We Promise We are Coming Very Soon!

we are working very hard, stay connected!

Copyright © LY HƯƠNG | Published By Gooyaabi Templates

Nhạc đấu tranh

Facebook

Blog archive

Bài Lưu trữ

Recent Posts

Labels

Translate

BTemplates.com

Recent in Sports

Blogroll

About

Featured

Quốc Ca Việt Nam

Monday, 10 April 2017

Nhìn lại mình sau 42 năm Tỵ Nạn, từ tháng Tư 1975

 
Lời phi lộ : Mỗi lần, tháng Ba hay tháng Tư về là những hình ảnh xa xưa của năm 1975 sống lại trong tôi. Nếu tôi ghé Ban Mê Thuột thăm người thân như Má tôi nói qua phôn khi vừa có mặt tại Sài Gòn vào cuối tháng Hai năm 1975 thì có lẽ tôi đã kẹt ở đó, nếu thiếu may mắn có thể đã… khi thành phố Ban Mê Thuột thất thủ, không như cô em tôi tình cờ quen gần đây qua FB/Internet nói (đùa là) biết đâu chúng ta gặp nhau trên đại lộ kinh hoàng !. Về miền Trung được vài ngày thì Việt cộng đã đánh đến ngoại ô cách Thị xã nơi gia đình tôi ở chỉ 7 hay 8 cây số. Đêm đêm đại bác của VC bắn vào thành phố, có lần nổ tung cách nhà tôi chừng 500 mét. Tình hình quá căng thẳng, tuy chưa thăm hết bạn bè, người quen nhưng vâng lời Ba Má nên tôi vào lại Sài Gòn và tùy cơ ứng biến. Rồi Vùng I di tản, sau đó đến Cao nguyên Vùng II. Chính tôi đã thấy rõ những hình ảnh đau thương đồng hương dìu nhau trốn chạy Việt cộng !. Gia đình tôi cũng bỏ hết tất cả theo chân đoàn ngưòi di tản vượt gần 800 cây số vào Sài Gòn tá túc bà con, chờ xem tình hình… Ba tôi là người đi sau cùng và lần cuối hai cha con gặp lại nhau sau khi Vùng 2 Chiến thuật mất. Lúc gặp ở Sài Gòn, Ba tôi chỉ hỏi một câu thật ngắn gọn: “Sao con chưa đi cho rồi còn chần chờ chi nữa (sic)”. Đó cũng là lần chia tay cuối cùng với Ba tôi. Hôm sau tôi bay về lại Đức và chấp nhận kiếp sống lưu vong từ đó. Cám ơn Thượng Đế vì thú thật nếu kẹt lại ở SG/VN chắc trước sau tôi cũng tìm cách vượt biển như bạn bè, bà con và trong trường hợp này chẳng biết số phận mình sẽ ra sao ?.

Nhân mùa Quốc Hận 2017, tôi - một người tỵ nạn chính trị vì Cộng sản - xin ghi lại vài ý tưởng chợt về sau 42 năm sống tha phương, “ăn nhờ ở đậu”. Là một đoản văn tự thuật nên không sao tránh khỏi đề cập đến “cái tôi đáng ghét”, mong quý độc giả thông cảm !. Ngoài ra, nếu quan niệm rằng người Việt tỵ nạn hay “boat people” vàng thau lẫn lộn, vì không phải ai cũng giống ai sau khi ổn định đời sống ở Quốc gia nào đó thì giới cựu Sinh viên VNCH ở Đức nói riêng cũng thế - (có điều khác biệt rất lớn là tổng số sinh viên (SV) tính cho đến 30.4.1975 trên toàn Tây Đức lúc đó chưa đến một ngàn năm trăm SV nên SV nào “yêu nước” hay những gì xảy ra sau 30.4.75 chúng tôi đều biết!) - vì vậy nhận định thế nào tùy độc giả. Riêng tôi vì thời giờ hạn hẹp, có nhiều việc hữu ích để làm nên sẽ không tranh luận với bất cứ ai khác quan điểm nhưng diễn đạt tư tưởng với lối văn phong khiếm nhã, thiếu cơ sở. Chỉ lưu ý điều căn bản, biết hãy nói còn không đề nghị tốt nhất nên im lặng !. Chẳng lẽ ai đó ở xứ Maroc, đến sau không là người trong cuộc biết rõ SV ở Đức hơn chúng tôi ?. (LNC_S-Ger)


***

Thắm thoát mà tôi đã xa quê hương, xa Việt Nam mến yêu 42 năm, kể từ đầu tháng Tư 1975 oan nghiệt !.

Bốn mươi hai năm trôi qua nhanh như thoi đưa, như là một giấc mơ khi nhìn lại mình giờ đây tóc đã bạc nhưng so với nước Đức là nơi tôi đang định cư với tư cách một người tỵ nạn chính trị thì nghiệt ngã, buồn đau, áp bức, tù đày… vẫn còn hiện hữu trên quê hương mặc dầu “Việt Nam (VN) đã thống nhất từ 1975”, 15 năm trước nước Đức !

Bốn mươi hai năm rồi mà người Việt đi vẫn đi, tuy không còn bằng cách vượt biển hay vượt biên như sau 30-04-1975 nhưng đồng hương cũng đã tìm ra nhiều cơ hội khác để “rời Việt Nam” qua diện đoàn tụ gia đình (vợ, chồng, con cháu) hay kết hôn với người nước ngoài, miễn làm sao rời xa được nơi mệnh danh là “thiên đàng Xã hội Chủ nghĩa”, trốn khỏi được cái “thiên đàng Cộng sản” là mừng như một lần được hồi sinh; trong khi đó ngược lại thì dân Đông Đức (DDR) chẳng thấy ai trốn chạy vì Cộng Hoà Liên Bang Đức (BRD) đã làm chủ một Đức quốc thống nhất sau khi Cộng sản DDR bị giải thể.

Người dân Đông Đức sau khi chế độ Cộng sản bị sụp đổ chẳng những không lìa bỏ nơi chôn nhau cắt rún mà trái lại họ còn ở lại, vượt qua bao nhiêu khó khăn để cùng nhau nổ lực xây dựng một nước Đức hùng cường, tự do, dân chủ. Khác với Việt Nam, biến cố Thống Nhất Đất Nước của Đức hầu như không đổ một giọt máu nào của đồng bào vô tội cả !.

Đức không tiêu hủy hàng triệu tài nguyên trí tuệ và nhân lực của “Quốc Gia Dân Tộc“ trong những trại tù khổ sai “Học tập cải tạo“ và cũng không để lại các tệ nạn xã hội xấu xa tiêu biểu nhất của thế kỷ mà vẫn giữ được sự vẹn toàn lãnh thổ và đã xây dựng một xã hội ôn hòa, nhân bản đầy tình yêu thương đồng loại. Vì vậy 27 năm sau khi thống nhất cả thế giới đang nhìn nước Đức với lòng thiện cảm và đầy khâm phục.

Chừng đó thôi cũng đủ để chứng minh một cách rõ ràng rằng những ai từng yêu chuộng Tự Do đều không thể sống dưới chế độ cộng sản gian manh, tàn bạo. Minh chứng cho sự thất bại của chủ nghĩa cộng sản cách hùng hồn nhất là sự sụp đổ của cộng sản Đông Đức cũ, của cả khối Cộng sản Ðông Âu và tiếp theo là đàn anh Nga Sô vào cuối thập niên 1980 !

Hôm nay tôi chỉ muốn ghi lại đây vài ý tưởng chợt thoáng về liên quan chút ít đến cuộc đời tỵ nạn của mình và xin được nói sơ về “cái tôi đáng ghét” qua bài tạp ghi ngắn này !. Là một bài đoản văn mang tính cách tự thuật nên chắc chắn khó tránh khỏi được cái nhìn chủ quan có thể làm phật lòng ai đó qua sự diễn đạt tư tưởng trung thật của mình, vì thế mong tất cả độc giả hoan hỉ cho !.

