealand, đồng thời thông báo cho tất cả các quốc gia thành viên khác của hiệp định về việc rút khỏi này. Việc rút khỏi sẽ có hiệu lực sau 6 tháng kể từ ngày gửi thông báo đến New Zealand. Hiệp định sẽ vẫn tiếp tục có hiệu lực với các thành viên còn lại. Như vậy làm sao có thể dùng "sắc lệnh" để rút lui khỏi Hiệp định TPP được được ?
Khi đọc kỹ bản văn, các luật gia và cơ quan truyền thông mới ngã ngửa : Đây không phải là một "Sắc lệnh" (Executive order) mà chỉ là một "Bản hướng dẫn để thi hành" (Executive memorandum) ! Các luật gia và các cơ quan truyền thông Mỹ đã báo động : Phải coi chừng sự lừa đảo (cheat) giữa các Sắc lệnh (Executive orders), các Bản hướng dẫn (Memoranda) và các Tuyên ngôn (proclamations) của Donald Trump ! 
Để độc giả có thể thấy rõ hơn sự lừa đảo của nhóm Donald Trump về phương diện pháp lý, chúng tôi xin nói rõ về quyền ban hành Sắc lệnh của Tổng thống Mỹ và sự khác biệt giữa các Sắc lệnh với các bản hướng dẫn và các tuyên ngôn.
Phân biệt giữa Sắc lệnh và Bản hướng dẫn
Quyền hành pháp (Executive power) của Tổng thống được quy định trong điều II khoản 1 và khoản 3 của Hiến Pháp Hoa Kỳ.
Khoản 1 quy định rằng : "Quyền hành pháp sẽ được trao cho một vị Tổng thống Hợp chúng quốc" (The Executive power shall be vested in a President of the United States of America).
Khoản 3 nói rằng : "Tổng thống phải đôn đốc việc thi hành pháp luật một cách đúng đắn" (He shall take care that the Laws be faithfully executed).
Để thi hành quyền hành pháp, Tổng thống thường ban hành Sắc lệnh. Ngày xưa, chữ "Sắc lệnh" hay "Sắc chỉ" (Ordonnance) được dùng để chỉ mệnh lệnh của vua. Sau này Sắc lệnh được dùng để dịch chữ "Décret" của Pháp, tức văn kiện hành pháp của cấp cao trong chính phủ như Tổng thống hay Thủ tướng. Nay chữ "Sắc lệnh" cũng được dùng để dịch chữ "Executive Order" của Mỹ.
1. Sử dụng Sắc lệnh
Sắc lệnh (Executive Order) thường được dùng để chỉ đạo các cơ quan và các viên chức liên bang trong việc thi hành các luật pháp và chính sách do quốc hội lập ra (Executive Orders are generally used to direct federal agencies and officials in their execution of congressionally established laws or policies).
Nói rõ hơn, Tổng thống Mỹ chỉ có quyền ấn định các thể thức thi hành luật pháp do Quốc hội đã làm ra mà thôi. Tổng thống Mỹ không có quyền đặt ra luật pháp, quyền đó thuộc về Quốc hội. Nhưng qua một số Sắc lệnh mới được ban hành, chúng ta thấy có nhiều vấn đề Donald đang sử dụng Sắc lệnh để lấn quyền lập pháp của Quốc Hội, tức sử dụng luật rừng. Cụ thể là Sắc lệnh về di trú mới ban hành ngày 27/01/2017. Sắc lệnh này đang bị kiện vì vừa vi Hiến vừa vi Luật !
2. Sử dụng Bản hướng dẫn
"Executive Memorandum" hay "Presidential Memorandum" là gì ?
Chữ "Memorandum" có nhiều nghĩa khác nhau và số nhiều của nó là "Memoranda" (tiếng Latin) chứ không phải "Memorandums" như hãng thông tấn PBS đã viết. Nghĩa đầu tiên của Memorandum là bản ghi nhớ hay bản hướng dẫn. Trong danh từ ngoại giao, nó được dịch là giác thư hay công hàm. Về luật, chữ "Memorandum of Law" được dùng để chỉ bản lý đoán hay bản luận trạng của luật sư nộp để tranh cãi, v.v.