Tôi nói riêng đã may mắn đón nhận được rất nhiều “tình cờ” trong cuộc đời. Ngẫu nhiên đầu tiên là dù không bao giờ nghĩ đến nhưng… tôi đã được phép của Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà thời đó cho xuất dương du học sau khi xong Tú Tài II, giữa lúc quê hương ngập chìm trong binh lửa trước tham vọng cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam (NVN) do cộng sản miền Bắc chủ xướng với sự giúp đỡ về mọi mặt của Nga, Tàu và khối Cộng sản Quốc tế nói chung !.

Đầu tháng 03-1975 tôi về thăm quê hương và gia đình nhưng lúc ấy chiến trường VN sôi động, người dân miền Nam bối rối, lo âu nên tôi đành phải rời VN sớm hơn dự tính. Lại thêm một “tình cờ” nữa, tôi may mắn đã rời Sài Gòn vào đầu tháng 04-1975, vì vài tuần sau đó, Nam Việt Nam thất thủ. Nếu không chắc tôi cũng sẽ phải chọn đường vượt biên hoặc vượt biển như bao đồng hương khác, sau 30-04-1975.

Xin mở ngoặc ở đây để nói sơ về đời sống của sinh viên ở Đức. Sau tháng Tư đen 75, trong khi “Sinh viên thiên tả thuộc hội Đoàn Kết (VK yêu nước !)” có Tòa đại sứ hay lãnh sự quán “đỡ đầu” thì sinh viên có lập trường Quốc gia thật sự bơ vơ vì chính quyền đã mất. Từ vấn đề thông hành cho đến tài chánh gặp rất nhiều khó khăn, hoàn cảnh của người sinh viên sau 30.04.1975 càng thê thảm hơn, nhất là các đợt sau cùng đến Đức. Đời sống của sinh viên du học thời Việt Nam Cộng Hòa sau khi Nam VN thất thủ hoàn toàn bị đảo lộn. Thành phần thuộc con nhà giàu hay nói đúng hơn thành phần lè phè hưởng thụ gặp nhiều khó khăn hơn vì đa số họ ỷ lại và sống nhờ vào đồng tiền cha mẹ gởi sang. Nhiều sinh viên thật sự khủng hoảng vì “sự ngưng viện trợ từ cha mẹ“ xảy ra quá đột ngột. Chỉ có những Sinh viên vốn đã quen tay lấm chân bùn xoay trở tương đối dễ dàng hơn kiếm tiền học tiếp cho đến khi ra trường, bởi vì hầu hết chẳng có ai có học bổng hay trợ cấp Bafoeg gì đâu như giới anh em trẻ đến Đức tị nạn sau này. So với giới sinh viên thời VNCH ngày xưa thì đây cũng là cái may mắn của những bạn trẻ đến sau. Điều kiện sống, nhất là về phương diện tài chánh và tinh thần khá đầy đủ, chỉ còn chuyện lo cho tương lai, học hành mà thôi. Mừng dùm cho các bạn !. Chúng tôi - Sinh viên du học thời VNCH - vào đầu thập niên 80 đôi khi bị NVTN “chỉ trích là thành phần con nhà giàu hay con ông cháu cha” nhưng cũng chỉ biết cười ghi nhận vì họ đâu có hiểu hoàn cảnh khó khăn của chúng tôi từ cư trú, học hành cho đến tài chánh. Tuy nhiên nếu so sánh với thành phần đi du học ở Đức nói riêng từ thập niên 80 trở đi thì Sinh viên thời VNCH thua rất xa. Không những số Sinh viên do csVN gởi đi nhiều hơn 10 lần mà họ thừa tài chánh để mua xe hơi sang trọng hay nhà cửa ở, đâu phải như chúng tôi thời đó đi “xe có tài xế lái” hay lộc cộc với chiếc xe đạp cũ kỹ !. Sao không trách họ đi (?) nếu khách quan so sánh.

Nhưng đa số Sinh viên thời VNCH dù vất vả với cuộc sống đều tốt nghiệp, có công ăn việc làm, hội nhập tốt và tôn trọng luật pháp Đức không vướng vào những “tệ trạng” nên được dân Đức kính nễ. Rất tiếc sự nễ vì này mất đi nhiều kể từ sau 1990 qua các tin tức “phạm pháp” của người Việt đến từ DDR, khối Đông Âu sau khi “thiên đàng cộng sản bị sụp dổ” đăng hàng tuần trên báo hay chiếu đi chiếu lại nhiều lần trên đài truyền hình do một số “người Việt mới đến” gây ra (quý độc giả có thể tìm thấy tài liệu, bài viết bằng Đức+Việt ngữ lưu trữ trên qua Google).

Có thể nói cuộc đời của những du học sinh thời VNCH như tôi trải qua khá nhiều truân chuyên từ dạo ấy, sau tháng Tư đen 1975, từ khi cộng sản Bắc Việt thống trị Nam Việt Nam. Khác với quyết định đi tìm Tự Do, đi tìm sự sống trên cái chết qua hình thức vượt biên vượt biển của đồng hương sau 1975, chúng tôi may mắn hơn, đơn thuần chỉ phải chọn lựa một trong hai: về Việt Nam hay ở lại nước ngoài. Nếu quyết định về VN thì phải cúi đầu phục tùng nhóm sinh viên đoàn kết và toà đại sứ Việt Cộng. Còn ngược lại nếu quyết định ở lại nước ngoài thì phải chấp nhận xa Quê hương, xa gia đình, bạn bè anh em và không biết khi nào mới gặp lại !.

Cuối cùng, riêng tôi đã có một quyết định là “xin tỵ nạn chính trị”, dù tuổi và kinh nghiệm đời của mình lúc đó chẳng là bao. Cũng không phải là những người từng phục vụ trong Quân đội hoặc tham chính thời VNCH; chưa từng bị Cộng sản bắt bớ giam cầm hay đã “bị tra tấn dã man và nếm mùi học tập cải tạo của Cộng sản“ nên muốn được “hưởng quy chế tỵ nạn” những Sinh viên du học VNCH phải chứng minh cho chính quyền Đức lúc đó rõ lý do là tại sao không muốn hồi hương v.v… Trong thời gian chuyển tiếp kể từ khi nộp đơn chúng tôi từ những người tuy có quốc gia, gia đình bỗng nhiên trở thành những kẻ “vô tổ quốc” vì đã nhận được sổ thông hành mang tên như vậy. Cơ quan hữu trách Đức cứu xét hồ sơ xin tỵ nạn khá lâu, có người chờ đến 2-3 năm nhưng cuối cùng tôi đã nhận được sổ thông hành tỵ nạn.

Điều làm chúng tôi đau lòng nhất là trong sổ thông hành tỵ nạn này có ghi câu “được phép đi khắp nơi, nhưng trừ Việt Nam”, nơi mình sinh ra và lớn lên. Vâng, điều kiện tỵ nạn là vậy vì dễ hiểu thôi, đã viện dẫn “gặp khó khăn với nhà cầm quyền cộng sản” để xin tỵ nạn thì thật là quá mâu thuẩn nếu mình về Việt Nam và lại ra đi an toàn phải không ?. Khó khăn ban đầu sau 30-04-1975 xem như đã vượt qua, được chỗ tạm dung. Chưa hết, vấn đề sinh kế cũng làm chúng tôi xính vính một thời gian khá lâu khi mà tình trạng kinh tế ở Đức và trên thế giới lúc bấy giờ đang bị khủng hoảng trầm trọng.

Có lẽ thánh nhân đãi ngộ nên tôi đã đón nhận thêm sự ngẫu nhiên, may mắn khác trong hoàn cảnh lúc đó sau khi cầm sổ thông hành tỵ nạn trong tay. Được thâu nhận vào làm việc thuộc phần hành “nghiên cứu và phát triển, trọng điểm là phát triển” cho hãng rất nổi tiếng trên thế giới sau khi tốt nghiệp kỹ sư bậc cao học (Dipl.-Ing. TU (TU: Technische Universitaet = University of Technology) nên tôi nói riêng cảm thấy an tâm từ đó nhưng buồn ray rức vì nỗi nhớ nhà và tủi thân cho kiếp sống tha hương, ăn nhờ ở đậu của mình. Tôi như con chim lạc đàn, trong thức ngủ vẫn ước mơ có ngày tìm về tổ ấm. Với thông hành tỵ nạn, chúng tôi nói chung được quyền sống và đi làm như dân bản xứ, chỉ khác điều là không được phép bầu cử.

Cuối thập niên 70, phong trào tỵ nạn lên cao. Người Việt được thâu nhận vào Đức rất dễ dàng mà không phải qua những thủ tục rườm rà hay khó khăn như chúng tôi trước đó. Ai thuộc diện “boat people” tự động được cấp thông hành tỵ nạn khi đến Đức, không cần cứu xét gì cả. Thỉnh thoảng gặp đồng hương thuộc diện này chúng tôi có trò chuyện. Hết kể những cuộc vượt biên vượt biển thật hãi hùng thì họ lại xoay qua than chuyện khó khăn về hội nhập hay khi học tiếng Đức… Đôi khi họ đề cập đến chuyện nhập tịch, viện dẫn có quốc tịch đi đó đây làm việc dễ dàng hơn. Tôi chỉ nghe và ghi nhận. Khi được hỏi thì tôi cũng chỉ trả lời là vẫn còn mang sổ thông hành tỵ nạn dù ở đây lâu gấp mấy lần cũng như thường hay đi nước ngoài vì lý do nghề nghiệp thời đó. Thú thật, đã nhiều tôi lần đi công tác Hoa kỳ, Bắc Âu, Pháp, Áo, Ý cho hãng hay đi thăm thân nhân ở Úc, Mỹ, Anh nhưng ít gặp trở ngại, chỉ tội mất thì giờ chờ lâu hơn tại các phi trường so với những ai có quốc tịch Đức mà thôi.

Thế rồi những đồng hương qua sau tôi lần lượt xin nhập tịch Đức. Riêng tôi vẫn giữ sổ thông hành tỵ nạn cho đến năm 1994. Thêm một tình cờ khác làm tôi thay đổi ý định và … xin vào quốc tịch xứ người, một quyết định không đơn giản sau nhiều đêm dài trằn trọc suy nghĩ.

… Số là trong chuyến công tác đi miền Nam nước Pháp cho hãng vào cuối Hè 1993, tôi gặp trở ngại ngay tại phi trường. Bạn đồng nghiệp ra ngoài cỗng đứng chờ còn tôi vì thấy trong thông hành tỵ nạn để quốc tịch Việt Nam nên nhân viên kiểm soát ở phi trường nghi ngờ, lý do Pháp “đón nhận bất đắc dĩ người Việt sang Pháp không hợp lệ” và họ tìm cách định cư tại đó. Phải giải thích khá dài dòng, nói là có vé máy bay khứ hồi, ngủ ở khách sạn do hãng giữ chỗ v.v… thì họ mới bằng lòng cho đi. Mấy người bạn Đức thấy vậy chọc quê quá xá nên sau đó …. tôi mới có ý định xin nhập tịch Đức, nộp đơn vào cuối năm 1993.

Nói đến đây cho tôi vòng vo thêm một tí. Hoàn thành đủ thủ tục giấy tờ đòi hỏi từ phía Đức đem nộp thì được nhân viên chỉ cho đống hồ sơ trước mặt và nói, hồ sơ ông hôm nay nằm dưới cùng. Đến khi được duyệt xét chắc cũng nửa năm sau. Nghe vậy tôi giật mình. Hỏi thêm thì bà nhân viên mách nước phải làm thế này thế kia thì may ra được ưu tiên hơn. Tôi xin hãng cấp cho giấy phải công tác ngoại quốc nên nộp vào thì hồ sơ tôi không còn nằm hạng chót nữa. Lại thêm một ngẫu nhiên tốt đến với tôi. Chưa hết. Cái khó khăn mà tôi phải đương đầu giải quyết là việc phải nộp cho chính quyền Đức giấy từ bỏ Quốc tịch Việt Nam. Thế là một cuộc bút chiến xảy ra giữa tôi và bộ nội vụ Tiểu bang Bayern (Bavaria) liên tục trong vài tháng. Mặc dù tôi đã viện dẫn không liên hệ gì hết với toà đại sứ Việt cộng từ 30-4-1975 nhưng chẳng nhằm nhò gì, nhân viên hành chánh Đức phụ trách vẫn khư khư nói, bây giờ Việt Nam đã cấp giấy thôi Quốc tịch rồi, không có không được.

Thế là tôi đành cắn răng viết thư cho toà đại sứ Việt cộng. Tuy nhiên tôi nghịch ngợm nên viết thư toàn bằng tiếng Đức với nhân viên sứ quán. Có lần điện thoại lên hỏi sự việc đến đâu sau hơn 6 tháng chờ đợi thì họ nói “vòng vo” làm tôi cảm thấy khó chịu nên cuối cùng tôi viết thư (cũng bằng tiếng Đức) lên cho biết VÌ chính quyền ĐỨC yêu cầu chứ thật ra tôi chẳng muốn liên hệ gì cùng quý vị cả và nếu không cho tôi thôi quốc tịch thì trả lời cho biết qua thư. Một bản sao (Copy) tôi gởi cho bộ nội vụ Đức để kính tường vì trong trường hợp như vậy tôi sẽ được nhập tịch mà không cần nộp giấy chứng minh thôi quốc tịch VN. Chắc thấy tôi quá cứng rắn quá nên vài tuần sau tôi nhận được giấy từ bỏ quốc tịch, dễ hiểu thôi … vì nếu không cấp thì tòa đại sứ mất toi hơn hai ngàn Đức Mã là lệ phí mà tôi phải trả cho cái giấy từ bỏ quốc tịch VN, một số tiền không nhỏ (thời đó) !.

Trong thời gian chờ đợi giấy tờ từ toà đại sứ Việt cộng tôi được giấy chấp nhận cho phép nhập tịch Đức. Nộp thêm chứng minh thư cho thôi quốc tịch VN là tôi được gọi ra nhận sổ thông hành Đức ít lâu sau đó. Xứ tôi ở không rườm rà như các quốc gia khác, làm lễ rình rang khi nhập tịch. Ra sở ngoại kiều ký giấy nhận sổ thông hành, nộp pass tỵ nạn cũ và nhận thông hành Đức là xong, sau khi trả lệ phí cho sở ngoại kiều mà nếu tính ra thì quá rẽ, chỉ bằng 1/10 số tiền phải đóng cho toà đại sứ Việt cộng để có được giấy từ bỏ quốc tịch Việt Nam !.

Một điểm khác xin nói thêm nhờ theo học Đại Học Đức và ở đây trên 15 năm (theo luật thời đó) nên tôi khỏi phải thi khoá Đức ngữ thành ra tiết kiệm được thêm chút ít tài chánh.

Vậy là tôi, một kẻ da vàng tóc đen, mũi tẹt trở thành công dân Đức từ giữa năm 1994, sau 26 năm kể từ khi tôi đặt chân đến xứ Đức lạnh lẽo này. Có thể nói chỉ trên giấy tờ vì ra đường dưới con mắt của người dân bản xứ chúng tôi vẫn là một người ngoại quốc dựa theo màu da và hình dáng, không hơn không kém.

Thời gian cứ thế mà trôi, đời sống của tôi tại Đức thật sự chẳng có gì thay đổi, chỉ khác là đã đi bầu nghị sĩ quốc hội, nghị viên tiểu bang và đại diện làng xã được vài lần trong suốt hơn 22 năm qua, kể từ khi tôi mang quốc tịch Đức. Tôi đã đi làm như bao người khác, thi hành đúng bổn phận “một người Đức mới“ và cảm thấy mình đang chia sẻ với dân bản xứ, với quốc gia đã và đang cưu mang mình !.