Bản hướng dẫn của Tổng thống (Presidential Memorandum) mà ông Trump đã dùng nói trên chỉ là một bản hướng dẫn các cơ quan chính quyền làm một việc gì đó (direct specific government agencies to do something). Nó không có giá trị như Sắc lệnh. Các luật gia và báo chí Mỹ đã tố cáo Trump đã coi những Bản hướng dẫn như là Sắc lệnh (referring to Memoranda as Executive orders), chẳng hạn như Bản hướng dẫn rút khỏi hiệp đinh TPP, Bản hướng dẫn Bộ Thương Mại xem lại các luật lệ về các sản xuất Mỹ tại ngoại quốc trong 60 ngày, v.v. Đó là trò đánh lận con đen.
Chỉ lo chuyện lặt vặt và đó kỵ
Ông Trump chỉ là một nhà kinh doanh trung bình về khách sạn, sòng bài và sân golf với số vốn năm ba tỷ, nên chưa bao giờ có tầm nhìn lớn. Ông bầu của Trump hiện này là Rex Tillerson là người chuyên kinh doanh dầu mỏ nên chỉ lo làm sao kiếm được nhiều tiền bằng dầu mỏ, bất chấp những hậu quả khác. Ông Trump lại không có ý niệm gì về luật pháp và thường sử dụng tiểu xảo để làm ăn, đã từng gây ra 4.095 vụ án, trong đó có 150 vụ khai phá sản, nên khi lên làm tổng thống ông nghĩ rằng có thể tiếp tục dùng các tiểu xảo đó để lãnh đạo và tin rằng sẽ thành công !
saclenh2
Tân Tổng thống Donald Trump họp báo ngày 11/01/3017
Trong lịch sử Hoa Kỳ, chúng ta thấy người dùng nhiều Sắc lệnh nhất là Tổng thống Franklin Roosevelt với 3.522 sắc lệnh, tiếp đến là Tổng thống Calvin Coolidge 1.203, thứ ba là Tổng thống Theodore Roosevelt 1.081, v.v. Tổng thống Obama đã sử dụng 277 sắc lệnh và trong 10 ngày đầu năm 2009, ông cũng đã sử dụng 16 sắc lệnh. Ấy thế mà khi Trump mới chỉ ban hành chưa đến 20 văn kiện, nhóm Cuồng Trump đã la to lên : "Hãy xem ông Trump làm kìa !".
Các tổng thống trước, mỗi khi ký sắc lệnh không hề dưa lên cho công chúng xem để khoe rằng "Ta đang làm đây !" như Donald Trump đang làm.
Trong bài diễn văn nhậm chức cũng như trong các sắc lệnh vừa được ký kết, chúng ta không thấy Donald Trump đề cập đến các chính sách lớn của nước Mỹ như kế hoạch xây dựng và phát triển quốc gia, chính sách an ninh quốc phòng, chính sách bang giao quốc tế, chính sách mậu dịch quốc tế…, ông chỉ nghĩ đến các chuyện lặt vặt, hay đố kỵ, và ông bắt đầu gặp những khó khăn về cả pháp lý lẫn chính trị với những chuyện lặt vặt hay đố kỵ mà ông đang làm. Cho đến nay, có ba Sắc lệnh đang gây khó khăn cho Donald Trump hơn cả là Sắc lệnh hủy bỏ Obamacare, Sắc lệnh xây bức tường và Sắc lệnh về di trú. Hôm nay chúng tôi xin nói về vấn đề di trú.
Những phản ứng nặng nề
Hôm 27/01/2017 Tổng thống Trump ký đã sắc lệnh tạm thời không nhận người tị nạn từ khắp nơi trên thế giới. Xin tóm lược như sau :
1. Nội dung Sắc lệnh di trú
- Tạm dừng chương trình tiếp nhận người tị nạn vào Mỹ trong 120 ngày.
- Cấm vô thời hạn đối với người tị nạn Syria.