Thỉnh thoảng gặp lại đồng hương, những người vượt biên, vượt biển trước đây và tuy đến sau nhưng đã nhập tịch Đức trước (chúng) tôi thì tôi nhận thấy có nhiều thay đổi. Họ đi lui tới về VN với nhiều lý do …, những lý do giải thích mà mọi người - trừ những ai thiếu may mắn đã bỏ mình trên con đường đi tìm Tự Do - đều có thể sử dụng trong trường hợp “về thăm quê hương”. Có người gặp tôi lần đầu biết là thành phần đi du học thời VNCH hỏi anh về VN chưa, nói VN giờ thế này thế kia … tôi chỉ cười nói chưa, dù có đủ khả năng. Nghe vậy họ nhìn… rồi đổi sang đề tài khác. Một lần, gặp vài người quen trong giới tỵ nạn hỏi: sao anh có xin Visa về VN, được cấp chưa v.v… tôi tỉnh bơ trả lời : “Tôi đâu có bao giờ liên hệ với Sứ quán Việt cộng để xin chiếu khán (Visa) đâu mà chờ với đợi, mà cho với không cho…”!.

Vâng, 42 năm rồi kể từ khi đặt chân tại Sài Gòn lần cuối hay đúng hơn kể từ khi tôi “trốn chạy vào đầu tháng Tư 1975” trong chuyến về thăm gia đình với dự tính ở lại ba tháng để đi thăm bà con, bạn bè từ Sài Gòn ra Huế mà tôi đã có lần sống suốt cả mùa nghỉ hè sau khi thi đậu Trung Học thì tôi đã để lại quê hương yêu dấu của mình đàng sau lưng từ dạo ấy. Tôi nói riêng đau buồn, cam tâm chấp nhận kiếp sống lưu vong, chôn chân xứ người, làm thợ khách và hiện tại nghỉ hưu sau khi xin về hưu non sau hơn ba thập niên kéo cày.

Tuy nhớ nhung muôn vàn Việt Nam quê tôi nhưng chỉ biết ngậm ngùi thương nhớ, vẫn hằng ước mong một ngày về mà VN thật sự có đầy đủ Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền. Tôi nghĩ mình không thể nào cam tâm cúi đầu xin phép để được du lịch, để được cho phép về thăm quê hương của chính mình trong hoàn cảnh hiện tại mà chắc chắn tôi sẽ phải tự hổ thẹn với lương tâm nếu tôi làm việc này bởi vì một khi mà tôi với hơn 25 tuổi đầu, có thể nói là quá trưởng thành đã quyết định xin tỵ nạn, xin chọn nước Đức làm quê hương thứ hai và lý do được nêu ra rất rõ ràng : “Vì tôi không chấp nhận chế độ Cộng sản”.

Tôi chẳng phải là đứa bé lên năm !. Một đứa bé chừng ấy tuổi nếu ai đưa cho nó hai miếng bánh chắc chắn nó sẽ tự chọn cái nào thấy ngon hơn. Khi chọn lựa cho mình “con đường để đi sau 30-04-1975, xin tỵ nạn chính trị ở Đức”, tuy còn quá trẻ, chỉ mới hơn 25 tuổi và vừa tốt nghiệp Đại Học xong nhưng chẳng ai ép bắt tôi phải làm theo ý họ mà do tôi muốn !.

Vâng, chính tôi đã phải có một sự lựa chọn dứt khoát. Tôi đã bỏ, để lại sau lưng mình tất cả để chọn cho cuộc đời mình hai chữ “TỰ DO“ !.

Mực còn đó, giấy tờ và chữ ký quả quyết rằng đã khai đúng sự thật khi nộp đơn xin tỵ nạn còn đó. Tôi không thể nào dối lòng, dối mình được !.

Nhìn lại mình, thì tôi, một cựu du học sinh thời Việt Nam Cộng Hòa không hổ thẹn gì hết. Tôi quan niệm rất thực tế : “Đất lành chim đậu” và chỉ thắc mắc, tại sao “đất lành” (theo họ sau khi du lịch VN !) vậy mà sao “chim” lại vẫn mãi vỗ cánh bay chưa chịu làm tổ để đậu ??.

Tôi nói riêng - trừ thân nhân và bạn bè - không bị VC cầm tù hay hành hạ trong các trại tù mệnh danh với mỹ từ là trại “cải tạo” nhưng vẫn chưa hề một lần du lịch Việt Nam trong suốt hơn bốn thập niên qua (dù chẳng giàu có gì nhưng có thể nói chuyện mua vé máy bay không phải là trở ngại. Vì “tự trọng” nên tôi không thể nào dối lòng, dối mình được !). Tuy ngày đêm vẫn luôn thiết tha mơ ước được dịp “Tung cánh chim tìm về tổ ấm” nhưng rất tiếc đến nay tôi vẫn còn là một con chim lạc đàn, đang tha phương và vẫn còn giữ vững tư cách của người tỵ nạn Chính trị sau 42 năm đổi đời, theo đúng nghĩa của nó vì đã không chấp nhận chế độ chuyên chính vô sản sau khi Cộng sản cưỡng chiếm miền Nam Việt Nam tự do, nơi tôi sinh ra và lớn lên nên đành tạm thời “Xin Chọn Nơi Này (nước Đức) Làm Quê Hương !”.
 

Lê Ngọc Châu

Coi tiền như rác:Những chuyện có lẽ chỉ có ở Việt Nam

Những chuyện có lẽ chỉ có ở Việt Nam



Những người coi tiền như rác
Theo cảnh sát cho biết, Nguyễn Thanh Bình đã từng phạm tội trộm cắp tài sản và ở tù. Hết thời hạn, được thả, hắn trở về địa phương tại phường Trường Thi thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, lấy vợ nhưng không có nghề nghiệp ổn định. Gần đây hắn xin làm lơ xe cho công ty Tuấn Thủy, chuyên chạy tuyến Vinh – Hà Nội (khoảng 280 km).
Đã nhiều lần gã lơ xe Nguyễn Thanh Bình nhận gói hàng từ vị khách ở thành phố Vinh nhờ nhà xe đưa tới một tiệm vàng ở Hà Nội, Bình nghi bên trong có tiền nên chờ cơ hội ăn trộm.
Biết thông lệ, đến ngày 15/2 người ở Vinh sẽ gửi gói hàng, Bình lập mưu trộm cắp bằng cách rủ thêm Cao Ngọc Dương (28 tuổi, ngụ tại TP Vinh) tham gia. Ngày 14/2, hắn vờ trình bày với chủ xe rằng gia đình mình có việc riêng, xin nghỉ phép vài ngày.
Khoảng 19h ngày 15/2, khi xe khách Tuấn Thủy chạy tới chỗ cây xăng ở đường Lệ Ninh (TP Vinh) thì bà Phạm Thị Miên (48 tuổi) ở Vinh đem bọc hàng tới gửi chủ xe là chị Trần Thị Hải Yến. Việc giao nhận diễn ra rất đơn giản vì là khách quen, gói hàng được chị Yến bỏ vào chiếc thùng sắt phía sau ghế của tài xế ngồi.
Khoảng 21h, xe rời cây xăng, tới khu vực trước cổng Nhà ga Vinh để đón khách. Trong đám đông hàng chục hành khách chen lấn nhau lên xe, có Nguyễn Thanh Bình đóng giả làm người mới bị tai nạn giao thông. Hắn đeo khẩu trang, băng bó khắp trán, đeo kính và đội mũ lưỡi trai, luôn vờ rên rỉ kêu đau và được Dương đóng giả người thân, dìu lên xe.
Dương nói với chị Yến rằng “người nhà” của y quê ở Thanh Hóa, vào Nghệ An chơi thì gặp tai nạn giao thông, hiện đã được băng bó tạm thời, vết thương đang đau đớn nên muốn được ưu tiên ngồi ghế đằng trước gần tài xế, xe chạy cho êm. Được chủ xe đồng ý, Bình lúc này chỉ chờ cơ hội để bật nắp chiếc thùng sắt mà hàng ngày hắn đã quá thành thạo, lấy đi bọc hàng.
Dăm phút sau khi cuỗm thành công gói hàng, Bình kêu chóng mặt, nói không thể ngồi xe nên “người thân” dìu xuống xe, nói rằng sẽ đưa tới cơ sở y tế gần đấy để nhờ băng bó lại.
Khoảng 6 tiếng đồng hồ sau, xe tới bến Mỹ Đình, Hà Nội, chị Yến mở nắp thùng sắt lấy bọc hàng giao cho người thân của bà Miên đang chờ ở đấy thì phát hiện gói hàng không còn nữa. Lúc này chị Yến mới biết bọc hàng có giá trị tới 6,1 tỷ đồng, gồm: 220.000 đôla Mỹ; 600.000 Baht Thái Lan; 921.000 Yên Nhật; 669.300 đôla Đài Loan.
Công an thành phố Vinh, kể: Việc tìm thủ phạm lấy bọc tiền trong vụ án này rất khó, vì xe không có camera, chiếc thùng sắt nơi để bọc tiền không có khóa và ở ngay phía bên trên rất gần cửa xe.
Các điều tra viên nghi ngờ thủ phạm “phải là người quen với nhà xe và biết trước về bọc tiền” chứ không phải kẻ gian tình cờ vớ bẫm. Nếu là kẻ gian thì nó lấy cái gói bằng giấy dầu bỏ trong chiếc thùng sắt cũ kỹ không có khóa dùng để đựng ba thứ kìm, mỏ lết làm gì? Đối chiếu với thông tin nhà xe cung cấp, rằng hôm xảy ra vụ mất trộm thì người lơ xe tên Nguyễn Thanh Bình nghỉ làm, trinh sát bắt đầu “quan tâm” đến Bình. Câu chuyện về người đàn ông bị tai nạn giao thông lên xe rồi bất ngờ xuống xe trước lúc khởi hành cũng được coi là tin tức quan trọng và cảnh sát tình nghi thủ phạm chính là Bình và bạn của y.
Một ngày cấp tập truy tìm manh mối thì ngay đêm hôm ấy, cảnh sát hình sự thành phố Vinh nhận được tin báo có hai băng nhóm côn đồ mang súng và hung khí, hẹn nhau tại cây cầu ở phường Vinh Tân để sẽ “huyết chiến” với nhau. Cảnh sát bèn tổ chức lực lượng bao vây từ hai đầu, bắt trọn cả hai nhóm để ngăn chặn sự việc, đem về đồn. Trong số những kẻ bị bắt có Dương cùng các hung khí thu được là hai khẩu súng AK cưa báng, một khẩu súng tự chế, các hung khí khác như dao, mã tấu, ống tuýp sắt cùng nhiều viên đạn.
Sau 15 giờ đồng hồ tên Dương “đấu trí” hết sức cứng rắn với nhân viên điều tra, cuối cùng hắn đành thừa nhận đã cùng Bình gây ra vụ trộm gói tiền trên chiếc xe khách Tuấn Thủy đêm 15/2/2017. Thu thập thêm chứng cớ, ngày hôm sau, cảnh sát bao vây, bắt Bình tại Vinh khi anh ta đang gói tiền để chuẩn bị đón xe ra Hà Nội bỏ trốn. Khám xét nhà riêng của hai nghi can, cảnh sát thu lại được toàn bộ số ngoại tệ tang vật nói trên.
“Bình tự tin với kịch bản hoàn hảo của mình nên ung dung cất tiền tại nhà, không cần tẩu tán. Còn tên Dương thì quen thói côn đồ, mới đêm hôm trước ăn cắp, ngay tối hôm sau đã đi đánh lộn, “huyết chiến” với bọn du đãng”. Công an điều tra nói trong đời làm công việc điều tra, họ chưa từng thấy ai đem gửi xe đò cái bọc hơn 6 tỷ đồng không cần có người đi theo mà chính chủ xe cũng không biết đó là bọc gì, bỏ đại vào chiếc thùng sắt đựng đồ, coi như chẳng đáng gì cả.
“Kim bài miễn tử”
Tháng 4/2016, Đào Thị Thu Thảo, giám đốc chi nhánh của một công ty lớn ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, bị khởi tố vì đã thuê người mua máu của người bị nhiễm HIV để truyền cho con riêng của tình địch. Tuy nhiên, Viện Kiểm sát Nhân dân Bà Rịa-Vũng Tàu cho biết, có kết luận của Hội đồng giám định là bà Thảo bị tâm thần nên Viện Kiểm sát đã đình chỉ điều tra theo luật định.
Vụ này gây xôn xao trong dân chúng rằng, bây giờ hình như cái giấy chứng nhậrở thành loại giấy “miễn tử” cứ hễ phạm tội là dùng, nhẹ hay nặng đều được… ngưng điều tra do tâm thần nếu có tiền. Hội đồng giám định, Viện Kiểm sát Nhân dân, rồi Tòa án, tất cả đều bắt tay nhau “theo luật định” như vậy thì công lý ở đâu?
Đầu năm 2014, Đào Thị Thu Thảo nhận được tin cho biết “bạn trai” của mình có quan hệ tình cảm với một phụ nữ tên NTL ở TP Vũng Tàu, người này có một đứa con gái riêng tên là H.
Khoảng một tháng sau, liên tiếp nhận được các tin nhắn như vậy, Thảo thân hành từ Bà Rịa-Vũng Tàu vào Sài Gòn gặp hai tay anh chị đã từng ra tù vào khám tên Nguyễn Văn Linh và Huỳnh Văn Thế (do Linh rủ) để bàn định kế hoạch mua máu của người nhiễm HIV chích vào mình cháu H.
Thảo cho hai tay anh chị nói trên biết Ngày thiếu nhi 1-6, công ty nơi chị NTL làm việc sẽ tổ chức tiệc cho trẻ em và con cháu các nhân viên. Theo kế hoạch của Thảo, bà ta đưa trước một số tiền để hai gã này sắm quần áo lịch sự để ăn mặc cho khác đi, đồng thời mua mấy con thú nhồi bông, làm như khách tới dự, tiếp cận rồi tìm cách chích máu nhiễm HIV vào người cháu bé.