- Cấm công dân từ 7 quốc gia Hồi giáo là Iran, Iraq, Libya, Somalia, Sudan, Syria và Yemen nhập cảnh vào Mỹ trong 90 ngày.
- Hạn ngạch người tị nạn được ấn định cho năm 2017 là 50.000 người (thay vì 110.000 người như dưới thời Tổng thống Obama).
Bộ Nội An cho biết công dân của 7 nước trên, kể cả đã có thẻ xanh ở Mỹ, vẫn phải nộp hồ sơ xin xét duyệt lại để được chấp thuận cho phép đến Mỹ. Kết quả xét duyệt sẽ tùy thuộc vào từng trường hợp chứ không có quy định nào có thể áp dụng chung cho tất cả. Với những công dân hiện đang có thẻ xanh và chưa ra khỏi nước Mỹ, đã được khuyến cáo phải đến Lãnh sự quán thông báo trước khi rời Mỹ. Những khách du lịch có hai quốc tịch, trong đó quốc tịch thứ hai thuộc một trong 7 nước nói trên, cũng không được phép đến Mỹ.
2. Các phản ứng chống đối
Liên đoàn Tự do Dân sự Mỹ (American Civil Liberties Union-ACLU) đã đệ đơn lên Tòa liên bang khu vực Đông New York xin tạm thời ngừng trục xuất những người có thị thực hoặc người tị nạn đang bị mắc kẹt tại các sân bay Mỹ được ước tính có từ 100 người 200 người.
Hôm 28/01/2017, Thẩm phán liên bang Ann Donnelly đã ban hành phán quyết khẩn cấp, tạm thời ngưng trục xuất những người đến từ 7 nước bị cấm nhập cảnh vào Mỹ theo sắc lệnh mới ký. Phán quyết nói rằng Sắc lệnh của Trump vi phạm các quyền của họ được xét xử theo tiến trình luật định và bảo đảm công bằng được Hiến pháp Hoa Kỳ bảo vệ (violates their rights to Due Process and Equal Protection guaranteed by the United States Constitution). Tiếp theo, các thẩm phán liên bang tại Boston, Seattle… cũng đã ra những phán quyết tương tự.
Ngày 29/01/2017 Bộ trưởng Tư pháp của 16 tiểu bang tại Hoa Kỳ đã ra thông cáo chung lên án sắc lệnh về di trú vừa được Tổng thống Mỹ Donald Trump ban hành. Thông cáo cho biết sẽ "sử dụng mọi công cụ trong quyền hạn" để chống lại sắc lệnh mà tổng thống đã ký hôm 27/01. 
Gần 900 viên chức Bộ Ngoại giao Mỹ đã ký một giác thư phản đối Sắc lệnh của Tổng thống Donald Trump. Lá thư viết rằng lênh cấm của ông Trump sẽ không đạt mục đích bảo vệ nước Mỹ trước tấn công khủng bố, và có thể có hại.
Ngày 30/01, bà Quyền Bộ trưởng Tư pháp Sally Yates lên tiếng phê phán sắc lệnh di trú mới của Donald Trump là bất hợp pháp. Bà liền bị thay thế bởi ông Dana Boente, một Thẩm phán liên bang tại Virginia, vì ông này không phản đối lệnh đó.
Tổ Chức Hợp Tác Hồi giáo (Organization of Islamic Cooperation-OCI, tập hợp 57 quốc gia, đã lên án sắc lệnh của ông Trump, cho đây là một động thái chỉ có tác dụng kích động ý hướng cực đoan trong thế giới Hồi giáo, tạo cơ sở cho các hoạt động khủng bố.
Ngoài các nước trong khối Ả Rập - Hồi giáo, từ Canada đến Anh, càng ngày càng có thêm nhiều tiếng nói và hành động cụ thể phản đối sắc lệnh của Trump, nổi bật nhất là bản kiến nghị với trên 1,7 triệu chữ ký đòi chính quyền Anh Quốc hủy bỏ chuyến công du cấp Nhà nước của tân tổng thống Trump.
Ở Canada, chính phủ loan báo vẫn cấp giấy tạm trú cho tất cả những công dân 7 nước bị kẹt lại ở Canada vì sắc lệnh của ông Trump.