Làm theo kế hoạch, sáng 1-6 Thế sang Quận 4 thật sớm mua một xi-lanh máu của người nhiễm HIV với giá 1 triệu đồng, rồi cùng Linh chạy xe máy ra Vũng Tàu. Tuy nhiên, hôm đó không hiểu vì lý do gì, cháu H. không đến.
Hôm sau, chị NTL trước khi đi làm, dùng xe Honda đưa cháu H. đi học. Hai tên này áp sát lại, tên Linh giữ chặt chị L. và cháu H., còn tên Thế ngồi phía sau thì chích thật mau máu có HIV vào chân cháu H. Cháu H. kinh hoảng khóc thét. Gây án xong, hai tên phóng xe tẩu thoát.
Về đến nhà nghỉ, Linh gọi điện thoại báo cáo, Thảo yêu cầu đem ống chích kèm theo kim tiêm đến cho mình xem xét. Kiểm tra xong, Thảo trao cho Linh 120 triệu đồng như đã giao kèo và giục hai tên này mau chóng trở về Sài Gòn để sự việc khỏi bị bại lộ.
Cháu H. được gia đình đưa ngay đến bệnh viện tiêm thuốc chống phơi nhiễm HIV và điều trị kịp thời nên may mắn không mắc bệnh. Chị NTL nghi ngờ Đào Thị Thu Thảo là kẻ chủ mưu nên tố cáo với công an. Từ Đào Thị Thu Thảo, công an điều tra ra hai tên Linh, Thế. Hai tên này bị bắt và cả ba bị truy tố ra tòa.
Tuy nhiên, ông Vũ Xuân Rồng, phó Viện trưởng VKSND tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (người ký cáo trạng và ký quyết định đình chỉ bị can đối với Thảo), cho biết Thảo có kết luận của Hội đồng giám định tâm thần nên VKS đình chỉ điều tra theo pháp luật.
Thảo được đình chỉ không bị điều tra, vụ án không còn đầu mối, như vậy hai tên Linh và Thế coi như cũng trắng án. Một câu hỏi quan trọng được đặt ra là, thuê hai tên anh chị chích máu nhiễm HIV cho một đứa trẻ, “bà giám đốc” giàu có Đào Thị Thu Thảo sẵn sàng bỏ ra 120 triệu đồng, vậy thì “chạy” cái giấy tâm thần để vụ án được xóa sạch, “bà” sẵn sàng bỏ ra bao nhiêu tiền… theo luật định? Con kiến mà kiện củ khoai. Đặt ra cơ quan này cơ quan nọ kêu đôm đốp cho vui vậy thôi chứ thực tình, làm quan tòa “ngon” hết chỗ nói!
Người đàn ông có tính “gia trưởng”
Lấy phải người chồng ẩu tả, làm đâu bỏ đấy là một cái khổ. Nhưng lấy phải người chồng quá kỹ cũng không sung sướng gì. Bởi vì người quá kỹ, quá cẩn thận thường hay có tính “gia trưởng”, ít khi bằng lòng với người khác. Khổng Tử nói cứ trung dung là tốt hơn cả.
Bà Tư người Sài Gòn rất hài lòng về ôngThành. Cách ông nấu phở khiến bà hết sức yên tâm. Nồi nước dùng gồm xương bò và xương heo đã cạo thật sạch thịt hoặc mỡ bám, ông đun vừa sôi thì đổ hết nước đi, sau đó cho nước lã vào đun lại cùng với vài cánh hoa hồi và một củ gừng nướng. Làm như thế nồi nước dùng sẽ trong và thơm chứ không hôi mùi mỡ. Bốn giờ sáng ông dậy nướng vàng 10 con sá sùng khô. Sá sùng là gọi theo tiếng Tàu, tiếng Việt là “sa trùng”, một loại trùng giống như con giun nhưng sống trong cát ướt ở bãi biển, rất quý, ngày trước thường dùng để tiến vua, bây giờ cũng có khá nhiều trong các bãi biển từ Nha Trang ngoài Trung ra tới Quảng Ninh ngoài Bắc, nhưng giá tương đối mắc, tới hơn 3 triệu đồng/1 kg khô. Nấu phở theo kiểu Hà Nội người ta thường cho sá sùng hoặc nếu không có thì tôm tươi bóc nõn – cho vào cái túi vải mỏng, bỏ vào nồi nước phở. Con sá sùng độ đạm rất cao, nó làm ngọt nước dùng bằng đạm tự nhiên chứ không phải bằng bột ngọt.
Trên bàn ăn của khách luôn có 7 thứ gia vị: chanh, giấm, tương ớt, ớt tươi, đường, bột ngọt và bột nêm. Ông nói đó là tính “dân chủ” về gia vị, ai muốn ăn thứ gì thì ăn chứ nhà hàng không áp đặt. Đặc biệt, ông rất chú ý đến vệ sinh. Cuối ngày, cái thớt và con dao thái thịt tuy đã rửa sạch nhưng ông vẫn phủ một lớp muối dày để con gián, con chuột không mò vào. Ông nói nhiều khi khách ăn bị đau bụng không phải do cái nồi nấu phở hoặc bát đũa không sạch mà do dao thớt không được tiệt trùng.
Trên bếp lò ông luôn đặt một nồi nước sôi lớn để nhúng bát chén. Bát sau khi rửa được bỏ vào nồi nước sôi rồi mới vớt ra đựng phở cho khách. Như thế là bát đó được tiệt trùng và còn rất nóng. Ông nói phở có thật nóng thì mới ngon và mới dậy mùi. Tiệm phở của bà Tư “xài sang”, dùng toàn loại đũa ăn một lần rồi bỏ, đấy cũng là theo ý kiến của ông Thành.
Ngoài phở bò, nhiều khi khách muốn ăn phở gà. Cách làm thịt gà của ông Thành cũng rất cẩn thận. Làm lông, mổ moi dưới bụng gà và rửa sạch xong, ông Thành xát muối vào da gà, để 1 giờ rồi rửa lại, đem luộc bằng cái nồi riêng chứ không bỏ chung vào nồi nước dùng. Ông nói làm như thế mới giữ được hương vị riêng của thịt gà.
Chính nhờ sự kỹ lưỡng và rất chuyên nghiệp của ông Thành mà tiệm phở của bà Tư hết sức đông khách. Càng ngày bà càng nhận thấy không thể sống thiếu người đàn ông này được. Là người miền Nam, quen với lối sống thực tế nên bà Tư không quá kỹ tính. Trong chuyện gian díu, bà chỉ cần hai người cảm thấy thoải mái là được chứ không câu nệ bất cứ điều gì. Chính vì thế, ngoài mặt thì ông Thành và bà Tư giống như người làm thuê và bà chủ tiệm, nhưng trên thực tế, họ đã sống với nhau như vợ chồng từ khá lâu rồi.
Một hôm, bà Tư nói với ông Thành: “Anh với em sống chung như thế này mãi thì kỳ quá. Em tính chúng mình nên ra phường đăng ký kết hôn cho danh chính ngôn thuận”. Ông Thành đồng ý: “Bà cu ky, tôi cũng cu ky mặc dầu ai cũng có con cái đã lớn. Chẳng ai ngăn cản chúng ta ra phường làm giấy hôn thú, vậy thì ta đến làm cho tiện mọi đằng”.
Thế là ông Thành từ địa vị một nguời làm thuê ăn công, chính thức trở thành chồng của bà Tư, tức thành ông chủ của một tiệm phở khá nổi tiếng tại Sài Gòn này.
Tuy nhiên, mọi việc rắc rối có lẽ cũng bắt đầu từ chuyện thay đổi vị trí nói trên. Nếu như trước đây bà Tư có điều gì khiến ông Thành không vừa ý, ông chỉ bực bội ngầm trong bụng rồi dần quên đi. Bây giờ thì khác, ông la mắng, quát nạt đúng theo “tôn chỉ” của một người chồng khó tính đối với người vợ hiền lành.
Cuối ngày, ông sắp xếp dụng cụ làm bếp rất cẩn thận, dao thớt để ở đâu, muôi lớn (trong Nam gọi là cái vá), muôi nhỏ để ở đâu, các lọ gia vị để ở đâu…, tất cả đều được sắp đặt rất ngăn nắp và cố định. Làm như thế khi cần dùng thì không phải mất công tìm kiếm.
Còn bà Tư thì không như thế. Dụng cụ nhà bếp dùng xong bà tiện đâu bỏ đó, nhiều khi dùng phải đi tìm rất mất công. Ông Thành thường la: “Bà ăn gì mà khó nói thế? Đồ làm bếp tôi sắp đặt chỗ nào thì phải để đúng chỗ đó. Bà cứ tiện đâu vứt đấy, lúc cần, tìm hụt cả hơi! Chỉ một việc đơn giản như vậy mà bà cũng không biết nghe theo”. Bà Tư đã bị la nhiều lần nên đâm bực, vặc lại: “Tui lỡ bỏ quên thì ông cất đi giùm chớ đâu có sao? Ông cứ la tui “ăn gì, ăn gì” làm như tui là con chó không bằng”. “Nhưng bà bừa bãi quá tôi chịu không nổi. Dạy mãi, dạy mãi mà vẫn cứ ngu”. “Có ngu thì tui mới lấy ông chớ nếu không tui sống với hai đứa con tui cho khỏe!”. “Đó, bà sống với con bà đi! Tôi không cần!…”. “Chính ông phải ra khỏi nhà mới đúng, tiệm phở này tên tui, đâu có tên ông!…”. Đến đấy thì ông Thành im miệng, bởi vì hộ khẩu của ông ở ngoài Bắc, ông không nêu được lý do xin chuyển vào trong Nam nên chỉ mới có giấy xác nhận di trú tạm thời KT3, nếu ông có lỗi, CAND phường có thể trục xuất bất cứ lúc nào cũng được.
Một điều ông Thành ớn nhất là bà Tư rất quý mèo. Bà có một con mèo trắng rất đẹp, ngày nào cũng cho nó ăn thật ngon, lúc rảnh thì vuốt ve, nựng nịu nó như nựng đứa con nít. Con mèo cũng quý chủ, nó thường lim dim mắt, cựa đầu cánh tay chủ để được bà chủ cưng.
Những lúc ấy ông Thành rất bực, ông la: “Bà làm như thế khách họ tưởng tiệm này ai cũng mất vệ sinh như bà thì còn ai dám đến ăn nữa? Đem nó vào trong nhà, không được cho nó ra ngoài này”. Riết rồi ông Thành trở thành ông chủ còn bà Tư trở thành người hầu. Bà sợ ông như cọp.
Một hôm, ở trong bếp, ông Thành mới nghỉ tay, pha được phin cà phê định uống thì con mèo nhảy nhót bắt gián thế nào làm đổ hết ráo. Ông bực, vớ được chiếc chày đập nước đá bèn đập lên đầu cho nó một cái. Con mèo còn nhỏ, kêu “oéo” một tiếng rồi lăn ra giãy giụa, chết ngắc. Bà Tư kinh hoảng, vừa thương xót vừa tiếc con mèo nhưng không dám nói gì, chỉ chậm nước mắt khóc. Bà kiếm một chiếc hộp đẹp, bỏ xác con mèo vào trong đó rồi thuê mấy đứa nhỏ đem đi kiếm chỗ chôn.
Từ hôm ấy, ban đêm ngủ trên lầu một mình bà Tư thường mơ thấy ông Thành cầm chiếc chày nện vào đầu mình giống như ông đập con mèo, lăn ra chết ngắc y hệt con mèo. Bà hoảng sợ, ngồi dậy bật đèn, mồ hôi toát ra như tắm, không sao ngủ lại được nữa.
Từ đấy bà Tư sinh chứng mất ngủ. Ban đêm nằm nghĩ lẩn thẩn, bà thấy sống với ông Thành như vậy không được, lúc bực lên ổng có thể đập chết mình như chơi. Bà bèn lẳng lặng dọn đến ở nhà người con gái, chơi với các cháu ngoại.
Đối với ông Thành, mỗi lần bà Tư giận đến ở nhà người con gái ông coi là chuyện bình thường. Mọi công việc trong tiệm phở vẫn diễn ra đều đều vì có bà người làm và mấy người giúp việc, bưng phở, rửa bát chén. Ông chỉ ngán có thằng con trai của bà Tư thôi. Trông nó có vẻ du đãng, cao lớn, khỏe mạnh, ngoài 30 tuổi rồi mà chẳng có vợ con gì cả. Không biết nó làm nghề gì nhưng có vẻ có tiền, ông chưa thấy nó xin hoặc mượn tiền bà Tư bao giờ cả.
Một hôm, ông Thành thấy con trai bà Tư kéo một lũ bạn cỡ bốn năm đứa đến tiệm phở. Thằng nào trông cũng có vẻ cô hồn, áo banh ngực, xâm trổ đầy mình. Chúng để một chai có lẽ rượu tây lên bàn cái cộp rồi kêu một con gà luộc, một dĩa bò tái nhúng giấm, một dĩa vè, một dĩa nạm, một tô xí-quách…
  • “Thiếu gì tiền mà phải ăn xí-goách, tụi bay! Đây là tiệm nhà tao. Tao bao, trả tiền đàng hoàng, coi như mời tụi bay lần cuối trước khi tao giết thằng cha đó rồi sẽ vào tù”.
Cứ hễ thằng con trai bà Tư đến nhậu hay ăn phở là ông Thành tránh mặt, ở luôn trong bếp chứ không dám ra ngoài. Bữa nay thấy nó nói một câu hơi lạ, ông để ý nghe. Hơn nữa tụi nó lại ngồi ở hai cái bàn kê sát lại với nhau gần ngay lối vô trong bếp và chúng chuyện trò lớn tiếng nên ông nghe rất rõ.
Hình như một thằng can ngăn:
– Thôi anh Ba, anh không cần phải ra tay, để đấy tụi em “xử” thằng chả. Tụi em lụi cho thằng chả một dao vào buổi tối không ai biết đâu. Nếu bị bắt, em khai tại tụi em say rượu…
Hình như thằng Ba vỗ tay xuống bàn:
– Anh giận lắm, phải chính anh giết thằng chả anh mới vừa lòng. Thằng chả làm công, đi nấu phở mướn chớ có là cái gì đâu. Tại má anh thương chả, lấy thằng chả làm chồng. Hai chị em anh đã không nói gì, bây giờ thằng chả làm phách, quát nạt má anh, đuổi má anh đi thì anh phải giết thằng chả mới đã nư giận, rồi anh vô tù cũng cam lòng.
Hình như bọn chúng thì thầm bàn tính kế hoạch. Ông Thành kinh hoàng. Một thân một mình nơi cái đất Sài Gòn này, nếu bị chúng đâm chết như lời chúng nói thì ai biết đấy là đâu.
Ngay tối hôm ấy ông Thành gọi điện thoại cho bà Tư, giọng rất sợ hãi, giục bà về ngay lập tức có việc cần. Bà Tư về, ông kể cho bà nghe từ đầu đến cuối chuyện thằng con trai bà bàn tính với mấy đứa bạn du đãng định giết ông, rồi kết luận: “Tôi phải đi thôi, không thể ở đây được nữa, tụi nó đang âm mưu định giết tôi…”. Bà Tư đấm ngực kêu trời: “Mèng ơi, sao thằng con tui quá tệ vậy kìa? Từ trước tới nay nó hiền lắm mà, đâu có đụng tới ai bao giờ…”. “Hiền cái gì, đến lúc nó giết tôi chết, nó vô tù bà mới sáng mắt ra biết nó không hiền”. Bà nhìn ông, thương hại: “Rồi ông tính sao bây giờ?”. “Tôi đi ngay, không dám ở đây một ngay nào nữa”. “Nhưng tui với ông có giấy hôn thú…”. “Thì xé giấy hôn thú đi. Tôi với bà không còn duyên nợ, có tờ hôn thú nào đem đốt hết đi rồi làm giấy cam kết không làm phiền gì nhau nữa. Tôi sẽ về Bắc chứ đợi xin tòa án cho ly hôn thì lâu lắm, tôi sợ lắm”.
Và ông Thành đã làm như vậy.
Sau khi ông về Bắc, anh chàng con trai bà Tư mời lũ bạn đến tiệm nhà mình… ăn mừng. Lần này chúng cũng banh ngực áo nhưng không còn các hình xâm nữa:
– Tụi mày thấy phở tao nấu có ngon như thằng chả nấu không?.
– Ngon, giống y chang. Sao mày làm được như vậy?.
– Tại tao bắt chước thằng chả chứ còn gì nữa. Khách đâu có biết là thằng chả đã bỏ đi. Tao nấu một hồi, khi nào kiếm được người thay thế sẽ truyền nghề cho họ rồi về chung cư lo tiếp chuyện lớp dạy võ của tao.
– Mày thích dạy võ hơn nấu phở?
– Tất nhiên, “nghề của chàng” mà. Nhưng đừng đứa nào tiết lộ chuyện tụi mình “đóng kịch” với má tao kẻo má tao lại tội nghiệp thằng chả.
Đoàn Dự