3. Biện minh bằng ngụy biện
Hôm 29/1 ông Trump đã viết trên Twitter : "Đất nước chúng ta cần các biên giới vững mạnh và việc thẩm tra kỷ càng, ngay lúc này. Nhìn xem những gì đang xảy ra khắp Châu Âu, và trên toàn thế giới – một mớ hỗn độn khủng khiếp".
Tuy nhiên, Thượng nghị sĩ John McCain lại cho rằng việc làm đó sẽ tạo cho Nhà nước Hồi giáo có cơ hội để tuyên truyền. Thủ tướng Canada Justin Trudeau cũng đã lên Twitter nhắn tin : "Xin gửi lời đến những người chạy trốn khỏi sự đàn áp, khủng bố và chiến tranh, người Canada sẽ chào đón quý vị, bất kể quý vị có đức tin gì. Sự đa dạng là sức mạnh của chúng ta. Hoan nghênh quý vị đến với Canada của chúng tôi".
saclenh3
Dân chúng xuống đuờng biểu tình đón chào người tỵ nạn
Điều 3 của Công Ước Genève về người tỵ nạn năm 1951 cũng đã quy định : "Các quốc gia thành viên Công ước phải áp dụng các điều khoản của Công ước đối với những người tị nạn mà không có sự phân biệt đối xử về chủng tộc, tôn giáo hay nguồn gốc dân tộc".
Make America Sick Again !
Mặc dầu đã tuyên thệ nhận chức Tổng thống Mỹ từ hôm 20/01/2017, cho đến nay Donald Trump vẫn còn tưởng mình đang là giám đốc Trump Organization, ở đó ông có thể làm bất cứ thứ gì, kể cả sử dụng tiểu xảo như khi kiếm phiếu.
Khi đặt bút ký vào sắc lệnh về di trú nói trên, Donald Trump tuyên bố : "Chúng ta không muốn họ ở đây" (We don't want them here). Như vậy khi hành động, Donald không cần biết Hiến Pháp và Luật pháp Hoa Kỳ đã quy định như thế nào, và vẫn tiếp tục coi "điều tao muốn là luật" hay "miệng tao là luật". Rõ ràng là ông đang bắt chước Ban Bí thư Chánh pháp của Trung Quốc, khẳng định : "Môi trên của tao là trời, môi dưới là đất, tao chính là pháp luật…".
Các luật gia nói rằng chỉ cần căn cứ vào Đạo luật Di trú và Quốc tịch năm 1965 cũng đủ để thách thức Donald Trump tại tòa, vì trong đó đã quy định rõ rằng không ai "bị phân biệt trong việc cấp thị thực di trú vì chủng tộc, giới tính, quốc tịch, nơi sinh hoặc nơi cư trú".
Trong Sắc lệnh, Donald Trump viện dẫn ra Luật di trú năm 1952 cho phép tổng thống được tạm thời cấm người vào Mỹ khi xem có hại cho lợi ích quốc gia để chứng minh mình có quyền. Nhưng luật này đã bị Đạo luật Di trú và Quốc tịch 1965 hủy bỏ. Điều này cũng cho thấy đám "cố vấn", hay tùy tùng của Donald Trump là những người thiếu tư cách và lương tri, cứ chiều theo ý Donald Trump, soạn thảo những văn kiện mà họ biết là vi Hiến và vi Luật. Họ là hạng người nào ?
Là một người chẳng có chút hiểu biết hay kinh nghiệm gì về chính trị và lãnh đạo quốc gia, lại có đầu óc thiển cận, đố kỵ và thích sử dụng tiểu xảo, Donald Trump sẽ đưa nước Mỹ đi về đâu ?
Thượng nghị sĩ Chuck Schumer, Trưởng Khối Dân Chủ tại Thượng Viện, đã nói : Đảng Cộng Hòa muốn làm cho nước Mỹ đau yếu trở lại (GOP wants to make America sick again).
Ngày 02/02/2017
Lữ Giang

Bài Xem Nhiều