Tin Vui Cộng Đồng Úc Châu : Cờ Vàng sẽ được treo tại Tòa Thị Sảnh Thành Phố Cờ Vàng sẽ được treo tại Tòa Thị Sảnh Thành Phố Yarra

Cờ Vàng sẽ được  treo tại Tòa Thị Sảnh Thành Phố Yarra

Cả khán phòng với trên 200 đồng bào tham dự đồng thanh reo hò, hoan hô, vẫy cờ Úc-Việt trong niềm hân hoan, vui mừng khi được Hội Đồng Thành Phố biểu quyết với đa số tuyệt đối (9/9) chấp thuận cho treo Cờ Vàng tại Tòa Thị Sảnh trong ngày Quân Lực VNCH 19/6 sắp tới đây.
Vào chiều tối ngày 04/04/2017, đồng bào tham dự buổi họp đã kiên nhẫn, yên lặng ngồi chờ trên một giờ đồng hồ để đợi cho đến mục Cờ Vàng (theo nghị trình) được HĐTP đem ra bàn thảo. Cô Claudia Nguyễn (Phó Chủ Tịch Ngoại Vụ CĐNVTD/VIC kiêm Phó Ban Quản Trị ĐTQT kiêm Trưởng Ban Chương Trình Khóa Lãnh Đạo Hai Nguồn Gốc), một gương mặt trẻ, thay mặt cho CĐNVTD/VIC và Người Việt tỵ nạn tại Victoria đã lên phát biểu trước HĐTP, trình bày những lý do chính đáng về nguyện vọng treo Cờ Vàng tại Tòa Thị Sảnh.
Cô Claudia Nguyễn chuẩn bị phát biểu trước HĐTP Yarra
Một bài phát biểu có tình, có lý, đầy thuyết phục và làm xúc động người nghe. Tuy nhiên thuyết phục về mặt tình cảm thì chỉ có tính cách "dẫn nhập", nhưng để thuyết phục cả một HĐTP (với cách làm việc trong sáng, theo quy tắc, có luật lệ) thì quả là rất khó. Để chứng minh việc treo Cờ Vàng tại Tòa Thị Sảnh không vi phạm luật lệ và thủ tục treo cờ (Flag Protocol), cô Claudia Nguyễn đã trưng dẫn lời phát biểu của phát ngôn viên văn phòng Thủ Tướng Úc, ý nghĩa nội dung lá thư của Bộ Ngoại Giao Úc và sự cố vấn của các vị luật sư tiếng tăm. Đây mới chính là những lý lẽ hùng hồn đầy thuyết phục kèm theo con số 3479 chữ ký (thỉnh nguyện HĐTP Yara treo Cờ Vàng) là những sự kiện (facts) khó phản bác (xin nghe phần thâu âm hoặc đọc trọn bài phát biểu đính kèm bên dưới).
Sau khi cô Claudia chấm dứt bài phát biểu, bầu không khí trở nên căng thẳng, mọi người đều ngóng tai nghe, mở to mắt, hồi hộp chờ đợi phản ứng của HĐTP. Ngay sau phần góp ý của các nghị viên là biểu quyết để chấp thuận nghị quyết treo Cờ Vàng tại Tòa Thị Sảnh. Chín bàn tay của tất cả 9 nghị viên đều đưa lên bỏ phiếu thuận! Vậy là sự im lặng bị đè nén trong sự chờ đợi căng thẳng, hồi hộp suốt gần 2 tiếng đồng hồ bây giờ được vỡ tung thành nhưng tiếng hò reo, hoan hô cùng với những nụ cười rạng rỡ, những vòng tay ôm (hug) thân ái và có cả những giọt nước mắt mừng vui, hãnh diện.
Cả khán phòng với trên 200 đồng bào tham dự đồng thanh reo hò, hoan hô, vẫy cờ Úc-Việt trong niềm hân hoan, vui mừng
Những người thuộc thế hệ thứ nhất nếu có bật khóc khi thấy lá Cờ Vàng được vinh danh, công nhận là một điều rất dễ hiểu, nhưng những con em được sinh ra và lớn lên trên xứ người mà xúc động, bật khóc trong những trường hợp tương tự thì đó mới chính là hậu duệ của VNCH vì đã hiểu biết, hãnh diện cũng như cảm nhận và chia sẻ nổi xót xa, thiết tha (của thế hệ đi trước) đối với một lá Cờ mà hàng triệu sinh linh đã phải nằm xuống chỉ vì hai chữ Tự Do.
Cô Claudia Nguyễn và Hương Trương với đôi mắt đỏ hoe (khóc vì vui mừng và hãnh diện)
Tưởng cũng nên nhắc lại Cờ Vàng đã được HĐTP Yarra công nhận là biểu tượng của cộng đồng Người Việt tỵ nạn vào ngày 02/08/2016 với tỉ lệ (7/9). Tuy nhiên, Cờ Vàng được chính quyền địa phương công nhận chỉ mới là một nửa niềm vinh dự, Cờ Vàng được công nhận và được treo tại Tòa Thị Sảnh của thành phố thì mới là một niềm vinh dự trọn vẹn, có như vậy sự kiện công nhận Cờ Vàng mới mang đầy đủ ý nghĩa thực dụng. Những nghị viên đã từng bỏ phiếu chống trong vòng biểu quyết năm ngoái, lần này cũng đã đưa tay chấp thuận cho nên tỉ lệ biểu quyết đạt được với đa số tuyệt đối (9/9).
Tụ tập trước tiền đình Tòa Thị Sảnh, rộn rã hàn huyên, chia sẻ nỗi vui mừng và chụp hình lưu niệm
Có được thành quả đáng tự hào này là do công sức của các thành viên BCH CĐNVTD/VIC đặc biệt là cô Claudia Nguyễn, Celia Trần, Hương Trương và Phượng Vỹ, đã âm thầm làm việc, bền chí vận động không chỉ ở cấp chính quyền địa phương mà cả chính quyền tiểu bang cũng như sự tham khảo ý kiến các vị luật gia tiếng tăm cùng với sự hỗ trợ mạnh mẽ của đồng bào và của những người đi tiên phong trong suốt thời gian qua.
Celia Trần, Hương Trương, Claudia Nguyễn và Phượng Vỹ trước tiền đình Tòa Thị Sảnh TP Yarra
Nói đến những người đi tiên phong thì không thể nào không nói đến tấm lòng, sự kiên trì và tính cương quyết của ông Nguyễn văn Bon và cô Phượng Vỹ trong nhiệm kỳ vừa qua (lúc bấy giờ cô Phượng Vỹ là Phó chủ Tịch), là những người đã bỏ ra bao công sức đi trước lót đường để những người nối bước có được nhiều cơ hội thành công hơn.
Bài phát biểu của cô Claudia Nguyễn phản ảnh quá khứ tỵ nạn, những khổ đau và sự hy sinh của thế hệ thứ nhất với những năm tháng nhọc nhằn, nhẫn nhục để xây dựng lại một cuộc sống mới, kế đến là sự thành công của tiến trình hội nhập, những thành tựu và đóng góp đáng kể vào cuộc sống đa văn hóa của xã hội Úc. Cô Claudia Nguyễn chính là hình ảnh của giới trẻ thành đạt, tự tin, với con tim đầy nhiệt huyết và một khối óc trong sáng, dấn thân phục vụ cộng đồng vì lợi ích chung chứ không vì quyền lợi cá nhân hoặc chỉ để phô trương.
Sự kiện Cờ Vàng đã được Hội Đồng Thành Phố Yarra công nhận và chấp thuận cho treo tại Tòa Thị Sảnh là một sự thành công của thế hệ trẻ, một niềm hãnh diện của các thế hệ đi trước và lại thêm một nét son trong lịch sử của cộng đồng Người Việt tỵ nạn Cộng Sản.
Melbourne
04/04/2017
Những điều đáng ghi nhận:
(1) Ngoài một số thân hữu người Úc còn có sự hiện diện của vị luật sư (LS) giàu kinh nghiệm Bernard Moore và phu nhân. LS Bernard Moore chính là người đã đứng ra giúp ông Nguyễn Thế Phong trong vụ thưa kiện vào năm 2010.
Ông Nguyễn Thế Phong đang trò chuyện với LS Bernard Moore và phu nhân
(2) Trong khi mọi người túa ra khỏi khán phòng, tụ tập trước tiền đình Tòa Thị Sảnh, rộn rã hàn huyên, chia sẻ nỗi vui mừng và chụp hình lưu niệm thì bà Trần Liễu (với vốn liếng tiếng Anh thật khiêm nhường) một mình nán lại, đi đến cám ơn từng nghị viên một.
Bà Liễu được nghị viên Misha Coleman đưa đi đến cám ơn từng nghị viên một.
Một số hình ảnh tại Tòa Thị Sảnh Yarra - https://goo.gl/photos/ QCnFwvbgvRpbdjvC8













Bài Xem Nhiều